1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Pháp luật kinh tế trong trọng tài thương mại

27 614 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 27
Dung lượng 29,83 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Khái niệm trọng tài thương mại :• Theo khoản 1 điều 3 luật trọng tài thương mại 2010 thì: “Trọng tài thương mại là phương thức giải quyết tranh chấp do các bên thoả thuận và được tiến h

Trang 1

I. Khái niệm trọng tài thương mại :

• Theo khoản 1 điều 3 luật trọng tài thương mại 2010 thì:

“Trọng tài thương mại là phương thức giải quyết tranh

chấp do các bên thoả thuận và được tiến hành theo quy định của Luật này”

Đặc điểm :

-Trọng tài bắt nguồn từ sự thỏa thuận

-Trọng tài là 1 cơ quan tài phán

1 Tranh chấp giữa các bên phát sinh từ hoạt động thương mại

2 Tranh chấp phát sinh giữa các bên trong đó ít nhất một bên có hoạt động thương mại

3 Tranh chấp khác giữa các bên mà pháp luật quy định được giải quyết bằng Trọng tài

Trang 2

Ở đây có điểm đổi mới so với pháp lệnh trọng tài

2003,theo Pháp lệnh TT 2003 thì chỉ có tranh chấp thương mại mới có thể do trọng tài xử lý

Theo khoản 3 điều 3 luật TT 2010 quy định: “ Các bên tranh chấp là cá nhân, cơ quan, tổ chức Việt Nam hoặc

nước ngoài tham gia tố tụng trọng tài với tư cách nguyên đơn, bị đơn.”

Điều 5 Điều kiện giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài

1 Tranh chấp được giải quyết bằng Trọng tài nếu các bên

có thoả thuận trọng tài Thỏa thuận trọng tài có thể được lập trước hoặc sau khi xảy ra tranh chấp

2 Trường hợp một bên tham gia thoả thuận trọng tài là cá nhân chết hoặc mất năng lực hành vi, thoả thuận trọng tài vẫn có hiệu lực đối với người thừa kế hoặc người đại diện theo pháp luật của người đó, trừ trường hợp các bên có thoả thuận khác

3 Trường hợp một bên tham gia thỏa thuận trọng tài là tổ chức phải chấm dứt hoạt động, bị phá sản, giải thể, hợp nhất, sáp nhập, chia, tách hoặc chuyển đổi hình thức tổ chức, thỏa thuận trọng tài vẫn có hiệu lực đối với tổ chức tiếp nhận quyền và nghĩa vụ của tổ chức đó, trừ trường hợp các bên có thoả thuận khác

Các bên tranh chấp phải có thỏa thuận về trọng tài

Khoản 2 điều 3 pháp lệnh đã quy định: “Thoả thuận trọng tài là thoả thuận giữa các bên về việc giải quyết bằng

Trọng tài tranh chấp có thể phát sinh hoặc đã phát sinh.”

Trang 3

Điều 6 Toà án từ chối thụ lý trong trường hợp có thoả thuận trọng tài

Trong trường hợp các bên tranh chấp đã có thoả thuận

trọng tài mà một bên khởi kiện tại Toà án thì Toà án phải

từ chối thụ lý, trừ trường hợp thoả thuận trọng tài vô hiệu hoặc thoả thuận trọng tài không thể thực hiện được

Tìm hiểu về thỏa thuận TT vô hiệu tại điều 18 luật TT

3.1/Nguyên tắc thỏa thuận Trọng tài:

Tranh chấp chỉ được giải quyết tại trọng tài nếu các

bên thỏa thuận trọng tài và thỏa thuận trọng tài đó có hiệu lực(xem phần 1) Nói một cách khác: “không có thỏa thuận trọng tài, không có tố tụng trọng tài”

.Theo Điều 16 luật TTTM 2010 thì hình thức của

thỏa thuận trọng tài được quy định rõ:

Điều 16 Hình thức thoả thuận trọng tài

Trang 4

1 Thỏa thuận trọng tài có thể được xác lập dưới hình thức điều khoản trọng tài trong hợp đồng hoặc dưới hình thức thỏa thuận riêng.

2 Thoả thuận trọng tài phải được xác lập dưới dạng văn bản Các hình thức thỏa thuận sau đây cũng được coi là xác lập dưới dạng văn bản:

a) Thoả thuận được xác lập qua trao đổi giữa các bên

bằng telegram, fax, telex, thư điện tử và các hình thức

khác theo quy định của pháp luật;

b) Thỏa thuận được xác lập thông qua trao đổi thông tin bằng văn bản giữa các bên;

c) Thỏa thuận được luật sư, công chứng viên hoặc tổ chức

có thẩm quyền ghi chép lại bằng văn bản theo yêu cầu của các bên;

d) Trong giao dịch các bên có dẫn chiếu đến một văn bản

có thể hiện thỏa thuận trọng tài như hợp đồng, chứng từ, điều lệ công ty và những tài liệu tương tự khác;

đ) Qua trao đổi về đơn kiện và bản tự bảo vệ mà trong đó thể hiện sự tồn tại của thoả thuận do một bên đưa ra và bên kia không phủ nhận

3.2/Nguyên tắc trọng tài viên độc lập,vô tư,khách

quan:

Một số tổ chức trọng tài yêu cầu trọng tài viên xác

nhận bằng văn bản rằng họ đang và sẽ độc lập với các bên

và yêu cầu trọng tài viên trình bày bất kỳ sự kiện hoặc chi tiết nào có thể khiến các bên nghi ngờ về tính độc lập của họ.Điều này cho thấy,việc tranh chấp một cách công

Trang 5

bằng,tính độc lập của các trọng tài viên đối với các bên là vấn đề đươc quan tâm đặc biệt.Trọng tài viên phải có đủ cách điều kiện nhất định để đảm bảo rằng họ độc lập.vô tư,khách quan trong việc giải quyết tranh chấp.Để trở

thành một trọng tài viên của một trung tâm trọng tài,công dân Việt Nam cần hội tụ đầy đủ những điều kiện quy định tại điều 20 luật trọng tài 2010

Khi tham gia giải quyết tranh chấp thương mại,trọng tài viên phải thật sự là người thứ ba độc lập,vô tư,khách quan,không lien quan tới các bên tranh chấp cũng như không có bất kỳ lợi ích nào dính dáng đến vụ tranh chấp đó.Nếu vi pham những quy định trên,trọng tài viên phải

từ chối giải quyết vụ tranh chấp hoặc các bên có quyền yêu cầu đổi trọng tài viên vu tranh chấp

Trong quá trình giải quyết tranh chấp,trọng tài viên phải căn cứ vào các tình tiết của vụ tranh chấp,xác minh

sự việc nếu thấy cần thiết và phải căn cứ vào các chứng

cứ mà mình thu thập được chứ không để bị chi phối bởi tổ chức hay cá nhân nào.Khong ai có quyền can thiệp,chỉ đạo vào việc giải quyết tranh chấp của trọng tài

viên.Quyết định của trọng tài viên phải đúng với sự thật khách quan

3.3/Nguyên tắc trọng tài viên phải căn cứ vào pháp luật:

Đây được coi là một quyên tắc rất quan trọng trong mọi thủ tục tố tụng cũng như giải quyết mọi vấn đề của đời sống xã hội trong điều kiện nhà nước pháp quyền

Mặc dù về bản chất trong tài thương mại là một tổ chức

Trang 6

phi chính phủ nhưng trong quá trình hoạt động vẫn phải dựa trên cơ sở các quy định của pháp luật.Vì vậy,để giải quyết tranh chấp thương mại một cách công bằng,hợp

lý,bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của các bên:trọng tài viên –người được các bên có tranh chấp lựa chọn để giải quyết tranh chấp phải căn cứ theo pháp luật Có như vậy quyền và lợi ích hợp pháp của các bên trong quan hệ trah chấp mới được bảo vệ một cách công bằng và thỏa đáng

Nếu trọng tài viên không căn cứ vào pháp luật,nhận hối lộ hoặc có hành vi vi phạm đạo đức trong tài viên thì các bên có quyền yêu cầu thay đổi trọng tài Tư tưởng chỉ đạo đối với trọng tài viên là pháp luật chỉ có căn cứ vào pháp luật, trọng tài viên mới giải quyết được các tranh chấp một cách vô tư, khách quan.Có như vậy mới được các nhà kinh doanh tín nhiệm

3.4/Nguyên tắc trọng tài viên phải tôn trọng sự thỏa thuận của các bên:

Có thể nói đây là một trong những ưu điểm của tố tụng trọng tài so với tố tụng tòa án.Các bên tranh chấp có

quyền thỏa thuận với nhau về nhiều vấn đề liên quan đến thủ tục giải quyết tranh chấp mà trọng tài viên phải tôn trọng, nếu không sẽ dẫn đến hậu quả là quyết định của hôi đồng trọng tài sẽ bị tòa án hủy theo yêu cầu của các bên

Sự thỏa thuận các bên trong tố tụng trọng tài sẽ được đảm bảo một cách tối đa,cụ thể như sau:

Trang 7

_Các bên thỏa thuận chọn trung tâm trọng tài nào, hình thức trọng tài nào thì chỉ có trung tâm trọng tài đó và hình thức trọng tài đó có thảm quyền giải quyết.

_Các bên lựa chọn trọng tài viên nào thì trọng tài viên đó

có quyền giải quyết

_Các bên thỏa thuận vụ tranh chấp do một trọng tài viên duy nhất giải quyết thì chỉ có trọng tài viên duy nhất đó

có quyền giải quyết

_Các bên có quyền thỏa thuận địa điểm giải quyết vụ

tranh chấp

_Các bên có quyền thỏa thuận thời hạn thực hiện các thủ tục cần thiết cho ben giải quyết

_Các bên có quyền thỏa thuận thời gian mở phiên họp

giải quyết vụ tranh chấp

Như vậy, có thể thấy nguyên tắc tôn trọng sự thỏa thuận của các bên tham gia tranh chấp là một trong những

nguyên tắc tiên quyết của việc áp dụng hình thức trọng tài thương mại.Và chỉ có trọng tố tụng trọng tài- hình thức giải quyết tranh chấp do các bên lựa chọn, các bên mới có quyền thỏa thuận nhiều vấn đề như vậy và trọng tài viên bắt buộc phải tuân theo

3.5/Nguyên tắc giải quyết một lần:

Đây lại là một ưu điểm nữa của tố tụng trọng tài so với

tố tụng tòa án Một trong những mục đích quan trọng nhất của việc giải quyết tranh chấp thương mại là nhanh

chóng, tránh dây dưa kéo dài, làm ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Chính vì vậy mà ngày nay, để các tranh chấp thương mai giữa các nhà kinh

Trang 8

doanh có thể được giải quyết nhanh chóng và dứt điểm Các tổ chức trọng tài phi chính phủ đã ra đời để đáp ứng yêu cầu đó của các nhà kinh doanh.

Với tư cách là một tổ chức phi chính phủ, trọng tài thương mại không có cơ quan cấp trên nên phán quyết của trọng tài có giá trị chung thẩm, không bị kháng cáo Kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm như bản án sơ thẩm của tòa án, cũng không có thủ tục giám đốc thẩm, tái thảm.Tố tụng trọng tài chỉ có một trình tự giải quyết, tức là các tranh chấp thương maị chỉ được giải quyết một lần tại trọng tài.Nếu quyết định của trọng tài không bị tòa án hủy bỏ theo đơn yêu cầu của một trong các bên mà bên phải thi hành không tự nguyện thi hành thì sau thời hạn 30 ngày kể từ ngày hết thời hạn thi hành quyết đingj trọng tài,bên được thi hành quyết định trọng tài có quyền làm đơn yêu càu cơ quan thi hành án cấp tỉnh nơi có trụ sở, nỏi cư trú hoặc nơi có tài sản của bên phải thi hành quyết định trọng tài

IV. TRÌNH TỰ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP TẠI TRỌNG TÀI

A. Trìnhtự giải quyết tranh chấp tại trung tâm trọng tài:

Giai đoạn thứ nhất: Khởi kiện

Khởi kiện là việc các bên tranh chấp yêu cầu trọng tài giải quyêt tranh chấp bằng một đơn kiện

Nội dung của đơn kiện:

1. Ngày, tháng, năm làm đơn khởi kiện;

Trang 9

2. Tên, địa chỉ của các bên; tên, địa chỉ của người làm chứng, nếu có;

3. Tóm tắt nội dung vụ tranh chấp;

4. Cơ sở và chứng cứ khởi kiện, nếu có;

5. Các yêu cầu cụ thể của nguyên đơn và giá trị vụ tranh chấp;

6. Tên, địa chỉ người được nguyên đơn chọn làm Trọng tài viên hoặc đề nghị chỉ định Trọng tài viên

Theo quy định tại điều 30 luật trọng tài thương mại 2010, khi khởi kiện nguyên đơn phải gửi đơn kiện, thỏa thuận trọng tài và các tài liệu, chứng cứ đến trung tâm trọng tài Theo quy định tại điều 31luât trọng tài 2010: thời hiệu khởi kiện giải quyết vụ tranh chấp bằng trọng tài

1. Đối với vụ tranh chấp mà pháp luật quy định thời

hiệu khởi kiện thì thực hiện theo quy định đó của

pháp luật

2. Đối với vụ tranh chấp mà pháp luật không quy định thời hiệu khởi kiện thì thời hiệu khởi kiện giải quyết vụ tranh chấp bằng trọng tài là hai năm, kể từ ngày xảy ra tranh chấp, trừ trường hợp bất khả kháng Thời gian không được tính vào thời hiệu khởi kiện được tính từ ngày xảy ra sự kiện cho đến khi không còn sự kiện bất khả kháng

Khi nộp đơn kiện, nguyên đơn phải nộp tạm ứng phí trọng tài nếu các bên không có thỏa thuận khác Phí trọng tài được quy định tại điều 34 luật trọng tài 2010 Ngoài ra, nguyên đơn có quyền sửa đổi, bổ sung, rút đơnkiện trược

Trang 10

khi hội đồng trọng tài ra quyết định vể việc giải quyết vụ án.

Giai đoạn thứ hai: thụ lý đơn kiện

Sau khi nhận đơn kiện việc đầu tiên mà trung tâm trọng tài phải làm là xem xét vụ việc có thuộc thẩm quyền mà mình giải quyết hay không, các bên có thỏa thuận trọng tài không, thỏa thuận trọng tài của các bên có chọn đích danh trung

tâm trọng tài mà nguyên đơn khởi kiện hay không,

nguyên đơn và bị đơn có phải là tổ chức, cá nhân kinh doanh không…Nếu thỏa mãn những đáu hiệu đó kết hợp với đơn kiện có đầy đủ các điều kiện theo quy định và nguyên đơn đã nộp tạm ứng phí trọng tài thì trung tâm trọng tài sẽ thụ lý đơn kiện và bắt đầu có trách nhiệm giải quyết vụ việc

Thụ lý đơn kiện là việc trung tâm trọng tài chấp nhận đơn kiện của các bên và đứng ra giải quyết vụ việc

Khi thụ lý vụ việc, theo quy đinh của pháp lệnh trọng tài thương mại, trung tâm trọng tài nhận giải quyết vụ việc phải làm thủ tục thông báo đơn kiện

Giai đoạn thứ ba: Tự bảo vệ của bị đơn

Nội dung của bản tự bảo vệ của bị đơn: theo điều 35 luật trọng tài 2010

1 Ngày, tháng, năm làm bản tự bảo vệ;

2 Tên và địa chỉ của bị đơn;

3 Cơ sở và chứng cứ tự bảo vệ, nếu có;

Trang 11

4 Tên và địa chỉ của người được bị đơn chọn làm Trọng tài viên hoặc đề nghị chỉ định Trọng tài viên.

Theo yêu cầu của bị đơn, thời hạn bị đơn phải gửi bản tự bảo vệ kèm theo chứng từ có thể dài hơn ba mươi ngày nhưng phải trước ngày hội đồng trọng tài mở phiên họp theo quy định của pháp luật

Bên cạnh bản tự bảo vệ, bị đơn còn có quyền kiện lại

nguyên đơnvề những vấn đề có liên quan đến yêu cầu của nguyên đơn Đơn kiện lại phải gửi cho hội đồng trọng tài và đồng thời được gửi cho nguyên đơn trước ngày mở

phiên họp của hội đồng trọng tài giải quyết đơn kiện của nguyên đơn

Nguyên đơn phải có bản trả lời đơn kiện lại trong thời hạn

ba mươi ngày kể từ ngày nhạn được đơn kiện lại Bản trả lời phải được gửi cho bị đơn và hội đồng trọng tài Thủ tục kiện lại được tiến hành như giải quyết đơn kiện của nguyên đơn và do hội đồng trọng tài giải quyết cùng một lúc

Giai đoạn thứ tư: Thành lập hôi đồng trọng tài tại

trung tâm trọng tài( theo điều 39 luật trọng tài năm

2010)

Việc hình thành hội đồng trọng tài để giải quyết vụ

tranh chấp phụ thuộc hoàn toàn vào ý chí của đương sự Tùy thuộc vào tính chất, quy mô,đặc điểm của vụ tranh chấp và quan trọng nhất là sự thỏa thuận của các bên mà vụ việc đó có thể được giải quyết bởi hội đồng trọng tài gồm ba trọng tài viên hoặc một trọng tài viên duy nhất

Giai đoạn thứ năm: Chuẩn bị giải quyết

Trang 12

Các trọng tài viên phụ trách vụ việc phải tiến hành những công việc cơ bản:

- Thứ nhất, nghiên cứu hồ sơ, xác minh sự việc: Sau khi được chon hoặc được chỉ định, các trọng tài viên phải nghiên cứu hồ sơ, xác minh sự việc Trên cơ sở đơn kiện và các tài liệu, chứng cứ của nguyên đơn và bản tự bảo vệ của bị đơn, các trọng tài viên phải

nghiên cứu kỹ những hồ sơ và các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan đến vụ việc kể từ đó đưa ra phương pháp giải quyết tối ưu Hội đồng trọng tài có quyền gặp các bên để nghe họ trình bày ý kiến của mình Theo yêu cầu của một bên hoặc các bên hoặc theo sáng kiến của mình, hội đồng trọng tài có thể tìm hiểu sự việc từ người thứ ba với sự có mặt của các bên hoặc sau khi đã thông báo cho các bên

- Thứ hai, thu thập chứng cứ: Theo quy định của pháp luật, nghĩa vụ cung cấp chứng cứ thuộc về đương sự Tuy nhiên, trog trường hợp cần thiết, hội đồng trọng tài có thể tự mình thu thập chứng cứ, mời giám định theo yêu cầu của một bên hoặc các bên Việc thu

thập, xác minh chứng cứ của hội đồng trọng tài phải được thông báo cho các bên biết

Giai đoạn thứ sáu: Hòa giải

Trong quá trình giải quyết một tranh chấp tại trọng tài, việc hòa giải không được pháp luật quy định là một giai đoạn bắt buộc: phán quyết của trọng tài vẫn có hiệu lực pháp lý khi trong quá trình giải quyết vụ việc không hề có thủ thục hòa giải Tuy nhiên, do bản chất của tố tụng trọng

Trang 13

tài lầ thỏa thuận nên hòa giải giữa các bên tranh chấp vẫn luon được đặt lên hàng đầu Hòa giải trong tố tụng trọng tài có thể diễn ra theo hai phương thức.

- Thứ nhất, các bên tự hòa giải Việc các bên tự tiến hành hòa giải mà không có sự hiện diện của trọng tài viên được gọi là hòa giải tố tụng Ở hình thức này các bên có thể thỏa thuận viện đến sự giúp đỡ của người thứ ba nào đó ( như luật sư, thương gia, chuyên viên kinh tế,…) nhưng không phải do trung tâm trọng tài tiến hành Khi các bên thỏa thuận được với nhau về cách thức giải quyết vụ việc thì theo yêu cầu của họ hooij đồng trọng tài sẽ đình chỉ tố tụng và vụ tranh chấp kết thúc tại thủ tục này

- Thứ hai, hòa giải trong tố tụng trọng tài Đây là

trường hợp trong quá trình giải quyết vụ án, các bên yêu cầu trọng tài tiến hành hòa giải- có nghĩa là việc hòa giải có sự tham gia của trọng tài với tư cách là trung gian hòa giải

Giai đoạn thứ bảy: Phiên họp giải quyết tranh chấp

Kết thúc giai đoạn chuẩn bị giải quyết vụ việc mà các bên vẫn không thỏa thuận được với nhau về cách thức giải quyết vụ việc tranh chấp thì thủ tục giải quyết vụ tranh chấp sẽ được chuyển sang giai đoạn mới đó là phiên họp giải quyết tranh chấp

Pháp luật về tố tụng trọng tài ở Việt Nam hiện nay không quy định về một khoảng thời gian bắt buộc phải mở phiên họp giải quyết tranh chấp Về nguyên tắc, phương thức giải quyết tranh chấp này xuất hiện phụ thuộc khá nhiều

Ngày đăng: 14/10/2014, 20:21

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w