LÝ LUẬN CHUNG VỀ CỔ PHẦN HOÁ DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC
Trang 1MỤC LỤC
Ch¦¥ng I : Lý luËn chung vÒ cæ phÇn ho¸ doanh
nghiÖp nhµ N¦íc
4
1.2.Doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam – vai trò và thực trạng
của các doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam.
2.1.1 Khái niệm về cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước. 7
2.1.2 Bản chất của cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước. 72.2 Mục tiêu của cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước 82.3 Tác động của cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước. 9
2.3.1 Cổ phần hoá với tăng trưởng kinh tế. 9
2.3.2 Cổ phần hoá với vần đề dân chủ hoá đời sống kinh tế và chống
tham nhũng
10
2.3.3 Tác động xã hội của cổ phần hóa. 10
2.3.4 Cổ phần hoá với sự phát triển của thị trường chứng khoán 112.4 Sự cần thiết phải tiến hành cổ phần hoá doanh nghiệp nhà
nước ở Việt Nam.
11
Ch¦¥ng II: Thùc tr¹ng cæ phÇn ho¸ doanh nghiÖp nhµ
N¦íc ë ViÖt Nam
12
I Tiến trình thực hiện cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước
trong những năm qua
12
Trang 21.2 Giai đoạn mở rộng (1996-2002). 131.3 Giai đoạn chủ động (bắt đầu từ tháng 6/2002 đến tháng
11/2004).
13
1.4 Giai đoạn đẩy mạnh (từ tháng 12/2004 đến nay). 14
II Những thành tựu đạt được từ việc cổ phần hoá doanh
nghiệp nhà nước.
14
2.2 Tác động của cổ phần hoá đối với hiệu quả sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp cổ phần hoá.
17
2.3.Cổ phần hoá tạo ra loại hình doanh nghiệp có nhiều chủ sở
hữu, giúp cơ cấu lại doanh nghiệp, huy động thêm vốn, tạo cho
doanh nghiệp có chế quản lý năng động hiệu quả.
18
III Những khó khăn của cổ phần hoá doanh nghiệp nhà
nước
19
Ch¦¥ng III :C¸c gi¶i ph¸p nh»m thóc ®Èy qu¸ tr×nh
II Một số giải pháp nhằm thúc đẩy quá trình cổ phần hoá
doanh nghiệp nhà nước.
26
2.1.Giải pháp để nâng cao nhận thức và chỉ đạo thực hiện. 272.2.Đẩy mạnh công tác tuyên truyền phổ biến về cổ phần hoá. 29
2.5.Nâng cao trình độ cho đội ngũ cán bộ quản lý doanh nghiệp
Trang 3LỜI NÓI ĐẦU
Sắp xếp, đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước là mộttrong những yêu cầu bức thiết của Đảng và nhà nước hiện nay Thực tiễn hoạtđộng của doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam hàng chục năm qua cho thấy mặc dùdoanh nghiệp nhà nước được giao phó vai trò chủ đạo song hoạt động của chúng
có nhiều điểm bất cập Chính vì vậy, từ trước đến nay, vấn đề sắp xếp, đổi mớidoanh nghiệp nhà nước để loại hình doanh nghiệp này trở thành động lực chủ yếucủa nền kinh tế luôn luôn được Đảng và Nhà nước ta chú trọng sắp xếp, đổi mớidoanh nghiệp nhà nước càng trở nên cấp bách khi đất nước ta chuyển sang nềnkinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập vào nền kinh tế thếgiới Một trong những giải pháp đổi mới doanh nghiệp nhà nước được thực hiện cóhiệu quả và mang lại nhiều thay đổi triệt để trong cấu trúc tổ chức và hoạt động củadoanh nghiệp nhà nước là cổ phần hoá Cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước là mộtbiện pháp hữu hiệu được tiến hành phổ biến ở nhiều nền kinh tế trên thế giới Ngay
cả những quốc gia có nên kinh tế phát triển phương thức quản lý doanh nghiệp tiêntiến như : Anh, Pháp, Mỹ cũng áp dụng
Ở nước ta.cổ phần hoá được bắt đầu triển khai cách đây 15 năm với những bước đithử nghiệm và sau đó là sự triển khai rộng khắp trên cả nước Cổ phần hoá là mộtchủ trương lớn của Đảng và Nhà nước, một giải pháp quan trọng tạo chuyển biến
cơ bản trong việc nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất – kinh doanh của doanhnghiệp nhà nước.Tuy nhiên, do nhiều lý do khác nhau, cổ phần hoá vẫn chưa manglại những kết quả như mong muốn Chính vì vậy, việc nghiên cứu cổ phần hoádianh nghiệp nhà nước, tìm được những hạn chế của nó, đưa ra các giải pháp nhằmđẩy nhanh tiến trình cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước là việc làm rất có ý nghĩa
về lý luận và thực tiễn
Trang 4Ch¬ng I : Lý luËn chung vÒ cæ phÇn ho¸ doanh nghiÖp nhµ níc
I Khái niệm doanh nghiệp nhà nước
1.1.Định nghĩa doanh nghiệp nhà nước
Khái niệm doanh nghiệp nhà nước được phát triển tương đối sâu trong định nghĩa
và các quy định của Luật doanh nghiệp nàh nước năm 2003 Điều 1 Luật doanhnghiệp nhà nước năm 2003 định nghĩa : “ Doanh nghiệp nhà nước là tổ chức kinh
tế do Nhà nước sở hữu toàn bộ vốn điều lệ hoặc có cổ phần, vốn góp chi phối,được tổ chức dưới hình thức công ty nhà nước, công ty cổ phần, công ty tráchnhiệm hữu hạn” Định nghĩa này của Luật doanh nghiệp nhà nước năm 2003 chứađựng nhiều điểm mới phản ánh những thay đổi khá cơ bản trong nhận thức của cácnhà lập pháp và hoạch định chính sách của nước ta đối với thành phần kinh tế nhànước cũng như các thành phần kinh tế khác
Luật doanh nghiệp nhà nước năm 2003 đã đa dạng hoá các doanh nghiệp nhà nướctrên tiêu chí quyền chi phối Khác với trước đây là doanh nghiệp nhà nước chỉ tồntại dưới dạng doanh nghiệp nhà nước độc lập hoặc tổng công ty nhà nước thì hiệnnay doanh nghiệp nhà nước có thể tồn tại dưới nhiều dạng khác nhau Chính sự đadạng về hình thức tồn tại của doanh nghiệp nhà nước sẽ làm sinh động thành phầnkinh tế công, làm cho nó thích ứng hơn với nền kinh tế thị trường định hướng xãhội chủ nghĩa
1.2.Doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam – vai trò và thực trạng của các doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam.
Hiến pháp năm 1992 và các văn bản pháp luật khác của Nhà nước ta đã khẳng địnhvai trò chủ đạo của nền kinh tế nhà nước mà trong đó doanh nghiệp nhà nước có vịtrí quan trọng Tồn tại với tư cách là nhân tố trọng yếu trong vai trò chủ đạo củakinh tế nhà nước, doanh nghiệp nhà nước đang đối mặt với mâu thuẫn giữa thựctrạng hoạt động với sứ mạng được giao phó Ở Việt Nam, doanh nghiệp nhà nướctrước đây được gọi là xí nghiệp quốc doanh đã phát triển với quy mô và số lượnglớn trong thời kỳ kế hoạch hoá tập trung và được xác định là thành phần kinh tếchủ đạo Doanh nghiệp nhà nước đã đóng vai trò quan trọng trong việc củng cố nền
Trang 5tảng kinh tế, xã hội của nước ta, góp phần xứng đáng vào sự nghiệp đấu tranhthống nhất nước nhà, xây dựng cơ sở vật chất cho chủ nghĩa xã hội
Doanh nghiệp nhà nước hiện đang được quan tâm đặc biệt vì vai trò và sứ mệnhcủa chúng trong sự phát triển kinh tế, xã hội của đất nước
Tuy thoát ra khỏi tư duy máy móc về một chủ nghĩa xã hội với hai hình thức sởhữu tư liệu sản xuất chủ yếu là sở hữu nhà nước và sở hữu tập thể và tuy đã khẳngđịnh sự cẩn thiết của nền kinh tế đa thành phần, Đảng ta vẫn nhấn mạnh vai trò chủđạo của kinh tế nhà nước với bộ phận chủ yếu là doanh nghiệp nhà nước Kinh tếnhà nước được xác định là thành phần chủ đạo của nền kinh tế thị trường địnhhướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam
Cũng như doanh nghiệp nhà nước ở nhiều trên thế giới, doanh nghiệp nhà nước ởViệt Nam cũng gặp phải những vấn đề về hiệu quả Ngay từ những năm 60,70 thế
kỷ XX hiệu quả thấp trong hoạt động sản xuất – kinh doanh của các xí nghiệp quốcdoanh đã được đặt ra như là một vấn đề bức xúc Tình trạng kém hiều quả trongsản xuất – kinh doanh của đơn vị kinh tế này kéo dài trong nhiều năm Qua hơn 10năm cải cách, sắp xếp, đổi mới doanh nghiệp nhà nước đã có những bước pháttriển tốt hơn ngay cả khi đối mặt với những thách thức của cơ chế mới được thểhiện ở các khía cạnh sau:
- Doanh nghiệp nhà nước vẫn chi phối được những ngành, lĩnh vực then chốtcủa nền kinh tế, góp phần để kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, giữ tỷtrọng lớn trong xuất khẩu, thu nộp ngân sách, hợp tác đầu tư với nước ngoài,đảm bảo được các dịch vụ công ích, phục vụ tốt cho an ninh và quốc phòngcủa đất nước
- Doanh nghiệp nhà nước đang dần dần thích ứng với nền kinh tế thị trườngđịnh hướng xã hội chủ nghĩa, quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm được nângcao, vốn được bảo toàn và phát triển
- Nhiều doanh nghiệp nhà nước đã tăng được khả năng cạnh tranh và khảnăng hội nhập quốc tế
Tuy nhiên, xem xét một cách toàn diện thì những thành tựu trên của doanh nghiệpnhà nước vẫn chưa thể khắc phục được những tồn tại của chúng trong hoạt độngsản xuất kinh doanh Sự phát triển không bình thường về lượng cộng với những bất
Trang 6cập trong cơ chế quản lý đã dẫn doanh nghiệp nhà nước tới một số hạn chế sauđây:
- Thứ nhất, hiệu quả sản xuất kinh doanh chưa cao, chưa tương xứng với vị trí
và sự đầu tư của ngân sách
- Thứ hai, doanh nghiệp nhà nước có quy mô nhỏ Quy mô nhỏ bé của doanhnghiệp nhà nước thể hiện ở cả trong tiêu chí về sử dụng lao động Số doanhnghiệp nhà nước có lao động dưới 500 người chiểm 80% Do quy mô doanhnghiệp nha nước rất nhỏ nên khả năng đầu tư mở rộng sản xuất, đổi mớicông nghệ rất hạn chế Nhìn chung , doanh nghiệp nhà nước chưa đủ sức tựmình đầu tư để vươn tới những công nghệ và kỹ thuật tiên tiến Những hạnchế này dẫn đến tình trạng hàng hoá củ doanh nghiệp nhà nước giá cao hơnhàng hoá cùng loại, cùng chất lượng của các doanh nghiệp khác, của hàngnhập tới 20-30%
- Thứ ba, doanh nghiệp nhà nước lạc hậu về công nghệ sản xuất, về trình độquản lý
- Thứ tư, cơ cấu phân bố chưa hợp lý Còn khá nhiều doanh nghiệp nhà nướchoạt động trong các lĩnh vực mà ở đó chúng khó có thể cạnh tranh được nhưtrong những dịch vụ thông thường Bên cạnh đó, có thể nhận thấy doanhnghiệp nhà nước được phân bố không hợp lý theo ngành, theo địa phương
Có những địa phương, ngành như thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội, HảiPhòng, ngành công nghiệp, thương mại doanh nghiệp nhà nước tập trung với
số lượng lớn trong lúc đó nhiều địa phương lại có rất ít các doanh nghiệpnhà nước Một số địa phương, nhất là cấp huyện thành lập rất nhiều doanhnghiệp nhà nước không phù hợp với tình hình kinh tế - xã hội và bất chấpnhu cầu thực tế của địa phương
- Thứ năm, cơ chế quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp cũng như cơ chếquản lý trong bản thân doanh nghiệp cồng kềnh và thiếu hiệu quả
- Thứ sáu, như là hệ quả của những điểm yếu trên, doanh nghiệp nhà nước ít
có khả năng cạnh tranh trên thị trường Trong bối cảnh đất nước ta đang chủđộng hội nhập kinh tế quốc tế, tham gia nhiều hơn vào các khu vực mậu dịch
tự do hoặc các hiệp định thương mại song phương, đa phương, tính cạnh
Trang 7tranh thấp của doanh nghiệp nhà nước sẽ là một thách thức sống còn đối vớinền kinh tế nước ta.
II một số lý luận chung về cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước
2.1.Khái niệm và bản chất của cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước
2.1.1 Khái niệm về cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước.
Cổ phần hoá là một trong những giải pháp sắp xếp, đổi mới, nâng cao hiệu quảdoanh nghiệp nhà nước được thể hiện qua sơ đồ mô phỏng sau:
Xét ở bản chất pháp lý, cổ phần hoá là việc biến doanh nghiệp một chủ thànhdoanh nghiệp của nhiều chủ, tức là chuyển từ hình thức sở hữu đơn nhất sang sởhữu chung thông qua việc chuyển một phần tài sản của doanh nghiệp cho nhữngngười khác Những người này trở thành sở hữu chủ của doanh nghiệp theo tỷ lệ tàisản mà họ sở hữu trong doanh nghiệp cổ phần hoá Xét dưới góc độ này thì cổphần hoá dẫn tới sự xuất hiện không chỉ của của công ty cổ phần trên nền tảng củadoanh nghiệp được cổ phần hoá
2.1.2 Bản chất của cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước.
Cho thuê DNNN
Cổ phần hoá DNNN
Cho thuê toàn bộ Bán toàn bộ
Cho thuê một phần
Trang 8Việc cổ phần hoá được thực hiện thông qua việc chia vốn của một số doanh nghiệpnhà nước nhất định ra thành các cổ phần Một phần cổ phần phát hành được báncho tư nhân hoặc phân phát cho người lao động, một phần Nhà nước sở hữu Nhưvậy, với cổ phần hoá thì một số doanh nghiệp nhà nước được biến thành sở hữuchung của người lao động, của doanh nhân và của Nhà nước Rõ ràng doanhnghiệp nhà nước bị tư nhân hoá một phần, tức là phần giành cho doanh nhân vàngười lao động theo nghĩa là một phần tài sản của thành phần kinh tế công đãchuyển sang thành phần kinh tế tư Thực tế này cũng cho thấy cổ phần hoá là tưnhân hoá từng phần các doanh nghiệp nhà nước Cũng chính vì lý do này nên nhiềuquốc gia khi tiến hành cải cách thành phần kinh tế công đều coi cổ phần hoá chỉ làmột trong những phương thức thực hiện tư nhân hoá.
Có quan điểm đồng nhất cổ phần hoá với tư nhân hoá hay có quan điểm cổ phầnhoá chỉ liên quan đến doanh nghiệp nhà nước.Tuy nhiên, giữa cổ phần hoá và tưnhân hoá ở các nước đã tiến hành cải cách đổi mới doanh nghiệp nhà nước theo môhình tư nhân hoá vẫn có những điểm khác nhau cơ bản
Ngoài ra, với tư cách là sự kiện pháp lý của việc chuyển đổi hình thức sở hữu củadoanh nghiệp, cổ phần hoá có thể áp dụng đối với bất cứ loại hình doanh nghiệpnào thuộc sở hữu của một chủ duy nhất Vì vậy, doanh nghiệp tư nhân, doanhnghiệp 100% vốn của nhà đầu tư nước ngoài đều có thể trở thành đối tượng của cổphần hoá Doanh nghiệp tư nhân hay doanh nghiệp 100% vốn của một nhà đầu tưnước ngoài có thể chuyển thành công ty trách nhiệm hữu hạn thông qua cổ phầnhoá
2.2 Mục tiêu của cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước.
- Cổ phần hoá tạo ra loại hình doanh nghiệp có nhiều chủ sở hữu trong đó có sựtham gia của đông đảo người lao động Nhờ có sự tham gia của đông đảo các chủ
sở hữu sẽ tăng cường được sự giám sát của các nhà đầu tư đối với nguồn vốn củadoanh nghiệp nâng cao được hiệu quả sử dụng các nguồn vốn của doanh nghiệp,thay đổi được cung cách quản trị doanh nghiệp đảm bảo giải quýêt được hài hoàlợi ích của nhà nước, của doanh nghiệp của các nhà đầu tư và của người lao động
Trang 9- Thông qua cổ phần hoá các doanh nghiệp nhà nước sẽ huy dộng được nguồn vốncủa cá nhân , của các tổ chức kinh tế - xã hội trong và ngoài nước để doanh nghiệp
có thể tái đầu tư đổi mới công nghệ, phát triển hoạt động sản xuất kinh doanh 2.3 Tác động của cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước.
Cổ phần hoá có vai trò to lớn trong việc đổi mới doanh nghiệp nhà nước, nhất là ởnhững nền kinh tế chuyển đổi từ cơ chế kế hoạch tập trung sang nền kinh tế thịtrường định hướng xã hội chủ nghĩa
2.3.1 Cổ phần hoá với tăng trưởng kinh tế.
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX đã đề ra chỉ tiêu tăng trưởng GDP tổng quát chogiai đoạn 2001- 2005 theo đó nền kinh tế tăng ở mức 7.5 đến 8% mỗi năm Việcthực hiện chỉ tiêu tăng trưởng này phụ thộc vào rất nhiều yếu tố trong đó có yếu tốtrong đó có yếu tố quyết định là hiệu quả của khu vực kinh tế công mà nòng cốt làdoanh nghiệp nhà nước Điều này cũng có nghĩa là cổ phần hoá doanh nghiệp nhànước có tác động rất lớn đối với việc thực hiện mục tiêu tăng trưởng này
- Thứ nhất, kinh nghiệm của các nước trên thế giới cho thấy ở các nước có thànhphần kinh tế công lớn thì tốc độ tăng trưởng không cao Chính vì thế, đối với đấtnước ta, muốn duy trì tốc độ tăng trưởng cao thì cần cơ cấu lại thành phần kinh tếnày Phân tích của các nhà kinh tế cho thấy ở Trung Quốc giữa tốc độ tăng trưởngkinh tế và tốc độ cổ phần hoá tỷ lệ thuận với nhau rất rõ Sở dĩ như vậy do là cổphần hoá sàng lọc và đào thải những doanh nghiệp kém hiệu quả, tạo môi trườngcạnh tranh giữa các doanh nghiệp và động lực phát triển Những doanh nghiệp nhànước kinh doanh không hiệu quả phần lớn là do khâu quản lý yếu kém, bộ máyđiều hành thiếu năng động sang tạo hoặc thi
- Thứ hai, việc giảm số lượng các doanh nghiệp nhà nước thuần tuý, tức là doanhnghiệp 100% vốn nhà nước sẽ giảm bớt được một khoản bổ sung vốn từ ngân sáchcho những doanh nghiệp này để dành đầu tư vào những nhu cầu phát triển khác
- Thứ ba, thông qua cổ phần hoá, Nhà nước thu được một phần giá trị tài sản nhànước trước đây giao cho các doanh nghiệp quản lý nhưng sử dụng kém hiệu quả
- Thứ tư, cùng với việc giảm đầu mối doanh nghiệp nhà nước sẽ làm giảm nhu cầu
hỗ trợ và ưu đãi về tín dụng của nhà nước Đặc biệt nó sẽ làm giảm bớt áp lực vayvốn lên các ngân hàng thương mại quốc doanh và các quỹ tín dụng nhà nước
Trang 10- Thứ năm, cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước gắn liền với sự xuất hiện của hàngloạt các công ty cổ phẩn Sự tồn tại của công ty cổ phần với cơ chế lưu chuyển cổphần thông qua thị trường chứng khoán tạo ra quá trình luân chuyển vốn từ nơikhông có hiệu quả hoặc nơi hiệu quả thấp sang nơi có hiệu quả cao
2.3.2 Cổ phần hoá với vần đề dân chủ hoá đời sống kinh tế và chống tham nhũng.
Cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước ở nước ta có tác dụng rất lớn trong việc đẩylùi tình trạng lãng phí, tham nhũng đang khá phổ biến trong các doanh nghiệp nhànước và những cơ quan quản lý chúng Sự bao cấp của nhà nước đối với nhiềudoanh nghiệp, cơ chế xin cho là mảnh đất tốt lành cho những hành dộng lãng phí,tham nhũng
Cổ phần hoá sẽ là một giải pháp tích cực để hạn chế tình trạng tham nhũng, nângcao dân chủ và công bằng xã hội Trong một doanh nghiệp cổ phần hoá, việc quản
lý công ty sẽ được đảm nhiệm bởi một guồng máy do các cổ đông lập ra Chínhcác cổ đông sẽ quyết định các vấn đề quan trọng của doanh nghiệp, giám sát chặtchẽ, thường xuyên hoạt động sản xuất kinh doanh của nó Vì lợi ích của chính bảnthân mình, cổ đông sẽ phát hiện và tự mình thông qua nền dân chủ cổ phần xử lýkịp thời các hành vi mờ ám, gian lận hay tham ô của những người quản lý và các
cổ đông lớn trong công ty
2.3.3 Tác động xã hội của cổ phần hóa.
Bất kỳ chính sách kinh tế nào cũng tác động đến các vấn đề xã hội Cổ phần hoátác động đến các vấn đề xã hội ở nhiều phương diện, ảnh hưởng trực tiếp đếnquyền lợi của nhiều đối tượng xã hội, làm phát sinh những mối quan hệ mới Ảnhhưởng của cổ phần hoá có thể rất tích cực song cũng có thể chứa đựng những yếu
tố tiêu cực nếu không được xử lý đúng
Một trong những mục tiêu của chính sách cổ phần hoá là thay đổi cơ cấu quản lýcủa doanh nghiệp cho hợp lý và hiệu quả hơn Những thay đổi này chắc chắn sẽkéo theo sự thay đổi trong việc bố trí, sử dụng lao động Thêm vào đó, khi côngnghệ, quy trình sản xuất và cơ chế quản lý lao động mới được áp dụng sau cổ phầnhóa, nhu cầu sử dụng lao động của doanh nghiệp sẽ giảm Ngay cả khi nhu cầu laođộng không giảm song do tính chất hiện đại của công nghệ lao động chưa qua đàotạo hay đào tạo không phù hợp với trình độ mới trong các doanh nghiệp nhà nước
Trang 11sẽ phải được thay thế Việc làm là vấn đề sống còn đối với người lao động, Vì vậy,đây thực sự là một thách thức không nhỏ trong quá trình cổ phần hoá
Tác động đáng lưu ý khác của cổ phần hoá là sự tiềm ẩn trong nó khả năng phânhoá xã hội và gia tăng khoảng cách giàu nghèo
2.3.4 Cổ phần hoá với sự phát triển của thị trường chứng khoán.
Thị trường chứng khoán và cổ phần hoá có mối liên hệ lẫn nhau không thể phủnhận Cổ phần hoá có tác động rất lớn đối với thị trường chứng khoán thông quaviệc làm xuất hiện thêm một số lượng công ty cổ phần có tiềm lực do thừa kế vốn,công nghệ, lao động từ các doanh nghiệp nhà nước cổ phần hóa Trong điều kiệnnước ta hiện nay, việc đẩy nhanh cổ phần hoá sẽ gắn chặt với việc phát triển thịtrường chứng khoán Cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước được tiến hành tốt sẽlàm cho thị trường chứng khoán phát triển sôi động
Ngoài ra, sự tham gia của các doanh nghiệp nhà nước cổ phần hoá vào thị trườngchứng khoán buộc chúng phải thực hiện chế độ tài chính kế toán minh bạch, côngkhai, phải công bố với các cổ đông và công chúng về tình hình sản xuất- kinhdoanh, lợi nhuận và kế hoạch phát triển công ty Những đòi hỏi này buộc nhữngngười quản lý công ty phải điều hành tốt hơn, chú trọng đến sẹ phát triển sản xuấtkinh doanh nhiều hơn Kết quả, hiệu quả của doanh nghiệp nhà nước cổ phần hoá
sẽ tót hơn nhiều và đó là một trong những lực hút các doanh nghiệp nhà nước vàoquỹ đạo cổ phần hoá
2.4 Sự cần thiết phải tiến hành cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam.
Đối với nước ta, do đặc trưng của nền kinh tế, do chủ trương xây dựng nền kinh tếthị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, cổ phần hoá được coi là giải pháp cơ bảncủa sắp xếp đổi mới doanh nghiệp nhà nước Điều này được lý giải bởi sự hoá thânđầy đủ của cổ phần hoá vào trong những yêu cầu, những đặc trưng của sự pháttriển đất nước ta trong giai đoạn hiện nay và cả trong tương lai
- Việc thực hiện cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước đã cho phép các doanhnghiệp thu hút được một lượng lớn nguồn vốn trong xã hội vào đầu tư phát triểnsàn xuất
Trang 12- Cổ phần hoá tạo cho doanh nghiệp cơ chế quản lý năng động, hiệu quả, thíchnghi với nền kinh tế thị trường Thông qua cổ phần hoá, bộ máy và phương phápquản lý của các doanh nghiệp thích nghi, năng động và sát với thị trường hơn, phầnnào làm tăng trách nhiệm của người lao động đối với doanh nghiệp, động lực laođộng mới được tạo ra.
- Cổ phần hoá là con đường dẫn tới hiệu quả trong hoạt động của doanh nghiệp.Phần lớn các doanh nghiệp nhà nước sau khi thực hiện cổ phần hoá đểu hoạt động
có hiệu quả hơn trước xét tổng thể trên các mặt doanh thu, lợi nhuận, nộp ngânsách, tích luỹ vốn
Tóm lại, cổ phần hóa đã đem lại lợi ích cho Nhà nước, cho doanh nghiệp, chongười lao động trong doanh nghiệp và cả trong các cổ đông khác của doanhnghiệp Thực tế đó đã chứng minh rằng, chủ trương của Đảng và Nhà nước ta về
cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nước là hoàn toàn đúng đắn
Ch¬ng II: Thùc tr¹ng cæ phÇn ho¸ doanh nghiÖp nhµ níc ëViÖt Nam
I Tiến trình thực hiện cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước trong những năm qua
Tiến trình cổ phần hoá 15 năm qua có thể chia làm 4 giai đoạn Đó là giai đoạn :thí điểm, giai đoạn mở rộng, giai đoạn chủ động và giai đoạn đẩy mạnh
1.1 Giai đoạn thí điểm (từ năm 1992 – 1996).
Cổ phần hoá các doanh nghiệp nhà nước được bắt đầu từ tháng 11/ 1991 khi hộinghị TW2 khoá 7 của Đảng đưa vào chủ trương cổ phần hoá Giai đoạn này gắnvới nghị định 28 của Chính phủ
Giai đoạn thí điểm từ 1992-1996, nhà nước chỉ thí điểm thực hiện cổ phần hoánhững doanh nghiệp có quy mô vừa và nhỏ, mang tính chất tự nguyện, việc bán cổphần cũng chỉ giới hạn trong những đối tượng là nhà đầu tư trong nước, trong đó
ưu tiên bán cổ phần cho người lao động Chính vì vậy, mới chỉ có 5 doanh nghiệphoàn thành cổ phần hoá trên tổng số khoảng 16 doanh nghiệp được thí điểm tronggiai đoạn này
Trang 131.2 Giai đoạn mở rộng (1996-2002).
Giai đoạn này gắn với nghị định 44 của Chính phủ
Giai đoạn mở rộng từ năm 1996 đến năm 2002 với nhiều cơ chế chính sách về cổphần hoá được hoàn thiện và ban hành đã đẩy nhanh tiến trình này Đặc trưng củagiai đoạn này là việc mở rộng nhiều hình thức cổ phần hoá mặc dù các cơ quanquản lý nhà nước vẫn phải trực tiếp tham gia rất nhiều công đoạn và tổ chức điềuhành Đó là việc mở rộng thêm diện bán cổ phẩn cho người Việt Nam định cư tạinước ngoài và người nước ngoài định cư lâu dài tại Việt Nam; mở rộng mức ưu đãicho người lao động trong doanh nghiệp; có thể bán 100% vốn nhà nước tại doanhnghiệp…Kết quả là giai đoạn này với một cơ chế cổ phần hoá ngày càng đượchoàn thiện, sự hưởng ứng đối với tiến trình sắp xếp và cổ phần hoá doanh nghiệpngày càng tăng lên, chúng ta đã tiến hành cổ phần hoá được 868 doanh nghiệp nhànước, bộ phận doanh nghiệp nhà nước
1.3 Giai đoạn chủ động (bắt đầu từ tháng 6/2002 đến tháng 11/2004).Giai đoạn này gắn với cơ sở pháp lý quan trọng là nghị định số 64/2002/NĐ-CPcủa chính phủ về việc chuyển doanh nghiệp nhà nước thành công ty cổ phần Đây
là giai đoạn Nhà nước chủ động giao cho các Bộ, ngành, địa phương trách nhiệmlựa chọn và triển khai cổ phần hoá đối với các doanh nghiệp thuộc phạm vi quản lý
mà không trông chờ sự tự nguyện của các doanh nghiệp cấp dưới như trước đây.Trong giai đoạn này, Nhà nước cũng giao thêm quyền quyết định giá trị doanhnghiệp và phê duyệt phương án cổ phần hoá cho Bộ trưởng các Bộ, chủ tịchUBND các tỉnh (trừ trường hợp giảm trên 500 triệu đồng vốn nhà nước phải có ýkiến của Bộ tài chính) bắt đầu áp dụng biện pháp nhằm công khai, minh bạch hoáquá trình cổ phần hoá như cho phép thuê các tổ chức trung gian xác định giá trịdoanh nghiệp; dành tối thiểu 30% số cổ phần (sau khi trừ số lượng cổ phần nhànước nắm giữ, cổ phần bán ưu đãi cho người lao động) để bán cho các nhà đầu tưngoài doanh nghiệp…
Mặc dù, về số lượng, giai đoạn này chúng ta đã tiến hành cổ phần hoá được 1435doanh nghiệp nhà nước, bộ phận doanh nghiệp nhà nước nhưng theo đaónh giá cácdoanh nghiệp nhà nước được cổ phần hoá thực sự quy mô vẫn còn khá nhỏ bé chưachiếm đến 5% tổng số vốn nhà nước trong các doanh nghiệp, quá trình cổ phần hoá
Trang 14còn khép kín, chưa thực sự gắn với thị trường nên vừa hạn chế công tác huy độngvốn của doanh nghiệp vừa làm giảm sự giám sát của xã hội đối với hoạt động củadoanh nghiệp; việc giải quyết lợi ích giữa các bên trong một doanh nghiệp được cổphần háo cũng chưa được hài hoà…
1.4 Giai đoạn đẩy mạnh (từ tháng 12/2004 đến nay).
Giai đoạn này được đánh dấu bằng việc ban hành Nghị định số 187/2004/NĐ-CPcủa chính phủ về việc chuyển công ty nhà nước thành công ty cổ phần.Trong giaiđoạn này đã xuất hiện các công ty nhà nước có quy mô vốn lớn không thuộc diệnnhà nước giữ 100% vốn được cổ phần hoá như : Bảo Minh, Vinamilk, Vĩnh Sơn…
và được niêm yết làm tăng đáng kể quy mô của thị trường chứng khoán Các giảipháp để nâng cao trách nhiệm của doanh nghiệp cổ phần hoá và các cơ quan trong
xử lý nợ, tài sản tồn đọng, lao động dôi dư cũng được tiến hành sông song với việc
bổ sung các quy định để nâng cao tính khách quan, minh bạch, tính chuyên nghiệptrong quá trình cổ phần hoá như định giá qua các định chế trung gian, tính giá trịquyền sử dụng đất vào giá trị doanh nghiệp, thực hiện bán cổ phần lần đàu thôngqua đấu giá công khai, theo nguyên tắc thị trường… Trong giai đoạn này, chúng ta
đã tiến hành cổ phần hoá được 1054 doanh nghiệp nhà nước, bộ phận doanhnghiệp nhà nước,
II Những thành tựu đạt được từ việc cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước
Sau 15 năm triển khai và tập trung thực hiện 5 năm vừa qua, công tác cổ phần hoádoanh nghiệp nhà nước đã đạt được kết quả trên nhiều mặt được thể hiện như sau:2.1.Những thành tựu mang tính chất định lượng.
Qua kết quả báo cáo của các địa phương, bộ , ngành, tổng công ty thì đến30/6/2006 cả nước đã sắp xếp được 4760 doanh nghiệp và bộ phận doanh nghiệp.Trong đó, cổ phần hoá 3365 doanh nghiệp và bộ phận doanh nghiệp; giao bán,khoán kinh doanh và cho thue 310 doanh nghiệp, sáp nhập hợp nhất 450 doanhnghiệp…Kết quả các doanh nghiệp thực hiện cổ phần hoá qua từng năm như sau:
Năm Số doanh nghiệp được cổ phần hoá
Trang 15Theo báo cáo của Ban chỉ đạo đổi mới và phát triển doanh nghiệp, hình thức cổphần hoá phổ biến nhất là bán một phần doanh nghiệp kết hợp phát hành thêm cổphiếu (chiếm 43.4%) , tiếp đó là bán một phần vốn nhà nước hiện có tại doanhnghiệp (26%), còn lại là bán toàn bộ vốn nhà nước tại doanh nghiệp (15.5%) vàgiữ nguyên vốn nhà nước và phát hành thêm cổ phiếu (15.1%) Trong số các doanhnghiệp đã cổ phần hoá, ngành công nghiệp giao thông vận tải và xây dựng chiếm
tỷ trọng 65.5%, thương mại dịch vụ chiếm 28.7% và ngành nông lâm ngư nghiệpchiếm 5.8% Nếu phân chia theo địa phương thì tỉnh, thành phố trực thuộc trung
Trang 16ương chiếm 65.7%, bộ ngành trung ương chiếm 25.8%, tổng công ty 91 chiếm8.5%.
Nhìn lại quá trình qua có thể nhận thấy chúng ta đã đạt được những kết quả đángghi nhận:
- Số doanh nghiệp nhà nước đã cổ phần hoá chiếm khoảng 24% tổng số doanhnghiệp khi chưa tiến hành sắp xếp lại và cổ phần hoá (khoảng 12000 doanhnghiệp vào thời điểm trước năm 1995)
- Có trên 10% vốn của nhà nước trong các doanh nghiệp nhà nước được cổphần hoá (khoảng 30000 tỷ đồng)
- Hầu hết các doanh nghiệp thuộc loại nhỏ, yếu, hiệu quả kinh doanh thấp, sứccạnh tranh kém đã được đưa bớt ra khỏi hệ thống các doanh nghiệp nhànước Như vậy có thêm điều kiện để củng cố các doanh nghiệp nhà nướckhác
- Trong các doanh nghiệp đã cổ phần hoá, 30% số các doanh nghiệp (trên 800doanh nghiệp) được hoàn toàn độc lập tự chủ trong kinh doanh mà khôngcòn sự chi phối trực tiếp nào của nhà nước (nhà nước không nắm giữ một cổphần nào, toàn bộ thuộc về tập thể người lao động)
- Việc sắp xếp lại và cổ phần hoá các doanh nghiệp nhà nước đã hoàn thànhtrên 61 trong tổng số 64 tỉnh thành
Đặc biệt, năm 2005 đã xuất hiện một điểm sáng mới cần được nhấn mạnh là trong
số doanh nghiệp cổ phần hoá đã có nhiều doanh nghiệp làm ăn khấm khá, quy môvốn lớn, hấp dẫn các nhà đầu tư Có thể kể đến các công ty như : Công ty khoan vàdịch vụ dầu khí, các nhà máy thuỷ điện sông Hinh (Vĩnh Sơn), Thác Bà, Phả Lại,Điện lực Khánh Hoà, Công ty giấy Tân Mai, Công ty Kinh Đô, Công ty vận tảixăng dầu đường thuỷ I, Vinamilk Giá trị của Vinamilk lên tới 2500 tỷ đồng, trong
đó vốn nhà nước là 1500 tỷ đồng Nhà máy thuỷ điện Sông Hinh có giá trị 2114 tỷđồng, trong đó vốn nhà nước là 1253 tỷ đồng Một điểm khác biệt nữa, đó là việcxác định trị giá trị cổ phần được thực hiện thông qua đấu giá công khai trên thịtrường ngay trong ngày đầu tiên bán đáu giá Vinamilk, bán hết hơn 1.66 triệu cổphiếu với giá trung bình cao gấp 4.89lần mệnh giá Tính minh bạch và công khaiđấu giá cổ phiếu của Công ty sữa Việt Nam đã thu hút các nhà đầu tư nước ngoài
Trang 17Trong số 7 nhà đầu tư, tổ chức mua được cổ phần Vinamilk có 5 quỹ đầu tư nướcngoài và 2 nhà đầu tư chiến lược nước ngoài Đáng chú ý là các nhà đầu tư mớichiếm tỷ lệ thắng thầu tới 78.4% trên tổng số cổ phần bán ra, các quỹ đầu tư nướcngoài hoạt động ở Việt nam chỉ chiếm 21.6%, và số vốn thu hút đượctừ các tổchức đầu tư mới lên tới trên 450 tỷ đồng Sau 3 năm chuẩn bị Vinamilk đã hoàntoàn chuyển đổi từ một doanh nghiệp nhà nước lớn thành công ty cổ phần đạichúng
Theo kết quả điều tra của Viện quản lý kinh tế trung ương (CIEM) phối hợp vớiNgân hàng thế giới (WB) tại 559 doanh nghiệp cổ phần hoá, kết quả cho thấy:87,53 % số doanh nghiệp khẳng định kế quả hoạt động kinh doanh tốt hơn nhiều sovới trước khi cổ phần hoá
2.2 Tác động của cổ phần hoá đối với hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp cổ phần hoá.
Bên cạnh những kết quả về mặt số lượng như đã đề cập ở trên, việc thực hiện chủtrương cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước còn đem lại những hiệu quả quan trọng
về mặt kinh tế, xã hội những kết quả này được thể hiện trong một số đánh giá tổngquát sau
Qua báo cáo của 500 doanh nghiệp cổ phần hóa, hiệu quả sản xuất kinh doanhchuyển biến tích cực Xét trên tổng thể, các chỉ tiêu chủ yếu đều tăng Cụ thể, vốnđiều lệ tăng 5-100%, doanh thu tăng 60%, lợi nhuận trước thuế tăng 137%, thunhập của người lao động tăng 63%, số lao động tăng 13%, cổ tức trung bình đạt15.5%
Phần lớn các doanh nghiệp nhà nước sau khi chuyển sang công ty cổ phần đều hoạtđộng có hiệu quả hơn trước xét tổng thể trên các mặt doanh thu, lợi nhuận, nộpngân sách, tích luỹ vốn Qua báo cáo hoạt động của các doanh nghiệp có thời gianhoạt động trên một năm, kể cả những doanh nghiệp trước đó bị thua lỗ thì doanhthu bình quân của doanh nghiệp tăng gần gấp hai lần so với trước khi thực hiện cổphần hoá
Cổ phần hoá làm tăng hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp nhà nước cổ phần hoánói chung và hiệu quả phát triển kinh tế nói riêng Theo điều tra trên gần 600doanh nghiệp nhà nước cổ phần hoá của Viện nghiên cứu quản lý kinh tế Trungương năm 2005 cho thấy :87.53% doanh nghiệp kết quả hoạtdộng kinh doanh tốthoặc tốt hơn nhiều so với trước cổ phần hoá, trung bình doanh thu tăng 13.4%, lợi
Trang 18nhuận trước thuế tăng 9.4% và đặc biệt lợi nhuận sau thuế tăng đến 54.3%, năngsuất lao độngtăng 18.3% Từ đây, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp được cảithiện vững chắc, đây không chỉ là nhân tố tích cực để thúc đẩy nhanh tiến trình cổphần hoá mà còn là nguồn hàng hoá tiềm năng cho các trung tâm giao dịch chứngkhoán.
Trong 1 cuộc khảo sát 559 doanh nghiệp nhà nước đã cổ phần hoá hơn 1 năm chothấy có tới 87.53% khẳng định kết quả hoạt động tốt hơn trước.Ngay trong nămđầu tiên cổ phần hoá, doanh thu bình quân của doanh nghiệp tăng 13 %, lợi nhuậnsau thuế tăng 48.8% Điều này cho thấy việc chuyển đổi đã có tác động mạnh đếnhiệu quả hoạt động của doanh nghiệp
Đối với những doanh nghiệp cổ phần hoá nhiều năm đã đi vào hoạt động ổn định,tốc độ tăng trưởng của doanh nghiệp được duy trì, doanh thu bình quân tăng23.6%, lợi nhuận trước thuế tăng 9.4%, lợi nhuận sau thuế tăng tới 54.4% Một sốdoanh nghiệp có doanh thu tăng cao như Công ty cổ phần đại lý liên hiệp vậnchuyển: 30 lần, Công ty cổ phần cơ khí điện lạnh: 13 lần, Công ty cổ phầnKymdan: 11.2 lần…
Một số chỉ tiêu phản ánh kết quả hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp sau
cổ phần hóa đều tăng: năng suất lao động tăng bình quân 18.3%; mức nộp ngânsách bình quân của các doanh nghiệp tăng 24.9%; đầu tư tài sản cố định tăng11.5%; lương bình quân doanh nghiệp tăng 11.4% Điều đó khẳng định hiệu quảcủa việc chuyển đổi các doanh nghiệp nhà nước thành công ty cổ phần
2.3 Cổ phần hoá tạo thêm công ăn việc làm, thu hút thêm lao động và tăng thu nhập cho người lao động.
Trong số các chỉ tiêu đạt được trên, tốc độ tăng năng suất lao động là yếu tố ảnhhưởng tích cực nhất đến kết quả và hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
Trang 19Qua nghiên cứu, khảo sát các doanh nghiệp sau cổ phần hoá của Bộ Kế hoạch vàĐầu tư cho thấy việc thay đổi mô hình hoạt động của cán bộ quản lý và người laođộng đã có tích cực đến hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp Cán bộ quản
lý và người lao động đã thật sự gắn bó với doanh nghiệp, nhờ vậy mà hiệu quảkinh doanh tăng lên Có 96% số doanh nghiệp cho rằng cán bộ quản lý đã quantâm nhiều hơn đến hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp cũng như nângcao tính chủ động của cán bộ quản lý trong thực hiện các mục tiêu lợi nhuận vàhiệu quả; 88% số doanh nghiệp khẳng định kết quả sản xuất của người lao động đãtăng lên khi tiền lương của họ được tính toán trên cơ sở kết quả việc làm Thực tế,
có 85% doanh nghiệp cho rằng sau cổ phần hoá cơ sở vật chất kỹ thuật, năng lựcsản xuất của doanh nghiệp được khai thác triệt để hơn, sử dụng tốt hơn, tiết kiệmhơn trước
Với cơ chế quản lý mới, người lao động được coi là chủ nhân thực sự trong công ty
cổ phần Nhờ đó, họ đã nâng cao tính chủ động, ý thức kỷ luật, tinh thần tự giác,tiết kiệm trong lao động sản xuất, góp phần làm cho hiệu quả hoạt động của doanhnghiệp ngày một nâng cao, mang lại lợi ích thiết thực cho bản thân, cho công ty,cho Nhà nước và xã hội
2.4.Cổ phần hoá tạo ra loại hình doanh nghiệp có nhiều chủ sở hữu, giúp
cơ cấu lại doanh nghiệp, huy động thêm vốn, tạo cho doanh nghiệp có chế quản lý năng động hiệu quả.
Do mục tiêu của cổ phần hoá là tạo ra loại hình doanh nghiệp có nhiều chủ sở hữutrong đó có sự tham gia đông đảo của người lao động nên sẽ tăng cường được sựgiám sát của các nhà đầu tư đối với nguồn vốn của doanh nghiệp nâng cao đượchiệu quả sử dụng vốn, thay đổi cung cách quản trị nhằm đảm bảo giải quyết đượchài hoà lợi ích của nhà nước, của doanh nghiệp của các nhà đầu tư và của ngườilao động
Việc thực hiện cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước đã cho phép các doanh nghiệpthu hút được một lượng lớn nguồn vốn nhàn rỗi trong xã hội vào đầu tư phát triểnsản xuất qua thị trường chứng khoán Với 2242 doanh nghiệp nhà nước được cổphần hoá năm 2004, 12411 tỷ đổng cổ phiếu đã được bán, Nhà nước nhờ đó đã có
10169 tỷ đồng (chiếm 58% tổng số vốn Nhà nước đã cổ phần hoá) để tái đầu tưphát triển kinh tế
Mặt khác, quy mô vốn điều lệ của doanh nghiệp sau cổ phần hoá tăng bình quân