1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu cấu trúc địa chất, đánh giá tiềm năng DK lô 103 bể sông Hồng. Thiết kế giếng khoan thăm dò trên cấu tạo P1C.

102 2,1K 5

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 102
Dung lượng 4,86 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bể Sông Hồng được giới hạn nằm trong khoảng 14o3021o00 vĩ độ Bắc và 105o30110o30 kinh độ Đông. Đây là một bể có lớp phủ trầm tích Kainozoi dày hơn 14km. Về địa lý, bể Sông Hồng có một phần nhỏ diện tích nằm trên đất liền thuộc đồng bằng Sông Hồng, còn phần lớn diện tích thuộc vùng biển Vịnh Bắc Bộ và biển miền Trung thuộc các tỉnh từ Quảng Ninh, đến Bình Định. Diện tích của bể Sông Hồng khoảng 220.000km2. Trong đó diện tích của bể thuộc phạm vi Việt Nam chiếm khoảng 126.000km2. Bể có cấu trúc địa chất phức tạp, thay đổi từ đất liền ra biển theo hướng Đông Bắc Tây Nam và Nam, phân thành 3 vùng địa chất: vùng Tây Bắc (miền võng Hà Nội và một số lô phía Tây Bắc), vùng Trung Tâm (lô 107108 đến lô 114115) và vùng phía Nam (lô 115 đến 121). Công tác tìm kiếm thăm dò dầu khí ở bể Sông Hồng đã được tiến hành từ đầu thập kỷ 60 của thế kỷ trước. Ngoài các mỏ khí Tiền Hải C, Đông Quan, D14 là đang khai thác thì bể Sông Hồng còn có các phát hiện khí là Báo Đen, Báo Vàng, Hắc Long, Hoàng Long, Bạch Long, Địa Long và một phát hiện dầu là mỏ Thái Bình.

Trang 1

ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP

Nghiên cứu cấu trúc địa chất, đánh giá tiềm năng DK lô 103 bể sông Hồng Thiết kế giếng khoan thăm dò trên cấu tạo P1-C.

Trang 2

PHẦN I NGHIÊN CỨU CẤU TRÚC ĐỊA CHẤT LÔ 103

PHÍA BẮC BỂ SÔNG HỒNG

Trang 3

CHƯƠNG I: ĐẶC ĐIỂM ĐỊA LÝ TỰ NHIÊN- KINH TẾ - NHÂN VĂN

1.1 Đặc điểm địa lý tự nhiên

1.1.1 Vị trí địa lý:

105o30'-110o30' kinh độ Đông Đây là một bể có lớp phủ trầm tích Kainozoi dàyhơn 14km Về địa lý, bể Sông Hồng có một phần nhỏ diện tích nằm trên đất liềnthuộc đồng bằng Sông Hồng, còn phần lớn diện tích thuộc vùng biển Vịnh Bắc Bộ

và biển miền Trung thuộc các tỉnh từ Quảng Ninh, đến Bình Định Diện tích của bểSông Hồng khoảng 220.000km2 Trong đó diện tích của bể thuộc phạm vi Việt

liền ra biển theo hướng Đông Bắc - Tây Nam và Nam, phân thành 3 vùng địa chất:vùng Tây Bắc (miền võng Hà Nội và một số lô phía Tây Bắc), vùng Trung Tâm (lô107-108 đến lô 114-115) và vùng phía Nam (lô 115 đến 121)

Công tác tìm kiếm thăm dò dầu khí ở bể Sông Hồng đã được tiến hành từ đầuthập kỷ 60 của thế kỷ trước Ngoài các mỏ khí Tiền Hải C, Đông Quan, D14 làđang khai thác thì bể Sông Hồng còn có các phát hiện khí là Báo Đen, Báo Vàng,Hắc Long, Hoàng Long, Bạch Long, Địa Long và một phát hiện dầu là mỏ Th áiBình

Lô 103 có diện tích 8062 km2 (Hình 1.1) nằm ở vùng nước nông của vịnhBắc Bộ Việt Nam , thuộc rìa Bắc và sườn Đông Bắc của bể Sông Hồng , cách thànhphố Hải Phòng khoảng 120km về phía Nam, cách thành phố Thái Bình khoảng80km về phía Đông Nam Lô 103 có tọa độ địa lý là: 20040’00’’ đến 19050’00’’ vĩ

độ Bắc, 107055’00’’ đến 106025’00’’kinh độ Đông

Lô 103 đã được tiến hành tìm kiếm thăm dò từ những năm đầu thập kỷ 80của thế kỷ XX, một phần phía Đông Bắc lô 103 và phía Bắc lô 107 nằm trong hợpđồng PSC với Total từ năm 1989 đến năm 1992 Hiện nay công tác tìm kiếm thăm

dò vẫn được tiếp tục trên diện tích lô 103

Trang 4

Hình 1.1: Vị trí lô 103

Hình 1.2: Vị trí cấu tạo P 1.1.2 Đặc điểm địa hình, địa mạo

Trang 5

Tại khu vực ranh giới phía Tâ y lô 103 độ sâu đáy biển dao động từ 20m đến40m hoặc trên 40m ở khu vực ranh giới phía Đông lô 107 Đáy biển nhìn chungtương đối bằng phẳng, dốc nhẹ từ Tây sang Đông và từ Tây Bắc xuống Đông Nam.Mức chênh lệch thủy triều của khu vực là 2m Dòng chảy phổ biến theo hướngĐông Bắc - Tây Nam phụ thuộc vào hệ thống sông ngòi đổ ra từ đồng bằng Bắc

Bộ, thường có cường độ rất mạnh vào mùa hè và yếu hơn vào mùa đông

1.1.3 Đặc điểm khí hậu thủy văn

Khu vực nghiên cứu mang đặc điểm khí hậu nhiệt đới gió mùa của miền BắcViệt Nam Khí hậu phân thành hai mùa rõ rệt: mùa khô và mùa mưa Mùa mưa kéodài từ tháng 6 đến tháng 9 và mùa khô kéo dài từ tháng 10 đến tháng 5 năm sau.Theo quy luật thì các hoạt động tìm kiếm – thăm dò và khai thắc dầu khí có thể bịảnh hưởng bởi các yếu tố thời tiết sau:

- Nhiệt độ không khí: Mùa hè thì nhiệt độ trong khoảng 260C-360C, độ ẩm

- Gió: Gió mùa Đông Bắc có độ mạnh cho tới cấp 7-8 theo từng đợt kéo dài

từ 3 ngày tới 2 tuần Với gió mùa Đông Bắc từ cấp 4 đến cấp 5 trở lên trong khuvực biển động rất mạnh Các công tác thăm dò như thu nổ địa chấn, khảo sát địachất công trình biển và các hoạt động cung cấp vật tư – thiết bị, thực phẩm và xăngdầu có thể tạm ngừng hoạt động Vào mùa hè thường có gió Nam, Đông Nam tốc

độ trung bình 9 -11km/h, mạnh nhất 74 km/h, có thể đạt 148 km/h khi có gió bão

- Bão: Các cơn bão nhiệt đới có cường độ trên cấp 7 thường đi vào khu vựctrong thời gian từ tháng 7 đến tháng 10 Thời gian ảnh hưởng thường ngắn, chỉ từ1-5 ngày và đi kèm với các cơn bão thường có mưa lớn kéo dài vài ngày khi cơnbão đi qua

- Sóng biển: Ở khu vực vào mùa đông hướng sóng Đông Đông Bắc độ caotrung bình từ 0.7 – 1m cao nhất là 2-3m Trong thời gian có gió mùa Đông Bắcsóng có thể lên tới 4m

- Dòng chảy: Dòng chảy chỉ được xác định trên mặt nên tốc độ dòng chảythay đổi phụ thuộc vào gió và sóng Tốc độ dòng chảy xác định được trung bình là1-2m/s

Trang 6

- Hệ thống sông ngòi: Đồng bằng Sông Hồng có hai hệ thống sông lớn là hệthống sông Hồng và hệ thống sông Thái Bình Trong đó có rất nhiều hệ thống sôngngòi nhỏ, mạng lưới dày đặc nối các tỉnh trong vùng và với khu vực lân cận.

Trạm quan trắc và dự báo thời tiết – thủy văn có thể cung cấp những thôngtin cần thiết và chính xác cho khu vực là trạm đặt trên đảo Bạch Long Vĩ chỉ cáchtrung tâm lô 103 nằm ở phía Tây Nam khoảng 100 hải lý

1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội của khu vực.

Khu vực nghiên cứu nằm trong vùng biển của hai tỉnh: Ninh Bình ở phía Bắc

và Thanh Hóa ở phía Nam, ngoài ra còn có thể liên quan đến các tỉnh, thành phốkhác như Thái Bình, Hải Phòng và Nghệ An…

1.2.1 Giao thông, thông tin liên lạc, nguồn điện, nguồn nước

- Đường bộ: Đồng bằng Sông Hồng có hệ thống đường bộ khá lớn, nó baogồm các quốc lộ nối liền các vùng các tỉnh với nhau Ở đây có các tuyến đườngquốc lộ lớn như quốc lộ 1, quốc lộ 5…

- Đường sắt: Hệ thống đường sắt khá lớn, phân bố và chạy k hắp vùng, liênkết các tỉnh với nhau và cũng là phương tiện nối với các tỉnh lân cận để phục vụcho giao thương, chuyên chở hàng hóa, phương tiện giao thông cho người dân đilại

Thông tin liên lạc: Hệ thống thông tin liên lạc của toàn vùng rất phát triển, vìđây là trọng điểm kinh tế của toàn miền Bắc nên chính phủ cũng như các banngành địa phương đã đầu tư rất nhiều trang thiết bị công nghệ hiện đại để phục vụcho tất cả các lĩnh vực kinh tế liên quan đến thông tin Bất cứ ngành nghề nào nếukhông có hệ thống thông tin liên lạc thì không thể tồn tại và phát triển Hiện nay córất nhiều dịch vụ mạng điện tử phát triển ở tất cả các tỉnh, đặc biệt là ở các thànhphố lớn, điều đó đem lại hiệu quả kinh tế rất cao

- Nguồn điện: Nguồn năng lượng điện phục vụ ch o các ngành công nghiệp vàđời sống nhân dân tương đối tốt Điện đã về đến các vùng nông thôn, vùng xa xôi

Trang 7

hẻo lánh Trong vùng có một số nhà mày điện lớn như nhà máy điện sông Đà, nhiệtđiện Phả Lại …

- Nguồn nước: Vùng có hai hệ thống sông lớn là hệ thốn g sông Hồng và hệthống sông Thái Bình nên nguồn nước rất phong phú Cả nguồn nước trên mặt lẫnnguồn nước ngầm đều có chất lượng rất tốt Tuy nhiên, vùng cũng có thể xảy ratình trạng thừa nước trong mùa mưa và thiếu nước trong mùa khô

1.2.2 Đặc điể m kinh tế xã hội

- Dân số: Đây là khu vực tập trung dân cư đông đúc: 18400600 người (2007)

(2007) Đây là khu vực có trình độ dân trí cao

- Đời sống văn hóa xã hội: Hệ thống giáo dục cơ sở, trung học phát triển rộngkhắp từ nông thôn đến thành thị, các trường đại học, cao đẳng, trung học chuyênnghiệp có mặt ở tất cả các thành phố Đặc biệt lại thủ đô Hà Nội có khoảng 50trường đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp ở tất cả các ngành nghề Mộtlực lượng lớn các kĩ sư, ti ến sỹ chuyên ngành đã đư ợc đào tạo nhằm phục vụ chomục đích nghiên cứu và ứng dụng khoa học công nghệ phục vụ cho các ngành côngnghiệp Đồng thời ở khu vực cũng đã tập trung nhiều bệnh viện lớn với các giáo sư,bác sỹ giỏi nhiều kinh nghiệm cùng trang thiết bị khám hiện đại Do đó rất thuậnlợi cho việc chăm sóc sức khỏe nhân dân

- Đời sống kinh tế: Đồng bằng Sông Hồng là một trong những vùng kinh tế

có tầm quan trọng đặc biệt trong phân công lao động cả nước Đây là vùng có vị tríđịa lý thuận lợi, điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên phong phú và đa dạng,dân cư đông đúc, nguồn lao động dồi dào, mặt bằng dân trí cao Vùng có vị tríthuận lợi cho sự phát triển kinh tế xã hội Đây là cầu nối giữa vùng Đông Bắc, TâyBắc, với vùng Bắc Trung Bộ, đồng thời nằm ở trung tâm miền Bắc, Trong vùngkinh tế trọng điểm Bắc Bộ, có thủ đô Hà Nội là trung tâm công nghiệp, hành chính,chính trị cao nhất nước… Vùng lại tiếp giáp với hơn 400 km bờ biển, có cửa ngõthông ra biển qua cảng Hải Phòng và các cảng biển khác, dễ dàng mở rộng giao lưuvới các vùng khác và các nước trong khu vực Tuy nhiên, do nằm trong vùng có khíhậu nhiệt đới gió mùa nên vùng thường xuyên chịu ảnh hưởng của thiên tai như lũlụt, hạn hán, bão…

- Các ngành nghề chủ yếu:

* Nông nghiệp: Tài nguyên thiên nhiên của vùng khá đa dạng Đất là tàinguyên quan trọng nhất của vùng, trong đó quý nhất là đất phù sa sông Hồng.Đồng bằng Sông Hồng là nơi có nhiều khả năng để sản suất lương thực, thực phẩm.Trên thực tế, đây là vựa lúa lớn thứ 2 cả nước, sau đồng bằng Sông Cửu Long Số

Trang 8

đất đai đã được sử dụng vào hoạt động nông nghiệp là trên 70 vạn ha, chiếm 56%tổng diện tích tự nhiên của đồng bằng Sông Hồng, trong đó 70% đất có độ phìnhiêu từ trung bình trở lên Ngoài số đất đai phục vụ lâm nghiệp và các mục đíchkhác, số diện tích đất chưa được sử dụng vẫn còn hơn 2 vạn ha Nhìn chung, đấtđai của đồng bằng Sông Hồng được phủ một lớp phù sa của hệ thống Sông Hồng

và Sông Thái Bình bồi đắp nên tương đối màu mỡ Tuy vậy, độ phì nhiêu của cácloại đất không giống nhau ở khắp mọi nơi Đất thuộc châu thổ Sông Hồng phìnhiêu hơn đất thuộc châu thổ Sông Thái Bình Có giá trị nhất đối với việc phát triểncây lương thực ở đồng bằng Sông Hồng là diện tích đất không phù sa bồi đắp hàngnăm (đất trong đê) Loại đất này chiếm phần lớn diện tích châu thổ và đã bị biếnđổi nhiều do trồng lúa Điều kiện khí hậu và thủy văn của khu vực cũng thuận lợicho việc thâm canh tăng vụ trong sản xuất nông nghiệp Thời tiết mùa đông rất phùhợp với một số cây trồng ưa lạnh

* Công nghiệp: Tài nguyên có giá trị đáng kể là các mỏ đá (Hải Phòng, HàNam, Ninh Bình), sét cao lanh (Hải Dương), than nâu (Hưng Yên), khí tự nhiên(Thái Bình) Đặc biệt, mỏ khí đốt Tiền Hải đã được đưa vào khai thác nhiều nămnay và đem lại hiệu quả kinh tế cao Tuy nhiên, vùng thiếu nguyên liệu cho việcphát triển công nghiệp, phần lớn phải được nhập từ vùng khác Một số tài nguyêncủa vùng bị suy thoái do khai thác quá mức

* Ngư nghiệp: Do đặc điểm vị trí địa lý của vùng có diện tích tiếp xúc vớibiển lớn nên ngư nghiệp khá phát triển ở đồng bằng Sông Hồng, hệ thống sôngngòi dày đặc, đan xen nhau, rất thuận lợi cho đánh bắt thủy hải sản tại các tỉnh nóiriêng và cả khu vực nói chung Đồng thời ở đây lại có đường bờ biển ké o dài nên

cả chất lượng và số lượng hải sản ở đây rất phong phú, đem lại nguồn lợi kinh tếđáng kể cho toàn vùng

* Du lịch: Khu vực này nằm dọc bờ biển Việt Nam, đến bờ biển miền Trungnên ngoài ngành ngư nghiệp, khai thác tiềm năng du lịch cũng là một đi ểm mạnhcủa vùng Đặc biệt phải kể đến các bãi biển nổi tiếng như Đồ Sơn, Cát Bà, đảo HònDấu, đảo Bạch Long Vĩ…những thắng cảnh này đã đem lại nguồn lợi kinh tếkhổng lồ cho sự phát triển kinh tế trong vùng Hàng năm, lượng khách du lịchtrong và ngoài nước đến tham quan, nghỉ mát, vui chơi không ngừng tăng lên, đồngthời chất lượng phục vụ và môi trường du lịch được cải thiện, đổi mới rất nhiềuđem lại cho người dân một khu vực giải trí thuận tiện và hấp dẫn nhất

* Thương nghiệp: Mạng lưới thương nghiệp rộng khắp trên toàn bộ khu vựcđáp ứng nhu cầu mua bán của nhân dân một cách tiện ích và hợp lý nhất Đặc biệtvới chính sách mở cửa của nhà nước thì các trung tâm thương mại lớn ngày cànghình thành nhiều hơn

Trang 9

1.3 Những thuận lợi, khó khăn.

- Vùng có nguồn lao động dồi dào, trình độ dân trí cao

- Tiềm năng kinh tế của vùng lớn, thị trường tiêu thụ dầu khí rộng lớn

1.3.2 Khó khăn

- Việc thăm dò dầu khí được tiến hành ở ngoài khơi, xa bờ nên gặp một sốkhó khăn về công tác hỗ trợ dịch vụ như chi phí cho các chuyến bay du lịc h ngoàigiàn khá cao, quá trình tiến hành các công tác dầu khí có sự đầu tư lớn Ngoài ra,còn gặp sự ảnh hưởng của thời tiết như dòng chảy, sóng, gió

- Dân cư đông đúc cũng ảnh hưởng không nhỏ tới công tác khảo sát thăm dòdầu khí tại khu vực này

Trang 10

CHƯƠNG II: LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU – TÌM KIẾM THĂM DÒ DẦU KHÍ

KHU VỰC NGHIÊN CỨU 2.1 Lịch sử nghiên cứu

Diện tích khu vực nghiên cứu cùng với các lô khác trong khu vực đã đượctiến hành khảo sát từ những năm đầu của thập kỷ 80 của thế kỷ XX, một phần phíaĐông Bắc lô 103 và phía Bắc lô 107 nằm trong hợp đồng PSC với Total từ năm

1989 đến 1992 Lịch sử nghiên cứu tìm kiếm thăm dò (TKTD) và khai thác có thểchia làm 2 giai đoạn chính sau: trước 1987 và từ 1988 đến nay Toàn bộ công táctìm kiếm - thăm dò bao gồm các phương án khảo sát địa vật lý, địa chất và khoan,

có thể tóm lược như sau

2.1.1 Giai đoạn trước năm 1987

2.1.1.1 Nghiên cứu địa vật lý:

* Thăm dò địa chấn 2D :

Trong khu vực nghiên cứu hầu hết đã được phủ mạng lưới tuyến địa chấn 2D

từ nghiên cứu khu vực đến nghiên cứu cấu tạo, bắt đầu bằng mạng 16x16 km và16x32 km, ghi số - bội 48 của hai tàu địa chấn Poisk và Iskachen vào năm 1983.Năm 1984 sau khi có kết quả của công tác minh giải địa chấn khu vực,tàuPoisk lại tiếp tục thu nổ 2000km tuyến địa chấn bội 48, mạng lưới đan dày 4x4 km

và 2x2 km trên vùng biển được coi là có triển vọng nhất nằm giữa hai đứt gãy Sông

Lô và Sông Chảy

Trong những năm 1984 đến 1987 tàu địa chấn Bình Minh của công ty địa vật

lý thuộc Tổng cục Dầu khí Việt Nam đã thu nổ được 2.000 km tuyến địa chấn ghi

số, mạng lưới 2x2 km và 4x4 km trên khu vực Tây Nam và Đông Bắc khu vựcnghiên cứu, nhưng do chất lượng có nhiều hạn chế nên số tài liệu này ít được sửdụng

* Thăm dò địa chấn 3D:

Ở khu vực nghiên cứu trong giai đoạn này công tác thăm dò địa chấn 3D vẫncòn nhiều hạn chế và hầu như chưa được tiến hành

2.1.1.2 Nghiên cứu địa chất:

Trong giai đoạn này, việc nghiên cứu địa chất, lấy mẫu đá ở các điểm lộ trênđất liền và trên các đảo cũng được chú ý đầu tư thích đáng

2.1.1.3 Khoan thăm dò và biểu hiện dầu khí

Trong giai đoạn này thì việc thăm dò trong khu vực nghiên cứu vẫn chưa cógiếng khoan nào do trong khu vực chưa phát hiện được cấu tạo triển vọng

Trang 11

Hình 2.2: Công tác khảo sát, nghiên cứu khu vực.

2.1.2 Giai đoạn 1988 đến nay:

Bước vào giai đoạn đổi mới, trên cơ sở chủ trương kêu gọi đầu tư bằng LuậtĐầu tư nước ngoài, năm 1988 Total vào ký hợp đồng PSC trên khu vực lô 106 vàmột phần lô 107, 103, 102

2.1.2.1 Nghiên cứu địa vật lý:

* Thăm dò địa chấn 2D:

- Năm 1989 và 1990 Total tiến hành thu nổ 10.087km trên tuyến địa chấn vớimạng lưới thăm dò từ 1x2 km (Total 1989), và 1x1 km đến 0,5x0,5 km (Total1990) ở khu vực góc Đông Bắc lô 103 và Bắc lô 107

- Năm 1998 PIDC tiến hành thu nổ mạng từ 1,5x2 km đến 3x6 km trên khuvực còn lại của lô 107 nằm ở phía Nam diện tích Total đã khảo sát trước đây

- Năm 1999, tàu Geomariner đã tiến hành thu nổ địa chấn với mật độ tuyến4x6 km trong phạm vi khu vực lô 103, 107

- PIDC (2005) cũng đã thu nổ mạng lưới địa chấn từ 2x3 km đến 4x6 km phủtrên khu vực phía Đông Bắc lô 103

Trang 12

* Thăm dò địa chấn 3D:

nổ năm 2008 trên khu vực bao gồm phát hiện khí/condensate Hồ ng Long, HoàngLong và các cấu tạo Bạch Long, cấu tạo S

Bảng 1 : Tổng hợp các tài liệu địa chấn thu được trong lô 103 và 107

2.1.2.2 Nghiên cứu địa chất:

Nhiều nghiên cứu địa chất trong khu vực được tiến hành, trong đó có chuyến

đi thực địa nghiên cứu cấu trúc, đ ịa hoá khu vực đảo Bạch Long Vĩ do Viện dầukhí thực hiện

2.1.2.3 Khoan thăm dò và biểu hiện dầu khí:

Trong diện tích lô nghiên cứu và các lô lân cận đã có 15 giếng khoan thăm dò dầukhí, trong đó giếng 103T-H-1X là giếng khoan đầu tiên được Total khoan từ cuốinăm 1990 và gần đây nhất là giếng khoan 106 -YT-2X (2009) do Petronas và giếng106-YT-2X (2009) được Petronas khoan Vị trí và phân bố của mạng lưới khoannhư sau:

- Lô 102 có 3 giếng khoan: 102-CQ-1X, 102-HD-1X, 102-TB-1X doIdemitsu khoan (1994) Trong quá trình khoan có biểu hiện dầu khí nhưng nhà thầukhông thử vỉa do tầng chứa kém

- Lô 103 có 5 giếng khoan: 103T-H-1X, 103T-G-1X (1991) do Total khoan,giếng đầu tiên thử vỉa cho dòng khí công nghiệp, giếng thứ 2 không thử vỉa vì nhàthầu không quan tâm đến khí; PV103-HOL-1X(2001) do PVN khoan, thử vỉa chodòng khí yếu và 2 giếng khoan 103-HAL-1X, 103-DL-1X do Bạch Đằng điều hànhkhoan có phát hiện khí

- Lô 104 có 2 giếng khoan: 104-QV-1X (1995), 104-QN-1X (1996) do OMVkhoan giếng khô

Trang 13

- Lô 106 có 3 giếng khoan: 1X (2005), 106-HL-1X (2006), 2X (2009) do Petronas khoan, giếng đầu có biểu hiện dầu trong Mioxen giữa, gặpkhí H2S trong móng đá vôi, giếng thứ 2 thử vỉa trong móng, gặp khí H2S, khônggặp khí hydrocacbon.

106-YT Lô 107 có 2 giếng khoan: 107T106-YT PA106-YT 1X (1991), PV107106-YT BAL106-YT 1X (2006),giếng dầu do Total khoan, giếng khô Giếng thứ 2 do PIDC khoan

Bảng 2: Khối lượng công tác khoan thăm dò khu vực lô 103

(TD) Đối tượng Lô Ghi chú

Trang 14

CHƯƠNG III: ĐẶC ĐIỂM CẤU TRÚC ĐỊA CHẤT 3.1 Đặc điểm địa tầng:

Hiện tại trong khu vực nghiên cứu ( lô 103 ) bao gồm đầy đủ các hệ tầng trầmtích từ trước Kainozoi đến trầm tích Kainozoi

3.1.1 Móng trước Kainozoi:

Đá móng trước Kainozoi ở khu vực phía Bắc vịnh Bắc Bộ nói chung và khuvực nghiên cứu nói riêng bao gồm nhiều loại khác nhau, phân thành nhiều đớithành hệ khác nhau Đá móng có tuổi Mesozoi và Paleozoi hoặc Proterozoi gồm đácát kết, cuội kết, sạn kết xen kẽ với sét kết có tuổi Devon hoặc những lớp đá vôi rấtdày có tuổi từ Devon tới Pecmi Mức độ phong hóa, biến chất của các loại đất đánày khác nhau, phụ thuộc vào vị trí địa lý và mức độ tiếp xúc với các điều kiện tựnhiên của chúng

Móng trước Kainozoi cũng mới chỉ được phát hiện ở ngoài vùng nghiên cứu,trên đất liền trong các giếng khoan 81 và B10-STB-1X đã bắt gặp đá vôi Cacbon -Pecmi Ở các điểm lộ trên bán đảo Đồ Sơn gặp cát kết, đá phiến màu đỏ, cuội kếtDevon dưới, trên đảo Cát Bà gặp đá vôi màu đen tuổi Cacbon -Pecmi còn trên cácđảo vùng Đông Bắc như Hạ Mai, Thượng Mai gặp cuội kế t, cát kết Devon tương tựnhư ở Đồ Sơn Trên đảo Ngọc Vừng gặp cát kết, bột kết, đá phiến, đá vôi, cuội kếtsạn kết, đá phiến tuổi Ocdovic - Silua Hầu hết các lớp đất đá Kainozoi này đều bịphong hóa và biến chất mạnh

Mặt cắt chuẩn trầm tích Paleoxen/Eoxen được Phạm Hồng Quế phát hiện và

mô tả ở giếng khoan 104 Phù Tiên – Hưng Yên từ độ sâu 3.544m đến 3.860m vàđặt tên là điệp Xuân Hòa (1981) Trầm tích bao gồm cát kết, sét bột kết màu nâutím, màu xám xen kẽ với cuội kết có độ hạt rất khác nhau từ vài cm đến vài chục

cm Thành phần hạt cuội thường là Riolit, thạch anh, đá phiến kết ti nh và quaczit

Trang 15

Cát kết có thành phần đa khoáng, độ mài tròn và độ chọn lọc kém, nhiều hạt thạchanh, canxit và oxit sắt Trên cùng là lớp cuội kết hỗn tạp màu tím, màu đỏ, xen kẽ

đá phiến sét Bề dày của hệ tầng tại giếng khoan này đạt 316m Năm 1982, tron gcác công trình nghiên cứu của các tác giả Đỗ Bạt, Phan Huy Quynh đã đổi thànhđiệp Phù Tiên còn Lê Văn Cự (1982) đổi thành hệ tầng Phù Tiên Được phát hiện ởgiếng khoan 107T-PA-1X (3.050-3.535m) với cuội sạn kết có kích thước nhỏ,thành phần chủ yếu là các mảnh đá granit và đá biến chất xen kẽ với cát kết, sét kếtmàu xám, màu nâu bị phân phiến mạnh Các đá bị biến đổi thứ sinh mạnh Bề dàycủa hệ tầng tại đây khoảng 485m

Tuổi Eoxen của hệ tầng được xác định dựa theo các dạng bào tử phấn hoa,đặc biệt là Trudopollis và Ephedripites

Hệ tầng được thành tạo trong môi trường sườn tích – sông hồ Đó là cáctrầm tích lấp đầy địa hào sụt lún nhanh, diện phân bố hẹp

Hệ tầng mang tên xã Đình Cao (Phù Tiên – Hưng Yên), nơi đặt giếng khoan

104 mở ra mặt cắt chuẩn của hệ tầng Tại đây từ độ sâu 2.396m đến 3.544m, mặtcắt chủ yếu gồm cát kết màu sám sáng, xám sẫm đôi chỗ phớt tím, xen các lớp cuộikết, sạn kết, chuyển lên các lớp bột kết, sét kết màu xám, xám đen, rắn chắc xen ítlớp cuội sạn kết Bề dày của hệ tầng ở mặt cắt này là 1.148m

Hệ tầng Đình Cao phát triển mạnh ở Đông Quan, Thái Thụy, Tiền Hải và vịnhBắc Bộ, bao gồm cát kết màu xám sáng, xám sẫm, hạt nhỏ đến vừa, ít hạt thô, đôi khigặp cuội kết, sạn kết có độ lựa chọn trung bình đến tốt Đá gắn kết chắc bằng xi măngcacbonat, sét và oxit sắt Cát kết đôi khi chứa glauconit (GK 104-QN-1X, 107T-PA-1X) Sét kết màu xám sáng, xám sẫm đôi khi xen kẹp các lớp than hoặc các lớp móng

đá vôi, chứa hóa thạch động vật Chiều dày hệ tầng thay đổi từ 300 - 1.148m

Các tập bột kết, sét kết màu xám đen phổ biến ở trũng Đông Quan và vịnhBắc Bộ chứa lượng vật chất hữu cơ trung bình (0,54%wt), chúng được xem là đá

mẹ sinh dầu ở khu vực

Trong hệ tầng Đình Cao mới chỉ tìm th ấy các vết in lá thực vật, bào tử phấnhoa Diatiomeac, Padiatrum và động vật nước ngọt

Hóa thạch thân mềm nước ngọt Viviparus kích thước nhỏ, có khoảng phân bốtrong địa tầng rất rộng (Creta – Neogen), nhưng có ý nghĩa quan trọng trong việcđánh dấu đối với trầm tích Oligoxen trong khu vực, nên được dùng để nhận biết hệtầng Đình Cao là lớp chứa Viviparus nhỏ

Hệ tầng Đình Cao thành tạo trong môi trường đầm hồ - sông ngòi Hệ tầng này nằmkhông chỉnh hợp trên hệ tầng Phù Tiên

Trang 16

3.1.2.2 Trầm tích Neogen (Trầm tích Mioxen: Hệ tầng Phong Châu, Phù cừ,

Tiên Hưng)

Trầm tích Neogen phân bố rộng rãi ở bể Sông Hồng với môi trường từ đồngbằng châu thổ, ven bờ, biển nông, chiều dày thay đổi trong khoảng rộng Trong khuvực nghiên cứu, các trầm tích hầu như nằm trong đ ới nghịch đảo kiến tạo, khác vớinhững khu vực xung quanh trầm tích Neogen lại phát triển khá bình ổn và chịu tácđộng của quá trình mở rộng biển Đông Trầm tích Neogen được chia thành 3 hệthống tương ứng với thời gian thành tạo, đó là:

Năm 1972, Paluxtovich và Nguyễn Ngọc Cư đã thiết lập hệ tầng Phong Châutrên cơ sở mô tả mặt cắt trầm tích từ 1.820- 3.000m ở xã Phong Châu, tỉnh TháiBình và đặt tên là hệ tầng Phong Châu, nơi giếng khoan đã được thi côn g Mặt cắttrầm tích đặc trưng bởi sự xen kẹp giữa các lớp cát kết hạt vừa, hạt thô màu xámtrắng, xám lục gắn kết chắc với những lớp cát bột phân lớp rất mỏng từ cỡ mm đến

cm tạo thành các cấu tạo dạng mắt, thấu kính, gợn sóng Cát kết có xi măng chủyếu là cacbonat với hàm lượng cao (25%) Khoáng vật phụ bao gồm nhiềuGlauconit và pyrit Bề dày của hệ tầng tại giếng khoan này đạt tới 1.180m

Hệ tầng Phong Châu phân bố chủ yếu trong dải Khoái Châu – Tiền Hải(Giếng khoan 100) và phát triển ra vịnh Bắc Bộ ( GK 103T-H-1X) với sự xen kẹpcác lớp cát kết, cát bột kết và sét kết chứa dấu vết than hoặc những lớp kẹp đá vôimỏng (GK103T-H-1X, 103-HOL-1X) Cát kết có xi măng cacbonat, ít sét Sét kếtmàu xám sáng đến xám sẫm và nâu nhạt đỏ nhạt, phân lớp song song l ượn sóng,với thành phần chủ yếu là Kaolinit và ilit Bề dày của hệ tầng thay đổi từ 400m đến1.400m

Trên cở sở phân tích các dạng hóa thạch bào tử thu thập được Phan HuyQuynh, Đỗ Bạt (1985-1993-1995) đã xác lập phức hệ betula – Alnipollenites và đớiFlorschuetzia levipoli tuổi Mioxen dưới

Hệ tầng Phong Châu được thành tạo trong môi trường đồng bằng châu thổ(GK 04) và thềm, có sự xen nhiều pha (GK 100) với các trầm tích biển tăng lên rõrệt từ miền võng Hà Nội ra vịnh Bắc Bộ Hệ tầng nằm bất chỉnh hợp tr ên hệ tầngĐình Cao (U300-nóc Oligocene thượng) đến mặt phản xạ H260

Hệ tầng Phù Cừ được V.K Golovenol, Lê Văn Chân (1966) mô tả lần đầutiên tại giếng khoan GK 02 (960-1180m) trên cấu tạo Phù Cừ (miền võng Hà Nội).Tuy nhiên, khi đó chưa gặp được phần đáy của hệ tầng và mặt cắt được mô tả baogồm các trầm tích đặc trưng tính chu kỳ rõ rệt với các lớp cát kết hạt vừa, cát bột

Trang 17

kết phân lớp mỏng (dạng sóng, thấu kính, phân lớp xiên) bột kết, sét kết cấu tạokhối chứa nhiều hóa thạch thực vật, dấu vết động vật ăn bùn, trùng lỗ và các vỉathan lignit Cát kết có thành phần ít khoáng, độ lựa chọn và mài mòn tốt, khoángvật phụ như tuốc -ma-nin, zircon, đôi nơi gặp glauconit Sau này, Phan Huy Quynh,

Đỗ Bạt (1983) và Lê Văn Cự (1985) khi xem lại toàn bộ mặt cắt hệ tầng Phù Cừ tạicác giếng khoan xuyên sâu qua toàn bộ hệ tầng (GK100,101,102) và quan hệ củachúng với hệ tầng Phù Cừ thành 3 phần, mỗi phần một nhịp trầm tích bao gồm cáclớp cát kết , bột kết, sét kết có chứa than và hóa thạch thực vật Một vài nơi gặptrùng lỗ và thân mềm nước lợ

Hệ tầng Phù Cừ phát triển rộng khắp ở miền võng Hà Nội, có bề dày mỏng ởvùng Đông Quan và phát triển mạnh ở Vịnh Bắc Bộ với thành phần trầm tích baogồm cát kết, sét bột kết, than và đôi nơi gặp các lớp mỏng cacbonat Cát kết có màuxám sáng đến lục nhạt thường hạt nhỏ đến hạt vừa, đôi khi gặp hạt thô (GK 104 -

QN 1X), độ chọn lọc trung bình đến tốt, phổ biến cấu tạo phân lớp mỏng, thấukính, lượn sóng, đôi khi dạng khối chứa nhiều cát kết hạch siderit, đôi nơi cóglauconit ( các GK 100, 102, 110, 104) Cát kết có xi măng gắn kết nhiều cacbonat,

ít sét, sét bột kết màu xám sáng đến xám sẫm chứa ít cacbonat, ít vụn thực vật vàthan (GK 103T-H-1X) có ít lớp đá cacbonat mỏng (GK103T-H-1X) Bề dày chungcủa hệ tầng thay đổi từ 1.500 đến 2.000m Điều đáng chú ý là sét kết của hệ tầngthường có hàm lượng vật chất hữu cơ bằng 0,86% Wt, đạt tiêu chuẩn của đá mẹsinh dầu và thực tế đã có phát hiện dầu và condensat trong hệ tầng Phủ Cừ ở Miề nvõng Hà Nội

Tuổi Mioxen giữa của các phức hệ hoá thạch được xác định theo Florchuetziatrilobata với Fl Semilobata và theo Globorotalia, theo Obulina universa

Hệ tầng Phù Cừ nằm chỉnh hợp trên hệ tầng Phong Châu (Miocene hạ), hìnhthành trong môi trường đồng bằng châu thổ, thềm có xen các pha biên chuyển sangchâu thổ ngập nước -tiền châu thổ, theo hướng tăng dần ra vịnh Bắc Bộ

Bất chỉnh hợp khu vực U200 là ranh giới giữa Mioxen giữa và Mioxen trên

Hệ tầng Tiên Hưng được V.K.Golovenok, Lê Văn Chân đặt theo tên địa phươngTiên Hưng-Thái Bình, nơi mặt cắt chuẩn của hệ tầng được thiết lập từ 250m đến1.101m ở GK 04 Hệ tầng bao gồm các trầm tích có tính phân nhịp rõ ràng với cácnhịp đầu bằng sạn kết, cát kết chuyển dần lên bột kết, sét kết, sét than và nhiều vỉathan lignit, với bề dày phần thô thường lớn hơn phần mịn Cát kết, sạn kết thườnggắn kết hoặc chưa gắn kết, chứa nhiều grant, các hạt có độ lựa chọn và mài mònkém Trong phần dưới của hệ tầng, các lớp thường bị nén chặt hơn và gặp cát kết

Trang 18

xám trắng chứa hạch siderite, xi măng cacbonat Bề dày của hệ tầng trong giếngkhoan này là 760m.

Việc xác định ranh giới giữa hệ tầng Tiên Hưng và hệ tầng Phù Cừ nằm dướithường gặp nhiều khó khăn do có sự thay đổi tướng đá Phan Huy Quynh, Đỗ Bạt(1985) đã phát hiện ở phần dưới của hệ tầng một tập cát kết rất rắn chắc màu xám,chứa các vết in lá thực vật phân bố tương đối rộng trong các giếng khoan ở MiềnVõng Hà Nội và coi đây là dấu hiệu chuyển giai đoạn trầm tích lục địa Sau hệ tầngPhù Cừ và đáy của tập cát kết này có thể coi là ranh giới dưới của hệ tầng TiênHưng Hệ tầng Tiên Hưng có mặt hầu hết trong tất cả các giếng khoan ở MiềnVõng Hà Nội và ngoài khơi vịnh Bắc Bộ với thành phần chủ yếu là cát kết, ở phầntrên là cát kết hạt thô và sạn vôi kết, bột kết, xen kẽ các vỉa than lignit Mức độchứa than giảm rõ rệt do trầm tích châu thổ ngập nước, với tính biển tăng theohướng tiến xa vịnh Bắc Bộ Các lớp cát phân lớp dày đến dạng khối, màu xámnhạt, mờ đục hoặc xám xanh, hạt nhỏ đến thô, độ chọn lọc trung bình đến kém,chứa hoá thạch động vật và vụn than, gắn kết trung bình đến kém bằng xi măngcacbonat và sét Sét bột kết màu xám lục nhạt, xám sang có chỗ xám nâu, xám đen(GK 104, 102-HD-1X) chứa vụn than và các hoá thạch, đôi chỗ có glauconit, pyrite( GK 100, 103 T-H-1X) Bề dày của hệ tầng thay đổi trong khoảng 760 tới 3.000m.Hoá thạch tìm thấy trong hệ tầng Tiên Hưng gồm các vết in là cổ thực vật,bào tử phấn hoa, trùng lỗ và Nannoplankton, đặc biệt có một phức hệ đặc trưnggồm Quercus lobbii, Ziziphus được tìm thấy trong một lớp cát kết hạt vừa, dàykhoảng 10m Lớp này gặp phần lớn trong các giếng khoan ở Miền Võng Hà Nội.Lớp cát kết này còn thấy ở nhiều nơi ở miền Bắc như Tầm Chà (Nà Dương, LạngSơn), Bạch Long Vĩ, Trịnh Quân (Phú Thọ) Tuổi Mioxen trên của hệ tầng đượcxác định theo phức hệ bào tử phấn Dacrydiumllex, Quercus, Florschuetziatrilobata, Arcostichum, Stenochlaena, cũng như phức hệ trùng lỗ Pscudorotalia-Ammonia Môi trường trầm tích của hệ tầng Tiên Hưng chủ yếu là châu thổ, xennhững pha biển ven bờ (trũng Đông Quan) và châu th ổ ngập nước phát triển theohướng đi ra vịnh Bắc Bộ

Trang 19

Hệ tầng Vĩnh Bảo được phát hiện trong tất cả các giếng khoan từ GK 03(ven biển) tiến vào đất liền tính lục địa của trầm tích tăng lên, và hệ tầng mang đặctrưng châu thổ chứa than (GK 02, Phù Cừ) Ngược lại, tiến ra xa biển trầm tíchmang tính thềm lục địa rất rõ; cát bở rời xám sáng đến hạt sẫm, hạt thô đến hạt vừa,đôi khi thô đến rất thô, độ chọn lọc trung bình đến tốt xen với xét màu xám, xámxanh, chứa mica, nhiều pyrite, glauconit và phong phú các mảnh vỏ động vật biển,thấy tất cả ở các giếng khoan (GK 04-GN-1X, GK 103-H-1X, GK 107T-PA-1X).

Hệ tầng Vĩnh Bảo có chiều dày từ 200-500m tăng dần ra biển

Hệ tầng Vĩnh Bảo chủ yếu thành tạo trong môi trường thềm biển

* Hệ tầng Hải Dương, Kiến Xương:

Các trầm tích Đệ Tứ ít được nghiên cứu trong địa chất dầu khí Trầm tích

Đệ tứ phủ bất chỉnh hợp trên trầm tích Plioxen (U100) bao gồm cuội, sạn, cát bởrời (hệ tầng Kiến Xương) chuyển lên là cát, bột, sét và một số nơi có than bùn (hệtầng Hải Dương)

Môi trường trầm tích chủ yếu là biển nông đến biển sâu

Thứ tự và thành phần trầm tích, các mặt ranh giới địa tầng ứng với cácmặt phản xạ địa chấn đều được thể hiện trên mô hình địa chất lô (Hình 3.1)

Hình 3.1: Mô hình địa chất lô 103

Trang 20

Hình 3.2: Cột địa tầng tổng hợp lô 103 bể Sông Hồng

Trang 21

3.2 Đặc điểm cấu kiến tạo:

3.2.1 Đặc điể m cấu trúc:

Lô 103 nằm trên diện tích thuộc hai đơn vị cấu trúc chính của bể Sông Hồng

là đới nghịch đảo Mioxen và thềm Thanh Nghệ

3.2.1.2 Đới nghịch đảo Mioxen:

Đới này nằm kẹp giữa đứt gãy Sông C hảy ở Tây Nam và đứt gãy S ông VĩnhNinh ở phía Đông Bắc, kéo dài từ đất liền ra biển đến các lô 102,103,107 Nguồngốc của nghịch đảo kiến tạo là do chuyển dịch trượt bằng phải của hệ thống đứt gãySông Hồng vào thời kì cuối Mioxen Vì vậy mặt cắt trầm tích Mioxen bị nén ép,nâng lên, bị bào mòn cắt xén mạnh, mất trầm tích từ vài trăm có thể đến hàngnghìn mét, thời gian thiếu vắng trầm tích từ một đến vài triệu năm

Cấu trúc nghịch đảo Mioxen thể hiện rõ 2 đới cấu trúc bậc cao là đới nângTiền Hải và đới nâng Kiến Xương

Đới nâng Tiền Hải phát triển từ đất liền ra biển tới lô 102, Đông Bắc lô 103,Tây lô 107 Tham gia vào cấu trúc của đới nâng có trầm tích Oligoxen và Mioxen.Đặc điểm của đới nâng uốn nếp nghịch đảo này phát triển nhiều cấu tạo nâng là đốitượng cho tìm kiếm và thăm dò dầu khí Ở đây đã có nhiều giếng khoan trên cáccấu tạo như 102-CQ-1X, 102-HD-1X, 103T-G-1X, 103T-H-1X, cấu tạo BạchLong, Hoàng Long, Hồng Long

Đới nâng nghịch đảo Kiến Xương phát triển giữa đứt gãy Thái Bình và đứtgãy Kiến Xương Tham gia vào cấu trúc nay bao gồm các thành tạo Oligoxen vàMioxen Ở đây phát triển các cấu trúc nâng thuận lợi cho tìm kiếm dầu khí Đớinâng này bị phân cắt với đới nâng Tiền Hải bởi nếp lõm Thượng Ngãi ở phía Bắc

và phía Nam là nếp lõm lớn Kiến Giang

Tuy là một đối tượng t ìm kiếm thăm dò dầu khí hết sức quan trọng nhưng docác cấu tạo được hình thành muộn hơn pha tạo dầu chính và lại bị bào mòn cắt xénquá mạnh nên khả năng tích tụ dầu khí bị hạn chế Vì thế đây có thể xem là rủi rothứ nhất của các bẫy dầu khí loại này Rủ i ro thứ hai liên quan đến chất lượngchứa, vì trước đó trầm tích Mioxen đã nằm rất sâu trong địa hào (cổ) nên đất đá đãtừng bị nén ép chặt bởi áp suất tĩnh, cho dù sau khi bị nghịch đảo, mặt cắt đượcnâng lên nhưng đất đá này vẫn giữ độ rỗng nguyên sinh thấp có từ trước, rồi lạichịu thêm các biến đổi thứ sinh nên độ rỗng lại càng kém Phương hướng tìm kiếmthăm dò cho các cấu tạo loại này là chọn các cấu tạo bình ổn về mặt kiến tạo, ít bịbào mòn và có thời gian bào mòn ngắn nhất trong Mioxen

Trang 22

3.2.1.3 Thềm đơn nghiêng Thanh - Nghệ:

Thềm đơn nghiêng Thanh – Nghệ là phần nhô cao của móng trước Kainozoi.Móng trước Kainozoi không chỉ là các phức hệ biến chất kết tinh Proterozoi vàphổ biến hơn còn là các thành tạo cacbonat, cacbonat – sét và lục nguyên Mesozoi.Các thành tạo gneis Proterozoi và cacbonat Mesozoi chiếm vị trí nhô cao của mặtmóng, còn các trầm tích lục nguyên và sét – vôi Mesozoi thường nằm trong lõmsâu mà trên đó các trầm tích Kainozoi có thể dày tới 2000 m

Trong phạm vi thềm có một vài cấu tạo dạng vùi lấp như Quả Vải, Quả Lê (lô104) với lớp phủ trầm tích mỏng (500 – 1000 m) có tuổi từ Mioxen đến hiện đại.Dưới chân thềm có bẫy địa tầng dạng kề áp lên móng như Quả Chuối (lô 104)nhưng với tiềm năng không lớn do đá chứa có độ rỗng nhỏ Đối tượng đáng quantâm hơn là các bẫy địa tầng cát kết có tuổi Oligoxen – Mioxen sớm

3.3 Hệ thống đứt gãy:

Khu vực nghiên cứu nằm trong thềm Thanh Nghệ có tồn tại hai loại đứt gãychính:

+ Hệ thống đứt gãy khu vực nằm theo hướng TB-ĐN là những đứt gãy lớn

có liên quan đến sự thành tạo và gắn liền với lịch sử phát triển của bể, tiền thânchúng là những đứt gãy thuận và sau trở thành nghịch trong các pha nghịch đảokiến tạo Mioxen Chúng có biên độ dich chuyển ngang và thẳng đứng lớn

+ Hệ thống đứt gãy địa phương: chúng tạo với hệ thống đứt gãy khu vực góc

đứt gãy thuận biên độ dịch chuyển nhỏ

Ngoài những đứt gãy khu vực tại lô nghiên cứu đã phát h iện một loạt cácđứt gãy với qui mô khác nhau cả về chiều dài và biên độ, bao gồm các đứt gãythuận và nghịch, phát triển chủ yếu theo hướng Tây Bắc – Đông Nam Chúng đượchình thành trong cơ chế nén ép Tại các khu vực lân cận gần lô 103 xuất hiện các

hệ thống đứt gãy sau:

3.3.1 Hệ thống đứt gãy nằm theo hướng Tây Bắc – Đông Nam:

Phát triển ở khu vực Tây - Tây Bắc bao gồm các đứt gãy khu vực và địaphương gồm cả đứt gãy thuận và nghịch Đứt gãy thuận là đứt gãy cổ hình thànhtrước Kainozoi, móng bị dập vỡ làm xuất hiện hàng loạt các đứt gãy trong đó cóthể kể như đứt gãy Sông Hồng, Sông Lô và đứt gãy Sông Chảy, đứt gãy HưngYên Sau này vào pha hình thành và phát triển bể trầm tích Sông Hồng, các đứtgãy như đứt gãy Sông Chảy, đứt gãy Sông Lô lại tái ho ạt động trong trường ứngxuất tách giãn, cường độ hoạt động của chúng rất mạnh có chiều dài và biên độ

Trang 23

dịch chuyển lớn Đứt gãy chờm nghịch được hình thành và phát triển chủ yếu trongpha nén ép Mioxen giữa Hàng loạt đứt gãy được sinh thành nhưng đáng lưu ý nhất

là đứt gãy Vĩnh Ninh và Kiến Xương Hệ thống đứt gãy này bao gồm cả đứt gãykhu vực và địa phương

* Hệ thống đứt gãy khu vực: Là những đứt gãy lớn liên quan đến sự thành tạo

và gắn liền với lịch sử phát triển của bể trầm tích

- Đứt gãy Sông Hồng: Đứt gãy Sông Hồng là hệ đứt gãy sâu hình thành rấtsớm (có thể Proterozoi ? – Paleozoi ?) và tái hoạt động nhiều lần, đặc biệt trongKainozoi Hệ đứt gãy này dài khoảng 350km, chiều sâu có thể đạt tới mặt môhô,hướng cắm gần như thẳng đứng, có biên độ dịc h chuyển thay đổi từ 1000 đếnvài ba nghìn mét

- Đứt gãy Sông Chảy: Đứt gãy này bắt đầu từ Trung Quốc qua biên giới Việt

- Trung theo thung lũng Sông Chảy đến Việt Trì vào đồng bằng châu thổ SôngHồng rồi đổ ra biển Đây là hệ đứt gãy dài khoảng 800km có thể sâu tới mặt Mô-

hô, biên độ dịch chuyển trong thời kỳ Kainozoi đạt từ 1000m đến 2000m và cóhướng cắm về phía Đông Bắc

- Đứt gãy Sông Lô: Đứt gãy Sông Lô dài khoảng 600km phát triển từ biêngiới Việt - Trung kéo xuống dọc theo thung lũng Sông Lô, men theo rìa Tây Namcủa dãy núi Tam Đảo ra đến phía Tây Bắc của lô 107 và nhập vào đứt gãy VĩnhNinh Đây là đứt gãy đồng trầm tích có hướng cắm về phía Tây Nam, nằm ở khuvực đồng bằng thuộc khu vực Sông Hồng bao gồm nhiều đứt gãy bậc thang biên độdịch chuyển tới 2000m

- Đứt gãy Vĩnh Ninh: Đứt gãy Vĩnh Ninh kéo dài từ Bắc Thành phố Việt Trìđến Tây Bắc lô 107 sau đó nhập với hệ đứt gãy Sông Lô tạo nên địa hào trung tâmcủa phần phía Tây Bắc bể Sông Hồng Pha uốn nếp chính vào Mioxen trên tạo nênhang loạt các cấu tạo lồi trong phạm vi của địa hào này Chúng được xem là đốitượng tìm kiếm thăm dò khí chính

* Hệ thống đứt gãy địa phương: Chúng tạo với hệ thống đứt gãy khu vực gócgần 30 độ, là những đứt gãy địa phương hình thành muộn và hầu hết là những đứtgãy thuận biên độ dịch chuyển nhỏ như: đứt gãy Thái Bình, Kiến Xương, TiênLãng, Hưng Yên, Ninh Bình

Hệ thống đứt gãy khu vực nằm theo hướng Đông Bắc -Tây Nam:

Hệ thống đứt gãy này chủ yếu là các đứt gãy nghịch hình thành vào thời kỳKainozoi, biên độ dịch chuyển nhỏ Chúng phân bố chủ yếu ở ngoài khu khơi vịnhBắc Bộ, gần khu vực đảo Bạch Long Vĩ

* Vai trò của các hệ thống đứt gãy đối với các tích tụ dầu khí

Trang 24

Hầu hết các cấu tạo vòm, bán vòm trong phần phía Bắc bể trầm tích SôngHồng đều nằm kề cận với các đứt gãy (đặc biệt là khu vực ngoài khơi vịnh BắcBộ) Do đó các đứt gãy này đóng vai trò rất quan trọng với sự phá hủy, bảo tồn cáctích tụ dầu khí Trong đó các hệ thống đứt gãy phát triển theo hướng Tây Bắc -ĐôngNam nằm trong vùng trũng trung tâm thườn g đóng vai trò là các màn chắn kiến tạorất tốt, ngoài ra vào các thời kỳ hoạt động kiến tạo có thể chúng còn đóng vai trò làcác đường dẫn dầu và khí di chuyển từ những tầng sinh thấp hơn lên các bẫy chứa.Còn vùng rìa Đông Bắc và đới nghịch đảo Bạch Long Vĩ, đóng vai trò là các mànchắn thì hệ thống đứt gãy phát triển theo hướng Đông Bắc -Tây Nam là chủ đạo.

Hình 3.2: Bản đồ kiến tạo lô 103 và vùng lân cận

Trang 25

Trong quá trình tạo rift này, ngoài địa hào chính ở vùng trung tâm của

bể trầm tích thì ở các vùng rìa phía bắc (lô 102, 103, 106, 107) hình thành các địahào hẹp Chúng được treo trên hệ thống đứt gãy Sông Hồng xen giữa các địa lũynằm theo hướng TB-ĐN Các địa hào nguyên thủy này được lấp đầy rất nhanhbằng các trầm tích hạt vụn do bào mòn và được mang từ những nơi khác đến.Quá trình tách giãn, sụt lún và lấp đầy này xảy ra liên tục cho tới cuốiOligoxen đầu Mioxen, biên độ của các địa hào tăng đáng kể và một khối lượng lớntrầm tích được lắng đọng trong đó Sau đó xuất hiện nén ép ngang do sự dịchchuyển về phía ĐN của mảng Indochina-Sunda, sự dịch chuyển này đã tạo nên hai

hệ thống đứt gãy dịch ngang trái khu vực đó là hệ thống đứt gãy Sông Hồng ở phíaBắc và Mae Ping ở phía Nam Trong thời kỳ hoạt động kiến tạo tích cực này ở khuvực nghiên cứu (khu vực phía Bắc bể Trầm tích Sông Hồng nói chung) tồn tại 3miền kiến tạo:

Khu vực ở phía Tây đứt gãy Sông Lô (trũng Neogen): ở đây cơ chế kiến tạochính vẫn là tách dãn và sụt lún (hoặc do trầm tích bị nâng lên nhưng không vượtqua mặt cơ sở), điều đó nó cho phép hệ thống Sông Hồng tiếp tục vận chuyển mộtkhối lượng lớn vật chất hạt vụn về phía ĐN, chúng đã được trầm tích và tạo thànhmột châu thổ rộng lớn suốt thời kỳ Mioxen dưới, giữa (châu thổ Sông Hồng)

1 Phía Bắc-Đông Bắc đứt gãy Sông Lô (khu vực trũng Paleogen) xuất hiệnnén ép ngang tạo tiền đề cho chuyển động nghịch đảo của trầm tích synrift Kếtquả là ở nhiều khu vực các trầm tíc h bị đẩy lên nhiều trăm mét và bị bào mòn, cắtxén một phần

2 Phía Nam vùng công tác nằm trong chế độ sụt lún nhiệt của trung tâm bểSông Hồng, khu vực này nhìn chung ít bị ảnh hưởng bởi pha hoạt động kiến tạocuối Oligoxen đầu Mioxen, bằng chứng là đứt gãy sông Lô suy yếu dần và có thểkhông tồn tại trong trầm tích Oligoxen trên-Mioxen ở vùng lõm nhất của mặt cắttrầm tích trước khi thấy lại ở ven bờ đảo H ải Nam

Sau pha hoạt động kiến tạo tích cực trên, trong thời ký cuối Mioxen hạ, dịchngang trái giảm cường độ và sau đó chuyển dấn sang dịch ngang phải ở đứt gãysông Hồng do mảng Nam Trung Hoa dịch chuyển về phía Đông trong khi đó mảngIndochina-Sunda bị tác động chủ yếu do lực xoay Do bị ảnh hưởng của các quátrình này mà bể trầm tích Sông Hồng chỉ bị tách giãn nhẹ dẫn đến sự sụt lún củađáy bể trầm tích Không gian trầm tích được thành tạo trong quá trình này được lấpđầy rất nhanh bằng các trầm tích lục nguyên và cacbonat

Đến cuối Mioxen trung dịch ngang phải trên cơ sở hệ thống đứt gãy sôngHồng và M.Ping đạt tới cường độ lớn, trầm tích nằm trong khu vực giữa đứt gãy

Trang 26

Sông Lô và Sông chảy (khu vực trũng Neogen) bị ảnh hưởng rất mạnh Thay vì bịtách dãn kéo theo sự sụt lún ở những pha kiến tạo trước thì giờ đây trầm tích Đệtam bị uốn nếp mạnh, các đứt gãy trong hệ thống mở bể và đứt gãy mới thành tạo(nằm theo hướng TB-ĐN) chuyển từ cơ chế thuận sang nghịch với biên độ lớn(như đứt gãy Vĩnh Linh ở vùng Tiền Hải và đứt gãy Sông Lô ở vùng thềm lục địa)cũng do nghịch đảo kiến tạo, một khối lượng lớn trầm tích nằm trong các nếp lồi bịnâng lên khỏi mặt cơ sở sau đó bị bào mòn rất mạnh.

Thời kỳ cuối Mioxen giữa, đầu Mioxen trên cho tới cuối Mioxen trên-đầuPlioxen, trong điều kiện nghịch đảo nhẹ, hiện tượng bào mòn và lắng đọng tiếp tụcxảy ra trên những phạm vi hẹp và vào cuối giai đoạn này cường độ nghịch đảokiến tạo tăng trở lại đến đỉnh điểm kết quả là biên độ uốn nếp tăng lên, trầm tíchtiếp tục vượt khỏi mặt cơ sở cùng với sự phức tạp hóa của cấu trúc Tiếp sau đómột khối lượng rất lớn trầm tích Mioxen giữa-trên tiếp tục bị bào mòn

Thời kỳ từ đầu Plioxen đến hiện tại toàn bộ bể trầm tích đơn giản chỉ chịu

sự sụt lún nhiệt, trầm tích trẻ được lắng đọng trên cơ sở của bề mặt lõm dần từ cácvùng rìa vào trung tâm

Nhìn chung hai pha kiến tạo nghịch đảo trong Mioxen ít ảnh hưởng đến trầmtích nằm trong vùng trũng Paleogen vì có thể các lực nén ép ngang đã bị triệt tiêu ởđứt gãy Vĩnh Linh và sông Lô trong việc tạo lên sự chờm nghịch với biên độ lớn,ngoại trừ các trầm tích nằm trong địa hào ngay bên dưới đường bản lề của thềmHải Phòng Ở vùng này, sau pha nghịch đảo kiến tạo trong Mioxen giữa, xảy rahiện tượng bào mòn rất mạnh, hầu như toàn bộ trầm tích Mioxen giữa và dưới (nếucó) bị cắt gọt với độ dày từ 300-400m và chiều rộng từ 3-5km trong khi đó mộtkhu vực bị sụt lún và đây cũng là nơi duy nhất ở trong trũng Paleogen bị nghịchđảo kiến tạo vào thời ỳ cuối Miocen

Hai pha nghịch đảo kiến tạo Mioxen này cũng ít ảnh hưởng đến vùng trungtâm bể vì khu vực này có thể đã nằm ngoài tầm khống chế của các lực chuyển

động ngược hướng của nền Nam Trung Hoa và nền Indochina.

Trang 27

PHẦN II TIỀM NĂNG DẦU KHÍ LÔ 103 THUỘC BỂ SÔNG HỒNG

Trang 28

CHƯƠNG IV: HỆ THỐNG DẦU KHÍ 4.1 Biểu hiện dầu khí

Lô 103 đã có 5 giếng khoan TKTD nhằm vào các đối tượng cát kết Mioxen

và Oligoxen:

+ Giếng 103-TH-1X và 103-TG-1X do Total khoan, giếng đầu tiên thử vỉa ở 4khoảng với 3 khoảng cho dòng khí công nghiệp đạt tổng lưu lượng 5.87 triệu feet

2 không thử vỉa do nhà thầu không quan tâm đến khí

+ Giếng 103-HOL-1X do PVN khoan năm 2001 thử vỉa cho dòng khí yếu+ Giếng 103-HAL-1X và 103-DL-1X do PVEP Bạch Đằng điều hành khoanthử vỉa có phát hiện khí

4.2 Đá sinh.

4.2.1.Đị nh nghĩa

Đá sinh dầu khí là đá trầm tích mà chủ yếu là đá trầm tích hạt mịn giàu vậtchất hữu cơ, có khả năng chuyển hóa thành Hidrocacbua và đã đủ độ trưởng thành.Những loại đá có thể là đá sinh dầu khí phần lớn là đá sét, đá Cacbonate đôi khi là

đá Silicate

4.2.2 Đặc điể m

Trên cơ sở đánh giá tầng sinh của các giếng khoan trong lô 103 như 1X, 103-HAL-1X, 103-BAL-1X, 103-TG-1X thì khu vực lô 103 tồn tại hai tầngsinh chính tuổi Oligoxen và Mioxen dưới -Mioxen giữa

Để đánh giá tiềm năng sinh thì người ta chủ yếu dựa vào bảng phân loại sau:

``Bảng 4.1: Đánh giá tiềm năng sinh

Trang 29

Đá sinh tuổi Oligoxen chủ yếu là các tập sét đầm hồ, giầu vật chất hữu cơ(TOC = 1,46 – 2,04%), kerogen loại II và III, phát triển ở trũng phía Tây – TâyNam của lô 103 Đá mẹ đã trải qua tất cả các pha tạo sản phẩm, sinh dầu từ 30triệu năm trước, sinh khí và condensat cách đây khoảng 20 triệu năm Hiện tại đá

mẹ Oligoxen đang trong pha tạo khí

Đá mẹ Mioxen dưới thành phần là sét chứa than, sét kết có nguồn gốc venbiển và biển, vật chất hữu cơ nghèo – trung bình (TOC= 0,8 – 1%) với kerogenloại III là chủ yếu (hình 4.1 và hình 4.2) Đá mẹ đang trong ngưỡng trưởng thànhđến trưởng thành sớm và có khả năng ch o sản phẩm (hình 4.3)

Trầm tích Mioxen trên và Plioxen chưa đạt ngưỡng trưởng thành nên không

có nhiều ý nghĩa trong việc xác định tiềm năng sinh dầu khí của khu vực nghiêncứu

Hình 4.1: Biểu đồ phân loại Kerogen trầm tích Mioxen dưới (giếng 103-TG-1X)

Trang 30

Hình 4.2: Biểu đồ phân loại Kerogen trầm tích Mioxen (giếng

103-HAL-1X và 103-TH-103-HAL-1X)

Hình 4.3: Tiềm năng sinh HC của các giếng khoan 103-HAL-1X, 103-BAL-1X,

103-TH-1X

0 100 200 300 400 500 600 700 800

Oligocene- 15.1-SD-2XST

Lo Miocene

Lacustrine trend

High land plant

migrated HC

107-BAL-1X

103-HAL-1X 15.1-SD-2XST

103-TH-1X

0 150 300 450 600 750 900

Middle Miocene 103-HAL-1X

Middle Miocne 103-TH-1X

Lower Miocene 103-TH-1X 103-HAL-1X

103-TH-1X

Trang 31

- Môi trường lắng đọng và phân hủy vật chất hữu cơ

Vật chất hữu cơ trong trầm tích Oligoxen và Mioxen dưới được lắng đọngchủ yếu trong môi trường đầm hồ, ven biển Có nơi trầm tích chủ yếu được lắngđọng trong môi trường lục địa (GK 103 -HAL-1X) Quá trình phân hủy vật chấthữu cơ chủ yếu xảy ra trong môi trường oxy hóa và oxy hóa khử

từ 0,5% đến 2% cho thấy đá mẹ đang trong giai đoạn trưởng t hành - trưởng thànhsớm và hiện tại đá mẹ Mioxen dưới đang trong pha tạo dầu mạnh nhất (Hình 4.4;Hình 4.5)

Đá mẹ có tuổi Oligoxen đã trải qua tất cả các pha tạo sản phẩm và hiện tạiđang trong pha tạo khí (sinh khí khô là chủ yếu) (Hình 4.6)

Hình 4.4: Bản đồ thể hiện mức độ trưởng thành của đá mẹ nóc Mioxen dưới lô

103- 107

Trang 32

Hình 4.5: Bản đồ thể hiện mức độ trưởng thành của đá mẹ nóc Mioxen giữa lô 103

-107 Diện tích màu vàng: trưởng thành sớm Diện tích màu xanh lá cây: cửa sổ tạo dầu Diện tích màu xanh nước biển: tạo condensat Diện tích màu hồng: tạo khí

khô.

Hình 4.6: Bản đồ thể hiện mức độ trưởng thành của đá mẹ nóc Oligoxen lô 103

-107 Diện tích màu vàng: trưởng thành sớm Diện tích màu xanh lá cây: cửa sổ tạo dầu Diện tích màu xanh nước biển: tạo condensat Diện tích màu hồng: tạo khí khô.

Trang 33

4.3.Đá chứa

4.3.1 Định nghĩa

Trong đá có chứa các khe hổng tạo nên độ rỗng của đá và các khe hổng đó cóthể được lấp đầy bởi các chất lưu ( dầu, khí, nước), khi đó nó được gọi là đá chứadầu khí

Đá Collector là đá có khả năng chứa chất lưu và đồng thời nhả chất lưu khi tatiến hành khai thác Nếu các khe hổng không liên thông với nhau thì chất lưu chứatrong đó sẽ không được nhả ra khi khai thác

4.3.2 Đặc điểm

Dựa vào các giếng khoan trong khu vực nghiên cứu (lô 103) thì đá chứa dầu khí lô

103 gồm các tầng cát kết có tuổi Oligoxen và Mioxen Đá chứa Oligoxen là cát kết hạtmịn với xi măng cacbonat, chiều dày dao động từ 5 -20 m nhưng có độ rỗng thấp nênkhông được coi là một tầng chứa tốt Vỉa chứa tuổi Mioxen có độ dày từ vài mét đếnvài chục mét, nằm trong các lớp bột kết, cát kết với độ rỗng thay đổi-giảm theo độ sâuchôn vùi, độ rỗng trung bình là 7 -18% và độ thấm dao dộng từ 1- 10 mD

VD: Tại các giếng khoan 103-HOL-1X, 103-TG-1X thì độ rỗng tại tầng cátkết Mioxen giữa dao động trong khoảng 2.7%- 20% (Hình 4.7)

Hình 4.7: Biểu đồ quan hệ độ rỗng theo độ sâu của các giếng khoan 103-TG-1X,

103-HOL-1X

Trang 34

Hình 4.8: Biểu đồ quan hệ độ rỗng theo chiều sâu giếng khoan 103-TH-1X

4.4 Đá chắn

4.4.1 Định nghĩa

Đá chắn là đá kém thấm hoặc không thấm đối với chất lưu và bao phủ lên đáchứa tạo nên yếu tố khép kín Để xác định xem đá có phải là đá chắn hay không,thì có 2 yếu tố quyết định:

- Khả năng chắn: phụ thuộc vào độ dày, độ sâu, thành phần khoáng vật,thành phần thạch học, độ đồng nhất, độ phân lớp, độ lấp đầy xi măng…

- Diện tích phân bố: ít nhất nó phải bao trùm được 1 cấu tạo

4.4.2 Đặc điểm

Trên cơ sở xem xét qui mô phân bố, hàm lượng sét, kích thước hạt, …, từ tàiliệu giếng khoan kết hợp với phân tích tướng địa chấn cho thấy: Trong trầm tíchMioxen giữa, các tập sét than hoặc sét bột, đá vôi nằm xen kẽ với các tập cát kết cókhả năng chứa Chúng có chiều dày từ 5 – 75 m, với thành phần chủ yếu là illite

Trang 35

(40 – 50%), kaolinite (25 – 40%), chlorite (5 – 15%), còn lại là hạt vụn thạch anhhoặc canxit Các tập sét trên của trầm tích Mioxen giữa đóng vai trò là tầng chắnkhu vực tốt, đồng thời đây cũng là tầng chắn địa phương cho các lớp cát kết chứasản phẩm trong Mioxen giữa ở các giếng 103 -TH-1X, 103-HOL-1X, 107-BAL-1X.

Ngoài ra, trong trầm tích Oligoxen cũng tồn tại các tầng sét, bột kết, các lớp

đá vôi mỏng đây cũng là các tầng chắn mang tính chất địa phương cho các cấu tạotrong Oligoxen với chất lượng chắn thay đổi

4.5 Bẫy chứa

Trong lô 103 có tồn tại các kiểu bẫy chính sau:

- Bẫy nghịch đảo kiến tạo Oligoxen trên: thành tạo trong giai đoạn nén épcủa bể Sông Hồng liên quan đến tách giãn biển phía nam Trung Quốc trong giaiđoạn Oligoxen trên (Hình 4.9)

Hình 4.9: Bẫy nghịch đảo kiến tạo Oligoxen

Loại bẫy chứa này được đánh giá vào loại tốt nhất vì nó ở gần nhất so vớinguồn đá sinh chính trong khu vực (đá sét đầm hồ Oligoxen dưới ) Loại đá chứachính của dạng bẫy này là than và cát kết châu thổ, cát kết biển nông lắng đọng ởkhu vực gần biển Tập sét biển tiến lắng đọng trên mặt bất chỉnh hợp Oli goxen trênchính là tầng chắn đối với dạng bẫy này

Bẫy nghịchđảo kiến tạoOligoxen

Trang 36

- Bẫy nghịch đảo kiến tạo Mioxen (Hình 4.10)

Hình 4.10: Cấu tạo nghịch đảo kiến tạo trong Mioxen

Các cấu tạo hình thành trong thời kỳ Mioxen giữa - muộn như các cấu tạotrên đới nghịch đảo Mioxen, do bị nén ép mạnh, bị nâng lên quá mức nên loại nàythường bị bào mòn cắt xén mạnh thường là vài trăm mét đến hàng nghìn mét Thờigian bào mòn này có thể kéo dài từ một đến vài triệu năm Đây là những yếu tốkhông thuận lợi cho những tích tụ đón nhận dầu khí từ pha di cư chính Sự hìnhthành các cấu tạo vòm do nghịch đảo cuối Mioxen là thời gian muộn so với pha dichuyển chính của dầu khí ra khỏi đá mẹ Oligoxen Hơn nữa, nghịch đảo kiến tạocuối Mioxen còn tạo nên các đứt gãy hình h oa, mà có thể ở mức độ nào đó, đã pháhuỷ đi một lượng dầu khí đã tích tụ trước đó Nhưng nhìn chung, pha di chuyểndầu khí muộn là yếu tố thời gian thuận lợi đối với các bẫy vòm Mioxen Các sảnphẩm được di chuyển trong pha muộn có thể bắt nguồn từ các tí ch tụ có trước bịphá huỷ hay pha di cư muộn từ đá mẹ Oligoxen hay từ các đá mẹ Mioxen mớiđược trưởng thành

Phương hướng tìm kiếm thăm dò các cấu tạo kiểu nghịch đảo Mioxen làchọn các cấu tạo bình ổn về mặt kiến tạo, ít bị bào mòn và thời gian bào mòn ngắnnhất trong Mioxen (Hình 4.11 )

Trang 37

Hình 4.11: Giếng khoan 103-TH-1X (lô 103) qua cấu tạo nghịch đảo kiến tạo.

Hình 4.12: Bản đồ các cấu tạo nghịch đảo Mioxen (Hồng Long, Hoàng Long,

Bạch Long) ở lô 103-107.

Trang 38

- Bẫy vát nhọn địa tầng trong Oligoxen trên (Hình 4.13)

Hình thành do sự kết hợp của sự thăng giáng mực nước biển và hoạt độngtrượt bằng trái chuyển sang trượt bằng phải Sự giảm xuống của mực nước biểnđược biểu hiện qua hình dạng răng cưa, kênh rạch

Hình 4.13: Bẫy địa tầng trong Oligoxen

Tóm lại, từ các dạng bẫy chứa nêu trên có thể nói rằng chúng gắn liền vớithời kỳ tách dãn đầu tiên Eoxen -Oligoxen trên và các hoạt động đứt gãy, uốn nếpcũng như điều kiện trầm đọng và tích tụ trầm tích cho đến nay của bể Sông Hồng

4.6 Thời gian di cư và tạo bẫy

Đá mẹ Oligoxen đã trải qua tất cả các pha tạo sản phẩm, từ dầu đến khí ẩm,khí khô Đá mẹ Oligoxen đã đạt đến pha trưởng thành (tạo dầu) cách đây 30 triệunăm, tức là vào đầu Mioxen sớm (Hình 4.14), và thời gian di cư nguyên sinh nhấtcách đây 16,5 triệu năm vào đầu Mioxen giữa Đá mẹ Mioxen dưới sinhhydrocarbon trong suốt Mioxen trên – Plioxen

Sau khi dầu khí được sinh thành, chúng có thể di cư Quá trình dịch chuyểnnguyên sinh của cả dầu và khí ra khỏi đá mẹ có thể theo phương thẳng đứng theocác khe nứt, sau đó chuyển sang dịch chuyển thứ sinh

Việc tích tụ dầu khí phụ thuộc nhiều vào tuổi hình thành cấu tạo Trong khuvực lô 103, chủ yếu là bẫy chứa hình thành tro ng Oligoxen muộn – Mioxen Nhưvậy, nếu không bị phá hủy, các bẫy này rất thuận lợi cho việc tích tụ dầu khí, chủyếu là khí do trầm tích Oligoxen – Mioxen dưới ở độ sâu chôn vùi lớn nên vật chấthữu cơ đã quá trưởng thành (sinh khí khô là chủ yếu)

Trang 39

Hiện tại đá mẹ Mioxen dưới đang trong pha tạo dầu mạnh nhất (bắt đầu đạtđến pha trưởng thành cách đây 16 triệu năm), đá mẹ Oligoxen trên đang trong phatạo khí (Hình 4.14), tại đây quá trình di cư HC theo dọc tầng xảy ra mạnh hơn theochiều thẳng đứng Tuy nhiên, khí sinh ra từ đá mẹ Oligoxen có thể nạp kín trongbẫy, dầu sinh từ đá mẹ Mioxen ít có khả năng nạp bẫy.

Hình 4.14: Thời gian tạo dầu và khí qua tuyến 103 -017P1 lô 103

Trang 40

CHƯƠNG V: KHÁI QUÁT VỀ MỘT SỐ CẤU TẠO TRIỂN VỌNG THUỘC

LÔ 103 5.1 Cấu tạo Hồng Long

5.1.1 Vị trí cấu tạo

Cấu tạo phân bố trong phạm vi lô 103, trên phạm vi cụm cấu tạo HoàngLong, Hắc Long, Bạch Long Cấu tạo nằm trên vùng rìa ngoài của đới nghịch đảoMioxen và các cửa Ba Lạt khoảng 45km (Hình 5.1)

5.1.2 Thời gian, hình dáng và cấu trúc của cấu tạo

Cấu tạo này được hình thành do quá trình nghịch đảo trầm tích Mioxen trongpha kiến tạo nén ép Mioxen muộn Đây là một cấu tạo khép kín phụ thuộc đứt gãy,cánh phía Đông của cấu tạo bị khống chế bởi đứt gãy nghịch có biên độ chờm lớnhình vòng cung theo hướng Tây Bắc-Đông Nam Đỉnh của cấu tạo Hồng Long bịbào mòn mạnh trong quá trình nghịch đảo, sau nghịch đảo và nằm lệch về phíaĐông, áp sát với đứt gãy nghịch giới hạn, cánh đối diện với đứt gãy chìm dần vềphía Tây Bắc và phía Tây tạo thành trũng hẹp, sâu ngăn cách cấu tạo này với dảinâng Hưng Yên

Về phía Nam và Tây Nam, mức độ khép kín của cấu tạo bị ảnh hưởng bởicác đứt gãy thuận hướng Đông -Tây cắt ngang cấu tạo và đổ về phía Nam Đứt gãynày đã chia cấu tạo thành 2 khối:

+ Khối phía Bắc với đỉnh khép kín 4 chiều ở phần trên của trầm tích Mioxengiữa và khép kín vào đứt gãy nghịch giới hạn phía Đong ở những trầm tích bêndưới

+ Khối phía Nam khép kín 2 chiều vào chính đứt gãy thuận (Hình 5.2)

5.1.3 Các yếu tố sinh, chứa, chắn và hướng di chuyển nạp vào cấu tạo

Đá sinh: Chính là các tầng trầm tích hạt mịn (sét kết) có tuổi Oligoxen vàMioxen dưới

Tầng chứa: Đối tượng chứa chính của cấu tạo là các vỉa cát kết Mioxen giữa

có độ dày từ 1-20m với độ rỗng từ 9-20%, độ thấm từ 1-5mD

Tầng chắn: Bên trên các tầng chứa không có các tầng chắn khu vực mà tầngchắn của cấu tạo là các tầng sét xen kẽ có bề dày thay đổi c hỉ từ vài mét đến chụcmét, khả năng chắn của đứt gãy chưa rõ ràng vì giếng khoan còn nằm trong vị tríkhép kín 4 chiều

Ngày đăng: 14/10/2014, 11:26

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.1: Vị trí lô 103 - Nghiên cứu cấu trúc địa chất, đánh giá tiềm năng DK lô 103 bể sông Hồng. Thiết kế giếng khoan thăm dò trên cấu tạo P1C.
Hình 1.1 Vị trí lô 103 (Trang 4)
Hình 2.2: Công tác khảo sát, nghi ên cứu khu vực . 2.1.2 Giai đoạn 1988 đến nay: - Nghiên cứu cấu trúc địa chất, đánh giá tiềm năng DK lô 103 bể sông Hồng. Thiết kế giếng khoan thăm dò trên cấu tạo P1C.
Hình 2.2 Công tác khảo sát, nghi ên cứu khu vực . 2.1.2 Giai đoạn 1988 đến nay: (Trang 11)
Hình 3.1: Mô hình địa chất lô 103 - Nghiên cứu cấu trúc địa chất, đánh giá tiềm năng DK lô 103 bể sông Hồng. Thiết kế giếng khoan thăm dò trên cấu tạo P1C.
Hình 3.1 Mô hình địa chất lô 103 (Trang 19)
Hình 3.2: Cột địa tầng tổng hợp lô 103 bể Sông Hồng - Nghiên cứu cấu trúc địa chất, đánh giá tiềm năng DK lô 103 bể sông Hồng. Thiết kế giếng khoan thăm dò trên cấu tạo P1C.
Hình 3.2 Cột địa tầng tổng hợp lô 103 bể Sông Hồng (Trang 20)
Hình 3.2: Bản đồ kiến tạo lô 103 và vùng lân cận - Nghiên cứu cấu trúc địa chất, đánh giá tiềm năng DK lô 103 bể sông Hồng. Thiết kế giếng khoan thăm dò trên cấu tạo P1C.
Hình 3.2 Bản đồ kiến tạo lô 103 và vùng lân cận (Trang 24)
Hình 4.1: Biểu đồ phân loại Kerogen trầm tích Mioxen dưới (giếng 103-TG-1X) - Nghiên cứu cấu trúc địa chất, đánh giá tiềm năng DK lô 103 bể sông Hồng. Thiết kế giếng khoan thăm dò trên cấu tạo P1C.
Hình 4.1 Biểu đồ phân loại Kerogen trầm tích Mioxen dưới (giếng 103-TG-1X) (Trang 29)
Hình 4.2: Biểu đồ phân loại Kerogen trầm tích Mioxen (giếng 103-HAL- - Nghiên cứu cấu trúc địa chất, đánh giá tiềm năng DK lô 103 bể sông Hồng. Thiết kế giếng khoan thăm dò trên cấu tạo P1C.
Hình 4.2 Biểu đồ phân loại Kerogen trầm tích Mioxen (giếng 103-HAL- (Trang 30)
Hình 4.3: Tiềm năng sinh HC của các giếng khoan 103-HAL-1X, 103-BAL-1X, - Nghiên cứu cấu trúc địa chất, đánh giá tiềm năng DK lô 103 bể sông Hồng. Thiết kế giếng khoan thăm dò trên cấu tạo P1C.
Hình 4.3 Tiềm năng sinh HC của các giếng khoan 103-HAL-1X, 103-BAL-1X, (Trang 30)
Hình 4.7: Biểu đồ quan hệ độ rỗng theo độ sâu của các giếng khoan 103-TG-1X, - Nghiên cứu cấu trúc địa chất, đánh giá tiềm năng DK lô 103 bể sông Hồng. Thiết kế giếng khoan thăm dò trên cấu tạo P1C.
Hình 4.7 Biểu đồ quan hệ độ rỗng theo độ sâu của các giếng khoan 103-TG-1X, (Trang 33)
Hình 4.8: Bi ểu đồ quan hệ độ rỗng theo chiều sâu giếng khoan 103-TH-1X - Nghiên cứu cấu trúc địa chất, đánh giá tiềm năng DK lô 103 bể sông Hồng. Thiết kế giếng khoan thăm dò trên cấu tạo P1C.
Hình 4.8 Bi ểu đồ quan hệ độ rỗng theo chiều sâu giếng khoan 103-TH-1X (Trang 34)
Hình 4.9: Bẫy nghịch đảo kiến tạo Oligoxen - Nghiên cứu cấu trúc địa chất, đánh giá tiềm năng DK lô 103 bể sông Hồng. Thiết kế giếng khoan thăm dò trên cấu tạo P1C.
Hình 4.9 Bẫy nghịch đảo kiến tạo Oligoxen (Trang 35)
Hình 4.10: Cấu tạo nghịch đảo kiến tạo trong Mioxen - Nghiên cứu cấu trúc địa chất, đánh giá tiềm năng DK lô 103 bể sông Hồng. Thiết kế giếng khoan thăm dò trên cấu tạo P1C.
Hình 4.10 Cấu tạo nghịch đảo kiến tạo trong Mioxen (Trang 36)
Hình 4.11: Giếng khoan 103-TH-1X (lô 103) qua cấu tạo nghịch đảo kiến tạo . - Nghiên cứu cấu trúc địa chất, đánh giá tiềm năng DK lô 103 bể sông Hồng. Thiết kế giếng khoan thăm dò trên cấu tạo P1C.
Hình 4.11 Giếng khoan 103-TH-1X (lô 103) qua cấu tạo nghịch đảo kiến tạo (Trang 37)
Hình 4.12: Bản đồ các cấu tạo nghịch đảo Mioxen (Hồng Long, Hoàng Long, - Nghiên cứu cấu trúc địa chất, đánh giá tiềm năng DK lô 103 bể sông Hồng. Thiết kế giếng khoan thăm dò trên cấu tạo P1C.
Hình 4.12 Bản đồ các cấu tạo nghịch đảo Mioxen (Hồng Long, Hoàng Long, (Trang 37)
Hình 5.1: Vị trí các cấu tạo Hồng Long, Hoàng Long, Hắc Long lô 103 - Nghiên cứu cấu trúc địa chất, đánh giá tiềm năng DK lô 103 bể sông Hồng. Thiết kế giếng khoan thăm dò trên cấu tạo P1C.
Hình 5.1 Vị trí các cấu tạo Hồng Long, Hoàng Long, Hắc Long lô 103 (Trang 42)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w