bệnh tật nên những cán bộ y tế nói chung và các bác sỹ lâm sàng nói riênghàng ngày phải đối mặt với áp lực công việc vô cùng lớn, kèm theo đó là rấtnhiều rủi ro nghề nghiệp như: Phơi nhi
Trang 1ĐẶT VẤN ĐỀ Nghị quyết 46/ NQ – TW của Bộ chính trị ban hành ngày 23/2/2005 đã
chỉ rõ: “ Nghề y là một nghề đặc biệt” [1] Cán bộ y tế chính là lực lượng
chính của ngành y Lực lượng này bao gồm những cán bộ thuộc những phạm
vi chuyên môn, kĩ thuật và những người hỗ trợ làm việc trong nhiều môitrường khác nhau Ngoài những cán bộ có chuyên môn về y còn có cả những
kĩ thuật viên xét nghiệm, dược sĩ, nhân viên liên quan đến phục vụ lâm sàng
và cả cán bộ hành chính, nhân viên văn phòng, điều dưỡng viên Nhiềunghiên cứu trên thế giới đã đánh giá lao động của các cán bộ y tế là một hoạtđộng có cường độ lớn cũng như có thể gặp nhiều rủi ro nghề nghiệp [29],[37], [41] Tuy nhiên, các nghiên cứu về thực trạng rủi ro nghề nghiệp vớinhân viên y tế tại nước ta còn hạn chế Cho đến nay mới chỉ có một vàinghiên cứu lẻ tẻ về nhiễm xạ ở nhân viên tại khoa X quang, sự lây nhiễm ởnhân viên làm việc trong khoa lây, một số nét lao động của cán bộ nhân viên
y tế trong khoa hồi sức cấp cứu, thực trạng điều kiện lao động và sức khỏebệnh tật của cán bộ phòng chống sốt rét [6], [7], [8], [12]
Cán bộ y tế nói chung và các bác sỹ lâm sàng nói riêng đang tận tụyngày đêm chăm lo sức khỏe cho nhân dân Trong cuộc chiến đấu chống lại vàđẩy lùi bệnh tật không thể không nhắc tới vai trò quan trọng của các bác sĩlâm sàng – những người hàng ngày tiếp xúc trực tiếp với bệnh nhân,tham giaquá trình khám, chẩn đoán cũng như đưa ra các phác đồ điều trị hiệu quả vàđồng hành cùng bệnh nhân trong cuộc chiến chống lại bệnh tật Chủ tịch Hồ
Chí Minh đã từng nói rằng: “Cán bộ y tế là những chiến sĩ đánh giặc ốm để
bảo vệ sự khang kiện của giống nòi” [5] Quả đúng như vậy, nếu không có
các chiến sĩ thầm lặng này thì biết bao nhiêu người dân đã phải ra đi vì giặc “
bệnh tật” hiểm ác rồi Thế nhưng, chính vì “nghề y là nghề đặc biệt”, đối
tượng chính là con người – những người đau khổ mang trong mình biết bao
Trang 2bệnh tật nên những cán bộ y tế nói chung và các bác sỹ lâm sàng nói riênghàng ngày phải đối mặt với áp lực công việc vô cùng lớn, kèm theo đó là rấtnhiều rủi ro nghề nghiệp như: Phơi nhiễm bệnh tật do phải tiếp xúc với cácyếu tố độc hại về hóa lý (nghiên cứu trong phòng thí nghiệm, trong các phòngchuẩn đoán hình ảnh), stress do áp lực công việc quá cao, chịu sức ép nặng nề
về tâm lý (xử trí cấp cứu, trong phòng phẫu thuật), phơi nhiễm với rất nhiềubệnh truyền nhiễm [2], [6], [8], [17] Cho đến nay ở Việt Nam chưa có mộtcông trình nghiên cứu tổng thể nào về mô tả thực trạng sức khỏe nghề nghiệp
và những rủi ro, nguy cơ gặp phải và các yếu tố ảnh hưởng của các bác sĩ lâmsàng
Do vậy, đề tài: “Thực trạng những rủi ro nghề nghiệp của các bác sỹ lâm sàng ở Hà Nội năm 2011 và một số yếu tố liên quan” được tiến hành
với các mục tiêu như sau:
1 Mô tả rủi ro nghề nghiệp của các bác sỹ lâm sàng tại Hà Nội năm 2011.
2 Xác định một số yếu tố liên quan tới rủi ro nghề nghiệp của các bác sỹ lâm sàng nói trên.
3 Mô tả mong muốn của các bác sỹ trong việc hạn chế rủi ro nghề nghiệp.
Trang 3CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
b, Tại Việt Nam
Trong lịch sử y học Việt Nam, Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác đượccoi như là ông tổ ngành y Ông thực sự là một danh y lớn của nước ta vì ông
đã hết lòng cho sự nghiệp y học, ông đã có một quan niệm chân chính về nghề
nghiệp mình đã chọn Ông cho rằng “nghề y là nghề nhân thuật”, là nghề liên
quan đến tính mạng con người, do đó người học y không thể là người kém cỏi
Trang 4về tài năng cũng như đạo đức Không những thế, người làm nghề y còn phải
có một tinh thần khoáng đạt, cao cả [20]
Ngày nay, nghề y (Medical branch) được coi là một nghề chuyên tổchức việc phòng bệnh, chữa bệnh và bảo vệ sức khỏe cho con người Y học làmột khoa học nghiên cứu bệnh lý, cách phòng bệnh và chữa bệnh (theowikipedia) Bên cạnh đấy, vấn đề y đức của người thầy thuốc cũng hết sứcđược quan tâm Người sinh viên, để nhận được tấm bằng bác sỹ và được hànhnghề thì trước khi ra trường họ đều phải đọc lời thề danh dự của ngành y vàhọc thuộc 12 điều y đức [3]
Sức khỏe là vốn quý nhất của mỗi con người và của toàn xã hội, là nhân
tố quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Sự nghiệp chămsóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân của ngành y tế là nhiệm vụ rất nặng nềnhưng cũng rất vẻ vang mà Đảng, Nhà nước, Chính Phủ và nhân dân đã tintưởng và giao phó Vì thế mà trong nghị quyết số 46/NQ-TW của Bộ Chính
trị ban hành ngày 23/2/2005 đã chỉ rõ “Nghề y là một nghề đặc biệt Cần
được tuyển chọn, đào tạo, sử dụng và đãi ngộ đặc biệt”, đặc biệt bởi đối
tượng lao động là người bệnh, đặc biệt bởi tính trách nhiệm cao, hiệu quảcông việc thể hiện ngay trên chính sức khỏe và tính mạng của nhân dân Đâycũng là một nhiệm vụ vô cùng lớn lao đúng như Chủ Tịch Hồ Chí Minh đã
nói: “Cán bộ y tế là những chiến sĩ đánh giặc ốm để bảo vệ sự khang kiện
của giống nòi” [5], [13], [19].
Lực lượng hoạt động trong nghành y tế khá đông đảo, bao gồm cảnhững người làm trong lĩnh vực điều trị và dự phòng Về điều trị phải kể đếncác bác sỹ lâm sàng thuộc các chuyên ngành khác nhau những người tham giatrực tiếp vào các khâu khám bệnh, chữa bệnh cho bệnh nhân, các bác sỹ cậnlâm sàng, các điều dưỡng viên, kĩ thuật viên, hộ lý…Lĩnh vực y học dự
Trang 5phòng, phải kể đến gồm bác sỹ chuyên ngành y học dự phòng, cử nhân y tếcông cộng, các cộng tác viên y tế tại cộng đồng…
Vai trò của cán cán bộ y tế nói chung và các bác sỹ lâm sàng nói riêngchính là phòng bệnh, khám bệnh, chẩn đoán và điều trị bệnh cho bệnh nhân
để đạt được mục tiêu cuối cùng là bảo vệ và nâng cao sức khỏe của toàn dân.Người thầy thuốc thực sự không chỉ chữa khỏi bệnh mà còn làm giảm nỗi đau
và luôn an ủi con người, thực hiện tốt lời dạy của Bác Hồ “lương y phải như
từ mẫu” [3], [5].
1.1.1.2 Tính chất lao động của nghề y
Nghề y là một nghề vất vả, ngay từ trong trường đại học, sinh viêntrường y đã phải vừa học lý thuyết vừa thực tập, lịch học kín và dài nhất sovới các trường đại học khác Tại bệnh viện, ngoài giờ làm việc hành chính,công chức ngành y còn phải tham gia trực đêm Có thể nói, đối với ngành ykhông có ngày tết, ngày nghỉ, ngày lễ mà chỉ có ngày làm việc, ngày trực vàngày không trực Lao động y tế là lao động trách nhiệm trước sức khỏe củacon người nói chung và tính mạng của người bệnh nói riêng; là lao động khẩntrương giành giật từng giây, từng phút với tử thần để cứu tính mạng ngườibệnh; là lao động diễn ra trong điều kiện không phù hợp với quy luật sinh lýcủa con người, làm việc (trực) ban đêm và nghỉ ngơi (nghỉ bù trực) ban ngày(thông thường người lao động nghỉ ngơi ban đêm và làm việc ban ngày; là laođộng trong môi trường không phù hợp với tâm lý con người (tiếp xúc vớibệnh nhân trong tâm trạng đau đớn, lo âu về bệnh tật, tiếp xúc với thươngvong và mất mát); là lao động tiếp xúc với môi trường độc hại của hóa chất vàchất thải bệnh viện; là lao động liên quan với nhiều yếu tố nguy hiểm (mầmbệnh, trong đó có nhiều bệnh tối nguy hiểm như tả, dịch hạch, HIV, lao…)luôn có nguy cơ lây lan và gây bệnh cho bản thân mình; là lao động rất nhạycảm với khen chê của xã hội, dễ chịu gánh nặng của dư luận xã hội và hành
Trang 6vi, thái độ không đúng của bệnh nhân (tâm thần ) và người nhà bệnh nhân(khi nhân thân của họ bị tử vong hoặc khi thầy thuốc không thỏa mãn đượcnguyện vọng riêng của họ…) [9], [10], [12], [13] Những đóng góp của ngành
y không có tính khoa trương bởi suy cho cùng, ngành y vẫn là kẻ chiến bạitrong cuộc chiến bệnh tật Bác sỹ vẫn ngày đêm miệt mài với bệnh tật, chỉnhsửa, khôi phục những trục trặc của cơ thể với mục tiêu tối thượng là cải thiệnsức khỏe người bệnh Đây cũng là một nghề phải học suốt đời vì sức khỏe conngười luôn là vốn quý nhất mà bệnh tật lại luôn thiên biến vạn hóa theo thờigian Cũng chính vì vậy mà bác sỹ cần phải học tập suốt đời Cái đúng, cái saitrong y học nhiều khi mong manh đòi hỏi người hành nghề phải hết sức thậntrọng Do đó chỉ có cập nhật kiến thức liên tục thì bác sỹ mới giảm đượcnhững sai sót đáng tiếc và đem lại lợi ích tối đa cho người bệnh
1.1.2 Khái niệm về rủi ro nghề nghiệp.
Rủi ro là gì? Theo từ điển tiếng Việt thì rủi ro là những nguy cơ chỉphát sinh khi có một sự không chắc chắn về mất mát sẽ xảy ra (uncertaintyabout the occurrence of a loss)
Rủi ro nghề nghiệp (occupational hazard) là những rủi ro gây ảnhhưởng tới sức khỏe con người và có liên quan với các ngành nghề cụ thể Rủi
ro nghề nghiệp có thể dẫn tới bệnh tật, thương tích hoặc tử vong Các rủi ronày có thể do các yếu tố vật lý, hóa học, hóa lý, do các yếu tố vi sinh vật, cácrủi ro về tâm lý, tâm thần (stress) Mọi công việc đều tiềm ẩn những rủi rotrong đó [2], [5], [35]
Nghề y cũng là một nghề tiềm ẩn nhiều rủi ro Hầu hết các chuyên giađầu ngành trong lĩnh vực y tế đều cho rằng bác sỹ là một nghề không tránhđược các rủi ro Các rủi ro này có thể xuất phát từ phía bệnh nhân và ngườinhà, rủi ro từ trang thiết bị làm việc và bảo hộ lao động không an toàn Theo
Tổ chức Y tế thế giới, rủi ro nghề nghiệp của bác sỹ được xác định trong
Trang 7trường hợp bác sỹ làm việc với cường độ cao, bị stress, không được cập nhậtkiến thức và thiếu kinh nghiệm [29] Còn ở Việt Nam, theo Luật khám bệnh,chữa bệnh do Quốc hội ban hành thì rủi ro nghề nghiệp đối với bác sỹ đượcxác định khi bác sỹ tuân thủ theo đúng phác đồ điều trị chuyên môn nhưng rủi
ro vẫn xảy ra ngoài mong muốn Với tính chất đặc biệt của nghề y kèm theonhững áp lực về chuyên môn và tâm lý rất cao thì rủi ro mà các bác sỹ nóichung và các bác sỹ lâm sàng nói riêng gặp phải là rất lớn [23]
1.1.3 Phân nhóm rủi ro nghề nghiệp trong ngành y
Theo nhiều nghiên cứu trên thế giới và Việt Nam, tựu chung các RRNN
có thể được chia thành 6 nhóm như sau [26], [33], [38], [40], [45]
1.1.3.1 Rủi ro bị mắc các bệnh truyền nhiễm
Các bệnh lây truyền qua đường hô hấp: Lao, sởi, cúm, rubella, quai bị,adenovirus… Các bệnh truyền nhiễm lây qua đường máu và dịch cơ thể củabệnh nhân: Viêm gan virut B, viêm gan virut C, HIV/AIDS…, các bệnh nàythường lây truyền khi bác sỹ bị các vật sắc nhọn đâm vào [43] Một nghiêncứu của Samuel và cộng sự năm 2000 [45] chỉ ra rằng có đến từ 20%-60%trường hợp được báo cáo là có nguy cơ lây nhiễm viêm gan B khi bị phơinhiễm với virut viêm gan B Điều tra của Viện Y học lao động – Vệ sinh môitrường trong một số bệnh viện tuyến Trung ương và bệnh viện đa khoa tỉnhcho thấy tỷ lệ mắc bệnh viêm gan virut B là 13,1% CBYT, tỷ lệ nhiễm trongCBYT cao gấp ba lần nhóm ít nguy cơ lây nhiễm [26]
1.1.3.2 Các rủi ro do tiếp xúc với các chất hóa học
Khi tiếp xúc với các chất hóa học như các thuốc gây mê, gây tê, các chấttẩy uế, các hóa chất tẩy trùng, các chất ướp xác và các hóa chất dùng trongphòng thí nghiệm thì cơ thể có thể bị các phản ứng dị ứng, bị kích ứng da vàđường hô hấp, thậm chí các hóa chất có thể gây đột biến và rối loạn chứcnăng [38] Trên cơ sở đó có thể phát sinh các loại ung thư như ung thư bàng
Trang 8quang do orthophenylphenate, leuxemie và đột biến nhiễm sắc thể do benzen,các dẫn xuất của benzen Có đến 60% - 80% trường hợp khi tiếp xúc với cácchất kích thích hóa học đã làm tăng cơ địa dị ứng của mình [40]
1.1.3.3 Các rủi ro do tiếp xúc với các tác nhân vật lý
Các tác nhân vật lý độc hại là các bức xạ ion hóa và không ion hóa,tiếng ồn, nóng, lạnh, rung, cháy, nổ, điện và từ trường có thể gây tai nạn, điệngiật, bỏng Nghiên cứu của J J Gestal [40] cho thấy trong 300 vụ cháy nổtrong bệnh viện có 23% nguyên nhân từ nguồn điện Ngoài ra, bức xạ ion hóagây đột biến gen và nhiễm sắc thể, có thể làm chậm hoặc hủy hoại phân chia
tế bào và can thiệp vào các quá trình chuyển hóa, còn có các ảnh hưởng khácnhư ung thư máu, ung thư da…[40]
1.1.3.4 Các rủi ro do yếu tố ecgonomi
Đó là các chấn thương cơ bắp do nâng nhấc bệnh nhân, các tổnthương cơ xương khớp do phải đứng lâu trong các cuộc mổ, phải cúi khomlưng để thao tác mà những tư thế này rất hay gặp ở các bác sỹ thuộc chuyênngành ngoại khoa, nha khoa, tai mũi họng, chỉnh hình, sản phụ khoa cũng nhưcác CBYT khác như lao công, hộ lý…[26]
1.1.3.5 Các rủi ro liên quan tới tâm lý, sức khỏe tâm thần
Rủi ro hay gặp nhất stress hay căng thẳng về tinh thần, mệt mỏi, mấtngủ, giảm trí nhớ, giảm độ tập trung, hay cáu giận mà các rối loạn này liênquan trực tiếp đến công việc [43], [47] Nghiên cứu của Shih-Chieh HSU vàcộng sự năm 2011 đưa ra kết quả tỷ lệ trầm cảm của bác sỹ nữ là 20,83%,bác sỹ nam là 11,97%, trong đó tỷ lệ trầm cảm của những bác sỹ dưới 30 tuổi
là cao nhất, chiếm 16,88% [47]
1.1.3.6 Các rủi ro do yếu tố bạo lực
Bị bệnh nhân hay người nhà bệnh nhân đe dọa, xúc phạm, chửi mắng,tấn công (đánh), khiếu kiện [45] Năm 2010 gần 40% nhân viên làm việc ở
Trang 9trong phòng cấp cứu của bang California – Mỹ cho biết họ đã bị tấn côngtrong khi làm việc [19].
1.2 CÁC YẾU TỐ NGUY CƠ CỦA RỦI RO NGHỀ NGHIỆP
1.2.1 Tuổi nghề
Bác sỹ có tuổi đời, tuổi nghề khác nhau có thể sẽ gặp phải những rủi ronghề nghiệp khác nhau.Chữa bệnh là cả một nghệ thuật: nghệ thuật trong giaotiếp với bệnh nhân và người nhà bệnh nhân, nghệ thuật sắp xếp hài hòacông việc Các kỹ năng này không chỉ phụ thuộc vào sự hiểu biết chuyênmôn mà còn phụ thuộc vào kinh nghiệm lâm sàng của bác sỹ Một nghiêncứu tại Đài Loan cho thấy có đến 14,3% bác sỹ dưới 2 năm kinh nghiệm;17,4% bác sỹ có từ 3-5 năm kinh nghiệm bị trầm cảm trong quá trình thựchành lâm sàng [47]
1.2.2 Chuyên ngành
Với mỗi chuyên ngành khác nhau thì nguy cơ gặp các loại rủi ro làkhác nhau Đối với các bác sỹ làm việc tại phòng khám, tại khoa cấp cứu, vàđặc biệt là khoa truyền nhiễm, khoa hô hấp thì rủi ro nghề nghiệp được kể tớihàng đầu là bị mắc bệnh truyền nhiễm nếu bác sỹ không tuân thủ các trangthiết bị phòng hộ Ở những cơ sở y tế mà điều kiện làm việc còn khó khăn,bảo hộ lao động còn thiếu và ý thức phòng bệnh còn chưa cao thì các nhânviên y tế nói chung và các bác sỹ làm việc tại các khoa này nói riêng rất dễ bịlây nhiều mầm bệnh nguy hiểm như: HIV, viêm gan B, viêm gan C, tả, dịchhạch, sốt rét, lao, các bệnh hô hấp khác…Nhiều nghiên cứu trên thế giới cũng
đã khẳng định điều này [29], [30], [31] Tuy nhiên, những nghiên cứu Y họclao động trong ngành Y tế nước ta còn ít Sự lây nhiễm ở cán bộ làm việctrong các khoa lây, khoa hô hấp, cán bộ làm việc trong khoa hồi sức cấp cứucũng như cán bộ y tế làm công tác điều trị và xét nghiệm thường xuyên tiếpxúc với máu và các dịch cơ thể của bệnh nhân nên dễ bị lây nhiễm virus viêm
Trang 10gan B, HIV… Nghiên cứu của Dư Hồng Đức và cộng sự năm 2009 [6] trên
854 NVYT ở Hà Nội và Nam Định đã cho kết quả là: Theo dõi trong vòng 4tháng thì tần suất phơi nhiễm với máu dịch của bệnh nhân của NVYT là119,4/1000 người Một nghiên cứu khác của Trần Xuân Linh và cộng sự năm
2009 [14] cũng cho biết: Tỷ lệ NVYT đang và đã nhiễm virut viêm gan B là39% và các rủi ro này hay gặp ở khoa nhi, khoa hồi sức tích cực, điều dưỡng
và nữ hộ sinh Bởi vậy, qua nhiều năm nghiên cứu người ta đã xem nhiễmtrùng viêm gan B, C, HIV, lao, sốt rét là những bệnh mang tính chất nghềnghiệp cho cán bộ y tế trực tiếp hoặc gián tiếp phục vụ bệnh nhân [4], [6],[14], [21], [34], [39]…
Trong hầu hết các chuyên ngành, việc sử dụng dao, kéo, kim tiêm củacác bác sỹ là việc gần như phải làm hàng ngày, nhất là các bác sỹ ngoại khoa,bác sỹ răng hàm mặt hay các bác sỹ tim mạch V́ vậy mà nguy cơ gặp rủi ro là
bị các vật sắc nhọn đâm vào là rất lớn kèm theo đó là nguy cơ mắc các bệnhlây truyền qua đường máu và dịch cơ thể của bệnh nhân [26]
Chuyên ngành ung thư, xét nghiệm, ngoại khoa, chẩn đoán hình ảnh làphải hàng ngày tiếp xúc với các hóa chất, phóng xạ có nguy cơ lớn bị dị ứng,sốc, rối loạn chức năng thậm chí có thể bị ung thư Có 60-80% trường hợp bịviêm da cơ địa ở NVYT có nguyên nhân do tiếp xúc các chất hóa học [38] Chuyên ngành nào cũng có áp lực và trách nhiệm công việc cao nhưngtrong một số chuyên ngành áp lực lớn hơn, bác sỹ phải làm việc trongtrạng thái căng thẳng, mệt mỏi thì sẽ dễ bị trầm cảm hoặc stress hơn nhưmột nghiên cứu tại Đài Loan đã chỉ ra tỷ lệ mắc stress của các bác sỹthuộc các chuyên ngành khác nhau như sau: nội khoa là 14,9%, ngoạikhoa là 14,3% [47]
Trang 111.2.3 Môi trường làm việc.
Môi trường làm việc của mỗi ngành lao động là khác nhau Các yếu tố:Môi trường vật lý (tiếng ồn, nhiệt độ, độ ẩm, khói bụi…), môi trường hóa học(chất hóa học ở dạng bụi, hơi, lỏng ), môi trường sinh học (vi sinh, kí sinhtrùng, côn trùng ) tất cả cấu thành nên môi trường làm việc Bệnh viện chính
là môi trường làm việc của các NVYT Bệnh viện là nơi hội tụ nhiều ngườimang bệnh và mầm bệnh, đa số là bệnh nặng; bệnh viện cũng là nơi tập trungnhiều loại bệnh truyền nhiễm nhất và là nơi giao lưu của nhiều đối tượng khácnhau như NVTY, bệnh nhân và người nhà, dân cư xung quanh bệnh viện Vìthế, bệnh viện là môi trường làm việc chứa tiềm ẩn nhiều yếu tố nguy cơ cóhại có thể ảnh hưởng xấu tới sức khỏe của các NVYT [2], [14], [17]
Theo ông Lê Danh Tuyền - phó viện trưởng viện dinh dưỡng Quốc gia,
xu hướng bệnh tật ở Việt Nam đã có thay đổi chuyển từ các bệnh truyềnnhiễm sang các bệnh mạn tính không lây nhiễm, tăng từ 45% - 60% năm
2008, tỷ lệ mắc bệnh ngày càng tăng làm cho tình trạng quá tải bệnh việntrong nhiều năm gần đây trở thành một vấn đề bức xúc của ngành y tế ViệtNam, đặc biệt là ở các bệnh viện tuyến Trung Ương Theo một điều tra ởbệnh viện Bạch Mai và bệnh viện Chợ Rẫy, công suất sử dụng giường bệnhluôn từ 165% -200% trong khi tỷ lệ CBYT/1 giường bệnh là 0,57-1,09 (quyđịnh 1,45-1,55) dẫn đến cường độ làm việc cao và rất căng thẳng, các bác sỹphải trực đêm nhiều cộng với trách nhiệm cao, vì vậy mà các bác sỹ lâm sàngrất dễ bị stress: Căng thẳng, mất ngủ, cáu giận, giảm trí nhớ, giảm tập trung…
và cũng dễ bị các tổn thương rõ rệt khác như: Đau lưng, đau cơ xương khớp,đau mắt, đau dạ dày…[15], [22], [23]
Nhiều bệnh viện có điều kiện làm việc rất khó khăn, đặc biệt là cácbệnh viện tuyến tỉnh, bệnh viện tuyến huyện, trang thiết bị còn thiếu, bảo hộlao động không đầy đủ hoặc do ý thức phòng bệnh kém, chưa tuân thủ
Trang 12nghiêm ngặt các quy định an toàn trong khi làm các công việc tiếp xúc vớimáu, các dịch cơ thể hay tiếp xúc với hóa chất, phóng xạ [7].
1.2.4 Các vấn đề về chính sách
Với tính chất đặc biệt của nghề y kèm theo những áp lực về chuyên môn
và tâm lý rất cao thì rủi ro mà các bác sỹ nói chung và các bác sỹ lâm sàngnói riêng gặp phải là rất lớn Ở các nước tiên tiến đều có hiệp hội y đoàn vàbảo hiểm nghề nghiệp cho bác sỹ Nhờ vậy mà mỗi khi bác sỹ gặp tai nạnnghề nghiệp thì những tổ chức này đều xem xét trách nhiệm của bác sỹ để cónhững phương thức xử lý và hỗ trợ Còn ở các quốc gia phát triển, 100% bác
sỹ có bảo hiểm nghề nghiệp, có quốc gia còn quy định bác sỹ phải có bảohiểm nghề nghiệp mới được hành nghề Ở Việt Nam thì bảo hiểm rủi ro nghềnghiệp bác sỹ hiện vẫn là một vấn đề rất mới, và đang được thí điểm ở một sốbệnh viện nhưng vẫn chưa có trong luật khám chữa bệnh
Nghề y nói chung và các bác sỹ lâm sàng nói riêng rất dễ bị tai nạn rủi
ro nghề nghiệp Trong quá trình hành nghề, người hành nghề nào cũng có thểmắc lỗi, sai sót chuyên môn kĩ thuật nên họ có quyền được bảo vệ, đặc biệt làcần phải được bảo hiểm rủi ro trách nhiệm Trong luật khám bệnh, chữa bệnh
do Quốc hội nước ta ban hành năm 2009 cũng đã nêu ra một số quyền để bảo
vệ người bác sỹ như: Quyền được bảo vệ khi xảy ra tai biến đối với ngườibệnh, quyền được đảm bảo an toàn khi hành nghề khám bệnh, chữa bệnh Tuynhiên, hiện nay việc bắt buộc phải mua bảo hiểm rủi ro nghề nghiệp cho cán
bộ y tế vẫn chưa được quy định rõ ràng trong luật [23]
Người làm việc trong ngành y tế thường xuyên phải đối mặt với các nguy
cơ ảnh hưởng tới sức khỏe, dễ bị phơi nhiễm bệnh, phơi nhiễm các yếu tố độchại từ môi trường làm việc bất lợi Mặc dù khó khăn như vậy nhưng công tácbảo hộ lao động, vệ sinh lao động, cải thiện điều kiện làm việc, chăm sóc vàbảo vệ sức khỏe người lao động trong ngành y tế vẫn còn chưa được quan tâm
Trang 13đúng mức [7] Ngoài các chế độ bảo hộ lao động và quyền lợi chung thì ngườilao động trong ngành y tế chưa được hưởng chế độ, quyền lợi gì đặc biệt hơncác nghề khác.
1.3 CÁC NGHIÊN CỨU VỀ RỦI RO NGHỀ NGHIỆP TRONG THỰC HÀNH Y KHOA
1.3.1 Các nghiên cứu trên thế giới
Trên thế giới, đặc biệt là các nước phát triển như Mỹ, Anh, Pháp v.v
Từ những thập kỷ 70 và 80 đã có rất nhiều các nghiên cứu về điều kiện laođộng đặc thù và những hướng dẫn về bảo vệ an toàn vệ sinh lao động cho cáccán bộ y tế trong bệnh viện và đánh giá lao động của các CBYT là một loạilao động có cường độ lớn Các nghiên cứu đã chỉ ra những nguy cơ đặc thùcủa CBYT là nguy cơ cao lây các bệnh truyền nhiễm Một nghiên cứu mô tảnhững hiểu biết về nguy cơ rủi ro nghề nghiệp của các nhân viên y tế tạiSerbia cho thấy mặc dù có đến 89% NVYT nhận thức được họ có nguy cơ lâynhiễm HIV cao, nhưng có đến 87,4% số người được hỏi cho biết họ đã từngthực hiện một số hình thức can thiệp có nguy cơ lây nhiễm HIV như: Tiếp xúcvới máu và các dịch cơ thể [29], [30], [31]
Bên cạnh các tác hại lây nhiễm kể trên, cán bộ y tế phải tiếp xúc với rấtnhiều tác hại không lây nhiễm, bao gồm các hóa chất để tiệt trùng, khử trùng,các hóa chất để bảo quản bệnh phẩm, những tác hại vật lý như nóng, tiếng ồn,bức xạ ion hóa, siêu âm [32], [38], [40], các tác hại đến da và stress Nhiềuhóa chất tiệt trùng được sử dụng trong bệnh viện, trong đó chủ yếu là các hóachất như cồn isopropyl, clo, iot, phenol, ethylenne oxide, các hợp chất amonibậc 4, glutaraldehyde và fomaldehyde [27] Các hóa chất tiệt trùng này chủyếu dùng để tiệt trùng các dụng cụ gây mê, dụng cụ mổ, nhiệt kế, kim tiêm,diệt các vi khuẩn…v.v và còn là các chất ướp xác như fomaldehyde vàglutaraldehyde Tiếp xúc với các hóa chất này có một số tác hại như kích
Trang 14thích mắt và niêm mạc, đau đầu, khó thở, kích thích da, dị ứng da…đặc biệt
có thể gây ung thư như fomaldehyde Các tác nhân vật lý cũng gây nhiều rủi
ro nghề nhiệp trong bệnh viện như: Tai nạn từ các vụ cháy, nổ, điện giật hay
rò rỉ từ khí ga có thể gây bỏng, ngạt thở, gãy xương, ảnh hưởng do tiếng ồn
và thậm chí gây chết [37], [38] Những ảnh hưởng không mong muốn củađiện từ trường, sóng siêu âm, tia laser, các tia X, tia gamma trong chẩn đoánhình ảnh và điều trị ung thư, nếu tiếp xúc lâu dài có thể gây đột biến gen gây
u lành và các loại ung thư, có thể gây ảnh hưởng đến con cái của họ
Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra các cán bộ y tế làm việc trong lĩnh vực chămsóc sức khỏe cho bệnh nhân có nguy cơ bị stress cao hơn nhiều lần so với cácngành nghề khác Nghiên cứu của Linn LS Và cs (1985) Agius RM và cs(1996) [43] cho thấy có tới 25% các bác sỹ lâm sàng bị stress, trầm cảm, lo âu
và kiệt sức Ảnh hưởng của stress nghề nghiệp đến sức khỏe là mệt mỏi, lo
âu, trầm cảm, không thỏa mãn với công việc, giảm chất lượng chăm sóc sứckhỏe cho bệnh nhân, nghiện rượu, số ngày nghỉ ốm cao, về hưu sớm, và mắcmột số bệnh liên quan đến stress như loét dạ dày, nhồi máu cơ tim, cao huyếtáp… Ước tính chi phí cho stress nghề nghiệp rất cao Theo viện nghiên cứustress nghề nghiệp của Mỹ, chi phí này có thể lên tới 150 tỷ USD cho nhữngngười lao động bị mất khả năng lao động do stress Mỗi năm ở Mỹ có khoảng550.000 trường hợp tử vong đột ngột do nhồi máu cơ tim có liên quan đếnstress Ở Nhật cũng đã có nhiều báo cáo về các trường hợp bác sỹ tự tử vì áplực công việc quá lớn Viện Quốc gia về An toàn Vệ sinh lao động Mỹ phânloại bệnh do stress gây ra là một trong 10 bệnh hàng đầu liên quan đến côngviệc [33], [45], [46]
Một nghiên cứu dọc trong vòng 2 năm về sức khỏe, bệnh tật và nghỉ ốmcủa các bác sỹ làm việc tại bệnh viện Phần Lan đã được tiến hành lần đầu tiênvào năm 2001 (Kivimaki và cs.) [39] Kết quả cho thấy việc vắng mặt của các
Trang 15bác sỹ ở bệnh viện liên quan mật thiết đến tình trạng sức khỏe và bệnh tật của
họ Al-Sammari và cs (1994) [28], nghiên cứu các cán bộ y tế và tìm thấynhân viên nữ trả lời mắc bệnh nhiều hơn và thời gian ốm cũng kéo dài hơnnam giới Những chứng bệnh thường gặp nhất là nhiễm trùng hô hấp cấp,bệnh đường tiêu hóa và các triệu chứng về cơ xương khớp và là nguyên nhânchính gây nên sự vắng mặt của họ ở bệnh viện Samian J và cs (2000) [43] đãnghiên cứu 6.609 y tá làm việc tại 160 bệnh viện tại Canada, kết quả cho thấytình trạng sức khỏe của y tá tốt hơn trong các bệnh viện có điều kiện tốt hơn,những y tá làm việc ít thời gian trong một tuần có điều kiện sức khỏe tốt hơnnhững y tá làm việc tất cả các ngày trong tuần
Tóm lại, trên thế giới ở một số nước đã có những nghiên cứu có hệ thống
và đầy đủ về điều kiện lao động đặc thù, nguy cơ tiếp xúc với các yếu tố lâynhiễm và các yếu tố độc hại trong môi trường lao động cũng như tình trạngsức khỏe và bệnh tật của các cán bộ y tế Nhiều nước đã có những hướng dẫnquốc gia về an toàn vệ sinh lao động cho các cán bộ y tế như ở Mỹ vàMalaysia Hướng dẫn này ở Mỹ đã đề cập đến tầm quan trọng của việc xâydựng chương trình an toàn vệ sinh lao động cho cán bộ y tế, hướng dẫn kiểmsoát các bệnh lây nhiễm, các yếu tố nguy cơ đối với cán bộ y tế như tiếp xúcvới hóa chất, phóng xạ, các yếu tố vật lý khác, stress… và các vấn đề liênquan đến rác thải y tế
1.3.2 Các nghiên cứu tại Việt Nam
Ở nước ta cũng đã có một số nghiên cứu về rủi ro nghề nghiệp đối vớicán bộ y tế Nguyễn Ngọc Ngà (2002) [17] đã đưa ra một số nét về điều kiệnlao động trong bệnh viện Trong lao động các cán bộ y tế phải tiếp xúc với rấtnhiều yếu tố nguy cơ cho sức khỏe như các yếu tố vi sinh vật gây bệnh, bụitrong không khí có vi trùng lao, bức xạ ion hóa trong phòng chụp X quang,sóng siêu âm tần số cao, tiếng ồn, các chất gây mê, các loại thuốc stress nghề
Trang 16nghiệp và các tư thế làm việc bất lợi v.v là những nguyên nhân ảnh hưởnglớn tới sức khỏe và bệnh tật của cán bộ y tế.
Một nghiên cứu tại ba bệnh viện trên địa bàn Hà Nội do Viện Y họcLao động và Vệ sinh Môi trường, Bộ Y Tế thực hiện năm 2006 trên 642 nhânviên y tế kết quả là có đến hơn 70% nhân viên y tế cho biết họ từng bị tại nạnrủi ro do vật sắc nhọn trong khi làm việc Trong đó, vị trí tổn thương chủ yếu
là bàn tay (96,3%) và hầu hết các tổn thương là xuyên thấu da (77,8%) Nguy
cơ từ các rủi ro này là có thể phơi nhiễm với bệnh nhân nhiễm HIV, bệnhnhân nhiễm viêm gan B, viêm gan C, đặc biệt nguy hiểm là một bộ phận lớnNVYT (52,8%) ở cả ba bệnh viện đều không hề có thông tin gì về bệnh nhân
mà họ tiếp xúc khi xảy ra rủi ro, đại bộ phận các y, bác sỹ tự thực hiện một số
sơ cứu sau khi bị tổn thương Mặc dù nhận thức của NVYT ngày càng đượcnâng cao, phương tiện xử lý chất thải y tế nhiều hơn nhưng nguy cơ phơinhiễm nghề nghiệp do các virus truyền qua đường máu tăng lên đáng kể do bịrủi ro bởi các vật sắc nhọn nhiễm khuẩn (100,7/1000 người/4 tháng) [6] Ngoài nguy cơ cao phơi nhiễm với bệnh tật, NVYT còn phải tiếp xúcvới các yếu tố độc hại về hóa lý như các chất hóa học, bức xạ ion hóa, ánhsáng, tiếng ồn, rung…[7] trong môi trường làm việc tại các khoa phòng, sức
ép nặng nề trong công việc như sự quá tải công việc, sự căng thẳng khi phảitiếp xúc với bệnh nhân và người nhà khiến nhiều NVYT bị stress từ lo âu đếntrầm cảm Cũng một nghiên cứu năm 2005 của Viện YHLĐ & VSMT trên
257 NVYT tuổi trung bình 37 và tuổi nghề trung bình trên 15 năm cho thấy8,4% có điểm stress ở mức cao, 33% mức trung bình và 58,6% ở mức thấp;kết quả theo dõi nhịp tim cho thấy, sự căng thẳng xuất hiện ngay từ khi côngviệc bắt đầu cho đến khi công việc kết thúc, sự căng thẳng có xu hướng tănglên vào cuối ca làm việc, tình trạng căng thẳng của NVYT càng tăng cao ởnhững bệnh viện lớn, nơi tiếp nhận hàng trăm ca cấp cứu mỗi ngày, các bệnhviện tâm thần hoặc trung tâm cai nghiện Trong môi trường làm việc hàng
Trang 17ngày, NVYT còn phải tiếp xúc với nhiều yếu tố nguy hiểm, có hại khác nhưhóa chất xét nghiệm, trong đó có các loại hóa chất ăn mòn (44,6%), chất gây
mê hoặc hơi cay (22,4%), các loại hóa chất độc khác (24%); Sự ô nhiễmkhông khí do nấm mốc và vi sinh vật; các yếu tố vật lý như nguồn nhiệt gâybỏng, điện giật cháy nổ tuy không nhiều nhưng vẫn xuất hiện thường ngày cóthể gây tai nạn nếu thiếu cẩn thận Môi trường làm việc chưa đảm bảo, cường
độ làm việc căng thẳng nhưng việc cấp phát trang thiết bị cá nhân lại thiếuthốn và không hoặc chưa phù hợp nên có tới 35,8% bị dị ứng da khi sử dụngcác phương tiện bảo hộ lao động bằng cao su [7]
Nghiên cứu của Phạm Bích Ngân và Võ Quang Đức (2008) [7] cũng đãchỉ ra những tổn thương rõ rệt khác do phải thực hiện công việc chuyên môncủa mình như các bệnh về mắt (viêm giác mạc, viêm kết mạc, giảm sút thịlực); bệnh về răng hàm mặt làm suy giảm sức nhai; các bệnh nội khoa phổbiến là các dạng suy nhược cơ thể, các triệu chứng rối loạn tiêu hóa hoặc táobón; bệnh ngoại khoa thường thấy là các biểu hiện đau lưng, đau thần kinhtọa, các bệnh về phụ khoa; bệnh về tai mũi họng… Cảm giác chung sau một
ca lao động bình thường phổ biến là khá mệt mỏi (58,8%) thậm chí rất mệt(3,8%) Được hỏi về ảnh hưởng của điều kiện lao động đối với sức khỏe bảnthân thì có đến 30,9% thấy có ảnh hưởng rõ rệt thể hiện ở việc suy giảm trínhớ, suy giảm thính lực, rõ nhất là suy giảm thị lực, ảnh hưởng đó cũng thểhiện ở một tỷ lệ người có bệnh mãn tính đến 34,2%
Không chỉ đối mặt với rất nhiều vi trùng, bệnh tật, xác chết, hóa chất,phóng xạ…cuộc sống của các bác sỹ lâm sàng còn đầy rẫy lo lắng vì áp lựccông việc, thậm chí bị hành hung và tính mạng thường xuyên bị đe dọa Tìnhtrạng bệnh nhân hoặc người nhà bệnh nhân đe dọa, xúc phạm, chửi mắngđang có xu thế gia tăng trong những năm gần đây nhưng cũng chưa có cácnghiên cứu cụ thể nào để đánh giá thực trạng về vấn đề này
Trang 18CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 ĐỊA ĐIỂM VÀ THỜI GIAN NGHIÊN CỨU
- Địa điểm: Nghiên cứu được tiến hành tại Hà Nội, nơi có đầy đủ các
hình thái của hệ thống y tế bao gồm: Tuyến Trung Ương, Thành phố,Quân/huyện cũng như có cả bệnh viện công và tư Các bệnh viện của Hà Nội
từ Trung Ương đến cơ sở đều có khả năng đối mặt với rất nhiều các yếu tốnguy cơ đặc trưng của nghề nghiệp
- Thời gian: Từ tháng 7- 2011 đến tháng 4-2012.
2.2 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
- Đối tượng: Là các bác sỹ lâm sàng, trực tiếp tham gia khám bệnh,
chữa bệnh tại các bệnh viện tuyến Trung Ương, Thành phố, Quận/huyện, cơ
sở y tế công và tư hiện đang làm việc tại Hà Nội Do hạn chế về kinh phí vànhân lực nên không chọn các bệnh viện quân đội và bệnh viện ngành
- Tiêu chuẩn lựa chọn đối tượng nghiên cứu: Là bác sỹ đã tốt nghiệp
đại học, đang thực hành lâm sàng, hàng ngày tiếp xúc trực tiếp với bệnh nhânbao gồm: các bác sỹ điều trị, khám bệnh, chẩn đoán hình ảnh
- Tiêu chuẩn loại trừ đối tượng:
₊ Đối tượng là nhân viên y tế nhưng không phải là bác sỹ: Điều dưỡng, hộ
lý, hoặc chưa phải là bác sỹ như sinh viên y khoa
₊ Bác sĩ không trực tiếp tiếp xúc hàng ngày với bệnh nhân: xét nghiệm…
₊ Bác sĩ lâm sàng đã từng tham gia nghiên cứu này rồi ở một bệnh viện hayphòng khám tư nhân khác
₊ Các bác sỹ không thuộc danh sách được lựa chọn ngẫu nhiên
₊ Các bác sỹ từ chối không tham gia nghiên cứu
Trang 192.3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.3.1 Thiết kế nghiên cứu:
Nghiên cứu mô tả cắt ngang (Cross Sectional Studies) Nghiên cứu địnhlượng kết hợp với định tính
2.3.2 Cỡ mẫu và chọn mẫu
Cỡ mẫu:
Được tính theo công thức tính cỡ mẫu phân tầng:
Ở Hà Nội, cỡ mẫu tính cho 2 tầng (khối Nhà nước và tư nhân)
Tổng số bác sỹ ở Hà Nội là 4435 Tỷ lệ Nhà nước/tư nhân là 3725/710Tính ra no=188 Vì đây là quần thể hữu hạn nên có thể sử dụng hiệu chỉnh n1 = no*N/[no + (N-1)] = 188*4435/[188 + (4435-1)] = 180
Hiệu chỉnh với Design effect (DF=2): = 180*2 = 360
Nếu tính thêm 10% phiếu hỏng thì cỡ mẫu sẽ là 360 + 36 = 396 bác sỹcần điều tra
Trang 20Hà Nội (406)
Nhà nước (342)
Tư nhân (64)
5 BV TƯ
(196)
5 BV TP (119)
3 BV/TT quận, huyện (27)
4 BV (40)
5 Phòng khám (24)
Dựa trên số bác sỹ tại các tuyến ở Hà Nội sẽ chia ra như sau:
Với mục tiêu mô tả mong muốn về hạn chế rủi ro áp dụng phương pháp định tính thì cỡ mẫu được lựa chọn là 10 bác sỹ thuộc các chuyên ngành khác nhau
-Với nghiên cứu định lượng thì cách chọn mẫu như sau:
Cỡ mẫu sẽ được phân bố tỷ lệ theo số bác sĩ thuộc hệ thống Nhànước/tư nhân, sau đó là theo tuyến Trung ương, Thành phố, Quận/huyện, rồigiữa bệnh viện tư và phòng khám tư nhân
Chọn ngẫu nhiên 5 bệnh viện tuyến Trung Ương và 5 bệnh viện tuyếnThành phố, 3 bệnh viện tuyến huyện
Nhóm tư nhân: Chọn ngẫu nhiên 2 bệnh viện đa khoa và 2 bệnh việnchuyên khoa và ngẫu nhiên 6 phòng khám tư nhân có từ 2 bác sỹ trở lên
Tại mỗi bệnh viện hay phòng khám được chọn: Dựa trên danh sách cácbác sỹ lâm sàng của cơ sở đó để chọn ngẫu nhiên các bác sỹ tham gia vàođiều tra, chia đều chuyên khoa và lứa tuổi (xem danh sách các Bệnh viện,phòng khám tham gia nghiên cứu trong Phụ lục….)
Trang 21- Với nghiên cứu định tính, chọn 10 bác sỹ thuộc các chuyên ngành lâmsàng khác nhau đó là: Nội khoa 2 người, Ngoại khoa 2 người, Sản phụ khoa
1 ngýời, Nhi khoa 1 ngýời, Ung thư 1 người, Răng hàm mặt 1 người, Tai mũihọng 1 người, Y học cổ truyền 1 người
Trong đó có 5 bác sỹ dưới 5 nãm kinh nghiệm lâm sàng, 5 bác sỹ trên
10 năm kinh nghiệm lâm sàng
2.3.3 Công cụ nghiên cứu:
Theo bộ câu hỏi được thiết kế sẵn, nội dung chính bao gồm :Các đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu; RRNN trong một nămvừa qua của bác sỹ; cách xử trí các rủi ro đó
Bản hướng dẫn phỏng vấn sâu có nội dung sau :
Ðặc điểm cá nhân: Tuổi, học vị, kinh nghiệm
Những thông tin liên quan tới những hiểu biết về rủi ro nghề nghiệp:RRNN là gì? Trong ngành y thường gặp phải những rủi ro gì? Trong cácchuyên ngành khác và chuyên ngành của đối tượng phỏng vấn thì sao?
Những thông tin về những trải nghiệm rủi ro mà bác sỹ đã từng gặpphải, rủi ro đầu tiên khi hành nghề hoặc rủi ro nhớ nhất về: Nguyên nhân,hoàn cảnh, diễn biến, cách xử trí…
Những thông tin về hiểu biết của bác sỹ về những chế độ, chính sáchhiện nay cho các bác sỹ bị rủi ro nghề nghiệp
Những thông tin về các mong muốn của bác sỹ trong việc hạn chế rủi
ro nghề nghiệp cho bản thân và cho đồng nghiệp : Biện pháp chuyên môn,dụng cụ, môi trường, chế độ, bảo hiểm…
Trang 222.3.4 Các biến số/ chỉ số trong nghiên cứu.
Tuổi nghề Ðịnh lượng Tỷ lệ từng nhóm nãm kinh
nghiệmLoại hình cơ sở y tế Danh mục Tỷ lệ từng loại hình
Số cơ sở y tế bác
sỹ làm việc
Ðịnh lượng Tỷ lệ từng loại cơ sở
Mức thu nhập Ðịnh lượng Tỷ lệ bác sỹ trong từng nhóm
thu nhậpLoại học vị theo
chuyên ngành
Danh mục Tỷ lệ từng loại học vị theo từng
nhóm chuyên ngànhTổng loại rủi ro Ðịnh lượng Tỷ lệ từng tổng số loại rủi ro
gặp phảiRủi ro theo giới Ðịnh lượng Tỷ lệ từng loại rủi ro theo giớiRủi ro theo CSYT Ðịnh lượng Tỷ lệ từng loại rủi ro theo từng
loại hình CSYTRủi ro theo chuyên
ngành
Ðịnh lượng Tỷ lệ từng loại rủi ro theo từng
nhóm chuyên ngànhRủi ro theo nhóm
nãm kinh nghiệm
Ðịnh lượng Tỷ lệ từng loại rủi ro theo từng
nhóm năm kinh nghiệm lâmsàng
Xử trí rủi ro Nhị nhân Tỷ lệ có xử trí trong từng cách
xử trí
Xử trí rủi ro theochuyên ngành
Ðịnh lýợng Tỷ lệ từng cách xử trí theo từng
chuyên ngành
Xử trí rủi ro theokinh nghiệm
Ðịnh lượng Tỷ lệ từng cách xử trí theo từng
nhóm năm kinh nghiệm
2 Nguy cơ rủi ro
theo giới, chuyênngành, nhóm kinhnghiệm
Ðịnh lượng Tương quan (OR) giữa một số
loại rủi ro với giới tính chuyênngành, nhóm năm kinh nghiệm
3 Mong muốn Ðịnh tính Các ý kiến mong muốn phân
theo từng nhóm nội dung
Trang 232.3.5 Kĩ thuật thu thập số liệu.
Nghiên cứu định lượng:
Tập huấn nhóm nghiên cứu
Liên hệ với các bệnh viện, phòng khám được lựa chọn để xác địnhngày phỏng vấn
Tới bệnh viện: Giới thiệu bộ câu hỏi nghiên cứu, sau đó bác sỹ tựđiền và kiểm tra thông tin bộ câu hỏi
Số liệu định tính: Liên hệ hẹn gặp 10 bác sỹ lâm sàng, các bác sỹđược phỏng vấn trả lời các câu hỏi mở theo bản hướng dẫn của điều tra viên
2.3.6 Xử lý và phân tích số liệu.
Số liệu định lượng thu thập được sau khi đã làm sạch thì được nhập bằngphần mềm epidata, sau đó được xử lý bằng các thuật toán thống kê y học trênphần mềm STATA (hoặc SPSS)
Các thông tin từ nghiên cứu định tính được thu thập qua phỏng vấn sâu sẽđược ghi âm lại, sau đó được giải băng và mã hóa theo từng nội dung
2.3.7 Khống chế sai số.
Các điều tra viên được tập huấn kỹ về phương pháp điều tra, hiểu rõcác nội dung của từng câu hỏi để có thể hướng dẫn một cách chính xác nhữngthắc mắc mà các bác sỹ đưa ra
Bộ câu hỏi sau khi được thiết kế được tham khảo qua các thảo luậnnhóm các bác sỹ lâm sàng, sau đó được chỉnh sửa và thử nghiệm trước khitriển khai nghiên cứu chính thức
Thiết kế bản hướng dẫn phỏng vấn sâu cụ thể, rõ ràng
Giám sát chặt chẽ quá trình chọn mẫu, tổ chức thu thập số liệu, tránhtrường hợp các bác sĩ trao đổi, sao chép nhận định của nhau hoặc điền phiếuhộ
Trang 24Các phiếu điều tra được các điều tra viên kiểm tra cẩn thận ngay khinhận phiếu từ bác sĩ để hạn chế các phiếu điền sai, điền thiếu.
Họp để rút kinh nghiệm sau mỗi buổi thu thập số liệu
Tiến hành làm sạch số liệu trước khi nhập, đưa ra các cách xử lý đốivới những lỗi sai trong bộ câu hỏi
Quá trình nhập số liệu vào máy được kiểm tra đối chiếu hai lần: mộtlần với từng phiếu điều tra và một lần với chương trình kiểm tra của máy
Số liệu được nhập bởi 2 nhóm độc lập, sau đó so sánh giữa 2 nhóm
2.4 Đạo đức trong nghiên cứu.
Nghiên cứu được thông qua Hội đồng đạo đức trong nghiên cứu củaTrýờng Ðại học Y Hà Nội
Ðối tượng hiểu về mục đích nghiên cứu và kí vào bản “thỏa thuận ðồng
ý tham gia nghiên cứu ” trước khi trả lời câu hỏi
Trong bộ câu hỏi không kèm theo họ tên của đối tượng, thông tin nghiêncứu hoàn toàn được bảo mật
Các kết quả nghiên cứu được công bố khi được sự thông qua của Hộiđồng đạo đức trong nghiên cứu
Trang 25CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ĐỊNH LƯỢNG
3.1.1 Một số đặc điểm của đối tượng nghiên cứu
Bảng 3.1 Đặc điểm chung đối tượng nghiên cứu (N=411)
Mức thu nhập: Là tổng thu nhập hàng tháng từ hoạt động lâm sàng
Năm kinh nghiệm lâm sàng về chuyên ngành chính đang làm
Nhận xét :
Tỷ lệ bác sỹ nam (50,6%) và bác sỹ nữ (49,1%) cũng như tỷ lệ bác sỹnam và nữ trong từng nhóm năm kinh nghiệm là tương đương nhau Đa sốcác bác sỹ lâm sàng có mức thu nhập hàng tháng dưới 10 triệu đồng 90%, thunhập từ 10-20 triệu là 6,6%, thu nhập trên 20 triệu chỉ có 3,4%
Bảng 3.2 Phân bố bác sỹ lâm sàng theo loại hình cơ sở y tế (N=411)
Trang 26Loại hình CSYT
Bệnh viện tuyến Trung Ương 210 51,1 Bệnh viện tuyến thành phố 123 29,9 Bệnh viện tuyến Quận/ huyện 29 7,1 Bệnh viện tư nhân 39 9,5 Phòng khám tư nhân 57 13,9 Khám lưu động 12 2,9
n (%) (%)n (%)n (%)n (%)n (%)n (%)n
(33,3)
29 (31,5)
16 (59,3)
3 (10,3)
5 (9,4)
16 (33,3)
123 (29,9)
(23,5)
26 (28,3)
4 (14,8)
2 (6,9)
27 (17,0)
18 (37,5)
97 (23,6)
(13,0)
5 (5,4)
1 (3,7)
7 (24,1)
4 (7,6)
2 (4,2)
40 (9,7)
(3,1)
3 (3,3) -
2 (6,9)
8 (15,1)
3 (6,3)
21 (5,2)
(24,7)
25 (27,2)
6 (22,2)
12 (41,4)
25 (47,2)
6 (12,5)
114 (27,7)
(2,5) (4,4)4 - (10,3)3 (3,8)2 (6,3)3 (3,9)16
‐ Chuyên ngành Nội bao gồm nội chung và các chuyên khoa sâu ví dụ: tim mạch, nội tiết, thân tiết niệu, huyết học, cơ xương khớp, thần kinh, truyền nhiễm
‐ Chuyên ngành Nhi bao gồm các chuyên khoa thuộc ngành Nhi
‐ Các chuyên khoa khác ví dụ: tai mũi họng, y học cổ truyền, phục hồi chức năng
Nhận xét:
Tính chung các chuyên ngành thì học vị chủ yếu là: Bác sỹ 29,9%,Thạc sỹ: 27,7% và chuyên khoa I; 23,6% Các chuyên ngành Nội,
Trang 27Ngoại/sản, Nhi thì học vị Bác sỹ chiếm tỷ lệ cao nhất, đặc biệt khoa Nhi là59,3% Học vị Thạc sỹ chiếm tỷ lệ cao nhất ở chuyên ngành Răng hàm mặt41,4%, Ung thư 47,2% Học vị Tiến sỹ, chuyên khoa II và Nội trú chiếm tỷ lệthấp trong các chuyên ngành.
Trang 28Bảng 3.5 Phân bổ các loại RRNN gặp phải trong một năm qua theo giới.
Loại rủi ro nghề nghiệp
Nam (N=142)
khi đang làm việc
73(51,4) 58(40,9) 131 (46,1)
2.Stress liên quan trực tiếp đến công việc (ví
dụ:căng thẳng, mất ngủ, cáu giận, giảm trí nhớ,
giảm tập trung) kéo dài trên 2 tuần
56 (39,4) 63 (44,4) 119 (41,9)
3.Tổn thương rõ rệt khác do phải thực hiện
công việc chuyên môn của mình (ví dụ: đau
lưng, cơ xương khớp, mắt…
58 (40,9) 55 (38,7) 113 (39,8)
4.Mắc bệnh lây qua đường hô hấp do quá trình
tiếp xúc và điều trị bệnh nhân
8.Dị ứng/sốc/rối loạn chức năng do tiếp xúc với
hóa chất, phóng xạ sử dụng trong công việc
chuyên môn của mình
11.Mắc bệnh truyền nhiễm khác do quá trình
tiếp xúc với máu và dịch cơ thể
3 (2,1) 5 (3,5) 8 (2,8)
Nhận xét:
Trong số 284 bác sỹ gặp rủi ro nghề nghiệp, những loại rủi ro mà bác
sỹ gặp phải nhiều nhất là rủi ro do vật sắc nhọn đâm vào với 46,1%, bị stressliên quan trực tiếp đến công việc kéo dài trên 2 tuần 41,9%, tổn thương rõ rệt
Trang 29do phải thực hiện chuyên môn (đau lưng, CXK, mắt…) 39,8%, mắc bệnh lâytruyền qua đường hô hấp do tiếp xúc với bệnh nhân và người nhà 40,5%,bệnh nhân hoặc người nhà đe dọa, xúc phạm chửi mắng 27,1%.
Với mỗi loại RRNN thì tỷ lệ gặp phải giữa bác sỹ nam và bác sỹ nữ có
sự khác nhau, điển hình là rủi ro vật sắc nhọn đâm vào của nam là 51,4%, còn
nữ là 40,9% Rủi ro mắc bệnh lây truyền qua đường hô hấp thì nữ chiếm51,4%, còn nam thấp hơn 29,6%
Bảng 3.6 Phân bổ loại rủi ro nghề nghiệp theo loại hình cơ sở y tế
Loại rủi ro
Loại hình cơ sở y tế (N=284) Trung
ương N=145
Tỉnh/
thành N=86
Quận/
huyện N=25
Bệnh viện tư N=20
Phòng khám tư N=41
1.Vật sắc nhọn đâm vào 65(44,8) 40(46,5) 12(48,0) 16(50,0) 22(53,7)
2 Stress,mất ngủ… 72(49,7) 31(36,1) 10(40,0) 8(40,0) 16(39,0)
3.Tổn thương mắt, 65(44,8) 25(29,1) 12(48,0) 7(35,0) 19(46,3)
4.Mắc bệnh lây qua hô hấp 55(37,9) 37(43,0) 13(52,0) 7(35,0) 18(43,9)
5.Bênh nhân, người nhà xúc
phạm, chửi mắng, đe dọa
31(21,4) 34(39,5) 10(40,0) 2(10,0) 11(26,8)
7.Tai nạn (điện giật, cháy nổ…) 11(7,6) 4(4,7) 1(4,0) 1(5,0) 1(2,4)
8.Dị ứng/sốc/rối loạn chức năng 11(7,6) 5(5,8) 2(8,0) 1(5,0) 3(7,3)
Ở bệnh viện tuyến thành phố, các bác sỹ gặp nhiều nhất là bị vật sắcnhọn đâm vào 46,5%, sau đó là bị mắc bệnh lây qua đường hô hấp 43%
Trang 30Bệnh viện tuyến quận/huyện chiếm tỷ lệ cao nhất bác sỹ mắc bệnh lâyqua đường hô hấp với 52% Chiếm tỷ lệ cũng rất cao và đứng thứ hai là vậtsắc nhọn đâm vào và các tổn thương rõ rệt đều 48%.
Trong khối CSYT tư nhân thì rủi ro gặp nhiều nhất và cao hơn các loạihình CSYT khác đó là vật sắc nhọn đâm vào với các bệnh viện tư nhân 50%,các phòng khám tư nhân là 53,7%
Bảng 3.7 Phân bổ loại rủi ro nghề nghiệp phân theo nhóm chuyên ngành
25(34,,7 )
7 (33,3) 10(45,5
)
13(35,1 )
12(42,9 )
4.Mắc bệnh lây qua
đường hô hấp
58(55,8 )
Trang 31Chuyên ngành nội: Rủi ro hay gặp nhất là mắc bệnh lây truyền qua đường hô hấp với tỷ lệ cao 55,8%, stress 47,1%, các tổn thương như đau lưng,đau cơ xương khớp là 44,2%.
Đối với chuyên ngành ngoại/sản thì rủi ro cao nhất là bị vật sắc nhọn đâm vào với tỷ lệ rất cao là 68,1%, đứng thứ hai là bị stress 40,3%
Chuyên ngành nhi cũng như nội, hay gặp nhất là bị bệnh lây qua đường
hô hấp nhưng tỷ lệ cao hơn nội với 66,7% Đặc biệt là tỷ lệ bị bệnh nhân hoặcngười nhà đe dọa, xúc phạm, chửi mắng cao 57,1%
Răng hàm mặt, ung thư và các chuyên khoa khác thì rủi ro vật sắc nhọnđâm vào chiếm tỷ lệ cao và cao nhất trong các loại rủi ro với tỷ lệ lần lượt là 63,6%; 59,5%; 53,4%
Tỷ lệ từng loại rủi ro vật sắc nhọn đâm vào, mắc bệnh lây qua đường
hô hấp và bị đe dọa, xúc phạm, chửi mắng giữa các chuyên ngành là có sự
khác biệt có ý nghĩa thống kê (p<0,05 Test χ 2 cho biến danh mục)
Trang 32Bảng 3.8 Loại rủi ro nghề nghiệp theo nhóm số năm kinh nghiệm lâm
sàng
Loại rủi ro
Năm kinh nghiệm (N=284)
≤5 năm
6-10 nnăm
11-15 năm
16-20 năm
21-25 năm
26-30 năm
>30 năm
N=75 N=59 N=52 N=27 N=26 N=27 N=18 n
(%)
n (%)
n (%)
n (%)
n (%)
n (%)
n (%)
Vật sắc nhọn đâm vào 36
(48,0)
27 (45,8)
28 (53,9)
13 (48,2)
10 (38,5)
9 (33,3)
8 (44,4)
Stress/căng thẳng kéo
dài
34 (45,3)
21 (35,6)
18 (34,6)
13 (48,2)
12 (46,2)
12 (44,4)
9 (50,0)
Tổn thương: cơ xương
khớp, mắt
32 (42,7)
22 (37,3)
20 (38,5)
10 (37,0)
9 (34,6)
13 (48,2)
7 (38,9)
Mắc bệnh lây qua hô
hấp
36 (48,0)
25 (42,4)
22 (42,3)
8 (29,6)
9 (34,6)
8 (29,6)
7 (38,1)
Bệnh nhân, người nhà
xúc phạm
24 (32,0)
24 (40,7)
11 (21,2)
5 (18,5)
8 (30,8)
2 (7,4)
3 (16,7)
Bị lãnh đạo,đồng
nghiệp chèn ép
9 (12,0)
6 (10,2)
4 (7,7)
2 (7,4)
2 (7,7)
2 (7,4)
1 (5,7)
Tai nạn (điện giật,
cháy nổ )
4 (5,3)
5 (8,5)
3 (5,8)
1 (3,7)
2 (7,7)
2 (3,4)
4 (7,7)
3 (11,1)
2 (7,7)
1 (3,7)
1 (5,6)
Bệnh nhân, người nhà
tấn công
2 (2,7)
2 (3,4)
1 (1,9)
3 (11,1)
1 (3,9)
2 (7,4)
2 (11,1)
Bệnh nhân, người nhà
khiếu kiện
2 (2,7)
3 (5,1)
2 (3,9)
1 (3,7)
1 (3,9)
- 3 (16,7)
Trang 33Nhận xét:
Bác sỹ lâm sàng có kinh nghiệm từ 15 năm trở xuống thường gặp nhất
là rủi ro vật sắc nhọn đâm vào và mắc bệnh lây qua đường hô hấp với tỷ lệgần cao tương đương nhau, nổi bật hơn là nhóm 11-15 năm kinh nghiệm bịvật sắc nhọn đâm vào cao tới 53,9%
Bác sỹ có từ 16 đến 25 năm và trên 30 năm kinh nghiệm thì rủi ro bịnhiều nhất là stress, căng thẳng kéo dài, điển hình là nhóm bác sỹ trên 30 nămkinh nghiệm là 50% Rủi ro đứng thứ hai là vật sắc nhọn đâm vào
Bác sỹ có từ 26-30 năm kinh nghiệm thì rủi ro gặp nhiều nhất lại là bịcác tổn thương rõ rệt do công việc như đau lưng, đau mắt, đau cơ xươngkhớp, chiếm tỷ lệ cao là 48,2%
Trong các loại rủi ro gặp phải của các bác sỹ thì chỉ có rủi ro bị bệnhnhân hoặc người nhà đe dọa, xúc phạm, chửi mắng là sự khác biệt giữa các nhómnăm kinh nghiệm là có ý nghĩa thống kê (p<0,05. Test χ 2 cho biến danh mục).
3.1.2.2 Cách thức mà các bác sỹ xử lý khi gặp rủi ro nghề nghiệp
Bảng 3.9 Cách thức có xử trí rủi ro nghề nghiệp
Nhận xét:
Khi gặp phải rủi ro bác sỹ có thể lựa chọn một hay nhiều cách xử tríkhác nhau Cách xử trí mà bác sỹ đã lựa chọn nhiều nhất là trao đổi với đồngnghiệp 66,2%, không trao đổi với ai mà tự xử trí 47,9% Cách xử trí được ítbác sỹ lựa chọn hơn là tìm kiếm sự hỗ trợ tư vấn tâm lý 14,1%, tìm kiếm sự
hỗ trợ pháp lý 5,6%
Trang 34Bảng 3.10 Cách xử trí rủi ro nghề nghiệp phân theo nhóm chuyên ngành
Nhi khoa lại lựa chọn nhiều cách tìm hỗ trợ khám và điều trị 66,7%
Răng hàm mặt lựa chọn nhiều nhất cách không trao đổi với ai tự xử lý68,2%
Hầu như các chuyên ngành thì cách đều được lựa chọn ít hơn là tìm hỗtrợ về tâm lý, pháp lý
Trang 35Với mỗi một cách xử trí rủi ro thì tỷ lệ lựa chọn ở các chuyên ngành
cũng khác nhau, nhưng sự khác biệt chưa có ý nghĩa thống kê (p>0,05 Test
χ 2 và Fisher cho biến danh mục).
Bảng 3.11 Cách xử trí rủi ro nghề nghiệp phân theo nhóm số năm kinh
nghiệm lâm sàng
Cách xử trí
Năm kinh nghiệm (N= 284)
≤5 năm
6-10 năm
11-15 năm
16-20 năm
21-25 năm
26-30 năm
≥30 năm
N=75 N=59 N=52 N=27 N=26 N=27 N=18 n
(%)
n (%)
n (%)
n (%)
n (%)
n (%)
n (%)
(40,0)
28 (47,5)
22 (42,3)
14 (51,9)
14 (53,9)
15 (55,6)
13 (72,2)
Trao đổi với
lãnh đạo (36,0)27 (41,4)24 (25,0)13 (33,3)9 (38,5)10 (22,2)6 (33,3)6Trao đổi với
đồng nghiệp
52 (69,3)
39 (66,1)
35 (67,3)
19 (70,4)
17 (65,4)
15 (55,6)
11 (61,1)
Tìm hỗ trợ
khám, điều trị
39 (52,0)
14 (23,7)
14 (26,9)
12 (44,4)
12 (44,2)
10 (37,0)
6 (37,7)
Tìm hỗ trợ tư
vấn tâm lý
11 (14,7)
7 (11,9)
5 (9,6)
4 (14,8)
3 (11,5)
7 (25,9)
3 (16,7)
Tìm hỗ trợ
pháp lý
3 (4,0)
1 (1,7)
1 (1,9)
3 (11,1)
3 (11,5)
5 (18,5)
-Nhận xét:
Với mỗi một cách xử trí rủi ro thì tỷ lệ lựa chọn của các bác sỹ
có số năm kinh nghiệm lâm sàng là khác nhau, nhưng sự khác biệt chưa có ý
nghĩa thống kê (p>0,05 Test χ 2 và Fisher cho biến danh mục). Với cách xử trítìm hỗ trợ khám và điều trị, tìm hỗ trợ pháp lý thì sự khác biệt giữa lại có ýnghĩa thống kê Tỷ lệ chọn cách trao đổi với đồng nghiệp nhiều nhất, riêngnhóm >30 năm thì chọn tự xử trí nhiều nhất 72,2%
Trang 363.1.2.3 Tương quan giữa rủi ro nghề nghiệp với một số yếu tố
Bảng 3.12 Nguy cơ gặp phải rủi ro nghề nghiệp trong một năm qua theo giới tính và chuyên khoa
Có rủi ro
Vật sắc nhọn đâm vào khi đang làm việc
Stress, căng thẳng trên 2 tuần
Tổn thương khác:
đau lưng, cơ xương khớp
Mắc bệnh lây truyền qua đường hô hấp do tiếp xúc bệnh nhân
Bị đe dọa, xúc phạm chửi mắng OR
(95%CI)
OR (95%CI)
OR (95%CI)
OR (95%CI)
OR (95%CI)
OR (95%CI) Giới
Nữ 1,08 (0,71-1,64) 0,65 (0,41-1,05) 1,22 (0,76-1,97) 0,92 (0,57-1,47) 2,52 (1,52-4,16) 1,11 (0,66-1,88)
Chuyên khoa
Chuyên ngành Nội 1 1 1,32 (0,72-2,43) 1,57 (0,59-4,25) 6,99 (3,30-14,8) 3,65 (1,1-13,13)Chuyên ngành
Ngoại/Sản 1,42 (1,05-1,90) 2,66 (1,90-3,73) 1 1,03 (0,62-1,72) 1 1,51 (0,78-2,92)Chuyên ngành Nhi
Trang 37Nhận xét:
Giới: Trong hầu hết các trường hợp rủi ro nghề nghiệp thì bác sỹ nữ có nguy
cơ gặp cao hơn, cao nhất là nguy cơ mắc các bệnh lây truyền qua đường hô hấp caogấp 2,52 lần so với bác sỹ nam (OR = 2,52; 95% CI: 1,52-4,16; p<0,05)
Chuyên khoa:
Nguy cơ gặp rủi ro chung của các chuyên ngành đều cao hơn hệ nội,trong đó cao nhất là Nhi khoa cao gấp gần 2 lần, răng hàm mặt cao hơn 1,75(OR= 1,75; 95% CI: 0,71-4,35; p>0,05) lần, ngoại/ sản khoa cao gấp 1,42(OR = 1,42; 95% CI: 1,05-1,92; p<0,05) so với bác sỹ chuyên ngành Nội
Nguy cơ bị vật sắc nhọn đâm vào so với hệ nội đều cao hơn nhiều lần
so với bác sỹ ở các chuyên ngành khác, trong đó cao hơn bác sỹ chuyênngành Răng hàm mặt là 5,83 lần (OR = 5,83; 95% CI: 2,19-15,56), cao hơnbác sỹ chuyên ngành Ung thư 4,89 lần (OR = 4,89; 95%CI: 2,20-10,87), cáohơn bác sỹ chuyên ngành Ngoại/sản 2,66 lần (OR = 2,66; 95% CI: 1,90-3,73)
Nguy cơ bị stress như căng thẳng, mất ngủ, giảm trí nhớ kéo dài trên 2tuần do công việc của các bác sỹ thuộc hệ nội là cao hơn chuyên ngành khác
Nguy cơ bị các tổn thương rõ rệt khác do phải thực hiện chuyên mônnhư đau lưng, cơ xương khớp, đau mắt so với Nhi khoa đều cao hơn bác sỹthuộc hệ nội 1,57 lần (OR = 1,57; 95% CI: 0,59-4,25; p>0,05), cao hơn bác sỹRăng hàm mặt 1,67 lần (OR = 1,67; 95% CI: 0,48-5,74; p>0,05 )
Nguy cơ mắc các bệnh lây truyền qua đường hô hấp do quá trình tiếpxúc và điều trị bệnh nhân của hầu hết chuyên khoa đều cao hơn rất nhiều so vớiNgoại/sản, điển hình là Răng hàm mặt cao gấp 11,1 lần (OR = 11,1; 95% CI:3,65-33,7), Hệ nội gấp 6,99 lần (OR = 6,99; 95% CI: 3,30-148), Nhi khoa gấp3,75 lần (OR = 3,57; 95% CI: 1,51-9,47), chuyên khoa khác cũng hơn tới 3,95 lần(OR = 3,95; 95% CI: 1,32-9,96) nhưng sự khác biệt này không có ý nghĩa thống