1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Một số giải pháp nhằm tăng cường khả năng huy động vốn của NHTM cho sự nghiệp Công nghiệp hoá - Hiện đại hoá đất nước (2).DOC

44 717 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Một Số Giải Pháp Nhằm Tăng Cường Khả Năng Huy Động Vốn Của NHTM Cho Sự Nghiệp Công Nghiệp Hoá - Hiện Đại Hoá Đất Nước
Người hướng dẫn Thầy Giáo Nguyễn Hữu Tài
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Thể loại bài viết
Định dạng
Số trang 44
Dung lượng 197 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Một số giải pháp nhằm tăng cường khả năng huy động vốn của NHTM cho sự nghiệp Công nghiệp hoá - Hiện đại hoá đất nước

Trang 1

Lời nói đầu

Để thực hiện mục tiêu Công nghiệp hoá - Hiện đại hoá đất nớc, cần phải

có số vốn rất lớn Nguồn vốn đó có thể khai thác đợc bao gồm nguồn trongnớc và nguồn từ bên ngoài Muốn đi lên bằng chính sức mình, phải coinguồn vốn tích luỹ từ bản thân nền kinh tế trong nớc là chủ yếu Tuy nhiên,

do điểm xuất phát từ nền kinh tế còn thấp, cần có sự hỗ trợ từ nguồn vốnbên ngoài Tạo dựng đợc vốn cho yêu cầu phát triển này, đòi hỏi toàn bộ hệthống Tài chính Quốc gia phải nỗ lực vợt bậc Hệ thống ngân hàng vớinhững ngân hàng ngày một lớn mạnh, là lực lợng chủ yếu trong việc thu hútnguồn vốn Cách đây gần một thế kỷ, V.I.Lê Nin đã đa ra một luận điểm vĩ

đại, đánh giá vai trò của ngân hàng nh :

“ Không có những ngân hàng lớn thì sẽ không thể thực hiện đợc Chủnghĩa xã hội “ Và ngời đã ví hệ thống ngân hàng “ Đó là cái gì giống bộxơng của xã hội Xã hội chủ nghĩa “

Tạo vốn cho Công nghiệp hoá - Hiện đại hoá đất nớc chính là một trongnhững giải pháp khắc phục nguy cơ tụt hậu so với các nớc, trớc hết là các n-

ớc trong khu vực Với vai trò là trung gian tài chính, ngân hàng là ngànhchủ yếu làm cho cung cầu tiền tệ gặp nhau

Các ngân hàng thơng mại (NHTM) muốn tồn tại phát triển và đóng gópcho sự nghiệp đổi mới đất nớc, không có cách nào khác là phải bằng mọibiện pháp để thu hút nguồn vốn nhàn rỗi trong dân c Tuy trong hệ thốngngân hàng đã có nhiều đổi mới về mọi phơng diện song nó chỉ đóng một vaitrò khá “khiêm tốn” trong việc tập trung nguồn vốn tiết kiệm để phân phốivào các hoạt động tăng trởng kinh tế Vậy làm thế nào để ngời dân gửi tiềnvào ngân hàng? Cách tốt nhất để huy động vốn, đặc biệt là vốn trung và dàihạn? Đây là vấn đề mà tất cả các ngân hàng đều quan tâm Vì vậy em đãchọn đề tài nghiên cứu của mình là: ”Một số giải pháp nhằm tăng cờng khảnăng huy động vốn của NHTM cho sự nghiệp Công nghiệp hoá - Hiện đạihoá đất nớc”.Với đề tài này, chỉ nghiên cứu ở phạm vi:

+Phạm vi không gian: Nghiên cứu hệ thống ngân hàng thơng mại ViệtNam

+Phạm vi nội dung: Giải pháp huy động vốn trong nớc

Bài viết có sử dụng những phơng pháp: phơng pháp thống kê, phơng pháp

so sánh và phơng pháp phân tích tổng hợp

Trang 2

Kết cấu của đề tài nghiên cứu bao gồm:

+Chơng I : Những vấn đề lí luận cơ bản.

+Chơng II : Thực trạng về huy động vốn của hệ thống NHTM Việt Nam

+Chơng III: Một số giải pháp tăng cờng khả năng huy động vốn của

NHTM

Do kiến thức về chuyên môn còn có hạn nên bài viết chắc chắn sẽ khôngtránh khỏi những sai sót, em rất mong nhận đợc sự góp ý của các thầycô Và em xin chân thành cám ơn thầy giáo Nguyễn Hữu Tài đã hớng dẫn

em hoàn thành bài viết này

Chơng I : Những vấn đề lí luận cơ bản

I Chức năng NHTM

1 Quá trình ra đời của NHTM

Trang 3

Có nhiều quan điểm khác nhau về quá trình ra đời của ngân hàng thơngmại:

-Theo quan điểm của Mác: NHTM ra đời từ các nhà T bản thơngnghiệp.Trong các nhóm nhà T bản thơng nghiệp tách ra một nhóm chuyênchuyển tiền, đổi tiền cho khách hàng giữa các vùng, giữa các Quốc gia vớinhau.Trong qúa trình đó họ nắm giữ một số tiền nhàn rỗi nhất định nào đó,

họ sử dụng số tiền đó để cho vay hoặc đầu t và thông qua đó để thu lợinhuận

-Theo quan điểm của các nhà kinh tế học hiện đại: Các NHTM ra đời từ cácnhà thợ kim hoàn và trải qua một thời kỳ 3 giai đoạn:

+Giai đoạn 1: Các nhà thợ vàng chỉ thực hiện chức năng nhận tiền gửi vàvàng của khách hàng Thông qua việc giữ hộ đó ngời ta nhận đợc mộtkhoản phí, gọi là lệ phí hoa hồng Đặc trng của giai đoạn này là: các nhàthợ kim hoàn phải giữ lại 100% số tiền và vàng mà khách hàng gửi Trongthời kỳ này các kho tiền, quỹ tiền đó giống nh các kho hàng bình thờngkhác

+Giai đoạn 2 : Các nhà thợ vàng nhận thấy rằng việc giữ lại 100% tiền gửicủa khách hàng là không cần thiết vì trờng hợp tất cả các khách hàng cùngrút tiền cùng một lúc là không xảy ra Trong thực tế hàng ngày có một sốngời đến rút tiền ra, đồng thời có ngời đến gửi tiền vào Họ qui định chỉ giữlại một tỉ lệ nhất định nào đó so với tiền gửi của khách hàng để bảo đảmkhả năng chi trả thờng xuyên khi khách hàng đến rút tiền Còn đại bộ phận

số tiền là đầu t và cho vay

+Giai đoạn 3 : Các nhà thợ kim hoàn không chỉ nhận tiền gửi, cho vay và

đầu t, còn mở rộng ra một số dịch vụ khác nh: chuyển tiền hộ, thanh toán

hộ khách hàng, các dịch vụ trên thị trờng tài chính: mua, bán hộ chứngkhoán, ngoại tệ Khi đầy đủ 3 nghiệp vụ: nhận tiền gửi, cho vay; đầu t vàdịch vụ thanh toán thì NHTM ra đời

2 Khái niệm NHTM

NHTM là một tổ chức kinh doanh trên lĩnh vực tiền tệ, tín dụng và ngânhàng, mà hoật động chủ yếu và thờng xuyên của nó là nhận tiền gửi củakhách hàng với trách nhiệm hoàn trả và sử dụng số tiền đó để cho vay, để

đầu t, để chiết khấu và để làm phơng tiện thanh toán

3 Chức năng và hệ thống NHTM Việt Nam

3.1 Chức năng:

Từ tháng 9/1989 cùng với việc xây dựng đề án đổi mới căn bản tổ chức vàhoạt động ngân hàng, hai nhóm nghiên cứu đổi mới ngân hàng do Chủ tịchHội đồng bộ trởng thành lập đã cùng ngân hàng nhà nớc Việt Nam xâydựng dự thảo 2 pháp lệnh: Pháp lệnh về ngân hàng nhà nớc Việt Nam vàPháp lệnh về ngân hàng, hợp tác xã tín dụng và công ty tài chính Tháng5/1990, Hội đồng nhà nớc đã thông qua và công bố 2 pháp lệnh trên, cóhiệu lực từ tháng 10/1990

Định hớng cơ bản của các pháp lệnh về ngân hàng là :

Trang 4

-Tách bạch chức năng: Ngân hàng nhà nớc là ngân hàng trung ơng, có chứcnăng quản lý Nhà nớc đối với hệ thống ngân hàng; chức năng kinh doanhtiền tệ và dịch vụ ngân hàng thuộc về các NHTM và các tổ chức tín dụng.-Tạo lập 1 hệ thống NHTM và các tổ chức tín dụng đợc phép kinh doanhtiền tệ : thực hiện việc dẫn vốn từ ngời có khả năng cho vay sang ngời cónhu cầu vay vốn , đồng thời thực hiện dịch vụ trong lĩnh vực ngân hàng nh(thanh toán, chuyển tiền, môi giới, t vấn).

Pháp lệnh ngân hàng đã tạo cơ sở pháp lý để đổi mới cơ bản về tổ chức bộmáy các NHTM Các NHTM Quốc doanh đã bỏ cấp quản lý trung gian gắnvới địa d hành chính tỉnh, thành phố, thực hiện mô hình quản lý tập trungtrên cơ sở phát huy tính sáng tạo và độc lập tơng đối của chi nhánh cơ sở ,thành lập các công ty con để mở rộng các dịch vụ ngân hàng mới Hội sởchính của NHTM Quốc doanh là trung tâm điều hành , với 2 chức năng:vừa quản lý, vừa chỉ đạo toàn hệ thống, vừa thực hiện nhiệm vụ kinh doanh.Các chi nhánh NHTM Quốc doanh đợc đặt ở những trung tâm công nghiệp

và thơng mại Đặc biệt ngân hàng nông nghiệp đã tổ chức theo mô hình cónhiều loại chi nhánh (cấp 1, cấp 2, cấp 3, cấp 4) và điểm giao dịch lu động

đối với qui mô thích hợp ở các địa phong để phục vụ tốt hơn kinh tế hộ ởnông thôn

3.2.Hệ thống NHTM Việt Nam

-Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn với 53 chi nhánh tỉnh,

470 chi nhánh các quận, huyện, 2 văn phòng đại diện, 4 hội sở khu vực, 200

đại lý ở nớc ngoài và hơn 2600 đầu mối cơ sở giao dịch nội địa tại cáchuyện, thị

-Ngân hàng Công thơng Việt Nam với một hệ thống bao gồm: Trụ sởchính và hai Sở giao dịch, 67 CN phụ thuộc, 26 CN trực thuộc, 170 phònggiao dịch, 506 QTK, 86 cửa hàng vàng bạc đặt tại các trung tâm kinh tế vàcác khu vực công thơng nghiệp phát triển trong cả nớc; quan hệ đại lý với

435 ngân hàng và tổ chức tiền tệ của 40 nớc và khu vực trên thế giới Ngoài

ra Ngân hàng Công thơng Việt Nam còn có các đơn vị thành viên: Trungtâm đào tạo nghiệp vụ, công ty cho thuê tài chính, 2 liên doanh với nớcngoài INDOVINABANK và công ty cho thuê tài chính quốc tế VILC -Ngân hàng ngoại thơng Việt Nam với hội sở trung ơng tại Hà nội và 17chi nhánh tại các thành phố lớn, hải cảng, khu chế xuất và những vùng kinh

tế trọng điểm khác

-Ngân hàng đầu t và phát triển là Ngân hàng chuyên doanh đợc thành lậpsớm nhất ở Việt Nam (26/4/1957) Ngân hàng có 54 chi nhánh tỉnh, gần

100 chi nhánh quận, huyện và có hội sở giao dịch tại Hà Nội và Thành phố

Hồ Chí Minh Ngân hàng mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại thông qua việcthiết lập quan hệ đại lý với 379 ngân hàng thế giới và mở quan hệ tín dụngvới 32 ngân hàng, mở tài khoản tiền gửi ngoại tệ và thanh toán với 40 ngânhàng trên thế giới

II.Một số hình thức huy động vốn

Trang 5

1.Tiền gửi có thể phát séc

Đây là những tài khoản ở một ngân hàng, ngời sở hữu chúng có quyền

đ-ợc phát séc cho những ngời thuộc bên thứ 3 Các khoản tiền gửi có thể phátséc gồm tất cả các tài khoản sau : tài khoản séc không có lãi (tiền gửikhông kỳ hạn), các tài khoản NOW có lãi (NOW-negotiable order ofwithdrawal-lệnh thu hồi có thể mua bán ), các tài khoản super-NOW, và cáctài khoản tiền gửi thị trờng tiền tệ (MMDA) Tiền gửi có thể phát séc lànguồn vốn quan trọng của ngân hàng

Tiền gửi có thể phát séc là tiền gửi có thể đợc thanh toán theo yêu cầu;tức là , nếu ngời gửi tới ngân hàng gửi vừa đòi thanh toán bằng cách viết ramột giấy rút tiền, ngân hàng đó sẽ thanh toán cho khách hàng đó ngay lậptức Tơng tự, nếu một ngời nhận đợc một tấm séc phát theo một tài khoản ởmột ngân hàng, khi ngân hàng đó nhận đợc tấm séc này, ngân hàng đó phảichuyển ngay lập tức số tiền ấy vào tài khoản của ngời đó

Tiền gửi có thể phát séc là một tài sản có đối với ngời gửi nó, bởi vì nó làmột phần của cải của ngời gửi nó Ngợc lại, bởi vì ngời gửi tiền này là cóthể rút vốn khỏi tài khoản của ông ta, vốn đó ngân hàng có nghiã vụ thanhtoán, do đó các tiền gửi có thể phát séc là một tài sản nợ của ngânhàng.Tiền gửi này thờng là nguồn vốn ngân hàng có phí tổn thấp nhất bởi vìnhững ngời bỏ tiền sẵn lòng bỏ qua số tiền lãi để có đợc một tài sản lỏng cóthể dùng để mua hàng Những chi phí của ngân hàng cho việc duy trì tiềngửi có thể phát séc bao gồm tiền thanh toán lãi và những chi phí trong việcphục vụ những tài khoản này [Xử lý và lu giữ những séc đã thanh toán,soạn và gửi các thông báo tình hình hàng tháng, cung cấp những thủ quỹ cónăng lực hoàn thành công việc (ngời hoặc máy), duy trì một toà nhà gây d-

ợc ấn tợng, và quảng cáo / marketing tới những khách hàng hấp dẫn để họgửi vốn vào một ngân hàng nhất định nào đó.]

2.Tiền gửi phi giao dịch

Tiền gửi phi giao dịch là nguồn vốn quan trọng nhất của ngân hàng.Chúng có đặc tính chung là đợc hởng tiền lãi và ngời sở hữu chúng không

đợc quyền phát séc Mức lãi suất của chúng thờng cao hơn tài khoản séc bởivì những ngời gửi tiền đó không đợc hởng nhiều những dịch vụ nh đối vớicác tài khoản séc Tiền gửi phi giao dịch gồm hai loại chính: tài khoản tiếtkiệm và tiền gửi kỳ hạn hay còn gọi là giấy chứng nhận tiền gửi (certificate

of deposits-CD)

2.1.Tài khoản tiết kiệm

Với tài khoản tiết kiệm, vốn có thể đợc thêm vào hay rút ra bất kỳ lúcnào, những giao dịch và tiền thanh toán lãi đợc ghi trong một cuốn sổ nhỏ(sổ tiết kiệm do ngời sở hữu tài khoản giữ) hoặc trong thông báo tình hìnhhàng tháng Về mặt kỹ thuật dạng tiền gửi này không đợc rút ra khi yêu cầu(Ngân hàng có thể đợi đến 30 ngày để thanh toán ); tuy nhiên do sự cạnhtranh các món gửi, các ngân hàng cho phép những ngời gửi rút tiền khỏitiền gửi tiết kiệm của họ ngay

2.2.Tiền gửi kỳ hạn

Trang 6

Tiền gửi có kỳ hạn là tiền gửi vào hoặc rút ra khỏi Ngân hàng theo định

kỳ nhất định

Tiền gửi có kỳ hạn là nguồn vốn rất quan trọng, đặc biệt nó đảm bảo choNgân hàng ổn định, giúp cho Ngân hàng hoàn toàn chủ động trong việc sửdụng nguồn vốn

Tiền gửi kỳ hạn có thời gian đến ngày mãn hạn cố định trớc trong khoảngmột vài tháng đến hơn 5 năm, và có những khoản phạt đáng kể cho trờnghợp rút tiền trớc hạn (bị mất tiền lãi của một vài tháng) Tiền gửi tiết kiệmloại nhỏ là loại kém lỏng hơn so với tiền gửi tiết kiệm có sổ tiết kiệm:chúng có lãi suất cao hơn và là nguồn vốn có chi phí lớn hơn đối với cácngân hàng có hình thức gửi này

Tiền gửi kỳ hạn loại lớn (CD) chủ yếu do các công ty hoặc các ngân hàngkhác mua CD loại lớn là loại có thể mang bán, do đó giống nh một tráikhoán, chúng có thể đợc bán lại ở thị trờng cấp hai trớc khi mãn hạn Vì lí

do này, loại CD có thể bán đợc này các công ty, các quỹ tơng trợ thị trờngtiền tệ và các tổ chức tài chính khác nắm giữ nh là tài sản thay thế cho cáctín phiếu kho bạc và những trái khoán ngắn hạn khác

3.Trái phiếu ngân hàng

Trái phiếu ngân hàng là một công cụ vay nợ dài hạn trên thị trờng vốn dớihình thức giấy nhận nợ của các tổ chức tín dụng, phát hành để huy độngvốn trong đó cam kết trả lãi và gốc cho ngời mua (hoặc ngời sở hữu sau mộtthời gian nhất định Về phía ngời mua, trái phiếu ngân hàng là giấy chứngnhận việc đầu t vốn và quyền đợc hởng thu nhập của ngời mua trên số tiềnmua trái phiếu

Trái phiếu ngân hàng đợc chuyển nhợng quyền sở hữu dới các hình thứcmua, bán, cho, tặng, thừa kế Ngời sở hữu trái phiếu có thể dùng trái phiếuthế chấp tiền vay nếu đợc ngời cho vay chấp nhận và đợc thừa kế theo luậtthừa kế

Trái phiếu ngân hàng có thể phát hành dới hai hình thức: trái phiếu có ghitên hoặc trái phiếu không ghi tên

Thời hạn của trái phiếu ngân hàng từ 01 năm trở lên Thời hạn cụ thể docác tổ chức tín dụng quyết định tuỳ theo phơng án sử dụng vốn huy động từtrái phiếu

Nguồn vốn huy động huy động từ trái phiếu ngân hàng là nguồn vốn dàihạn của các tổ chức tín dụng, chủ yếu để đầu t theo các dự án Các tổ chứctín dụng không phải thực hiện dự trữ bắt buộc trên số vốn huy động từ tráiphiếu ngân hàng Các tổ chức tín dụng vừa có thể trực tiếp phát hành, vừa

có thể tổ chức thực hiện các dịch vụ cất trữ, mở tài khoản, thanh toán môigiới mua bán và mua bán trái phiếu

Lãi suất của trái phiếu do các tổ chức tín dụng ấn định trên cơ sở quan hệcung cầu về vốn trên thị trờng, sao cho có thể khuyến khích, động viên đợcngời gửi vốn dài hạn, ngời vay có thể chấp nhận đợc, tổ chức tín dụng đảmbảo hiệu quả kinh doanh

Phơng thức trả lãi :

+Để đáp ứng các yêu cầu khác của ngời mua, tổ chức tín dụng có thể lựachọn 1 trong 3 phơng thức sau :

Trang 7

1.Trả lãi trớc : tức bán trái phiếu thấp hơn mệnh giá, khi đến hạn ngờimua sẽ lĩnh số tiền theo mệnh giá và đợc hởng lãi số tiền chênh lệch giữamệnh giá và giá mua.

2.Trả lãi sau : Trái phiếu đợc bán theo mệnh giá, khi đến hạn ngời mua sẽlĩnh số tiền theo mệnh giá và đợc hởng lãi là số tiền chênh lệch giữa mệnhgiá và giá mua

3.Trả lãi từng kỳ sáu tháng hoặc một năm căn cứ vào mức lãi ghi trên cácphiếu lĩnh lãi kèm theo trái phiếu

Các tổ chức tín dụng có thể trả lãi theo lãi suất có điều chỉnh định kỳ, cănvào một mức lãi suất làm cơ sở đã đợc Thống đốc ngân hàng nhà nớc quyết

-Mỹ: Tài khoản tiết kiệm, chứng chỉ tiết kiệm, tiểu ngạch chứng chỉ tiếtkiệm thông thờng, chứng chỉ tiền gửi, tài khoản hu trí cá nhân (individualretirement account: Tài khoản mở cho những ngời không hởng lơng hu củanhà nớc hoặc doanh nghiệp, muốn để dành tiền tiêu dùng khi già)

-Anh: Tài khoản tiết kiệm-sổ tiết kiệm-tín phiếu cho ngời cao tuổi(Ganary bond: đợc hởng chỉ số CPI)

-Pháp: Phiếu tiết kiệm-chứng chỉ tiền gửi-tài khoản tiết kiệm nhà ở-tiếtkiệm gửi theo hợp đồng-sổ tiết kiệm loại A,B-sổ tiết kiệm màu hồng(livretrose đợc miễn thuế thu nhập)

-Hàn quốc: Gửi tiết kiệm không kỳ hạn, có kỳ hạn,u đãI, tiết kiệm từngphần, tiền gửi xây dựng nhà ở, tiền gửi tài sản của ngời lao động

Các khoản tiền gửi thờng chia thành hai loại: Loại thờng phải chịu thuếthu nhập về tiền lãi; loại u đãi đợc miễn thuế thu nhập

1.2.Phơng pháp các ngành ngân hàng nớc ngoài khuyến khích ngời dân

gửi tiền ký thác hoạt kỳ

FMI áp dụng các biện pháp sau :

-FMI không trả trớc tiền học bổng cho các học viên, mà mở cho mỗi họcviên một tài khoản Lơng công nhân viên FMI cũng không đợc trả bằng tiềnmặt, mà qua tài khoản ngân hàng

-Tơng tự nh trên, ở Mỹ, tiền lơng cán bộ công nhân viên, công nhân các

xí nghiệp đợc thanh toán chủ yếu qua tài khoản ngân hàng

-Các học viên ngời Việt Nam, nhận đợc tiền gửi của gia đình qua mộtngân hàng ở Mỹ muốn nhận lĩnh số tiền này, sẽ không phải trả phí lĩnh tiền

ra, nếu có mở tài khoản ở ngân hàng Còn nếu muốn lĩnh bằng tiền mặt,không mở tài khoản sẽ phải chịu một số phí tổn khá cao

Trang 8

-Các số tiền lớn thanh toán bằng Séc, sẽ giảm đợc thuế con niêm, cònthanh toán bằng tiền mặt, thuế con niêm sẽ cao hơn.

-Các xí nghiệp Mỹ sử dụng phơng pháp thanh toán không tiền mặt đối vớicác chi phí lớn, còn các chi phí nhỏ bằng Séc quỹ, do đó 100% số chi các xínghiệp phải thanh toán bằng Séc Tất cả số thu trong ngày (Séc, tiền mặt)

đều phải nộp vào ngân hàng Nh vậy, bản tình hình tài khoản xí nghiệp mỗingày của xí nghiệp biến thành sổ chi thu xí nghiệp Ké toán trở nên chínhxác 100% và không thể lập hệ kế toán ma

-ở Mỹ cũng nh nớc ngoài, có hệ thống pháp luật rất nghiêm trừng trị việcphát hành Séc không tiền bảo chứng

2.Kinh nghiệm của ngân hàng trong nớc

2.1.Sở giao dịch-Ngân hàng No&PTNT Việt Nam

Ngày 1-7-1988, Ngân hàng phát triển nông nghiệp Việt nam (nay làngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam-NHNo&PTNTViệt Nam ) đợc thành lập Những Sở giao dịch I (GD) trong hệ thốngNHNo&PTNT Việt Nam thì ra đời muộn hơn, mới đợc gần 5 năm, song

đã khẳng định đợc tính phù hợp trong hệ thống tổ chức, tính hiệu quảtrong hoạt động kinh doanh, đảm bảo chất lợng và năng lực điều hành củaNHNo&PTNT Việt nam trong toàn hệ thống

Trong hoạt động kinh doanh của một NHTM, nền tảng cơ sở quan trọng

đầu tiên là nguồnvốn

Do ra đời muộn hơn các NHTM và chi nhánh NHTM khác, nên việc huy

động vốn thời gian đầu khó khăn, khách hàng cha biết đến , uy tín cha có.Song Sở GDI đã chủ động tìm đến tiếp cận trực tiếp với nhiều đối tợngkhách hàng, tập trung là các DNNN, các tổng công ty, các đơn vị trực thuộc

bộ No&PTNT, thu hút họ mở tài khoản tiền gửi, thực hiện dịch

vụ thanh toán và các quan hệ tín dụng Đồng thời chú trọng tuyên truyềnquảng cáo, mở các điểm dịch vụ đến các khu vực tập trung, thu hút cácdoanh nghiệp ngoài quốc doanh, các bộ phận dân c, mở tài khoản, gửi tiềntiết kiệm, mua tín phiếu và kỳ phiếu Cộng với việc triển khai thực hiện cóhiệu quả quy định về lãi suất của ngân hàng No&PTNT Việt Nam , tổ chứcgiao dịch tiện lợi và lịch sự đối với khách hàng, nên nguồn vốn huy động tạichỗ của Sở GDI liên tục tăng trởng nhanh và ổn định qua các năm

Trang 9

Tình hình biến động nguồn vốn

Đơn vị:Triệu đồng Chỉ tiêu 1994 1995 1996 1997 QuýI/1998I-Nguồn vốn

369.881106.388 6.824263.493114.03244.392

902.089241.144 20.310650.945 89.651269.697

2.173.354 773.688 17.557 899.666 79.329 559.018 500.000

2.106.3791.004.664 73.948 527.704 500.000

Trong vòng hơn 5 năm, nguồn vốn đã tăng gấp hơn 21 lần, một tốc độtăng hiếm có Cơ cấu các loại tiền gửi cũng có sự thay đổi , tiền gửi bảo

đảm thanh toán tăng nhanh và chiếm tới 48% Do nguồn vốn tăng nhanh vàdồi dào, Sở GDI đã hoàn toàn tự lực đáp ứng đợc nhu cầu cho vay trên địabàn và góp trên 1.500 tỷ đồng hỗ trợ cho nhu cầu tín dụng trong toàn hệthống với lãi suất thấp Sở GDI là đơn vị có khối lợng và nguồn vốn huy

động bình quân một CBCNV đạt cao nhất , tới 42 tỷ đồng/ ngời

Việc hớng dẫn khách hàng mở tài khoản tiền gửi thanh toán và sử dụngséc đã góp phần giảm thu chi tiền mặt và ngân phiếu, tăng nhanh vòng quaycủa vốn, tăng lợng khách hàng Trong năm 1997 sở GDI đã đón tiếp trên30.000 lợt khách hàng tới giao dịch, rút tiền hoặc chuyển và nhận tiền Tính

đến ngày 31-12-1997 có 9.709 khách hàng còn số d tại Sở GDI, bao gồm: +724 khách hàng có tài khoản tiền gửi thanh toán với doanh số gửi vào là4.798 tỷ đồng, doanh số rút ra là 4.169 tỷ đống, số đ đến 31-12-1997 là 663

tỷ đồng; Trong đó có 389 tài khoản cá nhânvới số d cuối năm là 7 tỷ đồng

Số d cuối năm tuy nhỏ nhng doanh số hoạt động trong năm tơng đối lớn làcơ sở cho việc mở rộng các dịch vụ thẻ thanh toán, rút tiền qua máy tự

động (số tài khoản tiền gửi thanh toán đến cuối năm so với đầu năm là 204tài khoản)

+8.361 khách hàng còn số d tiền gửi tiết kiệm, kỳ phiếu với số tiền là 656

tỷ đồng

2.2 Ngân hàng công thơng khu vực Ba Đình

Chi nhánh ngân hàng Công thơng (NHCT) Ba Đình là đơn vị thành viêntrực thuộc NHCT Việt Nam , trụ sở đóng trên địa bàn quận Ba Đình , Thủ

đô Hà Nội

Tạo vốn để mở rộng đầu t luôn là một trong những nhiệm vụ trọng tâmcủa NHTM trong nền kinh tế thị trờng Xác định đợc điều đó, Chi nhánh đãthực sự bắt tay vào việc khai thác khối lợng vốn tiền tệ nhàn rỗi trong nềnkinh tế bằng cách đề cao công tác tiếp thị, đổi mới phong cách phục vụ, mởrộng mạng lới huy động trong và ngoài địa bàn ( đến nay chi nhánh có 9quỹ tiết kiệm đặt ở các nơi thuận tiện cho giao dịch và một phòng giao dịch

ở quận Cầu Giấy đợc trang bị phơng tiện làm việc khang trang lịch sự).Nhiều hình thức tiết kiệm phù hợp với yêu cầu của ngời gửi tiền trong điềukiện mới: tiên gửi không kỳ hạn, có kỳ hạn, kỳ phiếu; huy động vốn cả nội

tệ và ngoại tệ.Tuyên truyền và hớng dẫn cá nhân mở tài khoản tiền gửi và

Trang 10

sử dụng séc thanh toán qua ngân hàng nên mặc dù trên địa bàn có nhiềuNHTM khác cùng hoạt động cạnh tranh nhng chi nhánh đã chiếm đợc lòngtin với nhân dân, bởi vậy hầu hết nguồn tiền nhàn rỗi đã đợc Chi nhánh thuhút Tổng nguồn vốn huy động cuối năm 1993 là 248 tỷ đồng , trong đó tiềngửi tiết kiệm của nhân dân 181 tỷ đồng , chiếm tỷ trọng 73% so với tổngnguồn vốn Đến cuối năm 1997 tổng nguồn vốn huy động đạt 1075 tỷ đồngtăng hơn 330% so với năm 1993, trong đó 616 tỷ là tiền gửi tiết kiệm củanhân dân, tăng so với năm 1993 hơn 240%, chiếm tỷ trọng 57% so với tổngnguồn vốn Đây là thành tựu có một không hai trong lĩnh vực huy động vốncủa một NHTM Ngời có tiền nhàn rỗi (kể cả trong và ngoài quận) đã tin t-ởng tuyệt đối không chút do dự, đem tiền gửi chi nhánh sinh lời, còn chinhánh thì có vốn cho vay nền kinh tế

Kết quả huy động vốn của chi nhánh(1993-1997)

Đơn vị : Triệu đồng Năm

Chỉ tiêu

1993 1994 1995 1996 1997

Vốn huy dộng 247.690 590.861 861.310 869.173 1.075.475Tiền gửi TCKT 65.900 382.710 421.358 421.358 459.200Tiền gửi tiết kiệm 181.790 487.600 447.815 447.815 616.275

2.3.Ngân hàng Ngoại thơng Việt Nam -VietComBank

VietComBank luôn là NHTM có tốc độ tăng trởng vốn cao, có tổngnguồn vốn rất lớn Tỷ trọng vốn huy động bằng VNĐ tăng dần, vốn huy

động từ nền kinh tế và trong dân c chiếm tỷ trọng chủ yếu Trong phần vốnhuy động thì tỷ lệ vốn huy động có kỳ hạn tăng đều, tạo điều kiện mở rộng

đầu t trung và dài hạn

Để huy động đợc một lợng vốn ngày càng tăng thì VietComBank đã ápdụng mạng thanh toán điện tử hiện đại: rút tiền tự động qua mạng ATM.Bên cạnh việc củng cố, phát huy các mặt nghiệp vụ truyền thống,VietComBank đã tiếp tục đa dạng hoá các loại hình kinh doanh, trong đó đã

đa dạng hoá các hình thức huy động vốn nh: kỳ phiếu, trái phiếu NHTM,tiết kiệm, tiền gửi Mở rộng các dịch vụ Ngân hàng mới đợc thị trờng chấpnhận, nh dịch vụ thanh toán và phát hành thẻ tín dụng ở trong và ngoài nớc

2.4.Ngân hàng đầu t và phát triển

Đôi điều rút ra qua đợt phát hành trái phiếu Ngân hàng đầu t phát triển Thực hiện Nghị quyết Hội nghị BCH Trung ơng Đảng lần thứ 4, khoá VIII

về “Tiếp tục đẩy mạnh công cuộc đổi mới, phát huy nội lực, nâng cao hiệu

quả hợp tác quốc tế, cần kiệm để công nghiệp hoá, hiện đại hoá, phấn đấu hoàn thành các mục tiêu kinh tế-xã hội đến năm 2000”; nhằm khai thác nội

lực, huy động vốn trong dân c để cho vay các dự án đầu t phát triển theo kếhoạch Nhà nớc Đợc Chính phủ và NHNN cho phép , ngày 20 tháng 4 năm

1998, Ngân hàng Đầu t và Phát triển (NH ĐT&PT)

Việt Nam bắt đầu phát hành trái phiếu tại 2 thành phố Hà nội , thành phố

Hồ Chí Minh, với 5 đơn vị phát hành và sau đó đợc tiến hành tại tất cả cácchi nhánh NH ĐT&PT tỉnh, thành phố trong cả nớc Sau gần một tháng phát

Trang 11

hành trái phiếu,NHĐT&PT VN đã hoàn thành kế hoạch huy động tráiphiếu.

Qua đợt phát hành trái phiếu NH ĐT&PT bớc đầu có thể rút mặt đợc vàcha dợc nh sau:

1.NH ĐT&PT VN đã huy động đợc vốn , đặc biệt lần đầu thử nghiệm huy

động đợc vốn trung dài hạn trong dân c phục vụ đầu t phát triển Đến hếtngày 15 tháng 5 năm 1998 đã huy động đợc hơn 1000 tỷ đồng (kể cả USDqui đổi); bao gồm: Việt Nam đồng bằng 82%và USD bằng 18% so với tổng

số Phân theo kỳ hạn : kỳ hạn 1 năm chiếm 46,8% ; 2 năm chiếm 34,5%; 3năm chiếm 5,5% và kỳ hạn 5 năm chiếm 13,2%so với tổng số

2.Góp phần thực hiện chính sách tiền tệ Số vốn huy động bằng tiền mặt(cả Việt Nam đồng và USD) đợc thu hút vào ngân hàng góp phần giảm áplực tăng hàng hoá, ổn định tỷ giá ; không làm biến động mặt bằng lãi suấttrong cả nớc nói chung và từng địa bàn nói riêng; không dẫn đến chuchuyển vốn lớn từ các ngân hàng khác sang

3.Trái phiếu NH ĐT&PT là một loại chứng chỉ có giá, góp phần chuẩn bị

“hàng hóa” để tham gia thị trờng chứng khoán trong nớc

4.NH ĐT&PT VN đã và đang củng cố đợc niềm tin tởng, yên tâm của

ng-ời dân gửi tiền vào ngân hàng

-Mời quyền lợi của ngời mua trái phiếu đợc viết ngắn gọn, dễ hiểu: đợcmua trái phiếu bằng VND hoặc USD với số lợng không hạn chế; đợc hởnglãi suất cao hơn lãi suất tiền gửi tiết kiệm; đợc giữ bí mật số tiền mua tráiphiếu; mua trái phiếu bằng USD đợc thanh toán cả gốc lẫn lãi bằng USD; đ-

ợc chuyển nhợng trái phiếu cho ngời khác dễ dàng, thuận lợi; đợc đem tráiphiếu NH ĐT&PT cầm cố để vay vốn; đợc NH ĐT&PT VN mua lại tờ tráiphiếu theo thể thức chiết khấu với giá thoả thuận; đợc rút trớc hạn và hởnglãi suất theo lãi suất tiết kiệm ; trái phiếu có ghi danh thanh toán cả gốc vàlãi tại nơi mua, trái phiếu không ghi danh thanh toán tại tất cả các chi nhánh

NH ĐT&PT trong cả nớc; đợc NH ĐT&PT phục vụ tận tình, chu đáo Đặcbiệt ngời mua trái phiếu loại từ 2 năm trở lên hiểu rõ cách tính lãi suất từnăm thứ 2,3,4 và 5 một cách rất rõ ràng

-Trên tờ trái phiếu in sẵn mệnh giá và ngời mua đợc biết trái phiếu NH

ĐT&PT ấn hành có các yếu tố bảo mật;

-Dân tin vào khả năng tài chính, phong cách phục vụ của NH ĐT&PTVN

5.Đợc các cấp, các ngành đồng tình ủng hộ.NH ĐT&PT VN đã thờngxuyên báo cáo và xin ý kiến chỉ đạo của Thống đốc NHNN, ý kiến góp ýcủa các vụ, cục NHNN Các chi nhánh NH ĐT&PT tỉnh, thành phố đã báocáo và nhận đợc ý kiến chỉ đạo của các cấp uỷ, chính quyền địa phơng vàcác giám đốc NHNN tỉnh, thành phố

6.Rút đợc những bài học bổ ích trong việc tổ chức phát hành trái phiếu.Việc tổ chức phát hành traí phiếu NH ĐT&PT đã tổ chức chu đáo từ khâunghiên cứu cơ chế, quy trình tác nghiệp, in và chuyển trái phiếu đến các chinhánh, tuyên truyền giải thích trên các phơng tiện thông tin đại chúng tạicác nơi bán trái phiếu đến việc bán trái phiếu Việc phát hành trái phiếu đợc

an toàn tuyệt đối về tài sản của ngân hàng và của khách hàng

Đợt phát hành trái phiếu đạt kết quả tốt Song quá trình thực hiện còn một

số hạn chế nhất định nhất là ở khâu tính toán cơ cấu trái phiếu cha lờng hết

Trang 12

nhu cầu của ngời mua Những khách hàng mua trái phiếu với số tiền lớn cónơi , có lúc còn phải chờ lâu, hoặc nhận trái phiếu mệnh giá nhỏ.

Đợt phát hành trái phiếu lần này có thể rút ra một số bài học kinh nghiệmbớc đầu nh sau:

-Cơ chế, chính sách phát hành trái phiếu NH ĐT&PT đã bảo đảm quyềnlợi của ngời gửi tiền, đủ sức hấp dẫn ngời mua trái phiếu, ngân hàng huy

động đợc vốn nhng lại góp phần thực hiện chính sách tiền tệ

Lãi suất huy động vừa qua thực chất bằng tỷ lệ trợt giá cộng với lãi suấttiền gửi 6%/năm là hợp lý Nh vậy, nếu có chính sách tài chính hợp lý đốivới dự án và ngân hàng thì ngành Ngân hàng có khả năng huy động vốntrong nớc phục vụ đầu t và phát triển

-Để phát hành trái phiếu thành cônh cần thực hiện thật tốt khâu chuẩn bị Trong đó có một số khâu đặc biệt quan trọng là:

+Xác định những quyền lợi của ngời mua trái phiếu Nếu chỉ áp dụng mộtcách cứng nhắc những quy định về trái phiếu nh những thông lệ quốc tế màkhông nghiên cứu vận dụng vào tình hình thực tiễn Việt Nam thì trái phiếu

đó khó thành công Vấn đề cần giải quyết là ngời sở hữu trái phiếu có đợcrút trớc thời hạn không? Nếu rút trớc thời hạn thì giải quyết nh thế nào? +Xác định mức lãi suất của từng loại trái phiếu.Đây là khâu khó khănnhất trong việc xác định trái phiếu Việc xác đinh mức lãi suất của từng loạitrái phiếu cần giải quyết tốt các mối quan hệ giữa quyền lợi của ngời muatrái phiếu, của ngân hàng và Nhà nớc Lãi suất của từng loại trái phiếu làmsao hấp dẫn đợc ngời mua trái phiếu ở mức độ nhất định: đồng thời lại đảmbảo thực hiện chính sách tiền tệ, không làm thay đổi mặt bằng lãi suất nóichung và trên từng địa bàn nói riêng Lãi suất trái phiếu không làm chuchuyển vốn lớn từ ngân hàng khác vào ngân hàng phát hành

+Đối với trái phiếu có kỳ hạn từ 2 năm trở lên thì lấy cơ sở nào để điềuchỉnh lãi suất từng năm NH ĐT&PT VN chọn phơng án lấy lãi suất bìnhquân lãi suất tiền gửi tiệt kiệm 12 tháng của các NHTM quốc doanh trên

địa bàn Hà Nội vào thời điểm 20/4 hàng năm cộng thêm 1%

Trang 13

Chơng II : Thực trạng về huy động vốn củaNHTM Việt Nam

đang phát triển trong khu vực Đông á

Bảng tỷ lệ tiết kiệm nội địa GDS

37 38 33 25 20

33

37 32 34 33 18 34

37 32

34 31 17 35

37 31 34 36 17 35

40 31 33 38 16 36 *Nguồn: World Table 1994, Stars

Ta thấy các nớc có mức tăng trởng GDP khá cao và giữ đợc mức tăng ởng đó nh Trung Quốc, Malaysia có tỷ lệ GDS/GDP khá ổn định và có xuhớng tăng lên Nhật Bản và Indonesia có tỷ lệ GDS/GDP rơi nhẹ đợc thấyqua giai đoạn suy thoái chu kỳ của nền kinh tế Philippines đợc xem nh mộtnớc Đông á đánh mất cơ hội phát triển trong thập niên qua , biến thành suythoái và trì trệ, và hiện trạng của nớc có thể gặp trong xu hớng sút giảm dớimức 20% của tỷ lệ GDS/GDP

tr-Việt Nam thì sao?

32

22 34

ExpectedShould be *Nguồn: Báo cáo ADB, VietNam Investment Review 22/4/1996

Tỷ lệ GDS/GDP của Việt Nam dới mức 20% nh Philippines trong hai năm

1994 và 1995 Tuy nhiên có xu hớng cải thiện đi lên 21.1% năm 1996 và22% năm 1997 theo dự đoán Tuy nhiên khuyến cáo của ADB để giữ mứctăng trởng bền vững, Việt Nam cần tỷ lệ tổng tiết kiệm nội địa gộp phải là32% cho năm 1996 và 34%, ngang bằng tỷ lệ của các nớc Đông á- TháiBình Dơng, trong năm 1997 Tỷ lệ này đợc tái xác nhận qua kế hoạch của

Bộ đầu t và kế hoạch do bộ trởng Trần Xuân Giá đa ra (VIR 18/11/1996) Vấn đề còn lại của chúng ta là làm sao hoạch định chơng trình và biệnpháp huy động vốn tích luỹ đầu t cho Việt Nam Các bài học kinh nghiệm

từ các nớc Châu á trong giữ mức tăng trởng bền vững là vô cùng quý giácho Việt Nam

2.Tình hình gửi tiền ở hệ thống ngân hàng của dân chúng

Trang 14

Trong những năm vừa qua, nhiều công cụ và hình thức huy động vốn đadạng đã đợc đa vào áp dụng trong hệ thống ngân hàng: kỳ phiếu NHTM,trái phiếu, tiết kiệm xây dựng nhà ở Nhờ đó, vốn huy động của các ngânhàng tăng liên tục với tỷ lệ khá cao: năm 1991 tăng 68%, 1992 tăng 19%,

1993 tăng 14%, 1994 tăng 59%, 1995 tăng 32% Nguồn vốn trong nớc đợctăng trởng cùng với nguồn vốn từ nớc ngoài là điều kiện cơ bản, đã gópphần tích cực tăng đầu t, phục vụ sự nghiệp CNH-HĐH đất nớc

Theo số liệu của các NHTM báo cáo, hoạt động huy động vốn của các

ngân hàng trong những năm qua, đã đạt đợc kết quả lớn: cuối năm 1995 có

số d tiền gửi là 17.000 tỷ đồng; nhất là năm 1997 số d tiền gửi của kháchhàng tăng lên thờng xuyên qua các quý trong năm và tăng vững chắc mặc

dù ngành ngân hàng đã 4 lần hạ lãi suất tiền gửi, tiền vay Tại thời điểmcuối năm 1997 tổng số d tiền gửi của các ngân hàng (NH) Việt Nam đạt80.312.606 triệu đồng, tăng so với đầu năm là 15.437.537 triệu đồng(+28,1%) Trong đó khối các NHTM quốc doanh chiếm 72% tổng số d tiềngửi toàn quốc Đến thời điểm đầu năm 1998 tổng số d tiền gửi khách hàngtoàn quốc vẫn đạt trên 80.000 tỷ đồng Nh vậy với mục tiêu ổn định giá trị

đồng tiền trên cơ sở một chính sách tiền tệ quốc gia tích cực, phù hợp vớimục tiêu phát triển kinh tế trong điều kiện mở cửa, ngành ngân hàng xâydựng một chính sách huy động vốn đã và đang thu hút ngày một tốt hơndân chúng gửi tiền vào ngân hàng

*Về huy động tiết kiệm trung và dài hạn

Thời hạn trung hạn trên thị trờng thờng đợc xem từ 1-3 năm, và dài hạntrên thị trờng là trên 3 năm Thực tế hoạt động của các ngân hàng thơng mạicho thấy thời gian qua tỷ lệ tiết kiệm trung và dài hạn rất ít, hầu nh không

có, trong khi đó nhu cầu vốn vay trung dài hạn lại tăng nhanh trong thời

điểm đầu t cho hàng hoá vốn của các doanh nghiệp Việt Nam hiện nay.Mức tăng là 8,8 % năm 1994, 9,5% năm 1995 và 9,9 % năm 1996(Vietnam Investment Review 18-11-1996) Và vấn đề nảy sinh là bù đắpnguồn vốn thiếu hụt này nh thế nào? Hay làm thế nào để gia tăng tiết kiệmtrung và dài hạn

Việc phát hành trái phiếu dài hạn hiện nay đã đợc các ngân hàng thơngmại áp dụng, tuy nhiên kết quả không cao Bởi vì hiện nay trái phiếu dongân hàng nhà nớc phát hành đợc dùng nh khoản đầu t an toàn cho khoảnvốn tồn đọng của ngân hàng thơng mại thay vì tung ra cho dân chúng Một

số liệu cụ thể về huy động vốn bằng cách phát hành trái phiếu ở Ngân hàng

Đầu t và Phát triển: Năm 1998, Chính phủ giao nhiệm vụ cho Ngân hàng

Đầu t và Phát triển huy động 4000 tỷ đồng trái phiếu trung và dài hạn đểcho vay theo chơng trình tín dụng đầu t phát triển với lãi suất u đãi của Nhànớc Việt Nam (0,81% tháng đối với đồng Việt Nam và 8,5% đối với đồngUSD) Thời hạn cho vay không quá 10 năm, nếu vay trên 10 năm phải có ýkiến của Chính phủ Theo số liệu ớc tính của Ngân hàng, đến hết tháng 6,Ngân hàng đã nâng tổng tài sản lên 23.500 tỷ đồng (tăng 8% so với đầunăm), huy động đợc 1.095 tỷ đồng trái phiếu trung và dài hạn Trong đó sốtrái phiếu huy động bằng VNĐ là 900 tỷ và bằng Đôla Mỹ là 15 triệu USD II.Đánh giá và phân tích thực trạng

1.Những thành công và nguyên nhân

Trang 15

-Mạng lới huy động tiền gửi ngày càng mở rộng ở hầu hết các vùng dân

c (hệ thống ngân hàng No&PTNT có mạng lới huy động vốn rộng lớn nhất,hơn 2600 chi nhánh loại 4, ngân hàng Công thơng có gần 700 phòng giaodịch, ngân hàng Ngoại thơng có 17 chi nhánh tại một số tỉnh, thành phốtrong cả nớc

-Huy động vốn chủ yếu là vốn ngắn hạn, vốn huy động của ngân hàngtăng với tỷ lệ khá cao: 1991 tăng 68%, 1992 tăng 19%, 1993 tăng 14%,

1994 tăng 59% và 1995 tăng 32%

1.2.Nguyên nhân thành công

-Những năm vừa qua không có biến động về sự trợt giá (lạm phát) lớn -Bên cạnh việc củng cố, phát huy các mặt nghiệp vụ truyền thống, cácNHTM đã đa dạng hóa các loại hình hoạt động, mở rộng các dịch vụ ngânhàng mới đợc thị trờng chấp nhận, nh dịch vụ thanh toán và phát hành thẻtín dụng trong và ngoài nớc

-Trình độ năng lực của cán bộ nhân viên huy động vốn đợc trau dồi thêm -Từng bớc thay thế một số công việc thủ công bằng máy móc hiện đại.Một số ngân hàng đã áp dụng mạng thanh toán điện tử hiện đại: rút tiền tự

điều chỉnh xuống nhng vẫn bảo đảm lãi suất dơng Lãi suất các loại tiền gửi

đợc xác định trên cơ sở tỷ lệ trợt giá cộng với khoảng 5% lãi suất thực trong

1 năm, đã khuyến khích ngời dân gửi tiền vào ngân hàng: số d tiền gửinhững năm 1986, 1987, 1988 chỉ đạt trên dới 2.000 tỷ đồng, thì cuối năm

1995 đã lên tới con số 17.000 tỷ đồng, cuối năm 1997 đạt 80.312.606 triệu

đồng và tới thời điểm đầu năm 1998 là 80.000 tỷ đồng

-Ngân hàng đã tổ chức mạng lới tín dụng tại các địa bàn trong cả nớc đểtạo điều kiện thuận lợi cho ngời gửi

-Ngân hàng đã có các loại tiết kiệm với kỳ hạn khác nhau, từ không kỳhạn đến kỳ hạn 3 tháng, 6 tháng, 1 năm, 2 năm, 3 năm/ Có những loại hìnhtiết kiệm mới nh tiết kiệm xây dựng nhà ở

2.Những tồn tại và nguyên nhân

2.1.Những hạn chế trong huy động vốn

Trang 16

Huy động vốn là một nghiệp vụ không thể thiếu đợc trong hoạt động củangân hàng Kể từ khi ngân hàng đợc phân thành hai cấp trong đó NHTMthật sự kinh doanh thì vốn huy động đợc đặt lên hàng đầu với quan điểm “đivay để cho vay” từ đó các NHTM đa dạng hoá các hoạt động, đa hình thức

và phơng pháp huy động vốn với việc khuyến mãi, xổ số có thởng, đảm bảogiá trị (vàng, ngoại tệ) và nâng lãi suất huy động vốn, có những lúc vốn huy

động tăng nhanh và tăng cao ở từng nơi, từng lúc vì thế có ngân hàng thìthừa vốn, có ngân hàng thì thiếu vốn, dù huy động vốn ở mức độ nào đichăng nữa thì trong thới gian qua nguồn vốn của chúng ta cũng ở mức ngắnhạn, cha ổn định và dòng chảy vốn vào ngân hàng vẫn còn có những mặthạn chế, yếu kém:

-Các hình thức huy động vốn cha nhiều, còn đơn điệu, phần lớn chủ yếu

là các hình thức truyền thống

-Mạng lới huy động vốn tuy đã đợc mở rộng, nhng công tác phục vụ, tácphong giao tiếp của các nhân viên ngân hàng cha thực sự khẳng định kháchhàng gửi tiền là “thợng đế”

-Công nghệ khoa học ngân hàng áp dụng trong việc cung ứng các dịch vụcho khách hàng nhất là trong quan hệ gửi và lĩnh tiền của dân chúng cha đ-

ợc cải tiến nhiều, đa số các hoạt động gửi và lĩnh tiền của dân chúng vớikhách hàng đợc thực hiện chủ yếu là thủ công và trực tiếp , mọi khoảntiền gửi ở ngân hàng dân chúng chỉ nhận đợc một khoản lãi ( lợi nhuận) còncác tiện ích khác hầu nh không có: thanh toán, chi trả, chuyển đổi, chiếtkhấu, mua bán

-Trên lĩnh vực thông tin, tiếp thị về ngân hàng nhìn chung dân chúng cha

có đợc lòng tin vững vàng cũng nh sự hiểu biết cha đầy đủ về ngân hàng;trong khi đó hoạt động ngân hàng có sự hạn chế về thời gian( dân chúng cónhu cầu gửi tiền và lĩnh tiền cả ngày, ngân hàng chỉ phục vụ đợc 6-7 giờtrong ngày)

-Chất lợng hoạt động của ngân hàng của nớc ta hiện nay, nhất là “chất ợng đầu ra” đã và đang là vấn đề không bình thờng đối với ngời gửi tiền, kểcả ở những ngân hàng lớn

Đó là những hạn chế của chính sách huy động Khắc phục đợc ngaynhững đợc những điểm hạn chế trong huy động vốn của hệ thống ngân hànghiện nay sẽ khuyến khích mọi pháp nhân và thể nhân gửi tiền vào ngânhàng

-Lãi suất huy động tuy có cao hơn chỉ số giá cả nhng trên thực tế thì vẫncha thực sự hấp dẫn ngời gửi tiền

-Về hình thức huy động thì đợc phân chia ra loại có kỳ hạn và loại không

có kỳ hạn Loại không có kỳ hạn với lãi suất là 0,6% tháng, thấp hơn loại

có kỳ hạn từ 0,3-0,5% tháng Tất nhiên không ai muốn gửi loại tiết kiệm

Trang 17

này Còn loại tiết kiệm có kỳ hạn đợc phân ra các loại 3 tháng, 6 tháng, 12tháng với khoảng chênh lệch từ 0,05%-0,1% tháng.Với khoảng chênh lệchnày thực sự không có sự hấp dẫn nào cả, bởi vì ngời gửi tiền bao giờ cũng

có tâm lý phân vân không biết chọn lựa loại hình tiết kiệm nào gửi cho phùhợp: nếu gửi thời gian ngắn thì lãi suất thấp quá, còn nếu gửi thời gian dàithì lãi suất tuy có chênh lệch nhng không cao lắm trong khi đó bị đọng vốnkhông rút ra đợc khi cần thiết

-Thời gian dài trớc năm 1988-1989 chúng ta đã có huy động tiết kiệm thờihạn 3 năm, 5 năm nhng với phơng pháp tính lãi luỹ tiến, khi đến hạn trả nợthì số tiền vốn và tiền lãi rất cao Điều này là có lợi cho khách hàng nhngngân hàng không có lợi bởi hai lý do: Một là phải tính trả lãi luỹ tiến, sốtiền chi trả rất cao Hai là vốn huy động dài hạn nhng không có kế hoạchcho vay dài hạn đợc

-Cũng trong thời gian trớc năm 1988-1989, chúng ta có huy động tiền gửitiết kiệm có bảo hiểm bằng lúa Điều này cũng chỉ có lợi cho khách hàngcòn ngân hàng cha thực sự có lợi bởi hai lý do: Một là giá lúa tăng nhanh vàthay đổi từng giờ, từng ngày, hai là chỉ trong một hoặc vài ngày vốn huy

động cha đợc sử dụng cho vay ra thì giá lúa đã tăng lên

-Huy động vốn bằng vàng

Với hình thức huy động này chúng ta đã có những tồn tại sau:

Trớc đây chúng ta chủ trơng huy động vốn bằng vàng đa ra cha đúng lúc.Bởi vì ngời dân thờng có tâm lý khi vàng lên giá thì ngời dân sẽ ồ ạt đi muavàng dự trữ, càng thúc đẩy giá vàng tăng lên (một phần do lợng cung vềvàng khan hiếm trong khi cầu tăng cao) đến khi vàng xuống lại ào ạt đi bánvàng đẩy giá vàng giảm xuống (cung về vàng lớn hơn cầu về vàng) Lúcvàng xuống thì huy động, lúc vàng lên thì ngng, ngời dân không thể gửivàng vào ngân hàng đợc, mặc dù chủ trơng huy động vàng của ta đúng, nh-

ng thực hện cha đúng lúc

Các ngân hàng huy động vàng nhng lại gặp khó khăn trong hạch toánchêng lệch giá vàng

-Huy động vốn bằng ngoại tệ

Với hình thức này chúng ta có những tồn tại sau:

Giá mua ngoại tệ của ngân hàng nhà nớc thấp hơn ở ngoài, nhng phần lớnngoại tệ đợc mua bán ở thị trờng tự dokhông qua ngân hàng Lợng ngoại tệ

đợc mua ở thị trờng tự do rất lớn nhng t nhân không thể bán lại cho ngâhàng đợc vì giá mua của họ ở thị trờng tự do cao hơn giá mua lại của ngânhàng

Khối lợng ngoại tệ chuyển ra nớc ngoài thông qua việc thanh toán hànglậu, nhập hàng trái phép

Nhà nớc cha phát hành trái phiếu ngoại tệ để thu hút ngoại tệ

-Huy động vốn thông qua các tài khoản tiền gửi thanh toán

Vấn đề này cũng có nhiều tồn tại:

Các u đãi về việc thanh toán không dùng tiền mặt nói chung cha rõ ràng,cha cụ thể, cha khuyến khích ngời thanh toán

Trang 18

Thanh toán bằng séc còn nhiều hạn chế về thời hạn lu hành, chỉ có 15ngày là quá ngắn, cha quy định thế nào là trờng hợp bất khả kháng dẫn đến

đơn vị không nộp séc gây thiệt hại cho ngời thụ hởng

Việc thanh toán không dùng tiền mặt trong dân c còn rất hạn chế bởinhiều vấn đề nh nơi làm dịch vụ (bu điện, điện, nớc) không chấp nhậnthanh toán hình thức này bởi vì cha quen Hơn nữa khoản thu nhập của đại

bộ phận dân c và cán bộ công nhân viên còn quá thấp không thể mở tàikhoản tiền gửi và thực hiện thanh toán theo hình thức này đợc

*Những nguyên nhân chung

2.2.1.Vấn đề lãi suất

-Sự thay đổi lãi suất một cách bất thờng trong hệ thống NHTM

Vào giữa những năm 1996 lãi suất tiền gửi giảm đồng loạt ở các NHTM,

đến cuối năm 1996 lãi suất tiền gửi đợc giảm đồng loạt lại tăng lên, phảithừa nhận rằng việc tăng hay giảm lãi suất tiền gửi là những biểu hiện bìnhthờng Tuỳ thuộc vào điều kiện và nhu cầu vốn của mỗi ngân hàng trongtừng thời kỳ mà họ có thể tăng hoặc giảm lãi suất tiền gửi trong khuôn khổquy định về lãi suất của ngân hàng Nhà nớc vẫn đảm bảo duy trì đợc hoạt

động kinh doanh của mình Song sự giảm đồng loạt (vào giữa những năm1996), rồi lại tăng đồng loạt ( vào cuối năm 1996) là một nghịch cảnh trongmôi trờng kinh tế có lạm phát thấp và mức tăng trởng kinh tế ổn định Vàogiữa năm 1996 vì lãi suất trần giảm và vốn tồn đọng cao nên các NHTM

đều giảm lãi suất, đó là lý do chính đáng, song điều đáng nói ở đây đi kèmvới việc giảm lãi suất là sự tạm thời xoá bỏ hình thức huy động vốn có thờihạn Những kỳ hạn tiền gửi vốn dĩ đã rất ngắn : 6 tháng, 9 tháng cũngkhông còn đợc ngân hàng chấp nhận nữa, thậm chí ngay cả loại tiền gửi có

kỳ hạn 3 tháng cũng có ngân hàng từ chối

Dân chúng xôn xao không biết nên chuyển vốn đầu t vào đâu khi thị trờngbất động sản thì đang chựng lại, và rủi ro thì rất cao, thị trờng chứng khoánthì cha có, hụi hè thì dễ vỡ đổ, chỉ còn một nơi duy nhất có thể yên tâm thìnguồn sinh lời cho số tiền tích luỹ của mình, đó là ngân hàng thì ngân hànglại cũng tháo lui Đến cuối năm 1996, nhu cầu về vốn lại rõ lên Ngay cảnhững ngời dân bình thờng cũng có thể hiểu đợc điều đơn giản này, vì ngời

ta thấy lãi suất của các ngân hàng tăng lên, lãi suất kỳ hạn 3 tháng từ 0,6%tháng trớc đợc kéo lên thậm chí 1% tháng Các kỳ hạn “gửi tiền” lại đadạng nh trớc, ngân hàng lại nhận tiền gửi 6 tháng, 9 tháng và tiền gửi 13tháng- loại kỳ hạn trớc đây không có Vâng, đối với ngời gửi tiền thì lãi suấttiền gửi cao là tốt, song sự bất bình thờng trong điều chỉnh lãi suất nh vậy

sẽ gây một cảm giác không yên tâm: có vẻ nh ngân hàng thiếu một định ớng chiến lợc cho hoạt động của mình

-Nâng lãi suất tiền gửi thanh toán- điều không nên làm

Trong số các lãi suất tiền gửi đợc nâng lên thì lãi suất tiền gửi thanh toán

đợc quan tâm nhất Xét về bản chất tiền gửi thanh toán là những khoản tiềngửi mà ngời ký thác nhằm mục đích bảo đảm sự an toàn và thuận tiện tronggiao dịch, thanh toán chứ không phải để hởng lãi ở hầu hết các nớc trên thếgiới ngời ta không trả lãi cho loại tiền gửi này ở Việt Nam, do muốn tạothói quen thanh toán qua ngân hàng, do các loại lãi suất tiền gửi khác cũng

Trang 19

khá cao nên chúng ta đã trả một tỷ lệ lãi nhất định cho tiền gửi thanh toán,song cho dù có trả lãi thì định hớng cho loại tiền gửi này vẫn là: dần dầntiến tới xoá bỏ việc trả lãi Nhìn lại lãi suất của tiền gửi của nớc ta mới thấydiễn biến của nó phức tạp, không theo một quy luật nào: từ 0,1% tháng lên0,5%; 0,7% rồi lại xuống dần trở lại 0,1% và đến cuối năm 1996 cùng vớicác loại lãi suất khác, nó lại tăng lên ở tất cả các ngân hàng (0,4% và cóngân hàng trả 0,5%; 0,7% tháng) Khi lãi suất tiền gửi tăng lên, không cần

có thói quen thì mọi ngời vẫn dễ dàng chấp nhận, nhng khi giảm xuống thìquả là ngời ta không dễ dàng chấp nhận Sau khi lãi suất đã đợc kéo tụt trởlại 0,1% tháng, tất cả có vẻ nh yên vị rồi vì mọi ngời đã quen (từ 1-1996

đến 10-1996), thì chiến dịch lãi suất cuối năm 1996 lại bật tung nó lên Cácngân hàng tỏ ra có sự cạnh tranh khá quyết liiệt đối với nguồn vốn rẻ nhấtnày Một sự cạnh tranh không có cầm cơng, không có định hớng đã dẫn đếnmột kết quả thật đáng tiếc: làm mất đi một thói quen đang đợc nuôi dỡng “

đã là tiền gửi thanh toán thì chỉ có lãi suất khuyến khích (thấp) thậm chíkhông trả lãi”

-Chênh lệch 0,35% giữa lãi suất cho vay bình quân với lãi suất tiền gửibình quân

Đây là một quy định gây ra nhiều cuộc tranh luận sôi nổi trên các báo, tạpchí kể cả trong ngành lẫn ngoài ngành

ý kiến ủng hộ quy định này cho rằng: chênh lệch 0,35% có tác dụng bảo

vệ ngời gửi tiền và với mức khống chế 0,35% sẽ có tác dụng khuyến khích

và các ngân hàng quan tâm hơn đến chất lợng quản lý, ngân hàng nào quản

lý tốt, tiết kiệm đợc chi phí thì lợi nhuận cao, ngợc lại ngân hàng quản lýkém, để chi phí phát sinh nhiều thì lợi nhuận thấp Song theo chúng tôi, sửdụng thớc đo chung 0,35% này cho tất cả các ngân hàng là việc làm khônghợp lý và cách lý giải trên có nhiều điều cha đợc kín kẽ

Thứ nhất, chênh lệch lãi suất 0,35% áp dụng chung cho tất cả các ngân

hàng, có khác nào khoác cho tất cả mọi ngời lớn, bé, già, trẻ, mập, ốm mộtcái áo có cùng một cỡ số

Mỗi lĩnh vực hoạt động khác nhau thì nhu cầu chi phí khác nhau; cónhững loại chi phí phát sinh do đièu kiện hoàn cảnh cụ thể, chúng ta cómuốn cắt giảm cũng không đợc.Nh trong lĩnh vực nông nghiệp, chi phí hoạt

động cho vay và huy động vốn có phần tốn kếm hơn các lĩnh vực khác Bởitrong lĩnh vực nông nghiệp có nhiều đối tợng vay vốn nằm dải dác phân tán,

đặc biệt là cho vay hộ nông dân, không những thế, những khoản vay phátsinh thờng rất nhỏ Các ngân hàng hoạt động trong lĩnh vực này phải chấpnhận một thực tế khách quan: doanh số cho vay thì thấp mà chi phí lại rấttốn kém Các chi phí này phát sinh một cách tự nhiên, hoàn toàn không phải

do kết quả của sự quản lý yếu kém, với chi phí cao lại chống chế trong giớihạn 0,35%, chắc chắn rằng lợi nhuận sẽ thu hẹp lại và nh vậy là không hợp

lẽ Ngợc lại trong lĩnh vực có nhiều điều kiện thuận lợi do khách quan, cáckhoản cho vay phát sinh thờng lớn và tập trung, và vì thế nên họ tự nhiên đ-

ợc hởng mức lợi nhuận cao hơn Nh vậy, nếu đặt ngang bằng về khách quanquản lý thì sự chênh lệch về lợi nhuận giữa các ngân hàng là điều khó chấpnhận

Thứ hai, tạo ra một mặt bằng cạnh tranh bất hợp lý.

Trang 20

Chúng ta thừa nhận với nhau rằng chuyển sang cơ chế thị trờng phải chấpnhận cạnh tranh, song sẽ không có một mặt hàng cạnh tranh thực sự nếukhống chế chênh lệch 0,35% cho các ngân hàng Ngân hàng nếu có lợi thế

do chi phí thấp có thể chấp nhận mức lợi nhuận ngang với các ngân hàngkhác để nâng lãi suất thu hút, giảm lãi suất cho vay Nh vậy, vô tình chúng

ta cũng cung cấp thêm sinh khí cho một số ngân hàng và cũng có nghĩa đẩy

số ngân hàng còn lại vào tình trạng khó khăn

Thứ ba, chênh lệch 0,35% một con số không thực:

Trên thực tế chúng ta không thể tính đợc chênh lệch thực sự giữa lãi suấtcho vay và lãi suất tiền gửi do sự chênh lệch về thời hạn của tiền gửi và thờihạn cho vay Chúng ta có thể tính đợc một con số đúng về chênh lệch giữalãi suất cho vay và lãi suất tiền gửi một khi ngân hàng chỉ là trung gianchuyển nguyên vẹn một số tiền từ khách hàng gửi tiền sang khách hàng vaytiền trong cùng một khoảng thời gian Nghĩa là nếu khách hàng nào đó cầnvay một số tiền trong một thời gian nhất định, ngân hàng sẽ vay của mộtngời khác để chuyển cho khách hàng vay đúng số tiền đó và cũng trong thờigian đó Song hoạt động của ngân hàng đâu phải nh vậy, các kỳ hạn củanguồn vốn trong hoạt động của ngân hang phần lớn là không phú hợp với

kỳ hạn cho vay

Có những ngân hàng nguồn vốn hoạt động chủ yếu là nguồn vốn không kỳhạn (60%-70% tổng nguồn vốn) thì cũng không bao giờ lại có khoản vaykhông kỳ hạn phát sinh, cho dù nguồn vốn là có kỳ hạn thì cho vay vẫnluôn luôn có hạn Chức năng chuyển hoá về thời hạn là vhức năng tuyệt vời

và chứa đựng nhiều rủi ro của ngân hàng

Vậy thử hỏi làm sao chúng ta có thể tính đợc một con số thực về chênhlệch giữa lãi suất cho vay và lãi suất tiền gửi khi cả hai đều có cùng một

điểm tựa và hầu nh khác biệt nhau về thời điểm và thời gian?

Thứ t, chênh lệch lãi suất thực tế không phản ánh đúng chất lợng hoạt

động của ngân hàng

Trong thông t 05/TT-NH1 ngày 17/8/1996 của ngân hàng Nhà nớc ViệtNam có hớng dẫn phơng pháp xác định lãi suất cho vay và lãi suất tiền gửibình quân thực tế nhằm kiểm tra việc thực hiện lãi suất hàng tháng Trongcông thức tính lãi suất hàng tháng cho thấy:

-Lãi suất cho vay bình quân thực tế tháng phụ thuộc vào tổng số lãi chovay trong tháng

-Lãi suất huy động bình quân thực tế tháng phụ thuộc vào tổng số chi trảtiền gửi trong tháng

Nhng trên thực tế việc tính toán tiền lãi cho vay thu trong tháng và số tièngửi trả trong tháng phụ thuộc vào nhiều yếu tố:

-Có loại cho vay thu lãi 3 tháng 1 lần, có loại cho vay lại thu hồi mỗitháng một lần

-Có thể thu đủ 100% số lãi phải thu trong kỳ, song có nơi, có vùng, có thời

kỳ chỉ thu đợc 60% hoặc 70% số lãi phaỉ thu

Có loại tiền gửi, có thời kỳ trả lãi cuối kỳ song có nhu cầu về vốn bức xúc,không muốn nâng lãi suất một cách lộ liễu, các ngân hàng có thể công bốmức lãi suất cũ thay vì trả lãi cuối kỳ thì ngân hàng trả lãi đầu kỳ Cáchthu lãi cho vay và mức thu lãi cho vay khác nhau, cách trả lãi tiền gửi khácnhau đều làm ảnh hởng đến lãi suất cho vay bình quân thực tế và lãi suất

Trang 21

tiền gửi bình quân thực tế và ảnh hởng này chắc chắn tác động đến chênhlệch giữa lãi suất cho vay bình quân và lãi suất tiền gửi bình quân.

Thứ năm, quy định chênh lệch 0,35% không có tác dụng bảo vệ ngời gửi

tiền:

Quan tâm đến ngời gửi tiền là một ý tởng tốt đẹp trong hoạt động kinhdoanh ngân hàng Mặt khác bảo vệ ngời gửi tiền không chỉ là quân tâm đếnngời gửi tiền mà chính là đến sự tồn tại, suy vong của một ngân hàng Theocách lập luận của một số ngời khi ngân hàng Nhà nớc khống chế chênh lệch0,35% giữa lãi suất cho vay bình quân và lãi suất tièn gửi bình quân thì cácngân hàng không thể hạ thấp lãi suất tiền gửi, vì hạ lãi suất tiền gửi sẽ làmcho chênh lệch thực tế cao lên Song nếu suy xét một cách kỹ càng chúng ta

sẽ thấy 1,25% cũng chỉ là lãi suất trần, chứ không phải là lãi suất bặt buộc.Nếu 1,25% chỉ là lãi suất trần thì các ngân hàng có thể huy động đợc nguồnvốn có chi phí thấp sẽ là điều kiện để cho ngân hàng định ra lãi suất chovay thấp hơn lãi suất trần Hơn nữa, chỉ trong cơ chế độc quyền mới có thể

định ra một mức lãi suất tuỳ thích, còn trong cơ chế cạnh tranh thì việc đa

ra một lãi suất tiền gửi thấp thì chẳng khác nào tự giết mình Và trong thực

tế cho thấy, vì cạnh tranh để thu hút nguồn vốn không kỳ hạn nên các ngânhàng đã thi nhau đẩy lãi suất tiền gửi thanh toán lên

2.2.2.Các hình thức huy động vốn trong nhân dân cha hoàn thiện

Hiện nay chúng ta có hai hình thức huy động chính: Tiền gửi không kỳhạn và tiền gửi có kỳ hạn ở đây chỉ tập trung xem xét loại tiền gửi có kỳhạn

Ngời gửi tiền có kỳ hạn thờng chú ý hơn đến lãi suất tiền gửi, họ có sự lựachọn kỹ càng nhng không phải lúc nào cũng chọn đợc hình thức gửi tiềnthích hợp voứi đặc diểm thu nhập và chi tiêu của mình

-Về kỳ hạn: chúng ta chỉ có kỳ hạn ngắn 3-6-12 tháng là chủ yếu, cha cócác loại tiền gửi dài hạn từ 5-10-15 năm

-Về lãi suất: cha thật rõ nét về sự u đãi lãi suất cho tiền gửi trung và dàihạn

-Cha thật sự u tiên cho ngời gửi tiền có kỳ hạn dài:

Hiện nay tiền gửi có kỳ hạn thờng chỉ đợc lấy lại khi đáo hạn và cũng cha

có hình thức gỉ dài hạn với lãi suất u đãi hơn Một ngời gửi dài hạn 10 nămnhằm lấy chi tiêu thờng xuyên đã không thực hiện đợc Các NHTM thờngkhông trả lãi hàng tháng Ngời gửi phải gửi vào loại kỳ hạn 3 tháng để lấylãi thờng xuyên hơn và do đó giảm tính vững chắc của số d tiền gửi

-Cha có sự đảm bảo rõ nét cho giá trị của tiền gửi dài hạn

Ngời gửi tiền trung và dài hạn không thể yên tâm rằng sau 5-10 năm giátrị của tiền gửi vẫn còn đợc bảo toàn, nếu nh chỉ nhìn vào con số về lãi suất.Thực tế mất giá đồng tiền vẫn còn và mức độ trợt giá là khó dự đoán Đòihỏi bên cạnh lãi suất phải có công cụ khác, một khẳng định chắc chắn hơn 2.2.3.Cha đồng bộ thiếu khoa học trong tổ chức các nghiệp vụ huy độngtiền gửi

-Các thẻ tiết kiệm là ấn chỉ quan trọng, nếu là thẻ tiết kiệm không ghidanh thì còn có giá trị nh tiền nhng không có các yếu tố an toàn đặc biệt

nh tiền

Trang 22

Trong thực tế khi một thẻ tiết kiệm lu hành thì tại một nơi khác, khôngphải là nơi phát hành không thể xác định thẻ đó là thật hay giả bởi không có

ký hiệu đặc biệt nh sợi phản quang hoặc không có ký hiệu mật khác -Thiếu thông tin lẫn nhau gây khó khăn cho ngời gửi tiền

Ví dụ một khách hàng A gửi tiền ở quỹ tiết kiệm số 1 và dùng thẻ tiếtkiệm đó để thế chấp vay vốn tại phòng giao dịch B (cùng chi nhánh ngânhàng), thì phòng giao dịch B không có thông tin đảm bảo đó là thẻ tiết kiệmthật-còn số d-cha báo mất(?) phải yêu cầu khách hàng trở lại quỹ tiết kiệm

số 1 chứng nhận Mặc dù việc chứng nhận đã cũng ít ý nghĩa vì mẫu dấu vàchữ ký của Quỹ tiết kiệm số 1 không đợc đăng ký trớc

-Cha đáp ứng nhu cầu quan trọng và phổ biến của ngời gửi là : gửi một nơinhng lại rút ở một nơi khác

-Cha tổ chức đợc các hoạt động thanh toán, chuyển tiền ngay từ cơ sở huy

động tiền gửi Ngời bắt buộc phải rút tiền mặt để thực hiện thanh toán lẫnnhau, hoặc vận chuyển tiền đến nơi khác

-áp dụng các qui định một cách máy móc, dành thuận lợi cho mình, ờng thiệt thòi cho ngời gửi tiền

Hiện tại một số NHTM để thuận tiện cho hạch toán thì chỉ sử dụng các thẻtiết kiệm có kỳ hạn theo kiểu sử dụng một lần ( gửi một lần, rút một lần),làm thiệt hại cho khách hàng

Ví dụ: Ông A gửi tiền tiết kiệm 3 tháng, theo cách nhiều kỳ liên tục khôngrút vốn, ngày 1/1 nhằm ngày 1/4 đợc lấy lãi Khi đó ông phải rút toàn bộvốn và lãi vì lập thủ tục mới để gửi lại số tiềnvốn Nếu do chậm trễ, ngày15/4 mới tới đợc thì món gửi mới ( do rút ra gửi lại) tính từ 15/4 Còn từ 1-15/4 ông phải chịu thiệt thòi không có lãi hay hởng lãi không kỳ hạn

-Thủ tục rờm rà không cần thiết

Theo nguyên tác ngời gửi tiền xuất trình giấy chứng minh nhân dân để gửitiền, thì họ cũng chỉ làm nh vậy khi rút, kể cả khi báo mất thẻ tiết kiệm.Trong thực tế khi báo mất thẻ lại yêu cầu chứng nhận của chính quyền làkhông cần thiết Vả lại nếu họ báo mất vào ngày đáo hạn thì phải đợi 10ngày sau nếu cha có ai lợi dụng mới đợc rút ra cũng càng không cần thiết

Điều đó gây tâm lý không an tâm, ngời gửi có thể hiểu rằng tiền gửi tạingân hàng vẫn có thể bị ngời khác đến rút và có thể sẽ bị mất nếu ngời kháclợi dụng ở đây phải khẳng định rằng: Nếu tiền gửi có ghi danh mà quĩ tiếtkiệm bị ngời khác lợi dụng rút ra thì phải hoàn toàn chịu trách nhiệm, chứkhông phải là ngời gửi kể cả họ bị mất thẻ tiết kiệm

2.2.4.Nhân dân cha tin vào ngân hàng

Dù nhà nớc có khá nhiều nỗ lực cho hoạt động ngân hàng và ngày càng cónhiều tiện ích ngân hàng ra đời nh: ngân phiếu thanh toán, chi phiếu cánhân, thẻ tín dụng nhng hiện nay vẫn còn một số không ít ngời cha thực

sự tin vào ngân hàng, dĩ nhiên họ có lý do riêng nh sợ có ngời biết có tiềnhoặc lý do nào khác nữa

2.2.5.Sự trợt giá của đồng tiền

Đồng tiền của chúng ta dù đã ổn định nhng vẫn còn trợt giá nhất định biểuhiện qua sự tng lên của giá cả hàng hoá, hoặc sút giá so với đồng đô-la Nếu làm con tính kỹ lỡng thì sự trợt giá vẫn còn thấp hơn tiền lãi thu đợc,nhng điều này còn là một nỗi u t của ngời dân vì họ vẫn còn phần nào dè

Ngày đăng: 15/09/2012, 16:35

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Tình hình biến động nguồnvốn - Một số giải pháp nhằm tăng cường khả năng huy động vốn của NHTM cho sự nghiệp Công nghiệp hoá - Hiện đại hoá đất nước (2).DOC
nh hình biến động nguồnvốn (Trang 11)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w