1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

nghiên cứu ảnh hưởng của liều lượng phân bón đến bệnh bạc lá lúa (xanthomonas oryzae) và biện pháp phòng trừ tại thị xã châu đốc, tỉnh an giang năm 2012

134 596 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 134
Dung lượng 14,67 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

DANH MỤC CÁC BẢNG 3.1 Ảnh hưởng của các giống lúa ñến sự phát sinh phát triển bệnh bạc lá lúa vụ hè thu năm 2012 tại thị xã Châu ðốc, tỉnh An Giang 37 3.2 Ảnh hưởng của mức ñộ nhiễm bện

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ðÀO TẠO

TRƯỜNG ðẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI

- -

LÊ THÀNH LONG

NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA LIỀU LƯỢNG

PHÂN BÓN ðẾN BỆNH BẠC LÁ LÚA (Xanthomonas oryzae)

VÀ BIỆN PHÁP PHÒNG TRỪ TẠI THỊ XÃ CHÂU ðỐC,

TỈNH AN GIANG NĂM 2012

LUẬN VĂN THẠC SĨ

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ðÀO TẠO

TRƯỜNG ðẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI

- -

LÊ THÀNH LONG

NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA LIỀU LƯỢNG

PHÂN BÓN ðẾN BỆNH BẠC LÁ LÚA (Xanthomonas oryzae)

VÀ BIỆN PHÁP PHÒNG TRỪ TẠI THỊ XÃ CHÂU ðỐC,

Trang 3

LỜI CAM ðOAN

Trong năm 2011 tôi tham dự lớp Cao học bảo vệ thưc vật do các thầy

cô ðại học Nông nghiệp Hà Nội giảng dạy ñây là một ñiều rất danh dự cho bản thân tôi Trong quá trình học tập tôi luôn chấp hành những quy ñịnh, cố gắng hoàn thành yêu cầu của thầy cô, của trường ñề ra Khi nghiên cứu ñề tài về bệnh bạc lá lúa tại thị xã Châu ðốc, tôi làm ñúng theo ñề cương thực hiện ngoài ñồng ruộng trong vụ hè thu và thu ñông năm 2012 và ñược sự hướng dẫn tận tình của PGS,TS ðỗ Tấn Dũng Do ñó tôi cam ñoan những gì tôi thực hiện ñề tài do tôi tự làm, các kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực, nếu không ñúng tôi sẽ hoàn toàn chịu trách nhiệm

Long Xuyên, ngày 8 tháng 8 năm 2013 Người cam ñoan

Lê Thành Long

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Trong thời gian thực hiện ñề tài, ngoài sự nổ lực của bản thân, tôi còn có

sự giúp ñỡ của nhiều người ñến nay, ñề tài của tôi ñã hoàn thành Với lòng biết ơn sâu sắc, tôi xin chân thành cảm ơn:

PGS.TS ðỗ Tấn Dũng, giảng viên Bộ môn Bệnh cây, Khoa Nông học, ðại học Nông nghiệp Hà Nội ñã giúp ñỡ tôi tận tình trong suốt quá trình thực hiện hoàn thành ñề tài

Ban giám hiệu Trường ðại học An Giang và Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội ñã tạo ñiều kiện thuận lợi cho tôi hoàn thành ñề tài khóa học; Ban lảnh ñạo, cán bộ Chi cục bảo vệ thực vật tỉnh An Giang ñã tạo ñiều kiện cho tôi nâng cao trình ñộ chuyên môn và thực hiện ñề tài ;

Trần Quốc Cường, Trịnh Ngọc Phước Hải,Cán bộ Trạm bảo vệ thực vật, thị xã Châu ðốc ñã giúp ñỡ tôi thưc hiện ñề tài,

Các bạn học viên lớp K20 Cao học Bảo vệ Thưc vật An giang, Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội, niên khóa 2011- 2013 ñã hổ trợ tôi thực hiện

ñề tài;

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn ñến gia ñình, bạn bè ñã quan tâm, ñộng viên, tạo mọi ñiều kiện thuận lợi trong suốt quá trình học tập và thực hiện luận văn Long Xuyên, ngày 8 tháng 8 năm 2013 Tác giả luận văn

Lê Thành Long

Trang 5

MỤC LỤC

1.1.1 Lịch sử nghiên cứu, phân bố ñịa lý và tác hại của bệnh bạc lá 4 1.1.2 Nghiên cứu ảnh hưởng của ñiều kiện thời tiết khí hậu ñến sự phát

1.1.4 Nghiên cứu ảnh hưởng của liều lượng và tỷ lệ phân bón NPK ñến

1.1.5 Nghiên cứu ảnh hưởng của ñịa thế ñất ñai, mật ñộ sạ ñến bệnh

1.2.1 Lịch sử nghiên cứu, phân bố ñịa lý và tác hại của bệnh bạc lá 11 1.2.2 Nghiên cứu ảnh hưởng của ñiều kiện thời tiết khí hậu ñến sự phát

1.2.4 Nghiên cứu ảnh hưởng của liều lượng, tỷ lệ phân bón NPK ñến

Trang 6

1.2.5 Nghiên cứu ảnh hưởng của ñịa thế ñất ñai, mật ñộ sạ ñến bệnh

Chương 2 VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP

3.1 Nghiên cứu ảnh hưởng của các giống lúa ñến sự phát sinh phát

3.2 Nghiên cứu ảnh hưởng của liều lượng bón phân ñạm ñến sự phát

sinh phát triển bệnh bạc lá lúa (nền phân P205 = 60; K20 = 30) 39 3.3 Nghiên cứu ảnh hưởng của liều lượng bón phân lân ñến sự phát

sinh phát triển bệnh bạc lá lúa (nền phân N= 100; K20 = 30) 42 3.4 Nghiên cứu ảnh hưởng của liều lượng bón phân lân ñến sự phát

sinh phát triển bệnh bạc lá lúa (nền phân N= 120; K20 = 30) 44 3.5 Nghiên cứu ảnh hưởng của liều lượng bón phân lân ñến sự phát

sinh phát triển bệnh bạc lá lúa (Nền phân N= 140; K20 = 30) 48 3.6 Nghiên cứu ảnh hưởng của liều lượng bón phân kali ñến sự phát

sinh phát triển bệnh bạc lá lúa (nền phân N= 100; P205 = 60) 51

Trang 7

3.7 Nghiên cứu ảnh hưởng của liều lượng bón phân kali ñến sự phát

3.8 Nghiên cứu ảnh hưởng của liều lượng bón phân kali ñến sự phát

sinh phát triển bệnh bạc lá lúa (Nền phân N= 140; P205 = 60) 56 3.9 Nghiên cứu ảnh hưởng mật ñộ sạ ñến sự phát sinh phát triển của

3.12 Nghiên cứu ảnh hưởng của một số thuốc ñến sự phát sinh phát

Trang 9

DANH MỤC CÁC BẢNG

3.1 Ảnh hưởng của các giống lúa ñến sự phát sinh phát triển bệnh

bạc lá lúa vụ hè thu năm 2012 tại thị xã Châu ðốc, tỉnh An Giang 37 3.2 Ảnh hưởng của mức ñộ nhiễm bệnh bệnh bạc lá ñến năng suất

của các giống lúa vụ hè thu năm 2012 tại thị xã Châu ðốc, tỉnh

3.3 Ảnh hưởng của liều lượng bón phân ñạm ñến sự phát sinh phát triển

bệnh bạc lá lúa vụ hè thu năm 2012 tại thị xã Châu ðốc, tỉnh An

3.4 Ảnh hưởng của liều lượng bón phân ñạm ñến năng suất lúa vụ hè

3.5 Ảnh hưởng của liều lượng bón phân lân ñến sự phát sinh phát triển

bệnh bạc lá lúa vụ thu ñông năm 2012 tại thị xã Châu ðốc, tỉnh An

3.6 Ảnh hưởng của các liều lượng bón phân lân ñến năng suất lúa vụ

3.7 Ảnh hưởng của liều lượng bón phân lân ñến sự phát sinh phát triển

bệnh bạc lá lúa vụ thu ñông năm 2012 tại thị xã Châu ðốc, tỉnh An

3.8 Ảnh hưởng của các liều lượng bón phân lân ñến năng suất lúa vụ

3.9 Ảnh hưởng của liều lượng bón phân lân ñến sự phát sinh phát triển

bệnh bạc lá lúa vụ thu ñông năm 2012 tại thị xã Châu ðốc, tỉnh An

Trang 10

Giang 49 3.10 Ảnh hưởng của các liều lượng bón phân lân ñến năng suất lúa vụ

3.11 Ảnh hưởng các liều lượng bón phân kali ñến sự phát sinh phát

triển bệnh bạc lá lúa vụ thu ñông năm 2012 tại thị xã Châu

3.12 Ảnh hưởng của các liều lượng bón phân kali ñến năng suất lúa

3.13 Ảnh hưởng của các liều lượng phân kali ñến sự phát sinh phát

triển bệnh bạc lá lúa vụ thu ñông năm 2012 tại thị xã Châu ðốc,

3.14 Ảnh hưởng của liều lượng bón phân kali ñến năng suất lúa vụ

3.15 Ảnh hưởng của các liều lượng phân kali ñến sự phát sinh phát

triển bệnh bạc lá lúa vụ thu ñông năm 2012 tại thị xã Châu ðốc,

3.16 Ảnh hưởng của các liều lượng bón phân kali ñến năng suất lúa

3.17 Ảnh hưởng của các mật ñộ sạ ñến sự phát sinh phát triển bệnh

bạc lá lúa vụ thu ñông năm 2012 tại thị xã Châu ðốc, tỉnh An

3.18 Ảnh hưởng của các mật ñộ sạ ñến năng suất lúa vụ thu ñông năm

3.19 Ảnh hưởng của các mật ñộ sạ ñến sự phát sinh phát triển bệnh

bạc lá lúa vụ thu ñông năm 2012 tại thị xã Châu ðốc, tỉnh An

3.20 Ảnh hưởng của các mật ñộ sạ ñến năng suất lúa vụ thu ñông năm

Trang 11

2012 tại thị xã Châu ðốc, tỉnh An Giang 65 3.21 Ảnh hưởng của các mật ñộ sạ ñến sự phát sinh phát triển bệnh

bạc lá lúa vụ thu ñông năm 2012 tại thị xã Châu ðốc, tỉnh An

3.22 Ảnh hưởng của mật ñộ sạ ñến năng suất lúa vụ thu ñông năm

3.23 Ảnh hưởng của một số thuốc ñến bệnh bạc lá lúa vụ hè thu năm

3.24 Ảnh hưởng của một số thuốc phòng trừ bệnh bạc lá ñến năng

suất lúa vụ hè thu năm 2012 tại thị xã Châu ðốc, tỉnh An Giang 70

Trang 12

DANH MỤC CÁC ðỒ THỊ

3.1 Ảnh hưởng của các giống lúa ñến sự phát sinh phát triển bệnh

bạc lá lúa vụ hè thu năm 2012 tại thị xã Châu ðốc, tỉnh An Giang 38

triển bệnh bạc lá lúa vụ hè thu năm 2012 tại thị xã Châu ðốc,

3.3 Ảnh hưởng của liều lượng bón phân lân ñến sự phát sinh phát

triển bệnh bạc lá lúa vụ thu ñông năm 2012 tại thị xã Châu ðốc,

3.4 Ảnh hưởng của liều lượng bón phân lân ñến sự phát sinh phát

triển bệnh bạc lá lúa vụ thu ñông năm 2012 tại thị xã Châu

3.5 Ảnh hưởng của liều lượng bón phân lân ñến sự phát sinh phát

triển bệnh bạc lá lúa vụ thu ñông năm 2012tại thị xã Châu ðốc,

3.6 Ảnh hưởng các liều lượng bón phân kali ñến sự phát sinh phát

triển bệnh bạc lá lúa vụ thu ñông năm 2012 tại thị xã Châu

3.7 Ảnh hưởng của các liều lượng phân kali ñến sự phát sinh phát

triển bệnh bạc lá lúa vụ thu ñông năm 2012 tại thị xã Châu ðốc,

3.8 Ảnh hưởng của các liều lượng phân kali ñến sự phát sinh phát

triển bệnh bạc lá lúa vụ thu ñông năm 2012 tại thị xã Châu ðốc,

3.9 Ảnh hưởng của các mật ñộ sạ ñến sự phát sinh phát triển bệnh bạc lá

Trang 13

lúa vụ thu ñông năm 2012 tại thị xã Châu ðốc, tỉnh An Giang 61 3.10 Ảnh hưởng của các mật ñộ sạ ñến sự phát sinh phát triển bệnh bạc lá

lúa vụ thu ñông năm 2012 tại thị xã Châu ðốc, Tỉnh An Giang 64 3.11 Ảnh hưởng của các mật ñộ sạ ñến sự phát sinh phát triển bệnh bạc lá

3.12 Ảnh hưởng của một số thuốc phòng trừ bệnh bạc lá ñến bệnh bạc

lá lúa vụ hè thu năm 2012 tại thị xã Châu ðốc, tỉnh An Giang 69

Trang 14

MỞ ðẦU

1 Tính cấp thiết của ñề tài

Cây lúa (Oryza sativa L) là một trong những cây trồng cung cấp nguồn

lương thực quan trọng nhất cho sự sống của con người Cùng với các cây lương thực khác, cây lúa ñược thực tế sản xuất hết sức quan tâm, vì vậy nó ñược trồng phổ biến trên thế giới với 40% dân số sử dụng lúa gạo làm lương thực chính và ảnh hưởng ñến ñời sống của ít nhất 65% dân số thế giới Ở Việt Nam, gần 100% dân số sử dụng lúa gạo làm lương thực chính

Tuy nhiên vấn ñề thâm canh lúa hiện nay gặp nhiều khó khăn do sự biến ñổi của khí hậu, thiên tai bão lụt xảy ra nhiều làm cho dịch bệnh thường xuyên xảy ra trên quy mô, phạm vi rộng lớn Trong suốt quá trình sinh trưởng

và phát triển, cây lúa bị nhiều loài sâu phá hại như sâu ñục thân, sâu cuốn lá,

bệnh ñạo ôn,v.v Trong ñó, bệnh bạc lá do vi khuẩn Xanthomonas oryzae gây

ra là một trong những loại bệnh hại chủ yếu Tỉ lệ thiệt hại từ 25-60% năng suất lúa ñạt ñược Hàng năm diện tích lúa bị bệnh bạc lá hại năng khoảng 300.000 ha Theo Tổng cục thống kê và Cục trồng trọt, Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn năm 2007 diện tích lúa mùa nhiễm bệnh bạc lá là 350.000ha, vụ mùa năm 2008 là 420.000ha, nhiều diện cấy các giống lúa lai

bị mất trắng Bệnh gây hại ở cả 2 vụ lúa xuân và lúa mùa, ở cả 2 vùng ñồng bằng lớn là ñồng bằng sông Hồng và ñồng bằng sông Cửu Long Bệnh bạc lá lúa phát sinh phá hại suốt từ thời kỳ mạ ñến chín nhưng có triệu chứng ñiển hình nhất là thời kỳ cây lúa trên ruộng từ sau ñẻ - trỗ ñến chín sữa Nhìn chung bệnh bạc lá vụ mùa thường nặng hơn vụ xuân, do thời tiết nóng, lượng mưa lớn, rải rác ñều liên tiếp nên ñây là ñiều kiện thuận lợi cho bệnh bạc lá

phát triển, gây hại nặng Cây bị bệnh do vi khuẩn Xanthomonas oryzae gây ra

giảm khả năng quang hợp ñể tạo dinh dưỡng nuôi hạt, chính vì thế những

Trang 15

ruộng bị bệnh bạc lá lúa tỷ lệ hạt lép rất cao

Bệnh bạc lá lúa ñược phát hiện ñầu tiên ở Nhật Bản vào khoảng năm

1884 - 1885 Bệnh phổ biến ở hầu hết các nước trồng lúa trên thế giới, ñặc biệt

ở châu Á (Nhật Bản, Trung Quốc, Philippin, Ấn ðộ, vv…) Tác hại chủ yếu của bệnh làm lá lúa, ñặc biệt là lá ñòng sớm tàn, nhanh chóng bị khô chết, bộ lá lúa xơ xác ảnh hưởng xấu tới hiệu suất quang hợp tích lũy chất khô, dẫn ñến giảm khối lượng hạt, tỉ lệ lép cao, năng suất sút kém Vi khuẩn gây bệnh bạc lá

là Xanthomonas oryzae (Uyeda et Ishiyama) Dowson Còn gọi là Pseudomonas

oryzae Uyeda et Ishiyama hoặc Phytomonas oryzae Magrou, Xanthomonas

campestris p.v oryzae Xanthomonas oryzae pv oryzae Bệnh bạc lá lúa do vi khuẩn Xanthomonas oryzae gây ra là một trong những bệnh gây hại chính ở

Việt Nam cũng như ở các vùng trồng lúa trên thế giới Bệnh ñã làm giảm năng suất lúa ở Châu Á lên tới 60% tổng năng suất lúa hàng năm [7]

Những năm gần ñây ở thị xã Châu ðốc, tỉnh An Giang nhu cầu trồng các giống lúa chất lượng cao tăng lên, sử dụng phân bón nhiều, thời tiết thuận lợi

bệnh bạc lá do vi khuẩn Xanthomonas oryzae phát sinh phát triển gây hại

nặng nhất là vụ hè thu và thu ñông, việc phòng trị bệnh bạc lá gặp nhiều khó khăn ðể phòng chống bệnh bạc lá hiệu quả ñược sự hướng dẫn của PGS.TS

ðỗ Tấn Dũng, Bộ môn Bệnh cây, Khoa Nông học, Trường ðại học Nông

nghiệp Hà Nội, chúng tôi tiến hành thực hiện ñề tài : “ Nghiên cứu ảnh

hưởng của liều lượng phân bón ñến bệnh bạc lá lúa (Xanthomonas oryzae)

và biện pháp phòng trừ tại thị xã Châu ðốc, tỉnh An Giang năm 2012

2 Mục ñích của ñề tài

Nghiên cứu ảnh hưởng của các yếu tố giống lúa, phân ñạm,lân, kali, mật

ñộ sạ và thuốc hóa học ñến sự phát sinh phát triễn của bệnh bạc lá lúa vụ hè thu, thu ñông năm 2012 tại Thị xã Châu ðốc, tỉnh An Giang

Trang 16

3 Yêu cầu của ñề tài

Nghiên cứu ảnh hưởng của các giống lúa ñến sự phát sinh phát triển bệnh bạc lá lúa vụ hè thu 2012

Nghiên cứu ảnh hưởng của các liều lượng bón phân ñạm ñến sự phát sinh phát triển bệnh bạc lá lúa vụ hè thu 2012

Nghiên cứu ảnh hưởng các liều lượng phân lân trên nền ñạm và kali cố ñịnh ñến sự phát sinh phát triển bệnh bạc lá lúa vụ thu ñông 2012

Nghiên cứu ảnh hưởng các liều lượng phân kali trên nền ñạm và lân cố ñịnh ñến sự phát sinh phát triển bệnh bạc lá lúa vụ thu ñông 2012

Nghiên cứu ảnh hưởng các liều lượng mật ñộ sạ trên nền ñạm, lân và kali cố ñịnh ñến sự phát sinh phát triển bệnh bạc lá lúa vụ thu ñông 2012 Nghiên cứu ảnh hưởng của một số thuốc hóa học ñến sự phát sinh phát triển của bệnh bạc lá lúa vụ hè thu 2012

Trang 17

Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ðỀ NGHIÊN CỨU

1.1 Những nghiên cứu ngoài nước

1.1.1 Lịch sử nghiên cứu, phân bố ñịa lý và tác hại của bệnh bạc lá

Bệnh bạc lá lúa ñược phát hiện và ghi nhận lần ñầu tiên ở Nhật bản vào năm 1884-1885 tại tỉnh Fukuoka thuộc ñảo Kyushu, bệnh gây ra hiện tượng bạc trắng lá, gây héo vàng làm giảm ñáng kể năng suất, sản lượng lúa (Giáo trình bệnh cây nông nghiệp 2005)

Về nguyên nhân gây bệnh, năm 1922 lần ñầu tiên Yshiyama phân lập,

xác ñịnh ñược vi khuẩn gây bệnh bạc lá lúa ñặt tên là Pshidomonas oryzae

(Uyade & Ishiyama 1922) Sau ñó nhiều công trình nghiên cứu về bệnh bạc lá lúa ñược công bố ở Nhật Bản, như: Matsuda 1928, Wakimoto 1955, 1960, Yamamoto 1966, Ypshimura 1966, Ogawa 1990 (Ogawa 1998 , Ezuka 2000 ) Từ năm 1950 trở ñi, bệnh bạc lá lúa phát triển mạnh ở Nhật Bản vào khoảng năm 1960, bệnh bạc lá ñã lan rộng khắp Nhật Bản, trừ miền Bắc ñảo Hokaido (Tagami và Mizukami, 1962, Srivastava 1972) (Bùi Trọng Thụy, Phan Hữu Tôn 2004)

Ở Ấn ðộ bệnh bạc lá ñược phát hiện vào năm 1940 (Raina và cộng sự, 1981) với tên ñịa phương là Pansukh, có nghĩa là trắng lá hay khô lá ðến năm 1965, người ta mới xác ñịnh ñược ñúng nguyên nhân gây bệnh là do vi

khuẩn X.oryzae gây ra

Ở Indonexia, bệnh bạc lá lúa ñược phát hiện vào năm 1950 Khi nghiên cứu các triệu chứng héo, Reitsma và Schure gọi tên bệnh là Kresek và

xác ñịnh do vi khuẩn X.oryzae gây ra

Ở Philippine, Reiking (1918) ñã mô tả triệu chứng bệnh bạc lá vi

khuẩn nhưng lại nhầm với bệnh ñốm sọc vi khuẩn do Xathomonas oryzicola

gây lên Mãi ñến tận 1957, hai bệnh này mới ñược phân biệt với nhau rõ rệt

Trang 18

Năm 1957 các nhà khoa học Trung Quốc phát hiện thấy bệnh trên các cánh ñồng lúa phía Tây và nam (Wu, 1980, 1989) Năm 1963-1964, các nghiên cứu của Rao và Mikazumi ñã phân lập và xác ñịnh vi khuẩn

Xanthomanas oryzae là nguyên nhân gây bệnh bạc lá lúa (Endo,N & Ogawa,T.1977) Năm 1976, bệnh này ñược thông báo ở Pakistan Trong nửa cuối thập niên 70, bệnh xuất hiện ở hầu hết các nước châu Á, trừ Tây Á (Yoshimuara và cộng sự, 1983, 1984)

Năm 1973, bệnh bạc lá vi khuẩn ñược thông báo ở miền Bắc châu Úc (Khush, 1976) tại Châu Mỹ La Tinh ở một số trại thí nghiệm lúa thuộc Colombia, Panama và Mexico ñã phát hiện thấy bệnh bạc lá vào năm 1975 (Buddenhagen và cộng sự, 1979 Năm 1979, người ta quan sát thấy bệnh bạc

lá vi khuẩn trong các trại thí nghiệm ở Kogoni, Mali thuộc vùng phía Tây Châu Phi (Buddenjagen và cộng sự 1979, 1982)

Tháng 9 năm 1980, bệnh bạc lá vi khuẩn cũng xuất hiện trên một số giống lúa lùn Châu Á Sau ñó người ta quan sát thấy bệnh xuất hiện trên lúa dại Oryzae bathii, Oryzae longistaminata (Buddenhagen, 1982) Bệnh bạc lá lúa cũng phân bố và gây hại ở Châu Phi, những thông báo ñầu tiên về bệnh bạc lác lúa ở Mali ñược công bố năm 1979, ở Senegal năm 1980, ở Niger năm

1984, ở Gabon, ở Volga và cameroon 1981, bệnh bạc lá lúa ở Châu Phi gây hại nặng, giảm 40-50% năng suất và là một trong những ñối tượng gây hại chủ yếu ( Angadi, C.V 1978b)

Viện nghiên cứu lúc quốc tế IRRI ñã khẳng ñịnh ñược tính chuyên hóa

ký sinh của vi khuẩn X.oryzae trên Công tác nghiên cứu phân lập các chủng

nòi vi khuẩn bạc lá ñược tiến hành thường xuyên tại tất cả các quốc gia nhằm phát hiện ra các chủng vi khuẩn mới và sự thay ñổi ñộc tính của chính theo từng quốc gia và ñiều kiện ngoại cảnh bộ giống chỉ thị nòi và chia chúng thành 3 nhóm nòi … Nhiều thành tựu trong nghiên cứu bệnh bạc lá ñã ñược

Trang 19

công bố rộng rãi và ñược áp dụng hiệu quả trong sản xuất

Bệnh bạc lá do vi khuẩn X oryzae là một bệnh nguy hại và ñược phát

hiện ở hầu hết tất cả các cùng trồng lúa trên thế giới Hàng năm năng suất lúa toàn thế giới ước tính giảm từ 10 – 20% vì các bệnh vi khuẩn, trong ñó có tới 50% là do bệnh bạc lá gây lên (Mew, 1989)

Theo thống kê của tổ chức nông lương thực thế giới (FAO) thì bệnh bạc lá lúa không những làm giảm năng suất mà còn làm giảm ñáng kể chất lượng gạo Nguyên nhân là do bệnh làm tăng cường ñộ ho hấp, giảm cường

ñộ quang hợp, kéo dài thời gian trổ, tỷ lệ lép cao, gạo ñem xay xát dễ bị nát Tại Ấn ðộ, hàng năm có tới hàng triệu ha bị bệnh bạc lá nặng, năng suất giảm

từ 6 – 60%

Theo Inoue và Tsuda, hàng năm diện tích nhiễm bệnh bạc lá lúa ở Nhật Bản từ 600.000-800.000 ha, chiếm 23-35% tổng diện tích, tỷ lệ giảm năng suất từ 20-25% tương ñương với sản lượng 25.000 ñến 45.000 tấn thóc (Ezuka 2000)

Bệnh bạc lá gây hại giai ñoạn lúa làm ñòng, trỗ ảnh hưởng nghiêm trọng ñến tất cả các yếu tố cấu thành năng suất: Trọng lượng chất khô giảm, thân, bẹ, lá, bông lúa nhẹ, gẫy nát, tỷ lệ hạt lép ñến 75-80%, số hạt trên bông

và trọng lượng nghìn hạt ñều giảm so với ñối chứng Về chất lượng: Hạt gạo

dễ gãy mủn, màu xám ñen không trong, vị ñắng, hàm lượng tinh bột và Protein ñều giảm so với ñối chứng ( Purushothaman, D.& Prasad N.N 1972)

Năm 1986 tại Autralia, bệnh làm giảm từ 30-50% Thiệt hại do bệnh bạc lá gây ra ở Philipines và Indonesia cao hơn so với Nhật Bản

1.1.2 Nghiên cứu ảnh hưởng của ñiều kiện thời tiết khí hậu ñến sự phát sinh phát triển bệnh bạc lá

ðộ ẩm và nhiệt ñộ trong ñất là yếu tố quan trọng quyết ñịnh ñến sự tồn tại của vi khuẩn (Alverez, A.M, Rheman,F.U & Leach, J.E 1997)

Trang 20

Trong ñiều kiện mưa nhỏ trời âm u trên bề mặt vết bệnh xuất hiện rất nhiều giọt dịch, viên keo vi khuẩn màu vàng trong, sau ñó chuyển dần thành màu vàng ñậm, màu hổ phách Viên keo có dạng hình cầu tròn, kích thước to nhỏ rất khác nhau từ 0.5mm ñến 2mm (Endo,N & Ogawa,T.1977)

Ở các nước có khí hậu nhiệt ñới bệnh gây hại tất cả các giai ñoạn sinh trưởng của cây lúa từ mạ, lúa con gái ñẻ nhánh và nhất là giai ñoạn lúa làm ñòng trỗ, tỷ lệ giảm năng suất từ 35-60% (Kuhara, s.& Nishihawa, T.1971)

Vi khuẩn xâm nhiễm qua thủy khổng, lỗ khí ở trên mút lá, mép lá và ñặc biệt qua vết thương sây sát trên lá Khi ñã tiếp xúc với bề mặt lá có màng ướt, vi khuẩn dễ dàng di ñộng tiến vào bên trong các lỗ khí, qua vết thương mà sinh sản nhân lên về số lượng và qua các bó mạch dẫn lan rộng ñi Nguồn bệnh chủ yếu tồn tại trên các cây cỏ dại mọc trên ruộng, dạng hạt keo vi khuẩn, ngoài ra còn tồn tại trên hạt giống và tàn dư cây bệnh (Lê Lương Tề 1985)

1.1.3 Nghiên cứu ảnh hưởng của giống với bệnh bạc lá

Những nghiên cứu về giống lúa kháng bệnh bạc lá ở Viện nghiên cứu lúa quốc tế (IRRI) và Nhật Bản từ những năm 1960 cho ñến 1998 ñã xác ñịnh ñược

23 gen ñơn kháng các nhóm nòi (Race) vi khuẩn X oryzae gây bệnh bạc lá lúa,

tất cả các gen kháng này ñược ñặt tên là Xa và kí hiện từ Xa1 ñến Xa23

Hiện nay, các giống lúa lai Trung Quốc bị nhiễm bệnh bạc lá rất nghiêm trọng Vì vậy, các nhà khoa học Trung Quốc ñang tập trung nghiên cứu ñể chuyển các gen kháng bệnh bạc lá vào các dòng mẹ bất dục 14 (Lê Lương Tề 1980)

Một trong những hướng mang lại hiệu quả cao cho nông dân, cho môi trường là sử dụng giống kháng bệnh Hiện tại ñã có 25 gen kháng bệnh bạc lá

ñã ñược công bố (Kinoshita, 1995; Zhang et al., 1997, Lin et al., 1998)

Theo Furuya, N., Taura, Bui Trong Thuy va ctv, 2001-2002 [10] ñã thu thập ñược 385 mẫu lá bệnh bạc lá trên 27 giống lúa ở các tỉnh phía Bắc Việt Nam

Trang 21

Gen kháng Xa21 có ở lúa hoang Oryzae longistaminata(Khush et al., 1990)

Ở Trung Quốc những công trình nghiên cứu của Phương Trung ðạt khẳng ñịnh nguồn bệnh chủ yếu là ở hạt giống (Giáo trình bệnh cây nông nghiệp 2005)

Mặc dù vi khuẩn tồn tại trong tự nhiên ở nhiều nơi khác nhau như vậy nhưng nói chung dựa theo các tài liệu nghiên cứu ở trong nước và ngoài nước

có thể thấy rằng nguồn bệnh chuyển từ vụ này sang vụ khác là do hạt giống và tàn dư cây bệnh giữ một vai trò chủ yếu, ñồng thời ñất, nước cũng như dạng viên keo vi khuẩn trên lá cũng có một ý nghĩa nhất ñịnh trong việc lan truyền bệnh cho vụ sau Vấn ñề nguồn bệnh vi khuẩn vẫn còn là một tồn tại cần nghiên cứu cụ thể sâu hơn nữa, vì ngay cả hạt giống nhiễm bệnh như thế nào cũng còn có nhiều nhận xét khác nhau Rao và Srivastava 1973 ñã dùng khuẩn thực thể ñể khảo sát sự tồn tại của vi khuẩn trong hạt ñã phát hiện thấy hạt giống nhiễm trùng cả bên trong hạt (Giáo trình bệnh cây nông nghiệp 2005) Chân ñất màu mỡ, nhiều chất hữu cơ thì bệnh bạc lá phát triển nhiều Các giống lúa cũ, lúa ñịa phương nhiễm bệnh nhẹ hơn so với các giống lúa nhập nội có thời gian sinh trưởng ngắn, phàm ăn Theo ñiều tra của Viện bảo vệ thực vật thì các giống lúa lai Trung Quốc nhập nội từ năm 1993 – 1997 hầu hết ñều bị nhiễm bệnh bạc lá, với mức tỷ lệ bệnh 50 - 8%, cấp bệnh phổ biến là 5 – 7, nếu bệnh nặng thì năng suất giảm 20 – 50% (Bùi Trọng Thủy & ctv 2004)

Tại Viện nghiên cứu lúa Quốc Tế IRRi phát hiện gen kháng bệnh bạc

lá Xa21 ở loài lúa dại Oryzae longistaminata (Khush et al 1989) Khác với sự

nhận diện của một gen khác, gen trội Xa21 kháng toàn bộ các chủng bạc lá tại

Ấn ðộ và Philippin khi thử kiểm tra tính kháng bệnh (Ikeda et al 1990)

Năm 1961, Nishimura nghiên cứu về gen kháng bệnh, trong nghiên cứu ông ñã tìm ra tính kháng bạc lá do một gen trội kiểm soát Năm 1968, Hen và cộng sự ñã nhận xét gen kháng bệnh bạc lá ñược kiểm soát bởi một

Trang 22

gen trội không hoàn toàn

Murty và Khush (1972) ựã cho rằng gen kháng bạc lá ựược kiểm soát bởi một gen lặn và ựối với giống DZ192 gen kháng bệnh ựượckiểm soát bởi 2 gen lặn

Sidhuet và cộng sự (1978) ựã phân tắch 74 giống lúa trồng và tìm ra 3 giống DV85, DV86 và DZ275 mang một gen lặn là Xa5 có tắnh kháng tốt như các gen trội

Hiện nay, các giống lúa lai Trung Quốc bị nhiễm bệnh bạc lá rất nghiêm trọng Vì vậy, các nhà khoa học Trung Quốc ựang tập trung nghiên cứu ựể chuyển các gen kháng bệnh bạc lá vào các dòng mẹ bất dục Li Cheng Quan và cộng sự, Viện Nghiên cứu lúc thuộc Viện Hàn Lâm HKK An Hội Trung Quốc, ựã sử dụng kỹ thuật MAS ựể quy tụ gen Xa21 vào dòng PGMS 3418s Dòng bất dục này rất ổn ựịnh và có khả năng kháng bệnh bạc lá tương ựối giống IRBB21(Lê Lương Tề 1980)

1.1.4 Nghiên cứu ảnh hưởng của liều lượng và tỷ lệ phân bón NPK ựến bệnh bạc lá

Phân bón là một trong những yếu tố quan trọng hàng ựầu góp phần vào việc nâng cao năng suất, sản lượng cây trồng và chất lượng của sản phẩm đúng như nhận ựịnh của Yang trong hai năm 1998 - 1999: Không có phân hoá học, nông nghiệp thế giới không thể nào trong 50 năm qua sản lượng tăng gấp 4 lần

và trở thành một trong các yếu tố cơ bản của sự tăng mức sống ở các nước văn minh (Yang, X., Zhang, W and Ni, W 1999)

Theo quan ựiểm của Koyama năm 1981: Kali xúc tiến tổng hợp ựạm trong cây Thiếu kali cây lúa dễ bị bệnh tiêm lửa, ựạo ôn, thối rễ, bạc lá, thân cây yếu dễ bị ựổ Lúa ựược bón ựầy ựủ kali, lá chuyển màu xanh vàng, lá dài hơn và trỗ sớm hơn 2 Ờ 3 ngày Kali có tác dụng làm tăng số nhánh hữu hiệu, tăng chiều cao cây, bông dài hơn và phẩm chất hạt tốt hơn (Koyama J 1981)

Trang 23

1.1.5 Nghiên cứu ảnh hưởng của ñịa thế ñất ñai, mật ñộ sạ ñến bệnh bạc lá

Trong ñiều kiện ñất chua, úng, ngập nước hoặc mực nước sâu, ñặc biệt lúa ở vùng ñất hẩu, nhiều mùn, hàng lúa bị bóng cây ven ñường che bóng thì bệnh có thể phát triển sớm và mạnh hơn Mực nước ruộng ngập sâu, cây dễ bị bệnh nặng khi giữ mực nước cạn (5cm) Kozaka và Sato cũng cho rằng vi khuẩn xâm nhiễm mạnh, dễ dàng hơn trong ñiều kiện ruộng ngập nước.(Giáo trình bệnh cây nông nghiệp 2005)

Dạng hình ñẹp: Chiều cao cây phải ngắn và góc lá thẳng ñứng ñể cân bằng hô hấp và quang hợp, tăng chỉ số diện tích lá (LAI) Cây có tán lá ngã rợp sẽ làm tăng ẩm ñộ tương ñối và giảm nhiệt ñộ dưới tán lá do ánh sáng bị cản trở bởi tán lá và giảm sự lưu thông không khí dưới tán lá Với ñiều kiện tiểu khí hậu bên dưới tán lá như vậy là rất thích hợp cho sự phát triển nhiều loại bệnh hại và sâu hại tấn công cây lúa (Yoshida 1976);

Số chồi và chỉ số diện tích lá: Với giống lúa cao sản ngắn ngày cần quản

lý số chồi hữu hiệu vừa phải ñể ñảm bảo số bông/m2, chiều dài bông, và năng suất không bị giảm, ñồng thời cũng giữ chỉ số diện tích lá vừa phải ñể không làm gia tăng số chồi vô hiệu Giảm số chồi vừa phải cũng làm giảm áp lực sâu bệnh (Mew,1991);

Theo Zhong và ctv, 2003 khái niệm về “ruộng lúa khỏe” (Healthy rice canopy) ñược hình thành từ cơ sở của sự phối hợp chặt chẽ giữa ñặc tính sinh

lý của cây lúa, cấu trúc tán lá lúa cũng như ñiều kiện tiểu khí hậu bên dưới tán

lá lúa với sự phát triển của bệnh hại do tác ñộng của bón phân ñạm và mật ñộ gieo sạ Quản lý ruộng lúa khỏe mạnh là sự kết hợp giữa quản lý dinh dưỡng

và cây trồng ñể tạo ra một ruộng lúa phát triển tốt, năng suất cao, và có khả năng tự chống chịu bệnh hại tốt hơn, ñây là một hướng mới, có tính khả thi và hiệu quả

1.1.6 Nghiên cứu các biện pháp phòng trừ bệnh bạc lá lúa

Trang 24

Thuốc hóa học trong ruộng lúa phòng trị bệnh bạc lá lúa bắt ñầu vào những năm 1950 với các ứng dụng phòng ngừa của hỗn hợp Bordeaux (ngâm nước vôi và sunfat ñồng) và thử nghiệm một số loại thuốc kháng sinh,thủy ngân và các hợp chất ñồng Thí nghiệm xác ñịnh thuốc streptomycin và các hợp chất thủy ngân là hiệu quả nhất (Mizukami và Wakim-oto, 1969)

ðể ức chế khả nămg xâm nhập của vi khuẩn Xanthomonas oryzae và ngăn chặn hoặc làm giảm sự phát triển gây hại của bệnh Sử dụng hóa chất tecloftalam, phenazine oxit và niken dimethyldithiocarbamate ñược phun trực tiếp lên cây (Mizukami và Wakimoto, 1969)

Sử dụng thuốc hóa học phòng trị vi khuẩn Xanthomonas oryzae trong khí

hậu nhiệt ñới gió mùa của châu Á là không thực tế,và không diệt khuẩn thực

sự hiệu quả ñể kiểm soát dịch bệnh (Lee và cộng sự, 2003; Ou, 1973)

Bệnh bạc lá lúa do vi khuẩn Xanthomonas oryzae pv oryzae là căn bệnh

nguy hiểm nhất gây hại lúa nước ñang phát triển ở Indonesia Xạ khuẩn

Streptomyces spp ñã ñược biết ñến như một chất kháng khuẩn, có thể ñược sử

dụng phòng trị bệnh bạc lá Trong thí nghiệm mùa khô, sử dụng streptomyces spp giảm mức ñộ nghiêm trọng bệnh bạc lá lúa Phun streptomyces spp tăng

năng suất lúa so với lô không phun (The Journal of Agricultural Science and Biology 7 (2): 217-223, 2012 The Agricultural University Bogor Indonesia.)

1.2 Những nghiên cứu ở trong nước

1.2.1 Lịch sử nghiên cứu, phân bố ñịa lý và tác hại của bệnh bạc lá

Ở các nước nhiệt ñới, do nhiệt ñộ tương ñối cao, thuận lợi cho vi khuẩn gây hại phát triển quanh năm, nhiều cỏ dại và gốc rạ,giúp vi khuần lưu tồn từ vụ nầy qua vụ khác Trong nước kinh rạch, nước ruộng, mật số vi khuẩn hầu như cao quanh năm Các yếu tố nầy có lẻ góp phần làm cho bệnh ở các nước nhiệt ñới khá nghiêm trọng (Giaó Trình Bệnh cây chuyên khoa, ðại Học Cần Thơ)

Ở Việt Nam, bệnh bạc lá lúa ñã thực sự gây tác hại từ lâu trên các

Trang 25

giống lúa mùa cũ, nhưng ñặc biệt từ những năm 1965 – 1966 trở lại ñây, bệnh thường xuyên phá hại nghiêm trọng trên các giống lúa mới nhập nội nó năng suất cao ở vụ xuân nhất là vụ mùa Mức ñộ tác hại của bệnh phụ thuộc vào giống, thời kì cây bị bệnh sớm hay muộn và mức ñộ bị bệnh nặng hay nhẹ Năm 1970 trên diện tích lúa mùa cũ cấy giống NN8 bị bệnh ở mức ñộ 60 – 100%, giảm năng suất từ 30 – 60% Theo báo cáo của phòng bệnh cây Viện bảo vệ thực vật (1970) thì tác hại của bệnh càng lớn khi mức ñộ của bệnh càng nặng (Lê Lương Tề, Vũ Triệu Mân, 1999)

Ở miền Bắc nước ta, bệnh có thể phát sinh, phát triển ở tất cả các vụ trồng lúa Vụ chiêm xuân, bệnh thường phát sinh vào tháng 3 - 4, phát triển mạnh hơn vào tháng 5 - 6 khi mà lúa chiêm xuân trỗ và chín Ở vụ mùa, bệnh

có thể phát sinh sớm vào tháng 8, ñặc biệt khi bước vào giai ñoạn làm ñòng ñến trỗ và chín sữa Tuy nhiên, ở vụ chiêm xuân mức ñộ bị bệnh thường nhẹ hơn, tác hại ít hơn so với vụ mùa, trừ một số giống lúa mùa xuân cấy muộn và nhiễm bệnh ngay từ khi lúa làm ñòng thì tác hại của bệnh có thể sẽ nặng (Lê Lương Tề, Vũ Triệu Mân, 1999)

ðiều cần chú ý là mức ñộ tác hại của bệnh phụ thuộc vào thời kì bị bệnh Nếu cây lúa bị bệnh ngay từ khi ñẻ nhánh thì mức ñộ bị bệnh về sau thường rất nặng, ảnh hưởng rõ rệt hơn tới năng suất, có thể làm giảm 41% trở lên, nếu bị bệnh bắt ñầu từ thời kì ñòng - trỗ tác hại có thể vẫn còn lớn, trung bình làm giảm năng suất của cây lúa khoảng 30% Nhưng nếu ở thời kì cuối (chín sữa - chín chắc) mới bị bệnh mức ñộ tác hại ít hơn, dưới 10% (Lê Lương Tề, 1970)

Tác hại chủ yếu của bệnh làm lá lúa, ñặc biệt là lá ñòng sớm tàn, nhanh chóng bị khô chết, bộ lá lúa xơ xác ảnh hưởng xấu tới hiệu suất quang hợp tích lũy chất khô, dẫn ñến giảm khối lượng hạt, tỉ lệ lép cao, năng suất sút kém (Giáo trình bệnh cây nông nghiệp 2005)

Trong những năm gần ñây, miền Bắc Việt Nam bệnh trở lên nghiêm

Trang 26

trọng và phá hoại ở cả hai vụ, do mức ñầu tư thâm canh cao, bón quá nhiều ñạm và bón không cân ñối, ñồng thời trồng nhiều giống mới nhiễm bệnh nhập

nội từ Trung Quốc (Phan Hữu Tôn, 2005)

1.2.2 Nghiên cứu ảnh hưởng của ñiều kiện thời tiết khí hậu ñến sự phát sinh phát triển bệnh bạc lá

Nhiệt ñộ thích hợp nhất cho vi khuẩn sinh trưởng 26 - 300C, nhiệt ñộ tối thiểu 0 - 50C, tối ña 400C Nhiệt ñộ gây chết là 530C trong 10 phút, có thể sống trong phạm vi pH 5,7 - 8,5, thích hợp nhất PH 6,8 - 7,2 (Giáo trình bệnh cây nông nghiệp 2005)

Ở miền Bắc nước ta bệnh bạc lá lúa có thể phát sinh phát triển ở tất cả các vụ lúa ñông xuân, mùa Trong vụ ñông xuân, bệnh thường phát sinh vào tháng 3 - 4 nhưng phát triển mạnh hơn vào cuối giai ñoạn sinh trưởng của lúa vào tháng 5 - 6 dương lịch khi lúa xuân ñã trỗ và chín Nói chung bệnh ở vụ xuân thường bị nhẹ hơn, ít tác hại hơn so với vụ mùa, trừ một số trường hợp lúa xuân cấy muộn bị bệnh ngay từ ñòng thì bệnh có thể phát triển nặng và gây tác hại ít nhiều Bệnh bạc lá phát sinh sớm từ trung tuần tháng 8 ngay lúc lúa ñang ñẻ và tiếp tục phát triển mạnh vào những thời kì làm ñòng, trỗ ñến chín Các trà lúa mùa cấy các giống mới dễ cảm bệnh thường bị bệnh rất sớm và khá nặng, giảm năng suất nhiều, ñặc biệt là trong những năm nhiều mưa bão Các trà lúa trỗ muộn hơn vào tháng 10 dương lịch thường bị bệnh nhẹ hơn, do ñó

ít ảnh hưởng tới năng suất nhưng những năm có nhiều mưa bão lúa vẫn có thể

bị nặng vì vậy năng suất cũng giảm Nhìn chung cả hai vụ lúa xuân, lúa mùa, bệnh phát triển mạnh vào giai ñoạn sinh trưởng của cây lúa dễ nhiễm bệnh nhất là lúc lúa làm ñòng - trỗ - kéo dài tới chín sữa (Giáo trình bệnh cây nông nghiệp 2005)

Sự diễn biến của bệnh trên ñồng ruộng nhiều năm ñều theo một quy luật tương ñối rõ rệt: phát sinh phát triển khi nhiệt ñộ không khí tương ñối cao

Trang 27

26 - 300C, ẩm ñộ cao trong những ñợt mưa, gió, bão, vào lúc lúa ở giai ñoạn ñòng, trỗ trở ñi Sự phát triển và tác hại của bệnh phụ thuộc vào những ñiều kiện thời tiết còn phụ thuộc theo giống lúa và ñặc biệt là các biện pháp kĩ thuật canh tác (như chế ñộ bón phân, chế ñộ nước) và giai ñoạn sinh trưởng của cây Những ñiều kiện nói trên ñều liên quan với nhau, cùng tác ñộng ảnh hưởng tới tình hình diễn biến của bệnh, ñặc biệt trong khoảng thời gian nhất ñịnh nào ñó mà cả bốn ñiều kiện trên ñều trùng hợp thuận lợi cho bệnh thì mức ñộ bị bệnh rất nặng, tốc ñộ lan truyền rất nhanh chóng, tác hại của bệnh

sẽ lớn (Giáo trình bệnh cây nông nghiệp 2005)

Vi khuẩn xâm nhiễm qua thuỷ khổng, lỗ khí ở trên mút lá, mép lá và ñặc biệt qua vết thương sây sát trên lá Khi ñã tiếp xúc với bề mặt lá có màng nước ướt, vi khuẩn dễ dàng di ñộng tiến vào bên trong các lỗ khí, qua vết thương mà sinh sản nhân lên về số lượng qua các bó mạch dẫn lan rộng ñi Trong ñiều kiện mưa ẩm thuận lợi cho việc phát triển của vi khuẩn, trên bề mặt lá bệnh tiết ra những giọt keo vi khuẩn thông qua sự va chạm giữa các lá lúa nhờ mưa gió mà truyền lan tới các lá, cây khác ñể tiến hành xâm nhiễm lặp lại nhiều ñợt trong thời kì sinh trưởng Cho nên tuy là một loại bệnh có cự

li truyền nhiễm lây lan hẹp, song nó còn tuỳ thuộc mưa, gió, giông bão xẩy ra trong vụ mùa mà bệnh có thể truyền lan với phạm vi không gian khá rộng, giọt keo vi khuẩn hình thành với số lượng nhiều, ñó chính là một trong những nguyên nhân quan trọng làm bệnh phát triển mạnh sau những ñợt mưa gió vào cuối vụ lúa xuân và trong suốt vụ mùa ở nước ta (Giáo trình bệnh cây nông nghiệp 2005)

Vi khuẩn lây lan do mưa bảo mưa bảo còn tạo vết thương trên lá,giúp vi khuẩn dể xâm nhiễm Vi khuẩn củng lây lan theo nước ruộng vì các giọt vi khuẩn ứa trên lá sẽ rơi vào nước rồi tràn lan từ ruộng nầy sang ruộng khác

Vi khuẩn lưu tồn có thể sống trong ñất từ 1-3 tháng tùy ẩm ñộ ñất và tính

Trang 28

acid của ựất Bệnh bạc lá lúa tương quan thuận rất chặc với số lượng ngày mưa và vũ lượng (Giaó Trình Bệnh cây chuyên khoa, đại Học Cần Thơ)

1.2.3 Nghiên cứu ảnh hưởng của giống với bệnh bạc lá

Ở Việt Nam, bệnh bạc lá ựược phát hiện từ lâu trên các giống lúa mùa

cũ Trước năm 1955 ựã có các công trình nghiên cứu về bệnh bạc lá của các nhà khoa học Pháp (Lê Lương Tề 1985)

Trước năm 1975, các tác giả Nguyễn Hữu Thụy, Hà Minh Trung, Vũ Hoan, Phan đình Phụng, Mai Văn Quyền, Tạ Minh Sơn và một số tác giả khác ựã tập trung nghiên cứu mặt sinh học, sinh thái, dịch tễ học và tắnh chống chịu bệnh bạc lá của các giống lúa (Tạ Minh Sơn 1987)

Sau nhiều năm sản xuất trên diện rộng, tắnh kháng của phần lớn các giống lúa với sâu bệnh ựã suy giảm, nhất là ở những vùng có sức ép sâu bệnh hại cao như vùng canh tác 3 vụ, vùng có thâm canh cao Việc ựưa vào sản xuất các giống lúa có khả năng kháng sâu bệnh sẽ khắc phục ựược những nhược ựiểm cơ bản của biện pháp phòng trừ sâu, bệnh bằng hóa chất và mang lại hiệu quả kinh tế to lớn trong sản xuất nông nghiệp (Quyến và ctv, 2003 tại Viện Lúa đBSCL)

Một số gen kháng bệnh bạc lá ựã ựược tìm thấy trong các giống lúa ựịa phương ởViệt Nam và các tỉnh ựồng bằng sông Cửu Long như: Xa-2 ựược tìm thấy trên giống lúa TẻTép, Xa-5 có ở giống lúa Ba Túc, Giòng đôi, Koi

Bo Teng;xa-13 có ở giống Cà đung, Ba Túc, Thơm Lùn, Vệ Phắch, Nếp hoa vàng, Nàng Sớm (Nguyễn Thị Lang và Bùi Chắ Bửu, 2001)

Theo tác giả Tạ Minh Sơn thì trong cùng một ựiều kiện mức ựộ lây nhiễm như nhau thì các giống lúa ựịa phương cao cây còn giữ ựược hình dạng lá bệnh, còn các giống mới nhập nội thấp cây thì lá thường bị táp ựi dễ mủn nát

Kết quả nghiên cứu của bộ môn bệnh cây Ờ đại học Nông Nghiệp Hà Nội cho thấy có hai triệu chứng ựiển hình của bệnh bạc lá là bạc lá gợn vàng và

Trang 29

bạc lá tái xanh Loại hình bạc lá gợn vàng là phổ biến trên hầu hết các giống và mùa vụ, còn bạc lá tái xanh thường chỉ xuất hiện ở một số giống lúa, ñặc biệt ñối với các giống lúa ngắn ngày, chịu phân, thế lá ñứng như T1, X1, NN27, …

Trong các năm 2005 – 2008, Bộ môn Bệnh cây, Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội ñã khảo sát 446 Isolate, dựa vào phản ứng kháng, nhiễm của

11 dòng lúa chỉ thị ñẳng gen ñã xác ñịnh ñược ở Việt Nam có 15 nhóm nòi vi

khuẩn X oryzae (15 Race)

Theo kết quả nghiên cứu của Bùi Trọng Thủy và ctv, các gen ñơn trội Xa7, Xa21 và gen lặng Xa5 có phản ứng kháng (R), kháng vừa (M) với tất cả

10 chủng vi khuẩn X.oryzae gây bệnh bạc lá ở miền Bắc Việt Nam Người ta cũng thấy tính ñộc của 1 dòng vi khuẩn gây hại củng tăng dần khi cho chúng tiếp xúc và gây bệnh nhiều lần trên giống kháng.(Giaó Trình Bệnh cây chuyên khoa,ðHCần Thơ)

Giống nào có lá ngắn, hẹp, mộc thẳng thì kháng bệnh hơn những lá mộc xòe, do những giống có lá mọc xòe làm tăng ẩm ñộ và tăng cơ hội lây lan bởi các lá dễ tiếp xúc nhau Số lượng thủy khổng của từng giống củng có vai trò quan trọng trong việc kháng bệnh (Giaó Trình Bệnh cây chuyên khoa, ðại Học Cần Thơ)

- Chiến lược chọn tạo giống lúa chống bệnh bạc lá ở Miền Bắc của Trường ðại học nông nghiệp Hà Nội dùng phương pháp thu thập mẫu bệnh, ứng dụng công nghệ sinh học phân lập, nuôi cấy và phân biệt gen kháng bệnh

bằng PCR ñã xác ñịnh 16 chủng vi khuẩn Xanthomonas oryzae gây bệnh khác

nhau Các dòng chỉ thị IRBB5 (có gen xạ), IRBB7 (Xa7), IRBB21 (Xa2), có tính kháng ña số các chủng vi khuẩn gây bệnh

- Chọn tạo giống lúa lai hai dòng kháng bệnh bạc lá của Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội với phương pháp lai giữ dòng bất dục 103S và dòng phục hồi chứa gen kháng bệnh bạc lá tạo ra các tổ hợp lai như Việt lai 24

Trang 30

(103s/IRBB21), Việt lai 24 so với ñối chứng là Bồi tạp sơn thanh, thời gian sinh trưởng ngắn hơn từ 7-10 ngày, năng suất chấp nhận, thuộc nhóm cây bán lùn, ñặc biệt mang gen kháng bệnh bạc lá Xa 21

Các giống lúa thuần và lúa lai có nguồn gốc từ Trung Quốc ñược trồng

ở nhiều vùng hiện nay ñều nhiễm bệnh bạc lá rất nghiêm trọng, còn các giống lúa khác ñang ñược trồng hiện nay nói chung không có giống nào miễn dịch với bệnh bạc lá, nhưng mức ñộ chống bệnh có khác nhau Phần lớn các giống lúa mới, thấp cây hoặc cao cây, lá to bản, thời gian sinh trưởng dài hay ngắn ñều có thể bị bệnh Các giống lúa cũ như nếp, dự thơm cũng bị bệnh tương ñối nặng Một số giống lúa tám (tám xoan, tám thơm) Ngân tuyết, Tẻ tép bị bệnh rất nhẹ (Tạ Minh Sơn, 1987) Trong số các giống mới có năng suất khá, phàm ăn, bón phân nhiều nhưng có khả năng chống chịu bệnh cao ñược trồng trong những năm trước ñây (giống IR22, IR579, IR1561, C71, X21, X22, vv…) các giống có một vài gen kháng Xa7, Xa21, Xa4 hoặc xa5,vv… chống chịu ñối với ít nhất một số trong nhiều chủng sinh lí vi khuẩn ñã phát hiện ở nước ta (Giáo trình bệnh cây nông nghiệp 2005)

Mức ñộ bị bệnh của các giống cũng như mức ñộ tác hại của bệnh trên các giống có thể thay ñổi nhiều tuỳ theo ñiều kiện ñịa lí và canh tác Nói chung các giống lúa có tính chống chịu bệnh cao thường là các giống lúa ñẻ tập trung, giai ñoạn ñòng - trỗ tiến hành nhanh, lá nhỏ Viện lúa Quốc tế ñã chọn lọc ñược nhiều giống và dòng lai có tính chịu bệnh cao Phần lớn các giống nhiễm bệnh nặng ñều có ñặc ñiểm tỉ lệ N hoà tan/N tổng số khá cao, ở giai ñoạn ñòng - trỗ tỉ lệ ñó tăng nhanh, hàm lượng axit amin tự do nhiều, là giai ñoạn nhiễm bệnh nặng.(Giáo trình bệnh cây nông nghiệp 2005)

1.2.4 Nghiên cứu ảnh hưởng của liều lượng, tỷ lệ phân bón NPK ñến bệnh bạc lá

Ảnh hưởng của phân ñạm tới bệnh còn phụ thuộc vào số lượng phân ñạm và thời kì, phương pháp bón ñạm cho lúa…Căn cứ vào các nhận xét

Trang 31

nhiều năm thí nghiệm ở Viện Bảo vệ thực vật, trường ðại học Nông nghiệp

Hà Nội thì bón ñạm với số lượng nhiều, cây lúa xanh tốt quá, thân lá mềm yếu, hàm lượng ñạm tự do tích lũy khá cao ñều làm cho lúa bị bệnh nặng hơn nhiều so với bón ñạm ít, tất nhiên số lượng ñạm bón nhiều hay ít còn tuỳ thuộc theo giống Nói chung các giống lúa chịu phân, cứng cây có tỉ lệ C/N cao, có thể bón số lượng ñạm cao hơn các giống kém chịu phân và các giống mẫn cảm bệnh Hơn nữa mức ñộ bón ñạm có ảnh hưởng tới bệnh còn tuỳ theo mùa vụ Nói chung ở vụ xuân có thể bón ñạm với số lượng cao hơn vụ mùa

do ñó ngưỡng bón ñạm an toàn với bệnh có thể khác nhau tùy theo từng ñiều kiện nói trên Ngoài ra với cùng một lượng ñạm nhưng cách bón, thời kì bón khác nhau cũng có ảnh hưởng khá rõ tới mức ñộ bị bệnh Bón phân sâu, bón tập trung vào thời kì ñầu, bón nặng ñầu hay nhẹ cuối, bón thúc sớm làm cho cây lúa ñẻ tập trung, ñẻ nhanh, bệnh nhẹ hơn so với khi bón rải ñều nhiều ñợt, bón thúc muộn, bón lai rai (Giáo trình bệnh cây nông nghiệp 2005)

Bón ñạm cân ñối với lân và kali thì bệnh nhẹ hơn nhiều so với bón ñạm ñơn thuần, tuy nhiên nếu bón ñạm vô cơ với lượng quá cao (100 N/ha hoặc 120N/ha trở lên) ñối với các giống lúa lúa nhiễm vv… thì dù có bón thêm lân và kali về sau tác dụng cũng không rõ rệt, bệnh vẫn có thể phát triển nặng Tác dụng của kali thường chỉ có ý nghĩa hạn chế rõ rệt trong ñiều kiện bón ñạm vừa phải Vì vậy mức bón ñạm và bón ñạm cân ñối với kali ngay từ ban ñầu có ý nghĩa quan trọng trong việc phòng ngừa bệnh và hạn chế tác hại của bệnh (Giáo trình bệnh cây nông nghiệp 2005)

Bón một lượng vôi nhất ñịnh có thể giảm bớt bệnh, tuy nhiên cũng có những ñiều kiện thuận lợi, các biện pháp kĩ thuật khác áp dụng không phù hợp thì bệnh vẫn có thể phát sinh phát triển mạnh dù là ở ñất trung tính, ñất kiềm (Alverez, A.M, Rheman,F.U & Leach, J.E 1997),

Lúa là cây trồng rất mẫn cảm với việc bón ñạm Nếu giai ñoạn ñẻ nhánh mà thiếu ñạm sẽ làm năng suất lúa giảm do ñẻ nhánh ít, dẫn ñến số

Trang 32

bông ắt Nếu bón không ựủ ựạm cây lúa sinh trưởng chậm, thấp cây, ựẻ nhánh kém, phiến lá nhỏ, lá sớm chuyển thành màu vàng, ựòng nhỏ, từ ựó làm cho năng suất giảm Nếu bón thừa ựạm lại làm cho cây lúa có lá to, dài, phiến lá mỏng, dễ bị sâu bệnh, dễ lốp ựổ, ựẻ nhánh vô hiệu nhiều, ngoài ra chiều cao cây phát triển mạnh, trỗ muộn, năng suất giảm (Giáo trình bệnh cây nông nghiệp 2005)

Theo Bùi Huy đáp, 1980, nhận xét rằng phân ựạm là yếu tố chủ yếu ảnh hưởng ựến năng suất lúa, cây có ựủ ựạm thì các yếu tố khác mới phát huy hết ựược tác dụng Lê Văn Tiềm, 1986 cho thấy khi cây lúa ựược bón ựủ ựạm nhu cầu tất cả các chất dinh dưỡng khác như lân và kali ựều tăng (Lê Văn Tiềm.1986)

đạm là nhân tố phát bệnh quan trọng, ảnh hưởng của phân ựạm ựến bệnh bạc lá thể hiện khá rõ rệt: Nó phụ thuộc vào số lượng ựạm và thời kì bón Căn cứ vào các nhận xét nhiều năm thắ nghiệm ở Việt bảo vệ thực vật, Trường đại học Nông nghiệp Hà Nội thì bón ựạm với số lượng nhiều, cây lúa xanh tốt quá, thân lá mềm yếu, hàm lượng ựạm tự do tắch lũy khá cao ựều làm cho lúa bị bệnh nặng hơn nhiều so với bón ựạm ắt (30 Ờ 40N/kg), tất nhiên số lượng ựạm bón nhiều hay ắt còn tùy theo giống Ngoài ra với cùng một lượng ựạm nhưng cách bón, thời kì bón khác nhau cũng có ảnh hưởng khá rõ tới mức ựộ bị bệnh Bón phân sâu, bón tập trung vào thời kì ựầu, bón nặng ựầu nhẹ cuối, bón thúc sớm làm cho cây lúa ựẻ tập trung, ựẻ nhanh, bệnh nhẹ hơn

so với khi bón rải ựều nhiều ựợt, bón thúc muộn, bón lai rai (Giáo trình bệnh cây nông nghiệp 2005.)

Bón thừa phân ựạm, nhất là phun lên lá ở giai ựoạn sau, hay bón thừa silicate magnesium hay thiếu lân và kali ựều làm tăng bệnh Phân ựạm không ảnh hưởng trên sự phát triển của từng vết bệnh, do ựó ảnh hưởng của chất ựạm có lẻ là ảnh hưởng gián tiếp, làm gia tăng sự phát triển dinh dưởng của

Trang 33

cây nên làm gia tăng ẩm ñộ và tăng sự lây lan của bệnh Giaó Trình Bệnh cây chuyên khoa, ðại Học Cần Thơ

Theo Lê Văn Căn, 1964 cho rằng: lân là một trong những chất cần thiết cho quá trình trao ñổi chất của cây, lân có mặt trong các chất hữu cơ quan trọng nhất ñối với cây [1]

Lân làm tăng khả năng hút ñạm cho cây và hấp phụ Fe làm giảm nồng ñộ

Fe trong ñất, có thể làm giảm nồng ñộ ñộc trong ñất Trong thời kỳ chín của cây lúa, hàm lượng lân vô cơ giảm nhanh và hoạt ñộng của enzym photphorilaza tăng ñến 16 ngày sau khi thụ tinh của hạt sau ñó giảm xuống

Từ ñó ta có thể thấy lân là một thành phần dinh dưỡng rất cần thiết ñối với cây trồng (Sinclair,T.R.and Horie, T.1989)

Theo Võ Minh Kha (1966) trên ruộng lúa năng suất 8 tấn/ha số lượng kali lấy ñi trong hạt thóc khoảng 40 – 45 K2O Nếu vùi trả lại rơm rạ và bón 10 tấn phân chuồng thì sự thâm hụt về kali không lớn, vì vậy nước tưới có thể là nguồn kali chính cho lúa Hàm lượng kali trong nước tưới ñạt 40ppm có thể ñáp ứng nhu cầu kali cho lúa ở mức năng suất 10 tấn/ha (Nguyễn Như Hà 1998)

Kali còn thúc ñẩy hình thành lignin, xelulo làm cho cây cứng cáp hơn, chống ñổ và chống chịu sâu bệnh tốt hơn Cây lúa thiếu kali ít ảnh hưởng ñến

ñẻ nhánh nhưng làm cây lúa thấp, phiến lá hẹp, mềm yếu và rũ xuống, hàm lượng diệp lục thấp, màu xanh tối Khi thiếu kali, mặt phiến lá của những lá phía dưới có những ñốm màu nâu ñỏ, lá khô dần từ dưới lên trên Lúa thiếu kali dễ bị lốp ñổ, sâu bệnh dễ tấn công (nhất là khi ñược cung cấp nhiều ñạm),

số hạt ít, nhiều hạt xanh, hạt lép và hạt bạc bụng, phẩm chất gạo giảm

(Nguyễn Như Hà 2006)

Phân kali không trực tiếp làm tăng năng suất lúa Một thí nghiệm không bón phân kali liên tục ñã kéo dài 26 năm ở Viện Lúa ðBSCL cho thấy năng suất chỉ giảm so với ruộng ñược bón phân kali ñều ñặn chỉ 200 kg/ha

Trang 34

Tuy không trực tiếp làm tăng năng suất nhưng phân kali lại có tác dụng làm tăng chất lượng nông sản Ở ruộng ñược bón phân kali thì hạt lúa sáng hơn, lúa chắc hơn, ít lép hơn, thời gian tồn trữ lâu hơn Với những ruộng bị các ñiều kiện bất lợi như hạn hán, nhiễm phèn, nhiễm mặn, ñất phù sa quá tốt thì tác dụng của phân kali rõ ràng hơn, sẽ giảm thiểu ñược các bất lợi trên Mặc khác phân kali còn làm cho cây cứng hơn, ít ñổ ngã, lá ñứng nên ít sâu bệnh hơn ( Viện Bảo Vệ Thực Vật 2005)

Trước kia khi ruộng lúa bị bệnh bạc lá thường ñược khuyến cáo rút nước và bón phân kali Kết quả nghiên cứu trong thời gian vừa qua ñã ghi nhận việc rút nước và bón phân kali như vậy không những không có tác dụng giảm bệnh mà còn tạo ñiều kiện cho bệnh thêm trầm trọng Biện pháp cần ñược ñiều chỉnh là giữ nước trên ruộng và ngừng bón cả phân kali ñể giảm tác hại của bệnh ( Viện Bảo Vệ Thực Vật 2005)

1.2.5 Nghiên cứu ảnh hưởng của ñịa thế ñất ñai, mật ñộ sạ ñến bệnh bạc lá

Nghiên cứu ñược thực hiện nhiều nhất là việc xác ñịnh các nhóm nòi

vi khuẩn X oryzae ở các vùng miền trong cả nước và xác ñịnh nguồn gen

kháng bệnh bạc lá của các giống lúa Những nghiên cứu bước ñầu về thành phần nhóm nòi vi khuẩn gây bệnh bạc lá lúa ở nước ta của Tạ Minh Sơn (1987) cho thấy vi khuẩn bạc lá lúa có 4 nhóm nòi phổ biến nhất Nhóm I tập trung ở các tỉnh ðồng bằng Bắc Bộ Nhóm II tập trung ở các tỉnh ðồng bằng Nam Bộ Nhóm III và nhóm IV rải rác ở các ñịa phương

Theo Lê Lương Tề, 2007 thì ở Việt Nam, bệnh bạc lá lúa có triệu chứng chủ yếu là bạc lá Tác giả còn cho biết triệu chứng bạc lá trên ñồng ruộng vùng sông Hồng trên các giống lúa mới chia làm hai dạng: dạng bạc lá gợn vàng và dạng bạc lá héo tái xanh

Mật ñộ gieo sạ: Ruộng gieo sạ dày (250 kg/ha) có chỉ số bệnh cao hơn ruộng sạ thưa (75-120 kg/ha), ở giai ñoạn ñòng - trỗ, góc lá của ruộng sạ thưa,

Trang 35

bón ít ñạm (80 kgN/ha) nhỏ hơn (thẳng ñứng hơn) ruộng sạ dày và bón nhiều ñạm (120 kgN/ha) (Quyến và ctv, 2003 tại Viện Lúa ðBSCL)

Theo Nguyễn Văn Luật, Viện nghiên cứu lúa ðồng bằng sông Cửu Long, cho thấy việc giảm số lượng giống gieo sạ không ñơn thuần chỉ là một con số mà nó còn thể hiện mối quan hệ biện chứng giữa các quần thể lúa trên ñồng ruộng Nếu sạ thưa, cây lúa sẽ hấp thụ ánh sáng tốt hơn, hạn chế dịch bệnh phát triển

Trong những yếu tố kỹ thuật ñể tăng năng suất cây trồng, ngoài phân bón và cách bón phân, thì mật ñộ quần thể ảnh hưởng lớn ñến sự sinh trưởng của cây trồng Sự cạnh tranh quần thể cũng ảnh hưởng ñến sự phát triển của cây lúa, khi cây lúa phải sống trong ñiều kiện chật hẹp, thiếu ánh sáng làm cây lúa trở nên yếu ớt sâu bệnh dễ tấn công và dịch bệnh phát triển mạnh (Nguyễn Kim Chung và tiến sĩ Nguyễn Ngọc ðệ, ðại Học Cần Thơ, 2005)

Theo tập quán gieo sạ lúa truyền thống của nông dân với mật ñộ cao khoảng 200 kg/ha, bón nhiều phân ñạm sẽ tạo ñiều kiện thuận lợi cho sâu bệnh hại phát triển và làm giảm năng suất từ 38,2-64,6%, giảm tỷ lệ gạo nguyên từ 3,1-11,3% và giảm trọng lượng 1000 hạt từ 3,7 - 5,1% (Lê Hữu Hải et al., 2006) Cho nên bằng biện pháp gieo cấy với mật ñộ vừa phải sẽ rất

có ý nghĩa trong việc làm giảm sự phát triển của dịch hại.(Khoa NN & SHƯD, Trường ðại học Cần Thơ Tạp 2011

Mật ñộ cấy lúa qúa dày cũng ñều có ảnh hưởng tới sự phát triển lây lan của bệnh (Giáo trình bệnh cây nông nghiệp 2005)

Trong vụ Hè Thu thời tiết bất lợi, phương pháp sạ hàng ở mật ñộ 50 kg/ha và 100 kg/ha ñã hạn chế sự gây hại của rầy nâu, bệnh ñạo ôn, bạc lá, chuột và chống ñỗ ngã tốt cho cây lúa trên ñồng ruộng.Khoa NN & SHƯD,

DH Cần Thơ 2011

1.2.6 Nghiên cứu các biện pháp phòng trừ bệnh bạc lá lúa

Trang 36

Xuất phát từ những cơ sở nói trên, nhất là về ñặc ñiểm của nguồn bệnh ñầu tiên, ñặc ñiểm phát triển của bệnh thì biện pháp cơ bản nhất ñể phòng trừ bệnh bạc lá là dùng giống chống bệnh, xây dựng ruộng nhân giống không bệnh, và ñiều chỉnh sinh trưởng của lúa bằng các biện pháp kĩ thuật canh tác, nhất là kĩ thuật bón phân và nước ðồng thời trên cơ sở các biện pháp ñó trong các trường hợp cụ thể cần kết hợp làm tốt khâu xử lí hạt giống và dùng vôi, kali, phân hữu cơ, bón lót, bón thúc sớm, giữ mực nước nông, ñể phòng ngừa bệnh bạc lá và các bệnh khác (Giáo trình bệnh cây nông nghiệp 2005)

Sử dụng hạt giống không bệnh, dùng giống chống bệnh có một ý nghĩa lớn, cần tiến hành từ ban ñầu, kết hợp các biện pháp canh tác, vệ sinh tiêu diệt tàn dư lá bệnh trên ñất ruộng, diệt các loài cỏ dại là kí chủ phụ (cỏ môi, cỏ lồng vực, cỏ gừng bò, vv…) (Giáo trình bệnh cây nông nghiệp 2005)

- Phun thuốc phòng trừ vi khuẩn như Batocide 12WP - 0,2%, phun 2-3

có thể bảo vệ lá ñòng khi bệnh mới xuất hiện, tuy nhiên biện pháp này có hiệu quả thấp và hạn chế sử dụng Gần ñây, sử dụng một số hợp chất kích hoạt tính kháng bệnh bạc lá lúa ñã ñược khảo nghiệm (các hợp chất Exin và tương tự) (Giáo trình bệnh cây nông nghiệp 2005)

- Xuất phát từ nguồn bệnh ñầu tiên, ñặc ñiểm phát sinh, ñặc ñiểm của bệnh Lê Lương Tề và cộng sự (1996) [16], ñã ñề ra biện pháp phòng trừ tổng hợp bệnh bạc lá Sử dụng các giống chống, chịu bệnh là biện pháp chủ ñạo trong phòng trừ bệnh bạc lá; Các biện pháp canh tác bao gồm vệ sinh ñồng ruộng, diệt trừ cỏ dại, phun thuốc trừ bệnh, tăng cường chăm sóc, bón phân ñúng cách, thích hợp và ñiều chỉnh mực nước hợp lý; ngoài ra còn có biện pháp xử lý hạt giống trước khi gieo (Giáo trình bệnh cây nông nghiệp 2005)

ðịnh nghĩa tính chống thuốc của dịch hại: là sự giảm sút phản ứng của quần thể ñộng hay thực vật ñối với một loại thuốc trừ dịch hại, sau một thời gian dài, quần thể này liên tục tiếp xúc với thuốc ñó, khiến cho những loài

Trang 37

sinh vật ấy chịu ñược lượng thuốc lớn có thể tiêu diệt ñược hầu hết các cá thể cùng loài chưa chống thuốc Khả năng này ñược di truyền qua ñời sau, dù cá thể ñời sau có hay không tiếp xúc với thuốc (WHO,1976)

Quản lý dịch hại theo biện pháp tổng hợp, kết hợp giảm giống, giảm phân nên ñã hạn chế số lần phun thuốc BVTV, Năng suất lúa tăng bình quân mỗi ha là 150,5kg ñã tạo nên chất lượng hạt lúa tốt hơn, ít tồn dư thuốc BVTV hơn, góp phần bảo vệ môi trường, sức khỏe người tiêu dùng, người sản xuất, ñồng thời góp phần xây dựng nền nông nghiệp bền vững.(Tiến sĩ Nguyễn Hữu Huân - nguyên Phó Cục trưởng Cục Bảo vệ thực vật, Bộ Nông nghiệp-PTNT)

Thuốc bảo vệ thực vật ñang sử dụng ở nước ta nhằm mục ñích phòng trừ sâu bệnh, chuột và cỏ dại hại cây trồng và nông sản dùng thuốc ñúng mục ñích và ñúng kỷ thuật sẽ ñem lại nhiều kết quả tốt song thuốc bảo vệ thực vật ngoài mặt tích cực, cũng có những nhược ñiểm nhất ñịnh Do vậy khi dùng thuốc phải nắm những kiến thức cần thiết, ñể nhằm ngăn ngừa hoặc hạn chế tác hại của thuốc có thể gây nên ñối với người, vật nuôi và môi trường sống; ñồng thời ñể phát huy những mặc tích cực của thuốc trong việc bảo vệ, nâng cao năng suất cây trồng và chất lượng nông sản (Trần Quang Hùng 1999) Năm 1971, Viện BVTV ñã sử dụng một số thuốc hóa học chứa ñồng và thủy ngân, một số thuốc kháng sinh ñể phòng trừ bệnh và cho biết tất cả các loại thuốc này ñều không có tác dụng khi bệnh ñã phát sinh Cũng theo Viện BVTV thì cải tiến chế ñộ canh tác như sử dụng chế ñộ bón phân hợp lí, sử dụng giống chống bệnh, ñảm bảo thời vụ gieo cấy, chế ñộ tưới nước hợp lí ñược coi là những biện pháp có hiệu quả ñối với bệnh này (Tạ Minh Sơn, 1987)

i khuẩn rất dễ kháng với streptomycin, trong khi ñối với các chất kháng sinh khác thì ít hơn Do ñó lợi dụng ñặc ñiểm nầy, người ta có thể tạo ra môi trường chuyên biệt cho vi khuẩn hay ñể theo dõi sự phát triển của vi khuẩn trên

Trang 38

cây trồng hay trong ñất (Giaó Trình Bệnh cây chuyên khoa, ðại Học Cần Thơ) Các hợp chất ñồng có tác dụng ngừa bệnh, các kháng sinh có thể hạn chế sự phát triển của bệnh Tuy nhiên hợp chất nầy không kéo dài nên phải phun thường kỳ nhiều lần và chủ yếu là phun ngừa(Giaó Trình Bệnh cây chuyên khoa, ðại Học Cần Thơ)

ðể tăng hiệu quả phòng trị, cần phối hợp nhiều biện pháp như sử dụng giống kháng, tránh ruộng ngập úng, diệt các nguồn bệnh lưu tồn như lúa rài, gốc rạ, lúa chét,…không bón thừa phân ñạm nhất là bón nuôi ñòng Kết hợp phun ngừa các loại thuốc trị vi khuẩn(Giaó Trình Bệnh cây chuyên khoa, ðại Học Cần Thơ)

Trang 39

Chương 2 VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP

- Jasmine 85 nguồn gốc (Dòng lai IR 841-85) ñược chọn tạo từ tổ hợp

lai Pata/ TN 1// Khao dawk Mali của Viện nghiên cứu Lúa Quốc tế (IRRI) Nhập nội vào Việt Nam năm 1992 và ñược sản xuất rộng tại các tỉnh ðBSCL Thời gian sinh trường 95-100 ngày

- Giống lúa IR 2514 nguồn gốc ñược phát triển từ tổ hợp lai OM1314/

Nếp MT, ñược Bộ Nông nghiệp & PTNT công nhận giống chính thức năm 2005

2.1.2 Phân bón

- Phân ñạm urea : (CO(NH2)2), 46% N

- phân super lân Long Thành : 16% P2O5

- Chlorua kali (KCl) : 60% K2O

2.1.3 Thuốc bảo vệ thực vật

Thuốc phòng trừ bệnh bạc lá nằm trong danh mục thuốc bảo vệ thưc vật ñược phép sử dụng tại Việt Nam:

1 Lobo 8WP ( Gentamycinsulfate 2% ;Oxytetracyline hydrochloride 6%)

2 Stepguard 100SP (Streptomycin sulfat)

3 Ningnastar 80SL (Ningnamycin)

Trang 40

4 Sasa 25WP ( Bismerthiazol)

2.2 ðịa ñiểm, thời gian nghiên cứu

- Hợp tác xã nông nghiệp Phường Châu phú A, thị xã Châu ðốc, tỉnh

An Giang, vụ hè thu và thu ñông 2012

2.3 Nội dung nghiên cứu

Nghiên cứu ảnh hưởng của các giống lúa ñến bệnh bạc lá vụ hè thu

Nghiên cứu ảnh hưởng phân kali ñến sự phát sinh phát triển bệnh bạc

lá lúa vụ thu ñông 2012

Nghiên cứu ảnh hưởng mật ñộ sạ ñến sự phát sinh phát triển bệnh bạc

lá lúa vụ thu ñông 2012

Nghiên cứu ảnh hưởng một số thuốc phòng trừ ñến sự phát sinh phát triển bệnh bạc lá lúa vụ hè thu 2012

2.4 Phương pháp nghiên cứu

2.4.1 Phương pháp bố trí thí nghiệm ngoài ñồng ruộng

Thí nghiệm bố trí theo khối ngẫu nhiên hoàn chỉnh (RCB), mỗi thí nghiệm gồm 5 công thức, mỗi công thức nhắc lại 3 lần, diện tích mỗi ô thí nghiệm 20m2, tổng cộng 15 ô

- Mỗi ô ñiều tra lá lúa theo phương pháp 5 ñiễm chéo góc, mỗi ñiễm 2 khóm lúa, thời gian ñiều tra 34, 48, 62, 76, 90 ngày sau sạ, kết thúc ñiều tra trước thu hoạch lúa 7 ngày;

- Chỉ tiêu theo dõi: TLB%, CSB%;

- Giữa các ô thí nghiệm ñược ñắp bờ ngăn cách không cho nước chảy tràn hoặc dinh dưỡng thấm từ ô này sang ô khác

Ngày đăng: 17/10/2014, 12:12

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 3.4 : Ảnh hưởng của liều lượng bún phõn ủạm ủến năng suất lỳa vụ - nghiên cứu ảnh hưởng của liều lượng phân bón đến bệnh bạc lá lúa (xanthomonas oryzae) và biện pháp phòng trừ tại thị xã châu đốc, tỉnh an giang năm 2012
Bảng 3.4 Ảnh hưởng của liều lượng bún phõn ủạm ủến năng suất lỳa vụ (Trang 55)
Bảng 3.22:  Ảnh hưởng của mật ủộ sạ ủến năng suất lỳa vụ thu ủụng năm - nghiên cứu ảnh hưởng của liều lượng phân bón đến bệnh bạc lá lúa (xanthomonas oryzae) và biện pháp phòng trừ tại thị xã châu đốc, tỉnh an giang năm 2012
Bảng 3.22 Ảnh hưởng của mật ủộ sạ ủến năng suất lỳa vụ thu ủụng năm (Trang 80)
Hình 1.2a: Gieo sạ lúa các ô thí nghiệm - nghiên cứu ảnh hưởng của liều lượng phân bón đến bệnh bạc lá lúa (xanthomonas oryzae) và biện pháp phòng trừ tại thị xã châu đốc, tỉnh an giang năm 2012
Hình 1.2a Gieo sạ lúa các ô thí nghiệm (Trang 90)
Hình 1.1: ðắp bờ các ô thí nghiệm - nghiên cứu ảnh hưởng của liều lượng phân bón đến bệnh bạc lá lúa (xanthomonas oryzae) và biện pháp phòng trừ tại thị xã châu đốc, tỉnh an giang năm 2012
Hình 1.1 ðắp bờ các ô thí nghiệm (Trang 90)
Hình 1.4a: Ô thí nghiệm lúa 20 NSS - nghiên cứu ảnh hưởng của liều lượng phân bón đến bệnh bạc lá lúa (xanthomonas oryzae) và biện pháp phòng trừ tại thị xã châu đốc, tỉnh an giang năm 2012
Hình 1.4a Ô thí nghiệm lúa 20 NSS (Trang 92)
Hình 1.4b: Ô thí nghiệm lúa 20 NSS - nghiên cứu ảnh hưởng của liều lượng phân bón đến bệnh bạc lá lúa (xanthomonas oryzae) và biện pháp phòng trừ tại thị xã châu đốc, tỉnh an giang năm 2012
Hình 1.4b Ô thí nghiệm lúa 20 NSS (Trang 92)
Hình 1.6b : Ô thí nghiệm 60 NSS - nghiên cứu ảnh hưởng của liều lượng phân bón đến bệnh bạc lá lúa (xanthomonas oryzae) và biện pháp phòng trừ tại thị xã châu đốc, tỉnh an giang năm 2012
Hình 1.6b Ô thí nghiệm 60 NSS (Trang 93)
Hình 1.5b : Ô thí nghiệm 30 NSS - nghiên cứu ảnh hưởng của liều lượng phân bón đến bệnh bạc lá lúa (xanthomonas oryzae) và biện pháp phòng trừ tại thị xã châu đốc, tỉnh an giang năm 2012
Hình 1.5b Ô thí nghiệm 30 NSS (Trang 93)
Hình 1.7a : Ô thí nghiệm lúa nhiễm bệnh bạc lá 70 NSS - nghiên cứu ảnh hưởng của liều lượng phân bón đến bệnh bạc lá lúa (xanthomonas oryzae) và biện pháp phòng trừ tại thị xã châu đốc, tỉnh an giang năm 2012
Hình 1.7a Ô thí nghiệm lúa nhiễm bệnh bạc lá 70 NSS (Trang 94)
Hình 1.8a : Ô thí nghiệm lúa nhiễm bệnh bạc lá 80 NSS - nghiên cứu ảnh hưởng của liều lượng phân bón đến bệnh bạc lá lúa (xanthomonas oryzae) và biện pháp phòng trừ tại thị xã châu đốc, tỉnh an giang năm 2012
Hình 1.8a Ô thí nghiệm lúa nhiễm bệnh bạc lá 80 NSS (Trang 94)
Hình 1.9b : Ô thí nghiệm lúa nhiễm bệnh bạc lá 90 NSS - nghiên cứu ảnh hưởng của liều lượng phân bón đến bệnh bạc lá lúa (xanthomonas oryzae) và biện pháp phòng trừ tại thị xã châu đốc, tỉnh an giang năm 2012
Hình 1.9b Ô thí nghiệm lúa nhiễm bệnh bạc lá 90 NSS (Trang 95)
Hình 1.10a : Thu hoạch các ô thí nghiệm - nghiên cứu ảnh hưởng của liều lượng phân bón đến bệnh bạc lá lúa (xanthomonas oryzae) và biện pháp phòng trừ tại thị xã châu đốc, tỉnh an giang năm 2012
Hình 1.10a Thu hoạch các ô thí nghiệm (Trang 96)
Hình 1.10b : Thu hoạch các ô thí nghiệm - nghiên cứu ảnh hưởng của liều lượng phân bón đến bệnh bạc lá lúa (xanthomonas oryzae) và biện pháp phòng trừ tại thị xã châu đốc, tỉnh an giang năm 2012
Hình 1.10b Thu hoạch các ô thí nghiệm (Trang 96)
Hình 1.11b : Cân trọng lượng, tính năng suất lúa các ô thí nghiệm - nghiên cứu ảnh hưởng của liều lượng phân bón đến bệnh bạc lá lúa (xanthomonas oryzae) và biện pháp phòng trừ tại thị xã châu đốc, tỉnh an giang năm 2012
Hình 1.11b Cân trọng lượng, tính năng suất lúa các ô thí nghiệm (Trang 97)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w