Tốc độ phát triển nhộn nhịp của 3G đã nảy sinh yêu cầu về trình độ hiểu biết về các dịch vụ cải tiến đó đối với các doanh nhân hay các nhà trí thức thời đại mới, đặc biệt là lớp trẻ sinh viên. Là những người chủ tương lai của nước nhà, để có thể bắt kịp thời đại, tiếp cận với công nghệ mới, sinh viên cần nâng cao trình độ hiểu biết và nhu cầu về sử dụng dịch vụ 3G. Trường Đại học kinh tế Huế là trường đào tạo về các ngành liên quan đến lĩnh vực kinh doanh, là lĩnh vực mà việc nắm bắt thông tin là cực kỳ quan trọng và cần thiết. Theo chúng em, dịch vụ 3G rất có ích cho sinh viên kinh tế trong việc tìm hiểu các thông tin về lĩnh vực kinh tếxã hội một cách nhanh chóng và tiện lợi. Sử dụng 3G sẽ giúp các sinh viên kinh tế năng động hơn
Trang 1PHẦN I ĐẶT VẤN ĐỀ
1 Lý do chọn đề tài
rong thời đại khoa học công nghệ đang ngày càng phát triển vượt bậc, với sự rađời của các dịch vụ điện thoại di động, internet, tryền hình kỹ thuật số vớinhiều chức năng ứng dụng rất phổ biến và cần thiết trong đời sống sinh hoạt cũng nhưlao động của con người Giống như các dịch vụ 2G và thị trường di động phát triểnnhanh như hiện nay, giới chuyên gia cũng đang kỳ vọng vào một “làn gió mới” 3Gsôi động hơn nhiều Với 65% dân số trẻ dưới 30 tuổi, phù hợp với đặc thù dịch vụ 3G,các chuyên gia cho rằng, 3G chắc chắn sẽ thành công tại Việt Nam Cơ hội để triểnkhai 3G tại Việt Nam đã chín muồi Nó dựa trên những điều kiện cần và đủ như: bềdày những thử nghiệm, trải nghiệm và kinh nghiệm của công nghệ này trên thế giới,giá cả thiết bị hạ tầng và thiết bị đầu cuối đã giảm ở chặng đường cuối để tương đốiphù hợp với điều kiện sống của người dân Việt Nam, thị trường di động và InternetViệt Nam đã phát triển đến một mức nhất định…
T
Tốc độ phát triển nhộn nhịp của 3G đã nảy sinh yêu cầu về trình độ hiểu biết
về các dịch vụ cải tiến đó đối với các doanh nhân hay các nhà trí thức thời đại mới,đặc biệt là lớp trẻ sinh viên Là những người chủ tương lai của nước nhà, để có thể bắtkịp thời đại, tiếp cận với công nghệ mới, sinh viên cần nâng cao trình độ hiểu biết vànhu cầu về sử dụng dịch vụ 3G Trường Đại học kinh tế Huế là trường đào tạo về cácngành liên quan đến lĩnh vực kinh doanh, là lĩnh vực mà việc nắm bắt thông tin là cực
kỳ quan trọng và cần thiết Theo chúng em, dịch vụ 3G rất có ích cho sinh viên kinh
tế trong việc tìm hiểu các thông tin về lĩnh vực kinh tế-xã hội một cách nhanh chóng
và tiện lợi Sử dụng 3G sẽ giúp các sinh viên kinh tế năng động hơn Tuy nhiên phầnlớn sinh viên hầu như vẫn chưa làm được điều này Một bộ phận lớn trong sinh viên
Trang 2vẫn mơ hồ chưa hiểu thế nào là dịch vụ 3G, ích lợi của nó ra sao, cũng như cách sửdụng và cước phí như thế nào Chính vì sự ít hiểu biết về 3G đã tác động đến nhu cầu
sử dụng 3G trong sinh viên là không cao
Tất cả các vấn đề nêu trên là lý do chúng em chọn đề tài “Khảo sát nhu cầu của sinh viên khoá 44QTKD về dịch vụ mạng di động 3G tại trường ĐH Kinh tế Huế”
2 Mục tiêu nghiên cứu
2.1 Mục tiêu tổng quát
+ Góp phần nâng cao trình độ hiểu biết về dịch vụ 3G để sinh viên có thể hiểu rõ cáclợi ích và sự tiện dụng của 3G và tăng nhu cầu sử dụng Trên cơ sở đó giúp các nhàmạng đưa ra các chính sách quảng cáo và tiếp cận hợp lý cũng như các gói cước phùhợp
2.2 Mục tiêu cụ thể
+ Nắm bắt được trình độ hiểu biết của sinh viên về dịch vụ 3G
+ Đánh giá nhu cầu của sinh viên về việc sử dụng dịch vụ 3G
+ Đưa ra các giải pháp để nâng cao trình độ hiểu biết nhất là về ưu điểm, sự tiện lợi
+Cung cấp thông tin hữu ích để giúp các nhà mạng khai thác dịch vụ mạng 3G nắm rõhơn về nội dung dịch vụ, chất lượng dịch vụ, chi phí sử dụng để có thể tiếp cận tốthơn đối với đối tượng khách hàng
Trang 33.Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
+ Nhu cầu sinh viên về sử dụng dịch vụ 3G
4.Phương pháp nghiên cứu
Để nghiên cứu đề tài: Khảo sát nhu cầu của sinh viên khoá 44QTKD về dịch vụ mạng di động 3G tại trường ĐH Kinh tế Huế” nhóm đã được tiếp cận
kiến thức từ học phần phương pháp nghiên cứu trong kinh doanh, kinh tế lượng vànguyên lý thống kê để áp dụng các phương pháp luận khoa học đó trong qua trìnhnghiên cứu Trong quá trình nghiên cứu nhóm sử dụng chủ yếu phương pháp thống kê
mô tả, so sánh mối liên hệ giữa các biến định tính do một vài nguyên nhân nên nhóm
đã không sử dụng phương pháp kiểm định để có thể làm rõ hơn nhưng các phươngpháp trên cũng đã dựa trên sự phù hợp về khả năng, dễ tiến hành cũng như điều kiệncủa nhóm thực hiện đề tài
Trong quá trình nghiên cứu nhóm đã trải qua 5 bước chính cụ thể như sau:
Bước 1: Xác định vấn đề nghiên cứu
Bước 2: Lựa chọn mô hình nghiên cứu
Bước 3: Quá trình thu thập dữ liệu
Bước 4: Phân tích xử lý dữ liệu
Bước 5: Đánh giá nghiên cứu
Dựa trên thiết kế 5 bước tiến hành này đã giúp cho nhóm phát hiện được vấn
đề và thu thập được các dữ liệu cần thiết trong quá trình phần tích của đề tài Cụ thểnguồn dữ liệu sơ cấp được thu thập từ bảng hỏi điều tra cụ thể như sau về phần thiết
kế cỡ mẫu nhóm đã xác định tổng thể mục tiêu nghiên cứu là các bạn sinh viên khóa
Trang 442 khoa QTKD trường ĐHKT Huế với số lượng 360 sinh viên trong khuôn khổ đề tài
và điều kiện cho phép nhóm đã chọn 120 mẫu tương ứng với 120 người được điều tra
Để đảm bảo tính xác thực và kết quả nghiên cứu vẫn đang ứng đầy đủ các yêucầu khi nghiên cứu đối với mẫu giới hạn nhóm đã khoanh vùng đối tượng cụ thể dựavào tiêu thức có sử dụng điện thoại di động hay không Với số lượng 120 mẫu trongquá trình phát phiếu điều tra có xảy ra sự sai sót cũng như không đáp ứng các yêu cầu
về giới hạn khoanh vùng nên chỉ có được 85 mẫu hợp lệ đã trả lời đầy đủ các câu hỏiđiều tra
Mỗi bảng câu hỏi phỏng vấn được xây dựng theo tiêu chuẩn điều tra gồm 3phần: Phần sàng lọc,phần nội dung và phần thông tin cá nhân của người được phỏngvấn.Tất cả các câu hỏi trên được mã hóa bằng kí hiệu nhằm thuận tiện khi sử dụngphần mềm thống kê SPSS trong quá trình nhập dữ liệu Trong đó:
Phần sàng lọc :gồm 2 câu hỏi, được thiết kế nhằm sàng lọc đối tượng nghiên
cứu để chọn ra mẫu phù hợp với các tiêu chí đã đề ra về yêu cầu “sử dụng điênthoại di động” và phân loại “mạng điện thoại di động đang sử dụng”
Phần nội dung : gồm hai phần nhỏ với 8 câu hỏi
người được phỏng vấn vào nội dung chính của cuộc điều tra và gợi nhớ lại một
số thông tin gần gũi để người được phỏng vấn làm quen dần với bảng câu hỏiđồng thời củng tiến hành kiểm tra xác định mức độ hiểu biết của khách hàng
về dịch vụ mạng di động 3G
Phần câu hỏi chính: Gồm 6 câu hỏi về “Giá trị và lợi ích,nhu cầu sử dụng”.Hệ
thống câu chủ yếu sử dụng các câu hỏi có nhiều lựa chọn,câu hỏi xếp hạng thứ
tự và câu hỏi bật thang(thang điểm Likert) tránh các dạng câu hỏi đóng – cáccâu hỏi được nhóm nghiên cứu cố gắng thiết kế với nhiều dữ kiện để lựa chọndựa trên hiểu biết của bản thân về đối tượng khách hàng sử dụng điện thoại diđộng,các dạng câu hỏi này giúp đơn giản hóa trong quá trình mã hóa và phântích dữ liệu bằng phần mềm thống kê
Trang 5 Phần thông tin cá nhân bao gồm các câu hỏi chính chủ yếu về tên, giới tình và
quê quán của đối tượng điều tra
Ngoài ra còn kết hợp phương pháp phân tích số liệu trên SPSS và phần mềm kếtoán Exel, việc giải thích các kết quả nghiên cứu cũng được thực hiện rất cơ bản và
dễ hiểu để nhằm phục vụ cho nhiều đối tượng có thể tiếp cận được với đề tài
Trang 6PHẦN II NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Chương I TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1 Dẫn nhập
Việt Nam là một quốc gia đang ngày càng có tốc độ phát triển, tăng trưởngmạng di động rất cao Theo số liệu tại một cuộc triển lãm về công nghệ viễn thông ởSingapore, 2 hãng điện thoại Samsung và Nokia cho biết, tốc độ tăng trưởng về điệnthoại di động trên thế giới hiện đạt khoảng 50%/năm, riêng Việt Nam, một quốc giađang phát triển đạt tốc độ tăng trưởng cao nhất 150%/năm (Theo nguồn Vietbao.vn).Điều này cho thấy rằng các mạng di động ở Việt Nam đang đứng trước cơ hội rất lớntrong việc khai thác các dịch vụ mạng của mình đặc biệt là với sự ra đời của thế hệmạng di động với dịch vụ mới mạng 3G sẽ tạo nên sức hút lớn hơn đối với kháchhàng Bên cạnh đó cũng xuất phát từ yêu cầu làm đề tài của bộ môn học phần phươngpháp nghiên cứu trong kinh doanh nên nhóm đã quyết định nghiên cứu đề tài “Đánhgiá phân tích nhu cầu sử dụng dịch vụ mạng di động 3G của sinh viên K42 tại trườngĐHKT Huê” Trong suốt quá trình một tháng nhóm đã tiến hành lập đề cương chi tiết,xây dựng bảng hỏi rồi tiến hành phát phiểu điều tra cho đối tượng nghiên cứu là cácbạn sinh viên khóa 42 đang học tại trường ĐHKT Huế nhờ đó mà có cách nhìn đầy đủ
mà xác thực hơn để đánh giá một phần nào về nhu cầu sử dụng dịch vụ mạng 3G củacác bạn sinh viên khóa 42 trường ĐHKT Huế Như vậy các thông tin thu được từ hoạtđộng điều tra tin rằng sẽ phục vụ có hiệu quả hơn về việc xây dựng hoạch định chiến
Trang 7lược quảng cáo tiếp thị hổ trợ bán hàng và trên cơ sở đó xây dựng các gọi dịch vụ phùhợp hơn với đối tượng sinh viên
2 Lược khảo kết quả các nghiên cứu về đánh giá nhu cầu sử dụng dịch
vụ mạng 3G trên địa bàn tình Thừa Thiên Huế
Trên cở sở nghiên cứu của đề tài báo cáo của nhóm thực tập giáo trình đến từkhoa QTKD về “Đánh giá nhu cầu sử dụng dịch vụ mạng di động 3G trên địa bàn TPHuê” với đối tượng nghiên cứu bao gồm nhiều đối tượng trong đó có đối tượng sinhviên từ các trường trực thuộc Đại học Huế, đề tài này mặc dù phạm vi khá rộngnhưng cũng đã đánh giá được một phần nào nhu cầu của các đối tượng nghiên cứutrên địa bàn TP Huế về dịch vụ mạng 3G Do đặc thu phạm vi khá rộng nên chấtlượng tính xác thực của đề tài cũng chưa thật sự tối ưu chính vì thế mà nhóm đã tiếnhành thu hẹp phạm vi của đối tượng nghiên cứu của sinh viên trường ĐHKT và cụ thể
là các bạn sinh viên đến từ khóa 42 Bên cạnh đó do đặc thù của lĩnh vực công nghệthông tin có sự biến động và đổi mới rất nhanh nên thông tin thu được từ nắm 2009của đề tài nghiên cứu trên sẽ không còn tính xác thực do vậy để đảm bảo tính thíchứng với thị trường kết hợp với áp dụng các phương pháp nghiên cứu một cách chặtchẽ khoa học từ bộ môn phương pháp nghiên cứu trong kinh doanh đang được giảngdạy kết hợp với phương pháp thống kê mô tả, điều tra bảng hỏi cũng như so sánh mốiliên hệ giữa các đối tượng để trên cơ sở đó nhóm đã tiến hành thực hiện đề tài nghiên
cứu về “Đánh giá phân tích nhu cầu sử dụng dịch vụ mạng 3G của sinh viên khóa
44QTKD tại trường ĐHKT Huế”.
3 Các hoạt động nghiên cứu thích ứng tại trường ĐH Kinh tế Huế
Nhận thấy được sự năng động và khả năng tiếp cận thông tin nhanh của cácbạn sinh viên trường ĐH Kinh tế Huế cùng với đặc thù của nhóm cũng xuất phát từkhóa 42 nên việc khoanh vùng đối tượng nghiên cứu sẽ tạo ra nhiều điều kiện thuận
Trang 8lời hơn Trong quá trình điều tra do khóa 42 là khóa đầu tiên được áp dụng theophương thức học chế tín chỉ nên việc tiếp cận đối tượng cũng khó khắn hơn so vớihọc chế niên chế Nhưng trải qua quá trình lựa chọn các lớp học dựa vào thời khóabiểu chung của các học phần nên việc tiếp cận các bạn sinh viên khóa 42 cũng kháthuận lợi hơn trên cơ sở đó đã giúp quá trình điều tra tiến hành một cách nhanh chóng
và hiệu quả hơn Bên cạnh đó nhằm có sự đa dạng hơn cho các đối tượng nghiên cứunhóm nhận thấy các bạn sinh viên khóa 42 cũng khá thường xuyên xuất hiện ở phòngđọc và thư viện trường nên nhóm đã thích ứng nhanh để tiếp cận điều tra một số đốitượng ấy nhằm giúp kết quả điều tra chính xác hơn
4 Đề xuất các hợp tác nghiên cứu tiếp theo
Qua quá trình nghiên cứu đề tài “Đánh giá phân tích nhu cầu sử dụng dịch vụmạng 3G của sinh viên khóa 42 tại trường ĐHKT Huế” nhóm nhận thấy quá trìnhchọn lựa mẫu chưa thật sự chuẩn lắm nên đề xuất có sự hợp tác hoặc các đề tài nghiêncứu sau sẽ chọn mẫu dựa vào tên danh sách sinh viên theo lớp hay theo từng khoa đốivới đề tài nghiên cứu ở cấp độ sinh viên và tên các nhân viên, doanh nhân, giảng viêncủa từng cơ sở đối với phạm vi đề tài nghiên cứu rộng hơn phải chọn lựa ngẫu nhiêntheo một hệ số k nhất định hoặc dựa vào bảng chọn số để việc điều tra được hoànchỉnh hơn góp phần tạo nên kết quả nghiên cứu có độ chính xác cao hơn giúp choviệc định hướng được tốt hơn
Mỗi bảng câu hỏi phỏng vấn được xây dựng theo tiêu chuẩn điều tra gồm 3phần: Phần sàng lọc,phần nội dung và phần thông tin cá nhân của người được phỏngvấn.Tất cả các câu hỏi trên được mã hóa bằng ki hiệu nhằm thuận tiện khi sử dụngphần mềm thống kê SPSS trong quá trình nhập dữ liệu Trong đó:
Phần sàng lọc :gồm 2 câu hỏi,được thiết kế nhằm sàng lọc đối tượng nghiêncứu để chọn ra mẫu phù hợp với các tiêu chí đã đề ra về yêu cầu “sử dụng điên thoại
di động” và phân loại “mạng điện thoại di động đang sử dụng”
Phần nội dung :gồm hai phần nhỏ với 8 câu hỏi
Trang 9Phần câu hỏi “Hâm nóng”:Gồm hai câu hỏi đơn giản ,mục đích để hướngngười được phỏng vấn vào nội dung chính của cuộc điều tra và gợi nhớ lại một sốthông tin gần gũi để người được phỏng vấn làm quen dần với bảng câu hỏi đồng thờicủng tiến hành kiểm tra xác định mức độ hiểu biết của khách hàng về dịch vụ mạng diđộng 3G
Phần câu hỏi chính:Gồm 6 câu hỏi về “Giá trị và lợi ích,nhu càu sửdụng”.Hệ thống câu chủ yếu sử dụng các câu hỏi có nhiều lựa chọn,câu hỏi xếp hạngthứ tự và câu hỏi bật thang (thang điểm Likert) tránh các dạng câu hỏi đóng – các câuhỏi được nhóm nghiên cứu cố gắng thiết kế với nhiều dữ kiện để lựa chọn dựa trênhiểu biết của bản thân về đối tượng khách hàng sử dụng điện thoại di động,các dạngcâu hỏi này giúp đơn giản hóa trong quá trình mã hóa và phân tích dữ liệu bằng phầnmềm thống kê
Trang 10Chương II
CƠ SỞ LÝ LUẠN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
2.1 Cơ sở khoa học:
2.1.1 Mạng 3G là gì?
Theo thống kê của nhà mạng, cả nước có trên 14triệu thuê bao 3G
3G, hay 3-G, (viết tắt của third-generation technology) là công nghệ truyền thông
thế hệ thứ ba, cho phép truyền cả dữ liệu thoại và dữ liệu ngoài thoại (tải dữ liệu, gửiemail, tin nhắn nhanh, hình ảnh ) 3G cung cấp cả hai hệ thống là chuyển mạch gói
và chuyển mạch kênh Hệ thống 3G yêu cầu một mạng truy cập radio hoàn toàn khác
so với hệ thống 2G hiện nay Điểm mạnh của công nghệ này so với công nghệ 2G và2.5G là cho phép truyền, nhận các dữ liệu, âm thanh, hình ảnh chất lượng cao cho cảthuê bao cố định và thuê bao đang di chuyển ở các tốc độ khác nhau Với công nghệ3G, các nhà cung cấp có thể mang đến cho khách hàng các dịch vụ đa phương tiện,như âm nhạc chất lượng cao; hình ảnh video chất lượng và truyền hình số; Các dịch
vụ định vị toàn cầu (GPS); E-mail;video streaming; High-ends games;
2.1.2 Lịch sử hình thành và phát triển
Để hiểu rõ hơn về dịch vụ mạng 3G, chúng ta tìm hiểu lịch sử hình thành vàphát triển của các hệ thống điện thoại di động, đặc biệt là mạng dịch vụ 3G Thế hệđầu tiên có thể nhắc đến là 1G (1st Generation) được nghiên cứu từ những năm 1930– 1940 Tuy nhiên được thực sự giới thiệu trên thị trường là vào những năm 1980
Một trong những công nghệ 1G phổ biến là NMT (Nordic MobileTelephone) được sử dụng ở các nước Bắc Âu, Tây Âu và Nga Cũng có một số côngnghệ khác như AMPS (Advanced Mobile Phone Sytem – hệ thống điện thoại di độngtiên tiến) được sử dụng ở Mỹ và Úc; TACS (Total Access Communication Sytem –
Trang 11hệ thống giao tiếp truy cập tổng hợp) được sử dụng ở Anh, C-45 ở Tây Đức, Bồ ĐàoNha và Nam Phi, Radiocom 2000 ở Pháp; và RTMI ở Italia.
Tuy nhiên, với nhu cầu sử dụng ngày càng lên cao, số lượng người sử dụngmạng di động ngày càng nhiều nên đòi hỏi cần có những biện pháp để nâng cao chấtlượng cuộc gọi và các ứng dụng khác Chính vì thế, đã xuất hiện thế hệ thứ 2 của hệthống di động Người ta gọi là 2G (Second Generation) với sóng Digital.Thế hệ thứhai 2G của mạng di động chính thức ra mắt trên chuẩn GSM của Hà Lan, do công tyRadiolinja (Nay là một bộ phận của Elisa) triển khai vào năm 1991 Và thực sự, “lànsóng” 2G đã lan tỏa với tốc độ nhanh, nhờ vào các tính năng vượt trội của nó so vớimạng 1G:
Thứ nhất, dữ liệu số của giọng nói có thể được nén và ghép kênh hiệu quả hơn
so với mã hóa Analog nhờ sử dụng nhiều hình thức mã hóa, cho phép nhiều cuộc gọicùng được mã hóa trên một dải băng tần
Thứ hai, hệ thống kĩ thuật số được thiết kế giảm bớt năng lượng sóng radiophát từ điện thoại Nhờ vậy, có thể thiết kế điện thoại 2G nhỏ gọn hơn; đồng thờigiảm chi phí đầu tư những tháp phát sóng
Thứ 3, mạng 2G trở nên phổ biến cũng do công nghệ này có thể triển khai một
số dịch vụ dữ liệu như Email và SMS Đồng thời, mức độ bảo mật cá nhân cũng caohơn so với 1G đặc biệt là khởi đầu SMS
Và tất nhiên, nhu cầu của con người vẫn không dừng lại ở đó Sau khi trải quabước đệm về hệ thống di động 2,5G Con người đã bắt tay vào nghiên cứu thế hệ thứ
3 cho năm 2000 Đó là 3G (third Generation)…Ở Châu âu, người ta gọi đó là UMTS Mạng 3G được đưa vào khai thác thương mại đầu tiên ở Nhật Bản Năm 2001,NTT Docomo, một công ty lớn trong ngành viễn thông ở Nhật, đã ra mắt phiên bảnthương mại của mạng W-CDMA Năm 2005, khoảng 40% các thuê bao tại Nhật Bản
là thuê bao 3G, khiến cho mạng 2G dần biến mất tại nước này Theo thống kê củacông ty Impress (Nhật Bản), tính đến cuối năm 2006, có gần 93 triệu thuê bao 2G và
Trang 123G tại Nhật, trong đó gần 56 triệu là thuê bao 3G Nhật bản hy vọng, với công nghệcải tiến như hiện nay thì sẽ dần chinh phục mạng 3.5G , 4G trong thời gian tới.
Ở châu Âu, mạng 3G được mang ra giới thiệu vào năm 2003 Trong khi đó, mãitới năm 2007 mạng 3G mới thực sự được sử dụng ở Châu Phi, Maroc là thủ đô đầutiên tiếp cận thông tin này.Tính tháng 12/2005, có khoảng 100 hệ thống mạng 3Gđược xây dựng tại 40 quốc gia trên thế giới
2.1.3 Các chức năng của dịch vụ 3G
- Điện thoại truyền hình (Video call): Cho phép người gọi và người nghe có
thể nhìn thấy hình ảnh của nhau trên ĐTDĐ, giống như hai người đang nói chuyệntrực tiếp với nhau
- Nhắn tin đa phương tiện (MMS): Cho phép chuyển tải đồng thời hình ảnh và
âm thanh, các đoạn video clip (dữ liệu động) và text cùng lúc trên bản tin với tốc độnhanh và dung lượng lớn
- Xem phim trực tuyến (Video Streaming): xem phim trên ĐTDĐ với chất
lượng hình ảnh, âm thanh tốt, không bị giật hình hay trễ tiếng như truy cập Internet
- Tải phim trực tuyến (Video Downloading): người dùng dịch vụ 3G có thể tải
trực tiếp các bộ phim từ ngay ĐTDĐ của mình, với tốc độ nhanh, nhờ vào đườngtruyền băng rộng
- Thanh toán điện tử (Mobile Payment): Cho phép thanh toán hóa đơn hay giao
dịch chuyển tiền… qua tin nhắn ĐTDĐ (nếu khách hàng có tài khoản mở tại ngânhàng và có liên kết với nhà cung cấp dịch vụ di động)
- Truy cập Internet di động (Mobile Internet): Cho phép người dùng có thể
kếtnối từ xa trên ĐTDĐ với các thiết bị điện tử tại văn phòng hay ở nhà
- Quảng cáo di động (Mobile Advertizing)
2.1.4 Ưu nhược điểm của mạng 3G
Trang 13Ưu điểm:
Mạng 3G có hệ thống hạ tầng cao hơn so với mạng 2G Hệ thống UMTS dựa trên
các dịch vụ được phân tầng Ở trên cùng là tầng dịch vụ, đem lại những ưu điểm như triển khai nhanh các dịch vụ, hay các địa điểm được tập trung hóa Tầng giữa là tầng
điều khiển, giúp cho việc nâng cấp các quy trình và cho phép mạng lưới có thể được
phân chia linh hoạt Cuối cùng là tầng kết nối, bất kỳ công nghệ truyền dữ liệu nào
cũng có thể được sử dụng và dữ liệu âm thanh sẽ được chuyển qua ATM/AAL2 hoặcIP/RTP
Nhược điểm:
- Tín hiệu của mạng 3G gây đau đầu buồn nôn
- Khó khăn khi triển khai mạng 3G ở Việt Nam trong đó những vấn đề về thủ tục làkhó khăn lớn nhất Khó khăn trong việc cấp giấy phép cho triển khai hoạt động băngrộng di động đang cản trở cho các doanh nghiệp muốn đưa dịch vụ này vào thị trườngViệt Nam
- Vùng phủ sóng rộng chất lượng tốt đang là bài toán khá đau đầu với các mạng diđộng trong việc bảo đảm để các thượng đế đi đâu cũng có thể xài được điện thoại 3G,lướt net, gửi mail, xem TV hay gọi điện thấy hình Cho đến nay, Vinaphone cungcấp được tại 13 tỉnh, thành; MobiFone cung cấp tại Hà Nội và TP.HCM, trong khiViettel tiếp tục thử nghiệm tại một số trung tâm thương mại
- Thiết bị đầu cuối hỗ trợ 3G giá thành vẫn cao cũng là một trong những rào cản đểcác thuê bao chuyển sang mạng 3G Thống kê cho thấy ở Việt Nam chỉ có khoảng10% khách hàng đã có sẵn máy 3G, tại các thành phố lớn tỷ lệ này là 20%
- Các thuê bao của VinaPhone, MobiFone khi chuyển sang 3G đã gặp phải sự cố đứt,gián đoạn thông tin Các thuê bao trả trước của MobiFone khi đăng ký sử dụng 3Gcòn bị trừ tiền oan trên tài khoản
- Đối với các dịch vụ đặc biệt như video call, mobile TV các thuê bao đều phải càiđặt các chế độ phức tạp trên máy điện thoại của mình chứ không dễ dàng sử dụng như
đối với các dịch vụ thoại thông thường bên mạng 2G
Trang 142.2 Cơ sở thực tiễn
2.2.1 Nhà cung cấp mạng và hệ thống viễn thông di động toàn cầu
Các thế hệ mạng di động lần lượt nhau ra đời, từ 1G cho đến 4G với công nghệngày càng tiên tiến và tốc độ xử lý càng nhanh Cho dù thế nào, thì mạng 3G nóiriêng và các hệ thống mạng di động khác nói chung có hoạt động tốt và phổ biến haykhông thì phải kể đến người tiên phong là các nhà mạng Đến năm 2005, có khoảng
23 mạng 3G trên toàn cầu Một số còn đang chạy thử nghiệm, tuy nhiên một số đãđược đưa vào sử dụng
Các nhà cung cấp dịch vụ mạng đã đầu tư một số tiền không nhỏ vào hệ thống mạng2G hiện tại Những mạng này mới chỉ hoạt động khoảng 10 đến 15 năm và vẫn chưathu hồi hết vốn đầu tư Chính vì thế, họ phải tìm cách sử dụng lại những phần đã đầu
tư để xây dựng mạng 3G
Một điều khác nữa mà các nhà cung cấp cần nghĩ đến là vai trò của họ trong quátrình chuyển đổi này Họ sẽ không chỉ là những nhà cung cấp hệ thống mà còn là nhàcung cấp dịch vụ Họ cần tạo ra sự khác biệt cho bản thân trên thị trường, tập trungnhiều hơn vào nội dung cho các sản phẩm và dịch vụ Với công nghệ mới 3G, thịtrường sẽ có rất nhiều nhà cung cấp dịch vụ vì bất cứ ai cũng có thể tự xây dựng nộidung và bán trực tiếp đến người tiêu dùng Vì thế, các nhà cung cấp mạng cũng sẽphải thích nghi được với những thay đổi này
Trang 152.2.2 Tình hình sử dụng và các nhà mạng phân phối 3G tại Việt Nam
Mặc dù công nghệ 3G đã được đưavào sử dụng từ năm 2001 Nhưng nóchỉ thực sự xâm nhập vào thị trườngViệt Nam trong mấy tháng gần đây Rất
ít người biết đến mạng 3G, thậm chí cóthể họ không biết họ đang sử dụng hệthống di động loại gì ? Tuy nhiên, từkhi các mạng viễn thông lớn ở ViệtNam như vinaphone, mobifone, viettel,liên danh EVN Telecom –Hanoi Telecom) tung ra các chiến dịch quảng cáo về mạng3G thì lúc này khái niệm 3G mới thực sự trở nên phổ biến
Nhà phân phối mạng 3G lớn nhất, có thể xem là người tiên phong trong việc phânphối mạng 3G tại Việt Nam.là Vinaphone Ngày 12/10/2009, khi VinaPhone chínhthức cung cấp dịch vụ 3G tại Việt Nam, câu cửa miệng của các chuyên gia viễn thông
và của rất nhiều người tiêu dùng là giấc mơ công nghệ đã thành hiện thực. Chúng ta
dễ dàng bắt gặp các băng rôn quảng cáo dọc đường phố hay là các thông tin được phổcập rộng rải trên internet, báo chí, truyền thông…Với chiến dịch quảng cáo rầm rộ,cùng với lễ khai trương “sôi động và hoành tráng” Vinaphone đã thực sự thu hút sựchú ý của rất nhiều khách hang
Tuy nhiên, không phải là độc quyền phân phối dịch vụ mạng 3G mà nó còn cócác đối thủ cạnh tranh “nặng ký” như Mobifone (15/12/2009 chính thức cung cấpmạng 3G) và Viettel (Ngày 25/3/2010)… Cả 3 nhà mạng này đã lần lượt ký hợp đồngvới Apple và đưa mạng 3G vào sử dụng Tuy nhiên, họ đều không biết rằng còn có
“kẻ” đang chạy đua với mình Chính vì thế, sau khi Viettel và mobifone công bốchính thức phân phối mạng 3G, cũng lúc đó cả 3 nhà mạng bắt đầu tăng tốc cuộc
Trang 16“chạy đua” Vì là một hệ thống mạng khá mới mẻ đòi hỏi các nhà mạng phải có chiếnlược nhằm thu hút khách hang
Vinaphone cung cấp sáu dịch vụ đầu tiên là Mobile Internet (truy cập Internet tốc độ cao trực tiếp từ điện thoại), Mobile Broadband (truy cập Internet tốc độ
cao từ máy tính thông qua sóng di động); các dịch vụ có tính đột phá như:
Video Call (đàm thoại thấy hình giữa các thuê bao Vinaphone), Mobile Camera (xem trực tiếp hình ảnh tình trạng các nút giao thông); các dịch vụ giải trí cao cấp như Mobile TV (xem trực tiếp 15 kênh truyền hình trên máy di
động, 3G Portal (thế giới thông tin và giải trí trên điện thoại di động) sẽ đượccung cấp cho toàn bộ các khách hàng hiện có của VinaPhone và các kháchhàng hòa mạng mới
Đến thời điểm này, VinaPhone đã phủ sóng 3G và cung cấp các dịch vụ 3G tại
13 tỉnh, thành phố trên cả nước
Mobifone cung cấp 4 dịch vụ 3G gồm Video Call; Mobile Internet; Mobile
TV, Fast Connect Tính tới cuối năm 2009, mạng lưới MobiFone đã phủ sóngtới 98% dân số với 16.000 trạm BTS, dung lượng mạng lưới đủ phục vụ cho
50 triệu thuê bao Dự kiến doanh thu năm 2009 của MobiFone sẽ đạt 27 nghìn
tỷ đồng và đạt 9 triệu thuê bao thực phát triển
Ngay tại thời điểm Khai trương( 25/3/2010), mạng 3G VIETTEL có hơn 8.000trạm BTS 3G, phủ sóng rộng khắp cả nước
Mặc dù, để nâng cấp cơ sở hạ tầng và đưa mạng 3G vào sử dụng thì số tiền họ bỏ
ra không phải là con số nhỏ Tuy nhiên, các nhà mạng vẫn đưa ra các chính sáchkhuyến mãi riêng của mình dồng thời nâng cao chất lượng dịch vụ
Theo Ông Yoshitaka Matsubara - một nhà đầu tư và nhà nghiên cứu thị trường
thông thạo về Viễn thông & CNTT, hiện là Chủ tịch của Alliant, Nhật Bản nói
“ Đối với thị trường Việt Nam, trừ khi các nhà khai thác chuẩn bị để tập trung lại từ
“cạnh tranh giá cả” đến “cạnh tranh chất lượng” và từ dịch vụ thoại/dữ liệu đơn giản sang dịch vụ dữ liệu di động (và dữ liệu vô tuyến) phong phú, các tiềm năng
Trang 17đáng kể sẽ chậm đến tại thị trường này.” Chính vì thế, rõ rang để chiếm được “miếng
bánh ngon” thì các nhà mạng phải cạnh tranh trên cả mặt giá cả lẫn chất lượng
Chương III PHÂN TÍCH ĐÁNH GIÁ VỀ NHU CẦU SỬ DỤNG MẠNG 3G
CỦA SINH VIÊN K44QTKD TRƯỜNG ĐHKT HUẾ
3.1 Tổng quan về trường Đại học Kinh tế Huế
3.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển
Trường Đại học Kinh tế - Đại học Huế là một trong 7 trường đại học thànhviên thuộc Đại học Huế, được thành lập theo Quyết định số 126/QĐ-TTg ngày27/9/2002 của Thủ tướng Chính Phủ trên cơ sở Khoa Kinh tế - Đại học Huế Sự rađời của Trường Đại học Kinh tế bắt nguồn từ Khoa Kinh tế nông nghiệp-Đại họcNông nghiệp II Hà Bắc (giai đoạn 1969-1983), Khoa Kinh tế - Đại học Nông nghiệp
II Huế (giai đoạn 1984-1995) và Khoa Kinh tế-Đại học Huế (giai đoạn 1995-2002).Hiện tại Trường có hơn 7000 sinh viên đang theo học các chuyên ngành:
+ Kinh tế Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
+ Kinh doanh Nông nghiệp
+ Quản trị Kinh doanh tổng hợp
+ Quản trị kinh doanh Marketing
+ Quản trị kinh doanh Thương mại
+ Kế toán Doanh nghiệp
+ Kế toán Kiểm toán
+ Tài chính Ngân hàng
+ Thống kê kinh doanh
+ Hệ thống thông tin kinh tế
+ Kinh tế Chính trị
với hai hình thức đào tạo chính quy và không chính quy
Trang 18Mỗi năm trường tuyển mới hơn 1300 sinh viên, bao gồm 600 sinh viên hệchính quy và 700 sinh viên hệ không chính quy Thời gian tới quy mô đào tạo củaTrường sẽ được mở rộng với chỉ tiêu tuyển mới hàng năm từ 700-800 sinh viên hệchính quy và 800-900 sinh viên hệ không chính quy.
3.1.2 Hợp tác quốc tế
Trường có quan hệ hợp tác quốc tế với nhiều trường Đại học, viện nghiên cứu
và tổ chức nước ngoài trong lĩnh vực đào tạo, nghiên cứu khoa học, thực hiện dự án
và hoạt động phát triển cộng đồng Trường đã thiết lập mối quan hệ hợp tác chặt chẽvới trường Quản lý du lịch-Đại học Hawaii (Hoa Kỳ) thông qua dự án hợp tác vớiquỹ Ford; Đại học Chulalongkorn-Thái Lan, Đại học Nông Nghiệp Hoàng giaCampuchia và Đại học Roskilde- Đan Mạch thông qua dự án liên kết Châu Á, Đạihọc Lincoln (New Zealand) – Dự án về hợp tác nông nghiệp và phát triển nông thôn(CARD); Đại học tự do Amsterdam-Hà Lan, Viện công nghệ Aucklan-NewZealand,Viện quản lý Rennes – cộng hòa Pháp, Đại học công nghệ Nanyang (NTU)Singapore, Đại học Chiang Mai – Thái Lan, viện kinh tế Nông thôn Vân Nam oTrung Quốc, Tổ chức hợp tác Đại học Pháp Ngữ (AUF), Tổ chức Quốc tế Singapore(SIF); Tổ chức INSA-ETEA thông qua hợp tác với các tổ chức Tây Ban Nha để thựchiện dự án đào tạo quản trị Hợp tác xã và nhiều tổ chức quốc tế khác…
Trường Đại học Kinh tế mong muốn mở rộng quan hệ hợp tác với các trườngĐại học, các viện nghiên cứu, các tổ chức Chính phủ và phi chính phủ trong và ngoàinước trong lĩnh vực đào tạo và nghiên cứu khoa học nhằm đóng góp tích cực cho sựnghiệp công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước
3.2 Kết quả và thảo luận
Qua một quá trình điều tra bảng hỏi, thống kê và tổng hợp phân tích dữ liệu thìnhóm đã thu được một số nội dung nghiên cứu quan trọng cơ bản nhất để một phầnnào đánh giá được nhu cầu sử dụng dịch vụ mạng di dộng 3G của sinh viên
Trang 19K44QTKD tại trường ĐH Kinh tế Huế Kết quả nghiên cứu được trình bày cụ thể nhưsau:
3.2.1 Khảo sát các mạng điện thoại di động chủ yếu mà sinh viên đang sử dụng
Theo thống kê của Bộ Thông tin và Truyền thông năm 2009, cả nước hiện có130,4 triệu thuê bao điện thoại, đạt mật độ 152,7 máy trên 100 dân Trong đó, thuêbao di động chiếm 85,4% trong số đó 4 nhà mạng Viettel, Mobiphone, Vinaphone vàBeeline chiếm trên 90% số lượng thuê bao di động trên thị trường viễn thông ở ViệtNam Đáng lưu ý trong 4 nhà mạng này thì 3 trong số đó là Viettel, Mobiphone vàVinaphone là những doanh nghiệp được cấp giấy phép triển khai dịch vụ 3G sớmnhất vào khoảng tháng 8 năm 2009 và đây cũng là những nhà mạng mà sinh viên hiệnđang sử dụng khá phổ biến Chính vì những lý do cơ bản trên mà nhóm chúng tôi mớiđưa ra 5 lựa chọn cho các bạn sinh viên bao gồm Viettel, Mobiphone, Vinaphone,
Beeline và mạng Khác Trong quá trình điều tra đã thu được 85 mẫu hợp lệ cụ thể với
Trang 20Dựa vào bảng thống kê cũng như hình vẽ ta có thể thấy rằng trong các nhà mạngthì Viettle và Mobiphone chiếm số lượng sinh viên sử dụng nhiều nhất Dẫn đầu làViettel với 56/85 ý kiến của sinh viên sử dụng chiếm gần 65.9%, xếp sát theo ở vị tríthứ 2 cũng không thua kém bao nhiêu là mạng Mobiphone với 49/85 ý kiến sinh viên
sử dụng chiếm gần 57.6% 2 nhà mạng còn lại là Vinaphone và Beeline lần lượt chiếmđược thị phần tương ứng là 14.1% và 10.6% Dựa vào số liệu trên so với thực tế thìmột phần nào cũng đã phản ánh khái quát thực trạng sử dụng mạng di động của sinhviên hiện nay
Trong số các nhà mạng trên thì Viettle và Mobiphone luôn là lựa chọn hạng đầucủa sinh viên Và theo kết quả ở trên thì ta cũng thấy được rằng tỉ lệ chênh lệch sửdụng giữa 2 mạng trên là không lớn lắm với tỉ lệ tương ứng là 65.9% (56/85) và57.6% (49/85) và trên thực tế thì 2 nhà mạng này vẫn đang nắm thị phần dẫn đầu về
số lượng thuê bao di động
0 10 20 30 40 50 60
Mạng di động SV đang sử dụng
Viettel Mobifone Vinaphone Beeline Mang khac
Trang 21Xếp theo sau đó là sự lựa chọn Vinaphone và Beeline, có thể nói số lượng sinh
viên sử dụng thuê bao Vinaphone vẫn còn hạn chế vì một phần cũng do cách định vị
khách hàng của Vinaphone nhưng nhìn chung thì Vinaphone cũng đạt được con số tỷ
lệ có thể chấp nhận được là 14.1% (12/85) và một nhà mạng cũng đang dần khẳng
định mình trên bảng đồ viễn thông trong nước đó là Beeline với nhiều gói cước cạnh
tranh hấp dẫn đã giúp Beeline chiếm được một thị phần nhất định trong một thời gian
rất ngắn cũng đã chiếm được 10.6% (9/85) điều này một phần do gói cước của
Beeline tập trung chủ yếu vào khách hàng có thu nhập thấp, trung bình chính vì vậy
đối tượng chủ yếu vẫn là sinh viên
Dựa vào những số liệu trên một phần nào sẽ giúp các nhà mạng biết được số
lượng sinh viên hiện đang sử dụng mạng mình cũng như xác định được những khách
hàng tương lai từ đó sẽ đặt ra các cách thức phù hợp để khai thác có hiệu quả hơn về
mạng 3G đối với nhóm khách hàng sinh viên Bên cạnh đó thì số liệu thống kê này
cũng giúp những phần nghiên cứu, kiểm định so sánh ở các phần sau sẽ thuận lợi hơn
3.2.2 Khả năng tiếp cận nguồn thông tin về dịch vụ mạng di động 3G
Để có cách nhìn toàn diện hơn về “Nhu cầu sử dụng dịch vụ mạng di động 3G”
nhóm đã tiến hành điều tra bảng hỏi ở mục hiểu biết thông tin về mạng 3G Qua quá
trình phát 120 phiếu bảng hỏi nhóm đã thu được 85 phiếu hợp lệ trong có có 82 người
đã trả lời về các nguồn thông tin mà họ đã tiếp cận để hiểu biết về dịch vụ 3G Cụ thể
như sau:
Bảng 2 Nguồn thông tin tiếp cận về 3G
Nguồn thông tin tiếp cận về mạng 3G Số lượng ý kiến Tỷ lệ (%) theo số người trả
Trang 22Dựa vào bảng số liệu về tổng hợp ý kiến cũng như tỷ lệ theo 82 số người trả lờithì ta có thể nhìn nhận rằng “truyền hình” vẫn là sự kênh lựa chọn phổ biến cho ngườitiêu dụng ở Việt Nam nói chung và ở sinh viên Kinh tế Huế nói riêng Với số lượng ýkiến 61/82 chiếm 74.4% số ý kiến trả lời thì có thể thấy được tầm quan trọng của việcquảng cáo qua truyền hình cao như thế nào Điều này sẽ là một phần quan trọng giúpcho các nhà mạng sẽ càng đặc biệt chú trong hơn đến khâu quáng cáo trên truyền hình
để nhằm gởi thông tin cũng như thông điệp của mình đến gần khách hàng hơn và cụthể là dễ dàng tiếp cận với sinh viên hơn
Bên cạnh đó thì so với nhiều đối tượng khác thì sinh viên vẫn luôn là một trong
số đối tượng tiếp cận nguồn thông tin từ “báo, Internet” hiệu quả nhất Điều này cũng
đã được ghi nhận qua 31 ý kiến sinh viên lựa chọn chiếm tỷ lệ gần 37.8% đây là một
tỷ lệ cũng khá cao chỉ xếp sau sự lựa chọn số 1 về truyền hình Cùng với sự phát triểncông nghệ thông tin mạnh mẽ trong những năm gần đây thì việc tiếp cận báo vàinternet cũng ngày càng phổ biến hơn so với trước đây, sinh viên đã chủ động hơntrong việc tiếp cận nhiều nguồn thông tin cho riêng mình Đây cũng chính là điều màcác nhà mạng phải chú ý nên xây dựng riêng từng chuyên đề, tạp chí hay là nhữngmục thảo luận riêng về mạng di động 3G để thông tin được truyền tải nhanh hơn cũngnhư tiếp cận gần hơn với đối tượng sinh viên Ngoài 2 yếu tố về truyền hình cũng như
là báo, internet thì thông tin từ “bạn bè, người thân” cũng chiếm một phần quan trọng