Mặc dù là một dân tộc thiểu số nhưng trong quá trình phát triển của mình, dân tộc Thái Đen ở tỉnh Điện Biên đã góp phần to lớn vào quá trình phát triển kinh tế xã hội đặc biệt là góp phầ
Trang 1LỜI CẢM ƠN
Quá trình thực hiện khóa luận, em nhận được sự hướng dẫn, tận tình của thầy giáo - Thạc sĩ Hoàng Xuân Thành, các thầy cô giáo trong khoa Sử - Địa đã giúp đỡ em hoàn thành khóa luận này
Qua đây tôi xin chân thành cảm ơn các bác, các cô ở huyện Điện Biên, các bạn sinh viên trong tậ p thể lớp K 51 Đa ̣i học sử đã giúp đỡ tôi trong quá trình sưu tầm tài liệu và cung cấp nhiều thông tin quan trọng
Đề tài không thể tránh khỏi những thiếu sót, rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của thầy, cô và các bạn để đề tài được hoàn chỉnh hơn
Xin chân thành cảm ơn!
Sơn La, tháng 5 năm 2014
Sinh viên
Lò Thị Phương
Trang 2MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 3
3 Mục đích, đối tượng, phạm vi nghiên cứu 4
4 Phương pháp nghiên cứu 5
5 Đóng góp của đề tài 5
6 Bố cục của khóa luận 6
CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ NGUỒN GỐC LỊCH SỬ VÀ VĂN HÓA CỦA NGƯỜI THÁI ĐEN Ở HUYỆN ĐIỆN BIÊN - TỈNH ĐIỆN BIÊN 7
1.1 Tên gọi 7
1.2 Nguồn gốc lịch sử 7
1.3 Những đặc trưng văn hóa truyền thống của người Thái ở huyện Điện Biên – Tỉnh Điện Biên 10
CHƯƠNG 2: TỤC CƯỚI XIN TRUYỀN THỐNG CỦA NGƯỜI THÁI ĐEN Ở HUYỆN ĐIỆN BIÊN - TỈNH ĐIỆN BIÊN 16
2.1 Quan niệm của người Thái về tình yêu, hôn nhân 16
2.1.1 Những tác động của hoàn cảnh đến tình yêu, hôn nhân của người Thái Đen ở Điện Biên – Điện Biên 16
2.1.2 Trai gái tìm hiểu nhau 17
2.2 Các bước tiến hành đám cưới truyền thống của người Thái Đen ở huyện Điện Biên – tỉnh Điện Biên 20
CHƯƠNG 3: NHỮNG CHUYỂN BIẾN CỦA TỤC CƯỚI XIN NGƯỜI THÁI ĐEN Ở ĐIỆN BIÊN - ĐIỆN BIÊN TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY 31
3.1 Chuyển biến về tình yêu, hôn nhân 31
3.1.1 Trai gái tự do tìm hiểu 31
3.1.2 Quyền quyết định thành hôn 31
3.2 Một số chuyển biến trong các lễ cưới 32
Trang 33.3 Tục cưới xin của người Thái Đen là một nét văn hóa độc đáo được duy trì
trong xã hội Việt Nam hiện đại 34
3.4 Giá trị tinh thần của tục cưới xin trong đời sống văn hóa người Thái Đen hiện nay 36
3.5 Một số kiến nghị 38
KẾT LUẬN 42
TÀI LIỆU THAM KHẢO 43 PHỤ LỤC
Trang 4MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc hay nói đúng hơn là một dân tộc hay nói đúng hơn là một dân tộc bao gồm nhiều tộc người Tồn tại trong những không gian có điều kiện tự nhiên khác nhau và trải qua một thời gian lịch sử lâu dài, các tộc người này có một đời sống kinh tế - vật chất và văn hóa tinh thần khác nhau, tạo nên những vùng văn hóa địa phương đa dạng có sắc thái riêng biệt, độc đáo
Lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc ta gắn với xu thế hội nhập văn hóa các tộc người và đã góp phần tạo nên văn hóa Việt Nam “đa dạng trong thống nhất”
Trải qua một quá trình phát triển lâu dài của lịch sử dân tộc, nền văn hóa Việt Nam ngày càng được khẳng định tính chất bền vững “tập quán là thiên nhiên thứ hai”, câu nói của một danh nhân đã khẳng định điều đó và điều này được chứng minh trong lịch sử hàng ngàn năm dưói ách đô hộ của phong kiến phương Bắc hay hàng trăm năm dưới ách thống trị của thực dân, đế quốc, nền văn hóa của chúng ta không những không bị đồng hóa mà còn đồng hóa lại, tiép thu, phát triển những giá trị văn hóa bên ngoài trở thành bản sắc văn hóa riêng của dân tộc mình
Trong số những dân tộc góp phần tạo nên văn hóa Việt Nam “đa dạng trong thống nhất”, dân tộc Thái là một trong những dân tộc có đóng góp to lớn tạo nên bản sắc văn hóa Việt Nam Dân tộc Thái là một dân tộc đông thứ hai trong các dân tộc thiểu số (sau dân tộc Tày) có 1.328.725 người (năm 1999) Người Thái
cư trú tập trung ở các tỉnh Sơn La, Lai Châu, Điện Biên, Lào Cai,Yên Bái, Hòa Bình, Thanh Hóa, Nghệ An, nhưng đông nhất là tỉnh Sơn La có 482985 người (năm 1999)
Mặc dù là một dân tộc thiểu số nhưng trong quá trình phát triển của mình, dân tộc Thái Đen ở tỉnh Điện Biên đã góp phần to lớn vào quá trình phát triển kinh tế xã hội đặc biệt là góp phần làm phong phú thêm đời sống văn hóa tinh thần đối với tỉnh Điện Biên
Trang 5Trong sự phát triển chung của tỉnh Điện Biên, người Thái Đen ở huyện Điện Biên đã góp phần vào sự phát triển chung của đời sống tinh thần của tỉnh nhà Chính vì điều này, việc tìm hiểu dời sống kinh tế vật chất đặc biệt là đời sống văn hóa tinh thần là điều vô cùng quan trọng Nó không chỉ giúp chúng ta hiểu rõ hơn về đời sống của họ và góp phần nâng cao hiểu biết của mình một cách toàn diện và sâu sắc cũng như nhìn nhận, đánh giá chính xác hơn về dân tộc Thái Đen ở huyện Điện Biên nói riêng và người Thái ở Điện Biên nói chung Cho đến nay đã có nhiều công trình nghiên cứu về dân tộc Thái được công
bố, nhưng do nhiều lý do khác nhau việc nghiên cứu về lễ tang ma, phong tục cưới xin… đặc biệt là tục cưới xin truyền thống của người Thái Đen ở huyện Điện Biên – tỉnh Điện Biên vẫn chưa có công trình nào đề cập đến một cách có
hệ thống, chi tiết Do đó mà tôi quyết định chọn đề tài: “Tìm hiểu tục cưới xin truyền thống của người Thái Đen ở huyện Điện Biên – tỉnh Điện Biên” làm đề
tài nghiên cứu của mình
Việc nghiên cứu sưu tầm, giới thiệu về dân tộc Thái là rất cần thiết nhằm tăng cường hơn thế nữa mỗi quan hệ, giao lưu hiểu biết lẫn nhau giữa các dân tộc trong nước và quốc tế, nhất là đối với các nhà nghiên cứu dân tộc các du khách có nhu cầu nghiên cứu, tìm hiểu về các dân tộc nói chung, người dân tộc Thái Điện Biên nói riêng
Hiện nay, Đảng, Nhà nước và tỉnh Điện Biên đã có sự quan tâm và đầu
tư ngày càng nhiều tới đời sống và các phong tục cổ truyền của dân tộc Thái nhằm mục đích bảo tồn và phát huy những giá trị truyền thống của dân tộc Thái Điện Biên
Trước sự phát triển của xã hội, phong tục của người Thái nói chung và phong tục cưới xin của người Thái nói riêng đang đứng trước nguy cơ mai một dần Vì thế việc nghiên cứu và đánh giá phong tục cưới xin của người Thái Đen ở Điện Biên là việc làm hết sức khách quan và cần thiết trong quá trình lưu giữ và phát triển những nét đẹp trong đời sống tinh thần của người Thái
Trang 6Hơn nữa, tôi là người thích nghiên cứu khoa học Tôi muốn góp một phần nhỏ vào việc bảo tồn, giới thiệu, phát huy truyền thống văn hóa tốt đẹp của đồng bào Thái ở huyện Điện Biên - tỉnh Điện Biên
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Sự chung sống, đoàn kết, hài hòa về nhiều mặt trong đó những nét riêng trong văn hóa của tộc người thiểu số ở Việt Nam đã góp phần tạo nên bản sắc văn hóa Việt và nó làm cho văn hóa các dân tộc người thiểu số “đa dạng trong thống nhất” do đó việc bảo tồn, giữ gìn và phát huy văn hóa truyền thống của các dân tộc đặc biệt là trong giai đoạn hiện nay có ý nghĩa vô cùng quan trọng Chính vì vậy, mà việc nghiên cứu về đời sống của các dân tộc thiểu số (đặc biệt
là đời sống văn hóa) nói chung và dân tộc Thái nói riêng đã thu hút được sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu trong và ngoài nước
Cho đến nay đã có nhiều công trình nghiên cứu về người Thái trong đó có thể kể đến một số tác phẩm quan trọng sau
+ Cuốn: “Người Thái Tây bắc Việt Nam” của Cầm Trọng NXB KHXH Hà
Nội – 1978 đã viết khá đầy đủ về đời sống vật chất và tinh thần của người Thái đặc biệt là khu vực Tây bắc (người Thái tập trung đông nhất)
+ Năm 1968 NXB KHXH cho ra đời cuốn sách; “Sơ lược các nhóm dân tộc Tày – Nùng –Thái ở Việt Nam” của hai tác giả Lã Văn Lô và Đặng Nghiêm Vạn,
cuốn sách có đề cập đến lịch sử hình thành và phát triển của dân tộc Thái ở Việt Nam nói chung
Trong cuốn “văn hóa Thái Việt Nam” của Cầm Trọng và Phan Hữu Dật
NXB VHDT – 1995, các tác giả đề cập chủ yếu tới đời sống, loại hình văn hóa dân tộc cũng như mối quan hệ giữa văn hóa Thái với với văn hóa các dân tộc nói ngôn ngữ Môn- Khơ me ở Tây bắc và một số người ở Tây bắc Việt Nam
+ Khi nghiên cứu văn hóa Thái tác giả Cầm Trọng và Ngô Đức Thịnh đã
viết nên cuốn sách: “Luật tục Thái ở Việt Nam” (tập quán pháp) của NXB
VHDT – 1999 Cuốn sách đã tía hiện lại một cách khá đầy đủ các phong tục tập quán đã trở thành “luật”, “lệ” của bản mường và tất cả mọi người đều phải tuân theo và phải thực hiện trong sinh hoạt hàng ngày như tang ma, cưới hỏi
Trang 7+ Năm 2000 NXBGD đã xuất bản cuốn “Bức tranh văn hóa các dân tộc Việt Nam” trình bày khái quát các bước tiến hành đám cưới của người Thái + Trong cuốn: “Nhà sàn Thái” của tác giả Hoàng Nam, Lê Ngọc Thăng –
NXB VHDT – Hà Nội – 1984, đề cập đến một số nét trong đám cưới của người Thái xung quanh ngôi nhà sàn.Qua các tác phẩm trên ta thấy các giả đã phần nào
đề cập đến cuộc sống, con người, phong tục, văn hóa Thái cổ truyền song ở phạm vi rộng và mang tính khái quát Tìm hiểu phong tục cưới xin truyền thống của người Thái Đen ở huyện Điện Biên – tỉnh Điện biên chưa có tác phẩm nào
đề cập đến một cách cụ thể, chi tiết Do đó, đây là một vấn đề mới cần được quan tâm tìm hiểu
Hy vọng với đề tài: “Tìm hiểu tục cưới xin truyền thống của người Thái Đen ở huyện Điện Biên – tỉnh Điện Biên”, sẽ ít nhiều góp phần tìm hiểu những
nét độc đáo riêng trong phong tục cưới xin của người Thái ở huyện Điện Biên và người Thái tỉnh Điện Biên nói chung Đồng thời góp phần giáo dục truyền thống
văn hóa, ý thức giữ gìn bản sắc dân tộc cho thế hệ trẻ
3 Mục đích, đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu
*Mục đích nghiên cứu
Việc tìm hiểu đám cưới người Thái ở huyện Điện Biên góp phần tìm hiểu những nét đặc trưng văn hóa trong đám cưới của người Thái Trên cơ sở đó phát huy những nét đặc sắc, mặt tích cực trong đám cưới đồng thời đưa ra những giải pháp nhằm loại bỏ những hủ tục không phù hợp với xu thế phát triển mới
*Đối tƣợng nghiên cứu
Trên cơ sở những công trình nghiên cứu về đám cưới của người Thái, đề tài tập trung nghiên cứu đám cưới truyền thống của người Thái Đen ở huyên Điện Biên
*phạm vi nghiên cứu
Để đi sâu tìm hiểu nội dung nghiên cứu của đề tài chủ yếu nghiên cứu về tục cưới xin truyền thống của người Thái Đen ở huyện Điện Biên Phạm vi, không gian tập trung ở các xã Thanh Nưa, Thanh Luông, Thanh Hưng, Thanh Xương
Trang 84 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu khóa luận tác giả sử dụng các phương pháp chủ yếu sau:
- Phương pháp lịch sử: đây là phương pháp bao trùm của đề tài: Mô tả, tái hiện, tường thuật đi sâu vào các tình tiết cụ thể để làm nổi bật các giai đoạn, quá trình của phong tục cưới xin của người Thái ở huyện Điện Biên
- Phương pháp lôgic: Trên cơ sở những sự kiện, hiện tượng cụ thể, tác giả rút ra những nhận định, đánh giá, tiếp cận bản chất của sự vật
- Phương pháp điền dã: Do đặc điểm của đề tài, tác giả chú trọng sử dụng phương pháp điền dã: đi thực tế tại các bản người Thái ở huyện Điện Biên quan sát chứng kiến của các đám ăn hỏi, đám cưới, phỏng vấn những bậc cao tuổi, bậc trung niên… rút ra những kết luận chung nhất về đám cưới của người Thái ở Điện Biên
5 Đóng góp của đề tài
Trong đề tài này, tác giả góp phần vào việc khôi phục lại bức tranh văn hóa truyền thống của người Thái ở huyện Điện Biên Qua đó giúp chúng ta hiểu được những tục lệ tốt đẹp của cha ông ta từ xưa và những tục lệ đó được thế hệ trẻ kế thừa, giữ gìn và phát huy như thế nào Đồng thời dần xóa bỏ những hủ tục lạc hậu ảnh hưởng đến sinh hoạt, đời sống hàng ngày của đồng bào phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội trong sự nghiệp công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước
Mặt khác góp phần vào việc phát triển ý thức tốt đẹp, quan niệm vì nhân sinh quan truyền thống trong đó chúng ta chú trọng những tục lệ tốt đẹp xưa nay được lưu truyền trong nhân dân chẳng hạn “lễ về nhà chồng” sau khi cưới là một tục lệ tốt đẹp cần được phát huy
Đề tài hoàn thành sẽ cung cấp nguồn tư liệu cho việc tìm hiểu lịch sử địa phương đặc biệt là việc tìm hiểu văn hóa của các tộc người thiểu số nói chung, văn hóa của người Thái ở tỉnh Điện Biên nói riêng trong việc học tập, nghiên cứu giảng dạy lịch sử địa phương từ đó đề ra những giải pháp nhằm bảo vệ và phát huy truyền thống văn hóa dân tộc trong xu thế phát triển mới của xã hội
Trang 96 Bố cục của khóa luận
Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục khóa luận gồm 3 chương:
Chương 1: Khái quát về nguồn gốc lịch sử và văn hóa của người Thái Đen
ở huyện Điện Biên – tỉnh Điện Biên
Chương 2: Tục cưới xin truyền thống của người Thái Đen ở huyện Điện Biên – tỉnh Điện Biên
Chương 3: Những chuyển biến của tục cưới xin người Thái Đen ở huyện Điện Biên – tỉnh Điện Biên trong giai đoạn hiện nay
Trang 10CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT VỀ NGUỒN GỐC LỊCH SỬ VÀ VĂN HÓA CỦA NGƯỜI
THÁI ĐEN Ở HUYỆN ĐIỆN BIÊN - TỈNH ĐIỆN BIÊN
1.2 Nguồn gốc lịch sử
* Nguồn gốc người Thái qua sử liệu
Cho đến nay việc nghiên cứu li ̣ch sử cư trú của người Thái ở Điện Biên nói chung, ngườ i Thái ở huyện Điện Biên nói riêng còn có nhiều ý kiến khác nhau Căn cứ và o các tài liê ̣u thành văn „„Quam tô mương ‟‟ (kể chuyê ̣n bản mường ) hay „„Tay pú sấc‟‟ ( dõi theo những bước đường chinh chiến của cha ô ng ) „„Hi ̣t khoong bản mường‟‟(phong tu ̣c tập quán) Piết mương, phanh mương…
Những công trình nghiên cứu nguồn gốc li ̣ch sử của người Thái của các nhà khoa ho ̣c đã kết luâ ̣n rằng : Người Thái ở Viê ̣t Nam nói chung và người T hái ở Điê ̣n Biên nói riêng đều có nguồn gốc ở Đông Nam Á cổ đa ̣i thuộc đa ̣i chủng Mônggôlôít Đại chủng Môn ggôlôít gồm cá c tiểu chủng da đỏ Châu Mỹ Hầu hết các tộc người ở Đông Nam Á cổ đa ̣i thuộc ti ểu chủng Môn ggôlôít Phương Nam Tiểu chủ ng Mônggôlôít thuộc các nhóm loại hình: Anhđônêdiêng, Nam Á, Vêđôti, Nêgrôti Người Thái thuộc nhóm loa ̣i hình Nam Á
Theo truyền thuyết dân gian cũng như các văn tự chữ Thái tồn tại đến ngày nay, những văn bản t rên lá cây , giấy bản , sách những cuốn sách sử chép tay hàng trăm trang… đã nói về quê hương nơi chôn nhau, cắt rốn là vùng ba dải đất
Trang 11lớn được tưới bởi chín con sông và là nơi sông Đà gă ̣p sông Hồng (Đin xam xẩu,
nâ ̣m cẩu que, pá Té Tao) Đó là vùng Vân Nam (Trung Quốc) vào Tây bắc Việt Nam, chốn đầu ngu ồn của Nậm Tao (Hồng Hà ), Nậm Tè (Sông Đà), Nâ ̣m Ma (Sông Mã), Nâ ̣m Khoong (Sông Mê Kông), Nâ ̣m U, Nâ ̣m Na…
Trước thế kỷ XI, nhiều nhóm Thái lẻ tẻ di cư vào vùng Tây bắc (Viê ̣t Nam) sống xen kẽ bên người Khơ mú, nhưng la ̣i có truyền thuyết nó i rõ nguồn gốc của người T hái ra đời ở mảnh đất Mường Thanh(Điê ̣n Biên ) mà xưa kia gọi là Mường Then, Mường Bó Té (đầu nguồn sông Đà ), lại có truyền thuyết nói rằng ,ngườ i Thái sinh ra từ quả bầu tiên của mảnh đất Mường Thanh, có tài liệu khác viết rằng “ Người Thái Đ en ở đất Hán , đưa nhau xuống ăn ở , ở Mường Lò –Nghĩa Lộ (Yên Bái )‟‟ Ở đây họ tiế n hành khai phá ruộng nươ ng, lâ ̣p bản mường Đến đời con là Ta ̣o Mường tiếp tục phát triển đến vùng đất xung qu anh Khi đất Mường Lò trở nên châ ̣t he ̣p , người đông thì cu ̣ chủ La ̣n Chượng họ Lò Cầm đã tâ ̣p hợp được 11 họ người Thái gồm: Lò Ngần, Lò Nọi, Lường, Quàng,
Cà, Tòng, Lèo, Vi, Lừ, La, Mè, lên cư trú trên đất của người T hái phân tán r a khắp các vùng ở Tây Bắc
Lạn Chượng (có người gọi là Lạc Chượng ) là con của Tạo Lò tiếp nố i cuô ̣c hành quân của người Thái Đ en phát triển thế lực từ Mường Lò đến Mường Chiên, Mườ ng Trai , Ít Ong huyện Mường La – Sơn La và sau mười năm thì người Thái Đen đến Mường Thanh (Điê ̣n Biên ) Cuộc di dân kéo dài đến hơn hai mươi năm và Mường Muổi trở thành trung tâm của người Thái Đen
Theo tác giả Cầ m Trọng và Phan Hữu Dật người T hái có mặt ở Tây bắc ít
ra cũng từ các thế kỷ đầu công nguyên
Nếu như các thế kỷ đầu công nguyên , lịch sử miền Vân Nam Trung Quốc đã xuất hiê ̣n khối Ô Man Đông Thoán và Ba ̣ch Man Tây Th oán thì rất có thể người Thái đã có mặt trên các điểm như Nậm Lai Nong Se , Mường Ôm, Mường
Ai và Mường Tung Hoàng và một số nơi như vùng lòng chảo Mường Then (Thanh), Mườ ng Tấc (Phù Yên – Sơn La)
Vào khoảng thế kỷ VII -VIII người T hái đã đạt quyền làm chủ nước Nam Chiếu t ừ các dân tộc nói tiếng Tạng – Miến và xúc tiến các đợt di cư để tìm
Trang 12miền đất mới dựng bản mường … Nhóm Táy Đăm Mườ ng Then di cư sang đất Lào rồi đến miền Tây Thanh H óa, Nghệ An
Theo dã sử và truyền thuyết của người Thái thì việc mở đất của họ gắn liền với các cuộc chiến tranh chinh phục các tộc người thuộc ngữ hệ Môn – Khơ me,
bộ phận cư dân có nguồn gốc xa xưa ở vùng đất này cho đến thế kỉ XII, người Thái hoàn toàn làm chủ đất Mường Thanh, biến nơi đây thành trung tâm thu hút người Thái khắp miền với sự thống trị của Lạn Chương và các con cháu của ông Càng về sau do sự bất hòa của anh em trưởng thứ quý tộc nên các thế lực quý tộc Mường Lay và Mường Lự ở thượng Lào đã đánh đuổi quý tộc Thái Đen
ở Mường Thanh nên các con cháu Lạn Chượng phải di cư về Mường Muổi (Thuận Châu – Sơn La)
Sau khi ổn định đến thế kỉ XIV dưới thời chúa Lò Lẹt, Mường Muổi đã trở thành trung tâm nổi tiếng trong vùng người Thái ở khắp miền Tây Bắc nói chung Khoảng cuối thế kỉ XIV, dưới thời Tạo Ngần, Mường Muổi đã trở thành trung tâm thống nhất bộ tộc Thái ở phía Tây, quy tụ được cả một vùng cư dân rộng lớn với nhiều tộc người khác nhau về ngôn ngữ, phong tục tập quán về với chính quyền phong kiến trung ương tập quyền
Sau này cho dù xã hội Thái đã tr ải qua những n ăm tháng bi ̣ bọn phong kiến, đế quốc chia rẽ … nhưng li ̣ch sử của người Thái vẫn phát triển thống nhất Đó là một nhóm đi ̣a phương của một tộc người thiểu số thuộc đa ̣ i gia đình dân tộc Viê ̣t Nam Nó có màu sắ c riêng nằm trong sắc thái chung của dân tô ̣c Viê ̣t Nam
Hiện nay, huyện Điện Biên là địa bàn cư trú của 8 dân tộc anh em khác nhau như Thái, Mông, Lào, Khơ mú, Cống, Kinh, Nùng, Tày Với dân số khoảng 108,389 người (2010) chiếm đông nhất là dân tộc Thái, chủ yếu là Thái Đen (chiếm gần 80% dân số)
Người Thái Đen ở huyện Điện Biên – Điện Biên thuộc ngành Thái Đen (Tay Đăm), sử dụng ngôn ngữ Thái thuộc ngữ hệ Tày – Thái Trong quá trình phát triển của Việt Nam, mặc dù bị phong kiến phương Bắc đô hộ hàng nghìn năm, nhưng ngôn ngữ Thái cùng chữ viết không bị đồng hóa Cho đến nay việc
Trang 13phân biệt giữa hai ngành Thái Trắng và Thái Đen chỉ mang tính chất tương đối dựa vào một số điểm khác biệt về ngôn ngữ, cấu trúc, nhà sàn, lễ hội, trang phục trong đó chủ yếu dựa vào trang phục của người phụ nữ Vì thế mà có người nhận xét: “Có thể nói rằng trong văn hóa dân gian, trang phục, đặc biệt là trang phục phụ nữ là cái mà ở đó bản sắc dân tộc được biểu hiện rõ rệt, thường xuyên và lâu bền nhất”
Người Thái ở tỉnh Điện Biên nói chung và người Thái Đen ở huyện Điện Biên nói riêng vẫn còn mang đậm những đặc trưng văn hóa truyền thống và nó được lưu truyền qua nhiều thế hệ Chính điều này thu hút sự quan tâm của nhiều học giả nghiên cứu về mảnh đất Điện Biên nhiều truyền thống văn hóa này
1.3 Những đặc trưng văn hóa truyền thống của người Thái ở huyện Điện Biên – Tỉnh Điện Biên
Huyện Điện Biên là địa bàn cư trú của nhiều dân tộc anh em khác nhau như: Mông, Kinh, Khơ Mú, Tày… trong quá trình xây dựng và phát triển vùng đất này đã diễn ra sự giao lưu văn hóa giữa các dân tộc anh em và kéo dài hàng ngàn năm nay, sự hòa trộn văn hóa giữa các dân tộc tạo nên tính đa dạng nhưng thống nhất về văn hóa trong cộng đồng các dân tộc anh em nhưng ta thấy mỗi dân tộc lại mang những đặc trưng văn hóa riêng tạo nên tính độc đáo trong đời sống văn hóa tinh thần của mỗi dân tộc và dân tộc Thái ở huyện Điện Biên tỉnh Điện Biên đặc biệt là Thái Đen mang đậm những đặc trưng văn hóa truyền thống của dân tộc mình, đó là về cách ăn, mặc đặc biệt là trong đời sống văn hóa tinh thần Người Thái đã nói:
“Ăn cơm nếp, uống rượu cần Ở nhà sàn, mặc “xửa cỏm”
Hoặc người Thái cũng có câu:
“Đi ăn cá về nhà uống rượu Ở thì ngủ đệm, đắp chăn ấm”
Cơ cấu bữa ăn của người Thái gồm có gạo, ngô, sắn và rau cá, thịt các loại Người Thái thích ăn cơm nếp, đồ xôi, các món ăn được chế biến cầu kỳ nhiều
Trang 14gia vị Họ thích ăn các vị chua, cay, hay ăn sống hoặc tái với nhiều gia vị thơm ngon như loại “chéo”, xôi và nướng
Trang phục cũng là một trong những nét văn hóa đặc sắc của người Thái Trang phục của người phụ nữ Thái gọn không cầu kỳ Váy áo đã làm nổi bật những đường nét của phái đẹp thật hấp dẫn Màu sắc váy áo được sử dụng rất khéo léo trên nền đen hay trắng, áo được điểm bằng hàng khuy bướm bạc, chạm trổ tinh vi, trang nhã gấu váy có nơi dệt hoa văn độc đáo mang phong cách của dân tộc và địa phương rõ rệt Trong những ngày lễ tết, đám cưới những bộ váy
áo đẹp nhất được các cô gái Thái chọn làm trang phục chính và nó càng tô thêm nét đẹp duyên dáng của người phụ nữ
Đối với nam giới, trang phục không cầu kỳ và hầu như không có hoa văn
mà thường bằng quần có nhuộm chàm
Phụ nữ Thái Đen khi có chồng thì tẳng cẩu, đội khăn Piêu sặc sỡ Cách ăn mặc của họ thể hiện sự khéo léo của người phụ nữ và thể hiện sự hòa hợp của con người với cuộc sống thiên nhiên
Một trong những sản phẩm độc đáo của nền văn hóa vật chất của đồng bào Thái Tây Bắc là hình ảnh của ngôi nhà sàn cổ, hài hòa với môi trường tự nhiên
và xã hội Ngôi nhà sàn của đồng bào Thái Điện Biên - Tây Bắc có cấu trúc mái che hình mai rùa, có khâu cút chọc trời… đã trở thành biểu tượng độc đáo của
“văn hóa dân tộc, của núi rừng hùng vĩ”
Nhà sàn được làm bằng gỗ tre không hề có vôi vữa và rất ít sắt thường làm một kiểu đơn giản
Nhà sàn người Thái có cấu trúc đơn giản không có phòng riêng cho từng thành viên mà chỉ chia ngăn ô bằng những tấm rèm hoặc chồng chăn đệm Hiện tượng này nói lên tính cổ xưa, giống như nhà các dân tộc Tây Nguyên Ngày nay nhiều vùng người Thái đã tách bếp ra khỏi nhà ở Nhà sàn bếp thường mở cửa đối diện với cửa gian hỏng chan, gọi là sàn kép
Người Thái thành thạo làm thủy lợi, thể hiện qua câu thành ngữ “Mương Phai lài lín” (Khơi mương đắp đập dẫn nước qua chướng ngại, đặt máng trên
Trang 15cánh đồng) Đặc biệt là lợi dụng sức nước dùng hệ thống cây con quay đưa nước
từ sông suối lên đồng
Họ canh tác ruộng nương sử dùng cày, cuốc làm đất, trồng lúa, ngô, khoai, sắn, vừng, lạc, bầu, bí, rau xanh, trồng bông, chàm Canh tác vườn để trồng cây ăn quả, rau xanh và họ sử dụng cả vườn treo (đổ đất vào máng đặt trên sân sàn trồng rau, gia vị, húng hành, tỏi, ớt…)
Người Thái trước đây có tập quán nuôi trâu bò thả rông trong những púng rào giậu kín, tự chung sống, sinh đẻ, đến mùa mới bắt trâu về kéo cày Nay đã nuôi trâu theo gia đình, có chuồng trại riêng Ngoài ra còn chăn nuôi lợn, gà, vịt, ngan, ngỗng, vừa để sử dụng trong lễ tết, sinh hoạt hàng ngày và hàng hóa
Nghề thủ công của người Thái rất phong phú, phát triển đạt trình độ cao Phổ biến trong mỗi gia đình là nghề đan lát mây tre, may lọi thành những tấm cót trải sàn, những vật dụng hằng ngày (như nong, nia, dần, sàng, dậu, mặt ghế…) Đặc biệt nghề kéo sợ dệt vải là công việc gần với mỗi gia đình, gắn với mỗi người phụ nữ Thái Ngoài ra, còn có những nghề thủ công mang tính chuyên nghiệp như rèn nông cụ xẻng, cuốc, lưỡi cày, dao, kéo… Người Thái
đã biết dùng bàn xoay, độ nung cao trong nghề làm đĩa đạt trình độ kĩ thuật và
kĩ thuật
Kinh tế hái lượm vẫn chiếm vị trí đáng kể trong đời sống của người Thái Rừng cung cấp các loại rau, quả, hạt, nấm, mộc nhĩ, măng, rêu đá, các loại côn trùng, các loại thú nhỏ, thú lớn Các khe suối cho tôm, cua, ốc, cá nhỏ, các suối lớn cho cá to Người Thái có câu “Pây kín pá má kin lẩu” (đi ăn cá về uống rượu) Nói lên việc ăn cá là một thú vui ở người Thái
Người Thái ở Việt Nam là một trong bốn dân tộc (Thái, Lào, Chăm, Khơ mú) Có chữ viết cổ nên đã có văn tự từ lâu đời Nhờ đó mà cư dân Thái đã lưu lại đến ngày nay những tác phẩm mang tính sử thi, văn học lớn… Những tác phẩm đó có giá trị trong việc nghiên cứu về người Thái ở Việt Nam nói chung
và người Thái ở tỉnh Điện Biên nói riêng Với những tác phẩm như “Xống chụ xon xao”, “Chương Han”, “Quan tô mương”… và những bài dân ca của dân tộc mình được hát trong những ngày lễ tết cũng như trong cuộc sống đời thường
Trang 16Múa xèo có từ lâu đời Tổ tiên của người Thái dặn con cháu rằng
Không xèo không tốt lúa
Không xòe thóc cạn bồ
Múa xèo thường được tổ chức chung quanh một đống lửa lớn, xung quanh
là các vòng tròn cùng hướng vào tâm là đống lửa
Xèo bao gồm hai điệu múa cơ bản: Xèo nắm tay và xòe tung khăn Thiếu
nữ Thái áo cóm có hàng cúc bạc lấp lánh, khăn piêu rực rỡ Xòe tay mời khách cùng đứng vào vòng xòe Tay nắm tay bước đi, nhún theo nhịp trống, nhịp xúc xắc và khèn bè Vòng xòe chụm vào rồi lại xòe ra như một bông hoa nhiều tầng Múa xòe là động tác gợi về câu chuyện Hành trình đi tìm đất cư trú của ông Tạo Lò tổ tiên xưa của người Thái Ông dẫn đoàn người đi qua Mường Tấc (Phù Yên) Qua mường Than (Than Uyên) vòng xòe Thái có rất nhiều ý nghĩa sâu lắng Trong dịp lễ hội, đón mừng xuân mới về khắp các bản Mường người Thái đều rộn rã, âm vang tiếng trống, tiếng chiêng nhịp nhàng theo vòng xòe Thái Sinh sống chủ yếu bằng nghề nông nghiệp trong điều kiện khoa học kỹ thuật còn thô sơ, chưa phát triển, người Thái đã thần thánh hóa và tôn thờ các lực lượng tự nhiên Tín ngưỡng vạn vật hữu linh là tín ngưỡng phổ biến trong cộng đồng người Thái Người Thái nhận thức về vũ trụ với hai tầng cơ bản Mường Côn – nơi ở của con người và vạn vật Mường Pha – Nơi ở của các vị Then và là nơi trú ngụ của các linh hồn người chết Họ quan niệm Then Luông
là vị thần ngự trị trên Mường Pha Then Luông là vị thần có quyền lực nhất Then cai quản mường trời và trần gian Dưới trần gian bất cứ vật nào cũng có linh hồn, nơi nào cũng có Phi (Ma) làm chủ con người muốn lập bản dựng mường, làm nương, bắt cá,… đều phải xin phép các thần (ma) này nếu không xin phép công việc của họ chẳng những thất bại mà có khi họ còn bị các loại ma này làm cho ốm đau, bệnh tật, thậm chí bị chết
Người Thái quan niệm con người có đến 80 linh hồn các hồn này trú ngụ ở các bộ phận trên cơ thể con người khi con người ốm hoặc đau ở một bộ phận nào đó trên cơ thể là khi các hồn trông coi bộ phận đó bị lạc khỏi cơ thể, cần phải cúng gọi hồn trở về đầy đủ thì cơ thể con người mới khỏe mạnh Khi con
Trang 17người chết đi, các hồn cư trú ở các nơi: một số hồn ngụ tại gian hoóng trong nhà sàn để phù hộ con cháu…Trong tín ngưỡng của người Thái, mỗi hồn này đều có những chức năng riêng chúng chuyển đổi theo vòng luân hồi và có mối liên hệ với cả hai thế giới người sống và người chết Phong tục, tập quán tang ma và nghi thức trong các lễ hội của người Thái thể hiện rất đậm nét tín ngưỡng về linh hồn và tín ngưỡng vạn vật hữu linh của họ
Trong tang ma, người Thái thực hiện nhiều hình thức tang lễ: Tang lễ cho người chết bình thường, cho người chết bất đắc kỳ tử (chết trôi sông suối, chết mất xác…) mỗi hình thức tang lễ đều có những quy định và nghi lễ riêng Các nghi lễ tang ma của người Thái thường tuân thủ theo các bước: các nghi lễ lúc người chết mới tắt thở, nhưng khi thức cúng cơm, viếng thăm, chia buồn của cộng đồng; những nghi thức chọn gỗ làm quan tài, cúng giỗ và để tang… Bên cạnh những nghi thức tang lễ cơ bản thì từng dòng họ, từng dòng họ hoặc từng ngành, có những nghi thức riêng Chẳng hạn có những vùng, những dòng họ người Thái hỏa táng thi hài người chết nhưng cũng có những vùng họ để xác người chết vào trong quan tài và chôn dưới đất…
Người Thái có hệ thống lễ hội vô cùng phong phú và độc đáo Mỗi lễ hội
có những hình thức tổ chức riêng và hướng tới những mục đích khác nhau: lễ hội sên bản, sên mường cầu cúng thần đất, thần nước, thần bản mường và những người có công khai phá lập bản, dựng mường…để mong họ phù hộ cho con người và vạn vật ở bản, mường đó được khỏe mạnh, mưa thuận gió hòa, chăn nuôi trồng trọt phát triển không có ốm đau, bệnh tật… lễ hội chá chiêng là lễ hội giúp những linh hồn ông bà tổ tiên mang lễ vật lên mường Phạ dâng nộp cho Then Luông, cầu xin Then Luông phù hộ cho tổ tiên; xên Phắn Bẻ là lễ giải hạn, cầu mong sức khỏe „„Hạn Khuống‟‟ là một sinh hoạt văn nghệ dân gian độc đáo của nam nữ thanh niên dân tộc Thái; xên lẩu nó là lễ rượu măng cầu mong ma nhà phù hộ mọi người trong nhà được khỏe mạnh, bình an; kin Pang Thèn là lễ cúng mừng thầy Kin khẩu Mẩu là lễ mừng cơm mới, lễ cúng mẹ lúa, cầu mong
mẹ lúa phù hộ để vụ lúa sau được mùa màng bội thu
Trong dịp tết đến, xuân về, các làng, bản thường tổ chức nhiều cuộc vui chơi, giải trí mang màu sắc tôn giáo như tục ném còn, kéo co, “Kin lẩu” (uống rượu) có đánh trống
Trang 18Việc ăn tết Nguyên Đán, cúng sóc vọng (ngày mùng một và ngày rằm) là tiếp thu từ người kinh Một số lễ mới hình thành như tết Độc Lập (mùng 2, tháng 9), ngày chiến thắng Điện Biên Phủ (mùng 7, tháng 5) hoặc ngày giải phóng Miền Nam (ngày 30, tháng 4) làm phong phú thêm nghi lễ của người Thái trong sự hòa đồng của các dân tộc anh em
Với bản sắc văn hóa riêng của mình, người Thái ở Điên Biên đã tạo nên bức tranh văn hóa phong phú đa dạng nhưng thống nhất trong bức tranh văn hóa chung của cộng đồng các dân tộc Việt Nam những đặc trưng văn hóa đó đã trở thành truyền thống của cộng đồng bào Thái trong quá trình xây dựng và phát triển toàn diện dân tộc mình Truyền thống đó vừa là niềm tự hào vừa là động lực thúc đẩy chúng ta thực hiện những mục tiêu đã đặt ra trong quá trình xây dựng đất nước theo con đường xã hội chủ nghĩa, xây dựng thành công Tổ Quốc Việt Nam, xã hội chủ nghĩa giàu mạnh ấm no hạnh phúc
Trang 19CHƯƠNG 2 TỤC CƯỚI XIN TRUYỀN THỐNG CỦA NGƯỜI THÁI ĐEN
Ở HUYỆN ĐIỆN BIÊN - TỈNH ĐIỆN BIÊN 2.1 Quan niệm của người Thái về tình yêu, hôn nhân
2.1.1 Những tác động của hoàn cảnh đến tình yêu, hôn nhân của người Thái Đen ở Điện Biên – Điện Biên
Đồng bào Thái ở Điện Biên – Điện Biên sinh sống bằng nghề nông là chủ yếu, với việc trồng nương, rẫy, kinh tế nông nghiệp trồng lúa nước không phát triển mấy, khoa học, kỹ thuật chưa được áp dụng vào sản xuất nên đời sống của người dân nơi đây còn gặp nhiều khó khăn Do đó mà ảnh hưởng đến mọi mặt của đời sống xã hội và chuyện tình yêu, hôn nhân của đồng bào Thái ở huyện Điện Biên không nằm ngoài ảnh hưởng đó
Thời phong kiến người Thái Đ en lấy vợ, lấy chồng rất sớm Nữ thường là 13,14 tuổi, nam thì 15 hoặc 16 tuổi Các cô gái mới 12,13 tuổi đã thêu “Piêu”, chăn, đệm để chuẩn bị lấy chồng Vì vậy, người phụ nữ suốt ngày chỉ bận việc làm bông, dệt vải, may thêu và cơm nước ngoài ra không biết gì tới việc xã hội Tầm hiểu biết của phụ nữ do đó rất bị hạn chế
Trước cách mạng, trong xã hội người Thái Đen Tây Bắc việc phân chia giai cấp làm cản trở lớn cho hôn nhân giữa quý tộc và dân thường Rất ít khi có trường hợp dân lấy nàng (con gái quý tộc), hoặc nếu có thì người con gái rất bị coi khinh, chê cười và bị trục xuất ra khỏi họ quý tộc Trường hợp con trai quý tộc lấy con gái dân nhưng chỉ là lấy làm vợ lẽ Nếu có lấy làm vợ cả đi nữa thì sau này khi tên quý tộc lấy vợ nữa là con quý tộc thì vợ sau cũng vẫn làm vợ cả có quyền hành hơn Do việc phân biệt giai cấp chặt chẽ như vậy nên có rất nhiều trường hợp trai gái yêu nhau mà không thể nào lấy được nhau Đó là một sự thật đau đớn của thanh niên Thái, và sự thật đó đã được nhân dân đúc kết lại thành rất nhiều bài thơ, câu chuyện trữ tình Điển hình là những tác phẩm “Tình ca” (Tản chụ Xiết Xương),
“tiễn dă ̣n người yêu”, (xuống chụ son sao) “Chàng lú nàng ủa” (Khun lú – Náng ủa) mà người Thái kể ít nhiều ai cũng biết cũng thuộc, một vài câu thơ trữ tình trong các tác phẩm như trên
Trang 20… Đẩy thuyền trôi chở đá nhọn giữa ghềnh
Không người chèo lái giúp anh
Người khổ rồi, em yêu không thương
Người xanh vàng, không chờ
Có đâu quay mặt tiếc trống,…
Trích tình ca “Tản chụ Xiết Xương”
Hoặc:
… Nghìn lá trầu không hãy biến thành đá
Lời trao gửi nên duyên, hay cho hợp số đôi ta, mình hỡi!
Trích tình ca “Tản chụ Xiết Xương”
Bài “Chung lứa chung nòi”
Người Thái Đen Tây Bắc lấy vợ, lấy chồng không chênh lệch tuổi nhiều Thường chồng hơn vợ 2, 3 tuổi tới 4, 5 tuổi, có trường hợp vợ hơn chồng vài tuổi nhưng rất ít Trái lại quý tộc thì lấy vợ rất trẻ, có khi vợ kém chồng tới ngoài 20 tuổi, nhưng đó là vợ sau còn vợ cả tuổi cũng không chênh lệch nhau
2.1.2 Trai gái tìm hiểu nhau
Trước Cách mạng tháng Tám, các chàng trai, cô gái tìm hiểu trong những phiên chợ, ngày hội, mùa xuân, mừng lúa mới, những buổi đi làm nương và nhất
là trong ngày hội „„ném còn”, sinh hoạt văn nghệ “Hạn Khuống” Ngoài những ngày hội đó, người con trai còn dùng sáo, đánh đàn môi, thổi kèn và chọc sàn để gọi người yêu xuống nói chuyện, đi chơi
Đồng bào Thái Đen thường tổ chức những ngày vui chung vào dịp thu hoạch xong mùa màng, ngày tết, những mùa khí hậu trong mát, phong cảnh tươi đẹp Ngày vui chung được thanh niên đặc biệt ưa thích là ngày hội „ném còn” Người con trai đi dự hội mang theo một hoặc hai đôi vòng tay bằng bạc Nữ cũng mang ít nhất 2 cái khăn đội đầu do tay mình thêu (cái piêu) có khi mang bốn “cái piêu” theo Tất cả mọi người tới chỗ tập trung vui chơi của cả bản, là nơi có miếng đất rộng hoặc cánh đồng rộng, bằng phẳng Trong bãi thanh niên
“ném còn” hò reo, quanh bãi những người có gia đình đứng xem vỗ tay ủng hộ Cuộc vui diễn ra rất sôi nổi suốt ngày Nếu nữ ném cho nam quả “còn” mà nam
Trang 21bắt trượt thi phải cho nữ 1 hoặc 2 vòng tay bạc Nam ném cho nữ, mà nữ bắt trượt thi phải cho nam 2 cái “Piêu” Tối đến tổ chức buổi hát xin lại của đã bị mất vì thua Bên nữ làm cơm mời tất cả các anh con trai đã lấy được khăn tới ăn
để hát xin lại Mỗi cô được trả lại “Piêu” phải tặng lại một khăn mặt trắng có thêu sơ sài Bên nam cũng tổ chức xin lại vòng tay nhưng khi người con gái trao trả vòng tay thì anh con trai phải biếu 5 hào hoặc 1 đồng bạc trắng Trường hợp anh con trai đã để ý tới cô con gái mà mình được bắt phạt khăn thì anh ta không trả ngay “Piêu” mà giữ lại mấy ngày sau mang sáo, khèn, đàn môi tới nhà cô gái thổi để rủ đi chơi Ngoài ngày hội “ném còn” người Thái Đen có sinh hoạt văn nghệ “Hạn Khuống” thường người ta tổ chức “Hạn khuống” trong khoảng mùa đông tới hết mùa xuân Đó là mùa khô ráo, nghỉ ngơi ăn tết, thuận lợi cho việc vui chơi của nam nữ thanh niên “Hạn Khuống” là một cái sàn cao từ 1m tới 1m50, diện tích sàn khoảng từ 20m2
tới 30m2, xung quanh có rào chắn, người lên, người xuống bằng một cái thang có 3 bậc Giữa sàn có bếp lửa, cạnh bếp xung quanh có dựng 5 cây cột bương gọi là “lắc sáy” Trên thân bương to, thẳng
có trang hoàng bằng những vọng nan, hình con chim… nhuộm màu xanh đỏ Phụ nữ là người chủ trì của ngày sinh hoạt văn nghệ “Hạn Khuống” này tất cả hội viên có từ 5 tới 10 chị gọi là “sao lắc sáy” biết hát giỏi, trong đó có một chị làm tổ trưởng gọi là “Me tổn khuống” nữ thanh niên lên cả trên sàn, mỗi người đều có mang theo vật liệu, dụng cụ của mình để có thể lên đó ngồi khâu, thêu, quay tơ… “Me tổn Khuống” ngồi sát cột giữa còn chị em khác ngồi quanh đó, làm việc Nam giới không được lên sàn nếu không hát đối lại được với bên nữ Khi anh con trai được coi như đại diện nam giới hát đối lại được với “Me tổn khuống” và phe nữ rồi, thì nam giới được lên sàn Bên nam hát xin ghế ngồi, được ghế lại hát xin mượn điếu hút thuốc Bên nữ từ chối là “điếu còn ở xa, bố
và em đi lấy chưa về, các anh hãy chờ…” Bên nam phải xin lần hai mới cho mượn điếu Sau đó vừa hút thuốc vừa hát những bài hát sáng tác tự do, để ca ngợi bản làng, ca ngợi lao động, và nói bóng, nói gió tới nỗi lòng của mình đối với các cô con gái mà mình thầm yêu Lúc này các cụ cũng lên sàn vừa uống rượu, chuyện trò vừa đan vó, khâu… trong khi đó thanh niên vẫn hát đối tự do
Trang 22tình cảm của mình cho tới sáng “Hạn Khuống” là một thứ “Tao đàn” để thanh niên nam nữ thi hát theo lối ứng khẩu Thơ ca “Hạn Khuống” rất được nhân dân
ưu thích, mang đầy tính chất trữ tình, ca ngợi lao động, nói lên lòng quyết tâm xây dựng một đời sống đầy đủ hạnh phúc Hình thức “Hạn Khuống” đã có từ rất lâu đời, nó là hình thức văn nghệ rất lành mạnh của đồng bào Thái Đen Do đó người Thái rất thích và chờ đón ngày vui bổ ích này
Ngoài “Hạn Khuống” đồng bào Thái còn có những ngày “sên mường”,
“sên bản” để cầu mùa màng, bình yên, “hắp nặm cọn mường” (hội bắt cá), hái hoa ban, đua thuyền… là những dịp để đồng bào ca hát, xòe… Nhưng trước cách mạng xòe múa biến thành trò vui tiêu khiển của bọn thống trị, nhất là khi thực dân Pháp xâm lược thì cái đôi xòe để mua vui cho bọn thống trị phong kiến
đế quốc được thành lập Bọn thống trị bắt toàn con gái đẹp vào đội xòe, vì vậy sinh hoạt văn nghệ lành mạnh của dân tộc Thái đã bị bọn chúng lợi dụng và làm trái ngược hẳn tính chất tốt đẹp của nó trong khi nhân dân rất yêu thích hình thức xòe múa này thỉnh thoảng họ mới có điều kiện tổ chức Ngoài những cuộc vui chung ở trên thanh niên Thái Đen còn có những hình thức tìm hiểu riêng từng đôi: bất cứ mùa nào, nếu anh con trai để ý người con gái nào thì tới nhà cô
đó ban đêm và thổi sáo, khèn hoặc đánh đàn môi Có trường hợp anh con trai mạnh bạo, biết đích xác chỗ ngủ của người con gái lên mang theo chiếc gậy, gõ vào sàn chỗ cô con gái ngủ để gọi Nếu người con gái đồng ý thì sẽ đánh tiếng
và ra ngoài sân ngồi nói chuyện ở bếp trên sàn (chi phay) Trường hợp anh con trai và người yêu ở cùng bản đã vậy nhưng có khi ở bản khác, thậm chí ở cả những bản rất xa xôi cũng thường băng rừng, vượt núi trong đêm tối tới nhà người yêu để thổi khèn, đánh đàn môi Suốt đêm, do đó có phần nào ảnh hưởng tới năng suất lao động ngày hôm sau
Trong quá trình tìm hiểu nhau đôi trai gái thường dùng lời hát để nói lên tình cảm của mình Gọi là hát đối đáp
Bên nam hát:
Giờ đây trai nhớ lời hẹn anh ngắm trăng sao,
Nhớ lời thương, anh ngắm trăng sao sáng tỏ
Trang 23Nhớ trăng sao sáng bao nhiêu càng nhớ em bấy nhiêu
Anh rảo bước về tới nhà thăm em
Đến với em giữa đêm khuya thanh vắng
Trai mới giơ tay đánh thức em ngủ say dậy
Dậy đi em dạy đi
Em thương yêu của anh ơi!
Anh đây không phải trai mường xa nào đến
Không phải trai khác bản nào về
Anh đây đã được yêu em từ thỏa ấy
Đáp lại tình cảm của người con trai, người con gái hát
Em đây nghe lời anh như đường phên ngọt
Dường như lạch suối nhỏ chảy xuống thác ghềnh
Nghe lời nói ngọt ngào làm cho em thao thức
Trích hát đám cưới [20,1]
Nhờ những câu ca dao thấm đượm tình duyên những chàng trai, cô gái trao đổi, tâm tình để hai bên hiểu cặn kẽ tấm lòng nhau Những câu ca đó nói lên mọi điều Đây là một hình thức trao duyên đầy ý nghĩa và cho đến nay nó vẫn được lưu truyền ở nhiều nơi và được thể hiện trong các lễ hội trong cưới xin, trong những điệu xòe thắm đượm trữ tình và không ít những đôi trai gái đến với nhau qua những câu hát trao duyên đầy ý nghĩa này
2.2 Các bước tiến hành đám cưới truyền thống của người Thái Đen ở huyện Điện Biên – tỉnh Điện Biên
Dân tộc nào cũng vậy, cưới xin là việc hệ trọng của đời người, nó mang đậm bản sắc của dân tộc đó Đôi trai gái sau một thời gian tìm hiểu, lựa chọn để tiến tới hôn nhân, lập gia đình và bố mẹ phải có nghĩa vụ dựng vợ gả chồng tổ chức hôn lễ cho con
Ở mỗi dân tộc, mỗi khu vực thì lễ cưới được tổ chức dưới nhiều hình thức khác nhau Nếu mà hai gia đình nhà trai và nhà gái dạm ngõ, ăn hỏi đã định được ngày giờ tổ chức lễ cưới thì hôn lễ của người Thái được tiến hành cầu kỳ với rất nhiều khâu đoạn
Trang 24Cũng như nhiều dân tộc khác , đám cưới của người thái Đ en ở huyê ̣n Điê ̣n Biên là một viê ̣c hê ̣ trọng c ủa đời người , do vâ ̣y mà nó được tổ chức c hă ̣t chẽ, chu đáo, tuần tự, thứ bâ ̣c từ đầu đến cuối và trải qua những bước cụ thể , trước đây đám cưới của người thái có 6 bước:
Bước 1 „„Pày da ̣m‟‟- dạm ngõ
Bước 2 : „„ Sống Khươi‟‟ - tức là lễ dẫn con trai lên làm rể ở quản Bước 3: Lễ “Sú Phả” - ghép chăn và lễ “Tẳng cẩu” búi tóc ngược Bước 4: “Cắm kin công ơn” - lễ tạ ơn
Bước 5: “Cắm kin cưới luống” - lễ cưới chính thức
Bước 6: „„Sống Pẩu‟‟ - lễ về nhà chồng
Bước 1: “ Pày dạm‟‟ Dạm ngõ
Sau khi quen biết, người con trai về thưa với cha mẹ để nhờ người đi dạm (pày dạm) và xin tuổi để so
Ở Điện Biên đi dạm hỏi phải qua 2 lần Lần thứ nhất nhà trai nhờ 2 bà mối (Me lam) đi Hai “Me lam” này là người ăn nói hoạt bát vui vẻ và thông hiểu tục
lệ "Me lam" đã có mang theo rau, măng, hoa quả… Tới nhà gái nói chuyện ăn cơm uống nước rồi để lễ vật đó ra về vì gia đình người con gái chưa trả lời ngay Nếu bố mẹ cô gái từ chối thì hôm sau sẽ trả lại Tất cả do bố mẹ quyết định cô gái ít khi được chấp thuận ý kiến đề đạt của mình Nếu được sự đồng ý thì sau lần thứ nhất khoảng một tuần tới 20 ngày hai “Me lam” lại sang nhà trai lần thứ hai Lần này mang theo một đôi gà 1 sống 1 mái, 2 trai rượu, gạo để làm cơm ở bên nhà gái ăn uống với nhau và hẹn ngày đưa rể tới ngủ quản
Bước 2: “Sống khươi” tức là lệ dẫn con trai lên làm rể ở quản Đây là giai đoạn gửi con trai sang ở làm ăn bên nhà gái, người con trai phải mang theo một bao dao và một con dao
Du khưới quản là giai đoạn thử thách của người con trai chuẩn bị làm rể
thời gian có thể từ 3 tháng đến 1 năm là do nhà gái quyết định Người con trai trong thời gian này chưa được ngủ chung với người con gái mình yêu, chuẩn bị lấy làm vợ, nhưng vẫn phải có trách nhiệm chung thủy với người con gái mình