Theo đánh giá của các chuyên gia, Việt Nam là một trong những nước có tiềmnăng lớn về nguồn năng lượng tái tạo song nguồn này chỉ chiếm 1% tổng công suấtđiện cả nước khoảng 12000 MW.Phát
Trang 1Mục lục
Lời mở đầu 2
I.Tổng quan về hiện trạng sử dụng năng lượng tại Việt Nam 3
II.Tổng hợp về năng lượng tái tạo ở Việt Nam 5
1 Năng lượng sinh khối 6
1.1 Hiện trạng sử dụng năng lượng sinh khối 7
1.2 Tiềm năng năng lượng sinh khối 7
1.3 Các công nghệ năng lượng sinh khối 9
1.4 Khả năng ứng dụng thiết bị năng lượng sinh khối ở Việt Nam 12
2 Thủy điện nhỏ 14
3 Năng lượng địa nhiệt 15
4 Năng lượng mặt trời 17
5 Năng lượng gió 19
Kết luận 22
Trang 2lêi më ®Çu
Năng lượng là một trong những nhu cầu cần thiết của con người và là một trongnhững yếu tố đầu vào không thể thiếu được của hoạt động kinh tế.Khi mức sống củangười dân càng cao, trình độ sản xuất của nền kinh tế ngày càng hiện đại thì nhu cầu
về năng lượng cũng ngày càng lớn, và việc thoả mãn nhu cầu này là một thách thứcđối với hầu hết mọi quốc gia
Trong khi đó, nguồn năng lượng truyền thống (hoá thạch,thuỷ năng ) vốnđược coi là nguồn năng lượng chủ yếu hiện tại, và có thể sử dụng trong khoảng 4-5thập kỷ nữa giờ đây đang cạn dần và trở nên đắt đỏ.Các chuyên gia năng lượng đãcảnh báo về việc thế giới sẽ lâm vào cuộc khủng hoảng năng lượng trong tươnglai,nếu chúng ta không tiết kiệm và sử dụng hiệu quả các nguồn năng lượng truyềnthống hiện có, và nếu không phát triển sử dụng các dạng năng lượng sạch táitạo.Chính vì lẽ đó mà vấn đề phát triển năng lượng mới và năng lượng tái tạo đang làmối quan tâm của các quốc gia
Ở Việt Nam, năng lượng tái tạo đã bắt đầu được nghiên cứu từ những năm đầucủa thập niên 60 của thế kỷ trước, nhưng phải đến tận những năm cuối của thập niên
90 trở lại đây việc nghiên cứu ứng dụng cho mục đích cung cấp năng lượng nói chung
và điện năng nói riêng, phục vụ cho sinh hoạt và các hoạt động sản xuất ở nông thônmới được quan tâm và phát triển
Vì vậy, em đã chọn đề tài “Tổng hợp, phân tích kỹ thuật và tiềm năng ứngdụng năng lượng mới và năng lượng tái tạo ở Việt Nam” để thực hiện báo cáo mônhọc Kiểm toán năng lượng.Trong quá trình làm báo cáo còn nhiều sai sót, em mongthầy góp ý kiến để bản báo cáo của em đạt kết quả
Em xin chân thành cảm ơn
Sinh viên
Nguyễn Thị Mai Lâm
Trang 3I TỔNG QUAN VỀ HIỆN TRẠNG SỬ DỤNG NĂNG
LƯỢNG TẠI VIỆT NAM
Trong hơn một thập kỷ qua, hệ thống năng lượng Việt Nam bao gồm khai thác,sản xuất và cung cấp các dạng năng lượng như than đá,dầu thô, khí đốt, và thuỷđiện đã có những bước phát triển mạnh mẽ và ổn định.Tổng quan về khai thác và
sử dụng năng lượng sơ cấp như sau :
Khai thác năng lượng sơ cấp :
Khai thác và sản xuất than :Diễn biến khai thác than tăng từ 4,64 triệu tấn năm
1990 lên 11.6 triệu tấn năm 2000 và đạt 39, 8 triệu tấn năm 2008.Tốc độ tăngtrưởng bình quân là 14,3%/năm trong giai đoạn 1991- 2006
Bảng I.1 Sản xuất than giai đoạn 1990-2008(triệu tấn)
Năm 1990 1995 2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2008Sản lượng 4,6 8,4 11,6 13,4 16,4 19,3 27,3 34,1 38,9 39,8
Khai thác dầu mỏ và khí đốt :
Sản lượng dầu thô khai thác tăng trưởng cao.Nếu như năm 1986 chỉ khai thácđược 40 ngàn tấn thì đến năm 2000 thì khai thác được 16,3 triệu tấn và năm 2008 thìkhai thác được 14,8 triệu tấn.Tốc độ tăng trưởng tương ứng là 19,7%/năm giai đoạn1990-2000 và 0,9% năm giai đoạn 2001-2006.Hầu hết dầu thô khai thác được để xuấtkhẩu
Bảng I.2 Khai thác dầu thô năm 1990- 2008(triệu tấn)
Năm 1900 1995 2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2008Sản lượng 2,7 7,67 16,3 17,1 16,6 17,5 20,1 18,5 17,2 14,85
Khí đốt (nguồn khí tự nhiên và khí đồng hành) bắt đầu sử dụng cho phát điện từcuối năm 1995.Tốc độ tăng trưởng bình quân trong giai đoạn 2001-2005 là43,7%/năm.Năm 2008 đạt 7,9 tỷ m3, tăng gấp 5 lần
Trang 4Bảng I.3 Khai thác khí giai đoạn 1995-2008( triệu m3)
Năm 1995 2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008Khai thác 183 1580 1720 2161 3720 6252 6890 7520 6860 7944Khí cho
điện
182 1224 1229 1550 2983 4218 5054 4970 5050 5410
Nguồn thủy điện : thủy điện luôn chiếm một vị trí quan trọng trong toàn bộ cơ cấu sảnxuất điện ở Việt Nam Trong giai đoạn 1990-2002 thủy điện luôn thay đổi theo từngnăm.Năm 2005 và 2006 phụ tải tăng cao,các nguồn phụ tải mới ít xuất hiện kèm theođiều kiện thời tiết không thuận lợi (lượng mưa ít) nên tỷ trọng thủy điện trong cơ cấuphát điện giảm dần, hiện còn khoảng 40%
Xuất –nhập khẩu năng lượng
BảngI.4 Xuất nhập khẩu giai đoạn 1990-2008(1000 tấn)
0
1995
8748 8998 9966 9840 9115 9636 1041
1
13660Xuất
dầu thô
261
7
7652
15423
16732
16876
17143
19501
17967
16419
13990Xuất
29307
19700
Tiêu thụ năng lượng
Tiêu thụ NL sơ cấp: Tổng nhu cầu năng lượng sơ cấp ngày càng tăng, trong
năm 1990 là 7015 ktoe ,đến năm 2005 tăng lên 30500ktoe Tốc độ tăng trưởng bìnhquân tiêu thụ năng lượng sơ cấp trong giai đoạn 1990- 2005 là 10,3% ,trong đó nhucầu của khí đạt tốc độ tăng trưởng cao nhất 77%/năm
Tiêu thụ NL cuối cùng: Tổng tiêu thụ NL cuối cùng năm 1990 là 4,14 triệu
TOE, trong đó than chiếm 31,4% xăng và dầu 56% và điện 13% Năm 2005, là20,9triệu TOE và năm 2008 là 25,8triệu TOE
Bảng I.5 Tiêu thụ NL cuối cùng theo các dạng năng lượng, giai đoạn
Trang 51325 5
14513 16400 1862
6
20950 25884
Nhìn chung, các nguồn năng lượng vẫn đáp ứng cơ bản nhu cầu phát triển kinh tế
xã hội và đời sống sinh hoạt của con người Tuy nhiên, Việt Nam vẫn là một trongnhững nước có mức sản xuất và tiêu thụ năng lượng theo đầu người thấp nhất khuvực
II TỔNG HỢP VỀ NĂNG LƯỢNG TÁI TẠO Ở VIỆT NAMNăng lượng tái tạo hay năng lượng tái sinh là năng lượng từ những nguồn liêntục mà theo chuẩn mực của con người là vô hạn Nguyên tắc cơ bản của việc sửdụng năng lượng tái sinh là tách một phần năng lượng từ các quy trình diễn biến liêntục trong môi trường và đưa vào trong các sử dụng kỹ thuật
Theo đánh giá của các chuyên gia, Việt Nam là một trong những nước có tiềmnăng lớn về nguồn năng lượng tái tạo song nguồn này chỉ chiếm 1% tổng công suấtđiện cả nước (khoảng 12000 MW).Phát triển mạnh năng lượng tái tạo sẽ góp phần
đa dạng hóa nguồn điện, đảm bảo an ninh năng lượng trong tương lai.Ngay từ nhữngnăm 80-90 của thế kỷ XX, Việt Nam cũng đã bắt đầu có những chương trình cấpnhà nước về năng lượng tái tạo do một số đơn vị tham gia.Đến năm 1993 thông quacác dự án như: Phát triển nông thôn, điện khí hóa, vệ sinh, nước sạch và bảo vệ môitrường …đã làm cho các hoạt động nghiên cứu về NLTT phát triển và ngày càngphát huy được vai trò của một nguồn cung cấp năng lượng sạch cho dân sinh, kinh tế
Trang 6khu vực nông thôn và bảo vệ môi trường sinh thái.Các nguồn năng lượng tái tạo củaViệt Nam bao gồm:
-Thủy điện nhỏ
-Năng lượng Mặt Trời
-Năng lượng Gió
-Năng lượng sinh khối (biomass)
-Năng lượng địa nhiệt
1 Năng lượng sinh khối
Sinh khối chứa năng lượng hóa học, nguồn năng lượng từ mặt trời tích lũytrong thực vật qua quá trình quang hợp.Sinh khối là các phế phẩm từ nông nghiệp,phế phẩm lâm nghiệp, từ chăn nuôi.Ít nhất một nửa dân số thế giới dựa trên nguồnnăng lượng chính từ sinh khối.Con người đã sử dụng chúng để sưởi ấm và nấu ăncách đây hàng ngàn năm
Năng lượng sinh khối là một nguồn năng lượng sạch, có thể tái sinh được, vàtận dụng được chất thải làm nhiên liệu giảm lượng rác thải.Lợi thế to lớn của sinhkhối so với các nguồn năng lượng tái tạo khác là có thể dự trữ và sử dụng khi cần,đồng thời ổn định, tình hình cấp điện không bị thất thường.Chính vì vậy, năng lượngsinh khối đang được các nước trên thế giới tập trung nghiên cứu và ứng dụng nhằmthay thế các nguồn năng lượng truyền thống đang dần cạn kiệt, đảm bảo an ninhnăng lượng trong tương lai
Việt Nam là một quốc gia nhiệt đới, có nhiều điều kiện để phát triển nănglượng sinh khối.Mặt khác, hoạt động sản xuất nông nghiệp hay ngư nghiệp của ViệtNam hàng năm tạo ra rất nhiều chất thải hữu cơ.Tiềm năng về năng lượng sinh khốicủa nước ta là rất lớn.Các nguồn năng lượng sinh khối của Việt Nam bao gồm: + Củi gỗ: chủ yếu bao gồm củi (vỏ cây, cành và lá cây…) và các phế thải gỗthu được từ các nhà máy chế biến gỗ
+ Phế thải từ cây nông nghiệp: bao gồm 2 loại phế thải nông nghiệp sau khithu hoạch (rơm rạ, ngọn và lá mía, than và lá ngô…) và phế thải sau chếbiến công –nông nghiệp (trấu, bã mía, vỏ lạc…)
+ Chất thải chăn nuôi: đa số gia súc ở Việt Nam là trâu, bò và lợn
Trang 7+ Rác thải đô thị: bao gồm các loại chất thải phát sinh từ hộ gia đình, các cơ
sở thương mại, và chất thải từ các chợ
+ Các chất thải khác dùng để sản xuất nhiên liệu sinh học: nhiên liệu sinhhọc có thể sản xuất từ nhiều loại nhiên liệu khác nhau như các loại nhiênliệu có hạt (gạo, ngô, khoai, sắn) mía và các loại chất thải hữu cơ khác(mật đường, dầu ăn đã sử dụng, mỡ cá da trơn)
1.1 Hiện trạng sử dụng năng lượng sinh khối ở Việt Nam
1.1.1 Sử dụng sinh khối để sản xuất nhiệt
Hiện nay có khoảng 75% người dân nông thôn dựa vào sinh khối như nguồnchất đốt dùng để đun nấu hàng ngày.Sinh khối cũng được sử dụng để sản xuất nhiệttrong nhiều cơ sở công nghiệp nhỏ và tiểu thủ công nghiệp nhỏ như lò gạch truyềnthống, là gốm, là vôi, và các cơ sở tinh chế đường nhỏ…
1.1.2 Sử dụng sinh khối để sản xuất điện
Bã mía đã được sử dụng từ lâu trong sản xuất nhiệt và điện trong khoảng 40nhà máy đường ở nước ta.Hiện nay tổng công suất lắp đặt của tất cả các hệ thốngđồng phát nhiệt–điện vào khoảng 150MW
Năm 2006, nhà máy thu hồi khí rác đầu tiên đã được đưa vào vận hành ở ãichon lấp rác Gò Cát – Thành phố Hồ Chí Minh.Khí sinh học thu hồi được sử dụngcho 3 tổ tuabin khí với tổng công suất 2,4MW.Dự kiến nhà máy sẽ ổn định khoảng9000MW/năm cho đến năm 2020
1.1.3 Sử dụng sinh khối để sản xuất nhiên liệu sinh học
- Sản xuất ethanol sinh học và dầu diesel sinh học vẫn đang trong quá trìnhnghiên cứu và chuẩn bị.Ngày 15/9/2009, Hà Nội bắt đầu bán thí điểm xăng phaethanol dưới tên gọi Gasohol E5.Thế nhưng không đầy một tuần, chính phủ đã ra lệnhtạm ngừng việc bán loại xăng này để thẩm định lại chất lượng
-Công nghệ khí sinh vật (biogas) được đưa vào Việt Nam từ đầu những năm 1960.Hiện nay, nước ta có khoảng hơn 100000 hầm biogas, đa số ở quy mô gia đình với thểtích 1m3 đến 20m3 chủ yếu phục vụ đun nấu và thắp sáng gia đình
1.2 Tiềm năng năng lượng sinh khối
1.2.1 Tiềm năng sản xuất điện từ sinh khối
Trang 8Việt Nam có nhiều loại sinh khối có thể sử dụng một cách hiệu quả để cung cấp vàđáp ứng một phần nhiên liệu và điện của đất nước.Tiềm năng về năng lượng sinh khối
ở Việt Nam là rất lớn, riêng phụ phẩm nông nghiệp là trên 70 triệu tấn (khoảng 20triệu tấn dầu tương đương).Hiện tại nước ta chỉ tập trung vào các nguồn sinh khối sẵn
có, tiềm năng lớn, mức tập trung nguồn cao, bao gồm:
Trấu: là nguồn có tiềm năng sản xuất điện lớn nhất Khoảng 1,51triệu tấn trấu
có thể sử dụng hàng năm để sản xuất điện trong năm 2010.Tổng công suất phátđiện của chúng khoảng 197- 225MW
Bã mía: đang được sử dụng để cung cấp nhiệt và điện tại các nhà máyđường.Lượng bã mía phát sinh ở các nhà máy đường khoảng 2,82triệu tấn.côngsuất phát điện đạt 141-176 MW
Rác thải đô thị: đến năm 2010 lượng rác thu được ở tất cả các đô thị Việt Namkhoảng 8,96 triệu tấn.Rác thải đô thị có thể đốt trực tiếp để sản xuất điện.Nếu40% lượng rác phát sinh tại các đô thị Hà Nội, Hải Phòng, TP HCM được đốtphát điện thì công suất đạt 120 MW.Ngoài ra, rác thải đô thị còn có thể sử dụng
để sản xuất khí sinh học.Lượng rác thải tại 5 đô thị lớn Việt Nam có thể sửdụng để sản xuất khí bãi rác là 3,6 triệu tấn/năm.Khí sinh học thu được khoảng290m3/năm, có thể sản xuất 434GWh/năm, công suất 103MW
Chất thải chăn nuôi:Việt Nam có nhiều trang trại chăn nuôi lớn.Tiềm năng thuđược khí sinh vật từ các trang trại này khoảng 178 triệu m3 /năm.Công suất lắpđặt 58MW chủ yếu cung cấp điện cho trang trại
1.2.2 Tiềm năng sản xuất nhiên liệu sinh học
-Khí sinh vật (biogas): chất thải chăn nuôi, phế phẩm nông nghiệp và rác thải
đô thị là nguồn nhiên liệu được sử dụng nhiều để sản xuất khí biogas.Tiềm năng lýthuyết của biogas ở Việt Nam là khoảng 10 tỷ m3 /năm (1 m3 khí tương đương 0,5kgdầu)
-Ethanol sinh học: Mật đường có thể là nhiên liệu sản xuất ethanol sinh học.Do
số lượng mật đường ở nước ta là rất lớn, dự tính đến năm 2010 tổng lượng mía chếbiến khoảng 14,7triệu tấn, và số lượng mật đường thu được sẽ khoảng 0,588 triệutấn.Với số lượng mật đương này, có thể thu hồi được 73 triệu lit ethanol sinh học mỗinăm
Trang 9-Diesel sinh học: trong những năm gần đây ngành nuôi cá tra, cá basa ở nước tađang phát triển.Mỗi năm tại Đồng bằng sông Cửu Long thải ra ít nhất là 30 ngàn tấn
mỡ cá tra và basa.Với số lượng mỡ thải ra này nếu được sử dụng để sản xuất dieselsinh học thì sẽ thu được hơn 86400 triệu tấn/năm
Ngoài ra, một tấn dầu ăn đã qua sử dụng có thể sản xuất 0,45tấn dầu diesel sinhhọc.Đến năm 2010, số lượng dầu ăn đã qua sử dụng là 0,132 triệu tấn/năm, và thu hồiđược 59400 tấn/năm dầu diesel sinh học
1.3 Các công nghệ năng lượng sinh khối
1.3.1 Đặc điểm kĩ thuật công nghệ sản xuất điện từ sinh khối
Có nhiều loại công nghệ chuyển hóa sinh khối thành điện năng và nhiệt điện
a Công nghệ tuabin hơi nước: Một hệ thống phát điện sinh khối dựa trên tuabin hơi
nước bao gồm ba thành phần chính: lò hơi sinh khối, tuabin hơi và máy phát điện.Hệthống này hoạt động theo chu trình Rankine, hoặc dưới dạng chu trình cơ bản, hoặcdưới dạng chu trình cải tiến có tái gia nhiệt hơi nước và gia nhiệt sơ bộ nước tuầnhoàn
Công nghệ tuabin hơi được sử dụng cho các nhà máy điện hoặc các nhà máyđồng phát điện –nhiệt đốt sinh khối dạng rắn.Công suất đạt được từ 500Kw đến hàngchục MW.Các hệ thống tuabin hơi có độ tin cậy cao và tuổi thọ lớn (25-35 năm)
b Công nghệ động cơ khí: công nghệ này phù hợp với các nhà máy có quy mô
nhỏ (<5MW), sử dụng nhiên liệu dạng lỏng và khí như khí ethanol sinh học, dầudiesel sinh học, khí bãi rác, và khí tổng hợp tạo ra từ quá trình khí hóa nhiên liệu sinhkhối
c Công nghệ tuabin khí: Các thành phần chính của một chu trình gồm: máy
nén, buồng đốt, và tuabin khí.Không khí được hút vào máy nén, tại đây áp suất củakhông khí sẽ được nâng lên.Sau đó không khí được đưa vào buồng đốt và được đốtcháy cùng nhiên liệu.Khói thải ra khỏi buồng đốt có nhiệt độ cao sẽ dãn nở trongtuabin khí, làm xoay máy phát điện và máy nén.Công suất phát điện dao động từ 100
kW đến 50MW.Công nghệ này được sử dụng trong các nhà máy sử dụng nhiên liệusinh học dạng lỏng hoặc khí
1.3.2 Đặc điểm kỹ thuật công nghệ sản xuất nhiên liệu sinh khối
a Công nghệ sản xuất biogas
Trang 10i) Hầm phân hủy dạng mẻ được sử dụng rộng rãi ở quy mô hộ gia đình hoặctrang trại.Ưu điểm chính của cá loại hầm phân hủy này là tải trọng chất rắn cao.Tuynhiên loại hầm này tương đối không ổn định và khó kiểm soát do sự thay đổi số lượng
vi khuẩn trong quá trình phân hủy
ii) Bể phản ứng khuấy trộn liên tục: thiết kế giống như hầm phân hủy truyềnthống sử dụng trong các nhà máy xử lý nước thải Nguyên liệu được thêm vào và mộtkhối lượng tương đương nước thải sẽ được lấy ra một cách liên tục hoặc gián đoạn từ
bể phản ứng khuấy trộn liên tục.Thời gian lưu chất thải rắn và lỏng sẽ bằng nhau.Vìthế, khi khối lượng nhiên liệu đưa vào nhiều, thời gian lưu lại sẽ giảm, chất rắn chưakịp phản ứng với vi khuẩn bị rửa trôi=> khó đạt được hiệu quả khuấy trộn hoàn toàntrong các bể lớn
b Công nghệ ép bánh và viên nhiên liệu: Các công nghệ này được dùng để sản
xuất bánh và viên nhiên liệu dùng làm chất đốt trong các lò công nghiệp
i) Công nghệ ép bánh nhiên liệu gồm:
+ Ép kiểu pittong: nhiên liệu sinh khối được ép trong một khuôn ép bằng mộtpittong chuyển động qua lại với lực ép cao.Sự hao mòn giữa các bộ phận tiếpxúc ít, và tiêu thụ năng lượng ít
+ Ép kiểu vít tải nhiên liệu sinh khối được ép đùn liên tục qua một vít tải quamột khuôn ép.Sự hao mòn vít tải và khuôn lớn, tiêu thụ năng lượng nhiềuhơn công nghệ ép pittong.Tuy nhiên chất lượng bánh nhiên liệu lại tốt hơn épkiểu pittong
ii) Công nghệ ép viên nhiên liệu: giống như công nghệ ép bánh nhiên liệu,nhưng công nghệ này sử dụng khuôn nhỏ hơn (khoảng 30 mm).Có loại maý ép nhiênliệu là ép phẳng và ép vòng.Khuôn ép phẳng là một đĩa tròn có khoan lỗ, có hai trụclăn hoặc nhiều hơn xoay trên đó.Khuôn ép kiểu vòng là một đai quay có khoan lỗ, cáctrục lăn ép lên vành đai bên trong
c Công nghệ sản xuất ethanol sinh học: các bước cơ bản của quá trình sản xuất
ethanol sinh học là lên men đường bằng vi khuẩn, chưng cất và khử nước
+ Lên men: ethanol được sản xuất bằng cách lên men đường bằng vikhuẩn.Hiện nay chỉ có đường (mía) và tinh bột (ngô) chuyển hóa thànhethanol một cách kinh tế
Trang 11+ Chưng cất: đối với ethanol được sử dụng làm nhiên liệu, nước phải được lấyra.Phần lớn nước được tách ra bằng chưng cất, nhưng độ tinh khiết bị giớihạn ở mức 95-96% do sự hình thành các hỗn hợp đẳng phí nước- ethanol cóđiểm sôi thấp.
+ Khử nước: có 3 quá trình cơ bản khử nước để tách nước ra khỏi hỗn hợp.Quátrình đầu tiên sử dụng trong nhiều nhà máy sản xuất ethanol trước đây đượcgọi là khử nước đẳng phí bằng cách thêm benzen hoặc cyclohexane vào hỗnhợp nước-ethanol.Khi cho benzene vào, hỗn hợp nước- ethanol sẽ có trạngthái hơi-lỏng-lỏng và khi chưng cất sẽ thu được ethanol dạng khan dưới đáytháp chưng cấp.Một phương pháp khác gọi là chưng cất trích ly, thêm vàomột thành phần tam nguyên làm tăng độ bay hơi của ethanol.Khi hỗn hợptam nguyên được chưng cất sẽ tạo ra ethanol khan trên đỉnh của tháp chưngcất.Hiện nay phương pháp được áp dụng phần lớn tại các nhà máy sản xuấtethanol hiện đại đó là sử dụng các rây lọc phân tử để khử nước khỏi hỗn hợp.Trong quy trình này, hơi ethanol có áp đi qua một lớp hạt rây phân tử.Độrỗng của lớp hạt sẽ hấp thu nước nhưng loại trừ ethanol.Sau mỗi chu kỳ, lớphạt sẽ được tái sinh dưới điều kiện chân không để tách nước đã hấp thura.Hai lớp hạt sẽ được sử dụng để trong khi một lớp hấp thu nước thì lớp hạtcòn lại sẽ được tái sinh.Công nghệ khử nước này có thể tiết kiệm năng lượng
so với phương pháp chưng cất đẳng phí trước đây
d Công nghệ sản xuất dầu diesel sinh học: nguyên liệu sử dụng chủ yếu là dầu thực
vật, mỡ động vật và mỡ tái sinh.Có 3 phương pháp cơ bản để sản xuất dầu diesel sinhhọc từ dầu thực vật và mỡ động vật:
+ Chuyển hóa dầu với mỡ thành este với chất xúc tác bazơ và cồn
+ Este hóa trực tiếp với chất xúc tác axít và cồn
+ Chuyển hóa dầu thành axít béo, và sau đó thành estemethyl với chất xúc tácaxít
Hiện nay, phương pháp chuyển hóa thành este với chất xúc tác bazơ được sửdụng nhiều nhất để sản xuất dầu diesel sinh học.Quá trình này là kinh tế nhất do nóxảy ra dưới điều kiện áp suất và nhiệt độ thấp