1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phân tích thực trạng hoạt động Marketing quốc tế tại công ty Hóa dầu Petrolimex trong giai đoạn từ năm 2002 - 2007

16 695 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Phân tích thực trạng hoạt động Marketing quốc tế tại công ty Hóa dầu Petrolimex trong giai đoạn từ năm 2002-2007
Tác giả Huỳnh Phước Lộc
Người hướng dẫn Ths Huỳnh Quang Vinh
Trường học Trường Đại học An Giang
Chuyên ngành Marketing quốc tế
Thể loại Tiểu luận cá nhân
Năm xuất bản 2011
Thành phố Long Xuyên
Định dạng
Số trang 16
Dung lượng 337,39 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phân tích thực trạng hoạt động Marketing quốc tế tại công ty Hóa dầu Petrolimex trong giai đoạn từ năm 2002 - 2007

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC AN GIANG KHOA KINH TẾ - QUẢN TRỊ KINH DOANH

HUỲNH PHƯỚC LỘC

Phân tích thực trạng hoạt động Marketing quốc tế tại công ty Hóa dầu Petrolimex

trong giai đoạn từ năm 2002-2007

BÀI TIỂU LUẬN CÁ NHÂN

Môn học : Marketing quốc tế

GVHD : Ths Huỳnh Quang Vinh

Long Xuyên , Tháng 3 năm 2011

Trang 2

CHƯƠNG I

GIỚI THIỆU CHUNG VỀ CÔNG TY HOÁ DẦU PETROLIMEX (PLC)

1 Quá trình hình thành, phát triển của công ty:

Tổng công ty xăng dầu Việt Nam (Petrolimex) là một trong tổng công ty mạnh của Việt nam trực thuộc Bộ thương mại, hoạt động kinh doanh xăng dầu lớn nhất nước ta Với một hệ thống mạng lưới bao gồm 58 công ty và chi nhánh, Petrolimex đã đáp ứng khoảng 70% nhu cầu thị trường xăng dầu cả nước Trong đó công ty hoá dầu Petrolimex là một trong những công ty thành viên của Petrolimex có chức năng chính là kinh doanh các loại sản phẩm dầu mỡ nhờn và các loại sản phẩm dầu mỏ khác

Tiền thân của công ty là phòng kinh doanh dầu mỡ nhờn của Petrolimex Lúc này việc kinh doanh dầu mỡ nhờn chỉ chỉ đóng góp một phần nhỏ doanh thu của tổng công ty (chỉ bằng 3-5% doanh thu) và hơn nữa Petrolimex gần như chiếm độc quyền thị trường này Cho tới năm 1991 đất nước ta bước vào một giai đoạn mới của thời kỳ chuyển đổi nền kinh tế Nhu cầu về dầu mỡ nhờn tăng đột ngột, trong khi đó nguồn hàng từ các nước Đông

Âu không còn nữa, Petrolimex đã mở rộng nguồn hàng, các mặt hàng kinh doanh được nhập từ nhiều nước như Anh, Pháp, Mỹ, Nhật Đây cũng là thời kỳ đầu phát triển của thị trường dầu mỡ nhờn Trên thị trường đã xuất hiện nhiều hãng nổi tiếng trong và ngoài nước tham gia thị trường này như Castrol, Caltex, Shell,… Mức độ cạnh tranh trên thị trường ngày càng trở nên gây gắt hơn Trước tình hình đó, để nâng cao khả năng cạnh tranh của mình đáp ứng một cách tốt hơn nhu cầu thị trường, vấn đề đặt ra đối với Petrolimex là cần phải có một công ty chuyên sản xuất kinh doanh sản phẩm dầu mỡ nhờn một cách có quy mô có hiệu quả

Ngày 1/9/1994, công ty dầu nhờn Petrolimex được thành lập theo quyết định số 745TM/TCCB của Bộ Thương Mại ngày 9/4/1994

Tên giao dịch: Petrolimex Lubricant Company (PLC) Trụ sở giao dịch: Số 1 Khâm Thiên- Hà Nội

Là một công ty chuyên doanh, hoạt động theo cơ chế thị trường với mức độ cạnh tranh cao, phạm vi hoạt động từ khâu sản xuất đến khâu phân phối sản phẩm Cho nên thời

Trang 3

mạnh cả về bề rộng, lẫn chiều sâu, từ chỗ chỉ sản xuất kinh doanh một mặt hàng, nay đã đa dạng hoá về chủng loại mặt hàng cũng như phương thức kinh doanh PLC là một doanh nghiệp nhà nước trực thuộc tổng công ty xăng dầu Việt nam có tư cách pháp nhân hoạt động theo chế độ hạch toán độc lập với tổng số vốn điều lệ 52500 triệu đồng trong đó vốn

cố định là 15000 triệu đồng

Qua hơn 10 năm hoạt động và phát triển công ty đã thiết lập một mạng lưới đại lý trải dài trên toàn quốc với 5 chi nhánh lớn và dây chuyền pha chế dầu nhờn công suất lớn đáp ứng khoảng trên 20% nhu cầu thị trường trong nước Ngoài ra công ty còn đặc biệt chú

ý mở rộng quan hệ hợp tác kinh tế với nước ngoài Công ty Petrolimex đã nhờ đại diện cho côn ty là một bên đối tác của liên doanh BP- Petko (liên doanh giữa hãng BP của vương quốc Anh và Petrolimex) cung cấp các sản phẩm dầu mỡ nhờn chất lượng cao cho thị trường Đồng thời với tư cách là thành viên thứ 27 của ELF LUB- Marine (Pháp), PLC đã cung cấp dầu nhờn hàng hải cho tàu biển trong và ngoài nước tại cảng Việt Nam

2 Chức năng, nhiệm vụ cơ bản của công ty và cơ cấu bộ máy tổ chức :

a) Các nhiệm vụ và chức năng của công ty như sau:

- Xuất nhập khẩu và kinh doanh các loại dầu mỡ nhờn, các sản phẩm hoá dầu, vật

tư trang thiết bị chuyên dùng cho xăng dầu, vận tải phục vụ công tác kinh doanh của công

ty

- Tổ chức nghiên cứu, sản xuất, pha chế các loại dầu mỡ nhờn, các loại sản phẩm hoá dầu nhằm phục vụ cho nhu cầu kinh doanh

- Tổ chức dịch vụ kỹ thuật, hướng dẫn sử dụng đối với khách hàng

b) Tổ chức bộ máy sản xuất kinh doanh của Công ty (Hình 1.1)

CHƯƠNG II

PHÂN TÍCH SWOT TẠI CÔNG TY PLC

1 Những điểm mạnh và điểm yếu của công ty:

Quá trình hình thành và phát triển của công ty Hoá dầu Petrolimex (PLC) gắn liền với bề dày kinh nghiệm hoạt động hơn 50 năm của Tổng công ty Xăng dầu Việt Nam (Petrolimex) Ngày nay, Petrolimex đã trở thành một tổ chức kinh doanh xăng dầu quốc

Trang 4

gia với sự hiện diện của hơn 55 công ty trực thuộc và 73 chi nhánh Công ty cùng với sự hợp tác thương mại với các hãng, các tổ chức kinh doanh trên thế giới đã khẳng định khả năng đáp ứng cho sự phát triển toàn diện và liên tục của công ty Petrolimex

Mặc dù tuổi đời còn non trẻ nhưng PLC đã chứng tỏ mình là một trong những thành viên năng động nhất của Petrolimex Công ty Hoá dầu Petrolimex được đánh giá là công ty sản xuất kinh doanh hàng đầu tại Việt Nam về lĩnh vực dầu mỡ nhờn, nhựa đường, dung môi hoá chất (năm 2006) Tuy các sản phẩm hoá dầu của công ty không nằm trong danh mục các mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam nhưng bước đầu công ty đã có một khối lượng đáng kể các sản phẩm xuất khẩu ra thị trường các nước trong khu vực Mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế, đẩy mạnh xuất khẩu các sản phẩm hoá dầu Đó chính là mục tiêu chiến lược dài hạn của PLC

Những năm qua công ty đã mở rộng việc sản xuất kinh doanh với quy mô lớn hàng trăm chủng loại mặt hàng Có thể sơ lược một vài nhóm hàng chính như sau:

Cùng với sự đa dạng hoá các mặt hàng, công ty còn cố gắng giảm dần tỉ trọng hàng nhập khẩu so với các mặt hàng sản xuất kinh doanh để xuất khẩu của công ty Đến nay tỉ

Phòng

tổ

chức

hành

chính

Phòng tài chính

kế toán

Phòng

kỹ thuật sản xuất

Phòng kinh doanh dầu nhờn

Phòng kinh doanh nhựa đường

Phòng kinh doanh hoá chất

GIÁM ĐỐC

Chi nhánh hoá dầu Đà Nẵng

Chi nhánh hoá dầu Hải Phòng

Chi nhánh

hoá dầu

Sài Gòn

Xí nghiệp dầu nhờn

Hà Nội

Một số cửa hàng kinh doanh tại

Hà Nội

Hình 1.1 : Sơ đồ tổ chức của công ty PLC

Trang 5

trọng này đã giảm 60% so với những năm đầu thành lập Bên cạnh đó, PLC đã trở thành nhãn hiệu có uy tín trên thị trường Việt Nam và các nước trong khu vực lân cận Công ty

đã cung cấp dầu nhờn hàng hải cho hàng trăm lượt tàu biền tại các cảng Việt Nam và phát triển các hoạt động của mình tới 860 nước và 720 hải cảng trên thế giới Đồng thời, được công nhận là thành viên chính thức của ELF, hội cũng công nhận chất lượng dầu nhờn ELF nói riêng và các sản phẩm khác do PLC pha chế đạt tiêu chuẩn quốc tế

Một thế mạnh khác của PLC đó là nguồn nhân lực có trình độ, năng động và tuổi trẻ Đây chính là điểm mạnh của công ty khi mà lịch sử hình thành và phát triển của công

ty Năm 2005, Trong số 1200 lao động thì có 9% cán bộ có trình độ trên đại học, 61% có trình độ đại học, 30% có trình độ cao đẳng và trung cấp Độ tuổi trung bình của đội ngũ cán bộ tương đối trẻ (với độ tuổi trung bình 27)

Bên cạnh đó, hệ thống trang thiết bị và cơ sở vật chất của công ty khá hiện đại và đầy đủ Trụ sở văn phòng của công ty và các chi nhánh tại Hà Nội, Hải Phòng, Đà Nẵng và Thành phố Hồ Chí Minh được trang bị đầy đủ hệ thống liên lạc, máy vi tính, mạng hệ thống diện rộng trong ngành và nối mạng Internet Kho nhựa đường tại Đà Nẵng, Nhà Bè,

có sức chứa khoảng trên 15000 m3 và đã xây dựng được thêm kho chứa hoá chất thứ hai ở Hải Phòng Dây chuyền pha chế dầu mỡ nhờn Hải Phòng, Nhà Bè tương đương trình độ công nghệ tiêu chuẩn của G7 Hai trung tâm thực nghiệm của công ty đã đạt tiêu chuẩn quốc gia TCVN5958-1996 tại Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh có khả năng phân tích hầu hết các chỉ số cơ lý hoá của các loại dầu mỡ nhờn, nhựa đường và hoá chất đang được lưu hành trên thị trường Việt Nam

Bên cạnh những điểm mạnh vẫn còn những điểm yếu vẫn chưa được khắc phục của PLU là : Công ty có hoạt động sản xuất phụ thuộc nhiều vào nguyên liệu nhập khẩu nên gây khó khăn trong nguồn nguyên liệu đầu vào trong hiện tại cũng như trong tương lai Chi phí xuất khẩu sản phẩm ra thị trường thế giới còn khá cao làm cho sản phẩm của công ty giảm sức mạnh cạnh tranh về giá so với các đối thủ trong ngành Công ty hoạt động Marketing quốc tế còn rất kém, điển hình nhất là chi phí cho việc xúc tiến sản phẩm còn khá thấp so với đổi thủ cạnh tranh gây rất nhiều khó khăn cho bộ phận bán hàng ở thị trường quốc tế

2 Những thời cơ và thách thức của công ty

Trang 6

Cùng với xu thế hội nhập kinh tế ngày nay, Việt Nam đã tham gia các tổ chức, các hiệp hội kinh tế như ASEAN, APEC, WTO Điều đó tạo cho các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh sẽ có nhiều cơ hội để trao đổi, học tập kinh nghiệm cũng như các thương vụ buôn bán làm ăn với các đối tác nước ngoài Năm 2006 Việt Nam sẽ chính thức tham gia khối mậu dịch tự do ASEAN (AFTA) khi đó hàng hóa của Việt Nam cũng như với các nước khác trong khu vực sẽ được trao đổi dễ dàng hơn, thuận lợi hơn rất nhiều Như vậy cũng có nghĩa là hàng hóa của Việt Nam phải chịu sức ép cạnh tranh gay gắt hơn do hàng hóa của các nước khác ồ ạt tràn vào Việt Nam với chất lượng tốt, mẫu mã đẹp, giá thành

hạ hơn và họ có khả năng thực hiện những chiến lược chiều thị hấp dẫn hơn

Do đó giai đoạn 2002 - 2005 là giai đoạn có tính chất quyết định để cho các doanh nghiệp trong nước chuẩn bị cả về thế và lực để chuẩn bị bước vào một cuộc chiến mới đầy cam go ác liệt Để giành được thị phần, giành được khách hàng ngoài các vấn đề về chất lượng, mẫu mã, giá thành còn có một vấn đề hết sức quan trọng đó là các công ty phải đưa

ra được một chương trình xúc tiến thương mại có khả thi cao, được người tiêu dùng hưởng ứng Muốn vậy các công ty phải đầu tư mạnh vào việc công nhân công nghệ, kỹ thuật tiên tiến để áp dụng trong xúc tiến thương mại phục vụ cho việc bán hàng của mình đạt hiệu quả Ngoài ra công ty còn có thêm một số các lợi thế về môi trường vĩ mô như sau:

- Đó là chính trị ổn định, nền kinh tế có xu hướng tiếp tục tăng trưởng tốt (khoảng

từ 5-7% /năm)

- Công tác quy hoạch, xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng : đường xá, cầu cống của Thủ đô Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh và một số tỉnh lân cận phát triển mạnh tất yếu sẽ phát sinh nhu cầu về dầu mỡ nhờn

- Để cạnh tranh trên thị trường, nhiều doanh nghiệp (bao gồm cả doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp tư nhân, TNHH) tăng cường đầu tư cơ sở vật chất - kỹ thuật, đổi mới máy móc thiết bị, dẫn đến việc tăng nhu cầu dầu mỡ nhờn công nghiệp phẩm cấp cao

Tình hình chung là như vậy, riêng đối với công ty hóa dầu Petrolimex còn có một số đặc trưng riêng Công ty hóa dầu Petrolimex được sự quản lý và bảo trợ của Tổng công ty xăng dầu Việt Nam, từ một doanh nghiệp thương mại đơn thuần đến nay PLC đã trở thành một doanh nghiệp sản xuất - kinh doanh thương mại Việc đạt được chứng nhận tiêu chuẩn

"Hệ thống quản lý chất lượng ISO-9001" chứng tỏ những cố gắng lớn lao của toàn bộ cán

Trang 7

bộ, công nhân viên trong công ty Thành công này giúp cho sản phẩm của công ty có thể nâng cao khả năng cạnh tranh trên thị trường trong và ngoài nước

Tuy nhiên, trước mắt công ty vẫn phải đối mặt với một số khó khăn thách thức cơ bản đó là:

- Thị trường tiêu dùng dân cư vẫn chấp nhận và có nhu cầu sử dụng dầu mỡ nhờn phẩm cấp thấp, giá rẻ đặc biệt là dầu động cơ thông dụng

- Các đơn vị sản xuất dầu mỡ nhờn trong nước hoặc làm đại lý dầu nhờn cho nước ngoài đẩy mạnh sản xuất và cạnh tranh các sản phẩm dầu mỡ nhờn phẩm cấp thấp, trung bình giá rẻ và ngày càng cải tiến chất lượng sản phẩm, mẫu mã đáp ứng nhu cầu đa dạng của thị trường như: APP, PDC, NIKKO, Vilube, ……

- Sự xuất hiện và phục hồi lại của các hãng dầu trong nước như APP, PDC cùng với các hãng dầu nổi tiếng thế giới như: Shell, BP, Mobill tiếp tục cạnh tranh quyết liệt trong lĩnh vực dầu công nghiệp chất lượng cao về giá, công tách hỗ trợ dịch vụ kỹ thuật, đầu tư quảng cáo và chính sách hậu mãi sau bán hàng

CHƯƠNG III:

PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG MARKETING QUỐC TẾ CỦA CÔNG TY PLC TỪ 2002-2007

1 Thực trạng hoạt động Marketing quốc tế tại công ty :

a) Chiến lược sản phẩm quốc tế của PLC

Chính sách sản phẩm quốc tế của một công ty xuất phát từ các nguồn lực và cơ hội thị trường của công ty Nhận thức rõ tầm quan trọng của chiến lược sản phẩm quốc tế về sản phẩm nói riêng thì PLC đặc biệt chú trọng đến hạ giá thành và nâng cao chất lượng sản phẩm, dịch vụ

Do đặc điểm ngành hàng kinh doanh, các đối thủ cạnh tranh là các nhãn hiệu nổi tiếng, khách hàng của những công ty này là những nhà máy xí nghiệp, hộ tiêu dùng… Sản phẩm của PLC luôn phải đáp ứng những yêu cầu khắt khe về số lượng, chủng loại và tiêu chuẩn kỹ thuật Từ những lý do trên, quan điểm sản phẩm quốc tế mà PLC theo đuổi là: Đáp ứng tối đa yêu cầu khách hàng dựa trên cơ sở sự hoàn thiện chất lượng sản phẩm và

Trang 8

đa dạng hoá các mặt hàng của công ty Hệ thống các sản phẩm dầu mỡ nhờn được phân chia thành nhiều nhóm như: dầu động cơ, dầu công nghiệp, dầu chuyển động, dầu dùng cho máy nén khí…và các loại mỡ Trong mỗi nhóm sản phẩm lại bao gồm nhiều loại sản phẩm khác nhau phù hợp với từng thông số kỹ thuật theo quy định của từng loại máy móc

Do vậy, các sản phẩm dầu mỡ nhờn của PLC rất đa dạng, phong phú

Với sự phức tạp của ngành hàng kinh doanh, chính sách sản phẩm của PLC tập trung vào việc nâng cao chất lượng và hạ giá thành sản phẩm Do đó, hoạt động Marketing chủ yếu hướng vào đối tượng khách hàng chính là các nhà máy, doanh nghiệp tàu thủy và

hộ tiêu dùng Đồng thời, trên cơ sở sự ra đời của các loại máy móc với những tiêu chuẩn

kỹ thuật mới, PLC nghiên cứu và sản xuất các loại sản phẩm mới phù hợp với yêu cầu tiêu dùng khách hàng Tốc độ phát triển sản phẩm mới của công ty tại ngành hàng này vào khoảng 18 sản phẩm/năm Tuy nhiên, tốc độ này theo từng năm không đều nhau do nhiều nguyên nhân khách quan Dù vậy những năm qua, công ty đã đạt được nhiều thành công trong việc đa dạng hoá các chủng loại mặt hàng

Trong chính sách quốc tế về sản phẩm, nguồn nguyên liệu đóng vai trò quyết định đối với chất lượng sản phẩm Gia tăng về chủng loại hàng hoá, nhu cầu nhập khẩu nguyên liệu của PLC cũng tăng song tốc độ này có chậm lại qua các năm do công ty đã cố gắng sử dụng nguồn nguyên liệu trong nước

Nhu cầu nguyên liệu (dầu gốc và phụ gia) của công ty tăng liên tục qua các năm từ 2003-2007, tốc độ tăng trung bình khoảng: 10%/năm Nhưng tỷ trọng nhập khẩu dầu gốc

và phụ gia thay đổi theo hướng giảm dần tỷ trọng dầu gốc nhập khẩu Điều này xuất phát

từ mục tiêu hạ giá thành sản phẩm của PLC (công ty chỉ nhập khẩu dầu gốc ở dạng rời, dạng xá rồi sau đó tự pha chế) Nhằm bảo đảm uy tín cho thương hiệu PLC và không ngừng nâng cao chất lượng sản phẩm, công ty tìm nguồn hàng nhập khẩu chủ yếu từ các quốc gia có nền công nghệ tiên tiến như: Nhật Bản, Mỹ, Singapore… Sau đây, chúng ta cùng tìm hiểu điều đó qua bảng: Nguồn cung ứng nguyên liệu của PLC Công ty nhập khẩu chủ yếu dầu gốc từ Nhật Bản với số lượng lớn theo đơn đặt hàng một cách khá ổn định, ngoài ra có thể nhập khẩu từ Singapore Đối với mặt hàng phụ gia thì công ty nhập khẩu từ Singapore, Đan Mạch, Mỹ và Nga Thị trường Mỹ và Đan Mạch là 2 nguồn hàng cung cấp không ổn định do cước phí vận chuyển cao (do đường xa) và một số nguyên nhân khác Như vậy, nguyên liệu nhập khẩu chất lượng cao, giá rẻ và ổn định là một trong những mục

Trang 9

tiêu chính của chính sách sản phẩm Nó góp phần làm cho các sản phẩm mang thương hiệu PLC đáp ứng được những yêu cầu khắt khe của khách hàng trong nước và quốc tế

Bên cạnh đó, để chính sách sản phẩm đạt được hiệu quả cao nhất, PLC đặc biệt chú trọng chương trình đầu tư theo kế hoạch từng năm Nhằm nâng cao chất lượng và uy tín sản phẩm trên thị trường thế giới, công ty đã và đang áp dụng hệ thống đảm bảo chất lượng theo tiêu chuẩn ISO 9001:2000 Việc áp dụng ISO 9001 đã giúp chất lượng sản phẩm, dịch

vụ của công ty được nâng cao Mặt khác, chương trình đầu tư cho nâng cao chất lượng sản phẩm tập trung vào việc đổi mới công nghệ, nâng cấp cơ sở hạ tầng của công ty như : Trang bị đầy đủ hệ thống thông tin liên lạc, máy vi tính và mạng hệ thống diện rộng trong ngành thông suốt, tất cả các máy tính trong công ty đều nối mạng Internet Phát triển đội

xe chuyên dụng tại các cơ sở sản xuất (Hải Phòng, Đà Nẵng, Thành phố Hồ Chí Minh và Cần Thơ) Đưa vào sử dụng dây chuyền pha chế dầu mỡ nhờn tại Hải Phòng, Nhà Bè đạt tiêu chuẩn công nghệ của G7 Đầu tư phát triển hai trung tâm thử nghiệm hiện đại đạt tiêu chuẩn quốc gia TCVN 5958-1996 tại Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh có khả năng phân tích hầu hết các chỉ số cơ lý hoá của các loại dầu mỡ nhờn

PLC rất coi trọng bộ phận nghiên cứu và phát triển sản phẩm mới Trong đó có các

kỹ sư giỏi từng tu nghiệp nhiều năm ở nước ngoài và nhiều kinh nghiệm trong lĩnh vực kinh doanh này Những năm qua bộ phận nghiên cứu và phát triển sản phẩm mới hoạt động rất hiệu quả và đã đóng góp cho công ty một phần đáng kể Bên cạnh đó, công ty ap dụng dây chuyền công nghệ cao, đội ngũ công nhân vận hành tốt, các quy trình vận hành của PLC hầu như không có phế phẩm Các nguyên liệu được tận dụng một cách tối đa Dầu mỡ nhờn sau khi pha chế được đóng trực tiếp vào các lon, phuy Vì vậy, tỷ lệ dầu mỡ nhờn bị thất thoát hầu như không đáng kể

Bao bì được xem là một yếu tố khá quan trọng trong chiến lược sản phẩm Bao bì của các sản phẩm dầu mỡ nhờn phải đáp ứng yêu cầu: hấp dẫn, bảo quản tốt sản phẩm trong quá trình vận chuyển Bao bì của công ty được sản xuất dưới hai dạng chủ yếu: thùng

và lon Trên bao bì đều ghi rõ nhãn hiệu hàng hoá: tên riêng của sản phẩm, các thông số kỹ thuật phù hợp với yêu cầu sử dụng, hạn sử dụng, nơi sản xuất và các thông tin liên quan khác Phần lớn bao bì được công ty sản xuất ở trong nước, đã đáp ứng được các yêu cầu nói trên song giá thành vẫn còn cao

Trang 10

Nhìn chung, chính sách sản phẩm nói chung và chính sách sản phẩm quốc tế nói riêng của PLC những năm qua thực sự có hiệu quả Người tiêu dùng trong nước và quốc tế thừa nhận các sản phẩm mang thương hiệu PLC chất lượng cao và giá thành tương đối rẻ

so với các đối thủ cạnh tranh như Shell, Caltex Một chính sách sản phẩm tốt là cơ sở xuất khẩu các sản phẩm dầu mỡ nhờn ra thị trường nước ngoài trong quá trình hội nhập quốc tế hiện nay

b) Chiến lược giá quốc tế của PLC

Chiến lược giá quốc tế có vai trò rất quan trọng, nếu công ty chú trọng và đặt mức giá thích hợp cho sản phẩm sẽ giúp công ty xâm nhập thị trường nước ngoài Sau đó công

ty có cơ hội chiếm giữ một thị phần cao, ổn định và vững chắc Đồng thời nó cũng giúp công ty tăng doanh số bán và lợi nhuận Tại Công Ty Hoá dầu Petrolimex chính sách giá quốc tế được Công Ty đặc biệt chú trọng Công ty luôn nổ lực nâng cao chất lượng và hạ giá thành sản phẩm

Áp dụng chiến lược giá cạnh tranh để mở rộng thị trường trong nước và quốc tế, những năm qua, PLC đã thiết lập và thực hiện một loạt các biện pháp nhằm giảm tối đa chi phí cho một đơn vị sản phẩm như: hạn chế nhập khẩu và tự sản xuất bao bì trong nước (do chi phí bao bì chiếm khoảng 2/5 giá thành sản phẩm) nhưng vẫn đảm bảo mẫu mã đẹp và hấp dẫn Công ty được thực hiện được điều đó thông qua việc giảm tối đa chi phí vận tải, chi phí xuất nhập khẩu, cố gắng tìm nguồn cung cấp nguyên liệu rẻ và chất lượng cao Những biện pháp trên đã phát huy tác dụng giúp công ty có khả năng cạnh tranh tại thị trường trong nước và trên quốc tế

Chi phí xuất khẩu là một loại chi phí rất phức tạp bao gồm: chi phí vận chuyển từ cơ

sở sản xuất đến nơi giao hàng, chi phí làm thủ tục hải quan v.v Trong những năm qua, thị trường xuất khẩu chủ yếu của PLC vẫn là thị trường các nước: Lào, Campuchia, Philipin, Trung Quốc, xuất khẩu hàng hoá tới các cảng biển thông qua ELF Lub Marine (Pháp)… Công ty luôn áp dụng những mức giá khác nhau tương ứng với từng thị trường xuất khẩu Điều này xuất phát từ nguyên nhân sau: Chi phí xuất khẩu đối với mỗi thị trường là không giống nhau, cách tính giá áp dụng chiến lược cạnh tranh … Nhìn chung, giá mặt hàng ở các thị trường Lào, Campuchia và các tỉnh biên giới Trung Quốc chênh lệch nhau không đáng kể Tại thị trường Philipin giá có chênh lệch tăng lên một ít (khoảng 1%) so với thị trường Lào, Campuchia do cước phí vận chuyển cao hơn Và giá xuất khẩu tới các cảng

Ngày đăng: 26/03/2013, 15:31

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.1 : Sơ đồ tổ chức của công ty PLC - Phân tích thực trạng hoạt động Marketing quốc tế tại công ty Hóa dầu Petrolimex trong giai đoạn từ năm 2002 - 2007
Hình 1.1 Sơ đồ tổ chức của công ty PLC (Trang 4)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w