1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu tiến trình hoạt động của TTCK Việt Nam trong giai đoạn vừa qua- giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động

40 386 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên cứu tiến trình hoạt động của TTCK Việt Nam trong giai đoạn vừa qua- giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Tài Chính
Thể loại Đề án
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 40
Dung lượng 147,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu tiến trình hoạt động của TTCK Việt Nam trong giai đoạn vừa qua- giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động

Trang 1

LờI NóI ĐầU

Lịch sử phát triển thị trờng chứng khoán (TTCK) đã khẳng định vai trò cơbản và rất quan trọng của thị trờng chứng khoán là khai thác và nâng cao hiệu

quả luân chuyển mọi nguồn vốn trong nền kinh tế Thứ nhất, thị trờng chứng

khoán cung cấp kênh huy động mọi nguồn vốn trong nền kinh tế thông qua hàng

loạt các công cụ tài chính với các mức độ rủi ro khác nhau từ thấp đến cao.Thứ hai, thị trờng chứng khoán giải quyết cơ bản mâu thuẫn giữa ngời cung cấp vốn

(chỉ muốn cung cấp vốn trong thời gian ngắn hoặc có thể rút vốn đầu t bất cứ lúcnào nhằm tránh rủi ro) và ngời sử dụng vốn (muốn đợc sử dụng vốn lâu dài chocác mục đích đầu t dài hạn theo chiều sâu để thu lợi nhuận lớn và bền vững hơn)

Sớm nhận thức đợc vai trò trên của TTCK, ngay từ những năm đầu củacông cuộc cải tổ nền kinh tế, Đảng và nhà nớc ta đã chủ trơng phải xây dựng vàphát triển TTCK Việt Nam có trật tự, dới sự quản lý của nhà nớc trên cơ sở đạt đ-

ợc sự chín muồi về các điều kiện cần thiết nhằm khai thác và sử dụng có hiệu quảnhất nguồn vốn hạn hẹp của nền kinh tế, đảm bảo đợc mục tiêu vốn trong nớc làquyết định trong chiến lợc huy động và sử dụng các nguồn vốn Trên cơ sở chủtrơng này, ngay từ đầu những năm 1990 chúng ta đã rất tích cực học hỏi kinhnghiệm từ các nớc đi trớc, đồng thời chuẩn bị các điều kiện cần thiết cho việchình thành và phát triển TTCK Việt Nam

Ngày 20/7/2000 vừa qua, Trung tâm giao dịch chứng khoán (TTGDCK) Tp

Hồ Chí Minh đã chính thức khai trơng đi vào hoạt động, đây là cột mốc quantrọng trong tiến trình hình thành và phát triển thị trờng chứng khoán Việt Nam,

đồng thời là một bớc đột phá quan trọng trong chiến lợc khai thác và sử dụnghiệu quả các nguồn lực tài chính phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đạihoá đất nớc trong thế kỷ 21.Tuy nhiên cần nhận thức rõ rằng sự hiện diện củamột thể chế kinh tế bậc cao nh thị trờng chứng khoán dù là dới hình thức sơ khai,trong một nền kinh tế mà trình độ phát triển nói chung còn thấp, cấu trúc thể chếcơ bản của nền kinh tế này vẫn còn cha hoàn thiện thì tự nó chứa đựng hàng loạt

vấn đề lý luận và thực tiễn cần suy xét kỹ càng.Với đề tài này chúng ta sẽ nghiên

cứu tiến trình hoạt động của TTCK Việt Nam trong giai đoạn vừa qua nhằm tìm ra đợc những giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động.

Trang 2

Em đang là sinh viên nên nhận thức còn hạn chế, bài viết này chắc chắnkhông thể tránh khỏi những sai sót Em mong cô thông cảm Em xin chân thànhcảm ơn cô giáo đã góp ý kiến cho bài đề án của em.

Trang 3

NộI DUNG

I.Tìm hiểu về thị tr ờng chứng khoán:

1.Lịch sử phát triển thị trờng chứng khoán(TTCK):

Giữa thế kỷ 15 ở Tây phơng, tại những thành phố trung tâm buôn bán, cácthơng gia thờng tụ tập tại một "khu chợ riêng" để thực hiện việc mua bán trao đổicác loại hàng hoá (chủ yếu là nông sản, khoáng sản), ngoại tệ và giá khoán độngsản.Phiên "chợ riêng" đợc diễn ra đầu tiên vào năm 1453 tại một lữ điểm của gia

đình Vanber ở Bruges (Bỉ) Bảng hiệu của lữ điểm này là "Mậu dịch trờng" haycòn gọi là "Sở giao dịch" "Mậu dịch trờng" bao gồm ba nội dung chính: mậudịch trờng hàng hoá, mậu dịch trờng ngoại tệ và mậu dịch trờng giá khoán độngsản Mậu dịch trờng Auvers phát triển rất nhanh Giữa thế kỷ 16, viên quan đạithần tài chính Anh quốc Theomes Gresham đến đây thị sát và sau đó đã thiết lậpmột mậu dịch trờng tại London, nơi mà sau này đợc gọi là Sở giao dịch chứngkhoán London Các mậu dịch trờng khác cũng lần lợt đợc thành lập tại Pháp,

Đức và Bắc Âu.Sau đó một thời gian khi mà một Mậu dịch trờng không còn đủsức cho các giao dịch với ba nội dung khác nhau thì giao dịch hàng hoá đã đợctách thành các khu thơng mại và giao dịch ngoại tệ đợc tách ra thành thị trờnghối đoái, giao dịch giá khoán động sản tách ra thành thị trờng chứng khoán

Vậy là thị trờng chứng khoán đã xuất hiện từ thế kỷ XV Sự hình thành thịtrờng chứng khoán cũng đồng thời với thị trờng hối đoái và các loại thị trờngkhác.Quá trình các giao dịch chứng khoán đợc diễn ra và hình thành TTCK mộtcách tự phát cũng tơng tự tại Pháp, Hà Lan, các nớc Tây, Bắc Âu và Bắc Mỹ Cho

đến nay, trên thế giới đã có gần 200 TTCK, nằm ở hầu hết các châu lục, trong đó

có nhiều thị trờng đợc thành lập cách đây vài trăm năm nh Hà Lan, Pháp, Anhvào thế kỷ 17; ở Mỹ, Tây Đức, Nhật vào thế kỷ 18, 19; ở các nớc trong khu vực

Đông Nam á vào những năm 60-70 của thế kỷ 20; ở các nớc xã hội chủ nghĩa cũ

nh Ba Lan, Hungari, Cộng hoà Séc, Cộng hoà liên bang Nga vào đầu những năm

1990 và Việt Nam vào ngày 1/7/2000 vừa qua Sở giao dịch chứng khoán đã đợcthành lập tại thành phố Hồ Chí Minh đánh dấu một bớc phát triển mới cho nềnkinh tế nớc nhà

Lịch sử phát triển các thị trờng chứng khoán thế giới trải qua một sự pháttriển lúc lên lúc xuống theo kiểu răng ca Thời kỳ huy hoàng nhất là vào nhữngnăm1875-1913, TTCK phát triển mạnh cùng với sự tăng trởng mạnh của nền kinh

Trang 4

tế Nhng rồi đến "ngày thứ năm đen tối" 29/10/1929 đã làm TTCK New York vàcác TTCK Tây, Bắc Âu và Nhật Bản khủng hoảng, mất lòng tin Sau thế chiếnthứ II các TTCK phục hồi, và phát triển mạnh mẽ Nhng cuộc "khủng hoảng tàichính" năm 1987 một lần nữa đã làm cho TTCK thế giới điên đảo Hậu quả của

nó còn nặng nề hơn cuộc khủng hoảng 1929 Cũng nh quy luật của tự nhiên "hết

ma là nắng lên" Sau gần 2 năm mất lòng tin TTCK thế giới lại đi vào giai đoạn

ổn định và phát triển

Theo tạp chí The Economic 14/5/1994 ( UBS ) đã thống kê lãi thực hiệntrong đầu t, mức trung bình hàng năm từ 1984 đến 1993 ( % tính theo đồng đô laMỹ) của một số nớc nh sau:

Nớc Cổ phần Trái phiếu Tiền mặt

TTCK đã có kỹ thuật công nghệ riêng Nhng điều đó không có nghĩa là tấtcả các TTCK trên thế giới ngày nay đều giống nhau Tùy theo đặc điểm kinh tế,xã hội và tâm lý dân chúng của mỗi nớc, họ có cách tổ chức và giao dịch riêng.Nhng dù tổ chức theo phơng cách nào, thì đại cơng các thị trờng chứng khoáncũng đều dựa trên những nguyên tắc cơ bản liên quan đến chứng khoán, tổ chứcthị trờng, giao dịch và sự kiểm soát của nhà nớc

2.Hoạt động trên thị trờng chứng khoán:

2.1.Thị trờng chứng khoán đặc điểm và cơ cấu của TTCK:

Trang 5

Thị trờng chứng khoán là một thị trờng có tổ chức và hoạt động có điềukiện, ở đó thực hiện mua bán các chứng khoán, là nơi gặp gỡ giữa cung và cầu vềchứng khoán, và qua đó giá chứng khoán đợc hình thành qua cung cầu thị trờng.

Nh vậy TTCK là chiếc cầu nối giữa hoạt động của các nhà kinh doanh với nhau,tức là giữa ngời cần vốn (phát hành phiếu vay nợ - chứng khoán ) và ngời có vốn( chủ nợ - nhà đầu t ) Việc mua bán chứng khoán đợc tiến hành tự do nhất địnhtrong quan hệ thị trờng, giá các chứng khoán phản ánh các quan hệ cung - cầu

Đặc điểm của TTCK :

TTCK có những tính chất nội tại trong cơ chế hoạt động của mình nh tínhgián tiếp của loại hình đầu t, tính trung gian của hoạt động mua bán chứngkhoán, tính tơng đối trong việc đánh giá chất lợng hàng hoá ( chứng khoán ), tínhphong phú đa dạng của các hình thức mua bán (hiện tại, tơng lai, thanh toánngay, thanh toán chậm ) Đáng lu ý là tính dễ thoát ly giữa cung cầu về chứngkhoán và ngay giữa "cầu thực" và "cầu ảo", tính nhanh chóng tức thì của các giaodịch chứng khoán, tính nhạy cảm và dễ lan toả của các xu hớng và tâm lý muabán Đồng thời, TTCK còn mang tính đa chiều, khi lên khi xuống của thị giáchứng khoán, khác với tính chất một chiều của các thị trờng hàng hoá dịch vụthông thờng chỉ có đi lên hoặc đi xuống kéo dài Do vậy, kinh doanh trên TTCK

có đặc trng nổi bật là tính chất may rủi và tính đầu cơ cao bên cạnh tính đột biếncủa lợi nhuận thu đợc trên TTCK

Cơ cấu của thị trờng chứng khoán:

Thị trờng chứng khoán thờng đợc phân chia thành hai cấp:cấp I và cấp hai( còn gọi là thị trờng sơ cấp và thị trờng thứ cấp )

-Thị trờng cấp I (thị trờng sơ cấp) là nơi chứng khoán phát hành lần đầukhi tạo lập doanh nghiệp, hoặc doanh nghiệp huy động thêm vốn, hoặc khi chínhphủ các cấp phát hành trái phiếu, công trái Đó là giai đoạ động viên vốn tàichính, là giai đoạn phức tạp nhất, vì nếu xác định không đúng các điều kiện pháthành có thể làm cho chứng khoán không tiêu thụ đợc và gây mất uy tín cho ngờiphát hành Do vậy, trong phần lớn các trờng hợp, tổ chức phát hành chứng khoán

đều có sự tham gia của ngân hàng và các công ty chuyên doanh Tuỳ thuộc tìnhhình cung - cầu, giá chứng khoán ở thị trờng cấp I có thể thấp hoặc cao hơn giádanh nghĩa Với các loại chứng khoán thanh toán thu nhập bình thờng thì giáchứng khoán phụ thuộc vào thời gian gần lúc thanh toán

Trang 6

- Thị trờng cấp II ( thị trờng thứ cấp ) là nơi mua bán lại chứng khoán đãphát hành ở thị trờng sơ cấp Đây là nơi thu hút sự chú ý của công chúng, là nơigiao dịch hàng ngày giữa các nhà môi giới chứng khoán và các thân chủ của họ.

ở đây, các nhà đầu t có thể bán chứng khoán vào bất kỳ lúc nào So với tín dụngthông thờng, hình thức mua bán chứng khoán ở thị trờng cấp II linh hoạt hơn,mềm dẻo hơn

Thị trờng cấp II có một số dạng: Sở giao dịch chứng khoán thông thờng,thị trờng ngoài sở giao dịch chứng khoán Thị trờng này có cơ chế phức tạp, làmmôi giới cho sự biến động cung cầu, cho phép xác định đợc giá hiện thực của các

cổ phiếu, trái phiếu

Giữa thị trờng cấp I và thị trờng cấp II có sự phụ thuộc lẫn nhau Thị trờngcấp hai không thể tồn tại nếu không có sự phát hành chứng khoán có thể chuyểnnhợng tại thị trờng cấp một Mặt khác sự thành công của thị trờng cấp II tạo điềukiện cho thị trờng cấp một thành công

2.2.Nguyên tắc hoạt động của TTCK:

Thị trờng chứng khoán là một định chế tài chính phát triển cao trong cơchế thị trờng, hoạt động theo cơ chế riêng biệt, đợc tiêu chuẩn hoá và mang tínhquốc tế.TTCK hoạt động theo những nguyên tắc cơ bản sau:

- TTCK hoạt động thông qua những ngời môi giới trung gian Nguyên tắcnày nhằm đảm bảo cho các loại chứng khoán đợc giao dịch là chứng khoán thực

và hợp pháp,nhằm bảo vệ lợi ích của ngời đầu t, tránh đợc sự lừa gạt hoặc sai lầm

do không có khả năng dự đoán Những ngời làm công việc môi giới thực hiệnlệnh mua và bán của khách hàng, và họ đợc hởng tỷ lệ hoa hồng do khách hàngtrả

-TTCK là thị trờng cạnh tranh hoàn hảo Giá của chứng khoán đợc hìnhthành trên cơ sở quan hệ cung-cầu chứng khoán trên thị trờng, và đợc thực hiệngiữa các nhà môi giới chứng khoán Không một ai trong TTCK có thể định giámột cách độc đoán

-Tất cả mọi hoạt động trên TTCK đều đợc công khai hoá cho tất cả

thành viên tham gia và dân chúng biết Đây là một trong những nguyên tắc cơ

Trang 7

của cơ quan kiểm toán Tất cả các tài liệu đã đợc kiểm toán đợc công bố côngkhai trên thị trờng, làm chỗ dựa đáng tin cậy cho các thành viên tham gia thị tr-ờng và gây niềm tin cho dân chúng Hoạt động trên nhằm tạo ra môi trờng kinhdoanh trong TTCK "trong suốt nh pha lê".Mọi khách hàng đều có khả năng nhìnthấu suốt thị trờng, và đợc thông báo đầy đủ về các sự việc đang xảy ra.

- Mọi hoạt động của TTCK đều đợc pháp chế hoá bằng các đạo luật, quychế, điều lệ của TTCK nhằm bảo vệ cho các nhà đầu t Nhiệm vụ chính của việcpháp chế hoá TTCK là tạo ra một thị trờng trung thực, trật tự và có hiệu quả,

đồng thời tạo ra một sân chơi bằng phẳng cho các nhà đầu t, bảo vệ các nhà đầu

t tránh khỏi sự lừa đảo, bảo vệ vốn đầu t

Thị trờng chứng khoán thờng đợc thể hiện chủ yếu tại sở giao dịch chứngkhoán và một phần ở những ngân hàng lớn Phần lớn các sở giao dịch chứngkhoán thuộc sở hữu của các thành viên tham gia, có thể do t nhân hoặc một nhómcác công ty cổ phần, tuy nhiên trong một số ít trờng hợp cho chính phủ nắm giữ

Lịch sử phát triển TTCK trải qua 100 năm cho thấy nếu không hoàn thiện

bộ khung pháp chế cho TTCK để hạn chế các tiêu cực, có thể dẫn đến sự sụp đổcủa nền tài chính quốc gia

2.3 Các công cụ chủ yếu của thị trờng chứng khoán:

Công cụ chủ yếu của thị trờng chứng khoán đó là các loại chứng khoán Chứng khoán là chứng từ xác nhận quyền về tài sản, vốn, lợi nhuận và thunhập của ngời chủ sở hữu chứng từ đó đối với ngời phát hành Chứng khoán baogồm : cổ phiếu, trái phiếu và các loại chứng từ khác do hội đồng chứng khoáncủa từng quốc gia quy định

Căn cứ vào lợi tức ngời ta phân chia chứng khoán thành hai loại:

-Chứng khoán có lợi tức cố định: chủ sở hữu của các loại chứng khoán này

đợc hởng một lợi tức cố định, lĩnh vào kỳ hạn đã đợc ấn định trớc khi phát hành.Lợi tức đợc hởng và kỳ hạn nhận lãi không thay đổi, không phụ thuộc vào tìnhtrạng tài chính của các cơ quan phát hành Loại này bao gồm: Công trái, tráiphiếu và kỳ phiếu

-Chứng khoán có lợi tức không cố định: tuỳ hoàn cảnh của các công typhát hành, đến cuối mỗi niên khoá, các công ty sẽ ấn định lợi tức chia cho cácchủ sở hữu của các chứng khoán này, và ấn định ngày trả các lợi tức đó Nh vậy

cổ tức có thể nhiều, ít, hay không có Loại này bao gồm các cổ phần

Căn cứ vào hình thức, chứng khoán phân thành ba loại:

Trang 8

-Chứng khoán không ghi tên: trên đó không ghi tên chủ sở hữu, vì vậy bất

kỳ ngời nào cầm chứng khoán đó đợc coi là chủ hợp pháp Các chứng khoánkhong ghi tên gồm có hai phần: Phần chính có ghi các điều liên quan đến chứngkhoán (cổ phần, trái phiếu ), cơ quan phát hành(tên, trụ sở, số vốn ) mệnh giá,nơi và ngày phát hành Phần phụ chia thành nhiều ô, gọi là tức phiếu, trên mỗitức phiếu có ghi số thứ tự (trờng hợp các cổ phần) hay ghi kỳ hạn (trờng hợp cáctrái phiếu)

-Chứng khoán có ghi tên: Trên đó có ghi rõ cơ quan phát hành loại chứngkhoán, mệnh giá, nơi và ngày phát hành, và nhất là tên và địa chỉ của ngời chủ sởhữu ở mặt đằng sau có bảng chia ra làm nhiều khung Tên và địa chỉ của ngờichủ sở hữu chứng khoán có ghi tên đợc ghi trong một quyển sổ đăng ký

-Chứng khoán hỗn hợp: Trên chứng khoán loại này có ghi tên và địa chỉcủa ngời chủ sở hữu, và chỉ có thể chuyển nhợng theo đúng nh thủ tục của chứngkhoán có ghi tên( nghĩa là phải sửa tên của ngời chủ sở hữu trên sổ đăng ký vàtrên chứng khoán ) Những chứng khoán hỗn hợp có kèm theo các tức phiếu, cóthể xé rời ra để lĩnh lợi tức nh các chứng khoán không ghi tên Tóm lại các chứngkhoán hỗn hợp chỉ ghi tên đối với vốn, chứ không ghi tên đối với tiền lời

Đặc biệt trong các trờng hợp sau đây bắt buộc chứng khoán phải là hìnhthức có ghi tên:

+Các cổ phần cha hoàn toàn giải phóng(cổ phần cha góp đủ vốn ghi ởmệnh giá)

+Các cổ phần hiện vật(trờng hợp hùn vốn bằng hiện vật)trong thời gian hainăm kể từ ngày phát hành

+Các cổ phần để đảm bảo của các hội viên hội đồng quản trị

Trang 9

Việc ấn định giá phát hành cổ phiếu có thể có các trờng hợp sau :

-Phát hành bình giá, nghĩa là số tiền phải trả để mua cổ phiếu bằng mệnhgiá

-Giá phát hành thấp, khi công ty đang gặp khó khăn trong hoạt động, cầntăng thêm vốn, để thu hút ngời mua phải bán cổ phiếu với giá thấp hơn mệnh giá

-Giá phát hành cao, khi công ty đang hoạt động thịnh vợng, cần tăng thêmvốn, công ty có thể phát hành cổ phiếu cao hơn mệnh giá

Trị giá và giá cả cổ phiếu thờng xoay quanh giá trị gốc của nó và lợi tức cổphần mà cổ phiếu đaị diện

Thị giá cổ phiếu là giá cả của cổ phiếu bán trên thị trờng Thị giá cổ phiếu phụthuộc trực tiếp vào lãi nhận đợc theo cổ phần, do vậy lãi cổ phần càng nhiều thìngời mua trả giá cổ phiếu càng cao Mặt khác, thị giá cổ phiếu còn tỷ lệ nghịchvới lãi suất thị trờng tiền tệ, lãi suất thị trờng tiền tệ càng thấp thì thị giá cổ phiếucàng cao Nhà đầu t luôn so sánh lãi nhận đợc theo cổ phiếu với lợi tức nhận đợckhi họ gửi tiền vào ngân hàng Nếu lãi suất của ngân hàng trả thấp thì họ sẽ dồntiền để mua cổ phiếu, làm cho giá cổ phiếu lên cao

Bên cạnh các cổ phiếu thông thờng(các cổ phiếu có quyền bỏ phiếu bầuhội đồng điều hành ) còn có các loại cổ phiếu đặc biệt Ai mua loại cổ phiếu nàythì không có quyền bầu hội đồng điều hành công ty, nhng đợc đảm bảo thu nhập

ổn định, có quyền u đãi hơn so với các loại cổ phiếu thông thờng khi trả lợi tứchoặc giải thể công ty Lợi tức của cổ phiếu này cũng khác so với các loại cổphiếu thờng Đối với loại cổ phiếu thờng thì lợi tức thay đổi theo mức lợi nhuậncủa công ty Đối với các loại cổ phiếu u đãi lợi tức đợc quy định theo một tỷ lệphần trăm cố định, không thay đổi theo mức lợi nhuận của công ty

b,Trái phiếu và các loại trái phiếu:

Trái phiếu là chứng từ xác nhận quyền chủ nợ của ngời có trái phiếu đốivới ngời phát hành về số tiền ghi trên chứng từ đó Ngời phát hành trái phiếu camkết sau thời gian nhất định sẽ trả cho ngời sở hữu trái phiếu vốn đã vay và mộtmức lãi đợc ấn định trớc

Trái phiếu đợc phân loại nh sau:

Theo t cách ngời phát hành, chia ra :

-Công trái là trái phiếu do chính phủ trung ơng hoặc chính quyền địa

ph-ơng phát hành nhằm huy động nguồn vốn tài trợ các dự án đầu t hạ tầng nh xây

Trang 10

dựng trờng học, cầu cảng với kỳ hạn khác nhau tuỳ thuộc mục đích sử dụng vốncủa từng dự án, có kỳ hạn trên một năm hoặc dài hạn từ 10 năm đến 30 năm.

- Trái phiếu do các doanh nghiệp phát hành, gọi là trái phiếu công ty,đợcdùng để tài trợ cho các dự án phát triển sản xuất của các xí nghiệp, hay nói cáchkhác đó là một khoản cho vay với thời hạn dài do hai bên thoả thuận, có thể kéodài từ 10 năm đến 30 năm với lãi suất cố định

Theo khu vực phát hành, chia ra:

- Trái phiếu trong nớc: Trái phiếu đợc phát hành và lu hành trong nớc

- Trái phiếu quốc tế: do chính phủ một nớc hoặc xí nghiệp phát hành tráiphiếu trên thị trờng tiền tệ nớc ngoài

Theo quy định lãi suất, chia ra:

- Trái phiếu lãi suất cố định: lãi suất đã quy định dứt khoát không thay đổi

- Trái phiếu có lãi suất không cố định: căn cứ vào lãi suất của thị trờng

Theo yêu cầu thanh toán, có các loại:

-Trái phiếu phổ thông; đến kỳ hạn thanh toán cả gốc lẫn lãi

-Trái phiếu có thể chuyển đổi: là trái phiếu có mối liên hệ thanh toán giữatrái phiếu với cổ phiếu

-Trái phiếu có xổ số, mỗi lần trúng ngời chủ sở hữu đợc số tiền lớn, sốtrúng rất ít ỏi

-Trái phiếu đợc hoàn vốn bằng cách mỗi năm đợc nhận một phần vốn vàlãi

Bất kỳ công ty nào lập ra theo đúng pháp luật cũng đợc quyền phát hànhtrái phiếu Toàn thể hội viên công ty phải đồng lòng chấp thuận thì công ty mớiphát hành trái phiếu đợc

Về thời giá của công trái trên thị trờng cũng có thể có ba trờng hợp:Thờigiá của thị trờng bằng mệnh giá; Thời giá của thị trờng cao hơn hoặc thấp hơnmệnh giá

Ngời mua công trái đợc hởng tiền lãi theo tỷ lệ đã ấn định khi phát hành côngtrái Lợi tức này đợc nhận hàng năm hay 6 tháng một lần tuỳ theo quy định Nếu

là công trái không ghi tên thì có thể cắt rời tức phiếu ra, đem tới kho bạc để nhậnlãi Nếu là công trái có ghi tên thì phải đem công trái đó đến kho bạc, nhân viênkho bạc trả lợi tức rồi đóng dấu vào khung tơng ứng Để khuyến khích dân chúngmua công trái, chính phủ thờng cho ngời mua công trái đợc hởng một số đặc lợi:Lợi tức về công trái đợc miễn tính thếu thu nhập; Cũng có khi chính phủ ấn định

Trang 11

ngay khi phát hành rằng nếu sau này chính phủ phát hành công trái mới thì ngời

có công trái cũ sẽ đơng nhiên hởng lãi suất mới; Trong thời gian có lạm phát, đểngời mua công trái không bị thiệt hại, chính phủ ấn định số vốn hoàn giảm sẽ đợccải đổi theo một chỉ số nhất định để bù đắp vào sự mất giá của đồng tiền

Bên cạnh trái phiếu nhà nớc còn phát hành thêm một loại công trái khác đó

là kỳ phiếu:

Kỳ phiếu là số tiền mà nhà nớc vay để bù đắp vào chỗ thiếu hụt tạm thờicủa ngân sách, vì thế kỳ phiếu cũng còn đợc gọi là công trái ngắn hạn Kỳ hạncủa kỳ phiếu thờng là 3, 6, 9 tháng đến 1 hay 2 năm

Nhà nớc luôn phát hành các loại kỳ phiếu, hoặc để vay thêm tiền, hoặc có tiềnhoàn vốn cho các kỳ phiếu đến hạn Nếu ngân sách d tiền, thì không phát hànhthêm kỳ phiếu mới nữa, chỉ hoàn giảm vốn các kỳ phiếu đến kỳ hạn Nh vậy tổng

số kỳ phiếu biến đổi liên tục lúc tăng lúc giảm

Kỳ phiếu có thể ghi tên hoặc không ghi tên Tiền lãi đợc nhận cùng lúc với hoàngiảm tiền vốn, cũng có khi tiền lãi đợc trả trớc ngay lúc mua kỳ phiếu, nh vậy

đến lúc hạn chỉ phải trả tiền vốn.Lãi suất của kỳ phiếu đợc ấn định khi phát hành.Khi ấn định lãi suất đó, chính phủ thờng dựa vào thị trờng tiền tệ và nhất là dựavào lãi suất chiết khấu của ngân hàng trung ơng Tiền lãi của kỳ phiếu thờng đợcmiễn thuế.Ngời có kỳ phiếu phải chờ kỳ hạn để xin hoàn lại vốn, hoặc đem bán,hoặc đem chiết khấu tại các Ngân hàng trớc kỳ hạn

2.4 Thị trờng chứng khoán Việt Nam và các tổ chức liên hệ:

Thị trờng chứng khoán - một định chế tài chính rất hữu hiệu trong việc thuhút vốn đầu t và là tiền đề vật chất cho quá trình cổ phần hoá.Có thể nói Sở giaodịch chứng khoán thành phố HCM là nơi diễn ra đồng thời hai loại cơ cấu thị tr-ờng sơ cấp và thị trờng thứ cấp Giai đoạn đầu chú trọng phát triển và hoàn thiệnthị trờng sơ cấp, nhằm thu hút vốn đầu t trong và ngoài nớc qua việc phát hành cổphiếu cổ phần hoá, và phát hành các loại trái phiếu công ty, trái phiếu chính phủ

và chính quyền địa phơng; đông thời từng bớc hình thành thị trờng thứ cấp chophép kinh doanh buôn bán

Nh vậy thời kỳ đầu cả nớc chỉ có một sở giao dịch đặt tại TP.HCM( gọi là

sở giao dịch chứng khoán TP.HCM) Sở giao dịch chứng khoán TP.HCM là thị ờng chứng khoán chính thức đầu tiên của cả nớc Các doanh nghiệp dân chúng vàchính quyền các địa phơng đều có quyền tham gia mua bán phát hành chứngkhoán tại sở giao dịch chứng khoán TP.HCM Mục đích chính của TTCK trong

Trang 12

tr-thời kỳ này là để phát hành cổ phiếu cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nớc và cácloại doanh nghiệp khác; để chính phủ và chính quyền địa phơng phát hành cácloại trái phiếu có mục đích nhằm huy động vốn xây dựng cơ sở hạ tầng; đồngthời để các doanh nghiệp phát hành các loại trái phiếu công ty Tuy nhiên để tạo

điều kiện và thúc đẩy thị trờng phát hành đạt kết quả, phải quan tâm đến việchình thành thị trờng thứ cấp, hoàn chỉnh cơ cấu một TTCK theo nguyên tắc vàthông lệ quốc tế Và ngay từ đầu TTCK Việt Nam cũng không do dự, hoannghênh các nhà đầu t nớc ngoài tham gia, có thể tham gia đầu t trực tiếp, hoặcgián tiếp qua các quỹ đầu t Tất nhiên thời kỳ đầu kinh nghiệm cha có, khả năngquản lý còn yếu, phải có sự khống chế tối đa mức tối đa của một loại chứngkhoán nhà đầu t nớc ngoài đợc mua Sau đó tuỳ theo chính sách quản lý có thể sẽnâng dần để thu hút vốn

Sở giao dịch chứng khoán TP.HCM và các tổ chức liên hệ: TTCK là

một định chế tài chính rất phức tạp có tính chuyên môn và kỹ thuật cao Để sởgiao dịch chứng khoán TP.HCM hoạt động có hiệu quả, đòi hỏi hệ thống hạ tầng

về tài chính, tín dụng và ngân hàng phải hoàn thiện Có thể tóm lợc mô hình tổchức TTCK Việt Nam và các tổ chức liên hệ bằng sơ đồ:

Trung tâm tin học Uỷ ban chứng khoán quốc gia VN

Công ty môi giới chứng khoán Công ty kiểm toán

Quỹ t

ơng trợ xã hội

CP &

chính quyền

địa ph

ơng

Doanh nghiệp

Trang 13

II Thị tr ờng chứng khoán Việt Nam, nhìn lại những b ớc đi ban đầu:

Trung tâm giao dịch chứng khoán (TTGDCK) đầu tiên của Việt Nam tạithành phố Hồ Chí Minh đã đợc khai trơng và bắt đầu hoạt động vào cuối tháng7/2000 Đây chính là kết quả của những chủ trơng đúng đắn và quyết tâm caocủa Đảng và nhà nớc, là kết quả của quá trình chuẩn bị các điều kiện cần thiếtcho việc thành lập thị trờng của uỷ ban chứng khoán nhà nớc (UBCKNN) với sựphối hợp đầy trách nhiệm của các bộ các nghành, các địa phơng và các doanhnghiệp, cùng sự giúp đỡ nhiệt tình, hiệu quả của bạn bè quốc tế Có thể đánh giárằng việc khai trơng hoạt động của TTGDCK TP.HCM chính là sự kiện quantrọng đánh dấu điểm khởi đầu cho quá trình phát triển ngành chứng khoán nontrẻ của Việt Nam với các ý nghĩa lớn lao về kinh tế cũng nh chính trị xã hội của

đất nớc

Qua sáu tháng hoạt động, mặc dù số lợng chứng khoán niên yết cha nhiều,khối lợng chứng khoán qua các phiên giao dịch cha lớn, song kết quả ban đầu làrất quan trọng, khẳng định vị trí và vai trò của TTGDCK trong hệ thống tài chính.Thị trờng chứng khoán Việt Nam mở cửa trong giai đoạn hiện nay cũng có nhữngkhó khăn nhất định, khuôn khổ hoạt động và phạm vi còn nhỏ bé, song cũng hứahẹn một triển vọng trong tơng lai, mở đờng cho một kênh huy động vốn trung vàdài hạn mới cho nền kinh tế, phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đấtnớc

-Đối với nền kinh tế quốc dân, thị trờng chứng khoán tạo điều kiện cungcấp cho nền kinh tế nguồn vốn có thời hạn dài nhằm đáp ứng nhu cầu đầu t pháttriển, đồng thời định hớng việc phân bổ nguồn vốn sẵn có vào nhu cầu sử dụngcần thiết cho nền kinh tế, nhờ vậy góp phần điều hoà, phân phối nguồn vốn trongnền kinh tế đợc tốt hơn

-Đối với chính phủ, do thu hút đợc nguồn vốn lớn của toàn nền kinh tế quaviệc phát hành trái phiếu, thị trờng chứng khoán giúp chính phủ giả quyết đợc cácvấn đề thiếu hụt ngân sách, có thêm vốn để thực hiện các dự án xây dựng cơ sởhạ tầng mà không phải phát hành thêm tiền cho chi tiêu của ngân sách nhà nớc

-Các doanh nghiệp có thể đầu t trên thị trờng chứng khoán; các chứngkhoán đầu t là một tài sản kinh doanh và có khả năng chuyển đổi thành tiền mặtkhi cần thiết thông qua thị trờng chứng khoán

Trang 14

-Đối với công chúng đầu t, thị trờng chứng khoán là nơi chuyển nguồn vốntiết kiệm thành đầu t, một mặt huy động mọi nguồn vốn nhàn rỗi tài trợ cho nềnkinh tế, mặt khác giúp cho những ngời có tiền tiết kiệm không có khả năng tiếnhành hoạt động sản xuất kinh doanh có thể thực hiện đầu t trên thị trờng chứngkhoán để cho các khoản tiền đó sinh sôi nảy nở Với những công cụ đầu t đadạng phong phú, thị trờng chứng khoán sẽ góp phần nâng cao mức sinh lợi vềvốn cho các nhà đầu t cũng nh cho toàn xã hội

- Trong giai đoạn hiện nay việc ra đời và hoạt động của thị trờng chứngkhoán sẽ góp phần thúc đẩy cải cách cơ chế quản lý tài chính đối với doanhnghiệp theo hớng khinh tế thị trờng, hỗ trợ tích cực cho quá trình cổ phần hoádoanh nghiệp nhà nớc Sự hiện diện của trung tâm giao dịch chứng khoán đã gópphần bổ sung hoàn chỉnh cho một cơ cấu thị trờng tài chính và thêm một lần nữakhẳng định sự nhất quán đờng lối đổi mới của Đảng trong việc xây dựng nềnkinh tế của nớc ta theo cơ chế thị trờng có sự quản lý của nhà nớc theo định hớngXHCN

- Thị trờng chứng khoán là sản phẩm của nền kinh tế thị trờng Sự pháttriển kinh tế trờng đến một giai đoạn nhất định đòi hỏi phải có thị trờng chứngkhoán để hình thành nên một định chế tài chính bậc cao của nền kinh tế hiện đại.Toàn cầu hoá đã và đang mang đến cơ hội phát triển cũng nh thách thức cho tấtcả, không loại trừ một quốc gia nào Những thực tiễn và kinh nghiệm từ thị tr-ờngmới nổi, từ các quốc gia có nền kinh tế chuyển đổi ở Đông Âu và đặc biệt làthực tiễn và kinh nghiêm từ Trung Quốc và các nớc trong khu vực, là những minhchứng thuyết phục nhất cho khả năng phát triển thị trờng chứng khoán Việt Nam.Chúng ta đã đạt đợc một số thành tựu và những khó khăn, phức tạp trong

thời gian hoạt động vừa qua:

Thành tựu

Với sự hoạt động của TTGDCK trong 6 tháng qua trớc hết đã giải toả đợcnhững lo ngại về khả năng đứng vững của nó Thực tế cho thấy công chúng cónhu cầu thật sự đối với loại hình kinh doanh tiền tệ này Dù còn thiếu những kinhnghệm, những bất cập không thể tránh khỏi trong buổi đầu nhng chúng ta đã thiếtlập đợc bộ khung cho loại hình thị trờng này một cách có tổ chức Không nhữngthế nhìn chung oạt động của nó khá suôn sẻ Trong điều hành thể hiện đợc tínhnhanh nhạy (bằng chứng về việc này là việc quy định giá trần và khống chế biên

độ dao động Thành tựu này rõ ràng là có sự cố gắng vợt bậc của UBCKNN Sự

Trang 15

ra đời của TTGDCK đã tạo nên khu vực thị trờng chứng khoán có tổ chức, thị ờng này đã làm tác động tích cực đến khu vực "thị trờng tự do" cả về giá cả lẫn

tr-về việc làm làm cho thị trờng này sôi động hơn lên, tạo ra tâm lý đầu t trong côngchúng Về lý thuyết nó đặt những viên gạch đầu tiên cho việc mở ra một kênhmới thu hút tiền trong dân c vào thị trờng vốn

Bên cạnh những mặt đạt đợc TTCK Việt Nam cũng đã bộc lộ một số yếukém sau: chủng loại hàng hoá còn nghèo nàn, khối lợng hàng hóa còn quá bé, sốcông ty cổ phần còn quá ít, quy mô nhỏ, nhà nớc còn nắm nhiều cổ phần cha trảirộng ra công chúng; và nhất là doanh nghiệp vẫn còn cha quen với một "luậtchơi" cực kỳ quan trọng củaTTCK đó là: phải công khai hoá thông tin Rõ ràngnhững điều này đã khiến cho việc khai trơng TTCK tuy đánh dấu một sự kiện có

ý nghĩa trong năm 2000 nhng cha phải đã có tác động sâu rộng trong đời sốngkinh tế xã hội Điều đáng ghi nhận nữa là sự thận trọng của UBCKNN và nhữngquan chức điều hành TTGDCK đã thành công trong việc kiềm chế cơn sốt giáchứng khoán trong những tuần đầu tiên bằng biện pháp hạ biên độ giá từ (+/-)5%xuống còn (+/-) 2% Điều này có thể cho phép chúng ta tin tởng vào khả năngquản lý nhà nớc đối với TTCK, một thị trờng hãy còn mới lạ, một ngành kinh tếhãy còn non trẻ tại Việt Nam Tuy nhiên nó cũng là "con dao hai lỡi", thực tế chothấy biên độ giá đợc quy định là (+/-) 2% dờng nh ngày một kìm hãm sự năng

động của thị trờng Vô hình chung chúng ta đang tự "gọt bớt gót chân" để đi vừagiày Sự kìm hãm, dù hợp pháp nhng không hợp lý, nếu kéo dài sẽ khiến thị trờngvừa buồn tẻ, vừa thụ động

Có thể nói sự bất ổn của TTCK phát sinh từ ba yếu tố cơ bản sau:

1 Khan hiếm hàng hoá trên thị tr ờng chứng khoán :

Mặc dù vừa có thêm công ty cổ phần chế biến hàng xuất khẩu LongAn(Lafooco) đợc cấp giấy phép tham gia vào việc niên yết cổ phiếu trên thị trờngchứng khoán nhng vẫn còn là quá ít so với số chứng khoán đủ tiêu chuẩn niênyết, do đó các nhà đầu t rất ít có cơ hội lựa chọn để tham gia đầu t trênTTGDCK Mặt khác phần lớn số cổ phiếu niêm yết thuộc sở hữu nhà nớc không

đợc bán, cổ phiếu thuộc sở hữu của hội đồng quản trị, ban lãnh đạo và cán bộcông nhân viên của công ty- những đối tợng này cũng không muốn bán phần sởhữu của mình trong công ty, số cổ phiếu do các cổ đông bên ngoài nắm giữkhông nhiều, nên thực chất chỉ có một lợng rất nhỏ hàng hoá cho hoạt động giaodịch của TTGDCK Do đó đa phần trong các phiên giao dịch mặc dù số lợng cổ

Trang 16

phiếu đặt mua so với số lợng cổ phiếu niêm yết trên TTGDCK theo công bốchính thức không cao (chỉ khoảng 2% - 5%) song chênh lệch về khối lợng giữalệnh mua và lệnh bán là rất lớn nên chỉ một số ít lệnh mua đợc thực hiện với khốilợng giao dịch không lớn, hầu hết các lệnh mua không đợc thực hiện, hiệu quảthu hút công chúng đầu t cha cao.

Cho đến nay thì cổ phiếu của các doanh nghiệp cổ phần đợc xem là thứhàng hoá chính của TTCK Trong thời gian qua, cổ phiếu của 4 doanh nghiệpniêm yết là REE, SAM, HAP, TMS đã đợc giao dịch thờng xuyên và đóng vai tròchính yếu Cho đến hết tháng 10/2000 tổng giá trị cổ phiếu niêm yết tại trung tâmgiao dịch chứng khoán của 4 doanh nghiệp trên là trên 302 tỷ đồng Riêng trongtháng 10 đã có gần 669.000 cổ phiếu của các doanh nghiệp trên đợc giao dịch vớitổng giá trị 14,69 tỷ đồng, so với tháng 9 thì mức giao dịch trên tăng 15%.Hậuquả của vấn đề khan hiếm hàng hoá là tạo ra sức ép tăng giá một cách giả tạo, giágiao dịch chứng khoán luôn đạt mức sát trần Điều nguy hiểm hơn đối với TTCKnon trẻ của Việt Nam là đã nảy sinh hiện tợng đầu cơ giá chứng khoán, cụ thể:

đầu phiên giao dịch những ngời có cổ phiếu đa ra một số lệnh bán với giá sát trần

để kéo giá lệnh mua, đến thời điểm chuẩn bị khớp lệnh thì những lệnh bán này

đ-ợc huỷ bỏ và đđ-ợc thay thế bằng một số ít lệnh bán với khối lợng nhỏ nhằm tiếptục nâng giá cổ phiếu trong các phiên giao dịch tiếp theo.Việc tăng giá cổ phiếu

đã làm chỉ số VN Index tăng liên tục qua các phiên giao dịch.Từ phiên giao dịchngày 29/9/2000 đến phiên ngày 17/11/2000 chỉ số VN Index đã tăng từ 120,71

điểm lên thành162,36 điểm, trong phiên này tổng giá trị giao dịch đã tăng mạnhlên đến 1,1 tỷ đồng so với 450 triệu đồng của phiên giao dịch trớc Các phiêngiao dịch tiếp theo chỉ có một số ít biến động nhỏ còn nhìn chung giá cổ phiếuliên tục tăng mạnh, đến phiên giao dịch thứ 80 chỉ số VN Index đã đạt 260,15tăng hơn 150 điểm , gấp 2,5 lần so với giá trị ban đầu của nó

Trong những năm vừa qua, trái phiếu chính phủ đợc phát hành chủ yếuqua hệ thống kho bạc nhà nớc và đấu thầu qua ngân hàng nhà nớc Từ tháng 7/00sau khi chính phủ ban hành nghị định 01/2000/NĐ-CP về quy chế phát hành tráiphiếu chính phủ Bộ tài chính đã cho thực hiện hai phơng thức phát hành mới:

đấu thầu qua TTGDCK và bảo lãnh phát hành

Phát hành qua hệ thống kho bạc nhà nớc đợc thực hiện từ năm 1991 Mặc

dù đã có những cải tiến và thay đổi đáng kể về mặt nội dung, hình thức trái phiếu

và phơng thức quản lý song các loại trái phiếu kho bạc phát hành trong thơì gian

Trang 17

vừa qua về cơ bản vẫn cha đáp ứng đợc yêu cầu giao dịch và hoạt động củaTTCK Nói cách khác khi TTCK cha phát triển, cơ sở vật chất và kỹ thuật lạc hậuthì cha có điều kiện để thay đổi một cách cơ bản cơ chế phát hành, quản lý vàgiao dịch trái phiếu Điều này đợc chứng minh khá rõ nét từ thực tế của năm1995: Xuất phát từ yêu cầu thúc đẩy sự ra đời của TTCK, Kho bạc nhà nớc đãphát hành loại trái phiếu có in sẵn mệnh giá, không ghi tên ngời mua, đợc tự domua bán, chuyển nhợng và thanh toán vãng lai trong cả nớc Sau một thời gianphát hành, khi đã cảm thấy có những dấu hiệu thiếu an toàn trong quản lý, Khobạc nhà nớc TW đã xin phép bộ tài chính cho dừng phát hành, đồng thời thôngbáo cho các đơn vị kho bạc Nhà nớc cấp tỉnh mới đợc phép thanh toán vãng lai,vì lúc bấy giờ các đơn vị kho bạc cấp huyện cha đợc trang bị máy tính, cha thểnối mạng với TW theo dõi thanh toán trái phiếu vãng lai Năm 1999, Nhà nớcphát hành công trái XDTQ, sử dụng loại chứng chỉ in sẵn mệnh giá và không ghitên ngời mua để tạo điều kiện thuận lợi cho việc mua bán, giao dịch và tự dochuyển nhợng công trái Tuy vậy tất cả các loại trái phiếu phát hành trong thờigian vừa qua đều cha thể niêm yết, giao dịch trên TTCK, bởi vì các loại trái phiếu

và công trái trong cùng một đợt phát hành cha đợc quy định một ngày đến hạnthanh toán thống nhất, lãi suất trái phiếu không đợc thanh toán theo định kỳ và

đặc biệt là trờng hợp phải tính bù giá trị vào lãi suất công trái khi có biến độngmạnh mẽ về giá do nguyên nhân lạm phát

Đấu thầu tín phiếu qua ngân hàng nhà nớc đợc thực hiện từ giữa nhữngnăm 1995 Nhìn chung hoạt động của thị trờng đấu thầu tín phiếu tơng đối ổn

định(mặc dù còn ở mức độ thấp) Hình thức đấu thầu chủ yếu là cạnh tranh về lãisuất trên cơ sở tín phiếu phát hành và lãi suất trần do Bộ Tài chính quy định Cácthành viên tham gia tơng đối thờng xuyên là các ngân hàng thơng mại quốcdoanh và một số tổ chức tài chính có tiềm lực về vốn Tín phiếu phát hành vẫntheo hình thức ghi sổ và đến nay các đơn vị cũng cha có nhu cầu nhận chứng chỉ.Tín phiếu trúng thầu chủ yếu vẫn đợc nắm giữ đến khi đáo hạn, cha đợc mua bán,chiết khấu lại trên thị trờng tiền tệ

Đấu thầu trái phiếu chính phủ qua TTGDCK lần đầu tiên đợc tổ chức vàongày 26/7/2000, tính đến nay đã qua 5 phiên Khối lợng gọi thầu mỗi phiên từ200-300 tỷ đồng, kỳ hạn trái phiếu là 5 năm Kết quả đấu thầu từng phiên nh sau:Ngày Thành viên Khối lợng Lãi suất đặt thầu Kết quả trúng thầu

Trang 18

đấu thầu tham gia đặt thầu Max Min Khốilợng Lãi suất

1 2 3 4 5 6 726/7/00 9 858 tỷ 5,8% 8,0% 300 tỷ 6,5%15/8/00 9 548 tỷ 6,4% 7,8% 300 tỷ 6,6% 29/8/00 4 165 tỷ 6,7% 7,5% 0 -12/9/00 0 0 - - 0 -

Trái phiếu đợc đấu thầu theo hình thức cạnh tranh lãi suất, trong phạm vilãi suất trần của Bộ Tài chính Các đơn vị tham gia và trúng thầu với khối lợnglớn chủ yếu là các ngân hàng thơng mại quốc doanh Các công ty chứng khoán

do hạn chế về vốn nên tham gia cầm chừng với khối lợng không đáng kể Tráiphiếu đợc phát hành dới hai hình thức chứng chỉ và ghi sổ, đợc niêm yết và giaodịch tại TTGDCK Tuy vậy các đơn vị trúng thầu chủ yếu là nắm giữ trái phiếu,cha có nhu cầu bán lại trên thị trờng chứng khoán (trừ các công ty chứng khoán )

Bảo lãnh phát hành trái phiếu chính phủ lần đầu tiên đợc tổ chức vào ngày15/9/2000 với 5 đơn vị tham gia gồm 3 ngân hàng thơng mại quốc doanh và haicông ty chứng khoán cùng tham gia đàm phán để thống nhất lãi suất và khối lợngtrái phiếu nhận bảo lãnh Kết quả cụ thể nh sau:

-Khối lợng bảo lãnh trái phiếu phát hành: 500 tỷ đồng

-Thời hạn trái phiếu: 5 năm

-Lãi suất trái phiếu: 6,6%/năm (lãi suất thanh toán hàng năm)

-Các đơn vị tham gia và khối lợng nhận bảo lãnh:

+Ngân hàng công thơng Việt nam : 420 tỷ đồng+Ngân hàng đầu t và phát triển Việt nam : 50 tỷ đồng+Ngân hàng ngoại thơng Việt nam : 30 tỷ đồng

Qua 4 phơng thức phát hành trái phiếu chính phủ nói trên, cho đến nay khối lợngtrái phiếu chính phủ đăng ký, niêm yết và giao dịch tại trung tâm giao dịch chứngkhoán vẫn không đáng kể Mặc dù trái phiếu chính phủ phát hành theo cơ chếmới có doanh số khá lớn, nhng lợng trái phiếu thực tế giao dịch là không đáng

kể Liên tục nhiều phiên không khớp đợc lệnh mua bán

Trái phiếu vô danh của Ngân hàng Đầu t và Phát triển tuy mới đợc pháthành tại ba địa bàn là TP.HCM, Hà Nội và Bình Dơng nhng chỉ sau hai phiêngiao dịch kể từ khi đợc đa vào TTCK đã gia tăng một cách đáng kể về khối lợng.Theo các chuyên gia chứng khoán, sở dĩ có tình trạng này là do khả năng rủi rocủa loại trái phiếu này nhỏ không kém trái phiếu chính phủ nhng lãi suất của nó

Trang 19

lại đợc thả nổi( đợc điều chỉnh từng năm theo thị trờng ) Sau hai phiên giao dịch

đã có 2.750 trái phiếu của Ngân hàng Đầu t và Phát triển đợc bán ra với tổng giátrị giao dịch là 269,3 triệu đồng Tuy nhiên đến các phiên giao dịch sau khối lợnggiao dịch trái phiếu này cũng có nhiều biến động- cơn khát hàng hoá của thị tr-ờng chứng khoán vẫn cha đợc giải quyết triệt để

Có thể nói một trong những nguyên nhân cơ bản hiện nay của tình trạngkhan hiếm hàng hoá trên thị trờng chứng khoán đó là do có quá ít doanh nghiệptham gia niêm yết trên TTCK Hiện nay mặc dù số lợng công ty cổ phần cha thực

sự nhiều nhng với con số trên 50 doanh nghiệp đủ điều kiện niêm yết thì cũngkhông thể coi đó là số lợng quá ít Chỉ cần khoảng 1/4 trong số các doanh nghiệpnày niêm yết cổ phiếu trong giai đoạn đầu thì có lẽ TTCK cũng đã "hòm hòm" đủ

đạt đợc sự sôi động cần thiết Thế nhng điều nan giải nhất là ở chỗ, bản thân cáccông ty cổ phần đang có một thái độ rất thờ ơ với TTCK Thậm chí nhiều doanhnghiệp đã bày tỏ ý kiến rất thẳng thắn rằng, họ cha cảm thấy có lợi gì khi đa cổphiếu niêm yết trên TTCK và do đó họ cha có ý định niêm yết Tâm lý này đangthực sự là một rào cản rất lớn trong việc khuyến khích các công ty đủ điều kiệnniêm yết tạo thêm hàng hoá cho TTCK Trớc sự thờ ơ của nhiều doanh nghiệpkhông thể không nhìn nhận lại môi trờng vận hành hiện nay của TTCK LiệuTTCK đã có đầy đủ các biện pháp hữu hiệu để bảo vệ các doanh nghiệp trên thịtrờng hay cha? Qua tìm hiểu trên thực tế có thể thấy rõ rằng, nhiều doanh nghiệpvẫn có những lo ngại về hành lang an toàn trên TTCK, mà vấn đề thao túngdoanh nghiệp là nỗi lo lớn nhất Nhiều giám đốc cho rằng, khi công ty niêm yết

cổ phiếu, có rất nhiều khả năng nhiều nhà đầu t bên ngoài doanh nghiệp có ý đồmua gom cổ phiếu qua các phiên giao dịch để đến khi có một số lợng cổ phiếunhất định sẽ nhẩy vào điều hành công ty, việc này bản thân công ty không thểkiểm soát đợc

Mặc dù pháp luật đã quy định khi một nhà đầu t thực hiện giao dịch làmthay đổi việc nắm giữ 5% trở lên cổ phiếu có quyền biểu quyết của một công tyniêm yết thì phải báo cáo với TTGDCK Nhng trên thực tế việc quản lý và theodõi những nhà đầu t mua và nắm giữ cổ phiếu số lợng lớn không phải là dễ dàng.Hơn nữa, ngay cả với các nhà đầu t đã nắm giữ trên 5% cổ phiếu thì việc muabán của họ cũng chỉ bị giám sát mà không thể bắt họ không đợc tiếp tục muathêm nữa Có lẽ các công ty cổ phần từ trớc đến nay mới chỉ quen với những cổ

đông thuần tuý nhận cổ tức, chủ yếu là những cán bộ công nhân viên trong doanh

Trang 20

nghiệp, nên phần lớn mang tâm lý sợ bị thao túng khi bớc chân vào TTCK- mộtthị trờng có tính cạnh tranh và đào thải gay gắt Các công ty niêm yết phải chấpnhận một thực tế là khi cổ phiếu đợc giao dịch rộng rãi thì cổ đông của công tykhông thể chỉ là những đối tợng ổn định và dễ quản lý

2.Thiếu sự đồng bộ giữa TTCK và thị tr ờng tiền tệ

Có thể ví rằng thị trờng chứng khoán và hệ thống ngân hàng nh hai quả tim

để điều tiết nguồn vốn cho nền kinh tế Trong khi hoạt động của các ngân hàngthơng mại chủ yếu nhằm cung ứng các nguồn vốn ngắn hạn thì vai trò của TTCK

là chuyên cung cấp dòng vốn dài hạn Chính vì thế đây là hai bộ phận quan trọngcấu thành nên một hệ thống tài chính hoàn chỉnh và chúng có quan hệ với nhautheo nguyên tắc "bình thông nhau" Mỗi động thái trên thị trờng tiền tệ đều kéotheo một động thái mới trên TTCK và ngợc lại Tuy nhiên thời gian đầu hoạt

động của TTCK Việt nam cho thấy rằng dờng nh vẫn còn một bức tờng vô hìnhngăn cách sự tơng quan trong hoạt động của hai dòng lu chuyển vốn này Điềunày đợc thể hiện rất rõ trong thực tế hoạt động của thị trờng tài chính gần nửanăm qua Đặc biệt trong mấy tháng gần đây, thị trờng tiền tệ có nhiều biến đổimạnh nh những thay đổi nhanh chóng về lãi suất, tỷ giá , nhng những động tháinày vẫn hoàn toàn vô tác dụng đối với TTCK TTCK vẫn cứ hoạt động theo xu h-ớng riêng của nó và nhiều nhà đầu t thậm chí chẳng hề quan tâm đến những yếu

tố này Chẳng hạn nh những biến chuyển về lãi suất đã đợc thể hiện rất rõ Vừaqua lãi suất đồng Việt Nam đã tăng khá mạnh, với mức tăng khoảng 0,02%/tháng

so với thời gian cách đây hai tháng Đáng lẽ theo quy luật thị trờng việc tăng lãisuất tất yếu sẽ kéo theo sự rút lui của nhà đầu t khỏi thị trờng chứng khoán đểchuyển sang đầu t vào thị trờng tiền tệ dẫn đến sự giảm giá trên thị trờng chứngkhoán.Thế nhng trên thực tế thì thị trờng chứng khoán lại vận động theo xu hớnghoàn toàn ngợc lại Giá cổ phiếu của các công ty niêm yết vẫn có xu hớng tănglên, chỉ số VN Index đều tăng trong hầu hết các phiên giao dịch Ngoài ra, tỷ giá

đô la mỹ với đồng Việt nam cho dù tăng liên tục trong thời gian qua cũng không

có tác động gì tơí hoạt động trên thị trờng chứng khoán Một số chuyên gia của

uỷ ban chứng khoán nhà nớc đã thừa nhận rằng, đúng là có sự thiếu đồng bộtrong quan hệ giữa thị trờng chứng khoán và thị trờng tiền tệ, mối quan hệ giữathị trờng tiền tệ và TTCK cha phát huy đợc tác dụng nh mong muốn Theo một sốchuyên gia, mấu chốt của vấn đề trên là do các công cụ của chính sách tiền tệthực tế vẫn còn "cập kênh" cha phát huy đợc u thế Chẳng hạn nh mặt bằng lãi

Ngày đăng: 26/03/2013, 11:31

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w