1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nâng cao hiệu quả thực thi chính sách tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam trong xu thế hội nhập

24 530 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nâng cao hiệu quả thực thi chính sách tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam trong xu thế hội nhập
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Kinh Tế
Thể loại Luận văn
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 24
Dung lượng 174,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nâng cao hiệu quả thực thi chính sách tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam trong xu thế hội nhập

Trang 1

LỜI MỞ ĐẦU

Sau 20 năm tiến hành đổi mới nền kinh tế, chuyển từ nền kinh tế kếhoạch hoá tập trung quan liêu bao cấp sang nền kinh tế thị trường địnhhướng xã hội chủ nghĩa (XHCN) dưới sự điều tiết và quản lý vĩ mô củaNhà nước, nền kinh tế nước ta đã đạt được những thành tựu đáng kể

Trước ngưỡng cửa của sự hội nhập, trở thành thành viên chính thứccủa tổ chức thương mại thế giới (WTO), Đảng và Nhà nước ta luôn xácđịnh chiến lược phát triển kinh tế xã hội là sẽ tiếp tục đẩy mạnh công cuộcđổi mới, đẩy nhanh quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước theođịnh hướng XHCN, xây dựng nền tảng để đến năm 2020 nước ta cơ bản trởthành một nước công nghiệp Một trong những điều kiện tiên quyết để thựchiện thành công đường lối đổi mới là phải ổn định môi trường kinh tế vĩ

mô và có các chính sách kinh tế phù hợp Trong đó chính sách tiền tệ làmột chính sách kinh té quan trọng tác động mạnh mẽ nhiều mặt đến cácbiến số kinh tế vĩ mô

Trong nền kinh tế thị trường, chính sách tiền tệ là một công cụ điềutiết vĩ mô cực kỳ quan trọng, nhằm ổn định giá trị của đồng tiền, kiềm chếlạm phát, hạn chế thất nghiệp, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế

Mặc dù tốc độ tăng trưởng kinh tế của nước ta trong thời gian qua đãđạt mức cao song tỷ lệ lạm phát vẫn ở mức cao, đồng nội tệ ngày càng mấtgiá Điều này đòi hỏi Ngân hàng Nhà nước Việt Nam phải có một chínhsách tiền tệ đúng đắn, linh hoạt để tạo điều kiện cho nền kinh tế nước taphát triển nhanh, bền vững, đồng thời đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hoá

- hiện đại hoá đất nước

Với những nhận định trên, em quyết định lựa chọn chủ đề: "Nâng cao hiệu quả thực thi chính sách tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam trong xu thế hội nhập"

Trang 2

NỘI DUNG

CHƯƠNG I

LÝ LUẬN VỀ CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ1.1 Vị trí và nhiệm vụ của chính sách tiền tệ

Chính sách tiền tệ là hoạt động cơ bản, chủ yếu nhất của NHNN Cóthể coi chính sách tiền tệ là linh hồn, xuyên suốt trong mọi hoạt động củaNHNN Các hoạt động khác của NHNN đều nhằm thực thi chính sách tièn

tệ đạt được các mục tiêu của nó

1.1.2 Nhiệm vụ

Chính sách tiền tệ, một mặt là cung cấp đủ phương tiện thanh toáncho nền kinh tế (lượng tiền cung ứng), mặt khác phải giữ ổn định giá trịđồng bản tệ Để thực hiện được điều đó, thông thường trên thé giới, việcxây dựng và thực hiện chính sách tiền tệ được giao cho NHNN Có một sốnước, việc xây dựng chính sách tiền tệ có thể do một cơ quan khác, nhưngthực hiện chính sách tiền tệ vẫn là NHNN Tuy nhiên trong lĩnh vực này,NHNN cần được độc lập ở một mức độ nhất định với Chính phủ

Trang 3

1.2 Mục tiêu chính sách tiền tệ quốc gia

1.2.1 Kiểm soát lạm phát

Lạm phát là sự tăng lên của mức giá chung theo thời gian Khi lạmphát ở mức độ cao (lạm phát phi mã, siêu lạm phát) thì sẽ dẫn tới phân phốilại thu nhập và của cải giữa các tầng lớp giai cấp khác nhau Khi giá cảtăng lên một cách bất thường thì người mất là những người đang nắm giữcác tài sản danh nghĩa, còn người được là những người có các khoản nợtính theo các giá trị danh nghĩa Khi lạm phát tăng lên ở mức độ cao, thunhập thực tế của dân cư sẽ giảm, đời sống nhân dân lao động giảm sút, lạmphát cao còn gây ra hiện tượng đầu tư tích trữ hàng hoá và hiện tuợngchuyển tiền sang các loại hàng hoá khác, làm cho cầu về hàng hoá tăng(gồm cả cầu giả tạo) dẫn tới mất cân đối cung cầu và giá cả hàng hoá tănglên, làm cho lạm phát tăng càng cao và dễ bị rơi vào vòng xoáy lạm phátnếu tình trạng này diễn ra trong một thời gian dài

Còn khi lạm phát ở mức độ vừa phải (lạm phát dự tính thì nó không

có tác động tiêu cực mà còn có tác động thúc đẩy kinh tế tăng trưởng Tuynhiên thực chất của việc kiểm soát lạm phát là chấp nhận sự biến động vớimột biên độ cho phép Còn khi lạm phát ở mức cao thì NHNN sẽ sử dụngchính sách tiền tệ thắt chặt đẻ làm giảm mức cung ứng tiền, giảm lạm phát

Như vậy, nhiệm vụ của NHNN là kiểm soát lạm phát tạo tiền đề chonền kinh tế phát triển bình thuờng, đảm bảo đời sống cho người lao động

1.2.2 Ổn định giá trị đồng bản tệ

Kiểm soát lạm phát được biều hiện trước hết ở chỗ ổn định giá trị đốinội, giá trị đối ngoại của đồng tiền Giá trị đối nội và giá trị đối ngoại củatđồng tiền có quan hệ mật thiết với nhau Muốn ổn định tiền tệ và phát triểnkinh tế - xã hội, Nhà nước phải có biện pháp ổn định giá cả hàng hoá vàdịch vụ trong nước và ổn định tỷ giá hối đoái

Trong nền kinh tế mở, một sự thay đổi của tỷ giá hối đoái ít haynhiều đều ảnh hưởng tới hoạt động kinh tế trong nước tuỳ theo mức độhướng ngoại của nền kinh tế

Một tỷ giá hối đoái quá thấp (đồng bản tệ có giá trị tăng lên so vớingoại tệ) có tác dụng khuyến khích nhập khẩu gây bất lợi cho xuất khẩu vì

Trang 4

hàng xuất khẩu tương đối đắt khi bán cho nước ngoài Như vậy sẽ gây trởngại trong nước về xuất khẩu, bất lợi cho những chuyển dịch ngoại tệ từnuớc ngoài vào trong nước Ngược lại, một tỷ giá hối đoái cao (đồng bản tệ

có giá trị thấp so với ngoại tệ) có tác dụng bất lợi cho nhập khẩu, khuyếnkhích xuất khẩu vì làm cho hàng nhập khẩu tương đối đắt, hàng xuất khẩutương đối rẻ hơn

Như vậy một tỷ giá hối đoái cao hay thấp đều dẫn tới những tác độngkép tích cực và tiêu cực Do đó nhiệm vụ của NHNN là sử dụng nhữngcông cụ, chính sách của mình, can thiệp, giữ cho tỷ giá không thăng trầmquá đáng, làm dịu bớt những tình trạng bất ổn định của nền kinh tế quốcdân trong nuớc

1.2.3 Tạo việc làm và giảm bớt tỷ lệ thất nghiệp

Những người trong lực lượng lao động khi không có việc làm sẽ trởthành người thất nghiệp Nạn thất nghiệp là một thực tế nan giải của mỗiquốc gia có nền kinh tế thị truờng cho dù quốc gia đó là phát triển, đangphát triển hay kém phát triển

Khi tỷ lệ thất nghiệp cao, sản xuất sút kém các nguồn lực khôngđược sử dụng hết, thu nhập của dân cư giảm sút Khó khăn kinh tế trànsang lĩnh vực xã hội, nhiều hiện tượng tiêu cực phát triển, tác hại của thâtnghiệp là rất rõ ràng Thất nghiệp luôn gắn liền với các tệ nạn xã hội như

cờ bạc, trộm cắp, tổn thương về mặt tâm lý và niềm tin của nhiều người, cóthể phá vỡ nhiều mối quan hệ truyền thống, làm xói mòn lối sống lànhmạnh …

Mục tiêu của chính sách tiền tệ là tạo việc làm, giảm bớt thất nghiệpchứ không phải là làm cho thất nghiệp bằng không mà ở tỷ lệ thất nghiệp tựnhiên Trong thực tế có một số người thất nghiệp có lợi cho nền kinh tế Đó

là khi người lao động quyết định đi tìm một công việc khác tốt hơn, phùhợp hơn, thì người lao động đó bị thất nghiệp trong thời gian đang tìm việclàm Hoặc một số nguời lao động tự nguyện rời bỏ công việc của mình đểtheo đuổi các hoạt động khác như học tập hay du lịch … và khi họ quyếtđịnh gia nhập trở lại thị truờng lao động, họ phải mất một thời gian đẻ tìmđúng công việc mà họ mong muốn

Trang 5

Thông qua chính sách tiền tệ có thể tác động đến công ăn việc làm,tức đến tỷ lệ thất nghiệp trong nền kinh tế Nếu chính sách tiền tệ củaNHNN nhằm mở rộng cung ứng tiền tệ, tạo điều kiện mở rộng đầu tư sảnxuất, các doanh nghiệp và nền kinh tế cần nhiều lao động hơn, công ăn việclàm cao, tỷ lệ thất nghiệp thấp Ngược lại, cung ứng tiền tệ giảm xuống sẽthu hẹp các hoạt động sản xuất kinh doanh, các doanh nghiệp và Nhà nướccần ít lao động hơn, công ăn việc làm giảm, tỷ lệ thất nghiệp tăng.

1.2.4 Ổn định và tăng trưởng kinh tế

Mục tiêu tăng trưởng kinh tế luôn gắn chặt với mục tiêu việc làmcao Chính sách tiền tệ có thể tác động đồng thời đến hai mục tiêu này Khicung ứng tiền tệ tăng lên, trong ngắn hạn lãi suất tín dụng giảm sẽ khuyếnkhích đầu tư, mở rộng sản xuất kinh doanh, Nhà nước và doanh nghiệp cónhu cầu sử dụng lao động nhiều hơn, làm tăng sản lượng và tăng trưởngkinh tế Ngược lại, khi cung tiền tệ giảm, trong ngắn hạn lãi suất tăng sẽhạn chế đầu tư, thu hẹp hoạt động sản xuất kinh doanh, Nhà nước và doanhnghiệp cần ít lao động hơn, làm cho mức sản lượng giảm, tăng trưởng kinh

tế chậm lại

1.2.5 Các mục tiêu trung gian

Trong nền kinh tế thị trường NHNN phải xác định các mục tiêutrung gian của chính sách tiền tề, nhằm đạt đến các mục tiêu cuối cùng củachính sách này Bởi lẽ, NHNN sử dụng các mục tiêu trung gian để có thểxét đoán nhanh chóng tình hình thực hiện hoạt động của mình phục vụ chocác mục tiêu cuối cùng hơn là chờ cho đến khi nhìn thấy kết quả cuối cùngcủa các mục tiêu đó

Bằng việc tăng giảm các khối lượng tiền tệ NHNN góp phần đến tácđông tăng, giảm tổng cung và tổng cầu tiền tệ của xã hội Đồng thời NHNNcũng có thể sử dụng công cụ lãi suất để tác động đến sự tăng giảm khốiluợng tiền tệ, từ đó tác động đến tổng cung và tổng cầu của xã hội

1.2.6 Quan hệ giữa các mục tiêu của chính sách tiền tệ

Nhìn tổng quát và có chiến lược lâu dài thì các mục tiêu chính sáchtiền tệ có quan hệ chặt chẽ với nhau, hỗ trợ và thúc đẩy lẫn nhau Điều đócho thấy rằng trong quá trinh thực hiện chính sách tiền tệ không thể tuyệtđối hoá một mục tiêu nào, không thể giải quyết các mục tiêu một cách độc

Trang 6

lập trên tầm vĩ mô Tuy nhiên, có nơi có lúc, trong thời gian ngắn có thểxảy ra sự xung đột, thậm chí triệt tiêu lẫn nhau giữa các mục tiêu Điềuthường gặp và dễ thấy nhất là sự mâu thuẫn giữa tỷ lệ lạm phát với tỷ lệthất nghiệp Tuy vẫn còn nhiều quan niệm khác nhau, song nhìn chung,mục tiêu cơ bản của chính sách tiền tệ là ổn định giá trị đồng bản tệ, trên cơ

sở để ổn định và phát triển kinh tế xã hội

1.3 Các công cụ của chính sách tiền tệ

1.3.1 Nghiệp vụ thị trường mở (NVTTM)

NVTTM là hoạt động NHNN mua bán các giấy tờ có giá với mụcđích tác động đến thị trường tiền tệ, điều hoà cung và cầu về giấy tờ có giá,gây ảnh hưởng đến khối dự trữ của các NHTM tại NHNN, từ đó tác độngđến khả năng cung ứng tín dụng của các ngân hàng này từ đó làm thay đổimức cung tiền

Trên thị trưởng mở NHNN chủ yếu mua bán trái phiếu của Chínhphủ Bằng cách mua trái phiếu NHNN làm tăng khối dự trữ của NHTM.Khi đó, NHTM có thể mở rộng khả năng cho vay gấp bội lần tuỳ theo mức

dự trữ bắt buộc Hơn nữa việc NHNN mua trái phiếu với lãi suất thấp gópphần tăng cung tín dụng từ đó làm lãi suất tín dụng hạ thấp, kích thích cácdoanh nghiệp đi vay Đây cũng là một cách gia tăng khối tiền tệ NVTTM

là công cụ chính sách tiền tệ quan trọng nhất bởi vì nghiệp vụ này là yếu tốquyết định quan trọng nhất đối với những thay đổi trong cơ số tiền tệ, và lànguồn chính gây nên những biến động trong cung ứng tiền tệ

Có hai loại NVTTM là NVTTM chủ động nhằm thay đổi mức dự trữ

và cơ số tiền tệ; NVTTM thụ động nhằm bù lại những chuyển động của cácnhân tố khác đã ảnh hưởng đến cơ số tiền tệ

NVTTM có những ưu và nhược điểm sau:

Trang 7

NVTTM có thể được hoàn thành nhanh chóng, không gây ra nhữngchậm trễ về mặt hành chính.

- Nhược điểm: đòi hỏi phải có thị trường chứng khoán phát triển và chỉ cóthể áp dụng trong điều kiện mà hầu hết tiền trong lưu thông đều nằm ở tàikhoản tại ngân hàng

1.3.2 Công cụ chiết khấu

Nghiệp vụ vủa NHTM là kinh doanh tiền tệ, tức là nhận tiền gửi vàcho vay phần lớn tiền gửi đó Nhưng không phải lúc nào hoạt động củangân hàng cũng thuận lợi Có những lúc người gửi tiền đến rút tiền quánhiều, ngân hàng dễ rơi vào tình trạng kẹt vốn Những trường hợp ào ạt rúttiền thường xảy ra theo những chu kỳ kinh tế Do đó nhiều ngân hàng khótránh khỏi tình trạng thiếu khả năng chi trả, do đó nều không có NHNN,ngân hàng trung gian sẽ rất nguy hiểm vì dễ rơi vào tình trạng phá sản.Chính vào những lúc khó khăn đó, NHTM sẽ tìm mọi cách để có được vốn

để chi trả, có thể là đi vay, và người cho vay cuối cùng của NHTM chính làNHNN

NHNN sẽ cấp tín dụng cho NHTM qua nhiều hình thức, thông dụngnhất là tái cấp vốn dưới hình thức tái chiết khấu các thương phiếu Khichấp nhận chiết khấu tức là NHNN đã làm tăng khối tiền tệ Thông qua lãisuất tái chiết khấu, NHNN có thể khuyến khích giảm hoặc tăng mức cungứng tín dụng của NHTM đối với nền kinh tế, đồng thời giảm hoặc tăngmức cung ứng tiền

Chiết khấu và tái chiết khấu có những ưu đểm và nhược điểm sau:

- Ưu điểm

Các khoản cho vay của NHTM đều được đảm bảo bằng các giấy tờ

có giá Do nó có khả năng tự thanh toán

Có tính chất tích cực hơn biện pháp hạn mức tín dụng do chịu sự tácđộng của quy luật cung cầu

- Nhược điểm

NHNN bị thụ động do yếu tố chủ động đi vay hay không nằm ởNHTM

Trang 8

Yếu tố chính trị trong lãi suất chiết khấu quá lớn Việc áp đặt một lãisuất chiết khấu chịu yếu tố chủ quan của NHNN rất lớn, nó có thể đưa ramột lãi suất chiết khấu không phù hợp với lãi suất thị trường khi NHNN bịphụ thuộc nhiều vào Chính phủ.

1.3.3 Dự trữ bắt buộc

NHNN được giao quyền bắt buộc các ngân hàng trung gian phải kýgửi tại NHNN một phần của tổng số tiền gửi mà ngân hàng trung gian nhậnđược từ dân cư và các thành phần kinh tế theo một tỷ lệ nhất định Phần bắtbuộc ký gửi đó được gọi là dự trữ bắt buộc và tỷ lệ phần trăm mà NHNNquy định như trên gọi là tỷ lệ dự trữ bắt buộc

Mục đích của việc thực hiện dự trữ bắt buộc là nhằm:

Giới hạn khả năng thương mại của ngân hàng trung gian, tránh đượctrường hợp ngân hàng này quá ham kiếm lợi nhuận bằng cách cho vay quámức, có thể gây hại tới quyền lợi của người ký gửi tiền ở ngân hàng tức làđảm bảo an toàn tiền gửi của khách hàng

Việc tập trung dự trữ của ngân hàng trung gian ở NHNN còn là mộtphương tiện để NHNN có thêm quyền lực để điều khiển hệ thống ngânhàng, tạo sự lệ thuộc của ngân hàng trung gian đối với NHNN

Duy trì khả năng thanh toán của các ngân hàng trung gian trongnhững trường hợp xảy ra tình trạng đồng loạt rút tiền gửi của công chúng,tránh được tình trạng khủng hoảng ngân hàng

Trang 9

1.3.4 Kiểm soát hạn mức tín dụng

Chính sách kiểm soát tín dụng chọn lọc sẽ giới hạn mức tín dụng tối

đa cấp cho những ngành mà Nhà nước không muốn phát triển nữa, ngượclại, ưu đãi những ngành hoạt động được coi như ưu tiên, cần yểm trợ tíndụng mạnh hơn Nếu không có chính sách kiểm soát tín dụng chọn lọc,NHNN sẽ chỉ hướng tín dụng vào những ngành kinh doanh lớn, xí nghiệpnuớc ngoài, mua bán chứng khoán, ít chú trọng tới những ngành hoạt động

1.3.5 Cung ứng tiền mặt pháp định

NHNN có thế trực tiếp làm tăng, giảm dự trữ và cung ứng tiền bằngcác nghiệp vụ thị trường hối đoái và nghiệp vụ cho vay với Chính phủ,ngoài NVTTM và cho vay chiết khấu, tái chiết khấu

Khi NHNN đưa tiền mặt ra mua ngoại tệ, lập tức sẽ làm gia tănglượng tiền trong lưu thông, dẫn đến tỷ giá lên cao, nghĩa là phá giá đồngbản tệ Ngược lại, khi NHNN đem ngoại tệ ra bán, làm giảm nhanh cungứng tiền, lượng tiền trong lưu thông giảm đi, tỷ giá ngoại tệ hạ thâp xuống,tức là nâng giá đồng bản tệ

Trang 10

CHƯƠNG II THỰC TRẠNG ĐIỀU HÀNH CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ

Ở VIỆT NAM2.1 Khái quát tình hình thực thi chính sách tiền tệ ở Việt Nam giai đoạn 2001 - nay

*Giai đoạn 2001-2003

*Tình hình thực hiện chính sách tiền tệ giai đoạn 2001-2003

+ Nghiệp vụ thị trưởng mở

Sau hơn 3 năm hoạt động, tính đến cuối năm 2003 thị trưởng mở dã

có hơn 22 thành viên, trong đó có 4 NHTM quốc doanh, 10 NHTM cổphần, 5 chi nhánh ngân hàng nước ngoài, 1 ngân hàng liên doanh, quỹ tíndụng Trung ương và một công ty tài chính

Quy mô và doanh số trong hoạt động của thị trường ngày càng tăngthể hiện sự phát triển ổn định và bền vững của nghiệp vụ mới này, thể hiện

cụ thể qua bảng số liệu sau:

Đơn vị: triệu VNĐ

Chỉ tiêu 6 tháng cuốinăm 2000 Năm 2001 Năm 2002

102 phiên

2003 (đến 16/12/2003)

2001 Thông qua đó NHNN cung ứng thêm vốn cho nền kinh tế hoặc rútbớt tiền từ lưu thông về, tạo điều kiện cho các NHTM tham gia có hiệu quảtrên thị trường đấu thầu tín phiếu kho bạc Cụ thể: thông qua 57 phiên giao

Trang 11

dịch theo phuơng thức mua có kỳ hạn NHNN đã cung ứng 7.254,53 tỷđồng vốn cho NHTM Thông qua 28 phiên giao dịch theo phương thức bánhẳn thu về 1.900 tỷ đồng vốn Lãi suất trúng thầu trên thị trường mở bìnhquân mua vào là 4,9%/năm và lãi suất trúng thầu bán ra là 4,7%/năm Tạođiều kiện giảm lãi suất cho vay của các NHTM đối với doanh nghiệp vàkhách hàng.

Trong năm 2003 bằng cách tiếp tục duy trì 2 phương thức giao dịchmua có kỳ hạn và bán hẳn, tính đến ngày 16/12/2003 NHNN đã tổ chứcđược 102 phiên giao dịch thị trường mở, với tổng khối lượng trúng thầuước tính là 16.740 tỷ đồng cho các NHTM, trong đó khối lượng giấy tờ cógiá là 9.500 tỷ đồng, bán hẳn là 7.240 tỷ đồng Tức là thông qua thị trườngnày trong năm 2003 NHNN đã cung ứng gần 8.000 tỷ đồng cho các NHTMtăng đáng kể so với năm 2001 và năm 2002

Qua 4 năm hoạt đông từ năm 2000 đến năm 2003, thị trường mở vẫntồn tại một số hạn chế, đó là hầu như chỉ có NHTM Nhà nước tham gia, cácNHTM cổ phần, chi nhánh ngân hàng nước ngoài và ngân hàng liên doanhchưa có cơ hội tham gia hay tham gia chưa có hiệu quả

+ Về tái cấp vốn

Công cụ tái cấp vốn đã được điều hành theo hướng thực hiện nớilỏng tiền tệ một cách thận trọng, khuyến khích các tổ chức tín dụng mởrộng tín dụng, tiếp tục thực hiện chủ trương kích cầu của Chính phủ, hạnchế xu hướng giảm chỉ số giá tiêu dùng Lãi suất tái cấp vốn và lãi suấtchiết khấu trong năm 2001 được điều chỉnh giảm hai lần, xuống còn0,4%/tháng vào tháng 7/2001 tạo thuận lợi cho việc thực hiện chủ trươngkích cầu của Chính phủ

Trong năm 2003 lãi suất tái cấp vốn, chiết khấu được điều chỉnhgiảm với biên độ 0,6 - 1,2%/năm, không tương ứng với chiều hướng vàbiên độ biến động của lãi suất thị trường tiền tệ Đối với lãi suất tái cấp vốntháng 3/2003 tăng 1,8%/năm so với 1/6/2002 Đây không phải là biển hiện

"thắt chặt tiền tệ", mà NHNN thay đổi cơ chế điều hành lãi suất thị trườngliên ngân hàng, bằng việc lấy lãi suất tái cấp vốn là lãi suất chiết khấu làmtrần, sàn

Đơn vị: %/năm

Trang 12

1/6/02 31/12/03 31/3/03 30/6/03 30/9/03 31/12/03 Lãi suất tái cấp vốn 4,8 4,8 6,6 6,6 5,0 5,0 Lãi suất chiết khấu 4,2 4,2 4,2 4,2 3,0 3,0

Nguồn: Ngân hàng Nhà nước+ Về dự trữ bắt buộc

Năm 2001 việc nâng cao tỷ lệ dự trữ bắt buộc đối với tiền gửi bằngngoại tệ lên 15%, tiến hành đồng thời với việc giảm tỷ lệ dự trữ bắt buộcđối với tiền gửi bằng Việt Nam đồng xuống còn 3%, thu hẹp chênh lệchgiữa lãi suất và tỷ giá, góp phần thu hẹp chênh lệch lãi suất tiền gửi ViệtNam đồng, qua đó góp phần hạn chế tình trạng đô la hoá

NHNN đã quy định điều chỉnh giảm tỷ lệ dự trữ bắt buộc đối với tiềngửi bằng ngoại tệ xuống 10% (do xu hướng giảm mạnh lãi suất trên thịtrường quốc tế tháng 12/2001) Trong năm 2002 tỷ lệ dự trữ bắt buộc đượcđiều chỉnh giảm 2 lần xuống 8% vào tháng 4/2002 và xuống 5% vào tháng12/2002, tạo điều kiện để hạn chế những tác động bất lợi của diễn biến lãisuất trên thị trường quốc tế đến hoạt động các tổ chức tín dụng

+ Về lãi suất

Năm 2001, NHNN tiếp tục đổi mới điều hành lãi suất theo hướngđiều chỉnh lãi suất cơ bản một cách linh hoạt, trên cơ sở bám sát các diễnbiến trên thị trường quốc tế và trong nước và mục tiêu điều hành chính sáchtiền tệ NHNN đã 4 lần điều chỉnh giảm lãi suất cơ bản từ mức 0,7%/thángxuống 0,6%/tháng Cho đến tháng 6/2002 trên thực tế việc điều chỉnh lãisuất cơ bản của NHNN trong năm 2001 phù hợp với diễn biến lạm phát, tỷgiá, đảm bảo mối quan hệ hài hoà giữa Việt Nam đồng và ngoại tệ Đối vớilãi suất cho vay bằng ngoại tệ từ tháng 6/2001 NHNN đã bỏ qua cơ chếkhống chế theo biên độ chuyển sang cơ chế tự do hoá lãi suất cho vayngoại tệ Theo đó các tổ chức tín dụng được tự do ấn định lãi suất cho vayngoại tệ trên cơ sở lãi suất thị trường quốc tế và cung cầu tín dụng trong vàngoài nước

Riêng với lãi suất tiền gửi USD của pháp nhân tại tổ chức tín dụng,NHNN vẫn quy định khống chế ở mức thấp nhằm hạn chế giảm giữ USDtrên tài khoản, hạn chế đô la hoá trong tỷ lệ kết hối giảm xuống mức 40%

Ngày đăng: 26/03/2013, 15:14

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w