1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Xác định thành phần nước khai thác của dầu từ đá móng phần Tây Nam mỏ X

71 365 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 71
Dung lượng 1,86 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Là một trong những mỏ dầu khí lớn của Việt Nam, mỏ X nằm ở phần Bắc – Đông Bắc bể Cửu Long. Mỏ X được Deminex tiến hành nghiên cứu vào năm 1979 thông qua giếng khoan 1511X, kết quả thu được là phát hiện dầu với lưu lượng không đáng kể trong trầm tích vụn Miocen và Oligocen. Đến năm 1999 nhà điều hành Cửu Long JOC bắt đầu tiến hành thăm dò địa chấn. Sau quá trình thăm dò địa chấn kéo dài 7 năm, Cửu Long JOC đã khoan giếng khoan đầu tiên 151X1X thuộc phần Tây Nam cấu tạo X. Kết quả thử vỉa thu được dòng dầu có giá trị công nghiệp từ tầng đá móng nứt nẻ, trầm tích Mioxen và Oligoxen. Kết quả khoan thẩm lượng cho phép việc công bố giá trị thương mại của mỏ vào ngày 882001. Ban đầu mỏ X được khai thác dưới chế độ năng lượng tự nhiên, tuy nhiên chỉ sau một thời gian kể từ lúc bắt đầu khai thác áp suất vỉa đã sụt giảm với tốc độ rất nhanh. Nhà điều hành Cửu Long JOC đã quyết định tiến hành bơm ép nước nhằm gia tăng áp suất vỉa. Sau khi tiến hành bơm ép, lưu lượng khai thác đã tăng trở lại. Tuy nhiên, sau khi tiến hành bơm ép đã phát hiện thấy nước xâm nhập trong một số giếng khai thác. Do hiện tượng sụt giảm áp suất vẫn diễn ra, đồng thời hiện tượng ngập nước trong giếng khoan tăng mạnh, nhà điều hành Cửu Long đã quyết định đóng tạm thời các giếng khai thác đồng thời tiến hành nghiên cứu nguyên nhân gây sụt giảm áp suất và nguyên nhân gây ngập nước trong các giếng khai thác thông qua nghiên cứu nước khai thác lên cùng với dầu trong đá móng phần Tây Nam mỏ X. Tuy nhiên việc xác định thành phần nước khai thác trong vỉa đã sử dụng bơm ép để duy trì áp suất là một việc không hề đơn giản, do nước khai thác đã bị trộn lẫn bởi nhiều loại nước trong đó bao gồm cả nước bơm ép, nước vỉa và nước thải từ dung dịch khoan.

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỎ - ĐỊA CHẤT

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỎ - ĐỊA CHẤT

Trang 3

LỜI MỞ ĐẦU

Là một trong những mỏ dầu khí lớn của Việt Nam, mỏ X nằm ở phần Bắc –Đông Bắc bể Cửu Long Mỏ X được Deminex tiến hành nghiên cứu vào năm 1979thông qua giếng khoan 15-1-1X, kết quả thu được là phát hiện dầu với lưu lượngkhông đáng kể trong trầm tích vụn Miocen và Oligocen Đến năm 1999 nhà điềuhành Cửu Long JOC bắt đầu tiến hành thăm dò địa chấn Sau quá trình thăm dò địachấn kéo dài 7 năm, Cửu Long JOC đã khoan giếng khoan đầu tiên 15 -1-X-1Xthuộc phần Tây Nam cấu tạo X Kết quả thử vỉa thu được dòng dầu có giá trị côngnghiệp từ tầng đá móng nứt nẻ, trầm tích Mioxen và Oligoxen Kết quả khoan thẩmlượng cho phép việc công bố giá trị thương mại của mỏ vào ngày 8/8/2001

Ban đầu mỏ X được khai thác dưới chế độ năng lượng tự nhiên, tuy nhiên chỉsau một thời gian kể từ lúc bắt đầu khai thác áp suất vỉa đã sụt giảm với tốc độ rấtnhanh Nhà điều hành Cửu Long JOC đã quyết định tiến hành bơm ép nước nhằmgia tăng áp suất vỉa Sau khi tiến hành bơm ép, lưu lượng khai thác đã tăng trở lại Tuy nhiên, sau khi tiến hành bơm ép đã phát hiện thấy nước xâm nhậ p trong một sốgiếng khai thác Do hiện tượng sụt giảm áp suất vẫn diễn ra, đồng thời hiện tượngngập nước trong giếng khoan tăng mạnh, nhà điều hành Cửu Long đã quyết địnhđóng tạm thời các giếng khai thác đồng thời tiến hành nghiên cứu nguyên nhân gâysụt giảm áp suất và nguyên nhân gây ngập nước trong các giếng khai thác thông quanghiên cứu nước khai thác lên cùng với dầu trong đá móng phầ n Tây Nam mỏ X.Tuy nhiên việc xác định thành phần nước khai thác trong vỉa đã sử dụng bơm ép đểduy trì áp suất là một việc không hề đơn giản, do nước khai thác đã bị trộn lẫn bởinhiều loại nước trong đó bao gồm cả nước bơm ép, nước vỉa và nước thải từ dungdịch khoan

Chính từ thực tế này em quyết định chọn đề tài “ Xác dịnh thành phần nước

khai thác cùng dầu từ đá móng phần Tây Nam mỏ X” làm đề tài tốt nghiệp với

mong muốn tìm hiểu rõ hơn về vấn đề này

Trang 4

MỤC LỤC

LỜI MỞ ĐẦU 3

MỤC LỤC 4

DANH MỤC HÌNH VẼ 6

DANH MỤC BẢNG BIỂU 7

CHƯƠNG 1: ĐẶC ĐIỂM ĐỊA LÝ TỰ NHIÊN – ĐỊA CHẤT MỎ X 8

1.1 Đặc điểm địa lý, tự nhiên, kinh tế - nhân văn mỏ X 8

1.1.1 Đặc điểm địa lý tự nhiên 8

1.1.2 Đặc điểm kinh tế - nhân văn 9

1.1.3 Thuận lợi và khó khăn 15

1.2 Lịch sử thăm dò bể Cửu Long, lô 15-1 và mỏ X 16

1.2.1 Bể Cửu Long và Lô 15-1 16

1.2.2 Lịch sử tìm kiếm và thăm dò lô 15 -1 và mỏ X 19

1.3 Đặc điểm địa chất 20

1.3.1 Địa tầng 20

1.3.2 Đặc điểm kiến tạo 26

1.3.3 Phân tầng cấu trúc 28

1.3.4 Về hệ thống đứt gãy 30

1.4 Lịch sử phát triển địa chất 31

1.5 Tiềm năng dầu khí 34

1.5.1 Đá sinh dầu 34

1.5.2 Đá chứa dầu khí 39

1.5.3 Đá chắn 40

1.5.4 Các kiểu bẫy: 41

1.5.5 Di chuyển của dầu khí 41

CHƯƠNG 2 : CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC PHƯƠNG PHÁP XÁC ĐỊNH NGUỒN GỐC NƯỚC KHAI THÁC 43

2.1 Nguyên nhân gây ngập nước giếng khoan 43

2.2 Các phương pháp xác định nguồn gốc nước khai thác 44

Trang 5

2.2.1 Phương pháp dùng chất đánh dấu 45

2.2.2 Phương pháp đồng vị phóng xạ 46

2.2.3 Phương pháp hóa học 46

2.2.4 Kết luận 47

CHƯƠNG 3 : XÁC ĐỊNH THÀNH PHẦN NƯỚC KHAI THÁC TỪ THÂN DẦU TRONG ĐÁ MÓNG MỎ X BẰNG PHƯƠNG PHÁP HÓA HỌC 48

3.1 Cơ sở lý thuyết của phương pháp hóa học 48

3.2 Thành phần hóa học của các loại nước 48

3.2.1 Nước bơm ép, nước biển, dung dịch khoan và nước vỉa 48

3.2.2 Nước khai thác 49

3.3 Tương tác hóa học giữa đá móng và nước 50

3.3.1 Thành phần của đá móng 50

3.3.2 Tương tác hóa học giữa nước bơ m ép và đá móng 54

3.3.3 Các nguyên tố có hàm lượng không đổi hòa tan trong nước vỉa 55

4 Phương pháp hóa học xác định nguồn gốc nước khai thác 55

4.1 Cơ sở dữ liệu tính toán 55

4.2 Tính toán xác định hàm lượng các loại nước trong thành phần nước khai thác 56

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 69

Kết luận 70

Kiến nghị 70

TÀI LIỆU THAM KHẢO 70

Trang 6

DANH MỤC HÌNH VẼ

Hình 1: Bản đồ vị trí mỏ X 9

Hình 2: Cột địa tầng lô 15-1 22

Hình 3: Ảnh mẫu lõi và lát mỏng granodiorit Hòn Khoai tại độ sâu 4.236 m giếng khoan BH 17 23

Hình 4: Ảnh đá diorit Định Quán mẫu lõi giếng khoan BH1201, độ sâu 4.014m và mẫu lát mỏng giếng khoan BH11 độ sâu 5.387m 24

Hình 5: Granit biotit Cà Ná mẫu lõi giếng khoan BH1113 độ sâu 3.886 và mẫu lát mỏng granit giếng khoan BH448 độ sâu 4307m 24

Hình 6: Bản đồ kiến tạo Đông Bắc bể Cửu Long 29

Hình 7: Sơ đồ tầng sinh dầu trong trầm tích Oligocc en – Eocen bể Cửu Long 36

Hình 8: Mức độ trưởng thành của vật chất hữu cơ các tầng Miocen dư ới, Oligocen trên, Oligocen dưới và Eocen 38

Hình 9: Sơ đồ phân bố Gradient địa nhi ệt bể Cửu Long 39

Hình 10: Bản đồ hệ thống giếng khu vực Tây Nam mỏ X 44

Hình 11: Liên thông giữa các giếng bơm ép và giếng khai thác Tây Nam mỏ X 46

Hình 12: Nước khai thác mỏ X 51

Hình 13: Nước khai thác mỏ Rạng Đông 51

Hình 14: Mẫu lát mỏng giếng X-7P độ sâu 3675-3770m 52

Hình 15: Thành phần thạch học đá móng mỏ X 52

Hình 16: Mẫu lát mỏng của giếng X-7P tại độ sâu 3475-3480m 53

Hình 17: Mẫu lát mỏng của giếng X-7P tại độ sâu 3560-3565m 53

Hình 18: Mẫu lát mỏng của giếng X-12I tại độ sâu 3885-3890m 54

Hình 19: Mẫu lát mỏng của giếng X-9I tại độ sâu 4275-4730m 54

Hình 20: Mẫu lát mỏng của giếng X-12I tại độ sâu 3880-3885m 54

Trang 7

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 1: Các đặc tính cơ bản của Tầng đá mẹ bể Cửu Long ……….…37

Bảng 2: Hàm lượng những nguyên tố chính trong các mẫu nước ….……… 50

Bảng 3: Thành phần khoáng vật thứ sinh mỏ X ………53

Bảng 4: Hàm lượng nguyên tố hóa học của các loại nước phần Tây Nam mỏ X… 57 Bảng 5: Bảng số liệu tổng hợp hàm lượng các nguyên tố trong các mẫu nước mỏ X……… 63

Bảng 6: Hàm lượng của Natri và Sunfat theo tính toán ……… 68

Biểu đồ 1: Tương quan hàm lượng Sunfat tính toán và thực tế……… 69

Biểu đồ 2: Tương quan hàm lượng Natri tính toán và thực tế ……… 70

Trang 8

CHƯƠNG 1 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA LÝ TỰ NHIÊN – ĐỊA CHẤT MỎ X1.1 Đặc điểm địa lý, tự nhiên, kinh tế - nhân văn mỏ X

1.1.1 Đặc điểm địa lý tự nhiên

Công ty dầu khí liên doanh điều hành Cửu Long (CLJOC) được thành lập vàongày 26 tháng 10 năm 1998 với chức năng hoạt động là thăm dò khảo sát và khaithác dầu khí Lô 15-1 thuộc bể trầm tích Cửu Long Vị trí của lô 15-1 được thể hiệntrên (hình 1)

Trang 9

Lô 15-1 bao phủ một diện tích vào khoảng 4.634 km2 Lô 15-1 bao gồm cácmỏ: X, Sử Tử Vàng, Sư Tử Trắng và mỏ Sư Tử Nâu

Mỏ X thuộc lô 15 -1, nằm ở phần Bắc – Đông Bắc bể Cửu Long Mỏ X thuộcnhà điều hành CLJOC, sau khi tiến hành thăm dò khảo sát CL JOC đã tiến h ànhkhoan giếng đầu tiên 15-1-X-1X và giếng này hoàn thiện vào ngày 8 tháng 10 năm2000

Đặc điểm khí hậu thủy văn

• Đặc điểm chung của khu vực nghiên cứu là nhiệt đới gió mùa mang tính chấtcận xích đạo nên nhiệt độ cao và khá ổn định trong năm

• Lượng mưa trung bình năm vào khoảng 1300 -2000 mm/năm, với đặc điểmkhí hậu ôn hòa ít có mưa dầm hay gió bão lớn

• Tại đây có hai hướng gió chính:

Gió mùa Đông – Đông Bắc kéo dài từ tháng 10 tới tháng 4

Gió mùa Tây Nam từ tháng 5 tới tháng 11

• Nhiệt độ trung bình năm vào khoảng 25-27oC, các tháng có nhiệt độ cao vàokhoảng tháng 3, 4, 5 nhiệt độ trung bình ngày vào khoảng 28oC, có nhữngngày nhiệt độ lên tới 34oC, còn các tháng khác trong năm nhiệt độ dao độngtrong khoảng 25oC tới 27oC

• Thủy triều thuộc loại bán nhật triều, mỗi ngày đều có hai lần thủy triều lênxuống Biên độ triều lớn nhất là 4-5m

• Nhiệt độ nước biển ít thay đổi, quanh năm nhiệt độ tầng mặt nước khoảng24-29oC, nhiệt độ tầng đáy khoảng 26,5-27oC

1.1.2 Đặc điểm kinh tế - nhân văn

Giao thông – Vận Tải

Giao thông đường bộ

Vũng Tàu có một hệ thống giao thông đường bộ tương đối thuận lợi Quốc lộ

51 nối Long Thành – Bà Rịa Vũng Tàu, quốc lộ 55 nối Hàm Tân, Bình Thuận – BàRịa Vũng Tàu, quốc lộ 56 nối Long Khánh, Đồng Nai – Bà Rịa Vũng Tàu bên cạnh

đó là sự mở rộng thêm của mạng lưới đường nội tỉnh

Giao thông đường thủy

Với lợi thế có đường bờ biển trải dài, Vũng Tàu có mạng lưới cảng biển đadạng, có thể lưu thông tới nhiều nơi trên khắp đất nước cũng như t rên thế giới, nó

Trang 10

phản ánh một lợi thế to lớn quan trọng của Vũng Tàu.

Về lĩnh vực cảng biển: kể từ khi chính phủ có chủ trương di dời các cảng tạinội ô Thành phố Hồ Chí Minh, Bà Rịa - Vũng Tàu trở thành trung tâm cảng biểnchính của khu vực Đông Nam bộ Các cảng lớn tập trung chủ yếu trên sông Thị Vải.Cảng Sài Gòn và Nhà máy Ba Son đang di dời và xây dựng cảng biển lớn tại đây.Sông Thị Vải có luồng sâu đảm bảo cho tàu có tải trọng trên 50.000 tấn cập cảng Với hệ thống cảng biển đa dạng bao gồm các cảng: Thị Vải, Sao Mai, BếnĐình, các cảng dầu khí, Cát Lở, Phước Tĩnh, Lộc An, Bến Đầm Các cảng biển chủyếu nằm tại phía Đông Bắc của thành phố, đây là nơi r a vào nhiều loại tàu như: tàuhàng, tàu dân dụng, tàu đánh bắt thủy hải sản

Đường hàng không

Bao gồm hai sân bay Vũng Tàu và sân bay Côn Đảo, chủ yếu sử dụng vào mụcđích vận chuyển hàng hóa, du lịch Vũng Tàu là một điểm du lịch hấp dẫn , phần lớn

du khách tới đây thông qua đường h àng không, bên cạnh đó các sân bay còn phục

vụ cho ngành dầu khí để chuyên chở cán bộ công nhân viên và các thiết bị phục vụnghiên cứu thăm dò khảo sát, khai thác dầu khí

Điện năng

Cùng với sự phát triển của hệ thống điện lực hệ thống phân phối điện lực cũngphát triển với tốc độ nhanh chóng Công ty điện lực Bà Rịa – Vũng Tàu trực thuộctổng công ty điện lực Việt Nam, nguồn điện lực của Vũng Tàu được cung cấp t ừđường dây phân phối điện 500 kV Bắc – Nam Với nhu cầu lớn về điện, việc cungcấp phân bổ sản lượng điện đóng vai trò quan trọng

Mùa khô năm 2010 công ty điện lực Vũng Tàu đã phải tiết giảm tới hơn 2 triệukWh điện trong 3 tháng 4 – 5 – 6 Năm 2011 dự báo tình trạng thiếu điện còn tiếpdiễn do nhu cầu phụ tải của tỉnh tăng cao hơn so với năm 2010 Đối với sản xuấtthuộc các khu công nghiệp tập trung và các nhà máy cán thép sử dụng điện áp 100

kV thì phương án cấp điện sẽ phụ thuộc vào kế họ ach sản lượng điện phân bố theotừng phương án Đối với các hộ sản xuất kinh doanh ngoài khu công nghiệp tậptrung phải thực hiện tự tiết giảm 10% so với sản lượng bình quân của các tháng năm

2010, đối với các phụ tải quan trọng không tiết giảm Cố gắng đảm bảo không cắtđiện tại các khu du lịch vào các ngày thứ bảy và chủ n hật

Trang 11

Mạng lưới viễn thông liên lạc

Từ năm 1994, khi đường dây siêu cao áp 500 k V Bắc – Nam đưa vào vậnhành, ngành viễn thông tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu cũng hình thành một mạng lướiviễn thông hợp nhất, nối mạng viễn thông giữa 3 miền Bắc – Trung – Nam bằngtrục cáp quang OPGW trên đường dây 500 kV với dung lượng 34Mb/s phục vụ hiệuquả công tác điều hành và quản lý lưới điện trên toàn quốc Hệ thống chuyển mạchphát triển Các tổng đài tự động, điện tử, số hiện đại trong khai thác và quản lý đượcđưa vào thay thế cho các tổng đài cơ khí ở các trung tâm điều độ và các nhà máyđiện Cáp quang OPGW trên đường dây 500kV Hòa Bình – Hà Tĩnh – Đà Nẵng –Pleiku – Phú Lâm gồm 10 sợi, bưu điện khai thác 4 sợi

Trên toàn tuyến dài 1487 km có 22 trạm lắp và 5 trạm đầu cuối sử dụng thiết bịcận đồng bộ với dung lượng toàn tuyến là 34Mbps Tr ung tâm điều độ A0 được nốivới trạm 500 kV Hòa Bình bằng đường cáp thông tin quang STM1 Các trung tâmđiều độ miền A1, A2, A3 được nối với hệ thống viễn thông Bắc – Trung – Nam vàTây Nguyên, bao gồm các tuyến cáp quang, vi ba, tải ba và các thiết bị chu yểnmạch khác hiện đang kết nối tất cả các tỉnh thành trong cả nước

Nguồn nước

Các dòng sông cung cấp nước cho tỉnh chủ yếu là những dòng sông nội tỉnhnhư sông Dinh, sông Ray Đặc điểm của hai con sông này là ngắn và có lưu vựcnhỏ, hiện đang bị ô nhiễm Theo tính toán qua nghiên cứu, nguồn nước dự trữ củatỉnh bình quân theo đầu người là 1.049 m3/người/năm So với chuẩn cấp nước bềnvững cho các nhu cầu sinh hoạt và sản xuất 2 500 m3/người/năm thì khả năng cungcấp nước của tỉnh chỉ đạt 35,7%

Đặc điểm kinh tế xã hội

Giáo dục

Từ chỗ khi mới thành lập chỉ có 240 trường, đến nay toàn tỉnh Bà Rịa - VũngTàu đã có 303 trường mầm non và phổ thông (trong đó có 96 trường mầm non, 132trường tiểu học, 53 trường trung học cơ sở và 22 trường trung học phổ thông), 2trường Đại Học (Đại Học Bà Rịa-Vũng Tàu, Cơ Sở thuộc trường Đại Học Quốc TếHồng Bàng), 1 trường Cao đẳng Sư phạm, 2 t rường dạy nghề, 1 trung tâm đào tạonhân lực cho ngành dầu khí Tính đến năm học 2000 - 2001, bình quân mỗi xã,phường có hai trường tiểu học, một trường trung học cơ sở, mỗi huyện, thị xã vàthành phố có ít nhất vài trường phổ thông trung học

Trang 12

Ngành học Giáo dục thường xuyên mới được hình thành nhưng đã có hệ thốngtrung tâm giáo dục từ xa từ tỉnh đến huyện, đã liên kết với các cơ sở đào tạo Đạihọc, Cao đẳng, Trung học chuyên nghiệp đảm đương nhiệm vụ bồi dưỡng, nâng caotrình độ văn hóa, kiến thức chuyên môn, nghiệp vụ cho người lao động Cơ sở vậtchất cho các trường học được chú trọng đầu tư, hàng năm ngành đ ược cấp trên 20 tỷđồng để xây dựng trường.

Kinh tế

Bà Rịa - Vũng Tàu thuộc vùng kinh tế trọng điểm phía Nam Hoạt động kinh

tế của tỉnh trước hết phải nói về tìm kiếm, thăm dò và khai thác dầu khí Trên thềmlục địa Đông Nam Bộ tỉ lệ các mũi khoan tìm kiếm, thăm dò gặp dầu khí cao Đãphát hiện các mỏ dầu có giá trị thương mại lớn như: Bạch Hổ, Rồng, Đại Hùng, X,Rạng Đông Xuất khẩu dầu đóng góp một phần quan trọng trong GDP của Bà Rịa –Vũng Tàu cũng như của cả nước

Kinh tế trên địa bàn đã vượt qua khó khăn lớn đầu thập kỷ 1990, sớm tạo đượcthế ổn định và đạt tốc độ phát triển khá, chuyển dịch đúng hướng công nghiệp hóa –hiện đại hóa với cơ cấu công nghiệp, dịch vụ, nông nghiệp Năng lực sản xuất, kếtcấu hạ tầng kinh tế - xã hội của tỉnh tăng nhanh Ngoài lĩnh vực khai thác dầu khí,

Bà Rịa – Vũng Tàu còn là một trong những trung tâm năng lượng, công nghiệpnặng, du lịch, cảng biển của cả nước

Về lĩnh vực du lịch, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu là một trong những trung tâm dulịch hàng đầu của cả nước Trong thời gian qua, chính phủ đã cấp phép và đangthẩm định một số dự án du lịch lớn như: Saigon Atlantis (300 triệu USD), công viêngiải trí Bàu Trũng và b ể cá ngầm Nghinh Phong (500 triệu USD), công viên báchthú Safari Xuyên Mộc (200 triệu USD)

Tốc độ tăng trưởng bình quân của tỉnh Bà Rịa – vũng Tàu trong giai đoạn 2006– 2010 đạt 17,78% Công nghiệp - xây dựng chiếm 64,3% (giảm 0,26% so với năm2005); thương mại – dịch vụ giảm từ 31,2% (tăng 3,48% so với năm 2005), nôngnghiệp chiếm 4,5% (giảm 3,22% so với năm 2005) GDP tăng 2,28 lần so với năm2005

Phấn đấu đến năm 2015 đạt tốc độ tăng trưởng GDP bình quân 14%/năm, kể

cả dầu khí bình quân 10,8%/năm Về cơ cấu kinh tế, công nghiệp xây dựng 62%,dịch vụ 35%, nông nghiệp 3% Giảm tỷ lệ hộ nghèo theo chuẩn tỉnh từ 21,69%xuống dưới 2,35% (theo chuẩn mới), cơ bản không còn hộ nghèo theo chuẩn quốcgia Mức hưởng thụ văn hóa đạt 42 lần/người/năm; 92% gia đình đạt chuẩn gia đình

Trang 13

văn hóa; 92% thôn, ấp đạt chuẩn văn hóa, 99% dân số nông thôn được sử dụng điện

Để ngành nông nghiệp tiếp tục giữ vững tốc độ tăng trưởng bền vững, cần có

sự đầu tư mang tính chiến lược Một trong những giải pháp nhằm ổn định và mởrộng đầu ra cho nông sản là tập trung đầu tư cho công nghiệp chế biến và xây dựngthương hiệu Bên cạnh đó, cần đầu tư nhiều hơn cho hạ tầng nô ng thôn, nhất là vềgiao thông, thủy lợi, điện Đầu tư mạnh lĩnh vực này không những góp phần cảithiện đời sống của người dân nông thôn mà còn giúp giảm chi phí sản xuất nôngnghiệp

Lâm nghiệp

Trong những năm qua, các chương trình trồng rừng, bả o vệ và phát triển rừng

ở Bà Rịa - Vũng Tàu được triển khai đạt nhiều kết quả tốt Chương trình 5 triệu harừng của tỉnh đến nay đã đã thực hiện được trên 1 nghìn 600 ha Hàng năm, phongtrào trồng cây nhân dân được phát động tới khắp các địa phương cũng như tới từng

hộ Nhờ đó mà từ năm 2006 đến nay, trên địa bàn của tỉnh, nhân dân đã tham giatrồng được trên 1 nghìn 500 ha Để chương trình 5 triệu ha rừng của tỉnh đạt mụctiêu, ngành nông nghiệp đã phối hợp chặt chẽ, thường xuyên với các ngành chứcnăng và các địa phương đẩy mạnh tuyên truyền, phổ biến chính sách pháp luật, bảo

vệ rừng tới mỗi người dân, nhất là những huyện có diện tích rừng lớn như XuyênMộc, Châu Đức… Đi đôi với công tác tuyên truyền, công tác phòng cháy, chữacháy rừng ở Bà Rịa - Vũng Tàu cũng được triển khai đồng bộ, nhờ đó mà rừng

Trang 14

được quản lý, bảo vệ và phát triển tốt hơn.

Y tế

So với nhiều năm trước đây, mạng lưới y tế cơ sở của Bà Rịa – Vũng Tàu đãđược đầu tư nhiều hơn cho cơ sở hạ tầng, trang thiết bị và nhân lực Nhờ vậy, cácchương trình y tế quốc gia về chăm sóc sức khỏe cộng đồng, phòng, chống dịch đãđạt kết quả khá khả quan Nhiều năm liền, trên địa bàn tỉnh không xảy ra dịch bệnhtrên diện rộng

Tính đến hết năm 2009, Bà Rịa – Vũng Tàu đã có 72/83 xã, phường đạt chuẩn

y tế quốc gia, đạt tỷ lệ gần 88% Tất cả các thôn, ấp, khu phố trong tỉnh có nhânviên y tế và nhân viên sức khỏe cộng đồng hoạt động (bình quân 10,9 8 nhân viênsức khỏe cộng đồng/xã, 1 nhân viên sức khỏe cộng đồng/223 hộ gia đình và 1,48nhân viên y tế/thôn, ấp) Mọi trạm y tế đều có nữ hộ sinh hoặc y sĩ sản nhi Bà Rịa -Vũng Tàu vẫn được đánh gi á là một trong số ít tỉnh của cả nước đầu tư mạnh chomạng lưới y tế cơ sở

Đời sống văn hóa

Theo đó, trong năm 2011, thành phố Vũng Tàu sẽ tập trung thực hiện một sốnội dung: gắn phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” với đờisống chính trị, kinh tế, xã hội của đơn vị, địa phương; t iếp tục mở rộng và nâng caochất lượng các cuộc vận động, cụ thể hóa những nội dung của các cuộc vận động,

Trang 15

các phong trào để lồng ghép vào 6 nội dung của cuộc vận động “Toàn dân đoàn kếtxây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư”, đẩy mạnh công tác đền ơn đáp nghĩa,làm tốt công tác từ thiện, nhân đạo.

Vận động nhân dân tích cực tham gia các phong trào, thực hiện quy chế dânchủ ở cơ sở, tham gia thực hiện đề án 4 giảm, nâng cao chất lượng, số lượng khudân cư an toàn, không có tệ nạn xã hội Thành phố Vũng Tàu hiện có 17 khu phốđược công nhận khu phố văn hóa, đang xây dựng 4 phường văn hóa

1.1.3 Thuận lợi và khó khăn

Thuận lợi

Bà Rịa – Vũng Tàu có nhiều loại khoáng sản, nhưng đáng kể nhất là dầu mỏ,khí thiên nhiên Bà Rịa – Vũng Tàu nằm trong vùng có tiềm năng lớn về d ầu mỏ vàkhí thiên nhiên của Việt Nam Tổng trữ lượng tiềm năng dầu khí theo xác minh năm

2000 vào khoảng 2.500 – 3.500 triệu m3 (bao gồm 957 triệu m3dầu và 1.500 triệu

m3 khí) Trong tổng trữ lượng dầu khí đã xác minh, vùng biển Bà Rịa – Vũng Tàu

có trữ lượng 400 triệu m3dầu

Bà Rịa - Vũng Tàu có mạng lưới giao thông đường bộ đang được mở rộng,bên cạnh đó đường bờ biển trải dài là những thuận lợi to lớn trong thăm dò, khảo sát

và khai thác dầu khí

Do nằm không xa bờ và nằm trong vùng nước nông (độ sâu đáy <50 m), thuộckhu vực không có bão lớn Các bể dầu khí nằm trên thềm lục địa Nam Việt Nam,ngoài khơi tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu có những điều kiện rất thuận lợi phục vụ chothăm dò, khảo sát và khai thác dầu khí

Khó khăn

Do đặc thù về nghành nghề và do đặc thù về vị trí địa lý nên các giàn khoankhai thác dầu khí của Việt Nam đều nằm trên thềm lục địa, xa đất liền Toàn bộ sinhhoạt cũng như điều kiện khách quan gây không ít khó khăn cho công tác tìm kiếm,thăm dò và khai thác dầu khí Nằm giữa biển nên các giàn khoan dầu khí phải đảmbảo tự cung ứng những nhu cầu thiết yếu hàng ngày như: điện năng, nước sinh hoạt,chế độ ăn uống Điện năng ở các giàn khoan được cung cấp bằng các máy phát điệnchạy bằng dầu, nước sinh hoạt cũng như nước ngọt ở đây cũng được mang từ đấtliền ra chứ không thể sử dụng nước biển cho sinh hoạt được Chế độ ăn uống cũng

là một vấn đề, không có nước ngọt nên thực phẩm tại đây hầu hết là đồ đông lạnh,việc đảm bảo chế độ dinh dưỡng cũng là một vấn đề quan trọng Bên cạnh các yếu

Trang 16

tố con người phải nói tới các yếu tố khách quan của thiên nhiên Nằm giữa biểnkhơi nên các giàn khoan phải chịu những tác động trực tiếp từ thiên nhiên như: bãobiển, những cơn bão biển lớn có thể ảnh hưởng tới hoạt động khai thác dầu khí,sóng biển và môi trường biển cũng gây nên tác động không tốt tới các thiết bị dầukhí, trong điều kiện biển các thiết bị này có thể bị oxi hóa hoặc chịu tác động củacác sinh vật biển gây ăn mòn kim loại, việc bảo trì các thiết bị trong điều kiện biểncũng phức tạp hơn so sới trên đất liền Các yếu tố chủ quan có, khách quan có, cácyếu tố con người có và cả những yếu tố thiên nhiên gây ra nhiều khó khăn cho hoạtđộng khai thác dầu khí giữa biển khơi.

1.2 Lịch sử thăm dò bể Cửu Long, lô 15-1 và mỏ X

1.2.1 Bể Cửu Long và Lô 15 -1

Lịch sử tìm kiếm thăm dò và khai thác dầu khí bồn trũng Cửu Long gắn liềnvới lịch sử tìm kiếm thăm dò, khai thác dầu khí của thềm lục địa Nam Việt Nam.Căn cứ vào quy mô, mốc lịch sử và kết quả th u được, lịch sử tìm kiếm, thăm dò vàkhai thác dầu khí bồn trũng Cửu Long được chia làm 4 giai đoạn sau:

• Giai đoạn trước năm 1975

• Giai đoạn 1975 – 1979

• Giai đoạn 1980 – 1988

• Giai đoạn 1989 đến nay

I Giai đoạn trước nă m 1975

Đây là thời kỳ khảo sát địa vật lý khu vực như: từ, trọng lực và địa chấn đểchuẩn bị cho công tác đấu thầu các lô

Năm 1967: U.S Nauy Oceanographic Office tiến hành khảo sát từ hàngkhông gần khắp lãnh thổ miền Nam

Năm 1967 - 1968: hai tàu Ruth và Santa Maria của Alping GeophysicalCorporation đã tiến hành đo 19 500 km tuyến địa chấn ở phía Nam biển Đông trong

đó có tuyến cắt qua bể Cửu Long với mạng lưới tuyến 30x30; 20x20 km

Năm 1969: công ty Ray Geophysical Mandreel đã tiến hành đo địa vật lýbằng tàu N.V Robray I ở vùng thềm lục địa miền Nam và vùng phía Nam BiểnĐông với tổng số 3.482 km trong đó có tuyến cắt qua bể Cửu Long

Trong tháng 6 - 8, 1969 U.S Nauy Oceanographic cũng tiến hành đo songsong 20.000 km tuyến địa chấn bằng 2 tàu R/V E.V Hunt ở vịnh Thái Lan và phía

Trang 17

Nam của biển Đông trong đó có tuyến cắt qua bể Cửu Long.

Đầu 1970 công ty Ray Geophysical Mandreel lại tiến hành đo đợt hai ở Nambiển Đông và dọc bờ biển 8.639 km, đảm bảo mạng lưới cỡ 30km x 50km, kết hợpcác phương pháp từ, trọng lực và hàng không trong đó có tuyến cắt qua bể CửuLong

Năm 1973, các công ty tư bản đấu thầu trên các lô được phân chia ở thềm lụcđịa Nam Việt Nam, các công ty trúng thầu đã tiến hành khảo sát địa vật lý chủ yếu

là địa chấn phản xạ trên các lô và các diện tích có triển vọng

Trong khoảng 1973 - 1974 đã đấu thầu trên 11 lô, trong đó có 3 lô thuộc bểCửu Long là 09, 15 và 16 Năm 1974, công ty trúng thầu trên lô 09 – Mobil, đã tiếnhành khảo sát địa vật lý, chủ yếu là địa chấn phản xạ, có từ và trọng lực với khốilượng là 3 000 km tuyến với mạng lưới tuyến 2x2, 1x1 km

Vào cuối 1974 đầu 1975, công ty Mobil đã khoan giếng khoan tìm kiếm đầutiên trong bể Cửu Long, BH-1X, ở phần đỉnh của cấu tạo Bạch Hổ Giếng khoannày đã gặp nhiều lớp cát kết chứa dầu ở độ sâu 2.755 – 2.819m thuộc Miocenedưới Lần thử vỉa thứ nhất ở độ sâu 2.819m đã thu được 430 thùng dầu và 200 000

bộ khối khí ngưng tụ Thử v ỉa lần 2 ở độ sâu 2.755m cho 2.400 thùng dầu và860.000 bộ khối khí ngày và đêm

II Giai đoạn 1975 – 1979

Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, tháng 11/1975 Tổng cục dầu khí(tiền thân của Petrovietnam ngày nay) quyết định thành lập công ty dầu khí NamViệt Nam Công ty đã tiến hành đánh giá lại triển vọng dầu khí thềm lục địa NamViệt Nam nói chung và từng lô nói riêng

Năm 1976, Công ty địa vật lý CGG của Pháp khảo sát địa chấn 1.210,9 kmvới mạng lưới tuyến 2x2, 1x1 km theo các con sông của đồng bằng sông Cửu Long

và vùng ven biển Vũng Tàu – Côn Sơn Kết quả của công tác khảo sát địa chấn đãxây dựng các tầng phản xạ và bước đầu xác lập các mặt cắt trầm tích khu vực Cũngtrong đợt nghiên cứu này đã phát hiện ra sự tồn tại của các Graben ở phần Tây Nambồn

Năm 1978, công ty Geco (Nauy) thu nổ địa chấn 2D trên các lô 10, 09, 16,

19, 20, 21 với tổng số 11.898,5 km làm rõ chi tiết trên cấu tạo Bạch Hổ với mạngtuyến 2x2 và 1x1 km Trên lô 15 và cấu tạo Cửu Long (nay là mỏ Rạng Đông),công ty Deminex và Geco đã khảo sát 3.221,7 km tuyến địa chấn mạng lưới 3.5x 3.5

Trang 18

Trong đợt thăm dò này, công ty Deminex đã khoan được 4 giếng khoan tìmkiếm trên các cấu tạo triển vọng nhất Trà Tân (15A -1X), Sông Ba (15B-1X), CửuLong (15C-1X) và Đồng Nai (15G-1X) Kết quả khoan các giếng khoan này đềugặp các biểu hiện dầu khí trong cát kết tuổi Miocene sớm và Oligocene nhưngkhông có ý nghĩa công nghiệp

III Giai đoạn 1980 – 1988

Hiệp định hữu nghị và hợp tác tìm kiếm thăm dò khai thác dầu khí ở t hềmlục địa Nam Việt Nam được ký kết giữa Việt Nam và Liên Xô đã mở ra một giaiđoạn mới trong lịch sử phát triển ngành công nghiệp dầu khí Việt Nam với sự ra đờicủa Xí nghiệp liên doanh dầu khí “Vietsovpetro”

Năm 1980, tàu nghiên cứu POISK (Vietsovpetro) đã tiến hành khảo sát4.057 km tuyến địa chấn MOV – điểm sâu chung, từ và 3.250 km tuyến trọng lựctrong phạm vi các lô 09, 15 và 16

Kết quả đợt khảo sát này đã chia ra 4 loạt địa chấn C, D, E, F và xây dựngđược một số sơ đồ cấu tạo dị thường từ và trọng lực Bughe

Trên cơ sở tổng hợp tài liệu và các kết quả nghiên cứu trước đây, xí nghiệpliên doanh Vietsovpetro đã tiến hành khoan các giếng khoan tìm kiếm trên cấu tạoBạch Hổ và Rồng nhằm tìm kiếm và thăm dò trong trầm tích tuổi Miocene vàOligocene Nghiên cứu này đã mang lại nhiều thành tựu lớn trong ngà nh côngnghiệp dầu khí Việt Nam

Hàng loạt các giếng khoan thẩm lượng và khai thác ở khu vực mỏ Bạch Hổđược thực hiện, dẫn đến việc phát hiện dầu ở tầng cát Oligocene và tầng móng nứt

nẻ Đây là sự kiện quan trọn g mang đến những thay đổi quan trọng trong việc đánhgiá trữ lượng và mục tiêu khai thác của mỏ Bạch Hổ, cũng như cho ra đời một quanniệm địa chất mới về việc tìm kiếm thăm dò dầu khí trên thềm lục địa Việt Nam.Mặc dù hạn chế về số lượng, nhưng các giếng khoan thăm dò ở các cấu tạoRồng, Đại Hùng và Tam Đảo đã mang lại những kết quả khả quan về phát hiện dầuthô và sau đó các mỏ Rồng, Đại Hùng đã được đưa vào khai thác thương mại (R -1X, BH-3X, BH-4X, BH-5X)

Có thể nói rằng, 1980-1988 là giai đoạn mở đầu hình thành ngành công nghiệpdầu khí Việt Nam, đặt nền móng cho hoạt động tìm kiếm thăm dò trong các giaiđoạn tiếp theo trên toàn bộ khu vực thềm lục địa Việt Nam

Trang 19

IV Giai đoạn 1989 đến nay:

Đây là giai đoạn phát triển mạnh mẽ nhất trong công tác tìm kiếm, thăm dò

và khai thác dầu khí trên bể Cửu Long

Hàng loạt hợp đồng với công ty nước ngoài trong việc thăm dò và khai thác

đã được kí kết Đến cuối 2003, đã có 9 hợp đồng tìm kiếm, thăm dò được kí kết trêncác lô: 09-1, 09-2, 09-3, 01 & 02, 15-1, 15-2, 16-1, 16-2, 17

Hầu hết các lô thuộc bồn trũng trong giai đoạn này đã được khảo sát mộtcách tỉ mỉ, không chỉ phục vụ cho công tác thăm dò mà cả cho công tác chính xác

mô hình vỉa

Khối lượng khảo sát trong giai đoạn này: 2D là 21 408 km và 3D là 7.340,6

km2 trên mạng lưới tuyến 1x1, 2x2 km Khảo sát 3D được tiến hành trên hầu hết cácdiện tích có triển vọng và trên tất cả các mỏ có triển vọng và trên tất cả các vùng mỏ

đã phát hiện Trong lĩnh vực xử lý tài liệu địa chấn 3D có những ti ến bộ rõ rệt khi

sử dụng qui trình dịch chuyển thời gian và độ sâu trước cộng (PSTM, PSDM) Chođến hết năm 2003, tổng số giếng khoan thăm dò, thẩm lượng và khai thác đã khoan

ở bồn Cửu Long khoảng 300 giếng Trong đó riêng Vietsovpetro chiếm 70%

Bằng kết quả khoan nhiều phát hiện dầu khí đã được xác định : Rạng Đông(lô 15.2), X, Sư Tử Vàng, Sư Tử Trắng (lô 15.1), Topaz North, Diamond, Pearl,Emerald, Jade (lô 01), Cá Ngừ Vàng (lô 09.2), Voi Trắng (lô 16.1), Đông Rồng,Đông Nam Rồng (lô 09.1) Trong số phát hiện này có 5 mỏ dầu: Bạch Hổ, Rồng(bao gồm cả Đông Rồng và Đông Nam Rồng), Rạng Đông, X, Ruby hiện đangđược khai thác

1.2.2 Lịch sử tìm kiếm và t hăm dò lô 15-1 và mỏ X

Lô 15-1 đã được Deminxex nghiên cứu vào năm 1979 và đã phát hiện thấy dầ uvới lưu lượng nhỏ trong trầm tích vụn Mioxen và Oligoxen tại giếng khoan 15 -1-1Xnhưng chưa đánh giá đầy đủ tầng chứa trong đá móng CLJOC bắt đầu thăm dò vớikhoảng 337 km2với địa chấn 3D năm 1999 Dữ liệu thu nổ được gửi cho Veritas xử

lý ngay trong năm 1999

Công ty Dầu khí Liên doanh Điều hành Cửu Long (CLJOC), được giao điềuhành tìm kiếm thăm dò trên diện tích hợp đồng lô 15-1 vào ngày 26 tháng 10 năm

1998 với khoảng 3 năm cho giai đoạn thăm dò Tiếp theo thành công của giai đoạnthăm dò đầ u tiên, CLJOC được phê duyệt cho phép gia hạn giai đoạn thăm dò kéodài tổng cộng 7 năm qua 3 thời kỳ Quá trình tìm kiếm thăm dò kết thúc ngày 25

Trang 20

tháng 10 năm 2005.

Giếng khoan 15-1-X-1X thuộc khu vực phía Tây Nam cấu tạo X là giếng khoanthăm dò đ ầu tiên do CLJOC thực hiện, được khởi công vào ngày 6/8/2000 Giếngkết thúc vào ngày 8/10/2000 với kết quả thử vỉa thu được dòng dầu với lưu lượng5.655 thùng/ngày đêm từ tầng đá móng nứt nẻ, 5.600 thùng/ngày đêm với trầm tíchMioxen và 1.366 thùng/ngày đêm từ tầng Oligoxen

Giếng khoan thẩm lượng X-2X được khoan tiếp ngay sau khi CLJOC đệ trìnhbản kế hoạch thẩm lượ ng, khởi công vào ngày 11/3/2001 Chương trình khoan kếtthúc với giếng X-2X ngày 5/7/2001 sau khi thu được dòng dầu 13.223 thùng/ngàyđêm từ tầng móng và 6.443 thùng/ngày đêm từ tầng Mioxen Kết quả giếng khoanX-2X xác định một thể tích dầu đủ lớn, cho phép việc công bố thương mại vào ngày8/8/2001

Giếng X-3X là giếng khoan thẩm lượng , khoan trên khu vực trung tâm cấu tạo

X Giếng này khoan ngoài khu vực phát triển giai đoạn 1, được khởi công ngày9/7/2001 và kết thúc ngày 7/9/2001 sau khi thử v ỉa cho dòng dầu 2.763 thùng/ngàyđêm từ tầng đá móng và 4.662 thùng/ngày đêm từ tầng Mioxen Giếng này chophép mở rộng diện tích trữ lượng xác minh của tầng đá móng

Giếng khoan X-4X khởi công ngày 14/9/2002 kết thúc 10/11/2002 cho dòngdầu 9.848 thùng/ngày đêm khi thử vỉa tầng móng

Phần Đông Bắc mỏ X được thẩm lượng trong năm 2005 bởi giếng X-5X.Giếng được khởi công ngày 12/4/2005 kết thúc 27/5/2005 với lưu lượng 8.652thùng/ngày đêm từ tầng đá móng

Giếng khoan X-6X được khởi công ngày 27/3/2005 với mục đích kiểm tra khuvực Tây Bắc khi thử vỉa chỉ có nước

1.3 Đặc điểm địa chất

1.3.1 Địa tầng

Theo tài liệu nghiên cứu thạc học, cổ sinh các mẫu đá lấy từ các giếng khoanthăm dò trên phạm vi bể Cửu Long , địa tầng của bể Cửu Long bao gồm đá móng cổtrước Kainozoi và trầm tích lớp phủ Kainozoi Trong phạm vi đồ án tác giả xinđược mô tả địa tầng lô 15-1 là đối tượng chính của đồ án Đặc trưng thạch học –trầm tích, hóa thạch của mỗi phân vị địa tầng lô 15-1 được thể hiện tóm tắt trên cộtđịa tầng tổng hợp của lô 15-1 (Hình 2)

Trang 22

Móng trước Kainozoi

Tại bể Cửu Long người ta đã tiến hành khoan hàng trăm giếng khoan sâu vàomóng trước Kainozoi tại nhiều vị trí khác nhau trên toàn bể Tại lô 15 -1 đá móngtrước Kainozoi gặp tại các giếng Đông Bắc mỏ (X-3P, X-4P và X-17P), các giếngtại khu vực Tây Nam mỏ (X-7P, X-18P, X-25P và X-13I) và các giếng thuộc khuvực trung tâm (X-1P, X-2P, X-9I, X-5P và X-12I) nằm trong khoảng độ sâu 3500 -4600m Về mặt thạch học đá móng có thể xếp thành 2 nhóm chính: granit vàgranodiorit – diorit, đá biến chất và các thành tạo núi lửa

So sánh kết quả nghiên cứu các phức hệ magma trên đất liền với đá móng kếttinh ngoài thềm lục địa bể Cửu Long, theo đặc trưng thạch học và tuổi tuyệt đối cóthể xếp tương đương với 3 phức hệ: Hòn Khoai, Định Quán và Cà Ná

Phức hệ Hòn Khoai

Có thể được xem là phức hệ đá magma cổ nhất trong móng của bể Cửu Long,phức hệ có tuổi Trias muộn, tương ứng khoảng 195 đến 250 triệu năm Theo tài liệuđịa chất Việt Nam thì graditoid Hòn Khoai được ghép chung với các thành hệ tạomagma xâm nhập phức hệ Ankroet – Định Quán gồm chủ yếu là amphybol – biotit– diorit, monzonit và adamelit Đá bị biến đổi, cà nát mạnh Phần lớn các khe nứt đã

bị lấp đầy bởi khoáng vật thứ sinh: calcit – epidot – zeolit (hình 3) Đá có thể phân

bố chủ yếu ở phần cánh của các khối nâng móng, như cánh phía Đông Bắc mỏ BạchHổ

Trang 23

kiềm vôi, có thành phần axit vừa phải SiO2 (dao động 63-67%) Các thành tạo củaphức hệ xâm nhập này có mức độ giập vỡ và biến đổi cao Hầu hết các khe nứt đềuđược lấp đầy bởi các khoáng vật thứ sinh: calcit, zeolit, thạch anh và clorit Trongđới biến đổi mạnh biotit thường bị clorit hóa (hình 4) Phức hệ Định Quán có tuổiJura, tuổi tuyệt đối dao động từ 130 đến 155 triệu năm.

Phức hệ Cà Ná

Là phức hệ magma phát triển và gặp phổ biến nhất trên toàn bể Cửu Long.Phức hệ đặc trư ng là granit thủy mica và biotit, thuộc loại Natri – Kali, dư nhôm(Al=2.98%), Si(~69%) và ít Ca (hình 5) Đá có độ tuổi tuyệt đối khoảng 90 đến 100triệu năm, thuộc Jura muộn Các khối Granitoid phức hệ magma xâm nhập nàyphân bố dọc theo hướng trục của bể Đá bị giập vỡ, nhưng mức độ biến đổi thứ sinhyếu hơn so với hai phức hệ Hòn Khoai và Định Quán Trong mặt cắt đá magmaxâm nhập thường gặp các đai mạch có thành phần thạch học khác nhau từ axit đếntrung tính – bazơ, bazơ và thạch anh Tại một số nơi như khu vực mỏ Rồng còn gặp

đá biến chất nhiệt động kiểu Paragneis hoặc orthogneis Các đá này thường có mức

độ giập vỡ và biến đổi kém hơn so với đá xâm nhập

Trang 24

Trầm Tích Kainozoi

Nằm bất chỉnh hợp trên mặt đá móng kết t inh bào mòn và phong hóa là cácthành tạo trầm tích Kainozoi hoặc núi lửa Địa tầng được mô tả từ cổ đến trẻ nhưtrong cột địa tầng (hình 2)

Trầm tích Paleogen

Trầm tích Oligocen dưới (E 3 1 ) – hệ tầng Trà Cú (tập E)

Hệ tầng Trà Cú đã xác lập ở giếng khoan Cửu Long – 1X

Trầm tích gồm chủ yếu là sét kết, bột kết và cát kết, có chứa các vỉ than mỏng

và sét vôi, được tích tụ trong điều kiện sông hồ Đôi khi gặp các đá núi lửa, thànhphần chủ yếu là porphyr diabas, tuf basalt, và gabro – diabas Chiều dày của hệ tầng

có thể đạt tới 500m Tuổi của hệ tầng theo phức hệ bào tử phấn (Oculopollis,

Magnastriatites) được xác định là Paleogen, Oligocen sớm Hệ tầng bao gồm các

thành tạo thô bên dưới và thành tạo mịn bên trên Hệ tầng có tiềm năng chứa và sinhdầu khí khá cao, chiều dày của hệ tầng dao động từ 0 đến 800m

Oligocen trên (E 3 2 ) – hệ tầng Trà Tân

Đá trầm tích của hệ tầng Trà Tân đôi chỗ nằm bất chỉnh hợp trên hệ tầng Trà

Cú, phần còn lại nằm chỉnh hợp trên hệ tầng Trà Cú Mặt cắt hệ tầng có thể chiathành ba phần khác biệt nhau về thạch học

Phần trên gồm chủ yếu là s ét kết màu nâu – nâu đậm, nâu đen, rất ít sét màu

đỏ, cát kết và bột kết, tỷ lệ cát/sét khoảng 35 -50%

Phần giữa gồm chủ yếu là sét kết nâu đậm, nâu đen, cát kết v à bột kết, tỷ lệcát/sét khoảng 40-60% (phổ biến khoảng 50%), đôi nơi có xen các lớp mỏng đá vôi,than

Phần dưới gồm chủ yếu là cát kết hạt mịn đến thô, đôi chỗ sạn, cuội kết, xensét kết nâu đậm, nâu đen, bột kết, tỷ lệ cát/sét thay đổi trong khoảng rộng từ 20-50%

Các trầm tích của hệ tầng được tích tụ chủ yếu trong môi trường đồng bằngsông, aluvi – đồng bằng ven bờ và hồ Các thành tạo núi lửa tìm thấy ở nhiều giếngkhoan thuộc các vùng Bạch Hổ, Bà Đen, Ba Vì, đặc biệt ở khu vực lô 01 thuộc phíaBắc đới trung tâm với thành phần chủ yếu là andesit, andesit – basalt, gabrodiabasvới bề dày từ vài mét tới 100 m Sét kết của hệ tầng Trà Tân có hàm lượng và chấtlượng vật chất hữu cơ cao tới rất cao đặc biệt là tầng Trà Tân giữa, chúng là nhữ ng

Trang 25

tầng sinh dầu khí tốt ở bể Cửu Long đồng thời là tầng chắn tốt cho tầng đá mónggranit nứt nẻ Tầng cát kết nằm xen kẹp có chất lượng thấm, rỗng thay đổi từ kémđến tốt.

Trong mặt cắt hệ tầng đã gặp những hóa thạch bào tử phấn: F Trilobata,

Verutricolporites, Cicatricosiporites, xác định tuổi Oligocen muộn.

Trầm Tích Neogen

Trầm tích Miocen dưới (N 1 1 ) – hệ tầng Bạch Hổ (tập B1)

Hệ tầng Bạch Hổ được xác lập ở giếng khoan BH-1X

Hệ tầng Bạch Hổ có thể chia thành hai phần :

Phần trên chủ yếu là sét kết màu xám, xám xanh xen kẽ với cát kết và bột kết,

tỷ lệ cát, bột kết tăng dần xuống dưới (đến 50%) Phần trên cùng của mặt cắt là tầngsét kết Rotalid bao phủ toàn bể, chiều dày thay đổi trong khoảng từ 50m đến 150m.Phần dưới gồm chủ yếu là cát kết, bột kết (chiếm 60%), xen kẽ với các lớp xétkết màu xám, vàng, đỏ Các trầm tích của hệ tầng được tích tụ trong môi trườngđồng bằng aluvi – đồng bằng ven bờ ở phần dưới, chuyển dần lên đồng bằng ven bờ

- biển nông ở phần trên Đá núi lửa đã được phát hiện thấy ở nhiều giếng khoanthuộc lô 01 ở phía Bắc bể, chủ yếu là basalt và tuf basalt, bề dày từ vài chục métđến 250m Hệ tầng Bạch Hổ có chiều dày thay đổi từ 100 – 1.500m (chủ yếu trongkhoảng 400 – 1.000m) Các trầm tích của hệ tầng phủ không chỉnh hợp lên các trầmtích của hệ tầng Trà Tân Tầng sét kết chứa Rotalid là tầng đá chắn khu vực tuyệtvời cho toàn bể Các vỉa cát xen kẽ nằm trong và ngay dưới tầng sét kết Rotalid

Trong mặt cắt hệ tầng đã gặp những hóa thạch bào tử phấn: F levipoli,

Magnastriatites, Pinuspollenites, Alnipollenites và ít vi cổ sinh synedra fondaena.

Đặc biệt trong phần trên của mặt cắt hệ tầng này, tập sét màu xám lục gặp khá phổ

biến hóa thạch đặc trưng nhóm Rotalia: Orbulina universa v.v… nên chúng được

gọi là tập sét Rotalid

Trầm tích Miocen giữa (N 1 2 ) – hệ tầng Côn Sơn (tập B2)

Hệ tầng Côn sơn được xác lập ở giếng khoan 15B – 1X

Hệ tầng Côn sơn gồm chủ yếu cát kết hạt thô – trung, bột kết (chiếm đến 80%), xen kẽ với các lớp sét kết màu xá m, nhiều màu dày 5-15m, đôi nơi có lớpthan mỏng Bề dày hệ tầng thay đổi từ 250 – 900m Trầm tích của hệ tầng đượcthành tạo trong môi trường sông (aluvi) ở phía Tây, đầm lầy – đồng bằng ven bờ ở

Trang 26

75-phía Đông, Đông Bắc Các thành tạo của hệ tầng Côn Sơn phủ không chỉnh hợp lêntrầm tích hệ tầng Bạch Hổ Trầm tích của hệ tầng nằm gần như ngang hoặc uốn nhẹtheo cấu trúc bề mặt nóc hệ tầng Bạch Hổ, nghiêng thoải về Đông và Trung tâm bể,không bị biến vị Đá hạt thô của hệ tầng có khả năng thấm, chứa tốt nhưng chúng lạinằm trên tầng chắn khu vực (sét kết Rotalid), nên hệ tầng này và các hệ tầng trẻ hơncủa bể xem như không có triển vọng chứa dầu khí.

Trong mặt cắt của hệ tầng gặp phổ biến các bào tử phấn: F Meridionalis,

Plorschuetzia levipoli, Acrostichum, Compositea v.v… và các trùng lỗ, rong tảo

như hệ tầng Bạch Hổ

Trầm Tích Miocen trên (N 1 3 ) – hệ tầng Đồng Nai (tập B3)

Hệ tầng Đồng Nai được mở ở giếng khoan 15G – 1X

Tuổi của hệ tầng được xác định theo tập hợp phong phú bào tử và

Nanoplakton: Stenoclaena Palustris Carya, Florschuetzia Meridionalis, nghèo hóa

đá foraminifera Hệ tầng Đồng Nai chủ yếu là cát kết hạt trung xen kẽ với bột và

các lớp sét mỏng màu xám hay nhiều màu, đôi khi gặp các vỉa carbonat hoặc thanmỏng, môi trường trầm tích đầm lầy – đồng bằng ven bờ ở phần phía Tây bể, đồngbằng ven bờ - biển nông ở phần phía Đông và Bắc bể Bề dày của hệ tầng thay đổitrong khoảng từ 500 – 750m Các trầm tích của hệ tầng nằm gần như ngang,nghiêng thoải về Đông và không bị biến vị

Trầm Tích Pliocen – Đệ tứ (N 2 ) – hệ tầng Biển Đông (tập A)

Hệ tầng Biển Đông chủ yếu là cát hạt trung – mịn với ít lớp mỏng bùn, sét màuxám nhạt chứa phong phú hóa đá và glauconit thuộc môi trường trầm tích biểnnông, ven bờ, một số nơi có gặp đá carbonat Chúng phân bố và trải đều khắp toàn

bể, với bề dày khá ổn định trong khoảng 400 – 700m Trầm tích của hệ tầng nằmgần như ngang, nghiêng thoải về Đông và không bị biến vị

Trong mặt cắt của hệ tầng gặp khá phổ biến các hóa đá foraminifera:

Pseudorotalia, Globorotalia, dạng rêu (Bryozoar), Molusca, san hô, rong và bào tử

phấn: Dacrydium, Polocarpus imbricatus v.v…

1.3.2 Đặc điểm kiến tạo

Bể Cửu Long là bể tách giãn nội lục điển hình, căng giãn theo cơ chế tạo bểsau cung do thay đổi tốc độ chuyển động thúc trồi xuống Đông Nam của địa khốiKon Tum trong suốt Oligoxen muộn đến cuối Mioxen sớm Bề dày trầm t ích

Trang 27

Kainozoi lấp đầy bồn trũng khá lớn, tại trung tâm bồn trũng lớn hơn 8 km Chúngđược phát sinh, phát triển trên vỏ lục địa được hình thành trong các giai đoạn kiếntạo khác nhau Bản đồ kiến tạo chi tiết được thể hiện trên hình 6

Bồn trũng Cửu Long có thể phân chia các cấu trúc địa chất như sau:

• Võng trung tâm Cửu Long chiếm một diện tích khá lớn ở phía Tây Bắc lô 09,nơi móng sụt tới độ sâu 6.5 – 7km Trục của võng kéo dài theo phương vĩtuyến sang đến lô 16, nơi móng sụt tới độ sâu 6.5 – 7km

• Võng Nam Cửu Long nằm ở lô 09, nơi móng sụt tới độ sâu 8 km Võng cóhình ovan, trục của võng kéo dài theo phương Đông Bắc

• Ngăn cách giữa Võng Trung Tâm và Võng Nam Cửu Long là gờ nâng trungtâm Gờ nâng được nâng cao chạy theo phương Đông Bắc – Tây Nam, đặctrưng cho phương phát triển chung của bình đồ cấu trúc bồn trũng Tại đâytập trung các mỏ dầu quan trọng như Bạch Hổ, Rồng, Sói, v.v…

Nhìn chung bồn trũng Cửu Long là một cấu trúc sụt võng không đối xứng cóphương Đông Bắc – Tây Nam Sườn Tây Bắc của bồn trũng có độ dốc thoải, địahình của móng có dạng bậc thang và thoải dần về phía lục địa Sườn Đông Nam củavõng sụt có độ dốc lớn đến 40 – 50o, đá móng được nhô cao đến độ sâu 1.500m

Lô 15-1 nằm phía Bắc – Đông Bắc bể Cửu Long thuộc ba đơn vị cấu trúcchính của bể Cửu Long (hình 6) Phía Đông, Đông Bắc thuộc đới phân dị Đông -Bắc, phía Nam, Tây Nam thuộc đới nâng Tây – Bắc, phía Bắc, Tây Bắc thuộc sườnnghiêng Tây – Bắc

Đới nâng Tây – Bắc

Nằm về phía Tây Bắc trũng Đông Bắc và được khống chế bởi các đứt gãychính phương Đông Bắc – Tây Nam

Về phía Tây Bắc đới nâng bị ngăn cách với sườn nghiêng Tây Bắc bởi mộ tđịa hào nhỏ có chiều dày trầm tích khoảng 6 km Đới nâng bao gồm cấu tạo VừngĐông và dải nâng kéo dài về phía Đông Bắc

Sườn nghiêng Tây Bắc

Là dải sườn bờ Tây Bắc của bể kéo dài theo hướng Đông Bắc – Tây Nam,chiều dày trầm tích tăng dần về phí a Tây Nam từ 1 đến 2.5 km Sườn nghiêng bị cắt

xẻ bởi các đứt gãy kiến tạo có hướng Đông Bắc – Tây Nam hoặc Tây Bắc – Đông

Trang 28

Nam, tạo thành các mũi nhô Trầm tích Đệ Tam của bể thường có xu hướng vátnhọn và gá đáy lên móng cổ granitonid trước Kainozoi.

Hình 6: Bản đồ kiến tạo Đông Bắc bể Cửu Long

Đới phân dị Đông Bắc

Nằm kẹp giữa đới nâng Đông Phú Quý và sườn n ghiêng Tây Bắc Đây là khuvực có chiều dày trầm tích trung bình và bị phân dị mạnh bởi các hệ thống đứt gãy

có đường phương Tây Bắc – Đông Nam, á kinh tuyến và á vĩ tuyến tạo thành nhiềuđịa hào, địa lũy nhỏ (theo bề mặt móng) Một số các cấu tạo như: Hồng Ngọc, Pearl,Turquoise, Diamond, Agate

1.3.3 Phân tầng cấu trúc

Theo kết quả nghiên cứu có thể phân chia bể Cửu long thành hai tầ ng cấu trúcsau:

Tầng cấu trúc dưới (đá móng trước Kainozoi).

Tầng cấu trúc trên ( trầm tích Kainozoi ).

Tầng cấu trúc dưới

Tầng cấu trúc dưới được thành tạo bởi đá biến chất, đá phun trào và các đá có

Trang 29

cấu trúc phức tạp về mặt hình thái, bề dày mặt tầng cấu trúc này rất phức tạp Chúngtrải qua nhiều giai đoạn hoạt động kiến tạo, hoạt động magma vào kỷ Mezozoi vàđầu Kainozoi gây ra biến bị mạnh và bị chia cắt bởi nhiều đứt gãy với biên độ lớn.Các đứt gãy chủ yếu phát triển theo hướng Đông Bắc – Tây Nam với sức phá hủylớn, mật độ cao Cùng với nó là sự phát triển hệ thống khe nứt, đới dập vỡ dày đặc.Ngoài ra còn gặp các hang hốc được thành tạo do quá trình nhiệt dịch Bên cạnh đócòn có hệ thống đứt gãy á vĩ tuyến với biên độ và chiều dài không lớ n, nhưng hệthống này góp phần làm phức tạp cho cấu trúc và hình thành bổ sung các đường dẫndầu khí Đặc điểm quan trọng và nổi bật của tầng cấu trúc này là khả năng chứa tốt.

Tầng cấu trúc trên

Tầng cấu trúc trên bao gồm các trầm tích Kainozoi phủ bất chỉnh hợp, chồng gối lênmóng Có thể chia tầng cấu trúc này thành ba phụ tầng cấu trúc :

Phụ tầng cấu trúc dưới: Eocen – Oligocen hạ.

Phụ tầng cấu trúc giữa: Olligocen thượng.

Phụ tầng cấu trúc trên: Miocen – Pliocen đệ tứ

Phụ tầng cấu trúc dưới: Eocen - Oligocen hạ

Tuy chưa gặp trầm tích Eocen bởi độ sâu quá lớn của nó ở các hố sụt lân cận.Nhưng theo tài liệu địa vật lý thì có thể gộp trầm tích Eocen và Oligocen là một bởichúng có tướng đá gần giống nhau, đó là trầm tích lục địa không phân lớp rõ ràng.Hơn nữa trũng Định An (Tây Nam bồn trũng Cửu Long) đã gặp trầm tích Eocen làcát đá cuội, sét xen kẽ mang đặc điểm trầm tích molass Phụ tầng này được phânbiệt với tầng cấu trúc dưới bằng bất chỉnh hợp nằm trên đá móng phong hóa, nứt nẻ,bào mòn mạnh Chiều dày tập trầm tích này thay đổi đáng kể, rất dày ở cánh phíaĐông và phần phía Bắc, mỏng ở phía Tây và đặc biệt ở đỉnh vòm vắng mặt hoàntoàn Đặc trưng của phụ tầng này là có các hệ thống đứt gãy xuyên vào móng, pháttriển liên tục và phức tạp tới mái của phụ tầng cấu trúc này Các lớp có góc dốc lớnhơn Phụ tầng này có tập sét dày phía trên từ vài mét tới vài trăm mét phủ lên lớpcát Các lớp sét đa phần là màu nâu và được lắng đọng trong điều kiện đầm lầy, cửasông Với chiều dày tập sét khá lớn nên đây là một tầng sinh, tầng chắn tốt

Phụ tầng cấu trúc giữa: Oligocen thượng (P 3 2 )

Phụ tầng cấu trúc giữa phủ bất chỉnh hợp góc với phụ tầng cấu trúc dưới Trầmtích của hệ tầng Trà Tân phân bố chủ yếu ở vòm phía Bắc và các cánh của cấu tạo

Ở võng trung tâm vắng mặt các tập trầm tích thuộc tuổi Oligocen Trà Tân 1 (P31tt1)

Trang 30

và Oligocen Trà Tân 2 (P32), chỉ có lớp sét than với chiều dày từ 64 – 100m là lớptrầm tích tuổi Oligocen phủ lên toàn bộ cấu tạo và là lớp chắn tốt đối với dầu khí.Với thành phần t hạch học của đá trầm tích bao gồm xen kẽ cát kết hạt mịn, trung vàsét xanh xám Môi trường lắng đọng trầm tích xảy ra trong điều kiện đầm lầy, venbiển Các lớp phân bố thoải hơn, hệ thống đứt gãy thưa hơn Chỉ còn một vài đứtgãy chính phát triển tới phụ tầng cấu trúc này Việc hình thành đứt gãy chờm nghịch

ở cánh phía Tây do sự nén ép mạnh từ phía Đông Ngoài các trầm tích trên phụ tầngcấu trúc này còn gặp: tuff, bazan, andezit có chiều dày từ vài mét tới 30m đây chính

là đá được thành tạo từ hai pha p hun trào ngắn xảy ra vào đầu Oligocen thượng là

sự kế thừa của quá trình nén ép này Đặc điểm của phụ tầng cấu trúc giữa là các lớptrầm tích có bề dày lớn ở cánh đặc biệt là cánh phía đông do tốc độ tích lũy trầmtích lớn và bắt đầu xen kẽ các pha biển ngắn

Phụ tầng cấu trúc trên: Miocen – Pliocen đệ tứ

Phụ tầng này bao gồm trầm tích của hệ tầng Bạch Hổ, Đồng Nai, Biển Đông

có tuổi từ Miocen tới nay Phụ tầng cấu trúc này phủ bất chỉnh hợp lên tất cả cáctầng cấu trúc cổ hơn Các lớp có xu hướng p hân bố nằm ngang chứng tỏ chế độ lúnchìm ổn định và bình ổn hơn tất cả các tầng cấu trúc cổ hơn Diện phân bố rộngkhắp khu vực nghiên cứu, nhưng có bề dày không đều Thành phần thạch học củatrầm tích là cát kết, bột kết Cát kết hạt thô gắn kết yếu Ở hệ tầng Bạch Hổ tập sétRotalid có bề dày 200 - 300m Ở hệ tầng Côn Sơn có tập cát dày gắn kết kém Môitrường lắng đọng trầm tích là ven bờ biển nông Các đứt gãy khu vực không cònđược phát hiện, chỉ còn đôi chỗ phát hiện sự kế thừa các đứt gãy sâu nhưng do nén

ép trầm tích không đều vì vậy đứt gãy xuất hiện yếu do tác động của trọng lực.Tầng sinh chủ yếu là hệ tầng Bạch Hổ và đá chứa chủ yếu là các tậ p cát xen

kẽ Trầm tích của hệ tầng Biển Đông có cấu trúc đơn giản, phân lớp đơn điệu Cáclớp trầm tích gần như nằm ngang

Qua sự so sánh các phụ tầng cấu trúc cho thấy có sự kế thừa địa hình của cáctầng cấu trúc cổ Phụ tầng cấu trúc trên có chiều dày lớn và sự thay đổi bình đồ rõrệt Ở phần dưới còn tồn tại các nếp uốn, đứt gãy thì khi q ua tầng sét Rotalid khôngcòn thấy sụ tồn tại nếp uốn cũng như đứt gãy

1.3.4 Về hệ thống đứt gãy

Hệ thống đứt gãy ở bể Cửu Long có thể nhóm lại thành bốn hệ thống chínhdựa trên đường phương của chúng: Đông – Tây, Đông Bắc – Tây Nam, Bắc Nam vànhóm đứt gãy khác Hệ thống đứt gãy Đông – Tây, Đông Bắc – Tây Nam, Bắc Nam

Trang 31

đóng vai trò quan trọng hơn cả Ngoài hai hệ thống đứt gãy sâu, trong bể Cửu Longcòn tồn tại các đứt gãy có độ kéo dài nhỏ hơn.

Phần lớn các đứt gãy quan trọng trong lô 15 -1 là đứt gãy thuận kế thừa từmóng và phát triển đồng sinh với quá trình lắng đọng trầm tích Các đứt gãy nghịchhiện diện ít do sự nén ép địa phương hoặc nén ép địa tầng Hệ thống đứt gãy chạytheo phương Tây Bắc – Đông Nam bao gồm các đứt gãy lớn Hệ thốn g đứt gãy sâutheo hướng Đông Bắc – Tây Nam gồm hai đứt gãy chạy song song Đứt gãy thứnhất chạy dọc theo rìa biển, đứt gãy thứ hai chạy dọc theo rìa Tây Bắc khối nângCôn Sơn Các đứt gãy có góc cắm 10 – 15o so với phương thẳng đứng, hướng cắm

về trung tâm bồn trũng

Theo kết quả khôi phục lịch sử chôn vùi cho thấy các cấu tạo X, Sư Tử Vàng

và Sư Tử Trắng cho thấy chỉ còn một số ít đứt gãy nhỏ vẫn tiếp tục hoạt động trongMiocen muộn

1.4 Lịch sử phát triển địa chất

Bể trầm tích Cửu Long là một bể tạo rift đầu Đệ Tam Các quá trình và hoạtđộng địa chất có vai trò quyết định tới sự phát triển của bể, chúng ta sẽ tổng hợp cácquá trình đó để có thể thấy rõ rà ng hơn lịch sử phát triển địa chất của bể

Thời kỳ trước tạo rift

Trước Đệ Tam, đặc biệt là từ Jura muộn đến Paleocen là thời gian thành tạo vànâng cao đá móng magma xâm nhập (các thành tạo nằm dưới các trầm tíchKainozoi ở bể Cửu Long) Các đá này gặp rất phổ biến ở khắp lục địa Nam ViệtNam Do ảnh hưởng của quá trình va mảng Ấ n Độ vào mảng Âu – Á và hình thànhđới hút chìm dọc cung Sunda (50 – 43.5 triệu năm) Các thành tạo đá xâm nhập,phun trào Mesozoi muộn – Kainozoi sớm và trầm tích cổ trước đó đã trải qua thời

kỳ dài bóc mòn, giập vỡ khối tảng, căng giãn khu vực hướng Tây Bắc – Đông Nam

Sự phát triển của các đai mạch lớn, kéo dài có hướng Đô ng Bắc – Tây Nam thuộcphức hệ Cù Mông và Phan Rang tuổi tuyệt đối 60 – 30 triệu năm đã chứng minhcho điều đó

Đây là giai đoạn san bằng địa hình trước khi hình thành bể trầm tích CửuLong Địa hình bề mặt bóc mòn của móng kết tinh trong phạm vi khu vực bể lúcnày không hoàn toàn bằng phẳng, có sự đan xen giữa các thung lũng và đồi, núithấp Chính hình thái địa hình mặt móng này đóng vai trò khá quan trọng trong việcphát triển trầm tích lớp phủ kế thừa vào cuối Eocen, đầu Oligocen

Trang 32

Thời kỳ đồng tạo rift

Được khởi đầu vào cuối Eocen, đầu Oligocen do tác động của các biến cố kiếntạo vừa nêu với hướng căng giãn chính là Tây Bắc – Đông Nam Hàng loạt đứt gãyhướng Đông Bắc – Tây Nam đã được hình thành do sụt lún mạnh và căng giãn Cácđứt gãy chính là những đứt gãy dạng gàu xúc, cắm về Đông Nam Còn các đứt gãyhướng Đông Bắc – Tây Nam lại do tác động bởi biến cố kiến tạo khác

Vào đầu Kainozoi do sự va mạnh ở góc hội tụ Tây Tạng giữa các mảng Ấn Độ

và Âu – Á làm vi mảng indosinia bị thúc trồi xuống Đông Nam theo các đứt gãytrượt bằng lớn như đứt gãy S ông Hồng, Sông Hậu, Sông Hậu – Three Pagoda, với

xu thế trượt trái ở phía Bắc và trượt phải ở phía Nam tạo nên các trũng Đệ Tam trêncác đới khâu ven rìa, trong đó có bể Cửu Long Kết quả là đã hình thành các hệthống đứt gãy có hướng cận kề chúng

Trong Oligocen giãn đáy biển theo hướng Bắc – Nam tạo Biển Đông bắt đầu

từ 32 triệu năm Trục giãn đáy biển phát triển lấn dần xuống Tây Nam và đổi hướng

từ Đông – Tây sang Đông Bắc – Tây Nam vào cuối Oligocen Các quá trình này đãgia tăng các hoạt động tách giãn và đứt gãy ở bể Cửu Long trong Oligocen và nén

ép vào cuối Oligocen

Do các hoạt động kiến tạo nêu trên, ở bể Cửu Long các đứt gãy c hính điểnhình là các đứt gãy dạ ng gàu xúc, phương Đông Bắc – Tây Nam cắm về Đông Nam,một số có hướng Đông – Tây, nhiều bán địa hào, địa hào cùng hướng phát triển theocác đứt gãy được hình thành Các bán địa hào, địa hào này được lấp đầy nhanh bằngcác trầm tích vụn thô, phun trào chủ yếu thành phần bazơ – trung tính và trầm tíchtrước núi Trong thời gian đầu tạo bể có lẽ do chuyển động sụt lún khối tảng, phân

dị nên tại các đới trũng khác nhau có thể có các thời kỳ gián đoạn, bào mòn trầmtích khác nhau Đặc điểm phát triển các bề mặt không chỉnh hợp ở thời kỳ này mangtính địa phương cao và cần được lưu ý khi tiến hành liên kết, đối sánh thạch địatầng Vào Oligocen sớm, bao quanh và nằm gá lên các khối nhô móng kết tinh phổbiến là trầm tích nguồn lục địa – sông ngòi và đầm hồ, với các tập sét dày

Quá trình tách giãn tiếp tục phát triển làm cho bể lún chìm sâu, rộng hơn Các

hồ, trũng trước núi trước đó được mở rộng, sâu dần liên thông nh au và có chế độtrầm tích khá đồng nhất Các tầng trầm tích hồ dày, phân bố rộng được xếp vào hệtầng Trà Tân được thành tạo, mà chủ yếu là sét giàu vật chất hữ u cơ màu nâu, nâuđen tới đen Các hồ phát triển trong các địa hào riêng biệt được liên thông nh au, mởrộng dần và có hướng phát triển kéo dài theo phương Đông Bắc – Tây Nam, đây

Trang 33

cũng là phướng phát triển ưu thế của hệ thống đứt gãy mở bể Các trầm tích thuộctầng Trà Tân dưới có diện phân bố hẹp, thường vắng mặt ở phần rìa bể, phần kề vớicác khối cao địa lũy và có dạng nêm điển hình, chúng phát triển dọc theo các đứtgãy với bề dày thay đổi nhanh Các trầm tích giàu s ét của tầng Trà Tân giữa đượctích tụ sau đó, phân bố rộng hơn, bao phủ trên hầu khắp các khối cao trong bể vàcác vùng cận rìa bể.

Hoạt động nén ép vào cuối Oligocen muộn đã đẩy trồi các khối móng sâu, gâynghịch đảo trong trầm tích Oligocen ở trung tâm các đới trũng chính, làm tái hoạtđộng các đứt gãy thuận ở dạng ép chờ m trượt bằng và tạo nên các cấu trúc trồi, cáccấu tạo dư ơng/âm hình hoa, phát sinh các đứt gãy nghịch ở một số nơi như trên cấutạo Rạng Đông, phía Tây cấu tạo Bạch Hổ và một số khu vực mỏ Rồng Đồng thờixảy ra hiện tượng bào mòn và vát mỏng mạch các trầm tích thuộc tầng Trà Tân trên Các nếp uốn trong trầm tích Oligocen ở bể Cửu Long được hình thành với bốn

3 Các cấu tạo hình hoa được thành tạo vào Oligocen muộn và chỉ được pháthiện ở trong các địa hào chính (cấ u tạo Gió Đông, Sông Ba (15B) v.vv …)

4 Các nếp lồi, bán lồi gắn với nghịch đảo trầm tích được thành tạo vào cuốiOligocen, được phát hiên ở phía Bắc t rung tâm

Sự kết thúc hoạt động của phần lớn các đứt gãy và không chỉnh hợp góc rộnglớn ở nóc trầm tích Oligocen đã đánh dấ u sự kết thúc đồng tạo rift

Thời kỳ sau tạo rift

Vào Miocen sớm, quá trình giãn đáy Biển Đông theo phương Tây Bắc – ĐôngNam đã yếu đi và nhanh chóng kết thúc vào cuối Miocen sớm (17 triệu năm), tiếptheo là quá trình nguội lạnh vỏ Trong thời kỳ đầu Miocen sớm các hoạt động đứtgãy vẫn còn xảy ra yếu và chỉ chấm dứt hoàn toàn từ Miocen giữa – Hiện tại Cáctrầm tích của thời kỳ sau rift có đặc điểm chung là phân bố rộng, không bị biến vị,uốn nếp và gần như nằm ngang

Tuy nhiên, ở bể Cửu Long các quá trình này vẫn gây ra các hoạt động tái căng

Trang 34

giãn yếu, lún chìm từ từ trong Miocen sớm và hoạt động núi lửa ở một số nơi, đ ặcbiệt ở phần Đông Bắc bể Vào cuối Miocen sớm trên phần lớn diện tích bể, nóctrầm tích Miocen dưới – hệ tầng Bạch Hổ đư ợc đánh dấu bằng biến cố chìm sâu bểvới sự thành tạo tầng sét Rotalid biển nông rộng khắp và tạo nên tầng đánh dấu địatầng và tầ ng chắn khu vực khá tốt cho toàn bể Cuối Miocen sớm toàn bể trải quaquá trình nâng khu vực và bóc mòn yếu, bằng chứng là tần g sét Rotalid chỉ bị bàomòn từng phần và vẫn duy trì tính phân bố khu vực của nó.

Vào Miocen giữa, lún chìm nhiệt tiếp tục gia tăng và biển đã có ảnh hưởngrộng lớn đến hầu hết các vùng quanh Biển Đông Cuối thời kỳ này có một pha nânglên, dẫn đến sự tái thiết lập điều kiện môi trường sông ở phần Tây Nam bể còn ởphần Đông, Đông Bắc bể điều kiện ven bờ vẫn tiếp tục được duy trì

Miocen muộn được đánh dấu bằng sự lún chìm mạnh ở Biển Đông và phần rìacủa nó, khởi đầu quá trình thành tạo thềm lục địa hiện đại Đông Việt Nam Núi lửahoạt động tích cực ở phần Đông Bắc bể Củu Long, Nam Côn Sơn và phần đất liềnNam Việt Nam Từ Miocen muộn bể Cửu Long đã hoàn toàn thông với bể NamCôn Sơn và hệ thống sông Cửu Long, sông Đồng Nai trở thành nguồn cung cấptrầm tích cho cả hai bể Các trầm tích thô được tích tụ trong môi trường ven bờ ởphần Nam bể và trong môi trường biển nông ở phần Đông Bắc bể

Pliocen là thời gian biển tiến rộng lớn và có lẽ đây là lần đầu tiên toàn bộ vùngBiển Đông hiện tại nằm dưới mực nước biển Các trầm tích hạt mịn hơn được vậnchuyển vào vùng bể Cửu Long và xa hơn tích tụ vào vùng bể Nam Côn Sơn trongđiều kiện nước sâu hơn

1.5 Tiềm năng dầu khí

Bồn trũng Cửu Long được đánh giá là có tiềm năng dầu khí lớn nhất ViệtNam với khoảng 700 – 800 triệu m3 dầu Việc mở đầu phát hiện dầu trong đá móngphong hoá nứt nẻ ở mỏ Bạch Hổ là sự kiện nổi bật nhất, không những làm thay đổiphân bố trữ lượng và đối tượng khai thác mà còn tạo ra một quan niệm địa chất mớicho việc thăm dò khai thác dầu khí ở thềm lục địa Việt Nam

Trang 35

Hình 7: Sơ đồ tầng sinh dầu trong trầm tích Oligocen - Eocen bể Cửu Long

Độ giàu vật chất hữu cơ

Tầng Miocen dưới có carbon hữu cơ thuộc loại trung bình, các giá trị S1 và S2rất thấp thuộc loại nghèo, Ronhỏ hơn 0,5 %, Tmaxnhỏ hơn 434oC chưa đạt điều kiệntrưởng thành nên chưa có khả năng sinh hydrocarbon (HC) Vì vậy, dầu khí chứatrong tầng này là các sản phẩm di cư từ nơi khác đến

Tầng Oligocen trên rất phong phú vật chất hữu cơ (loại rất tốt) TOC dao động

từ 3,5% đến 6,1% Wt, đôi nơi tới 11 – 12%, các chỉ tiêu S1 và S2 cũng có giá trị rấtcao: S1 từ 4 – 12 kg HC/t.đá Ở các trũng sâu giá trị này có thể rất cao, như các mẫu

Ngày đăng: 14/10/2014, 08:46

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1: Bản Đồ Vị Trí Mỏ X Bể bao gồm các lô: 9, 15, 16, 17 và một phần của các lô 1, 2, 25, 31, bể đang được  thăm  dò và khai  thác  bởi  các  nhà  điều  hành  Cửu  Long  JOC,  Vietsovpetro, Petronas Carigali Vietnam…. - Xác định thành phần nước khai thác của dầu từ đá móng phần Tây Nam mỏ X
Hình 1 Bản Đồ Vị Trí Mỏ X Bể bao gồm các lô: 9, 15, 16, 17 và một phần của các lô 1, 2, 25, 31, bể đang được thăm dò và khai thác bởi các nhà điều hành Cửu Long JOC, Vietsovpetro, Petronas Carigali Vietnam… (Trang 8)
Hình 6: Bản đồ kiến tạo Đông Bắc bể Cửu Long - Xác định thành phần nước khai thác của dầu từ đá móng phần Tây Nam mỏ X
Hình 6 Bản đồ kiến tạo Đông Bắc bể Cửu Long (Trang 28)
Hình 7: Sơ đồ tầng sinh dầu trong trầm tích Oligocen - Eocen bể Cửu Long - Xác định thành phần nước khai thác của dầu từ đá móng phần Tây Nam mỏ X
Hình 7 Sơ đồ tầng sinh dầu trong trầm tích Oligocen - Eocen bể Cửu Long (Trang 35)
Bảng 1: Các đặc tính cơ bản của tầng đá mẹ bể Cửu Long - Xác định thành phần nước khai thác của dầu từ đá móng phần Tây Nam mỏ X
Bảng 1 Các đặc tính cơ bản của tầng đá mẹ bể Cửu Long (Trang 36)
Sơ đồ phân bố gradient địa nhiệt tính từ đáy biển xuống tới móng (hình 9) cho thấy ở đới nâng trung tâm có gradient địa nhiệt cao nhất, bao gồm các cấu tạo Rồng, Bạch Hổ và Rạng Đông ở đới nâng phía Đông. - Xác định thành phần nước khai thác của dầu từ đá móng phần Tây Nam mỏ X
Sơ đồ ph ân bố gradient địa nhiệt tính từ đáy biển xuống tới móng (hình 9) cho thấy ở đới nâng trung tâm có gradient địa nhiệt cao nhất, bao gồm các cấu tạo Rồng, Bạch Hổ và Rạng Đông ở đới nâng phía Đông (Trang 38)
Hình 10: Bản đồ hệ thống giếng khu vực Tây Nam mỏ X - Xác định thành phần nước khai thác của dầu từ đá móng phần Tây Nam mỏ X
Hình 10 Bản đồ hệ thống giếng khu vực Tây Nam mỏ X (Trang 43)
Hình 11: Liên thông giữa giếng bơm ép và giếng khai thác phía Tây Nam mỏ X - Xác định thành phần nước khai thác của dầu từ đá móng phần Tây Nam mỏ X
Hình 11 Liên thông giữa giếng bơm ép và giếng khai thác phía Tây Nam mỏ X (Trang 45)
Hình 12: Nước khai thác mỏ X Hình 13: Nước khai thác mỏ Rạng Đông - Xác định thành phần nước khai thác của dầu từ đá móng phần Tây Nam mỏ X
Hình 12 Nước khai thác mỏ X Hình 13: Nước khai thác mỏ Rạng Đông (Trang 50)
Bảng 3: Thành phần khoáng vật thứ sinh mỏ X - Xác định thành phần nước khai thác của dầu từ đá móng phần Tây Nam mỏ X
Bảng 3 Thành phần khoáng vật thứ sinh mỏ X (Trang 52)
Bảng 4: Hàm lượng nguyên tố hóa học của các loại nước phần Tây Nam mỏ X - Xác định thành phần nước khai thác của dầu từ đá móng phần Tây Nam mỏ X
Bảng 4 Hàm lượng nguyên tố hóa học của các loại nước phần Tây Nam mỏ X (Trang 56)
Bảng 5: Bảng số liệu tổng hợp hàm lượng các nguyên tố trong các mẫu nước mỏ X - Xác định thành phần nước khai thác của dầu từ đá móng phần Tây Nam mỏ X
Bảng 5 Bảng số liệu tổng hợp hàm lượng các nguyên tố trong các mẫu nước mỏ X (Trang 62)
Bảng 6: Hàm lượng của Natri và Sunfat theo tính toán - Xác định thành phần nước khai thác của dầu từ đá móng phần Tây Nam mỏ X
Bảng 6 Hàm lượng của Natri và Sunfat theo tính toán (Trang 67)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm