Trong công cuộc công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước, năng lượng để phục vụ cho các ngành kinh tế đòi hỏi rất cao, trong đó năng lượng dầu khí đóng một vai trò hết sức quan trọng, sự phát triển của nó kéo theo nhiều ngành kinh tế khác phát triển. Nhờ vào những ưu việt của khoáng sản này như: có nguồn gốc tự nhiên, có trữ lượng lớn, có ảnh hưởng lớn đến nền kinh tế quốc dân nên trong những năm gần đây công nghệ thăm dò và khai thác dầu khí ngày càng được quan tâm và nó đã có những bước phát triển mạnh mẽ, rõ rệt. Các bồn trũng thuộc lãnh hải đặc quyền kinh tế Việt Nam là những bể trầm tích có tiềm năng dầu khí lớn. Bồn trũng Cửu Long nói chung và cấu tạo Mèo Trắng nói riêng có các loại tầng chứa dầu không chỉ là các tập cát kết Oligocen và Mioxen hạ mà phần lớn là đá móng granit nứt nẻ trước Kainazoi
Trang 1ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP
Nghiên cứu đặc điểm địa chất bể Cửu Long
va thiết kế giếng khoan M-1X trên cấu tạo
Mèo Trắng
Trang 2LỜI MỞ ĐẦU
Trong công cuộc công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước, năng lượng để phục
vụ cho các ngành kinh tế đòi hỏi rất cao, trong đó năng lượng dầu khí đóng một vai tròhết sức quan trọng, sự phát triển của nó kéo theo nhiều ngành kinh tế khác phát triể n.Nhờ vào những ưu việt của khoáng sản này như: có nguồn gốc tự nhiên, có trữ lượnglớn, có ảnh hưởng lớn đến nền kinh tế quốc dân nên trong những năm gần đây côngnghệ thăm dò và khai thác dầu khí ngày càng được quan tâm và nó đã có những bướcphát triển mạnh mẽ, rõ rệt
Các bồn trũng thuộc lãnh hải đặc quyền kinh tế Việt Nam là những bể trầm tích
có tiềm năng dầu khí lớn Bồn trũng Cửu Long nói chung và cấu tạo Mèo Trắng nóiriêng có các loại tầng chứa dầu không chỉ là các tập cát kết Oligocen và Mioxen hạ màphần lớn là đá móng granit nứt nẻ trước Kainazoi
Cho đến nay đã trải qua hơn chục năm nghiên cứu và khai thác xong một số
mỏ chứa dầu khí nhưng vẫn còn môt số mỏ có tiềm năng dầu khí lớn vẫn chưa khaithác Những năm gần đây sản lượng khai thác ở các vùng mỏ liên tục giảm, bởi vậycông tác tìm kiếm thăm dò luôn được đặt lên hàng đầu đặc biệt là tiến hành tận thăm
dò vùng mỏ Bạch Hổ Kết quả đã phát hiện vùng cấu tạo có triển vọng lớn và đặt tên làcấu tạo Mèo Trắng Để tiếp tục giải quyết các nhiệm vụ địa chất đặt ra tại vùng cấu
tạo này em đã thực hiện đề tài tốt nghiệp “Nghiên cứu đặc điểm địa chất bể Cửu
tế và nhu cầu thiết thực phục vụ cho việc nghiên cứu, đánh giá trữ lượ ng và tổ chứcthiết kế khai thác mỏ
Nội dung luận văn gồm 09 chương và được bố trí theo bố cục :
PHẦN I : ĐẶC ĐIỂM ĐỊA CHẤT BỂ CỬU LONG
Chương 1 : ĐẶC ĐIỂM ĐỊA LÝ VÀ NHÂN VĂN
Chương 2 : LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU – TÌM KIẾM THĂM DÒ DẦU KHÍChương 3 : ĐẶC ĐIỂM CẤU TRÚC ĐỊA CHẤT
Chương 4 : HỆ THỐNG DẦU KHÍ
PHẦN II : THIẾT KẾ GIẾNG KHOAN TÌM KIẾM M - 1X
Chương 5 : ĐẶC ĐIỂM ĐỊA CHẤT KHU VỰC TÂY NAM MỎ BẠCH HỔChương 6 : ĐÁNH GIÁ TIỀM NĂNG DẦU KHÍ CẤU TẠO M
Chương 7 : THIẾT KẾ GIẾNG KHOAN TÌM KIẾM M -1X
Trang 3Chương 8 : NGHIÊN CỨU ĐỊA CHẤT - ĐỊA VẬT LÝ GIẾNG KHOANChương 9 : AN TOÀN LAO ĐỘNG VÀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG
Qua đây,em bày tỏ lòng biết ơn đến thầy giáo Nguyễn Kim Long, chuyên viênNguyễn Lâm Anh, kỹ sư Phạm Việt Âu và các cán bộ phòng Địa chất thăm dò (Việ nNIPI–Vietsovpetro) , các thầy cô giáo trong Bộ môn Địa chất Dầu Khí, trường Đại học
Mỏ - Địa Chất Hà Nội đã tận tình hướng dẫn và chỉ bảo em hoàn thành luận văn này
Do khả năng còn nhiều hạn chế, nên luận văn không sao tránh khỏi sai sót, emrất mong nhận được sự đóng góp và chỉ bảo của các thầy, các cô và các bạn sinh viên
Hà Nội, ngày 14 tháng 06.năm 2011
Sinh viên,Lưu Đức Diễn
Trang 4MỤC LỤC
MỤC LỤC
PHẦN I 1
ĐẶC ĐIỂM ĐỊA CHẤT BỂ CỬU LONG 1
CHƯƠNG 1: 1
ĐẶC ĐIỂM ĐỊA LÝ VÀ NHÂN VĂN 1
1.1 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA LÝ TỰ NHIÊN 1
1.2 ĐẶC ĐIỂM KINH TẾ NHÂN VĂN 5
1.3 THUẬN LỢI – KHÓ KHĂN 9
CHƯƠNG 2 10
LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU – TÌM KIẾM THĂM DÒ DẦU KHÍ 10
2.1 GIAI ĐOẠN TỪ TRƯỚC 1975 t ới 1984 11
2.2 GIAI ĐOAN TỪ 1990 tới 1996 11
2.3 GIAI ĐOẠN TỪ 2003 tới 2005 12
2.4 GIAI ĐOẠN TỪ 2006 tới 2011 13
CHƯƠNG 3 14
ĐẶC ĐIỂM CẤU TRÚC ĐỊA CHẤT 14
3.1 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA TẦNG TRẦM TÍCH 15
3.2 ĐẶC ĐIỂM KIẾN TẠO MỎ BẠCH HỔ 28
3.3 LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN ĐỊA CHẤT BỂ CỬU LONG 36
CHƯƠNG 4 41
HỆ THỐNG DẦU KHÍ 41
4.1 ĐẶC ĐIỂM ĐÁ MẸ 41
4.2 ĐÁ CHỨA 43
4.3 ĐẶC ĐIỂM TẦNG CHẮN 45
4.4 ĐẶC ĐIỂM BẪY CHỨA 45
4.5 TIỀM NĂNG DẦU KHÍ MỎ BẠCH HỔ 46
PHẦN II 48
THIẾT KẾ GIẾNG KHOAN TÌM KIẾM M - 1X 48
CHƯƠNG 5 48
ĐẶC ĐIỂM ĐỊA CHẤT KHU VỰC TÂY NAM MỎ BẠCH HỔ 48
5.1 VỊ TRÍ CẤU TẠO M 48
5.2 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA TẦNG CẤU TẠO M 49
CHƯƠNG 6: 70
ĐÁNH GIÁ TIỀM NĂNG DẦU KHÍ CẤU TẠO M 71
6.2 CÁC PHƯƠNG PHÁP TÍNH TRỮ LƯỢNG 73
6.2 TÍNH TRỮ LƯỢNG CẤU TẠO M LÔ 09-1 74
CHƯƠNG 7: 82
THIẾT KẾ GIẾNG KHOAN TÌM KIẾM M -1X 82
7.1 MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ CỦA GIẾNG KHOAN MT -1X 82
7.2 CƠ SỞ LỰA CHỌN VỊ TRÍ ĐẶT GIẾNG KHOAN M-1X 82
7.3 MÔ TẢ CỘT ĐỊA TẦNG DỰ KIẾN 85
7.4 DỰ KIẾN NHIỆT ĐỘ VÀ ÁP SUẤT VỈA 86
7.5 DỰ KIẾN KHẢ NĂNG PHỨC TẠP CÓ THỂ GẶP KHI KHOAN 90
CHƯƠNG 8 94
Trang 5NGHIÊN CỨU ĐỊA CHẤT - ĐỊA VẬT LÝ GIẾNG KHOAN 94
8.1 PHƯƠNG ÁN LẤY MẪU 94
8.2 NGHIÊN CỨU MẪU TRONG PHÒNG THÍ NGHIỆM 96
8.3 NGHIÊN CỨU ĐỊA VẬT LÝ GIẾNG KHOAN 96
8.4 DỰ TÍNH THỜI GIAN THI CÔNG VÀ CHI PHÍ KHOAN GIẾNG 97
M-1X 98
CHƯƠNG 9 AN TOÀN LAO ĐỘNG VÀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG 99
9.1 CÔNG TÁC AN TOÀN LAO ĐỘNG 100
9.2 BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG BIỂN VÀ LÒNG ĐẤT 102
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 103
KẾT LUẬN 103
KIẾN NGHỊ 104
Trang 6DANH MỤC HÌNH VẼ
Hình I.1: Sơ đồ vị trí lô 09-1 1
Hình III.1 Cột địa tầng tổng hợp mỏ Bạch Hổ 15
Hình III.2 Bản đồ cấu tạo mặt móng mỏ Bạch Hổ 35
Hình V.3 Bản đồ cấu tạo tầng móng cấu tạo M 59
Hình V.4 Bản đồ cấu tạo SH-11 cấu tạo M 60
Hình V.5 Bản đồ cấu tạo SH-10 cấu tạo M 61
Hình V.6 Bản đồ cấu tạo SH-8 cấu tạo M 62
Hình V.7 Bản đồ cấu tạo SH- 7 cấu tạo M 63
Hình V.8 Bản đồ cấu tạo SH- 5 cấu tạo M 64
Hình V.9 Bản đồ cấu tạo SH-3 cấu tạo M 65
Hình V.10 Mặt cắt địa chất theo tuyến AB qua cấu tạo M 66
Hình V.11 mặt cắt địa chấn tuyến CD qua cấu tạo M 66
Hình V.12 Băng địa chấn tổng hợp giếng khoan qua mỏ Bạch Hổ BH- 7 69
Hình VI.1 Phân cấp trữ lượng P1, P2, P3 72
Hình VI.2 Tài liệu ĐVLGK giếng BH - 1203 75
Hình VI.3 Băng ĐVLGK qua giêngs khoan R-3 76
Hình VII.1 Cột địa tầng tổng hợp dự báo của cấu tạo M 84
Trang 7DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 4.1 Bảng trữ lượng dầu, khí đã được phê duyệt của mỏ Bạch Hổ 47
Bảng 5.1 Kết quả tổng hợp các thông số của cấu tạo M 67
Bảng 5.2 Bảng tóm tắt ranh giới địa chất, các tầng phản xạ, chiều của mạch địa chấn, và màu của các tầng phản xạ để sử dụng cho công việc minh giải .68
Bảng 5.3 Kết quả thử vỉa của các giếng thăm dò mỏ Bạch Hổ 69
Bảng 5.4 Kết quả thử vỉa của các giếng thăm dò mỏ Rồng 70
Bảng 6.1 Bảng giá trị chiều dày hiệu dụng của cấu tạo M 78
Bảng 6.2 Bảng giá trị độ rỗng cấu tạo M 78
Bảng 6.3 Bảng giá trị độ bão hòa nước 79
Bảng 6.4 Bảng tính hệ số thể tích của dầu 79
Bảng 6.5 Các thông số tính trữ lượng và tiềm năng cấu tạo M 81
Bảng 7.1 Tọa độ và quỹ đạo của giếng khoan M-1X 83
Bảng 7.2 Bảng giá trị nhiệt độ cấu tạo M 86
Bảng 7.3 Kết quả tính toán áp suất vỉa dự báo trên ranh giới các phân vị địa tầng 88
Bảng 7.4 89
Bảng 7.5 Bảng tính tỷ trọng dung dịch cho giếng M-1X 92
Bảng 7.6 Bảng tính giá trị áp suất nứt vỉa .93
Bảng 8.1 Tổng hợp phương án đo địa vật lý giếng khoan trong GK M-1X 97
Bảng 8.2 Bảng dự tính thời gian thi công giếng khoan M-1X 98
Bảng 8.3 Bảng dự tính chi phí thi công giếng khoan M-1X 99
Trang 8PHẦN I ĐẶC ĐIỂM ĐỊA CHẤT BỂ CỬU LONG
CHƯƠNG 1:
ĐẶC ĐIỂM ĐỊA LÝ VÀ NHÂN VĂN
1.1 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA LÝ TỰ NHIÊN
1.1.1.Vị trí địa lý
Hình I.1: Sơ đồ vị trí lô 09-1Bồn trũng Cửu Long thuộc phần lục địa phía Nam Việt Nam Bồn trũng CửuLong nằm ở thềm lục địa Nam Việt Nam có tọa độ 90 – 110 vĩ Bắc, 106030’ – 1090kinh đông Bể Cửu Long là bể rift Đệ Tam sớm, nằm chủ yếu trên thềm lục địa phíaNam Việt Nam và một phần đất liền thuộc khu vực cửa sông MeKong Bể kéo dài theohướng ĐB-TN với kích thước 110 x 360 km, diện tích khoảng 36.000km2, chạy dài
400 km theo hướng ĐB-TN Phía Tây bồn trũng Cửu Long giới hạn bởi đường bờ từPhan Thiết đến Cà Mau, Phía Tây Nam được ngăn cách với bồn trũng Malay -Thổ Chu
Trang 9bởi đới nâng Khorat-Natuna, còn phía Tây Bắc nằm trên phần rìa của địa khối Kontum
và phía Đông Bắc là đới cắt trượt Tuy Hoà ngăn cách với bể Phú Khánh Bể được lấpđầy chủ yếu bởi trầm tích lục nguyên Đệ Tam, chiều dày lớn nhất tại Trung tâm bể cóthể đạt tới 8-9 km Lô 09 -1 nằm cách bờ biển Vũng Tàu khoảng 80 -100(Km) về phíaĐông Nam với diện tích là 985 km2 Tại đây mực nước biển dao động từ 50 đến 55m,
đã phát hiện ra nhiều mỏ dầu khí quan trọng
1.1.2 Đặc điểm địa hình
Khu vực thành phố Vũng Tàu địa hình nói chung là b ằng phẳng, có hai ngọnnúi không cao: núi Lớn (245 m), núi Nhỏ (136 m) chạy dài theo hướng Tây Bắc -Đông Nam tạo thành một bức tường chắn gió cho cảng Vũng Tàu
1.1.2.1 Đặc điểm đường bờ biển
Thềm lục địa phía Nam Việt Nam được kéo dài dọc từ bờ biển P han Thiết đến
Hà Tiên Bờ biển hiện tại của thềm phát triển kéo dài theo hướng Đông Bắc - Tây Nam,khi được 600 km từ Phan Thiết thì đổi hướng gần như vuông góc với hướng Tây - Bắc và
có thể chia ra làm 3 kiểu đường bờ khác nhau
Phần Đông Bắc là bờ biển s ụt lở, bào mòn do tác động của sóng biển
Phần giữa: kéo dài khoảng 120 km là bờ châu thổ tích tụ điển hình, được hìnhthành do vật liệu trầm tích của hệ thống sông Cửu Long, sóng thuỷ triều và dòng chẩyven bờ tạo ra Đặc điểm thực vật đặc trưng của hai vùng này là sự phát triển rất mạnhcủa xú, vẹt Diện tích bao phủ hiện tại của loại cây này có thể đạt tới trên 500 km2
Phần Tây Nam - khu vực mũi Cà Mau là bờ bào mòn tích tụ
1.1.2.2 Địa hình đáy biển
Bể Cửu Long thuộc thềm lục địa phía Nam Việt Nam, kéo dài từ bờ biển PhanThiết đến Hà Tiên, bao gồm một phần của biển Đông và một phần của Vịnh Thái Lan
Ở Đông Bắc và phía Đông đảo Phú Quý thì thềm lục địa đặc trưng bởi độ dốc lớn,chiều rộng hẹp, ở phía Tây thềm lục địa có nơi chiều rộng đạt hơn 100 km trên đườngđẳng sâu nước 20 m Đặc Biệt ở đới cắt Tuy Hoà, Đông Nam có đới nâng Côn Sơn,phía Tây Nam chặn bởi đới nâng Korat Natuna Trên nền thềm lục địa bằng phẳng,thỉnh thoảng xuất hiện một số đảo nhỏ tạo ra sự phân cắt địa hình mạnh Thềm lục địaNam Việt Nam hội tụ nhiều con sông, lớn nhất là sông Cửu Long có lưu lượng nước228.104 m3/phút, cho lượng phù sa 0.25 kg/m3 Mỏ Bạch Hổ là mỏ dầu lớn đầu tiênđược phát hiện và đưa vào khai thác từ năm 1986 đến nay, nằm trong kiểu địa hìnhnày.Vùng trung tâm thềm lục địa Việt Nam có đáy biển đa dạng nhất, được ngăn cách
Trang 10ở phía Tây Nam bởi đảo Côn Sơn và Đông Bắc bởi đảo Phú Quý, còn phía Đông Nam
là vùng chuyển tiếp và vùng thềm ngoài Vùng cửa sông giáp biển, địa hình đáy bồntrũng bao gồm các rãnh sông ngầm, bãi cát ngầm, doi cát và các đảo rải rác Vùng cửasông giáp biển phía Tây Nam phát triển nhiều khối nhô của đáy biển Còn phía TâyBắc cửa sông giáp biển bao gồm nhiều rãnh ngầm kéo dài và các đập chắn ngầm, cácrãnh lòng sông ngầm thường không được thể hiện do đã bị tác động của thuỷ triều sanbằng Trong khi đó các dòng xoáy tiếp tục xoáy sâu tạo nên những lõm không tách biệt
kế tiếp nhau tạo thành những lõm hẹp kéo dài dạng thung lũng Ở phía Tây Nam bểCửu Long, từ độ sâu 40 m đến 600 m đã phát hiện thấy đảo san hô ngầm có chiều dàitới 13 km, rộng 8 km nhô cao cách đáy biển khoảng 25m Phần lớn ám tiêu san hô thểhiện trên địa hình đáy biển tập trung ở phần Đông Nam của cấu tạo đới Trung TâmBạch Hổ và Rồng Phần phía Nam là vùng chuyển tiếp và vùng thềm ngoài
1.1.3 Đặc điểm khí hậu, thuỷ văn.
- Khí hậu: đặc trưng cho vùng xích đạo chia làm hai mùa rõ rệt: mùa khô (từtháng 11 đến tháng 4 năm sau) và mùa mưa (từ tháng 5 đến tháng 10) Nhiệt độ trungbình trên bề mặt vào mùa mưa là 270-280C, mùa khô là 290-300C Tại độ sâu 20 mnước, vào mùa mưa nhiệt độ trung bình là 260-270C và mùa khô là 280-290C Nhìnchung khí hậu khô ráo, độ ẩm trung bình 60% Một năm chia hai mùa rõ rệt Thờigian này có gió mùa Đông Bắc từ biển Đông thổi vào với tốc độ khoảng 1 - 5m/s, đôikhi trong khoảng từ tháng 3 đến tháng 5 xuất hiện gió hướng Nam - Đông Nam Ngoàihai mùa chính trên thì trong khu vực nghiên cứu còn có hai mùa chuyển tiếp vào tháng
4 đến tháng 5 và tháng 10 đến tháng 11, do thời kỳ này xảy ra hiện tượng d i chuyểnluồng không khí lạnh từ phương Bắc xuống nên độ ẩm của không khí tăng lên nhưnglượng mưa không lớn, nhiệt độ trung bình khoảng 250C - 30ºC Trong mùa này chủyếu là gió Bắc thổi theo hướng Bắc - Nam và dần dần chuyển sang hướng Tây nam
- Chế độ gió mùa: Vùng nghiên cứu có hai chế độ gió mùa: Gió mùa đông vàgió mùa hè Mùa đông có gió Đông Bắc, mùa hè có gió Tây Nam Gió Đông Bắc kéodài từ tháng 11 đến thàng 3 năm tiếp theo có hai chế độ gió mùa Chế độ gió mùaĐông đặc trưng bởi gió mùa Đông B ắc từ đầu tháng 11 năm trước đến cuối tháng 4năm sau với ba hướng gió chính: Đông Bắc, Đông và Đông Đông Bắc Vào tháng 12
và tháng 1, hướng gió Đông Bắc chiếm ưu thế, còn tháng 3 thì hướng gió Đông chiếm
ưu thế Đầu mùa tốc độ gió trung bình và cực đại t hường nhỏ, sau đó tăng dần lên vàlớn nhất vào tháng 1 và tháng 2 Gió mùa hè đặc trưng bởi gió mùa Tây Nam, kéo dài
từ cuối tháng 5 đến giữa tháng 9 với các hướng gió ưu thế là Tây Nam và Tây TâyNam Ngoài ra, còn hai thời kỳ chuyển tiếp từ đầu tháng 4 đến cuối tháng 5 (chuyển từ
Trang 11chế độ gió mùa Đông Bắc sang chế độ gió mùa Tây Nam) và từ tháng 9 đến đầu tháng
11 và 12 có khả năng xảy ra đột biến và có khả năng xảy ra bão Gió thổi mạnh thườngxuyên, tốc độ gió mạnh thổi trong thời kỳ nay là 6 – 10 m/s Gió Tây nam kéo dài từtháng 6 đến tháng 9 hàng năm Gió nhẹ không liên tục, tốc độ gió thường nhỏ hơn 5m/s Trong mùa chuyển tiếp từ tháng 4 đến tháng 5 và tháng 10 đến tháng 11 giókhông ổn định và thay đổi liên tục
- Bão: Trong vùng ít có giông và bão Bão thường xảy ra vào các tháng 7, 8, 9
và 10, trong tháng 12 và tháng 1 hầu như không có bão Trung bình hàng năm vùngnày có 8,3 cơn bão thổi qua, hướng chuyển động chính của bão là Tây và Tây Bắc, tốc
độ di chuyển trung bình là 28 - 45km/h Cường độ bão đôi khi đạt cấp 9 đến cấp 11 vớivận tốc gió từ 90 km/h – 120 km/h
Vào mùa gió Tây Nam và hai thời kỳ chuyển tiếp thì việc tiến hành công táctrên biển rất thuận lợi Tuy vậy vào thời gian này thường có kèm theo sét, giông vàbão
Theo kết quả quan sát nhiều năm, động đất ở khu vực không vượt quá 6 độRicte
- Nhiệt độ: trên mặt nước biển từ 24.10C đến 30.320C Nhiệt độ đáy biển từ21.70C đến 290C
- Lượng bức xạ: dồi dào, trung bình 140 Kcal/cm2.năm Số giờ nắng rất cao,trung bình hàng năm khoảng 2400 giờ số giờ nắng trung bình 160-270 giờ/tháng
- Lượng mưa : hàng năm là cao, bình quân 1.949mm/năm, năm cao nhất2.718mm (1908) và năm nhỏ nhất 1.392mm (1958), số ngày mưa trung bình là 159ngày/năm Các tháng 1, 2, 3 mưa rất ít, lượng mưa không đáng kể Số ngày có mưa tậptrung vào các tháng 5, 7, 8 và 9 (chiếm 15 ngày trên tháng), tháng 1, 2, 3 trên thực tếkhông có mưa Khoảng 90% lượng mưa hàng năm tập trung vào các tháng mùa mưa từtháng 5 đến tháng 11, trong đó hai tháng 6 và 9 thường có lượng mưa ca o nhất
- Ðộ ẩm: tương đối của không khí trung bình 82.5%, mùa mưa thấp nhất là 80%
và đạt trị số cao tuyệt đối tới 100%, mùa khô cao nhất cũng chỉ đạt 74,5% và hạxuống tới mức thấp tuyệt đối 20%
- Nước biển thường xuyên có độ mặn 32 -35% Đổ ra thềm lục địa phía NamViệt Nam có nhiều con sông lớn Lớn nhất là hệ thống sông Cửu Long với chín cửachính đổ ra biển, lưu vực hiện tại của nó đạt tới 400.000 km2, lưu lượng đạt tới400.000 m3/giây Lượng phù sa trung bình khoảng 0,25 kg/m3
Trang 12- Dòng chảy: Dưới tác dụng của gió mùa ở vùng biển Đông tạo nên dòng đốilưu Ngoài ra do độ lệch khối lượng riêng của nước, chế độ gió địa phương, thuỷ triều,địa hình đáy biển và đường bờ đã tạo ra các dòng chảy khác nhau là dòng triều vàdòng trôi dạt Tốc độ cực đại của dòng triều trong khu vực này vào khoảng 0,3 0,77m/s, chu kỳ của dòng triều khoảng 12h mỗi lần lên hoặc xuống Đặc trưng của dòngtriều là luôn thay đổi về hướng và tốc độ theo chế độ thuỷ triều Dòng đối lưu hìnhthành do sự kết hợp giữa dòng tuần hoàn k hu vực và dòng do gió bề mặt tạo ra, tốc độdịch chuyển của dòng đạt 0,77 1,50m/s
- Sóng biển: Chế độ sóng ở khu vực này mang tính chất sóng gió mùa, có thểchia thành chế độ sóng gió mùa Đông và sóng gió mùa hè Trong mùa đông sóng gió
có ưu thế hướn g Đông Bắc – Tây Nam, có chiều cao trung bình là 2,4m cực đại là 8m.Trong tháng 11 sóng có chiều cao nhỏ hơn 1m là 13.38%, tháng 12 là 0.8% Trongtháng 3 loại sóng thấp hơn 1m lên đến 44.83% Tần số xuất hiện sóng cao hơn 5m là4.8%, chủ yếu vào tháng 11 và tháng 1 Chế độ sóng mùa hè kéo dài từ tháng 5 đếntháng 10 với hướng sóng chủ yếu là Tây Nam - Đông Bắc, sóng thấp và tương đối ổnđịnh, có chiều cao trung bình từ 0,6m đến 2m cực đại là 5m
1.2 ĐẶC ĐIỂM KINH TẾ NHÂN VĂN
1.2.1 Dân cư
Cách Thành phố Hồ Chí Minh 125 km về hướng Đông Nam Diện tích tự nhiên
là 1.982,2 km2, trong đó đất nông nghiệp 78.690 ha, chiếm 39%; đất lâm nghiệp65.000 ha, chiếm 33%; đất chuyên dùng 4.153 ha chiếm 2,1%; đất thổ cư 8.949 ha,chiếm 4,6%; số còn lại là đất chưa khai thác Theo thống kê hiện nay tổng số dân cưtỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu có khoảng 996682 người Lực lượng lao động chiếm 52,56%tổng số dân Một phần ba dân số là dân bản xứ sống chủ yếu bằng nghề đánh cá và cácnghề phụ khác, còn lại là dân ở ngoài Bắc di cư vào Mật độ dân số tỉnh Bà Rịa –VũngTàu có khoảng 834 người/km2, phần lớn tập trung ở các vùng nông thôn (chiếm
65 68%), sống bằng nghề nông - lâm - ngư Dân ở thành phố, thị trấn khoảng 281.549người Mật độ dân số của thành phố Vũng Tàu đông nhất với 91 2,5 người/ km2, tại đây
có cơ sở sản xuất của VSP nên mật độ dân số gia tăng Thành phố Vũng Tầu là mộttrong những đơn vị hành chính phát triển mạnh nhất của nước ta hiện nay do có nhiều
dự án đầu tư của nước ngoài
Thành phần dân tộc tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu phức tạp có 20 dân tộc sinh sống,trong đó người Việt chiếm 97% dân số, ngoài ra còn có các dân tộc khác như: NgườiHoa, Khơme, Châu Ro, và một số người nước ngoài
Trang 13Tuy nhiên, dân số tại Vũng Tàu xét cả về số lượng và chất lượng vẫn không đủcung cấp cho ngành công nghiệp dầu khí và các ngành nghề khác, nên số lao độnghiện tại đa số đến từ cả ba miền: Bắc, Trung, Nam.
1.2.2 Văn hoá - Giáo dục – Y tế
- Văn hoá: Bản sắc văn hoá ở khu vực nghiên cứu này khá đa dạng, đây là một
thành phố trẻ, có nhiều dân cư từ các tỉnh, thành phố khác đến Điều đặc biệt nhất củatỉnh là Bà Rịa -Vũng Tàu có 10 đền thờ cá voi, nhiều nhất ở miền Nam Đương nhiên lễhội Nghinh Ông, hay Tết của biển, là một sự kiện quan trọng trong đời sống văn hóa
và tâm linh của dân chài nơi đây
- Giáo dục: Vũng Tàu là thành phố có hệ thống giáo dục khá phát triển Tại đây
có hệ thống giáo dục từ mẫu giáo, phổ thông trung học đến các trường dạy nghề đápứng đầy đủ cho sự nghiệp giáo dục đào tạo của tỉnh Một số trường đại học mở chinhánh tại Vũng Tàu như: Đại học Mỏ - Địa chất Hà Nội, Đại học Kỹ thuật thành phố
Hồ Chí Minh, Trường trung cấp sư phạm, Trường Trung Cấp Du Lịch, trường ĐạiHọc Bà Rịa -Vũng Tàu Hệ thống đào tạo tại chức và trường trung cấp công nhân kỹthuật khá đa dạng nhằm đáp ứng một phần nguồn nhân lực tại chỗ cho sự nghiệp côngnghiệp hoá, hiện đại hoá
- Về y tế: Toàn tỉnh có 5 bệnh viện đa khoa, 6 trung tâm y tế, 50 trạm y tế xãphường và khoảng trên 30 các phòng mạch tư luôn đáp ứng kịp thời về nhu cầu chămsóc sức khoẻ cho mọi người Riêng ngành dầu khí có một trung tâm y tế chăm lo sứckhoẻ cho cán bộ và công nhân trong ngành
1.2.3 Mạng lưới giao thông, thông tin
Đường bộ:
Thành phố là một thành phố trực thuộc tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, nằm trong khuvực kinh tế Đông Nam bộ, mạng lưới giao th ông khá hoàn chỉnh nối các huyện thị vớinhau Vũng Tàu nối với thành phố Hồ Chí Minh bởi quốc lộ 51A dài 120 km và đây làđường chuẩn cấp I quốc gia Quốc lộ 51A (4 làn xe) chạy qua tỉnh với chiều dài gần 50
km Trong 5-7 năm tới sẽ có đường cao tốc Biên Hòa- Vũng Tàu mới với 8 làn xesong song với Quốc lộ 51A
Đường thuỷ:
Trong khu vực có nhiều cảng biển nổi tiếng nối liền với các cảng biển trongnước và quốc tế Đặc biệt là cảng dịch vụ Vietsov có thể tiếp nhận các tàu dịch vụphuc vụ công tác tìm kiếm thăm dò dầu khí và tàu xây lắp các công trình biển trọng tải
Trang 14lớn Hiện nay hành khách cũng có thể đi tàu cao tốc từ Vũng Tàu tới Thành Phố HồChí Minh với thời gian khoảng 2 giờ rưỡi Cảng Vũng Tàu có thể tiếp nhận các loạitàu vận tải và tàu khách hạng lớn, phục vụ rất tốt cho việc vận chuyển dân sự cũng nhưcác vật tư cho ngành dầu khí.
Đường sắt:
Hiện tại chưa có đường sắt nối đến thành phố Vũng Tàu Theo quy hoạch đếnnăm 2015 của ngành đường sắt, một đường sắt đôi cao tốc khổ rộn g 1.435 m sẽ đượcxây dựng nối thành phố Hồ Chí Minh tới Vũng Tàu với tốc độ thiết kế trên 300 km/giờ
Hàng không:
+ Hiện tại trong tỉnh có 2 sân bay là sân bay Vũng Tà u và sân bay Côn Đảo.Sân bay Vũng Tàu có thể tiếp nhận được các loại máy bay như AN – 24, AN – 26,M18 và các loại máy bay lên thẳng Hiện nay sân bay này đã trở thành một phi cảngquốc tế với cầu hàng không quốc tế Vũng Tàu – Singapore vừa được thiết lập.Sân bay Vũng Tàu chủ yếu dành cho máy bay trực thăng phục vụ thăm dò khai thácdầu khí
+ Trong tương lai sân bay quốc tế Long Thành (2020) được xây dựng cáchVũng Tàu 70 km Từ Vũng Tầu bạn có thể tiến tới sân bay Long Thành nằm trên tuyếnđường quốc lộ cao tốc trong vùng
1.2.4 Kinh tế
Tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu nằm ở vị trí rất đặc biệt, đ ây chính là cửa ngõ của cáctỉnh miền Đông Nam Bộ hướng ra biển Đông, hội tụ nhiều tiềm năng để phát triểnnhanh và toàn diện các ngành kinh tế biển như: Công nghiệp khai thác dầu khí ngoàikhơi, cảng biển và vận tải biển, khai thác chế biến hải sản, du lị ch nghỉ ngơi tắm biển.Bên cạnh đó, Bà Rịa - Vũng Tàu còn có điều kiện phát triển đồng bộ giao thông đường
bộ, đường biển, đường không, đường sắt và đường ống, có thể là nơi trung chuyểnhàng hóa đi các nơi trong nước và quốc tế
Công nghiệp:
Đây là thành phần kinh tế đóng vai trò quan trọng, là động lực thúc đẩy cácngành nghề khác phát triển, tiêu biểu nhất đối với Bà Rịa - Vũng Tầu là ngành côngnghiệp dầu khí
+ Ngành công nghiệp dầu khí.
Đây là ngành công nghiệp mũi nhọn do sự nghiệp phát triển kinh tế Kể từ khitiến hành công tác khai thác dầu khí trên thềm lục địa phía Nam Việt Nam, đặc biệt
Trang 15với sự ra đời của Xí nghiệp Liên doanh dầu khí VIETSOVPETRO (VSP) đã đóng gópđáng kể vào công cuộc đổi mới và tăng trưởng kinh tế của nước ta Ngoài VSP còn cómột số công ty và nhà thầu khác như: Schlumbeger, Petronas, JVPC, Mobil họ đều
mở các đại diện của mình trên địa bàn tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu
+ Ngành công nghiệp điện lực
Đây là ngành cung cấp điện năng cho các ngành kinh tế khác, được nối vớimạng lưới điện quốc gia Ngoài ra, tổ hợp nhà máy điện Phú Mỹ đã và đang cung cấpđiện cho thành phố Vũng Tàu và các vùng phụ cận
+ Ngành du lịch thương mại
Bà Rịa - Vũng Tàu có chiều dài bờ biển phần đất liền là 100km (trong đó 72km
là bãi cát có thể sử dụng làm bãi tắm) Thềm lục địa tỉnh tiếp giáp với quần đảoTrường Sa, nơi đây chứa đựng hai loại tài nguyên cực kỳ quan trọng là dầu mỏ và hảisản Vũng Tàu là một trung tâm du lịch lớn Sự kết hợp hài hoà giữa quần thể thiênnhiên biển, núi cùng kiến trúc đô thị và các công trình văn hoá như tượng đài, chùachiền, nhà thờ tạo cho Vũng Tàu có ưu thế của thành phố du lịch biển tuyệt đẹp, đầyquyến rũ Vũng Tàu không có mùa đông, do vậy các khu nghỉ mát có thể hoạt độngquanh năm
Du lịch được coi là thế mạnh kinh tế thứ hai trong khu vực này và ngày càngđược phát triển mạnh Nhờ hệ thống ngân hàng và bưu chính viễn thông tương đốihiện đại, đảm bảo thủ tục nhanh gọn, hoà nhập tốt vào mạng lưới hoạt động của cảnước và quốc tế mà thu hút được nhiều khách du l ịch trong nước và quốc tế, mang lạithu nhập cho người dân Bà Rịa –Vũng Tàu Những trung tâm du lịch nổi tiếng của tỉnh
là Vũng Tàu, Côn Sơn, Bình Châu
+ Nông – Lâm – Ngư nghiệp
Trong địa bàn tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu dân bản xứ chủ yếu sống bằng nghềđánh bắt thuỷ hải sản, đây cũng là ngành đang được sự quan tâm và đầu tư của tỉnh.Nông nghiệp cũng là một ngành đang được quan tâm nhưng do diện tích canh tác ítnên nông sản chiếm tỷ trọng nhỏ Lâm nghiệp kém phát triển do diện tích rừng ít.Song, do đây là một vùng được thiên nhiên ưu đãi với đất đai mầu mỡ nên trong tỉnhphát triển trồng cây ăn quả và cây công nghiệp là chủ yếu Với đường bờ biển dài làđiều kiện thuận lợi cho việc phát triển nghành khai thác và chế biến thuỷ hải sản
Trang 16+ Các ngành dịch vụ
Hệ thống mạng lưới thông tin liên lạc của thành phố Vũng Tàu rất phát triển.Với các bưu điện lớn của nhà nước cùng vô số các trạm kết nối của Viettel, mobiphone, vina phone, Vietnam mobile… đã đáp ứng tốt các nhu cầu liên lạc trong đấtliền ra ngoài đảo, ngoài giàn khoan cũng như từ Vũng Tàu sang các vùng khác trongnước và quốc tế Ngoài ra ở đây còn rất phát triển hệ thống thông tin mới đó là cácdịch vụ Internet phục vụ nhu cầu liên lạc rất thuận tiện văn minh Việc thông tin liênlạc giữa đất liền và các trạm ngoài khơi được thực hiện qua các hệ thống vôtuyến bao gồm:
- Hệ thống tổng đài vô tuyến riêng: SSV2*100W
- Hệ thống tổng đài thông tin trên biển: SSV2*100W
1.3 THUẬN LỢI – KHÓ KHĂN
Trong thời điểm hiện nay thành phố Vũng tầu được xem là trung tâm phát triểnmạnh mẽ nhất của ngành dầu khí Tại đây, đối với ngành dầu khí có th ể nhận thấy cácthuận lợi và khó khăn sau:
1.3.1 Thuận lợi.
+ Vũng Tàu là thành phố trẻ, có nguồn cung cấp nhân lực dồi dào, giao thôngvận tải thuận tiện, có hạ tầng cơ sở khá hoàn chỉnh, nằm trong vùng trọng điểm pháttriển kinh tế của cả nước nên đáp ứng tốt các yêu cầu cho xây dựng và phát triểnngành
+ Ngành dầu khí có một đội ngũ chuyên gia, kỹ sư và công nhân lành nghề, cónhiều kinh nghiệm
+ Vũng Tàu có hệ thống dịch vụ, văn hoá, du lịch, giải trí khá hoàn chỉnh khôngnhững đáp ứng giải trí, du lịch của dân cư, khách du lịch mà còn tạo điều kiện tốt chonghỉ ngơi, tái phục hồi sức lao động của cán bộ cônng nhân viên ngành dầu khí sauthời gian dài làm việc ngoài biển
Trang 171.3.2 Khó Khăn.
Bên cạnh những thuận lợi nêu trên còn gặp những khó khăn sau:
+ Hoạt động tìm kiếm, thăm dò và khai thác dầu khí trên biển cần có chi phícao, đi lại, vận chuyển trang thiết bị và vật tư phục vụ sinh hoạt khó khăn
+ Hoạt động tìm kiếm, thăm dò và khai thác dầu khí trên biển vào mùa mưa rấtkhó khăn và nguy hiểm do biển động, sóng to, gió lớn làm cho các hoạt động trên biển
có khả năng bị ngừng trệ, gián đoạn thông tin
+ Do ảnh hưởng của nước biển nên các trang thiết bị của giàn khoan thườngnhanh hư hỏng nên thường xuyên phải bảo dưỡng và thay thế
+ Lực lượng cư dân đông đúc, dồi dào về nhân lực, nhưng do có sự chênh lệchkhá lớn về trình độ học vấn cũng như trình độ chuyên môn, nên ở đây nguồn lao độngtrẻ còn dư thừa nhiều, trong khi đó vẫn phải nhận nhân công lao động lành nghề từ nơikhác đến
+ Nguồn vốn đầu tư của nhà nước cho việc tìm kiếm, thăm dò và khai thác dầukhí còn ít, trong khi chi phí cho tìm kiếm, thăm dò và khai thác dầu khí trên biển lại rấtcao
CHƯƠNG 2
LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU – TÌM KIẾM THĂM DÒ DẦU KHÍ
Trang 182 LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU KHU VỰC M Ỏ BẠCH HỔ
2.1 GIAI ĐOẠN TỪ TRƯỚC 1975 tới 1984
Công tác nghiên cứu địa vật lý trên diện tích mỏ Bạch Hổ được tiến hành rấtsớm và được tiến hành trong các giai đoạn khác nhau:
- Công tác địa chấn 2D: Nghiên cứu tổ hợp địa vật lý (Địa chấn 2D, Từ, Trọnglực) với mạng lưới quan sát 4x4 km được Công ty Mobil (Mỹ) thực hiện năm 1973
- Nghiên cứu địa chấn 2D với mạng lưới 1x1 km do công ty GECO (Nauy) thựchiện năm 1978 và với mạng lưới 0,5x0,5 km do liên đoàn địa vật lý Viễn Đông (LiênXô) thực hiện năm 1984
2.2 GIAI ĐOAN TỪ 1990 tới 1996
- Công tác địa chấn 3D: Năm 1990 công ty Simon Horizon (Anh) đã thực hiện
xử lý theo phương pháp “giả 3D” trên cơ sở tài liệu địa chấn 2D Tài liệu nhận được cóchất lượng tương đối thấp do nhiều nhược điểm của phương pháp và chủ yếu là doviệc nội suy rất rộng thông tin ban đầu
Năm 1992 công ty GECO-PRAKLA lần đầu tiên tiến hành thu nổ địa chấn 3Dtrên khu vực mỏ Bạch Hổ với khối lượng 400 km2 (25x16 km) Trên cơ sở tài liệu xử
lý được, GECO đã thực hiện phân tích cấu trúc và xây dựng các bản đồ theo 6 tầng địachấn chuẩn (SH5, SH7, SH10, SH11, SH12, SHB) nhưng các kết quả này ít được sửdụng trong thực tế do các bản đồ không đủ độ chính xác và chất lượng tài liệu khôngtốt ở phần dưới của mặt cắt địa chấn
Năm 1993 tập thể chuyên gia làm công tác địa chấn của Viện NCKH&TK(Vietsovpetro) tiến hành phân tích lại bằng tay các tài liệu này và đã xây dựng lại cácbản đồ cấu trúc cho các tầng địa chấn nói trên với việc sử dụng tất cả các tài liệu giếngkhoan đã có trong thời điểm hiện tại Các bản đồ đó đã được sử dụng trong quá trìnhtính trữ lượng và là cơ sở để thiết kế vị trí các giếng khoan tiếp theo trong thời gianqua
Năm 1994 trên cơ sở hợp đồng nghiên cứu các vỉa dầu trong móng của mỏBạch Hổ giữa XNLD Vietsovpetro và công ty SSI(Mỹ), các tài liệu thu nổ địa chấn 3D
đã được xử lý lại tại công ty Golden Geophysical (Mỹ) tài liệu nhận được có chấtlượng được đánh giá là tốt hơn so với các tài liệu trước đây, đặc biệt ở phần dưới mặtcắt địa chấn lần đầu tiên đã ghi nhận được hình ảnh các trường sóng liên quan đến đứtgãy và các vùng nứt nẻ trong móng
Trang 19Năm 1995-1996 theo hợp đồng với Vietsovpetro, công ty CGE (Nga) đã tiếnhành xử lý và phân tích lại tài liệu địa chấn trong phạm vi 50 km2 ở vùng Trung tâmcủa mỏ Bạch Hổ Trong báo cáo cuối cùng đã đưa ra một vài kết quả định tính về sựphân bố mức độ nứt nẻ theo các vùng không đồng nhất về trường sóng địa chấn trongmóng.
2.3 GIAI ĐOẠN TỪ 2003 tới 2005
+ Công tác nghiên cứu địa chấn
Năm 2003 đã tiến hành công tác thu nổ địa chấn với khối lượng 75 km2 ởnghiêng xoay phía Bắc mỏ Bạch Hổ Ngoài ra, công ty Golden Pacific Group đã thựchiện xử lý lại các tuyến địa chấn 3D theo chương trình dịch chuyển chiều sâu trước khicộng PSDM cho toàn bộ mỏ với khối lượng 4842km tuyến
Năm 2004 đã tiến hành xử lý tài liệu địa chấn mới 3D thu nhận năm 2003 vớikhối lượng 75 km2 theo chương trình dịch chuyển thời gian trước khi cộng PSTM vàminh giải tài liệu địa chất - địa chấn vùng phía bắc trên diện tích chờm phủ 160
km2(đã xây dựng các bản đồ cấu trúc mới theo các tầng địa chấn SHB, 10, và 5) và bản đồ chiều dày giữa các tầng SH -10 và SHB
SH-Năm 2005 tiến hành minh giải lại tài liệu địa chấn thu được sau khi xử lý theochương trình PSDM, kết quả đã xây dựng chính xác hơn bản đồ của các tầng SH-5, 7,
10 và SHB
+ Công tác khoan thăm dò
Trong giai đoạn 2002-2005 khối lượng khoan thăm dò trên mỏ đạt 9690m Đãkhoan giếng thăm dò BH-11, kết thúc thử vỉa giếng BH-18 và bắt đầu khoan giếngthăm dò BH-23 (giếng khoan đạt chiều sâu 4308m tại thời điểm tới ngày 01.01.06).Năm 2001 đã khoan giếng BH -18, giếng phải đóng tạm thời trong thời gian dài trướckhi tiến hành thử vỉa Đã nhận được dòng dầu không lớn từ phần dưới móng, từ phầntrên nhận được dòng dầu tự phun với lưu lượng ban đầu là 47 tấn/ngày đ êm, tăng lên
120 tấn/ngày đêm trong quá trình khai thác
Trên cơ sở vị trí giếng khoan đã được các bên tham gia phê duyệt, giếng BH -11được khoan trên khối phía Tây của mỏ đến chiều sâu 5652m với mục đích thăm dò cácvỉa dầu trong trầm tích Oligoxen Giếng được khoan xiên từ giàn nhẹ BK -7 vớikhoảng cách lệch ngang theo bề mặt móng là 1750m Giếng khoan đã khoan qua đátrầm tích và gặp móng ở độ sâu 5356m ( -4748m) Đá móng kết tinh là diorit Giếngkhoan không gặp đứt gãy nghịch như dự đoán Trầm tích Oligo xen được mở ra ở chiềusâu từ 3995m (-3392m) đến chiều sâu 5120m (- 4514m) Lát cắt Oligoxen gồm xen kẽ
Trang 20đơn điệu giữa sét, sét kết với số ít các lớp mỏng bột kết và cát kết Từ chiều sâu 5120mhàm lượng cát tăng lên và xuất hiện các vỉa cát kết có chiều dà y lớn hơn so với lát cắtphía trên Từ chiều sâu 5208m (-4600m) có thấy sự phát triển của các vỉa cát với chiềudày 10-25m đặc trưng cho trầm tích Oligoxen dưới Theo số liệu phân tích tài liệu địavật lý giếng khoan đã phân chia đá chứa dầu có tổng chiều dày hiệu dụng là 38m.Chiều dày toàn bộ trầm tích trầm tích Oligoxen dưới đã mở là 145m, Oligoxen trên là1208m.
Sau khi kết thúc khoan đã tiến hành thử vỉa trong thân trần ở khoảng chiều sâu5380-5652m (-4772-5041m) bằng gazlif trong 24 giờ Tài liệu thử vỉa trong thời gianngắn cho thấy không nhận được dòng dầu từ móng, mặc dù trong khi khoan ở phầntrên đã xảy ra mất dung dịch với lưu lượng đến 3m3/giờ
Trong quá trình đặt cầu xi măng đã xẩy ra sự cố mà không khắc phục được, vìvậy các vỉa cát kết Oligoxen không được thử
Ngoài các giếng thăm dò với mục dích tận thăm dò mỏ đã khoan 4 giếng khaithác sớm: 711, 1201, 1202 và 12001 có tổng chiều dài khoan - 16620m
2.4 GIAI ĐOẠN TỪ 2006 tới 2011
+ Công tác khoan tìm kiếm thăm dò:
Tính đến ngày 01.01.2006 trên mỏ Bạch Hổ đã khoan 274 giếng, trong đó 17giếng thăm dò, 6 giếng khai thác nhanh và 242 giếng khai thác, trong số này 02 giếngkhoan thân hai (475 và 474), 04 giếng khoan sâu thêm vào móng (69B, 121B, 136B,818B) Trong quĩ giếng đã khoan đã hủy 30 giến g, đóng 8 giếng, 11 giếng quan sát, 22giếng không hoạt động, 41 giếng sử dụng bơm ép, 152 giếng đang khai thác, mộtgiếng đang thử vỉa (5001), những giếng còn lại không đưa vào quĩ giếng do nhữngnguyên nhân khác nhau
Trong số các giếng khoan thăm dò có 10 giếng hủy sau khi thử do nguyên nhânđịa chất, được xem đã hoàn thành nhiệm vụ, 4 giếng đưa vào quĩ khai thác, 1 giếngvào quỹ bơm ép và 2 giếng đóng do không có công trình biển
Trong số các giếng khai thác đã hủy 19 giếng, 11 giếng đưa vào quan sát, 2 2giếng không hoạt động, 40 giếng chuyển sang quĩ bơm ép và 148 giếng vào quĩ giếngkhai thác đang hoạt động
Trong giai đoạn 2006-2011, khối lượng khoan thăm dò trên mỏ đạt 28454m Đãkhoan được 4 giếng thăm dò (BH -23, BH-19, BH-1203, BH-1203b) và 2 giếng khai
Trang 21thác sớm ( BH-1204, BH-20) va đã kết thúc thử vỉa giếng BH-20, bắt đầu khoan giếngthăm dò GT-1X , MT-1X.
+ Công tác nghiên cứu địa chấn
Cuối năm 2007 đến đầu năm 2008, tiến hành minh giải tài liệu địa chấn 3D vớikhối lượng 64km2ở khu vực phía Tây và 279 km2 ở khu vực phía Nam mỏ Bạch Hổ
Năm 2009, theo hợp đồng số 0181/09/T-N5/VSP5-VPI được ký giữaVietsovpetro và VPI, đã tiến hành minh giải tài liệu địa chấn 3D và xây dựng được cácbản đồ cấu trúc của 7 tầng phản xạ địa chấn (SH-3, SH-5, SH-7, SH-8, SH-10, SH-11
và SH-B) và các bản đồ đẳng dày giữa các tầng phản xạ (SH -B và SH-11, SH-11 vàSH-10, SH-10 và SH-8, SH-10 và SH-7, SH-8 và SH-7, SH-7 và SH-5, SH-5 và SH-3) Trong quá trình minh giải và xây dựng bản đồ cấu trúc trên đã phát hiện ra các cấ utạo có triển vọng dầu khí là Chó Trắng, Ngựa Trắng, Mèo Trắng, Báo Trắng ở khuvực phía Tây và Gấu Trắng ở khu vực phía Nam mỏ Bạch Hổ
CHƯƠNG 3 ĐẶC ĐIỂM CẤU TRÚC ĐỊA CHẤT
Trang 223.1 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA TẦNG TRẦM TÍCH
Hình III.1 Cột địa tầng tổng hợp mỏ Bạch Hổ
Trang 23Móng của bể Cửu Long được tạo nên bởi đá tuổi Mesozoi và các thể đá xâmnhập granitoid tuổi J-Cr Lớp phủ trầm tích Kainôzôi có bề dày 6-8km và giảm dầntheo hướng cánh của bể.
Về mặt thạch học đá móng có thể xếp thành 2 nhóm chính: granit và granodiorit-diorit, đá biến chất và các thành tạo núi lửa
So sánh kết quả nghiên cứu các phức hệ magma xâm nhập trên đất liền với đámóng kết tinh ngoài khơi bể Cửu Long, theo đặc trưng thạch học và tuổi tuyệt đối cóthể xếp tương đương với 3 phức hệ: Hòn Khoai, Định Quán và Cà Ná
- Phức hệ Hòn Khoai có thể được xem là phức hệ đá magma cổ nhất trongmóng của bể Cửu Long, phức hệ có tuổi Trias muộn, tương ứng khoảng 195 đến 250tr.năm Theo tài liệu Địa chất Việt Nam, thì granitoid Hòn Khoai được ghép chung vớicác thành tạo magma xâm nhập phức hệ Ankroet-Định Quán gồm chủ yếu làamphybol-biotit-diorit, monzonit và adamelit Đá bị biến đổi, cà nát mạnh Phần lớncác khe nứt đã bị lấp đầy bởi khoáng vật thứ sinh: calcit -epidot-zeolit Đá có thể phân
bố chủ yếu ở phần cánh của các khối nâng móng, như cánh phía Đông Bắc mỏ BạchHổ
- Phức hệ Định Quán gặp khá phổ biến ở nhiều cấu tạo Bạch Hổ (vòm Bắc), Ba
Vì, Tam Đảo và Sói Ở các mỏ Hồng Ngọc, Rạng Đông, Sư Tử Đen và Sư Tử Vàng (ởphía Bắc bể), chủ yếu là đá granodiorit, đôi chỗ gặp monzonit-biotit-thạch anh đa sắc
Đá thuộc loại kiềm vôi, có thành phần axit vừa phải SiO2 dao động 63-67% Cácthành tạo của phức hệ xâm nhập này có mức độ giập vỡ và biến đổi cao Hầu hết cáckhe nứt đều được lấp đầy bởi các khoáng vật thứ sinh: calcit, zeolit, thạch anh vàclorit Trong đới biến đổi mạnh biotit thường bị clorit hoá Phức hệ Định Quán có tuổiJura, tuổi tuyệt đối dao động từ 130 đến 155tr năm
- Phức hệ Cà Ná là phức hệ magma phát triển và g ặp phổ biến nhất trên toàn bểCửu Long Phức hệ đặc trưng là granit thuỷ mica và biotit, thuộc loại Natri -Kali, dưnhôm (Al=2.98%), Si (~69%) và ít Ca Đá có tuổi tuyệt đối khoảng 90-100 tr năm,thuộc Jura muộn Các khối granitoid phức hệ magma xâm nhập này thành tạo đồng tạonúi và phân bố dọc theo hướng trục của bể Đá bị giập vỡ, nhưng mức độ biến đổi thứsinh yếu hơn so với hai phức hệ vừa nêu
Trong mặt cắt đá magma xâm nhập đã biết thường gặp các đai mạch có thànhphần thạch học khác nhau từ axit đến trung tính-bazơ, bazơ và thạch anh
Trang 24Tại một số nơi, như khu vực mỏ Rồng còn gặp đá biến chất nhiệt động kiểuparagneis hoặc orthogneis Các đá này thường có mức độ giập vỡ và biến đổi kém hơn
và tuf andezit) có tuổi trước Kainozoi, và được thành tạo trong môi trường lục địa(deluvi, proluvi, alluvi ) trong điều kiện năng lượng cao của thời kỳ đầu sụt lún, táchgiãn hình thành các địa hào, diện phân bố của các thành tạo này chắc chắn chỉ giới hạntại sườn của một số hố sụt sâu của bể Cửu Long Bề dày của hệ tầng tại giếng khoanCửu Long là 880m Nhìn chung mặt cắt địa chấn từ đất liền ra phía đông của bể gồm 2phần:
+ Phần trên có phản xạ hỗn độn hoặc dạng vòm, biên độ cao, tần số thấp, độliên tục kém đến tốt
+ Phần dưới phản xạ không phân dị, lộn xộn, biên độ cao, tần số thấp, độ liêntục kém, trầm tích alluvi, đầm hồ
Tại một số nơi có thể như ở khoan 09 -Sói-1X, từ độ sâu 2941-3280m cũng pháthiện một tập cuội kết, sạn kết và cát kết hạt thô dạng khối dày tới 339m phủ bất chỉnhhợp trực tiếp trên đá móng granitoi d tuổi Jura Cuội sạn kết có độ lựa chọn và mài trònkém, tuy nhiên chúng được gắn kết tốt hơn (do nằm ở độ sâu lớn hơn và thành phầngồm chủ yếu là các đá granitoid có thành phần gần tương tự như các đá móng nằmdưới nó) Các tập trầm tích hạt thô như đã mô tả theo thành phần và tướng, môi trườngtrầm tích có lẽ những thành tạo này là sản phẩm được lắng đọng từ vỏ phong hoágranitoid nằm cách không xa nguồn vật liệu trong điều kiện năng lượng rất cao ở thời
kỳ đầu của quá trình tách giãn và sụt lún
Theo tài liệu địa chấn trầm tích của hệ tầng Cà Cối phủ bất chỉnh hợp trên cácthành tạo trước Đệ tam Bề dày hệ tầng ở khu vực cửa sông Hậu khoảng 1000m, ởtrung tâm của bể có thể dày hơn Chúng chỉ phân bố hạn chế trong các lõm sụt sâu nên
Trang 25ít khi khoan bắt gặp Các di tích cổ sinh nghèo nàn, chỉ có bào tử phấn và tạo thành
phức hệ Trudopollis/Plicapollis.
Hiện phức hệ này mới tìm thấy ở giếng khoan Cửu Long 1 (từ khoảng 1255
-2100m) Thành phần chính: Pinuspollenites, Pteris, Polypodiaceiosporites,
Enica,Gleicheniacidites,Podocarpidites,Myricacidites,Triporopollenites,
Betulaceiosporites, Cicatricosisporites đặc biệt có Trudopollis và Plicapollis.
Tuổi Eoxen của phức hệ dựa theo Trudopollis và Plicapollis.
Theo tài liệu địa chấn, trầm tích của hệ tầng Cà Cối p hủ bất chỉnh hợp trên cácthành tạo trước Đệ tam Bề dày hệ tầng ở khu vực cửa sông Hậu khoảng 1000m, ởtrung tâm của bể có thể dày hơn Chúng chỉ phân bố hạn chế trong các lõm sụt sâu nên
138 m Phát triển ở khu vực trung tâm của bể Cửu Long Trầm tích của hệ tầng nàygồm đa phần là các lớp đá sét kết giàu vật chất hữu cơ, sét chứa nhiều vụn thực vật vàsét chứa than (chiếm khoang 60-90% mặt cắt) đôi khi có mặt các lớp than màu đen,tương đối rắn chắc Phần lớn đá sét bị biến đổi thứ sinh và nén ép mạnh thành argilithoặc đá sét dạng phiến, màu xám tối, xám xanh hoặc xám nâu, xen kẽ các lớp bột kết
và cát kết, đôi khi có các lớp sét vôi Thành phần của đá sét gồm kaolinit, illit và clorit.Tập sét này nhiều nơi phủ trực tiếp lên móng (vòm trung tâm mỏ Bạch Hổ, RạngĐông) và đóng vai trò là một tầng chắn địa phương cho các vỉa chứa dầu trong đámóng ở mỏ Bạch Hổ, TN Rồng, Rạng
Đông, Sư Tử Đen v.v ) Cát kết, bột kết thành phần đa khoáng thuộc loại arkos,hạt từ nhỏ đến thô, đôi khi rất thô hoặc cát chứa cuội và sạn (thường gặp ở phầ n dưới).Hạt vụn có độ lựa chọn và mài mòn trung bình đến kém, bán góc cạnh đến bán tròncạnh, thành phần giàu felpat, thạch anh và mảnh đá (chủ yếu các mảnh granitoid, ítmảnh đá phun trào và biến chất) Điều đó chứng tỏ nguồn cung cấp vật liệu để hìnhthành nên các trầm tích hệ tầng Trà Cú chủ yếu được vận chuyển từ các sản phẩm
Trang 26phong hoá, bóc mòn của những khối móng granitoid Cát kết nhìn chung rất rắn chắc
do được gắn kết chắc bởi một lượng lớn xi măng sét, carbonat, thạch anh, zeolit đôikhi anhydrit, albit và epidot kết quả của quá trình biến đổi thứ sinh mạnh từ katagenesmuộn (phần trên) cho tới giai đoạn biến chất sớm (cho phần lớn trầm tích nằm sâudưới 4200m: BH-9, 10, 02-C-1X, v.v) Kết quả của quá trình biến đổi thứ sinh cao đãlàm giảm phần lớn độ rỗng và độ thấm nguyên sinh, tuy nhiên quá trình biến đổi nàylại hình thành nên đặc tính chứa thứ sinh (lỗ rỗng dạng hoà tan, hang hốc và khe nứt)vào loại trung bình cho cát bột kết của tầng chứa Thực tế đá cát bột kết có chứa dầu ởcác mức độ khác nhau đã được phát hiện trong mỏ Bạch Hổ, Rồng và một số cấu tạokhác Trầm tích hệ tầng Trà Cú được hình thành trong điều kiện tướng đá môi trườngtrầm tích khác nhau từ sườn tích, lũ tích, bồi tích, sông, kênh lạch đến đầm hồ, vũngvịnh Các trầm tích sét màu xám đen giàu vật chất hữu cơ và các trầm tích thực vậtthuộc tướng đầm hồ, vũng vịnh xen kẽ ít cát bột kết tướng bồi tích đồng bằng châu thổphân bố chủ yếu tại các trũng sâu, đặc biệt là ở hai bên cánh phía Tây bắc và Đôngnam của đới nâng Rồng- Bạch Hổ và phần lớn thuộc lô 15 Các tập sét này là các tầngsinh dầu rất có ý nghĩa của bể Cửu Long Trong khi đó tại các khu vực đới nâng TrungTâm và phần lớn các khu vực phía TN (TN cấu tạo Rồng, Bà Đen, Tam Đảo, Ba Vì vàphần lớn lô 17) và phần phía Nam nơi tiếp giáp với đới nâng Côn Sơn phát triển chủyếu các tướng đá cát xen kẽ sét thuộc môi trường có năng lượng từ cao đến rất cao baogồm sườn tích, lũ tích, bồi tích, sông, đồng bằng châu thổ Hệ tầng Trà Cú có chiềudày được phát hiện theo GK thay đổi từ 100- 500m ở các vòm nâng, còn ở các trũngđịa hào nó đạt tới trên 1000 m Theo tài liệu địa chấn chúng liên quan đến tập địa chấnF-E1 (CL8 – CL9) Đó là tập rất ít phân dị, độ liên tục kém, biên độ khá lớn, tần sốthấp, không có quy luật phân lớp Chúng thường phủ bất chỉnh hợp trực tiếp trên các
đá móng Tài liệu cổ sinh rất nghèo nàn chỉ phát hiện thấy ít bào tử phấn hoa trong các
mẫu vụn và xếp vào phức hệ Oculopollis/Magnastriatites howardi Thành phần chủ yếu của phức hệ này là Magnastriatites howardi,Verrucatosporites, Triletes,
Pinuspollenites, Oculopollis tuổi Eoxen – Oligoxen được xác định theo Oculopollis
(LAD trong Eoxen muộn) và Magnastriatites howardi (FAD trong Eoxen muộn) Tuy
nhiên xét về quan hệ địa tầng do nằm trên các trầm tích hệ tầng Cà Cối (Eoxen), nênchúng tôi cho rằng trầm tích hệ tầng Trà Cú được hình thành trong thời kỳ Oligoxensớm
Trang 27Hệ Paleogen - Thống Oligoxen
Hệ tầng Trà Tân ( E3 2-3tt)
Trầm tích hệ tầng Trà Tân lần đầu tiên được mô tả tại GK.15A -1X (cấu tạo TràTân, Vừng đông) ở khoảng độ sâu 2535 m - 3038 m Tại đây, trầm tích chủ yếu là cátkết hạt nhỏ đến trung màu xám trắng, xi măng carbonat chuyển dần lên trên nhiều lớpbột và sét kết màu nâu và đen có xen các lớp mỏng than, có chỗ phát hiện thấyglauconit Đá biến đổi ở giai đoạn katagenes muộn Đường cong carota có điện trở rấtcao ở phần dưới và thấp ở phần trên còn đường gamma thì ngược lại Bề dày của hệtầng ở giếng khoan này đạt 503m.Trầm tích hệ tầng Trà Tân phân bố rộng rãi hơn sovới hệ tầng Trà Cú và với bề dày thay đổi khá mạnh mẽ ở tại các khu vực khác nhaucủa bể Nhìn chung vào thời kỳ thành tạo hệ tầng này địa hình cổ của móng trước Đệtam có lẽ phần nào ít nhiều đã được san bằng hơn so với thời kỳ trước Trong điều kiện
cổ địa lý như vậy, lát cắt trầm tích tầng Trà Tân có sự xen kẽ giữa sét kết (chiếm 70% mặt cắt, đặc biệt là các lô phần ĐB của bể) và bột kết, cát kết và ở nhiều nơi đãxuất hiện các lớp đá phun trào núi lửa có thành phần khác nhau Đá sét kết rắn chắc,thường có màu xám sáng, xám đen đến xám xanh đôi khi có màu nâu nhạt (R - 8, 15-B,15-G v.v) thường đặc trưng bằng cấu tạo khối, phân lớp mỏng, xiên chéo hoặc gợnsóng Nhiều lớp sét có chứa vôi, vật chất hữu cơ, các vụn than hoặc xen kẽ các lớpthan lignit và chúng đóng vai trò của tầng sinh dầu tốt Thành phần đá sét chủ yếukaolinit, illit, clorit phần trên đôi khi vẫn còn một lượng nhất định các khoáng vật sétthuộc nhóm lớp hỗn hợp illit/montmorilonit Đá cát bột kết thường có màu xám sángđến xám xanh, đôi khi xám phớt nâu hoặc tím phớt đỏ (R-6,R- 9, 15-G) phần nhiều làarkoslithic arkos, hạt nhỏ đến trung bình, bán góc cạnh đến bán tròn cạnh được gắn kếtbởi xi măng carbonat, sét, thạch anh và đôi khi anhydrit Cát kết phần trên của mặt cắtđôi nơi có mặt glauconit (RD-3X, Sư Tử Đen, BH-10, BH-12) Tỷ lệ cát kết/sét kếttăng dần khi đi từ phía trung tâm của bể (cấu tạo Ruby, Rạng Đông, Bạch Hổ) về phíatây nam (lô 16, 17 tại đây cát kết chiếm 45-65%) Các tập cát bột kết thuộc hệ tầng TràTân ở nhiều nơi hiện là tầng chứa sản phẩm rấ t có ý nghĩa với độ rỗng 5-15% và độthấm <50mD Trầm tích Trà Tân nhìn chung đã bị tác động của các quá trình biến đổithứ sinh không giống nhau từ giai đoạn katagenes sớm (cho các trầm tích nằm nônghơn 3200 m) đến katagenes muộn cho phần lớn trầm tích nằm sâu hơn 3500 m Đáphun trào thường chỉ xuất hiện tại một số khu vực chủ yếu liên quan đến các hoạt độngcủa các đứt gãy phân bố tại các lô 16 và 17 (BV, BĐ, 17 -N), cấu tạo Rồng (R-3,R-4,R-6,R-5,R-9 ) và các lô 01, 02 (Ruby, Emerald, 15-1- SD) và một vài nơi khác Đá núilửa có mặt dưới dạng các lớp xen kẹp với các lớp đá trầm tích bao gồm diabas phuntrào, bazan (BD, các khoan mỏ Rồng) hoặc andezit, tuf andezit (khoan Ba Vì, các
Trang 2840-khoan lô 01 và 02) với bề dày từ vài mét đến hàng trăm mét (40-khoan 16 -BV có tổngchiều dày các phun trào lên tới 474 m) và những hoạt động núi lửa xảy ra trong nhiềuthời gian khác nhau (khoan 16-BD từ 2621 m đến đáy giếng khoan xuất hiện tới 12 lớp
đá núi lửa với tổng chiều dày tới 394 m) Trầm tích Trà Tân được tạo thành trong điềukiện tướng đá môi trường không giống nhau giữa các khu vực: từ điều kiện sông bồitích, đồng bằng châu thổ, đầm lầy vũng vịnh đến xen kẽ các pha biển nông Các trầmtích chủ yếu là sét giàu vật chất hữu cơ và các tàn tích thực vật thuộc tướng đầm hồ,đầm lầy vũng vịnh chiụ ảnh hưởng của biển ở các mức độ khác nhau phát triển tươngđối rộng rãi trong hầu hết khu vực, đặc biệt là từ phần trung tâm của bể kéo dài về phía
ĐB, nơi ảnh hưởng của môi trường biển ngày một tăng lên Trong khi đó tỷ lệ cátchiếm ưu thế, xen kẽ sét, bột thuôc môi trường bồi tích, sông, đồng bằng châu thổ gặptương đối phố biến tại khu vực đới nâng Trung Tâm (cấu tạo Bạch Hổ và ĐN Rồng)
và phần nhiều lô 16, 17 rìa bắc và phần TB của bể Trầm tích của hệ tầng Trà Tân cóchiều dày quan sát theo GK thay đổi từ 400 - 800 m, còn ở các nơi trũng có thể đạt đến
1500 m Trên mặt cắt địa chấn, chúng tôi đánh dấu trầm tích hệ tầng Trà Tân bằng tậpđịa chấn E2 – D –C (CL7 – CL6 - CL5) Phía dưới là những vùng phản xạ gần nhưtrắng, biên độ thấp với tần số trung bình đến cao, còn phía trên phản xạ có biên độ liêntục tốt, tần số trung bình, biên độ khá, phân lớp tốt Phần phía Tây, ở các lô 16, 17phản xạ song song, biên độ vừa đến mạnh, độ liên tục trung bình đến tốt, tần số thấp.Phần trung tâm phản xạ song song, phân kỳ, vắng mặt ở các đới nâng cao (như Rồng),vận tốc lớp đạt 3100-3600 m/s, tỷ lệ cát/sét thấp Đường điện trở cao, trầm tích đầmhồ
Tài liệu cổ sinh chỉ phát hiện thấy bào tử phấn hoa và tảo nước ngọt thuộc cácđới:
- Phức hệ Cicatricosisporites/ Verrutricolporites pachydermus.
- Đới Florschuetzia trilobata
- Tầng sét “Sapropel facies”
Trầm tích hệ tầng này hiện chỉ thấy chứa nhiều bào tử phấn hoa, thành phần rất
phong phú: Magnastriatites howardi, Crassoretitriletes nanhaiensis, Potamogeton,
Pinuspollenites, Verrucatosporites, Triletes, Tsuga, Florschuetzia trilobata, Onagranaceae với Jusoena, Alnipollenites, Carya, Tricolpites, Cicatricosisporites, Verrutricolporites pachydermus Đặc biệt trầm tích chứa nhiều vật liệu hữu cơ dạn g vô
định hình sapropel, dạng vật liệu hữu cơ nảy sinh trong điều kiện hồ không có ôxy.Tính chất này Morley gọi là Sapropel facies trong khi phân tích các khoan trên lô 15
Ngoài ra còn gặp nhiều tảo nước ngọt Pediastrum, Bosidinia.
Trang 29Tuổi Oligoxen muộn đã được xác định theo Cicatricosisporites, Verrutricolporites pachydermus và Florschuetzia trilobata (vắng các dạng trẻ hơn của
giống Florschuetzia: tiêu chuẩn của đới Florschuetzia trilobata Oligoxen).
Hệ Neogen - Thống Mioxen - Phụ thống Mioxen dưới
Hệ tầng Bạch Hổ (N1 1 bh)
Hệ tầng Bạch Hổ được mô tả và lấy theo tên của giếng khoan Bạch Hổ 1 docông ty Mobil khoan 1974 Do ranh giới trên của hệ tầng là ranh giới giữa 2 tập sét:tập sét ở dưới (hệ tầng Bạch Hổ) và sét Rotalia ở trên Tuy nhiên các nghiên cứ u gầnđây về chu kỳ trầm tích và thời gian thành tạo thì kết hợp phần dưới của hệ tầng vớitập sét sẽ cho một chu kỳ hoàn chỉnh (thô - mịn), đồng thời các dấu hiệu cổ sinh mớiđây cũng cho thấy sét Rotalia nằm ở cuối Mioxen sớm - đầu Mioxen giữa nên cũng c óthể xếp vào phần trên cùng của Mioxen sớm, do đó chúng tôi đã xếp tập sét Rotaliavào phần trên cùng của hệ tầng Bạch Hổ Mặt cắt chuẩn của hệ tầng Bạch Hổ được mô
tả tại giếng khoan BH1 từ độ sâu 2037 - 2960m, bao gồm 2 phần: phần dưới chủ yếu làsét, cát kết phân lớp mỏng màu xám đen, xám xanh, hàm lượng cát tăng dần và xencác lớp bột kết màu xám, màu nâu Phần trên chủ yếu là sét màu xám nâu chuyển dầnlên sét màu xám xanh, đồng nhất chứa hoá đá động vật biển nhóm Rotalia nên gọi làsét Rotalia (chủ yếu là Ammonia kích thước 1/10 mm) Bề dày của hệ tầng ở giếngkhoan BH1 đạt khoảng 923 m
Quan sát trong toàn khu vực thấy trầm tích hệ tầng Bạch Hổ phát triển khá rộngkhắp và duy trì 2 phần rõ rệt:
- Phần dưới gồm cát kết hạt khác nhau xen kẽ bột kết và sét kết, đôi nơi có chứavụn than hình thành trong alluvi đến đồng bằng châu thổ ngập nước trong điều kiệnnăng lượng thay đổi khá mạnh từ vùng này đến vùng khác
- Phần trên ở hầu hết mọi nơi phát triển tập đá sét kết tương đối sạch, chứanhiều hoá đá biển nông Rotalia xen kẽ các lớp bột kết ít lớp cát kết hạt nhỏ, màu xámlục chứa nhiều glauconit Nhìn chung môi trường biển, biển nông có xu hướng tăngdần khi đi từ rìa TN của bể (lô 16, 17, rìa TN cấu tạo Rồng) qua phần trung tâm đếnkhu vực phía ĐB bể (lô 01 và các lô 15)
Toàn bộ phần trên cùng trầm tích Mioxen dưới hệ tầng Bạch Hổ phản ánh mộtquá trình biển tiến
Phần trên của lát cắt ở nhiều nơi (đặc biệt ở khu vực trung tâm thuộc các cấutạo Bạch Hổ, Rạng Đông, một phần lô 01, 15-1) thường gặp các lớp cát kết hạt từ nhỏđến trung, lựa chọn trung bình đến tốt (S0=1.6-2.1), đa phần bán góc cạnh đến bán tròn
Trang 30cạnh hoặc tương đối tròn cạnh Trong cát kết thường chứa nhiều Foram và glauconit,
pyrit và siderit Phần dưới của mặt cắt tại những nơi gần các khố i nhô cao hoặc gầncác nguồn cung cấp vật liệu (phần dưới tầng chứa B1 thuộc mỏ Rồng, Sói, RD -4X,RD-2X, Ruby-3P, v.v) các lớp cát kết hạt thô đến rất thô (Md: 0.5-2.0 mm), có độlựa chọn và mài tròn rất kém phát triển, đôi nơi còn xuất hiện các lớp sạn kết hoặc cátkết chứa cuội sỏi Cấu tạo phân lớp ngang, phân lớp ngang gợn sóng, phân lớp xiên vàxiên mỏng rất phổ biến trong các trầm tích của hệ tầng Tương tự như hệ tầng Trà Tâncát kết thường rất đa khoáng, phần lớn là loại arkos lithic với sự có mặt ca o củafelspat, thạch anh và mảnh đá (granitoid, phun trào, ít mảnh đá biến chất) Xi mănggắn kết gồm khoáng vật sét, carbonat, đôi nơi có anhydrit (các khoan 15 -1-RD, lô 16
và một số khoan ở Bạch Hổ) Đá của tầng Bạch Hổ mới bị biến đổi thứ sinh ở giaiđoạn katagenes sớm, do vậy ảnh hưởng không đáng kể đến độ rỗng và độ thấm nguyênsinh của đá Với đặc tính trầm tích và thạch học, nhưvậy ở phần lớn các cấu tạo đãphát hiện được một số tập cát kết của hệ tầng có chứa sản phẩm dầu khí với chất lượngchứa tốt, với độ rỗng 15-30% và độ thấm thường >100mD Tập đá sét kết chứa hoá đáRotalia màu lục, xám lục, phân lớp mỏng xiên chéo và song song, dạng khối Tuynhiên màu xắc và bề dày của tập sét này cũng thay đổi nhiều trong các khu vực nằmphần rìa TN của bể (cấu tạo Rồng, 2217-VT, 17-DD v.v Tại các khu vực này đá sét lạichuyển sang màu tím phớt đỏ hoặc xám nâu, nâu đỏ và bề dày của tập sét cũng mỏng
đi nhiều chỉ khoáng trên dưới 10 m so với bề dày cực đại vài chục mét (các khoanphần ĐB của bể ở lô 15-1, 01) Nhìn chung tập đá sét có thành phần tương đối đồngnhất gồm kaolinit, clorit và một lượng đáng kể montmorinolit Thực tế tập đá sét nàyđược coi như một tầng đánh dấu và là một tầng chắn dầu/khí tốt mang tính khu vựccho toàn bể khu vực trung tâm và phía đông của bể Tại nhiều giếng khoan ở các lô 01,
02, 15-1 và 15-2 và tại GK 16-BĐ thường xuất hiện các đá núi lửa dày từ vài mét đếnhàng trăm mét (01-Tourquoi- 1X) gồm phần nhiều là đá bazan thường gặp xen kẽnhiều lớp (chứng tỏ hoạt động núi lửa xảy ra nhiều lần) với diện phân bố rộng và ởmột số khu vực có thể liên kết được giữa các giếng khoan với nhau Hệ tầng Bạch HổB1 (CL4-2 – CL4-1) có chiều dày thay đổi từ 400 -800 m Trên mặt cắt địa chấn trầmtích hệ tầng Bạch Hổ, ở phía trung tâm các phản xạ có d ạng song song, biên độ trungbình, độ liên tục kém liên quan đến môi trường đồng bằng ven bờ, biển nông Vận tốclớp đạt 3000-3100 m/s, năng lượng trung bình đến cao, tỷ lệ cát sét thấp, phân lớpmỏng Đường gamma thay đổi từ thấp đến cao, điện trở ở mức đ ộ trung bình Phầnphía tây phản xạ lộn xộn đến song song, biên độ trung bình đến khá, độ liên tục kémđến trung bình, tần số trung bình đến cao, biểu hiện sự thay đổi nham tướng thô dần vềcánh phía Tây củabể Hoá đá cổ sinh tương đối phong phú bao gồm bà o tử phấn
Trang 31hoa,Nannoplankton và Foram thuộc các phức hệ Magnastriatites howardi/ Pediastrum/ Botryococcus.
- Đới Florschuetzia levipoli
- Đới Rotalia
Bào tử phấn hoa rất phong phú thường nằm trên cả hệ tầng này, khoảng này
trầm tích chủ yếu là sét/bột kết Bào tử phấn hóa đặc trưng: Florschuetzia levipli, Fl.
Trilobata rất phong phú Retimonocolpites, Magnastriatites howardi, Echiperipeporites estelae, tảo nước ngọt Pediastrum Ngoài ra còn có Tripollenites, Crudia, Leguminosae, Crassoretitriletes nanhaiensis,Alnipollenites, Carya, Dipterocarpidites, Browlowia, Pterospermum, Illexpollenites, Durio, Lycopodium, Gemmamonoles, Palmae, Perfotricolpites digitatus, Retitricolpites, Tricolporopollenites v.v và rất
nhiều tảo nước ngọt, hơi lợ/ nước ngọt Botryococcus Trong phần dưới của hệ tầng Bạch Hổ chứa nhiều cát, bào tử phấn hoa ít đi nhiều chỉ gặp ít Magnastriatites
howardi, tảo Botryococcus Hoá đá vi cổ sinh ít chỉ gặp phức hệ chủ yếu Ammonia với Ostracoda trong lớp sét xanh nằm trên cùng của hệ tầng Bạch Hổ vớ i nhiều Dinoflagellata, màng vỏ Foraminifera và vật liệu vô định hình biển Trong toàn bộ hệ
tầng Bạch Hổ ngoài lớp chứa Rotalia, các lớp vi cổ sinh gặp lác đác xen kẽ với
Osstracoda đầm lầy/ nước lợ và Ammonia ở lô 15/1 (khoan 15/1 STD3X 1795-1835
m) có gặp một tập hợp chứa cả Plankton có Proeorbulina N8 tuổi Mioxen sớm.
Hệ Neogen - Thống Mioxen - Phụ thống Mioxen giữa
Hệ tầng Côn Sơn (N1 2 cs)
Trầm tích thuộc hệ tầng Côn Sơn được chọn mô tả lần đầu tiên tại giếng khoan15B-1X trên cấu tạo Côn Sơn từ độ s âu 1583 - 2248 m Trầm tích hệ tầng Côn Sơnphân bố tương đối rộng khắp toàn bể Cửu Long, chúng được hình thành trong điềukiện môi trường thay đổi từ sông, đồng bằng châu thổ (các lô 16, 17 và TN Rồng) đếnđồng bằng châu thổ, đầm lầy ven biển và biển nông (lô 09, lô 01, lô 02, lô 15-1, lô 15-2) Tính chất biển tăng dần khi đi từ phía dưới lên trên mặt cắt Trầm tích bị biến đổithứ sinh yếu (katagenes sớm đến diagenes) đặc trưng bởi cát kết gắn kết rất yếu hoặc
bở rời,còn sét kết thường mềm, dẻo và còn khả năng tan trong nước Mặt cắt trầm tích
có thể phân thành hai phần chính:
- Phần dưới của tầng được cấu thành chủ yếu bởi đá cát kết hạt từ nhỏ đến thôđôi khi cát chứa cuội và sạn (17 -ĐĐ, R-4, R-6, Sói-1, 15-G) màu xám, xám trắng phânlớp dày tới dạng k hối, độ chọn lọc và mài tròn thay đổi từ trung bình đến kém Cát kếtthường chứa các mảnh vụn Foram và đôi khi có glauconit cùng nhiều các vụn than Đá
Trang 32gắn kết yếu tới bở rời bởi xi măng sét và carbonat Phần lớn các đá cát kết của tầng có
độ rỗng và độ th ấm thuộc loại rất tốt và chúng có khả năng là những tầng chứa dầu khí
có chất lượng tốt
- Phần trên chuyển dần sang cát kết hạt mịn, hạt nhỏ xen kẽ các lớp sét kết, sétchứa vôi hoặc đôi khi các lớp đá vôi mỏng màu xám xanh đến xám oliu, nâu đỏ, vàngnâu loang lổ (Sói-1, 15-G, R-6), các lớp sét chứa than, các thấu kính hoặc các lớp thannâu mỏng màu đen
Hệ tầng Côn Sơn BII (CL3) có bề dày từ 660 -1000m Trên mặt cắt địa chấn cácphản xạ song song, biên độ lớn, độ liên tục tốt, tần số cao Phần phía đông gồm cácphản xạ có độ liên tục kém hơn, biên độ lớn hơn, tần số trung bình đặc trưng cho trầmtích đầm lầy, đồng bằng ven biển, năng lượng cao, tỷ lệ cát/sét trung bình đến cao Cát
có xu hướng hạt mịn hướng lên trên Đường gamma và điện trở thường có giá trị trungbình.Quan hệ chỉnh hợp với các trầm tích của hệ tầng Bạch Hổ Trong trầm tích hệtầng Côn Sơn đã phát hiện thấy các bào tử phấn hoa và các hoá đá biển thuộc nhómForam và Nannoplankton, chúng thuộc các phức hệ Mioxen giữa gồm:
- Phức hệ Florchuetzia meridionalis
- Phức hệ Tf2 Lepydocyclina/ Orbulina universa đới N9-N14.
Các bào tử phấn hoa đặc trưng: Dacrydium, Fl meridionalis, Fl levipoli, Fl.
trilobata, Fl semilobata, Magnastriatites howardi, Acrostichum, Stenochlaena palustris, Carya, Alnipollenites, Triletes, Eugeisona insignis, Calophyllum, Browlowwia, Altingia, Polypodiaceiosporites, rất nhiều.Dinoflagellata, màng vỏ Foraminifera Các vi cổ sinh gồm Operculina, Myogypsina (Tf2), các dạng của
Pseudorotalia, Ammonia beccarii, Lepydocyclina, Elphidium không cổ hơn N9
theo FAD và N14 của Globorotalia siakensis.
Các Nannofossil gặp ít dạng có khoảng phân bố địa tầng dài: Calcidiscus
marcintyrei (NN4-NN19), Calcidiscus leptopus (NN4-NN21), Thoracosphaera tuberosa, Umbilicosphaera sibogae foliosa (NN9-NN21).
Tuổi Mioxen giữa được xác định theo LAD của Fl trilobata, Fl Semilobata FAD của Eugeisonia, insignis FAD của Myogypsina Tf2 và không cổ hơn NN9 của
Umbilicosphaera sibogae foliosa.
Môi trường: chuyển tiếp từ bồi tích/ đồng bằng ven biển sang tam giác châu
(tướng Rhizophora) đến biển nông (tướng Operculina/ Lepydocyclina/ Myogypsina).
Hệ Neogen - Thống Mioxen - Phụ thống Mioxen trên
Trang 33Hệ tầng Đồng Nai (N1 3 đn)
Mặt cắt chuẩn của hệ tầng Đồng Nai được xác lập tại giếng khoan 15G -1X(cấu tạo Đồng Nai,Sư tử đen hiện nay) nơi hệ tầng mang tên Tại đây từ độ sâu 650 m -
1330 m trầm tích gồm những lớp cát kết hạt nhỏ - trung bình Cát sạn kết chuyển dầnlên là cát kết xen bột kết, sét kết và than Có nơi thấy pyrit và glauconit Đường congcarota phân dị rõ, thể hiện thành phần hạt thô là chủ yếu Bề dày của hệ tầng ở giếngkhoan này là 680 m Hệ tầng Đồng Nai có mặt trong toàn khu vực bao gồm các trầmtích được hình thành trong môi trường sông, đồng bằng châu thổ, đầm lầy ven biển.Trầm tích đang ở giai đoạn thành đá sớm (diagenes sớm), đá mới chỉ được gắn kết yếuhoặc còn bở rời và dễ hoà tan trong nước Mặt cắt trầm tích có thể phân thành 2 phầnchính:
- Phần dưới gồm chủ yếu là các trầm tích hạt thô, cát hạt trung đến thô lẫn sạn,sỏi đôi khi chứa cuội Đá cát có cấu tạo phân lớp dày hoặc dạng khối, độ chọn lọc vàmài tròn trung bình đến kém, thường chứa nhiều mảnh vụn hoá đá động vật, pyrit vàđôi khi có glauconit Chuyển lên trên là cát/cát kết chủ yếu là hạt nhỏ, màu xám, xámsáng, xám phớt nâu, bột/bột kết, sét/sét kết xen kẽ những vỉa than nâu hoặc sét chứaphong phú các di tích thực vật hoá than Than gặp khá phổ biến tại các khoan thuộc lô
Khác với hệ tầng Côn Sơn, trong hệ tầng Đồng Nai đã phát hiện nhiều hoá đáForam, Nannoplankton và bào tử phấn hoa Chúng được xếp vào các đới
- Đới Stenochlaena laurifolia
- Phức hệ Amphistegina Tf3
- Đới N17-N18
- Đới NN11
Trang 34Khác hẳn với phức hệ cổ sinh nằm dưới, phức hệ này chứa rất nhiều hoá đáForaminifera và các hoá đá biển khác Trong thành phần vi cổ sinh chiếm chủ yếu là
các dạng phát triển trong Mioxen muộn như Pseudorotalia, trong đó nhiều
Foraminifera Operculina và Amphistegina lepidocylina trong đá vôi của Tf3 rất đặc
trưng Các trôi nổi Foraminifera phong phú: Orbulina universa, Globigerinoides
sacculifer, Gdes immaturus, Gdes trilobus.
Đới N18 theo LAD của Globigerina venezuela không cổ hơn N16 theo FADcủa Globorotalia acostaensis.Các Nannofossil gồm: Amautholithus delicatus, Calcidiscus leptoporus,Calcidiscus marcintyrei, Coccolithus miopelagicus, Coccolithus pliopelagicus, Discoaster brouweri, Discoaster variabilis, Helicosphaera careiry, Helicosphaera kamptneri, Pontosphaera japonica, Reticulofenestra pseudoumbilica đới NN10- NN11 dựa theo Discoaster quinqueramus, Discoaster
bergrenii và LAD trong NN10 của Coccolithus miopelagicus Bào tử phấn hoa xác
định tuổi Mioxen muộn là FAD của bào t ử Stenochlaena laurifolia Ngoài ra rất phong phú các dạng khác: Fl levipoli; Fl meridionalis (vắng mặt Fl trilobata), Rhizophora,
Carya, Pinus, Dacrydium, nhiều Polypodiaceisporites, Acrostichum và nhiều dạng
biển của màng vỏ Foraminifera, Dinosfagellata khác Phân bố: toàn bể Cửu Long, tuy
nhiên ở phía đông của bể các hoá đá biển tìm thấy nhiều hơn
- Phần trên ưu thế là sét, bột kết phong phú Foram đa dạng và Nannoplankton
Bề dày của hệ tầng ở lỗ khoan này là 400 m Trầm tích hệ tầng Biển Đông phát triểnrộng khắp trong vùng, đặc điểm chung nhất của hệ tầng là được hình thành chủ yếutrong môi trường biển nông và trầm tích còn bở rời Lát cắt trầm tích gồm chủ yếu cátthạch anh màu xám, xám sáng, xám lục hoặc xám phớt nâu, hạt từ trung đến thô, xen
kẽ ít lớp sét, bột Cát phân lớp dày hoặc dạng khối, hạt vụn có độ chọn lọc và mài tròntrung bình đến tốt, thường chứa phong phú mảnh vụn hoá đá động vật biển, pyrit, đôikhi các mảnh vụn than
Hệ tầng Biển Đông có chiều dày thay đổi từ 400-700 m, nó rất dễ nhận biết trêncác băng địa chấn bằng đặc điểm của tập địa chấn A (CL1) với đặc trưng là phản xạ
Trang 35song song, độ liên tục tốt, biên độ trung bình đến cao, tần số cao Vận tốc lớp 1500
-2000 m/s Đặc trưng của nham tướng thềm biển năng lượng cao, tỷ lệ cát/sét cao, phânlớp tốt Đường gamma và điện trở có giá trị cao, xu thế hạt mịn hướng lên trên Mặtbất chỉnh hợp với hệ tầng Đồng Nai thể hiện rõ theo kiểu biển tiến và 2 pha phản xạmạnh, biên độ lớn Trong trầm tích của hệ tầng đã phát hiện phong phú các hoá đáđộng vật biển có ý nghĩa định tầng của nhóm Foram trôi nổi và các Nannoplankton.Ngoài ra cũng thấy các bào tử phấn hoa, các hoá đá dược xếp vào các đới:
- Đới Dacrydium Pseudorotalia
- Đới N19
- Đới NN12
Các Foraminifera phong phú các dạng bám đáy của Pseudorotalia, Ammonia,
Asterorotalia, Bigeneriana, Elphidium và ít dạng trôi nổi thuộc Globorotalia, Grobigerinoides trong đó các dạng có LAD trong N19 có Globigerinoides Obliquus, Gdes, extremus, Globoquadrina altispira, Globorotalia miocenica đi với
Sphaeroidinella subdehiscens có FAD trong N19 của Plioxen Nannofossil cũng rất
phong phú, dạng xác định đới NN12 Plioxen là Discoaster intercalcaris khi vắng các
dạng của NN11
Hoá đá bào tử phấn hoa rất đa dạng, nhưng rất phong phú Dacrydium,
Stenochlaena laurifolia, Altingia (không trẻ hơn Plioxen) vắng các dạng cổ hơn (Fl trilobata chẳng hạn) và nhiều Dinoflagellata biển khác Phân bố: toàn bể Cửu Long.
Môi trường trầm tích: Biển nông Địa tầng tổng hợp bể Cửu Long: Tổng kết lại các kếtquả nghiên cứu địa tầng trầm tích Đệ tam ở bể Cửu Long đã được trình bày trên có thểtóm tắt thành cột địa tầng tổng hợp của mỏ Bạch Hổ
3.2 ĐẶC ĐIỂM KIẾN TẠO MỎ BẠCH HỔ
Mỏ Bạch Hổ nằm đúng vào cấu tạo lồi ở phần giứa nâng trung tâm của trũngCửu Long Trũng Cửu Long là cấu tạo âm lớn bậc một mang tính khu vực Trongtrũng Cửu Long chia ra được hai võng lớn (võng Trung Tâm và võng Đông Nam CửuLong) và đới nâng trung tâm, tât cả chúng đều là cấu tạo bậc hai Trong phạm vi nângtrung tâm theo hướng Tây Nam sang Đông Bắc đã phát hiên 3 cấu tạo nêp lồi có cấu
Trang 36trúc phức tạp “Rồng, Bạch Hổ, Rạng Đông” Có liên quan đên đơn vị cấu trúc bậc 3 xéttheo kích thước.
Theo tài liệu địa chấn 3D và khoan sâu, cấu tạo mỏ Bạch Hổ là khối nâng địaluỹ của móng granitoid bị chôn vùi, chạy theo hướng Đông - Bắc, mỏ có kích thước25*6km và biên độ 1400 m theo đường đồng mức khép kín -4450m Do sự hiện diệnnhiều đứt gãy giảm dần đến tắt hẳn nên mỏ có cấu trúc phức tạp bị chia ra nhiểu khối
Từ dưới lên trên theo mặt cắt, cấu tạo phẳng dần và giảm dần kích thước Biên độ đứtgãy giảm dần đến tắt hẳn
Theo tài liệu địa chấn 3D mới thu nổ ở phần cùng phía Bắc cấu tạo, các đứt gãychính tiếp tục kéo dài lên phía Bắc Phần nghiêng xoay được thể hiện bằng sự l ún chìmmạnh với góc ngiêng đến 45o Theo kết quả tái xử lý và tái minh giải tài liệu địa chấn3D có sử dụng tài liệu khoan, đã chính xác lại mạng lưới đứt gãy, đặc tính và vị trí cácđường đồng mức
Ở phía Tây cấu tạo giới hạn bởi các đứt gãy nghịch F1, F 2, F3 được xác địnhtrên các mặt cắt địa chấn và một số giếng khoan như: 450, 924, 485, 2001, 140, trong
đó có sự lặp lại của lát cắt trầm tích Hướng của các đứt gãy nghịch trùng với đườngphương của cấu tạo Ở phía Đông khối nâng được giới hạn bởi các đứt gãy thuận F5,F6, F7 Ở các phần đỉnh chúng được phân chia thành các đứt gãy nhỏ hơn: F5.1, F5.2,F6.2, F6.3
3.2.1 Đặc điểm phân vùng kiến tạo
Trước năm 2000 bể Cửu Long chỉ được xem là phần ngoài khơi thềm lục địa, vìvậy dựa vào đặc điểm kiến tạo như quy mô đứt gãy, đới nâng, đới sụt Các đơn vị cấutrúc được nhiều tác giả phân chia như sau:
1- Đơn nghiêng Tây Nam
2- Trũng Trung Tâm
3- Đới nâng Trung tâm Rồng - Bạch Hổ
4- Trũng Tây Bạch Hổ
5- Đơn nghiêng rìa Tây Nam
6- Đới phân dị Tây Nam
Gần đây bể Cửu Long được nghiên cứu chi tiết hơn do phát hiện được tiềmnăng dầu khí ở các lô 01, 02, 15-1, 15-2, 09-1, 09-2, 09-3 v.v và phát hiện ra nhiều
mỏ mới nên quan tân đến cả phần rìa của bể vì thế việc phân ra các đơn vị cấu trúccũng chi tiết hơn Kết qu ả thành lập được 5 bản đồ cấu trúc nóc tầng móng, nóc E, nóc
Trang 37D, nóc C và nóc B1 Các đơn vị cấu trúc của bể Cửu Long được tập thể tác giả phânchia như sau:
3.2.1.1 Trũng phân dị Bạc Liêu:
Là một trũng nhỏ nằm ở phần cuối Tây Nam của bể Cửu Long với diện tíchkhoảng 3600km2 Gần một nửa diện tích của trũng thuộc lô 31, phần còn lại thuộcphần nước nông và đất liền Trũng có chiều dày trầm tích Đệ Tam không lớn khoảng3km và bị chia cắt bởi các đứt gãy thuận có phương Tây bắc -Đông nam (TB - ĐN).Trong trũng có khả năng bắt gặp trầm tích như trong trũng phân dị Cà Cối
3.2.1.3 Đới nâng Cửu Long:
Nằm về phía Đông của trũng phân dị Bạc Liêu và Cà Cối, phân tách 2 trũn g nàyvới trũng chính của bể Cửu Long Đới nâng có chiều dày trầm tích không đáng kể, chủyếu là trầm tích hệ tầng Đồng Nai và Biển Đông Đới nâng không có tiền đề, dấu hiệudầu khí vì vậy đã không được nghiên cứu chi tiết và không xác định sự phát triển c ácđứt gãy kiến tạo
3.2.1.4 Đới nâng Phú Quý:
Được xem như phần kéo dài của đới nâng Côn Sơn về phía Đông Bắc, thuộc lô
01 và 02 Đây là đới nâng cổ, có vai trò khép kín và phân tách bể Cửu Long với phầnphía Bắc của bể Nam Côn Sơn Tuy nhiên, vào giai đ oạn Neogen - Đệ Tứ thì diện tíchnày lại thuộc phần mở rộng của bể Cửu Long Chiều dày trầm tích thuộc khu vực đớinâng này dao động từ 1.5 đến 2km Cấu trúc của đới bị ảnh hưởng khá mạnh bởi hoạtđộng núi lửa, kể cả núi lửa trẻ
3.2.1.5 Trũng Cửu Long:
Đây là phần lún chìm chính của bể, chiếm tới 3/4 diện tích bể, gồm các lô 1,15-2 , 16-1, 16-2, 09-1 và một phần các lô 01, 02, 09-2,09-3 và 17 Theo đường đẳngdày 2km thì trũng chính bể Cửu Long thể hiện rõ nét là một bể khép kín có dạng trăngkhuyết với vòng cung hướng ra về phíaĐông Nam Toàn bộ triển vọng dầu khí đều tậptrung ở trũng này Vì vậy, cấu trúc của trũng được nghiên cứu khá chi tiết và được
Trang 3815-phân chia thành các đơn vị cấu trúc nhỏ hơn như một bể độc lập thực thụ Các đơn vịcấu tạo bậc 3 gồm: trũng Đông Bắc, Trũng Tây Bạch Hổ, trũng Đông Bạch Hổ, sườnnghiêng Tây Bắc, sườn nghiêng Đông Nam, đới nâng Trung tâm, đới nâng phía Bắc,đới nâng phía Đông, đới phân dị Đông Bắc, đới phân dị Tây Nam.
3.2.1.6 Đơn nghiêng Tây Bắc:
Là dải sườn bờ Tây Bắc của bể kéo dài theo hướng Đông bắc - Tây nam TN), chiều dày trầm tích tăng dần về phía Tây Nam từ 1 đến 2,5km Sườn nghiêng bịcắt sẻ bởi các đứt gãy kiến tạo có hướng Tây bắc -Đông nam (TB-ĐN) hoặc Đông bắc
(ĐB Tây nam (ĐB(ĐB TN), tạo thành các mũi nhô Trầm tích Đệ Tam của bể thường có xuhướng vát nhọn và gá đáy lên móng cổ granitoid trước Kainozoi
3.2.1.7 Đơn nghiêng Đông Nam:
Là dải sườn bờ Đông Nam của bể, tiếp giáp với đới nâng Côn Sơn Trầm tíchcủa đới này có xu hướng vát nhọn và gá đáy với ch iều dày dao động từ 1 đến 2,5km.Sườn nghiêng này cũng bị phức tạp bởi các đứt gãy kiến tạo có phương Đông bắc -Tây nam (ĐB-TN) và á vĩ tuyến tạo nên các cấu tạo địa phương như cấu tạo 09 -3A,Sói ,Cá ông đôi, và một vài cấu tạo khác
3.2.1.10 Trũng Đông Bạch Hổ:
Nằm kẹp giữa đới nâng Trung Tâm về phía Tây, sườn nghiêng Đông Nam vềphía Đông -đông nam (Đ - ĐN) và đới nâng Đông Bắc về phía Bắc Trũng có chiềudày trầm tích đạt tới 7km và là một trong ba trung tâm tách giãn của bể
3.2.1.11 Đới nâng Trung Tâm:
Trang 39Là đới nâng nằm kẹp giữa hai trũng Đông và Tây Bạch Hổ và được giới hạn bởicác đứt gãy có biên độ lớn với hướng đổ chủ yếu về phía Đông Nam Đới nâng b aogồm các cấu tạo dương và có liên quan đến những khối nâng cổ của móng trướcKainozoi như: Rồng, Bạch Hổ, Cá Ngừ Vàng, Rạng Đông, Phương Đông, Jade, Cáccấu tạo bị chi phối bởi các đứt gãy trượt bằng và chờm nghịch do ảnh hưởng của sựsiết ép vào Olig ocen muộn.
3.2.1.12 Đới nâng Tây Bắc:
Nằm về phía Tây Bắc trũng Đông Bắc và được khống chế bởi các đứt gãy chínhphương Đông bắc - Tây nam (ĐB - TN) Về phía Tây bắc (TB) đới nâng bị ngăn cáchvới sườn nghiêng Tây bắc (TB) bởi một địa hào nhỏ có chiều dày trầm tích khoảng6km Đới nâng bao gồm cấu tạo Vừng Đông, Sư tử vàng, Sư tử đen, Diamond và dảinâng kéo dài về phía Đông Bắc
3.2.1.13 Đới nâng phía Đông:
Chạy dài theo hướng Đông bắc - Tây nam (ĐB -TN) Phía Tây bắc (TB) ngăncách với trũng Đông bắc (ĐB) bởi hệ thống đứt gãy có phương á vĩ tuyến và Đông bắc-Tây nam ( ĐB - TN) Phía Đông nam (ĐN) ngăn cách với đới phân dị Đông bắc (ĐB)bởi võng nhỏ, xem như phần kéo dài của trũng Đông Bạch Hổ về phía ĐB Trên đớinâng đã phát hiện được các cấu tạo dương như: Opal, Amethyst
3.2.1.14 Đới phân dị Đông Bắc (phần đầu Đông Bắc của bể):
Nằm kẹp giữa đới nâng Đông Phú Quý và đơn nghiêng Tây Bắc Đây là khuvực có chiều dày trầm tích trung bình và bị phân dị mạnh bởi các hệ thống đứt gãy cóđường phương TB - ĐN, á kinh tuyến và á vĩ tuyến tạo thành nhiều địa hào, địa lũynhỏ (theo bề mặt móng) Một số cấu tạo dương địa phương đã được xác định nhưRuby, Pearl, Topaz, Agate
3.2.1.15 Đới phân dị Tây Nam:
Nằm phía Tây Nam của bể Khác với đới phân dị ĐB, đới này bị phân dị mạnhbởi hệ thống những đứt gãy với đường phương chủ yếu là á vĩ tuyến tạo thành nhữngđịa hào, địa lũy, hoặc bán địa hào, bán địa lũy xen kẽ nhau Những cấu tạo có quy môlớn trong đới này phải kể đến: Đu Đủ, Tam đảo , Báo Gấm, Báo Vàng, Bà Đen , Ba Vì
và Voi Trắng,…
3.2.2 Đặc điểm hệ thống đứt gãy phát triển trong mỏ.
Trong mỏ Bạch Hổ đã phát hiện hàng loạt các đứt gãy với quy mô và chiều dàicũng như biên độ dịch chuyển khác nhau Các đưt gãy hình thành và phát triển trong
Trang 40các thời kỳ phát triển khác nhau Các đứt gãy này phát triển chủ yếu theo hướng ĐôngBắc- Tây Nam là chính và hệ thống đứt gãy có phương á vĩ tuyến.
3.2.2.1 Hệ thống đứt gãy Đông Bắc - Tây Nam.
Có hai loại đứt gãy chính là: hệ thống đứt gãy thuận và hệ thống đứt gãynghịch
- Hệ thống đứt gãy thuận.
Các đứt gãy thuận trong vùng là các đứt gãy cổ, được hình thành trướcKainozoi, do móng bị dập vỡ làm xuất hiện hàng loạt các đứt gãy thuận trong mỏ Cácđứt gãy này phát triển theo hướng Đông bắc - Tây Nam, có mặt trươt cắm về hư ớngĐông Nam Đây là các đứt gãy cổ hoạt động trước thời kỳ tạo Rift và kéo dài đến thời
kỳ Mioxen giữa với biên độ hoạt động giảm dần và đến Mioxen giữa thì tắt hẳn Vìvậy chúng có ảnh hưởng rất lớn đến sự bảo tồn và tích tụ dầu khí Chính các các đứtgãy này là các kênh dẫn chinh dầu khí di chuyển từ đá sinh và nạp vào các bẫy chứa và
nó cũng chính là các yếu tố khép kín của các bẫy chứa kiến tạo của khu vực mỏ BạchHổ
- Hệ thống đứt gãy nghịch
Đứt gãy nghịch phát triển trong vùng mỏ rất hạn chế với cư ờng độ hoạt độngrất yếu có chiều dài và biên độ nhỏ Các đứt gãy này phát triển theo hướng Đông Bắc -Tây Nam có góc cắm theo hướng Đông Nam, một vài đứt gãy có hương căm về phíaTây Bắc Các đứt gãy này phát triển là do sự nén ép vào Oligoxen
3.2.2.2 Hệ thống đứt gãy á vĩ tuyế n.
Đây là các đứt gãy cổ phát triển từ trước Kainozoi đến thời kỳ tạo rift Các đứtgãy này có cường độ hoạt động, chiều dài và biên độ không lớn Ảnh hưởng của chúngđến việc bảo tồn, tích tụ và di chuyển của dầu khí là không lớn
3.2.3 Phân tầng cấu trúc.
Thông tin thu nhận được về cấu - kiến tạo mỏ cho phép rút ra kết luận sau:
- Cấu trúc mỏ phát triển thừa kế Điều này được thấy khi quan sát vị trí vòmcấu tạo của tất cả các phức hệ, sự thay đổi chiều dày các phức hệ từ đỉnh đến phần rìa,