Nhiều chuyên gia, nhà khoa học, những người có tâm huyết với sự nghiệp giáo dục đã chỉ ra những nguyên nhân dẫn tới chất lượng đào tạo giảm sút đó là: Sự yếu kém, bất hợp lí trong phương
Trang 1LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành khóa luận này cùng với nỗ lực của bản thân, tôi còn được
sự hướng dẫn, chỉ bảo tận tình của cô giáo Chu Mai Hương Ngoài ra tôi cũng
đã nhận được nhiều sự giúp đỡ của các thầy cô trong khoa Sử - Địa, các cán bộ thư viện của trường đại học Tây Bắc cũng như của gia đình và bạn bè
Nhân dịp này, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc tới cô Chu Mai Hương – Giảng viên khoa Sử - Địa cũng như toàn thể thầy cô trong khoa Sử
- Địa trường đại học Tây Bắc
Qua đây, tôi cũng xin chân thành cảm ơn phòng thư viện trường đại học Tây Bắc, gia đình và bạn bè đã giúp đỡ, động viên, tạo điều kiện thuận lợi cho tôi thực hiện và hoàn thành khóa luận này
Sơn La, tháng 5 năm 2014
Lưu Thị Nguyệt
Trang 2MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 3
3 Đối tượng, phạm vi, mục đích nghiên cứu và đóng góp của đề tài 5
3.1 Đối tượng nghiên cứu 5
3.2 Phạm vi nghiên cứu 5
3.3 Mục đích nghiên cứu 5
3.4 Đóng góp của đề tài 5
4 Cơ sở phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu 5
4.1 Cơ sở phương pháp luận 5
4.2 Phương pháp nghiên cứu 6
5 Cấu trúc khóa luận 6
NỘI DUNG 7
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN 7
1.1 Cơ sở lý luận 7
1.1.1 Bộ môn lịch sử ở trường phổ thông 7
1.1.1.1 Vị trí, vai trò của bộ môn 7
1.1.1.2 Mục tiêu của bộ môn Lịch sử ở trường phổ thông 7
1.1.2 Hệ thống phương pháp dạy học lịch sử 10
1.1.3 Hiệu quả bài học lịch sử 13
1.1.4 Nguyên tắc vận dụng sáng tạo, linh hoạt một số phương pháp dạy học 15
1.2 Cơ sở thực tiễn 18
CHƯƠNG 2: VẬN DỤNG SÁNG TẠO, LINH HOẠT MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP NHẰM NÂNG CAO HỆU QUẢ BÀI HỌC KHI DẠY HỌC PHẦN LỊCH SỬ VIỆT NAM TỪ NĂM 1930 ĐẾN NĂM 1954, LỚP 12 THPT 24
2.1 Vị trí, mục tiêu, nội dung cơ bản của phần lịch sử Việt Nam từ năm 1930 đến năm 1954 24
2.1.1 Vị trí 24
Trang 32.1.2 Mục tiêu 25
2.1.3 Nội dung 26
2.2 Vận dụng linh hoạt, sáng tạo một số phương pháp dạy học lịch sử nhằm nâng cao hiệu quả bài học bài học 28
2.2.1 Sử dụng nguyên tắc dạy học liên môn nhằm nâng cao hiệu quả bài học lịch sử 28
2.2.2 Sử dụng nguyên tắc dạy học nêu vấn đề nhằm nâng cao hiệu quả bài học lịch sử 35
2.2.2.1 Giáo viên dẫn dắt học sinh vào tình huống có vấn đề 36
2.2.2.2 Nêu vấn đề 38
2.2.2.3 Tổ chức hướng dẫn học sinh giải quyết vấn đề 38
2.2.3 Sử dụng phương pháp dạy học tích cực để nâng cao hiệu quả bài học lịch sử 42
2.2.3.1 Khái niệm phương pháp dạy học tích cực 42
2.2.3.2 Ý nghĩa của phương pháp dạy học tích cực 43
2.2.3.3 Một số phương pháp dạy học tích cực 43
KẾT LUẬN 57
TÀI LIỆU THAM KHẢO 59
Trang 4MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong chiến lược phát triển đất nước Đảng và Nhà nước ta bắt đầu quan tâm đầu tư cho giáo dục, coi giáo dục là quốc sách Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X đã xác định việc đầu tư cho giáo dục cũng có nghĩa là đầu
tư cho sự phát triển bền vững, là đầu tư cho nguồn nhân lực có chất lượng cao nhằm đưa nước ta từ một nước nông nghiệp về cơ bản trở thành nước công nghiệp vào năm 2020 Do đó, công tác đào tạo, bồi dưỡng để nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, đội ngũ trí thức giữ vị trí rất quan trọng Đây chính là yếu
tố then chốt, mang tính quyết định đưa đất nước đi lên như cha ông ta đã từng nói: “Hiền tài là nguyên khí của quốc gia, nguyên khí thịnh thì nước mạnh, nguyên khí yếu thì nước suy”
Nền giáo dục Việt Nam hiện nay, bên cạnh những thành tựu đạt được còn khá nhiều điều bất cập, trong đó tồn tại lớn nhất tập trung vào chất lượng đào tạo chưa cao Phương pháp giảng dạy là một trong những yếu tố quan trọng và ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng đào tạo, phương pháp giảng dạy khoa học, phù hợp sẽ tạo điều kiện để giáo viên và người học phát huy hết khả năng của mình trong việc truyền đạt, lĩnh hội kiến thức và phát triển tư duy cho người học Nhiều chuyên gia, nhà khoa học, những người có tâm huyết với sự nghiệp giáo dục đã chỉ ra những nguyên nhân dẫn tới chất lượng đào tạo giảm sút đó là: Sự yếu kém, bất hợp lí trong phương pháp dạy học; đội ngũ giáo viên chưa nhận thức đúng đắn, sâu sắc vai trò, vị trí của phương pháp dạy học, chưa tiếp nhận
cơ sở khoa học lí luận về phương pháp dạy học mà còn tiến hành giảng dạy theo kinh nghiệm chủ nghĩa, hay do chương trình học, tài liệu học tập,…Để có một phương pháp giảng dạy khoa học, phù hợp sẽ tạo điều kiện để giáo viên và học sinh phát huy hết khả năng của mình trong việc truyền đạt, lĩnh hội kiến thức và phát triển tư duy Một phương pháp giảng dạy khoa học sẽ làm thay đổi vai trò của người thầy, đồng thời tạo nên sự hứng thú, say mê sáng tạo của người học
Bức tranh chung về phương pháp giảng dạy ở trường phổ thông hiện nay
là tập trung vào kỹ năng tư duy phân tích, nghĩa là dạy cho người học cách hiểu
Trang 5các khái niệm, thảo luận theo phương pháp định sẵn, loại bỏ những hướng di không đúng, tìm ra câu trả lời đúng nhất Thậm chí, nhiều nơi phương pháp thuyết trình (thầy giảng - trò ghi) vẫn chiếm ưu thế, nhiều giáo viên chưa chú trọng đến việc giới thiệu, yêu cầu, bắt buộc người học phải tham khảo nhiều tài liệu, phương pháp giảng dạy này đã làm mất đi một hình thức khác của tư duy
đó là tư duy sáng tạo Tư duy sáng tạo tập trung vào khám phá các ý tưởng phát triển thành nhiều giải pháp, tìm ra nhiều phương án trả lời đúng thay vì chỉ có một phương án
Hậu quả của phương pháp giảng dạy cũ dẫn đến sự thụ động của người học trong việc tiếp cận tri thức, sự thụ động này là nguyên nhân tạo cho người học sự trì truệ, ngại đọc sách, ngại tranh luận, thiếu khả năng thuyết trình, lười
tư duy và thiếu tính sáng tạo trong tư duy khoa học Người học còn quan niệm rằng: “Chỉ cần học những gì giáo viên giảng trên lớp là đủ” Ngoài ra, sự thụ động của họ đối với bài giảng của giáo viên trên lớp là họ chấp nhận tất cả những gì giáo viên trình bày, sự giao tiếp trao đổi thông tin trong lớp học hầu như chỉ mang tính một chiều
Môn học lịch sử ở trường phổ thông cũng vậy không nằm lệch khỏi quỹ đạo đó Mặc dù phương pháp dạy học lịch sử đã được chú trọng đổi mới, cải tiến nhiều nhưng nhìn chung vẫn chưa theo kịp các cải tiến về nội dung, chưa đáp ứng yêu cầu đào tạo, có phần bảo thủ, thực dụng Sự lạc hậu này là một trong những trở ngại của việc nâng cao chất lượng giáo dục bộ môn Yêu cầu thực tiễn
là phải đổi mới phương pháp để nâng cao trình độ hiểu biết của giáo viên, người giáo viên có vai trò trở thành nhân tố kích thích trí tò mò của học sinh, mài sắc thêm năng lực nghiên cứu độc lập, tăng cường khả năng tổ chức, sử dụng kiến thức và khả năng sáng tạo
Vấn đề đặt ra là làm thế nào để nâng cao hiệu quả dạy học lịch sử nói chung, nâng cao hiệu quả dạy học từng khóa trình, từng chương, từng bài cụ thể
Đó chính là lý do chúng tôi chọn đề tài Vận dụng sáng tạo, linh hoạt một số
phương pháp nhằm nâng cao hiệu quả bài học khi dạy học phần lịch sử Việt Nam từ năm 1930 đến năm 1954, lớp 12 THPT
Trang 62 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Tiến sĩ N G Đairi, trong cuốn “Chuẩn bị giờ học lịch sử như thế nào?”
NXBGD, Hà Nội, 1973, nhà giáo dục Liên Xô cũ đã giành hẳn một mục lớn nói
về tính hiệu quả của một giờ học, một bài học lịch sử Ông cho rằng: “Hiệu quả bài học lịch sử là vấn đề mấu chốt, có thể coi là mục tiêu quan trọng của việc dạy học”
Tác giả T A Ilina trong cuốn “Giáo dục học” tập 2, NXBGD, Hà Nội,
1979 đã nêu ra quan niệm về tính hiệu quả trong dạy học nói chung “Khi học tập mỗi môn, học sinh sẽ lĩnh hội được một số kiến thức và rèn luyện được một số
kỹ năng, kỹ xảo nhất định có liên quan đến lĩnh vực ấy” Qua đó ông đã nêu ra phương pháp luận về tính hiệu quả của một môn học
Tác giả I F Kharlamop trong công trình “Phát triển tính tích cực học tập
của học sinh như thế nào?”, NXBGD, 1977 đã phần nào đề cập đến hiệu quả
bài học lịch sử Ông khẳng định: “Để nâng cao hiệu quả dạy học lịch sử, yêu cầu đối với giáo viên là phải gây hứng thú học tập cho học sinh”
Các nhà giáo dục lịch sử ở Việt Nam như Phan Ngọc Liên (chủ biên),
Trịnh Đình Tùng, Nguyễn Thị Côi trong cuốn “phương pháp dạy học lịch sử”
tập 1, NXB ĐHSP, 2009 xác định phương pháp dạy học theo hướng “khuyến khích tự học”, “áp dụng những phương pháp giáo dục hiện đại để bồi dưỡng cho học sinh năng lực tư duy, sáng tạo, năng lực giải quyết vấn đề” Tác giả đã đưa phần III về đổi mới phương pháp dạy học lịch sử nhằm khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện thành nếp tư duy sáng tạo của người học từng bước vận dụng linh hoạt các phương pháp vào quá trình dạy học, đảm bảo điều kiện và thời gian tự học, tự nghiên cứu cho học sinh
Phan Ngọc Liên (chủ biên), Trịnh Đình Tùng, Nguyễn Thị Côi trong cuốn
“phương pháp dạy học lịch sử” tập 2, NXB ĐHSP, 2002 tác giả chỉ ra mối quan
hệ giữa phương pháp dạy học với con đường, biện pháp và thao tác sư phạm trong dạy học lịch sử Một phương pháp khoa học, phù hợp sẽ tạo điều kiện để học sinh phát huy hết khả năng của mình trong việc lĩnh hội kiến thức, phát triển
tư duy góp phần nâng cao hiệu quả bài học
Trang 7Nguyễn Thị Côi (chủ biên), Trần Quốc Tuấn, Trần Đức Minh trong
cuốn “Các hình thức tổ chức dạy học lịch sử ở trường trung học cơ sở” (Giáo
trình Cao đẳng sư phạm), 2004 nhằm cung cấp cho sinh viên những kiến thức
cơ bản về hình thức tổ chức dạy học lịch sử ở trường phổ thông Các tác giả
đã dành phần chương I trình bày những yêu cầu đối với một bài học lịch sử, đặc biệt đã dành hẳn mục VI đưa ra quan niệm về hiệu quả bài học lịch sử và con đường nâng cao hiệu quả bài học lịch sử Qua đó, giúp sinh viên hiểu rõ việc đánh giá hiệu quả và vận dụng các phương pháp dạy học nhằm nâng cao hiệu quả bài học lịch sử
Phạm Ngọc Liên, Nguyễn Phúc trong cuốn “Phương pháp dạy môn Lịch
sử ở trường phổ thông cấp II”, NXBGD Hà Nội, 1973 đã nêu lên những hạn chế
của việc giảng dạy bộ môn Lịch sử ở trường phổ thông trong thời gian qua Qua
đó, các tác giả đi đến khẳng định: “Nâng cao hiệu quả dạy học lịch sử về mặt lý luận cũng như thực tiễn không phải là một vấn đề mới, nhưng không có nghĩa là không còn những vấn đề phức tạp cần được tiếp tục nghiên cứu giải quyết”
Nguyễn Anh Dũng, Trần Vĩnh Tường trong cuốn “Những vấn đề chung
về bộ môn phương pháp dạy học lịch sử ở Cao đẳng sư phạm”, NXB ĐHSP,
2003 đã giành phần lớn nội dung bài viết bàn về hiệu quả dạy học lịch sử, hiệu quả bài học lịch sử trong học tập và giảng dạy bộ môn ở nhà trường phổ thông Các tác giả nêu lên một số phương pháp cho sinh viên áp dụng, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả dạy học lịch sử
Ngoài ra vấn đề này còn được đề cập qua nhiều tài liệu khác đăng tải trên các tạp chí nghiên cứu giáo dục, nghiên cứu lịch sử, thông tin khoa học, mạng Internet, các luận văn cao học, khóa luận tốt nghiệp sinh viên,… Tất cả đều khẳng định vai trò, ý nghĩa của việc sử dụng các phương pháp dạy học nhằm nâng cao hiệu quả bài học cho học sinh
Tuy nhiên, những tài liệu trên mới chỉ đề cập một cách khái quát về lý luận dạy học nói chung, khái quát, chưa có một tài liệu nào hướng dẫn cụ thể về việc sử dụng các phương pháp trong dạy học để nâng cao chất lượng, hiệu quả môn lịch sử ở trường phổ thông hoặc chưa giải quyết một cách thỏa đáng, đặc
Trang 8biệt là vận dụng các phương pháp cụ thể để áp dụng vào từng bài, từng chương hay cả một khóa trình Đó cũng chính là nhiệm vụ mà đề tài này muốn góp một phần nhỏ vào giải quyết một vấn đề quan trọng của lý luận dạy học, ứng dụng vào thực tiễn dạy học ở các trường phổ thông
3 Đối tượng, phạm vi, mục đích nghiên cứu và đóng góp của đề tài
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Quá trình dạy và học lịch sử ở trường phổ thông, đặc biệt là dạy học phần lịch sử Việt Nam từ năm 1930 đến năm 1954, lớp 12 THPT
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Do điều kiện về mặt thời gian cũng như trình độ của bản thân có hạn, đề tài chỉ giới hạn ở việc đề xuất vận dụng sáng tạo, linh hoạt một số phương pháp dạy học nhằm nâng cao hiệu quả bài học khi dạy phần lịch sử Việt Nam từ năm
1930 đến năm 1954, lớp 12 THPT
3.3 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở lí luận phương pháp dạy học lịch sử, đề tài đi sâu vào nghiên cứu một số phương pháp dạy học nhằm nâng cao hiệu quả bài học cho học sinh khi dạy học phần lịch sử Việt Nam từ năm 1930 đến năm 1954
3.4 Đóng góp của đề tài
Hoàn thành khóa luận góp phần
+ Nâng cao nhận thức đúng về hiệu quả bài học lịch sử, biết vận dụng sáng tạo, linh hoạt một số phương pháp trong dạy học lịch sử nói chung góp phần nâng cao chất lượng dạy học bộ môn
+ Làm tài liệu tham khảo cho giáo viên, sinh viên, học sinh ở các trường phổ thông
4 Cơ sở phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
4.1 Cơ sở phương pháp luận
Đề tài được thực hiện dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin,
tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối của Đảng về giáo dục và giáo dục lịch sử
Trang 94.2 Phương pháp nghiên cứu
Ngoài phương pháp khoa học chung: Nghiên cứu tài liệu, phân tích, tổng hợp, so sánh, khái quát hóa,… Đề tài còn sử dụng hai phương pháp nghiên cứu chủ đạo đó là phương pháp điều tra và phương pháp thực nghiệm
5 Cấu trúc khóa luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận và phụ lục, nội dung khóa luận gồm hai chương: Chương I : Cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn
Chương II: Vận dụng sáng tạo, linh hoạt một số phương pháp trong dạy học nhằm nâng cao hiệu quả bài học khi dạy học phần lịch sử Việt Nam từ năm 1930 đến năm 1954, lớp 12 THPT
Trang 10
NỘI DUNG CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN 1.1 Cơ sở lý luận
1.1.1 Bộ môn lịch sử ở trường phổ thông
1.1.1.1 Vị trí, vai trò của bộ môn
Lịch sử là một trong những môn khoa học cơ bản được đưa vào giảng dạy
ở nhà trường phổ thông Về mặt lý luận và thực tiễn nó đã được thừa nhận là môn khoa học góp phần quan trọng vào việc hoàn thành mục tiêu giáo dục phổ thông, đặc biệt có ưu thế trong việc giáo dục thế hệ trẻ Tec Musiepxki từng nói:
“Có thể không biết, không say mê toán học, tiếng Hi Lạp hoặc chữ Latinh, hóa học, có thể không biết hàng ngàn môn học khác, nhưng dù sao đã là người có giáo dục mà lại không yêu thích lịch sử thì chỉ là một con người không phát triển đầy đủ về mặt trí tuệ”
Bộ môn Lịch sử nhằm cung cấp cho học sinh những hiểu biết cơ bản khái quát về lịch sử hình thành và phát triển của xã hội loài người cũng như của dân tộc từ nguồn gốc đến nay, qua đó thực hiện vai trò giáo dục thế hệ trẻ, phát triển các năng lực hoạt động hoàn thiện nhân cách con người mới
Trải qua lịch sử phát triển lâu dài, bộ môn Lịch sử ở nhà trường phổ thông hiện nay về cơ bản đã đáp ứng được yêu cầu đào tạo thế hệ trẻ trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và đang không ngừng phát triển nhằm đáp ứng những yêu cầu ngày càng cao của thực tiễn
Ngoài ra, vai trò của bộ môn còn thể hiện ở việc bồi dưỡng phẩm chất đạo đức của giai cấp công nhân và nhân dân lao động; giáo dục tinh thần, thái độ lao động đúng đắn; giáo dục lòng biết ơn đối với tổ tiên, đối với những người có công với tổ quốc, đánh giá đúng đắn vai trò của cá nhân trong lịch sử
1.1.1.2 Mục tiêu của bộ môn Lịch sử ở trường phổ thông
Mục tiêu của bộ môn Lịch sử ở trường phổ thông được xây dựng trên cơ
sở lý luận và thực tiễn, thể hiện tập trung ở việc quán triệt mục tiêu chung của giáo dục phổ thông, thông qua chức năng, nhiệm vụ, đặc trưng môn học và tình
Trang 11hình nhiệm vụ cụ thể của đất nước Một cách cụ thể mục tiêu của môn lịch sử ở nhà trường phổ thông bao gồm 3 phương diện
Mục tiêu giáo dưỡng (nhận thức): cung cấp cho học sinh những sự kiện cơ bản khái quát, toàn diện và có hệ thống về lịch sử phát triển của nhân loại cũng như lịch sử dân tộc từ quá khứ đến nay
Ví dụ: Thông qua việc học tập lịch sử học sinh hiểu rõ quá trình tiến hóa của con người từ khi thoát thai khỏi giới động vật qua các giai đoạn khác nhau, quá trình hình thành và phát triển của tổ chức xã hội từ bầy người, công xã thị tộc, các mô hình nhà nước về quá trình hình thành, xây dựng và phát triển của lịch
sử dân tộc các cuộc kháng chiến chống giặc ngoại xâm: Khởi nghĩa Hai Bà Trưng, chiến thắng Bạch Đằng năm 938, các cuộc chiến tranh chống đế quốc tiêu biểu như: chống thực dân Pháp, chống đế quốc Mĩ; các vị anh hùng dân tộc các cuộc chiến tranh thế giới
Từ những sự kiện cơ bản, học sinh từng bước tiến sâu vào nắm vững bản chất của lịch sử thông qua các biểu tượng, khái niệm, bài học lịch sử như: “Bầy người nguyên thủy”, “Công xã thị tộc”, “Nhà nước”, “Cách mạng”, “Chủ nghĩa
Tư bản”, “Chủ nghĩa Xã hội”,… Quy luật về sự phát triển không ngừng của lịch
sử loài người, về sự phù hợp của quan hệ xã hội với tính chất và trình độ của lịch sử sản xuất, về có áp bức có đấu tranh, về sự thay thế nhau của các hình thái kinh tế xã hội…tạo điều kiện cho các em có thể vận dụng những hiểu biết của mình trong hoạt động thực tiễn
Học sinh có những nhận thức đúng đắn về chủ nghĩa duy vật lịch sử, về vai trò của quần chúng nhân dân và cá nhân trong lịch sử, về đấu tranh giai cấp, ý nghĩa của lao động đối với sự phát triển của nền văn minh nhân loại, động lực phát triển của xã hội loài người, tạo điều kiện cho học sinh tiếp tục học tập, nghiên cứu ở những cấp cao hơn hoặc tham gia vào quá trình lao động
Mục tiêu giáo dục (tư tưởng): Trên cơ sở giúp học sinh nắm vững tri thức lịch sử, bộ môn còn thực hiện việc giáo dục học sinh, giúp các em có nhân sinh quan, thế giới quan khoa học, giáo dục đạo đức, tư tưởng, tình cảm đúng đắn góp phần đào tạo hoàn thiện bản thân một cách toàn diện
Trang 12+ Lòng yêu nước Xã hội Chủ nghĩa, lòng yêu quê hương một biểu hiện của lòng yêu nước, trong lao động sản xuất cũng như trong đấu tranh giành độc lập dân tộc, bảo vệ tổ quốc
+ Tinh thần đoàn kết quốc tế, tình hữu nghị với các dân tộc đấu tranh cho độc lập, tự do, văn minh, tiến bộ xã hội, hòa bình, dân chủ
+ Niềm tin vào sự phát triển hợp quy luật của xã hội loài người và dân tộc,
dù trong tiến trình lịch sử có những bước quanh co, khúc khuỷu, tạm thời thụt lùi hay dừng lại
+ Có ý thức làm nghĩa vụ công dân, sẵn sàng làm nghĩa vụ quốc tế
+ Những phẩm chất cần thiết trong cuộc sống cộng đồng
Ví dụ: Lịch sử giai đoạn 1930 – 1945, khi học chương này giáo viên bồi dưỡng thêm cho học sinh lòng tự hào dân tộc, truyền thống đấu tranh anh hùng của dân tộc ta: Dù bị đàn áp đẫm máu (phong trào 1930 – 1931), bị khủng bố tàn sát (thời kì 1932 – 1935), nhưng phong trào không vì thế mà suy yếu, ngược lại còn mạnh mẽ hơn: thời kì 1936 – 1939, 1939 – 1945 dẫn đến thắng lợi to lớn của cuộc cách mạng tháng 8/1945
Giáo dục các em niềm tin lí tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng trong sự nghiệp đấu tranh bảo vệ và xây dựng đất nước Trước những chính sách bóc lột tàn ác của Đế quốc phát xít Pháp – Nhật, cảnh khốn cùng của nhân dân ta, nạn đói năm 1945 làm hai triệu đồng bào ta chết,… hình thành sự đồng cảm sâu sắc của các em với người nông dân Việt Nam trước cách mạng tháng Tám
Mục tiêu phát triển (kĩ năng): Bộ môn góp phần quan trọng vào quá trình hình thành và phát triển các năng lực hoạt động, năng lực tư duy cho học sinh tinh thần làm việc độc lập và kĩ năng thực hành bộ môn
Ví dụ: Cùng trong giai đoạn lịch sử 1930 – 1945, kết thúc chương này các
em rèn luyện được kĩ năng so sánh, nhận xét các phong trào đấu tranh qua các thời kì, từ đó thấy được sự phát triển của các phong trào đấu tranh, giai đoạn sau bao giờ cũng phát triển hơn so với giai đoạn trước 1936 -1939 so với 1930 –
1931, 1939 – 1945 so với 1936 – 1939
Trang 13Việc học tập lịch sử, học sinh luôn luôn phải nghe, nói, thực hành, làm việc với sách giáo khoa, tài liệu, tham quan thực tế, quan sát hiện vật, phân tích tổng hợp, so sánh,… Qua đó, các năng lực tri giác, tư duy, tưởng tượng, ghi nhớ, năng lực phân tích và diễn đạt ngôn ngữ không ngừng phát triển
1.1.2 Hệ thống phương pháp dạy học lịch sử
Xuất phát từ những thành tựu của lý luận dạy học và đặc trưng của môn học chúng ta có thể xác định hệ thống các phương pháp dạy học lịch sử như sau:
Thứ nhất, Nhóm phương pháp thông tin – tái hiện lịch sử là trình bày tài
liệu mới, nhắc lại những kiến thức đã học có liên quan đến việc tiếp thu kiến thức mới… Giáo viên chủ yếu trình bày các sự kiện chính xác, được quy định trong chương trình, sách giáo khoa nhằm giúp học sinh ghi nhớ thông qua các hoạt động về quá trình tâm lí trong nhận thức và trong số trường hợp có thể trình bày những tài liệu mới do giáo viên hướng dẫn tìm ra Mục đích của việc thông tin tái hiện lịch sử là cung cấp cho học sinh những kiến thức cơ bản, điển hình,
cụ thể và sinh động, nhằm tái tạo lại hình ảnh của quá khứ Việc tái hiện lịch sử phải đạt được đến mức làm cho học sinh như đang tham dự, chứng kiến sự kiện hay các sự kiện đang diễn ra trước mắt mình Đây là việc phát triển trí tưởng tượng tái tạo cho học sinh, rất cần cho việc học lịch sử Nếu không hình dung đúng quá khứ khách quan thì không thể hiện được bản chất của lịch sử và dễ rơi vào tình trạng “hiện đại hóa lịch sử” Mặt khác, nếu học sinh tái hiện được hình ảnh của sự kiện lịch sử, các em sẽ nhớ lâu các sự kiện đó
Việc thông tin tái hiện lịch sử được thực hiện bằng trình bày miệng với hệ thống dạy học tương ứng: tường thuật, miêu tả, kể chuyện, giải thích,…và sử dụng đồ dùng trực quan, sử dụng tài liệu văn bản,…
Ví dụ: Khi dạy bài 16 “Phong trào giải phóng dân tộc và tổng khởi nghĩa tháng Tám (1939 – 1945), nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời” Phần II, 2, a Khởi nghĩa Bắc Sơn (27/9/1940) giáo viên sử dụng hình 35 kết hợp với tường thuật diễn biến giúp học sinh nắm được những kiến thức cơ bản, điển hình, tái tạo lại hình ảnh của quá khứ
Trang 14Diễn biến: Tối ngày 26/9/1940 tại đình làng Nông Lục (xã Hưng Vũ) chi
bộ xã Hưng Vũ đã tổ chức cuộc họp với sự tham gia của những thành viên châu
ủy Bắc Sơn: Hoàng Đình Ruệ, Nông Văn Cún, Đường Văn Thức để thảo luận, phân tích tình hình và quyết định phương hướng, hành động đánh đồn Mỏ Nhài
và thành lập Ban chỉ huy khởi nghĩa
Sau khi thảo luận, sáng ngày 27/9/1940 các tổ chức Đảng Bắc Sơn và các chiến sĩ cộng sản từ Lạng Sơn đã thông qua chủ trương khởi nghĩa và quyết định phát động đấu tranh vũ trang ngay trong ngày Giờ khởi nghĩa đã được chọn vào khoảng 19 giờ 30 phút đến 20 giờ, mục tiêu là đánh chiếm đồn Mỏ Nhài Đúng 20giờ người dân các xã Hưng Vũ, Bắc Sơn, Chiêu Vũ, Trấn Yên và Ngự Viên
đã có mặt tại địa điểm tập trung với trang bị vũ khí thô sơ như: súng kíp, giáo mác, gậy gộc chia làm 3 bộ phận đánh chiếm đồn Mỏ Nhài theo 3 hướng đã định Đoàn quân khởi nghĩa vừa nổ súng, vừa kêu gọi binh lính trong đồn về theo cách mạng Dười sự chỉ đạo của chi bộ Hưng Vũ, người dân các làng xung quanh đồn Mỏ Nhài tập hợp lực lượng cùng nhau khua chiêng, gõ mõ… hậu thuẫn cho lực lượng khởi nghĩa trên các hướng tấn công góp phần hạ đồn Mỏ Nhài, chiếm châu lỵ Bắc Sơn Sau cuộc tấn công chớp nhoáng lực lượng khởi nghĩa đã chiếm đồn Mỏ Nhài, binh lính quân đội Pháp hoảng sợ bỏ chạy, chính quyền cai trị bị tan dã cuộc khởi nghĩa Bắc Sơn kết thúc thắng lợi
Qua ví dụ trên giáo viên đã lựa chọn phương pháp tường thuật kết hợp với
đồ dùng trực quan là phương pháp chủ đạo nhất trong nhóm phương pháp thông tin tái hiện
Thứ hai, Nhóm phương pháp nhận thức lịch sử là trình bày sự kiện, hiện
tượng trong hình thức tổng quát, trong những mối liên hệ bản chất của nó, giúp học sinh từ hiểu biết đến hiểu sâu sắc các sự kiện và quá trình lịch sử Việc nhận thức lịch sử phải thông qua hoạt động tư duy của học sinh, không phải là sự áp đặt chủ quan, công thức Vì vậy, giáo viên phải đặt vấn đề và hướng dẫn học sinh giải quyết Học sinh phải tự mình nhận thức bản chất của sự kiên lịch sử, vận dụng những tri thức đã học để giải thích lịch sử và tùy trình độ mà nêu khái
Trang 15quát sự kiện, quá trình lịch sử Phương pháp nhận thức lịch sử chủ yếu được tiến hành thông qua dạy học nêu vấn đề, nêu câu hỏi có tính chất bài tập nhận thức
Ví dụ: Khi dạy bài 20: “Cuộc kháng chiến toàn quốc chống thực dân Pháp kết thúc (1953-1954), giáo viên đưa ra câu hỏi: “Những nguyên nhân nào dẫn đến sự thắng lợi của quân dân ta ở Điện Biên Phủ và trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp?”, học sinh vận dụng toàn bộ kiến thức đã học của chương, bài để rút ra câu trả lời
Giáo viên trên cơ sở sách giáo khoa và sách giáo viên nêu ra các nguyên nhân chính: Nguyên nhân chủ quan, đó là sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng ta; truyền thống yêu nước, chủ nghĩa anh hùng cách mạng của quân và dân ta; hậu phương vững chắc Nguyên nhân khách quan, đó là đoàn kết chiến đấu của nhân dân ba nước Đông Dương; sự giúp đỡ của nhân dân các nước xã hội chủ nghĩa và
sự đồng tình ủng hộ của nhân dân tiến bộ thế giới đối với cuộc kháng chiến của ta
Với ví dụ cụ thể trên giáo viên đã lựa chọn hình thức nêu câu hỏi có tính chất bài học nhận thức là phương pháp chủ đạo để giúp học sinh hiểu rõ vấn đề hơn
Thứ ba, Nhóm phương pháp tìm tòi nghiên cứu nhằm nâng cao trình độ
của học sinh trong việc biến kiến thức lịch sử đã học thành kiến thức của mình, chủ động sử dụng những tri thức đó có hiệu quả trong học tập và đời sống Nhóm phương pháp tìm tòi nghiên cứu được tiến hành thông qua các hình thức
từ thấp đến cao của những công việc học tập như sử dụng sách giáo khoa và tài liệu tham khảo để trả lời các câu hỏi, hoàn thành các bài tập thực hành, rèn luyện việc tìm tòi từng phần và bước đầu tập dược nghiên cứu khoa học một số vấn đề lịch sử, phù hợp với trình độ và yêu cầu học tập của học sinh…
Ví dụ: Khi dạy bài 18 “Những năm đầu của cuộc kháng chiến toàn quốc chống thực dân Pháp (1946 – 1954)” ở mục Chiến dịch Biên giới thu – đông năm 1950, giáo viên sử dụng câu hỏi “Tại sao ta chọn Đông Khê làm điểm mở đầu chiến dịch mà không phải Cao Bằng hay Thất Khê?” Để trả lời được câu hỏi này học sinh đọc sách giáo khoa, xem các tài liệu ở nhà, chú ý theo dõi, quan sát bản đồ để thấy được vị trí chiến lược của Đông Khê Giáo viên hướng dẫn học sinh bằng cách đưa ra câu gợi ý về vị trí của Đông Khê, sau khi các em đưa
Trang 16ra câu trả lời giáo viên chốt ý: Giữa Đông Khê và Cao Bằng, nếu đánh Cao Bằng thì sẽ đụng đầu với lực lượng mạnh của địch, hệ thống phòng ngự vững chắc, muốn đánh thắng phải tốn nhiều xương máu Đồng thời nếu đánh Cao Bằng, địch sẽ rút tất cả các cứ điểm từ Đông Khê đến Lạng Sơn, như vậy sẽ tạo điều kiện cho ta đánh quân rút chạy Đông Khê là một cứ điểm địch tương đối yếu nhưng lại là vị trí trọng yếu, mất Đông Khê, địch phải cho quân ứng cứu, Cao Bằng phải rút chạy… Ta có cơ hội tiêu diệt quân tiếp viện và quân rút chạy của địch Hơn nữa Đông Khê ở xa Hà Nội, nếu địch tiếp viện cũng mất nhiều thời gian.Vì vậy ta quyết định đánh Đông Khê
Trong ví dụ này phương pháp tìm tòi nghiên cứu được tiến hành thông qua những công việc học tập như sử dụng sách giáo khoa, tài liệu tham khảo để trả lời câu hỏi giúp học sinh có khả năng tìm tòi nghiên cứu một cách chủ động
Như vậy, các phương pháp này kết hợp với nhau thành một hệ thống hoàn chỉnh trong dạy học lịch sử ở trường phổ thông Chúng hỗ trợ cho nhau.Trong quá trình dạy học, không thể chỉ sử dụng một phương pháp đơn nhất, song ở mỗi khâu của quá trình dạy học lại có một phương pháp trọng tâm kết hợp với các phương pháp khác Mặt khác, mỗi một phương pháp nêu trên lại là sự tổng hợp của nhiều phương pháp khác nhau nhằm thực hiện chức năng của nó.Việc sử dụng các phương pháp dạy học lịch sử không chỉ là việc nắm vững lí luận và cần phải rèn luyện kĩ năng nghiệp vụ sư phạm, thói quen thực hành để nâng cao hiệu quả và chất lượng dạy học
1.1.3 Hiệu quả bài học lịch sử
Hiệu quả bài học lịch sử là vấn đề mấu chốt, có thể nói là một mục tiêu quan trọng của việc dạy học Vậy thế nào là hiệu quả bài học lịch sử? Vấn đề này được nhà nghiên cứu và giáo viên thảo luận sôi nổi, có một số điều nhất trí, nhưng không phải là không có ý kiến khác biệt Hiện nay vẫn còn tồn tại quan niệm phiến diện, xem xét hiệu quả bài học chỉ thể hiện ở mức độ hình thành kiến thức khoa học của học sinh trong giờ học Trên quan điểm “dạy chữ để dạy người”, chúng ta nhất trí rằng, hiệu quả của bài học được xác định không chỉ
Trang 17bằng việc hình thành các kiến thức, mà còn là kết quả của việc giáo dục và phát triển tư duy, kỹ năng, kỹ xảo, tính tích cực học tập của học sinh trong học tập và cuộc sống Vì vậy, cần nhận đúng và có những biện pháp sư phạm tốt trong dạy học bộ môn Lịch sử ở trường phổ thông Nói một cách cụ thể, hiệu quả bài học thể hiện ở những mặt sau đây:
Trước hết, bài học phải giúp học sinh nắm được những kiến thức cơ bản của bài, tức là làm cho các em ghi nhớ những sự kiện lịch sử chủ yếu, biết đánh giá các sự kiện, rút ra bài học, nêu quy luật (nếu có) và hình thành khái niệm lịch sử Điều này giúp các em trả lời được các câu hỏi “Như thế nào?” và “Vì sao?” trong giờ học (tiếp nhận kiến thức mới, kiểm tra bài cũ…)
Thứ hai, bài học phải đặt được mục tiêu, kết quả giáo dục đề ra Đây là vấn đề quan trọng, nhưng rất khó khăn, phức tạp Việc giáo dục phải phù hợp với nội dung bài học, trình độ, yêu cầu học sinh, nó không phải cung cấp cho các em những công thức có sẵn, những khẩu hiệu sáo rỗng mà không có tác dụng gì đối với việc giáo dục Muốn đánh giá kết quả giáo dục mà bài học đạt được trước tiên cần xem xét thái độ, tình cảm của học sinh đối với các sự kiện nghiên cứu, những phản ứng tự nhiên, những suy nghĩ của các em đối với hiện tượng và những nhân vật lịch sử Tiếp đó, xem xét kỹ năng của học sinh trong việc đánh giá đúng những hiện tượng, vai trò của các nhân vật, kỹ năng sử dụng các kiến thức lý luận đã học để tự mình phân tích các hiện tượng xã hội của quá khứ và hiện tại Những công việc này không chỉ giúp học sinh nắm vững hơn kiến thức lịch sử, mà còn góp phần giáo dục đạo đức tư tưởng, chính trị cho các
em trong quá trình học tập lịch sử
Thứ ba, hiệu quả của bài học còn được thể hiện ở việc phát triển toàn diện cho học sinh, đặc biệt là năng lực nhận thức, như tri giác, trí tưởng tượng, trí nhớ, tư duy… Việc phát triển các năng lực nhận thức không tách rời các yếu tố của tính tích cực trong học tập nhân cách của các em, như chú ý, xúc cảm lịch
sử, suy nghĩ hứng thú học tập, ý chí… Ngoài ra, giáo viên cũng không quên hình thành cho các em lòng mong muốn và khả năng tham gia tích cực, có hiệu quả các hoạt động xã hội chính trị và lao động sản xuất Như vậy, trong giờ học lịch
Trang 18sử cùng với việc phát triển các năng lực nhận thức của học sinh, giáo viên phát triển các kỹ năng tư duy, như phân tích, so sánh, tổng hợp, khái quát…và kỹ năng thực hành bộ môn, cũng hứng thú, say mê nghiên cứu và học tập lịch sử, biết đem những kiến thức đã học vận dụng vào cuộc sống
Ba mặt cung cấp kiến thức, giáo dục tư tưởng, đạo đức và phát triển năng lực tư duy và năng lực thực hành trong dạy học lịch sử có mối quan hệ chặt chẽ,
có tác động biện chứng với nhau Nhiệm vụ giáo dục và phát triển của bài học chỉ có thể thực hiện trên cơ sở hình thành kiến thức Mặt khác việc hoàn thành nhiệm vụ giáo dục và phát triển trong giờ học sẽ làm cho việc nắm kiến thức của học sinh vững chắc, sâu sắc hơn
1.1.4 Nguyên tắc vận dụng sáng tạo, linh hoạt một số phương pháp dạy học
Việc dạy học nói chung được tiến hành trên cơ sở những nguyên tắc của
lý luận dạy học, tức là những quan điểm cơ bản chỉ đạo mọi hoạt động của giáo viên và học sinh, theo các quy luật cơ bản của quá trình dạy học Tính nguyên tắc bảo đảm việc dạy học được thể hiện theo những quy trình khoa học, nhằm thực hiện mục tiêu giáo dục Trên cơ sở quan điểm chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục, về lịch sử, xuất phát từ tình hình nhiệm vụ cách mạng của nước ta, Đảng đã đề ra phương châm, nguyên lí giáo dục được tập trung ở ba điểm: “học đi đôi với hành, giáo dục kết hợp với lao động sản xuất, lý luận gắn liền với thực tiễn, giáo dục nhà trường kết hợp với gia đình và giáo dục
xã hội” Những phương châm, nguyên lí giáo dục này chỉ đạo việc xây dựng một
hệ thống nguyên tắc dạy học ở nước ta
Nguyên tắc bảo đảm tính khoa học, tính tư tưởng trong dạy học lịch sử
Lịch sử là bản thân cuộc sống mà loài người, dân tộc đã trải qua Hiện thực lịch
sử là khách quan, chỉ có một, nhưng nhận thức lịch sử lại có nhiều, tùy theo quyền lợi, quyền lợi giai cấp, con người tìm hiểu lịch sử Trong nhiều nhận thức khác nhau về lịch sử, chỉ có một nhận thức đúng; đó là nhận thức phản ánh lịch
sử khách quan, đúng như nó tồn tại Chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối của Đảng Cộng sản tạo cơ sở cho chúng ta nhận
Trang 19thức đúng lịch sử Tính tư tưởng thống nhất với tính khoa học trong nghiên cứu cũng như dạy học lịch sử đòi hỏi chúng ta phải bồi dưỡng về chuyên môn, nghiệp vụ, rèn luyện quan điểm tư tưởng, phẩm chất đạo đức của người giáo viên
Bảo đảm tính trực quan trong dạy học lịch sử Trực quan là yêu cầu
quan trọng, cần thiết đối với dạy học nói chung, xuất phát từ quy luật của nhận thức mà V.I Lênin đã đề ra: “Từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng và
từ tư duy trừu tượng trở về thực tiễn”
Nguyên tắc về tính vừa sức Dạy học lịch sử theo chương trình và sách
giáo khoa đã được ban hành và biên soạn, phù hợp với yêu cầu và trình độ học sinh mỗi lớp, mỗi cấp Bảo đảm tính vừa sức không chỉ thể hiện việc thực hiện nghiêm túc, sáng tạo chương trình và sách giáo khoa mà còn đảm bảo chất lượng, kết quả, mục tiêu giáo dục Thực hiện nguyên tắc về tính vừa sức sẽ khắc phục được tình trạng “quá tải” hoặc “hạ thấp” trong dạy học lịch sử, giúp học sinh đạt được trình độ chương trình Bảo đảm tính vừa sức làm cho học sinh hứng thú với học tập, học tập có kết quả cao
Nguyên tắc về tính hệ thống Hiện thực lịch sử phát triển trong sự thống
nhất, song đa dạng, đầy mâu thuẫn và phù hợp với quy luật Việc học tập (nhận thức) lịch sử cũng phải tuân theo logic sự phát triển lịch sử khách quan, phải tìm hiểu từ lịch sử nguyên thủy, cổ đại, trung đại đến cận, hiện đại, chứ không thể nhận thức ngược lại
Nguyên tắc về tính vững chắc của việc nhận thức lịch sử Trong học tập
nói chung, việc nắm vững kiến thức là yêu cầu không thể thiếu được Tính vững chắc trong học tập thể hiện ở việc nắm kiến thức có hệ thống, nhớ lâu, hiểu sâu, biết vận dụng kiến thức đã học để tiếp thu kiến thức mới vào đời sống
Trong học tập lịch sử, học sinh thường không nhớ được chính xác, hay nhầm lẫn các sự kiện, không hiểu được lịch sử, không biết vận dụng kiến thức
đã biết vào học tập và cuộc sống Vì vậy, để học sinh hiểu biết lịch sử cần phải hướng dẫn các em nắm vững kiến thức cơ bản với những biện pháp sư phạm có hiệu quả
Trang 20Nguyên tắc kết hợp việc học tập của tập thể với mỗi học sinh, giáo dục cho học sinh đoàn kết, giúp đỡ nhau để tiến bộ trên tất cả các mặt Muốn thực hiện tốt các nguyên tắc này cần phát huy cao nhất tính tích cực của tập thể và mỗi cá nhân, chú ý học sinh cá biệt Việc trao đổi, thảo luận trên lớp, tham gia tích cực vào những hoạt động ngoại khóa, kiểm tra, đánh giá, … là những điều kiện để học sinh giúp đỡ nhau cùng tiến bộ
Nguyên tắc phát huy tính tích cực của học sinh trong dạy học lịch sử
Việc phát huy tính tích cực của học sinh trong dạy học nói chung, dạy học lịch
sử nói riêng xuất phát từ mục tiêu đào tạo, trong đó nổi bật một điểm quan trọng là đào tạo thế hệ trẻ thành người lao động làm chủ nước nhà Để thành công dân, chủ nhân xã hội, học sinh phải được rèn luyện trong quá trình được đào tạo và tự đào tạo Việc phát huy tính tích cực của học sinh trong học tập đòi hỏi phải khắc phục cách dạy học theo kiểu giáo điều, nhồi sọ, biến giáo viên thành người thuyết trình giảng giải và học sinh thụ động tiếp nhận những điều đã nghe, đã đọc
Ngoài những nguyên tắc trên, trong dạy học lịch sử cần thực hiện một số nguyên tắc khác như: Nguyên tắc dạy học nêu vấn đề, nguyên tắc dạy học liên môn để nhằm nâng cao hiệu quả bài học
Nguyên tắc dạy học nêu vấn đề Là nguyên tắc chỉ đạo việc tiến hành của
nhiều phương pháp dạy học liên kết nhau, trong đó giáo viên tạo ra tình huống có vấn đề, nêu vấn đề và tổ chức, thúc đẩy hoạt động tìm tòi sáng tạo của học sinh giải quyết vấn đề “Vấn đề” nêu ra thể hiện việc học sinh biết điều mình chưa biết và tìm cách biết để việc nhận thức (học tập) được sâu sắc, vững chắc hơn
Nguyên tắc dạy học liên môn Là sự kết hợp một cách sáng tạo với các
môn học khoa học xã hôi và nhân văn kể cả các môn khoa học tự nhiên để đi sâu, nắm vững các kiến thức lịch sử, hiểu sâu sắc hơn các sự kiện đang học Điều này khắc phục được tình trạng nắm kiến thức rời rạc, tản mạn, giúp học sinh nắm được mối liên hệ giữa kiến thức của các môn có liên quan, tính hệ thống của tri thức lịch sử, khả năng phân tích các sự kiện, tìm ra bản chất, quy luật chi phối sự phát triển của lịch sử
Trang 21Trên cơ sở những nguyên tắc trong dạy học lịch sử, chúng tôi từng bước đưa ra cách vận dụng sáng tạo, linh hoạt một số phương pháp nhằm nâng cao hiệu quả bài học khi dạy học phần lịch sử Việt Nam từ năm 1930 đến năm 1954, lớp 12 THPT
1.2 Cơ sở thực tiễn
Việc nâng cao chất lượng dạy học nói chung, dạy học lịch sử nói riêng là mục tiêu phấn đấu của giáo viên trong nhà trường hiện nay Nó là kết quả của sự suy nghĩ, tìm tòi lớn về sư phạm, là kết quả của những nguyên lý khoa học và nghệ thuật sư phạm Việc dạy học môn Lịch sử ở trường phổ thông hiện nay đã
và đang trở thành mối quan tâm hàng đầu của toàn xã hội, một phần xuất phát từ tầm quan trọng đặc biệt của bộ môn đối với tương lai phát triển của đất nước; một phần bởi thực trạng của việc dạy học Lịch sử ở trường phổ thông trong thời gian qua đã đạt được những thành tựu nhất định:
- Mặc dù số tiết Lịch sử ở trường phổ thông không nhiều (1 đến 2 tiết/tuần) nhưng bộ môn Lịch sử đã có những đóng góp không nhỏ vào những thành tựu chung của giáo dục Việt Nam: Góp phần nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, hình thành phẩm chất con người Việt Nam Xã hội chủ nghĩa trong thời kì mới
- Thời gian qua, do nhận thức đúng vai trò của bộ môn Lịch sử, đã thu hút được sự quan tâm của các ngành, các cấp nên đã có sự kết hợp giữa các ngành, các bộ Sự kết hợp này tạo điều kiện thuận lợi cho sự giải quyết các vấn đề kinh
tế, chính trị, xã hội, đặc biệt là đối với sự phát triển của giáo dục về nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức giảng dạy
- Trong những năm qua, những nhà giáo dục Việt Nam không ngừng bổ sung, hoàn thiện về nội dung, đổi mới về phương pháp dạy học Trước hết là những bổ sung, điều chỉnh về mặt nội dung chương trình, cập nhật kiến thức, hoàn thiện nội dung chương trình sách giáo khoa đảm bảo cung cấp cho học sinh những tri thức lịch sử đầy đủ, chính xác, hệ thống Về phương pháp giảng dạy, trong những năm qua, phương pháp giảng dạy bộ môn có nhiều đổi mới và đã có những chuyển biến quan trọng Nhiều giáo viên không ngừng cố gắng tìm tòi,
Trang 22nghiên cứu và áp dụng nhiều phương pháp dạy học mới nên đã nâng cao đáng
kể chất lượng dạy học bộ môn, gây hứng thú cho học sinh
Những thành tựu đã đạt được như trên là do những nguyên nhân sau:
- Đảng ta coi sự nghiệp giáo dục, coi giáo dục là quốc sách hàng đầu Do vậy, Đảng và Nhà nước đã đầu tư rất lớn cho sự nghiệp giáo dục, trong đó đầu
tư cho đội ngũ nhân lực là yếu tố tiên phong
- Hiện nay, Đảng và Nhà nước ta đẩy mạnh sự nghiệp “xã hội hóa giáo dục”, coi sự nghiệp giáo dục là của toàn dân và toàn xã hội Sự đóng góp và ủng
hộ của toàn dân là sức mạnh to lớn, bảo đảm sự phát triển lâu dài, bền vững và mạnh mẽ
Bên cạnh những thành tựu đã đạt được, chất lượng dạy học lịch sử cũng như nhiều môn học khác giảm sút đáng lo ngại Tình trạng “mù lịch sử” không chỉ thể hiện trong thi cử, đánh giá kết quả học tập mà cả trong sinh hoạt văn hóa,
xã hội:
- Dạy học lịch sử ở nhà trường phổ thông chưa khắc phục được tình trạng nặng về nội dung, chưa khoa học về mặt hình thức, nhiều giáo viên vẫn nặng về trình bày, cung cấp các sự kiện, chưa áp dụng phương pháp dạy học mới, tích cực, vẫn nặng về lối truyền thụ một chiều đọc – chép, làm các em trở nên thụ động khi tiếp thu kiến thức Không phát huy được các năng lực tự học, sáng tạo, đào sâu suy nghĩ, phát huy khả năng làm việc độc lập và hợp tác của người học
để giải quyết các vấn đề, các tình huống học tập và hàng loạt các hiện tượng tiêu cực trong học tập, thi cử, kiểm tra đánh giá, làm chất lượng dạy học bộ môn chưa đáp ứng được yêu cầu đặt ra
Có nhiều nguyên nhân dẫn đến chất lượng bộ môn giảm sút, trong đó có một số nguyên nhân cơ bản sau:
- Giáo viên chưa đánh giá đúng vị trí, vai trò của phương pháp dạy học đối với việc giáo dục, do đó chưa khắc phục được những sai lầm yếu kém trong dạy học, vẫn “đường mòn” kinh nghiệm chủ nghĩa trong truyền thụ kiến thức
- Do quan niệm sai lầm về “môn chính”, “môn phụ”, nên ở một số trường phổ thông chưa chăm lo đúng mức về cải tiến phương pháp dạy học
Trang 23- Trong tổ chức thi cử, phương pháp, cách thức ra đề, tổ chức bồi dưỡng giáo viên nặng về nội dung và hình thức, coi nhẹ phương pháp; việc đánh giá kết quả giảng dạy của giáo viên, kết quả học tập của học sinh không khuyến khích cách học tập chủ động, sáng tạo, độc lập,
- Tình trạng “thực dụng” trong dạy học lịch sử còn khá nặng nề, thể hiện ở việc “học gì thi nấy”, bên cạnh đó tình trạng “dạy thêm”, “học thêm” tràn lan, vô
bổ, vô tổ chức, dẫn tới việc “quá tải” vượt chương trình so với một số “môn chính”
Từ thực trạng của việc giảng dạy và học tập bộ môn Lịch sử ở trường phổ thông đã nêu ở trên, hiện nay vấn đề hiệu quả bài học lịch sử và vận dụng các phương pháp nhằm nâng cao hiệu quả bài học lịch sử đã thu được sự quan tâm của các nhà giáo dục, các nhà sư phạm và có nhiều quan niệm khác nhau được đưa ra về vấn đề trên Trong đó có không ít quan niệm phiến diện cho rằng hiệu quả bài học chính là cung cấp cho học sinh nhiều sự kiện, không quan tâm đến mức độ nhận thức, giáo dục và kĩ năng Do đó, đã dẫn đến tình trạng dạy học nhồi nhét kiến thức, trong khi đó mức độ nhận thức của học sinh lại không theo kịp Từ nhận thức sai lầm về quan niệm hiệu quả bài học lịch sử mà việc vận dụng một số phương pháp vào giảng dạy bộ môn còn nhiều hạn chế Vì vậy, chất lượng giảng dạy và học tập bộ môn trong thời gian qua chưa được cải thiện
là mấy, hiệu quả bài học còn rất hạn chế Đa phần giáo viên chưa chịu đổi mới phương pháp, vẫn “đường mòn” kinh nghiệm chủ nghĩa theo lối truyền thụ một chiều Nguyên nhân dẫn đến tình trạng trên là do những khó khăn về cơ sở vật chất chưa cho phép áp dụng các phương pháp dạy học tiên tiến, những bất cập
về nội dung chương trình, trong đó nguyên nhân cơ bản nhất là giáo viên chưa chịu đổi mới tư duy trong quá trình tác nghiệp
Trong quá trình thực hiện đề tài này, để kiểm chứng thực tiễn đã trình bày
ở trên về quá trình dạy - học lịch sử ở nhà trường phổ thông hiện nay, chúng tôi
đã tiến hành điều tra thực tiễn thăm dò ý kiến của giáo viên và học sinh ở một số trường thuộc tỉnh Điện Biên về vấn đề lựa chọn các phương pháp để truyền thụ kiến thức cơ bản cho học sinh, góp phần nâng cao chất lượng dạy học lịch sử ở nhà trường phổ thông
Trang 24Đối với giáo viên: Đa phần giáo viên lịch sử ở trường phổ thông hiện nay
đã có nhiều cố gắng, nỗ lực thực hiện tốt nhiệm vụ của nhà giáo dục Đã có nhiều trăn trở, băn khoăn, đổi mới phương pháp để làm sao chất lượng giáo dục của bộ môn được phát huy tác dụng cao nhất, để học sinh yêu thích hơn môn lịch sử Tuy nhiên, bên cạnh đó còn một số giáo viên chưa biết xác định kiến thức cơ bản nói chung và áp dụng một số phương pháp cổ truyền, lạc hậu Điều này khiến học sinh “chỉ thấy cây mà không thấy rừng”, chỉ thấy việc học lịch sử
là phải nhớ các sự kiện lịch sử một cách khô khan, nặng nề, thụ động Không chịu đổi mới, áp dụng các phương pháp truyền thụ thì giáo viên khó có thể khắc sâu được kiến thức cơ bản cho giáo viên mà dàn trải theo kiểu đọc – chép một cách máy móc, hoặc dạy học theo cách “thông báo”, chỉ truyền thụ nội dung có trong sách giáo khoa, nặng nề chi tiết, liệt kê sự kiện, ít đi sâu vào vấn đề cốt lõi
để phân tích cho học sinh hiểu
Thông qua việc điều tra 12 giáo viên ở 3 trường phổ thông kết quả thu được qua phiếu điều tra sau:
1 Theo thầy (cô) chất lượng dạy học lịch sử ở trường
phổ thông hiện nay như thế nào?
A Rất tốt
B Bình thường
C Rất thấp
Chọn A: 18% Chọn B: 52% Chọn C: 30%
2 Trong các tiết học trên lớp, thầy (cô) thấy thái độ học
tập môn Lịch sử như thế nào?
A Rất tích cực xây dựng bài
B Chỉ hoạt động khi có yêu cầu
C Học thụ động, đối phó và lười suy nghĩ
Chọn A: 9% Chọn B: 67% Chọn C: 24%
3 Theo thầy (cô) quan niệm hiệu quả bài học Lịch sử
trong trường phổ thông là:
A Cung cấp cho học sinh nhiều kiến thức
B Giáo dục, phát triển kĩ năng học sinh
C Nhận thức, giáo dục và kĩ năng
Chọn A: 73% Chọn B: 4% Chọn C:23%
Trang 254 Trong thực tế thầy (cô) thường vận dụng những
phương pháp dạy học nào nhằm nâng cao hiệu quả bài
Thông qua kết quả điều tra trên cho ta thấy đa số giáo viên đã nhận thức được thực trạng của việc dạy học lịch sử ở nhà trường phổ thông hiện nay Tuy nhiên, khi được hỏi về việc tại sao không vận dụng linh hoạt, sáng tạo một số phương pháp vào quá trình dạy học thì nhiều ý kiến đưa ra như: do không có nhiều thời gian trên lớp, do thiếu tài liệu tham khảo, do sợ không đảm bảo kiến thức cơ bản cho học sinh Do vậy phương pháp dạy học vẫn theo lối truyền thống đọc – chép, không phát huy tính năng động sáng tạo của học sinh Chính
vì lối dạy đó mà khi điều tra từ phía học sinh cho ta kết quả sau
Đối với học sinh: Chúng tôi tiến hành điều tra 165 học sinh kết quả thu
được là:
1 Em có hứng thú với bộ môn Lịch sử hay không?
A Rất hứng thú
B Bình thường
C Không thích học
Chọn A: 15% Chọn B: 54% Chọn C: 31%
2 Trong các tiết học phương pháp mà thầy (cô)
Trang 26Qua điều tra cho ta thấy một số học sinh đã có hứng thú với môn học song phần lớn các em tỏ thái độ thờ ơ, hững hờ đối với môn học hoặc học một cách thụ động đối phó chưa có sự chủ động tích cực trong học tập Nguyên nhân dẫn đến tình trạng này một phần là do cách giảng dạy của giáo viên thiếu thuyết phục chưa có khả năng thu hút và lôi cuốn học sinh vẫn biến giờ học nặng nề về kiến thức
Để khắc phục được cách học thụ động từ phía học sinh cũng như phương pháp dạy học nặng về lối truyền thụ một chiều đọc – chép của giáo viên, một trong những biện pháp hữu hiệu và cho kết quả cao là cần kết hợp nhuần nhuyễn một số phương pháp dạy học trong nhà trường phổ thông Bộ môn văn hóa nói chung và môn Lịch sử nói riêng cũng cần phải vận dụng sáng tạo, linh hoạt một
số phương pháp dạy học nhằm phát huy tính tích cực, khả năng tư duy, năng động của học sinh góp phần nâng cao hiệu quả bài học
Trang 27
CHƯƠNG 2 VẬN DỤNG SÁNG TẠO, LINH HOẠT MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP NHẰM NÂNG CAO HỆU QUẢ BÀI HỌC KHI DẠY HỌC PHẦN
LỊCH SỬ VIỆT NAM TỪ NĂM 1930 ĐẾN NĂM 1954,
LỚP 12 THPT 2.1 Vị trí, mục tiêu, nội dung cơ bản của phần lịch sử Việt Nam từ năm
Nam (từ năm1919 đến nay)
Phần 1: Lịch sử thế giới (hiện đại), gồm 10 bài và 1 bài tổng kết
Phần 2: Lịch sử Việt Nam từ sau chiến tranh thế giới thứ nhất đến năm
2000, gồm 5 chương và 16 bài (1 bài tổng kết)
Phần lịch sử Việt Nam từ năm 1930 đến năm 1954 là nội dung của 2 chương (chương II và III) Về vị trí, đây là thời kì quan trọng trong tiến trình phát triển của lịch sử dân tộc Giai đoạn 1930 – 1945: Cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc trong vòng 15 năm, nhưng đây là sự kế tiếp lịch sử một nghìn năm dựng nước và giữ nước, là cuộc đấu tranh đầu tiên giành thắng lợi to lớn, triệt để của toàn Đảng, toàn dân ta đánh đuổi bọn thực dân đế quốc xâm lược, lật đổ chế độ phong kiến tồn tại gần một nghìn năm ở nước ta, lập nên nước Việt Nam dân chủ cộng hòa – Nhà nước của dân, do dân và vì dân Giai đoạn 1945 – 1954: Phản ánh cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp trường kì 9 năm của quân và dân ta với sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng, truyền thống đấu tranh bất khuất của dân tộc, tinh thần đoàn kết quốc tế cao cả, nhằm bảo vệ thành quả cách mạng tháng tám, giữ vững nền độc lập dân tộc
Trang 281930 – 1945: Cao trào cách mạng 1930 – 1931 với đỉnh cao là phong trào Xô Viết – Nghệ Tĩnh, phong trào dân chủ 1936 – 1939 Và cuộc kháng chiến toàn quốc chống thực dân Pháp 1945 – 1954 với cuộc chiến đấu ở các đô thị phía Bắc
vĩ tuyến 16, chiến dịch Việt Bắc năm 1947, chiến dịch Thu – Đông năm 1950, đặc biệt là cuộc tiến công chiến lược Đông – Xuân 1953 – 1954 đỉnh cao là chiến dịch Điện Biên Phủ, Hiệp định Giơnevơ về Đông Dương chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Đông Dương Ngoài ra, các em còn nắm được tình hình kinh tế - xã hội Việt Nam thời kì này: Tình hình kinh tế, chính trị, xã hội Việt Nam thời kì phát xít Pháp – Nhật chiếm đóng, chính sách đàn áp vơ vét bóc lột nhân dân ta của Nhật – Pháp, Pháp – Mĩ, tình cảnh nhân dân Việt Nam trước và sau cách mạng tháng Tám Từ đó học sinh hiểu rõ hơn về truyền thống của dân tộc: yêu nước, đoàn kết, đấu tranh anh dũng…những truyền thống ấy càng được phát huy trong cuộc đấu tranh giữ gìn và xây dựng đất nước từ khi Đảng ra đời
và lãnh đạo
Về giáo dục: Thông qua những kiến thức trên, giáo dục cho học sinh niềm tin, biết ơn đối với sự lãnh đạo của Đảng, với Bác Hồ kính yêu, các anh hùng liệt sĩ đã hi sinh xương máu để bảo vệ Tổ quốc qua hàng loạt các bài dạy về phong trào cách mạng 1930 – 1945, kháng chiến chống Pháp, chống Mĩ Đồng thời qua những thành tựu to lớn đó, cần giáo dục cho học sinh truyền thống yêu nước bất khuất, vì độc lập tự do, biết trân trọng và có trách nhiệm phát huy những thành quả cách mạnh của dân tộc
Về phát triển: Trên cơ sở vận dụng, phối hợp các phương pháp, biện pháp
sư phạm, tạo điều kiện phát triển cho học sinh năng lực nhận thức độc lập trên
Trang 29cơ sở tri giác tài liệu, ghi nhớ, hình dung, tưởng tưởng, đặc biệt là phát triển các thao tác tư duy như: phân tích, so sánh, tổng hợp, khái quát,…các sự kiện, khả năng thực hành bộ môn
2.1.3 Nội dung
Dưới ảnh hưởng nặng nề của cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới 1933) làm cho kinh tế - xã hội ở Việt Nam suy thoái, đời sống của các tầng lớp nhân dân lao động hết sức điêu đứng Trước tình hình đó, ngọn cờ giải phóng dân tộc được giai cấp công nhân, đứng đầu là Đảng Cộng sản Việt Nam giương cao nhanh chóng tập hợp lực lượng, phát động và lãnh đạo quần chúng đấu tranh Phong trào đấu tranh diễn ra trên 25 tỉnh thành trải dài ba miền đất nước
(1929-và đạt tới đỉnh điểm trên đất Nghệ - Tĩnh (1929-vào ngày Quốc tế lao động 1/5 Mặc
dù đỉnh cao là Xô Viết Nghệ - Tĩnh (1930 - 1931) chỉ tồn tại trong một thời gian ngắn nhưng có ý nghĩa hết sức to lớn như cược tập dượt đầu tiên của Đảng và quần chúng cho Tổng khởi nghĩa tháng tám sau này
Vào nửa cuối những năm 30 của thế kỉ XX, trước những biến chuyển của tình hình thế giới và trong nước Đảng Cộng sản Đông Dương đã thay đổi chủ trương, đưa ra nhiệm vụ chiến lược của cách mạng tư sản dân quyền Đông Dương là chống đế quốc và chống phong kiến, nhưng trước mắt là đấu tranh chống chế độ phản động thuộc địa, chống phát xít, chống chiến tranh, đòi tự do, dân sinh, dân chủ, cơm áo, hòa bình
Phong trào giải phóng dân tộc và Tổng khởi nghĩa tháng Tám (1939 – 1945) diễn ra sôi nổi, mở đầu thời kì mới là cuộc khởi nghĩa Bắc Sơn (27/9/1940), khởi nghĩa Nam Kì (23/11/1940), Binh biến Đô Lương (13/1/1941) Đến tháng 5/1941 Hội nghị lần thứ 8 Ban chấp hành trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương do Nguyễn Ái Quốc chủ trì đã diễn ra tại Pác Bó (Cao Bằng) là bước chuẩn bị để tiến tới khởi nghĩa giành chính quyền tháng 8/1945, với chỉ thị “Nhật – Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta” đến ngày 19/8 cách mạng đã thành công lá
cờ đỏ sao vàng tung bay trên đường phố Hà Nội Cách mạng tháng Tám thành công mở ra một bước ngoặt lớn trong lịch sử dân tộc, nó đã phá tan xiềng xích
nô lệ của thực dân Pháp hơn 80 năm đô hộ và ách thống trị của phát xít Nhật gần
Trang 305 năm lật đổ chế độ phong kiến Việt Nam Ngày 2/9/1945 tại Quảng trường Ba Đình lịch sử (Hà Nội), Chủ Tịch Hồ Chí Minh thay mặt chính phủ lâm thời đọc bản Tuyên ngôn độc lập khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, nhà nước do dân lao động làm chủ
Sau khi cách mạng tháng tám thành công trên đất nước ta đã gặp rất nhiều khó khăn Chính quyền cách mạng đứng trước tình thế “Ngàn cân treo sợi tóc” cùng một lúc chống lại 3 loại giặc đó là: giặc đói, giặc dốt và giặc ngoại xâm
Dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng, đứng đầu là Chủ Tịch Hồ Chí Minh, truyền thống yêu nước, sức mạnh đoàn kết trong lao động xây dựng đất nước, trong đấu tranh bảo vệ Tổ quốc của nhân dân ta, cùng những thuận lợi mới được phát huy, những khó khăn to lớn được khắc phục Từ trong kết quả
đó, chính quyền cách mạng được xây dựng, củng cố và bảo vệ
Với dã tâm xâm lược nước ta một lần nữa, thực dân Pháp trắng trợn xé
bỏ Hiệp định Sơ bộ (6/3/1946) và Tạm ước (14/9/1946), đẩy nhân Việt Nam đứng trước hai con đường: hoặc là cầm vũ khí đứng lên kháng chiến để bảo vệ nền độc lập tự do của Tổ quốc hoặc là cúi đầu làm nô lệ cho Pháp Đảng và nhân dân ta đã lựa chọn con dường cầm vũ khí, toàn quốc đứng lên kháng chiến từ ngày 19/12/1946 Sau gần một năm tiến hành chiến tranh xâm lược Việt Nam, thực dân Pháp đã vấp phải sự kháng cự quyết liệt của quân và dân ta, khiến chúng gặp nhiều khó khăn Chúng quyết định tấn công lên Việt Bắc (10/1947) với hi vọng nhanh chóng kết thúc chiến tranh Việc Pháp tấn công lên Việt Bắc không ngoài dự đoán của ta nên đã giành được thắng lợi to lớn trong chiến dịch này
Từ cuối năm 1949 đến đầu năm 1950, bên cạnh những thuận lợi mới của cuộc kháng chiến thì đế quốc Mĩ bắt đầu can thiệp sâu và “dính líu trực tiếp” vào cuộc chiến tranh Đông Dương, trở thành kẻ thù của nhân dân Việt Nam Trước tình hình đó, ta chủ động mở Chiến dịch Biên giới Thu – Đông năm
1950 Với chiến thắng Biên giới, con đường liên lạc của ta với các nước Xã hội Chủ nghĩa được khai thông, quân đội ta giành được thế chủ động trên chiến trường chính Bắc Bộ, mở ra bước phát triển mới của cuộc kháng chiến
Trang 31Bước sang năm 1953, sau 7 – 8 năm tiến hành chiến tranh xâm lược với nhiều thủ đoạn khác nhau nhưng Pháp vẫn bị tổn thất lớn về mọi mặt Để cứu vãn tình hình, Pháp – Mĩ quyết định vạch ra kế hoạch quân sự Nava hòng xoay chuyển cục diện chiến tranh Đánh âm mưu mới của địch, quân ta quyết định mở cuộc tiến công chiến lược Đông – Xuân 1953 – 1954 với đỉnh cao là chiến dịch Điện Biên Phủ Chiến thắng Điện Biên Phủ đã buộc thực dân Pháp kí Hiệp định Giơnevơ năm 1954 về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Đông Dương
Thắng lợi của cuộc kháng chiến đã chấm dứt cuộc chiến tranh xâm lược, đồng thời chấm dứt ách thống trị của thực dân Pháp trong gần một thế kỉ trên đất nước ta; miền Bắc nước ta được giải phóng, chuyển sang giai đoạn cách mạng
Xã hội Chủ nghĩa, tạo cơ sở để nhân dân ta giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất Tổ quốc
2.2 Vận dụng linh hoạt, sáng tạo một số phương pháp dạy học lịch sử nhằm nâng cao hiệu quả bài học bài học
2.2.1 Sử dụng nguyên tắc dạy học liên môn nhằm nâng cao hiệu quả bài học lịch sử
Theo các nhà giáo dục lịch sử, dạy học liên môn là một trong những nguyên tắc dạy học cơ bản trong xu hướng đổi mới phương pháp dạy học hiện nay Xuất phát từ đặc trưng của đối tượng nghiên cứu bộ môn là tìm hiểu một cách toàn diện và sâu rộng đời sống con người trong quá khứ, nên về mặt khoa học, tri thức lịch sử có mối liên hệ chặt chẽ với tri thức của nhiều ngành khoa học khác Do đó, để thực hiện mục tiêu dạy học bộ môn trong dạy học lịch sử, liên môn là một trong những nguyên tắc dạy học cơ bản
Việc sử dụng kiến thức liên môn trong dạy học lịch sử có vai trò và ý nghĩa khá quan trọng, cụ thể là:
Về vai trò:
+ Sử dụng kiến thức liên môn là một nguyên tắc cần tuân thủ trong dạy học
ở trường phổ thông nói chung và môn Lịch sử nói riêng
+ Sử dụng kiến thức liên môn luôn được coi là nguồn kiến thức quan trọng không thể thiếu trong dạy học lịch sử và được sử dụng như tài liệu tham khảo
Trang 32+ Mặt khác, sử dụng kiến thức liên môn còn là một biện pháp đổi mới phương pháp dạy học nói chung và dạy học lịch sử nói riêng Nếu sử dụng tốt kiến thức liên môn và gây hứng thú học tập cho học sinh sẽ góp phần nâng cao hiệu quả dạy học lịch sử
Về ý nghĩa được thể hiện qua ba mặt: giáo dục, giáo dưỡng và phát triển + Trên phương diện giáo dục: Bộ môn Lịch sử ở trường phổ thông có ưu thế trong việc giáo dục con người phát triển toàn diện khi học lịch sử, các em hiểu sâu sắc sự kiện, hiện tượng lịch sử thì các em sẽ nảy sinh nhiều trạng thái xúc cảm: vui, buồn, lo lắng, hồi hộp, khâm phục hay căm ghét…Điều này sẽ tạo
cơ sở để giáo dục tư tưởng tình cảm đạo đức một cách đúng đắn cho các em
+ Trên phương diện giáo dưỡng: Sử dụng kiến thức liên môn đảm bảo được tính toàn vẹn của kiến thức trên cơ sở sử dụng kiến thức các môn học khác
và ngược lại, kiến thức liên môn còn giúp học sinh tránh được những lỗ hổng kiến thức khi học tách rời các môn học Nhờ đó, các em hiểu được sâu sắc kiến thức lịch sử và gây hứng thú học tập cho học sinh
+ Trên phương diện kĩ năng: Thúc đẩy quá trình nhận thức của học sinh đạt kết quả cao, hình thành kĩ năng phân tích, so sánh, nhận thức, đánh giá và biết liên hệ kiến thức đã học vào cuộc sống
Với phương pháp dạy học liên môn các giáo viên trung học phổ thông có thể vận dụng vào trong bài nghiên cứu kiến thức mới, cũng có thể vận dụng vào trong các bài tổng hợp
Trong các môn học ở trường THPT thì gần gũi với môn Lịch sử nhất là các môn như: văn học, địa lí, giáo dục công dân,… Mối liên hệ giữa các môn, các khóa trình được thể hiện trong các loại bài, đặc biệt các bài về cách mạng,
về văn hóa khoa học, kĩ thuật, kinh tế
Ví dụ: Khi dạy bài 13: “Phong trào dân tộc dân chủ ở Việt Nam từ năm 1925 đến năm 1930”, phần II, mục 2: “Hội nghị thành lập Đảng cộng Sản Việt Nam”, giáo viên có thể sử dụng tài liệu văn học khi dạy ý nghĩa lịch
sử của việc thành lập Đảng ở một số nội dung sau:
Trang 33Đảng ra đời là một bước ngoặt vĩ đại trong lịch sử của giai cấp công nhân Việt Nam và của cách mạng nước ta Nó chứng tỏ rằng giai cấp công nhân Việt Nam đã trưởng thành và đủ sức lãnh đạo cách mạng, chấm dứt thời kì khủng hoảng về vai trò lãnh đạo trong phong trào cách mạng Việt Nam Từ đây,cách mạng Việt Nam đã thuộc quyền lãnh đạo tuyệt đối của giai cấp công nhân Việt Nam mà đội tiên phong là Đảng cộng sản
Giáo viên sử dụng các nguồn tư liệu khác nhau để cụ thể hóa nội dung kiến thức: Đảng ra đời với chủ nghĩa Mác - Lênin làm nền tảng, đã đề ra được những đường lối đúng đắn, khoa học Đảng cùng đội ngũ trung kiên của mình,
đã tổ chức lãnh đạo cách mạng Việt Nam, giành lại độc lập tự do cho Tổ quốc, miếng cơm manh áo cho nhân dân Càng về sau Đảng càng lớn mạnh với đội ngũ đảng viên ngày càng đông đảo, các cơ sở Đảng được xây dựng ở khắp nơi, liên minh công – nông ngày càng được củng cố… Những gì Đảng làm, bồi đắp thêm niềm tin của nhân dân vào Đảng Điều này đã đượcthể hiện rất rõ qua việc giáo viên sử dụng tài liệu văn học để minh họa cho sự ra đời của Đảng
“Đảng ta đây, trăm tay nghìn mắt Đảng ta đây, xương sắt da đồng Đảng ta, muôn vạn công nông Đảng ta muôn vạn tấm lòng niềm tin Đảng ta Mác – Lênin vĩ đại
Lại hồi sinh trả lại cho ta”
Tổ quốc, vì ấm no hạnh phúc của nhân dân
Vấn đề này được nhiều nhà văn, nhà thơ phản ánh trong tác phẩm của mình Vì chính họ - những người tri thức tiểu tư sản – trực tiếp được Đảng giác
Trang 34ngộ Tiêu biểu và điển hình nhất là Tố Hữu với bài thơ “Từ ấy”, tháng 7/1933, trong đó có đoạn:
“Từ ấy trong tôi bừng nắng hạ Mặt trời chân lý chói qua tim Hồn tôi là một vườn hoa lá Rất đậm hương và rộn tiếng chim Tôi buộc lòng tôi với mọi người
Để hồn trang trải khắp trăm nơi
Để hồn tôi với bao hồn khổ Gần gũi nhau thêm mạnh khối đời”
(Tố Hữu) [ 12;9]
Ở bài 15: “Phong trào dân chủ 1936 – 1939”, giáo viên có thể sử dụng
tài liệu văn học khi dạy về tình hình trong nước nhằm khắc sâu trong học sinh về đời sống khổ cực của mọi giai cấp, tầng lớp trong xã hội Việt Nam thời kì này, đặc biệt là nông dân (đây là lực lượng đông đảo tham gia phong trào đấu tranh đòi quyền sống, quyền tự do – dân chủ Để góp phần khắc sâu hình ảnh người nông dân Việt Nam thời kì 1936 – 1939, giáo viên sử dụng các tác phẩm văn học viết về người nông dân Việt Nam thời kì này
Vì chủ yếu là các tác phẩm học sinh đã được tiếp cận qua các đoạn trích
đã được học ở các lớp dưới, nên giáo viên chỉ cần nêu tên tác phẩm và tóm tắt những nét chính về nội dung tác phẩm “Tắt đèn” – 1937 – Ngô Tất Tố viết
về đề tài người nông dân trước cách mạng, hình ảnh chị Dậu – người nông dân Việt Nam phải chịu sưu cao thuế nặng, quanh năm “Bán mặt cho đất, bán lưng cho trời” mà vẫn không đủ tiền để nộp sưu, thuế Chị Dậu – người nông dân nghèo khổ, cuộc sống gắn liền với mánh khóe, thủ đoạn của những ông quan cai trị mình
Qua đây giáo viên cần nêu bật lên tinh thần phản kháng của người nông dân chống lại cường quyền, áp bức Tuy phải chịu cảnh sống khổ cực như vậy,
bị áp bức bóc lột nặng nề, nhưng trong họ luôn nhen nhóm tinh thần đấu tranh, phản kháng Họ phải đứng lên đấu tranh để giành lại những quyền sống cho ra sống, “Con giun xéo mãi cũng quằn” – người nông dân đã nổi dậy đấu tranh