1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG ĐẤT SAU KHI DỒN ĐIỀN ĐỔI THỬA Ở HUYỆN KIM BẢNG TỈNH HÀ NAM

108 814 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 108
Dung lượng 3,3 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đất đai là nguồn tài nguyên quốc gia vô cùng quý giá, trong sản xuất nông nghiệp, ruộng đất là tư liệu sản xuất đặc biệt không gì thay thế được, đất nông nghiệp là nguồn lực quyết định để người nông dân tồn tại và phát triển trong nền kinh tế thị trường hiện nay. Đất đai là nguồn tài nguyên có giới hạn, có vị trí cố định trong không gian, không thể di chuyển được theo ý muốn chủ quan của con người. Đất đai có vai trò vô cùng quan trọng trong sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội của mỗi quốc gia.

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI

ĐINH XUÂN THÔNG

THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ

SỬ DỤNG ĐẤT SAU KHI DỒN ĐIỀN ĐỔI THỬA

Ở HUYỆN KIM BẢNG TỈNH HÀ NAM

CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI

MÃ SỐ: 60 62 16

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC PGS TS NGUYỄN KHẮC THỜI

Trang 2

HÀ NỘI - 2013

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực

và chưa từng được sử dụng để bảo vệ một học vị nào

Tôi xin cam đoan các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã được chỉ rõ

nguồn gốc

T¸c gi¶ luËn v¨n

Đinh Xuân Thông

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thày giáo PGS.TS Nguyễn Khắc Thời giảng viên trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội - người đã hướng dẫn, giúp đỡ rất tận tình trong thời gian tôi nghiên cứu và hoàn thành luận văn tốt nghiệp Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo Khoa Tài nguyên và Môi trường

đã giảng dạy, đóng góp ý kiến, tạo điều kiện cho tôi học tập và hoàn thành luận văn của mình.

Tôi xin chân thành cảm ơn UBND huyện Kim Bảng, phòng Nông nghiệp và phát triển nông thôn, phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Kim Bảng, Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Hà Nam đã giúp đỡ tôi trong quá trình thu thập số liệu

và hoàn thành luận văn này

Tôi xin chân thành cảm ơn UBND, cán bộ địa chính, các hộ gia đình thuộc các xã Kim Bình, Khả Phong, Đồng Hóa huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam đã giúp

đỡ tôi trong việc cung cấp tài liệu của địa phương, của các hộ gia đình để tôi nghiên cứu và hoàn thành luận văn này./.

Tác giả luận văn

Đinh Xuân Thông

Trang 4

MỤC LỤC

1.1 Chính sách quản lý và sử dụng đất nông nghiệp Việt Nam 61.1.1 Chính sách đất nông nghiệp trước thời kỳ đổi mới 61.1.2 Chính sách đất nông nghiệp trong thời kỳ đổi mới từ năm 1981 đến nay

8

1.2.1 Thực trạng ruộng đất nông nghiệp ở miền Bắc nước ta 111.2.2 Tình hình sử dụng đất nông nghiệp ở nước ngoài 151.2.3 Nghiên cứu việc dồn điền đổi thửa ở Việt Nam 18

1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp 28

1.4.3 Yếu tố về tổ chức cơ sở vật chất, kỹ thuật 31Chương 2 PHẠM VI, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 33

2.2.1 Điều tra đánh giá khái quát điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội và tình

hình sử dụng đất nông nghiệp của huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam 33

Trang 5

2.2.2 Thực trạng và quá trình dồn điền đổi thửa ở huyện Kim Bảng, tỉnh

2.2.3 Ảnh hưởng của công tác dồn điền, đổi thửa đến sử dụng đất sản xuất

2.2.4 Đánh giá hiệu quả sử dụng đất sau khi thực hiện chính sách dồn

2.2.5 So sánh hiệu quả trước và sau khi dồn điền, đổi thửa về kinh tế, xã

2.2.6 Đề xuất các giải pháp thực hiện liên quan đến vấn đề tập trung ruộng

đất nhằm thúc đẩy phát triển sản xuất nông nghiệp 33

2.3.1 Phương pháp chọn điểm, chọn hộ nghiên cứu 34

2.3.4 Phương pháp xử lý số liệu, dữ liệu bằng phần mềm Excel 37

3.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội của huyện Kim Bảng 423.2 Thực trạng công tác dồn điền đổi thửa trên địa bàn huyện Kim Bảng

463.2.1 Các văn bản pháp lý về dồn điền đổi thửa ở Hà Nam 46

3.2.3 Kết quả dồn điền đổi thửa ở huyện Kim Bảng 493.3 Kết quả dồn điền đổi thửa tại các xã nghiên cứu 523.3.1 Một số đặc điểm chung của các xã nghiên cứu: 523.3.2 Tình hình manh mún đất đai tại các xã nghiên cứu: 523.3.3 Kết quả dồn điền đổi thửa ở 3 xã nghiên cứu 54

Trang 6

3.3.4 So sánh một số chỉ tiêu trước và sau dồn điền đổi thửa ở 3 xã nghiên

3.5.1 Dồn điền đổi thửa mang lại hiệu quả kinh tế 673.5.2 Dồn điền đổi thửa góp phần nâng cao hiệu quả xã hội 743.5.3 Dồn đổi ruộng đất góp phần bảo vệ môi trường 75

3.7 Đề xuất các giải pháp thúc đẩy phát triển sản xuất nông nghiệp khi

Trang 7

DANH MỤC BẢNG

1.1 Thay đổi quy mô đất nông nghiệp ở nông hộ (%) 12 1.2 Mức độ manh mún ruộng đất ở các vùng trong cả nước 13 1.3 Mức độ manh mún ruộng đất ở một số tỉnh vùng ĐBSH 13

1.5 Tình hình tích tụ đất ở một số nước Châu Á 17 3.1 Kết quả dồn điền đổi thửa ở huyện Kim Bảng 50 3.2 Kết quả thực hiện dồn đổi nhóm thửa ở huyện Kim Bảng 51 3.3 Thực trạng manh mún ruộng đất tại các xã nghiên cứu trước khi

thực hiện dồn điền đổi thửa (theo bình quân diện tích; số

3.4 Thực trạng manh mún ruộng đất tại các xã nghiên cứu trước khi

thực hiện dồn điền đổi thửa (theo quy mô nhóm hộ có cùng số

3.5 Một số kết quả chính sau dồn điền đổi thửa ở các xã nghiên cứu 54 3.6 Một số kết quả chính sau dồn điền đổi thửa ở các xã nghiên cứu 55 3.7 So sánh một số chỉ tiêu trước và sau dồn điền đổi thửa 57 3.8 Bình quân diện tích đất SXNN trên khẩu trước và sau CĐRĐ 59 3.9 Diện tích đất giao thông, thuỷ lợi sau CĐRĐ tăng 60 3.10 Quyết định đầu tư máy móc sau khi dồn điền đổi thửa 63 3.11 Tác động về mức cơ giới hoá sau đồn điền đổi thửa 63 3.12 Một số mô hình sản xuất tổng hợp sau chuyển đổi ruộng đất 64 3.13 Giá trị và cơ cấu sản xuất của các nhóm hộ điều tra năm 201265 3.14 Hiệu quả kinh tế sử dụng đất một số cây trồng chính của ba xã

Trang 8

3.15 Mức độ đầu tư, chi phí của các hộ trên 1 sào lúa trước và sau

4.16 Hiệu quả kinh tế sử dụng đất trên một héc ta đất nông nghiệp tại

Trang 9

DANH MỤC HÌNH

3.1 Bê tông hóa giao thông nội đồng sau dồn điền đổi thửa 613.2 Sau dồn đổi ruộng đất cơ giới hóa đưa vào phục vụ SXNN 62

Trang 10

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

CĐRĐ : Chuyển đổi ruộng đất

CN - TTCN : Công nghiệp, tiểu thủ công nghiệpCNH - HĐH : Công nghiệp hóa - Hiện đại hoáĐBSH : Đồng bằng sông Hồng

DĐĐT : Dồn điền đổi thửa

VA : Giá trị gia tăng

XHCN : Xã hội chủ nghĩa

Trang 11

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Đất đai là nguồn tài nguyên quốc gia vô cùng quý giá, trong sản xuất nôngnghiệp, ruộng đất là tư liệu sản xuất đặc biệt không gì thay thế được, đất nôngnghiệp là nguồn lực quyết định để người nông dân tồn tại và phát triển trong nềnkinh tế thị trường hiện nay Đất đai là nguồn tài nguyên có giới hạn, có vị trí cố địnhtrong không gian, không thể di chuyển được theo ý muốn chủ quan của con người.Đất đai có vai trò vô cùng quan trọng trong sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội củamỗi quốc gia

Trong công cuộc cải cách kinh tế nông nghiệp nông thôn, Đảng và Nhà đã cóhàng loạt chính sách mới về đất đai nhằm thúc đẩy sản xuất nông nghiệp, giải quyếtvấn đề lương thực của cả nước, điển hình là Luật đất đai năm 1993, Nghị định số64/1993/CP ngày 27/9/1993 của Chính phủ quy định việc giao đất nông nghiệp cho

hộ gia đình và cá nhân sử dụng ổn định lâu dài vào mục đích sản xuất nông nghiệp.Với chính sách mới về quyền sử dụng đất đã làm thay đổi hoàn toàn quan hệ sảnxuất ở nông thôn, người nông dân đã thực sự trở thành người chủ mảnh đất củariêng mình - đó là động lực cho sự phát triển vượt bậc của nền nông nghiệp sau giảiphóng miền Nam Sản xuất nông nghiệp từ tự cung tự cấp sang đa dạng hàng hoá,hướng mạnh ra xuất khẩu Một số hàng hoá nông nghiệp đã vươn lên cạnh tranhmạnh và có vị thế trên thị trường thế giới, đem lại hiệu quả kinh tế cho người nôngdân như gạo, cà phê, hạt điều, cá, tôm

Vai trò to lớn của việc giao chia ruộng đất cho hộ nông dân như đã nói trên

là không thể phủ nhận Song với bối cảnh ngày nay, đất nước đang trên đà phát triểntheo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá, trong môi trường hội nhập kinh tế quốc

tế, ngành nông nghiệp không những có nhiệm vụ quan trọng là đảm bảo an ninhlương thực quốc gia mà còn phải đảm bảo tối đa nguyên liệu cho ngành côngnghiệp, tăng khối lượng nông sản xuất khẩu Nhưng trên thực tế, khi chia ruộng đấtcho nông dân theo tình thần của Nghị định 64/CP của Chính phủ, đã thực hiệnphương châm công bằng xã hội, ruộng tốt cũng như ruộng xấu, ruộng xa cũng như

Trang 12

ruộng gần được tính chia đều trên một nhân khẩu cho các gia đình, dẫn đến tìnhtrạng ruộng đất bị phân tán manh mún, không thể đáp ứng nhu cầu phát triển củanền nông nghiệp trong thời kỳ đổi mới.

Sự manh mún ruộng đất đã dẫn đến tình trạng chung là hiệu quả của sản xuấtthấp, hạn chế khả năng đổi mới và ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sảnxuất Tình rạng manh mún phân tán ruộng đất còn gây nên những khó khăn trongquản lý và sử dụng có hiệu quả nguồn tài nguyên đất

Để khắc phục tình trạng manh mún phân tán ruộng đất như đã nói trên, thìviệc dồn đổi ruộng đất nhiều ô thửa nhỏ thành ô thửa lớn, liền khu, liền khoảnh

là việc làm hết sức cần thiết, đáp ứng được đòi hỏi của sự nghiệp đổi mới, xâydựng một nền sản xuất nông nghiệp hàng hoá, áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuậtvào đồng ruộng, đáp ứng được nguyện vọng của nhân dân khai thác sử dụng đấtnông nghiệp có hiệu quả, đồng thời nâng cao hiệu quả trong công tác quản lýNhà nước về đất đai

Từ đó, Đảng và Nhà nước ta đã đưa ra chủ trương "Dồn điền đổi thửa" đểviệc quản lý và sử dụng đất có hiệu quả hơn

Thời gian qua một số tỉnh đã thực hiện khá tốt công tác dồn điền đổi thửa

như tỉnh Hà Tây (nay là Hà Nội), Hoà Bình, Bắc Ninh, …… Tuy nhiên cũng có

những địa phương chưa thành công, mức độ thành công ở mỗi địa phương là khácnhau Vậy nên cần phải có những nghiên cứu nhằm đánh giá và tổng kết lại các kinhnghiệm, những vấn đề tồn tại của các địa phương đã thực hiện việc dồn đổi ruộngđất để đưa ra những kiến nghị hữu ích cho các địa phương khác thực hiện việc dồnđổi ruộng đất được hiệu quả hơn

Tỉnh Hà Nam nằm trong khu vực đồng bằng sông Hồng là tỉnh sớm triển khai việc giao đất cho hộ gia đình sử dụng ổn định lâu dài vào mục đích sản xuất nông nghiệp Hệ quả là sau khi chia ruộng, bình quân mỗi hộ nông dân nhận trên 12 mảnh ruộng Có thửa diện tích chỉ có 50 m2 nên việc đầu tư cho sản xuất bị hạn chế năng suất thấp, chí phí lao động cao vì vậy hiệu quả không cao

Trang 13

Năm 1999 Thường trực tỉnh ủy Hà Nam đã chỉ đạo làm điểm mô hình chuyển đổi ruộng đất nông nghiệp ở 3 xã thuộc 3 huyện trên địa bàn tỉnh Năm 2000 Ban Thường vụ Tỉnh uỷ Hà Nam ban hành Chỉ thị số 15/TU ngày 04/5/2000 Về việc chuyển đổi ruộng đất nông nghiệp nhằm khắc phục tình trạng manh mún, phân tán ruộng đất; UBND tỉnh Hà Nam ban hành Kế hoạch

số 08/KH-UB ngày 10/5/2000 về tổ chức chuyển đổi ruộng đất nông nghiệp nhằm khắc phục tình trạng manh mún, phân tán ruộng đất Sau hơn 1 năm thực hiện việc dồn điền đổi thửa thì mỗi hộ sản xuất nông nghiệp trên địa bàn tỉnh vẫn còn trung bình 3-4 thửa, diện tích đất nông nghiệp bình quân đầu người thấp, trong khi số thửa ruộng vẫn còn nhiều như vậy nên dù ruộng đã liền vùng, liền khoảnh nhưng số hộ có ruộng liền khoảnh rộng trên một mẫu không nhiều Sau khi có Chỉ thị số 15/TU ngày 04/5/2000 của Ban Thường vụ tỉnh ủy về khuyến khích phát triển kinh tế trang trại trên địa bàn tỉnh, trong qúa trình dồn điền, đổi thửa cùng với việc mỗi hộ được dồn đổi theo quy định thì các hộ đã chú ý đến việc tự dồn đổi cho nhau để những hộ mạnh dạn, có ý chí, nghị lực, ham làm giàu đề nghị cấp có thẩm quyền cho phép chuyển đổi sang làm mô hình kinh tế trang trại

Từ một nền nông nghiệp sản xuất nhỏ, phân tán, thu nhập thấp, với những giải pháp phù hợp, đến nay sản xuất trên địa bàn tỉnh dần hình thành các vùng chuyên canh, thâm canh tập trung, số lượng, chất lượng sản phẩm nông nghiệp từng bước đáp ứng nhu cầu sản xuất hàng hóa và xuất khẩu Năm 2010, giá trị thu nhập bình quân 1ha canh tác đạt gần 80 triệu đồng, đặc biệt có mô hình đạt 100-120 triệu đồng/ha Toàn tỉnh có trên 5.000 mô hình trang trại, gia trại, trong đó có 250 trang trại đạt tiêu chí của Bộ Nông nghiệp

và PTNT và Tổng cục Thống kê Cơ giới hóa trong sản xuất nông nghiệp được đẩy mạnh, trong đó khâu làm đất đạt 90%, khâu vận chuyển đạt 90%.

Cơ giới hóa trong thu hoạch được áp dụng ngày càng nhiều ở các vùng nông thôn như máy gieo sạ lúa, máy gặt đật liên hợp Nhiều diện tích được chuyển

Trang 14

sang các vùng chuyên canh trồng trọt, chăn nuôi như trồng hoa, cây cảnh, cây

ăn quả cây công nghiệp, cây dược liệu, cây hương liệu, vùng chăn nuôi tập trung những kết quả đã đạt được đó nhờ có hiệu quả của công tác dồn điền, đổi thửa.

Tuy nhiên, trong công cuộc xây dựng nông thôn mới hiện nay, công tác dồn điền đổi thửa tuy đã bớt phần manh mún nhưng mới chỉ là bước khởi đầu quy mô diện tích hiện tại chưa đủ để có một nền sản xuất nông nghiệp theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa Sau một thời gian thực hiện công tác dồn điền, đổi thửa đến nay, tỉnh Hà Nam chưa có một chuyên đề hoặc một công trình hay đề tài nào nghiên cứu cụ thể, chi tiết đánh giá về hiệu quả sử dụng đất của hộ nông dân, quy mô tích tụ diện tích đất ở các mô hình sản xuất sau khi dồn điền đổi thửa trên địa bàn tỉnh Hà Nam một cách bài bản và khoa học, để từ đó áp dụng vào thực tế.

Xuất phát từ những lý do nêu trên được sự đồng ý của Khoa Tài nguyên vàMôi trường – Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội và sự hướng dẫn của PGS.TSNguyễn Khắc Thời tôi tiến hành nghiên cứu đề tài:

“Thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng đất sau khi dồn điền đổi thửa ở huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam”

Trang 15

4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

- Ý nghĩa khoa học: Thông qua việc nghiên cứu và thực tiễn, xây dựng cơ sở

lý luận và hoàn thiện quy trình dồn điền đổi thửa phục vụ công nghiệp hóa, hiện đại

hóa nông nghiệp góp phần tích cực cho việc thực hiện xây dựng nông thôn mới

- Ý nghĩa thực tiễn: Thông qua việc nghiên cứu đề tài và thực tiễn đề xuất cácgiải pháp giúp hộ nông dân có hướng đầu tư thâm canh, chuyển dịch cơ cấu câytrồng theo hướng hàng hóa, cải tiến kỹ thuật, áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuậtvào sản xuất nông nghiệp, từng bước hình thành các mô hình sản xuất hàng hóa trên

cơ sở tích tụ ruộng đất nông nghiệp

Trang 16

Chương 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU

1.1 Chính sách quản lý và sử dụng đất nông nghiệp Việt Nam

1.1.1 Chính sách đất nông nghiệp trước thời kỳ đổi mới.

Quan hệ ruộng đất trước khi thực hiện các chính sách của Đảng và Nhà nước:Dưới chế độ phong kiến, ở Việt Nam, quan hệ sở hữu ruộng đất tồn tại dưới

ba hình thức: sở hữu nhà nước; sở hữu làng, xã; sở hữu tư nhân Sở hữu dưới dạngđất công của nhà nước quy định đất đai thuộc quyền sở hữu của nhà vua, hoa lợi dođất đai này mang lại chủ yếu dùng vào việc công như ban thưởng, lễ hội, công trìnhxây dựng, an ninh, quốc phòng đất công của làng, xã gọi là sở hữu cộng đồngxuất hiện rất sớm ở Việt Nam Hình thức sở hữu này gắn liền với văn hóa làng, xãcủa Việt Nam, nhất là ở Đồng bằng sông Hồng Về mặt hình thức thì đất công củalàng, xã vẫn thuộc quyền sở hữu của Nhà nước nhưng quyền sử dụng hoàn toàn dolàng, xã quy định Việc sử dụng đất công của làng, xã được thực hiện theo 2 cách:cho nông dân cấy rẽ hoặc sử dụng lao dịch của nông dân thu hoa lợi trang trải choviệc công của làng, xã Ruộng đất tư: Trong lịch sử nước ta có hai thời kỳ ruộng đất

tư khá phát triển là trước thế kỷ 14 và trong thế kỷ 17 Sở dĩ hai thời kỳ này đất tưphát triển là do trước thế kỷ 14 tầng lớp quý tộc phong kiến đang hình thành, còntrong thế kỷ 17, chiến tranh liên tiếp xẩy ra giữa các phe phái làm cho nhà nước suyyếu đến mức không thể kiểm soát được phát triển của sở hữu tư nhân về ruộng đất

Ngoài ba hình thức sở hữu truyền thống đó, trước cách mạng Tháng Tám, ởViệt Nam còn hiện hữu hình thức sở hữu ruộng đất của tư bản Pháp dưới dạng cácđồn điền

Mặc dù tồn tại sở hữu tư nhân về đất đai nhưng vào đầu thế kỷ 20, nông dânlao động Việt Nam làm chủ được rất ít đất đai, 95% dân số là nông dân nhưng chỉ

sở hữu 30% diện tích đất nông nghiệp, đặc biệt 60% nông dân là bần nông chỉ có

10% đất canh tác (Trần Thị Minh Châu, 2005).

- Chính sách ruộng đất của Đảng và Nhà nước trước năm 1945

Quan điểm về chính sách ruộng đất của Đảng ta là "Tịch ký hết thảy ruộng đất của

Trang 17

bọn địa chủ ngoại quốc, bản xứ và các giáo hội, giao ruộng đất ấy cho trung nông

và bần nông, quyền sở hữu ruộng đất thuộc về chính phủ công nông” Đảng phátđộng nông dân chống lại địa chủ cường hào bóc lột, trả đất lại cho dân cày, trả côngđiền lại cho dân Thời kỳ này chính sách ruộng đất chưa có điều kiện triển khainhưng quan điểm và đường lối của Đảng trong vấn đề ruộng đất đã tạo sự ủng hộlớn trong giai cấp nông dân

- Chính sách ruộng đất của Đảng và Nhà nước sau cách mạng Tháng Tám

Sau khi được thành lập, chính quyền cách mạng đã ban hành nhiều sắc luật vềruộng đất và chính sách đối với nông dân như Sắc lệnh giảm 25% tô (ngày20.10.1945), Sắc lệnh giảm thuế ruộng 25% (ngày 26.10.1945) Đồng thời đemnhững đồn điền ấp trại tịch thu của thực dân Pháp và bọn phản động chia cho nôngdân tá điền Năm 1952, Chính phủ ban hành Điều lệ về sử dụng công điền, công thổ

để cho công bằng và có lợi cho người nghèo Chính phủ cũng chia lại ruộng đất chonông dân Tháng 12 năm 1953 Quốc hội thông qua Luật cải cách ruộng đất với mụctiêu cải thiện đời sống nông dân, động viên kháng chiến Sau năm 1954 đất nướcchia cắt 2 miền, Đảng ta tiếp tục lãnh đạo nông dân Miền Nam đấu tranh bảo vệthành quả của chính sách ruộng đất trong kháng chiến chống Pháp Chính sách cảicách ruộng đất ở hai miền đã gặt hái được nhiều thành công, lần đầu tiên dân nghèo

ở nông thôn được làm chủ quá nửa số diện tích đất canh tác Thắng lợi cải cáchruộng đất tạo điều kiện cho Đảng ta vững tin bước vào công cuộc xây dựng nông

thôn theo mô hình kinh tế XHCN (Trần Thị Minh Châu, 2005)

- Chính sách đất nông nghiệp trong thời kỳ tập thể nông nghiệp trước năm 1981

Công cuộc tập thể hóa được thực hiện từ tháng 8 năm 1955 ở Miền Bắc và saunăm 1975 trong cả nước Đến năm 1960, miền Bắc đã căn bản hoàn thành HTXNNbậc thấp, thu hút 2,4 triệu hộ nông dân (85,8%), 76% diện tích đất nông nghiệp Đếnnăm 1965 về cơ bản miền Bắc đã đưa nông dân vào con đường làm ăn tập thể với90,3% số hộ nông dân là xã viên HTXNN Do nóng vội nên mô hình HTXNN sử dụngđất kém hiệu quả, làm hao hụt hàng vạn héc ta ruộng đất, năng suất lúa giảm, thu nhậpcủa xã viên càng giảm thấp Từ đó đòi hỏi Đảng và Nhà nước ta phải cải cách các

Trang 18

HTXNN, mà trước hết là chính sách ruộng đất trong các HTXNN.

1.1.2 Chính sách đất nông nghiệp trong thời kỳ đổi mới từ năm 1981 đến nay

- Chính sách khoán sản phẩm tới các hộ nông dân trong các HTXNN

Ngày 13 tháng 1 năm 1981 Đảng ra Chỉ thị 100 của Ban Bí thư Trung ương vềcải tiến công tác khoán, mở rộng khoán sản phẩm đến nhóm và người lao động trongnông nghiệp Chủ trương đổi mới bắt đầu bằng việc trao quyền quản lý và sử dụng đấtnông nghiệp cho các hộ xã viên HTXNN Khoán 100 đã tạo động lực khuyến khích lợiích vật chất đối với người nhận khoán, nông dân phấn khởi, đầu tư thêm công sức, tiềnvốn, vật tư, áp dụng tiến bộ kỹ thuật, tận dụng đất đai để phát triển sản xuất Sau hơn 4năm thi hành Chỉ thị 100, sản xuất nông nghiệp đã có bước phát triển đáng kể Trong 5năm 1981-1985, sản lượng quy thóc tăng 27%, năng suất lúa tăng 23,8%, diện tíchtrồng cây công nghiệp hàng năm tăng 62,1%, tổng sản phẩm nông nghiệp tăng 6%, thu

nhập quốc dân trong nông nghiệp tăng 5,6% (Trần Thị Minh Châu năm 2005).

Tuy nhiên sau một thời gian phát huy tác dụng là động lực thúc đẩy sản xuất,

cơ chế khoán theo Chỉ thị 100 đã bộc lộ những hạn chế Cơ chế khoán 100 về cơbản vẫn dựa trên sở hữu tập thể, quản lý tập trung vẫn còn chiếm tỷ trọng lớn, xãviên chưa thực sự làm chủ trong quá trình sản xuất vì tư liệu sản xuất, đặc biệt là đấtđai vẫn do hợp tác xã quản lý tập trung, thu nhập của nông dân từ kinh tế tập thểcòn thấp, mức khoán không ổn định

Nhằm khắc phục nhược điểm của khoán 100, Bộ Chính trị đã ra Nghị quyết10-NQ/TW ngày 05/4/1988 về đổi mới cơ chế quản lý trong nông nghiệp Theo cơchế khoán 10, ruộng đất được giao ổn định đến hộ xã viên trong khoảng 15 năm,sản lượng khoán ổn định trong 5 năm, các hộ xã viên nhận khoán được hưởngkhoảng 40% sản lượng khoán Tiếp theo đó Hội nghị TW 6 (khóa VI) đã ra Nghịquyết khẳng định hộ gia đình xã viên là đơn vị kinh tế tự chủ Việc khẳng định hộgia đình xã viên là đơn vị kinh tế tự chủ và được nhận khoán đất nông nghiệp sửdụng lâu dài đã tạo ra động lực mới trong sản xuất, khuyến khích hộ nông dân bỏthêm vốn liếng, công sức, vật tư vào sản xuất

Sau một thời gian tạo ra động lực mạnh mẽ cho sản xuất nông nghiệp, chínhsách quản lý đất đai dựa trên cơ chế khoán thể hiện một số hạn chế như cơ chế quản

Trang 19

lý và phân phối kết quả sản xuất do nông dân làm ra chưa công bằng; Về mặt pháp

lý đất nông nghiệp vẫn thuộc quyền quản lý của HTXNN Cơ chế này làm cho hộnhận khoán không thỏa mãn, họ cảm thấy bị thiệt thòi, từ đó không thấy hấp dẫn đểđầu tư tăng năng suất Từ đó Đảng và Nhà nước ta tiếp tục tìm kiếm những quyếtsách nhằm đổi mới mạnh mẽ hơn về quan hệ của hộ xã viên với ruộng đất nhậnkhoán tạo động lực mới trong nông nghiệp

- Quan hệ giữa Nhà nước và nông dân trong sở hữu và sử dụng đất theo tinh thần đổi mới từ năm 1993 đến nay

Luật đất đai 1993 ra đời bước tiếp tục đổi mới quan trọng trong hệ thống cácchính sách quản lý, sử dụng đất nông nghiệp ở nước ta Theo đó, hộ nông dân đượcgiao quyền sử dụng ruộng đất lâu dài với 5 quyền: chuyển nhượng, chuyển đổi, chothuê, thừa kế và thế chấp Các quyền này chỉ có giá trị trong thời hạn giao đất Luậtcũng quy định thời gian giao đất được ổn định trong 20 năm đối với cây hàng năm,

50 năm đối với cây lâu năm Hết thời hạn giao đất nông dân có thể được gia hạn sửdụng tiếp nếu có nhu cầu và chấp hành tốt các quy định quản lý đất đai khác của Nhànước Luật cũng quy định hạn mức giao đất tới 3ha áp dụng cho 16 tỉnh, thành phố, ởMiền Nam, hạn mức 2 ha đối với các tỉnh thành khác Điểm mới của Luật đất đainăm 1993 đi cùng với việc giao đất ổn định đã quy định cụ thể về nghĩa vụ cấp giấychứng nhận quyền sử dụng ruộng đất của Nhà nước, để người nông dân có quyền tựchủ cá nhân trong việc canh tác trên mảnh đất được giao, nhờ đó đã có tác dụngkhuyến khích nông dân tìm phương thức sử dụng đất nông nghiệp hiệu quả hơn.Luật đất đai năm 1993 được tiếp tục sửa đổi, bổ sung vào các năm 1998, năm 2001

và đặc biệt sau 10 năm thực hiện Luật đất đai 1993 được sửa đổi căn bản vào năm

2003, trong đó phân định rõ hơn quyền và nghĩa vụ của cả Nhà nước và nông dân

sử dụng đất nông nghiệp Với việc ban hành Luật đất đai năm 2003, Nhà nước ta đãđặt nền tảng pháp lý cơ bản cho việc xây dựng chính sách đất nông nghiệp thíchhợp với đường lối phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN trên các điểmsau: thừa nhận quyền tự do kinh doanh trên đất của nông dân; quyền sử dụng đất có

đủ điều kiện pháp lý trở thành hàng hóa; thiết lập thể chế pháp lý cần thiết để đấtnông nghiệp tham gia thị trường bất động sản; bảo hộ thích đáng lợi ích của người

Trang 20

sử dụng đất.

- Chính sách cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

Luật Đất đai năm 1993, Luật Đất đai sửa đổi năm 1998 và Luật Đất đai năm

2003 đều quy định chế độ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nông nghiệpđược giao cho các hộ gia đình, cá nhân sử dụng theo tinh thần: tất cả những hộ giađình, cá nhân, tổ chức kinh tế, tổ chức chính trị - xã hội, cộng đồng dân cư, cơ sởtôn giáo, tổ chức nước ngoài có quyền sử dụng đất đều được Nhà nước cấpGCNQSDĐ Việc giao đất, cấp GCNQSDĐ nông nghiệp cho hộ gia đình, cá nhân

sử dụng nhằm tạo điều kiện cho họ yên tâm đầu tư thâm canh trên diện tích đã đượcgiao, là vật bảo đảm về mặt pháp lý để người sử dụng đất thực hiện các quyền của

họ mà pháp luật đã quy định

- Chính sách tích tụ và tập trung ruộng đất nông nghiệp

Luật Đất đai năm 1993 cũng như các luật sửa đổi sau này mới chú trọng đếnvấn đề giao đất và tạo cơ sở pháp lý cho nông dân sử dụng đất để kinh doanh nôngnghiệp mà chưa chú trọng đúng mức đến việc tích tụ, tập trung đất cho sản xuấtnông nghiệp theo quy mô hiệu quả Do diện tích đất nông nghiệp nước ta nhỏ, cáchgiao đất lại theo kiểu bình quân, có tốt, có xấu, có gần, có xa dẫn đến tình trạng đấtnông nghiệp được phân chia rất manh mún Tình trạng các hộ chỉ có 0,2 - 0,3 ha đấtcanh tác nằm rải rác trên nhiều xứ đồng vẫn rất phổ biến, nhất là ở Miền Bắc Cácquy định của Luật Đất đai về chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, đấu thầu đất là

cơ sở pháp lý quan trọng, tạo điều kiện từng bước cho tích tụ ruộng đất, nhưng chưa

đủ để khắc phục tình trạng manh mún, nhỏ lẻ Do đó “dồn điền đổi thửa” được coi

là một trong những việc cần thiết của chính sách đất nông nghiệp của Nhà nước tatrong một số năm gần đây

Những thay đổi trong chính sách đất đai của Việt Nam từ năm 1981 đến nay đã gópphần đáng kể trong việc tăng nhanh sản lượng nông nghiệp và phát triển khu vựcnông thôn Tổng sản lượng nông nghiệp tăng 6,7%/năm trong suốt giai đoạn 1994-

1999 và khoảng 4,6% trong giai đoạn 2000-2003 An toàn lương thực quốc giakhông còn là vấn đề nghiêm trọng nữa và nghèo đói đang từng bước được đẩy lùi(Ban Kinh tế, năm 2004)

Trang 22

1.2 Tổng quan về dồn điền, đổi thửa

1.2.1 Thực trạng ruộng đất nông nghiệp ở miền Bắc nước ta

Manh mún đất đai nghĩa là một hộ nông dân canh tác nhiều thửa đất diện tíchnhỏ vị trí riêng lẻ xa rời nhau (từ 3 thửa đất trở lên) Ở miền Bắc nước ta, theo con

số ước tính, toàn quốc có khoảng 75 triệu mảnh ruộng, trung bình một hộ nông dân

có khoảng 7-8 mảnh Manh mún đất đai được coi là một trong những rào cản củaphát triển sản xuất nông nghiệp nhất là sản xuất trồng trọt, cho nên rất nhiều nước

đã và đang thực hiện chính sách khuyến khích tập trung đất đai Việt Nam cũngđang thực hiện chính sách này trong mấy năm gần đây Dưới quan điểm kinh tế nếumanh mún đất đai làm cho lao động và các nguồn lực khác phải chi phí nhiều hơnthì việc giảm mức độ manh mún đất đai sẽ tạo điều kiện để các nguồn lực này được

sử dụng có hiệu quả hơn Như vậy, trên tổng thể nền kinh tế sẽ đạt được lợi ích khi

ta giảm mức độ manh mún đất đai Tuy nhiên, mức độ manh mún đất đai cũngmang lại một số lợi ích nhỏ, trước mắt cho nông dân Do đó ở nhiều nơi nông dânmuốn duy trì một mức độ nào đó của tình trạng này

a Thực trạng manh mún ruộng đất ở đồng bằng sông Hồng (ĐBSH)

* Tình trạng manh mún ruộng đất ở cấp nông hộ

Muốn có được những giải pháp triệt để khắc phục tình trạng manh mún ởĐBSH trước hết phải nghiên cứu những đặc điểm của manh mún ruộng đất và nhữngnguyên nhân gây nên tình trạng này Manh mún ruộng đất ở ĐBSH là một hiện tượngmang tính lịch sử Tình trạng manh mún thể hiện trên cả 2 góc độ: manh mún về ô thửa

và bình quân quy mô ruộng đất/hộ gia đình nông dân Vào những năm 30 của thế kỷtrước, ĐBSH đã có đến 16,0 triệu thửa ruộng to nhỏ khác nhau Diện tích trung bìnhmỗi thửa ở tỉnh Bắc Ninh lúc bấy giờ là 680 m2 Nếu tính riêng diện tích phải giành ralàm bờ vùng, bờ thửa thì ĐBSH đã mất đi trên 3% diện tích đất canh tác Đến năm

1997, tình trạng manh mún ruộng đất ở ĐBSH vẫn đứng ở vị trí thứ 2 trong 7 vùngsinh thái cả nước, chỉ sau miền núi phía Bắc

Ở đồng bằng sông Hồng hiện nay sự manh mún ruộng đất cấp nông hộ thểhiện ở các đặc điểm sau:

- Diện tích canh tác bình quân trên hộ hay trên lao động rất thấp (chỉ khoảng

Trang 23

0,25 ha/hộ).

- Số lượng các hộ có diện tích từ 1ha trở lên không đáng kể (chưa đầy 15%)

đa số có diện tích nhỏ hơn 0,50 ha

- Bình quân diện tích canh tác trên hộ và trên khẩu có xu thế giảm do mất đấtnông nghiệp và sự gia tăng của dân số nông thôn

Bảng 1.1 Thay đổi quy mô đất nông nghiệp ở nông hộ (%)

Diện tích/thửa: Với cây lúa, diện tích/thửa có thể diễn biến từ 200 đến 400

m2, với cây màu nhỏ hơn 100-200 m2 đặc biệt, với cây rau thì rất nhỏ chỉ từ 20 – 50

m2, tỷ lệ thửa có diện tích < 100 m2 chiếm đến 5 - 10% tổng số thửa

Số thửa/hộ: Số hộ có từ 7 đến 10 thửa là phổ biến, thậm chí có nơi lên tới 25

thửa, cá biệt có hộ có 47 thửa (Vĩnh Phúc) Về số thửa/hộ giữa các vùng cũng có sựkhác nhau Ví dụ: ở Nam Định là 5,7 thửa, ở Hà Nam là 8,3 thửa, trong đó ở HảiDương là 11 thửa

Trang 24

Bảng 1.2 Mức độ manh mún ruộng đất ở các vùng trong cả nước

TT Vùng sinh thái

Tổng số thửa/hộ Diện tích bình

quân(m2)/thửa Trung

bình

Cábiệt Đất lúa Đất rau

1 Trung du miền núi Bắc bộ 10 – 20 150 150 - 300 100 - 150

3 Duyên hải Bắc Trung bộ 7 – 10 30 300 - 500 200 - 300

4 Duyên hải Nam Trung bộ 5 – 10 30 300- 1000 200 - 1000

7 Đồng bằng sông Cửu Long 3 10 3000 - 5000 500 - 1000

(Nguồn: Tổng cục Địa chính năm 1997)

Kết quả điều tra của Viện Quy hoạch và Thiết kế Nông nghiệp cũng phảnánh rõ mức độ manh mún đất nông nghiệp ở 5 tỉnh thuộc vùng ĐBSH, kết quả cụthể được tổng hợp ở bảng 1.3

Nhỏnhất

Lớnnhất

Trungbình

-(Nguồn: Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn năm 2003)

Kết quả ở bảng 1.3 cho thấy mức độ manh mún ruộng đất thuộc một số tỉnhđồng bằng sông Hồng rất khác nhau; ở các tỉnh đông dân, diện tích đất nông nghiệp

ít thì mức độ manh mún càng cao và đây cũng là yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến sảnlượng các loại cây trồng

Trang 25

b Nguyên nhân dẫn đến tình trạng manh mún

Nguyên nhân đầu tiên, quan trọng nhất dẫn đến tình trạng manh mún ruộngđất là sự phức tạp của địa hình đất đai ở mỗi địa phương trong ĐBSH; hầu nhưtrong mỗi làng, xã đều có 3 loại đất: đất cao, đất vàn và đất thấp Đây chính là hệquả của việc xây dựng đê điều từ rất sớm trong đồng bằng

Nguyên nhân thứ 2 là chế độ thừa kế chia đều ruộng đất cho tất cả con cái ỞViệt Nam ruộng đất của cha mẹ thường được chia đều cho tất cả các con sau khi ra ởriêng, vì thế tình trạng phân tán ruộng đất gắn liền với chu kỳ phát triển của nông hộ

Nguyên nhân thứ 3 là tâm lý tiểu nông của các hộ sản xuất nhỏ Do quy môsản xuất nhỏ lẻ, các hộ nông dân ngại thay đổi, nhất là những thay đổi liên quan đếnruộng đất

Nguyên nhân thứ tư liên quan đến phương pháp chia ruộng bình quân theonguyên tắc xuất có tốt có xấu khi thực hiện Nghị định 64/NĐ-CP năm 1993 Việcchia nhỏ các thửa ruộng để có sự công bằng giữa các hộ đã góp phần không nhỏ làmtăng tình trạng manh mún ruộng đất ở ĐBSH Quan điểm muốn bảo vệ sự côngbằng cho những người dân được chia ruộng và nhiều lý do sau đây khiến đa số cácđịa phương chia nhỏ ruộng cho nông dân, đó là:

+ Tất cả các hộ đều phải có ruộng gần, tốt, xấu, cao, thấp Có như vậy mớithể hiện tính công bằng

+ Độ phì tự nhiên của đất của các khu khác nhau phải chia đều cho các hộ.+ Do hiệu quả kinh tế của các loại sử dụng đất khác nhau nên phải chia đềuđất cho các hộ

+ Các chân đất thường không an toàn do các vấn đề như: úng, hạn, chua do

đó việc chia đều rủi ro cho các hộ là chỉ tiêu quan trọng trong khi chia ruộng

+ Ngoài ra, giá đất luôn biến động, tăng cao, đặc biệt là các khu đất gần cáctrục đường chính hoặc trong tương lai sẽ nằm trong quy hoạch khu đô thị, khu côngnghiệp vì thế đất ở đó phải được chia đều cho các hộ để mọi người đều có thểhưởng "thành quả" đền bù đất hay cùng chịu "rủi ro" nếu đất đai bị chuyển mụcđích sử dụng

Trang 26

c Những hạn chế của tình trạng manh mún ruộng đất đối với sản xuất nông nghiệp

- Hạn chế khả năng áp dụng cơ giới hoá nông nghiệp, không giảm được chiphí lao động đầu vào

- Thửa ruộng quá nhỏ khiến nông dân ít khi nghĩ đến việc đầu tư tiến bộ kỹthuật (TBKT) để tăng năng suất Theo họ, đầu tư TBKT có thể giúp tăng năng suấtnhưng trên diện tích quá nhỏ thì sản lượng tăng không đáng kể

- Thửa ruộng đã nhỏ, nhiều thửa lại phân tán làm tăng rất nhiều công thămđồng, vận chuyển phân bón và thu hoạch, mặt khác nông dân không muốn trồng câyhàng hoá do phải tăng công bảo vệ

- Quy mô ruộng đất nhỏ làm giảm lợi thế cạnh tranh của một số sản phẩmnông nghiệp trong bối cảnh giá nông sản luôn có xu thế giảm

- Nhiều thửa ruộng dẫn tới lãng phí đất canh tác do phải làm nhiều bờ ngăn,tính trung bình vùng ĐBSH mất khoảng 2,4% - 4% đất canh tác dùng để đắp bờvùng, bờ thửa

- Khó khăn trong quản lý đất và không phù hợp với sản xuất hàng hoá

1.2.2 Tình hình sử dụng đất nông nghiệp ở nước ngoài

a Ruộng đất ở một số nước châu Âu, châu Mỹ

Ở các nước Âu, Mỹ bình quân ruộng đất trên đầu người khá cao, tốc độ đô thịhóa nhanh, nhu cầu lao động cho công nghiệp nhiều, chính quyền khuyến khíchviệc đẩy nhanh tốc độ tích tụ ruộng đất, mở rộng quy mô trang trại bằng các chínhsách và biện pháp cụ thể nhằm khuyến khích sản xuất kinh doanh của các trang trạilớn Tuy nhiên, để tránh tích tụ ruộng đất vượt hạn mức trong từng địa phương, một

số nước như Anh, Pháp có biện pháp quản lý thông qua Hội đồng quy hoạch đất đaicủa từng tỉnh, huyện, với Hội đồng quản trị gồm những đại diện nông dân địaphương, những chuyên viên ruộng đất và hai ủy viên của Chính phủ (thuộc BộNông nghiệp và Bộ Tài chính) Hội đồng này mua đất trên thị trường tạo ra quỹ đất

dự trữ và bán lại công khai cho các hộ nông dân theo giá thị trường

Ở Pháp, tuy không đề ra các hạn mức cụ thể, nhưng để đề phòng tích tụ ruộngđất quá mức, Nhà nước đã có biện pháp can thiệp vào thị trường ruộng đất, thông

Trang 27

qua Hội đồng quy hoạch ruộng đất địa phương để mua bán đất của nông dân, lậpquỹ đất dự trữ, điều tiết thị trường bất động sản.

Bảng 1.4 Tích tụ ruộng đất ở một số nước Âu, Mỹ

Tên nước

Quy mô trang trại (ha)

(Nguồn: Hội khoa học kinh tế Việt Nam,1998)

Ở châu Âu và châu Mỹ, kể từ ngày sau cách mạng nông nghiệp lần thứ 2 cuốithế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, một loạt các trang trại nhỏ, manh mún năng suất thấp đã

bị loại thải, thay vào đó là các trang trại quy mô vừa, năng suất lao động cao Ví dụ

ở Pháp năm 1955 có xấp xỉ 2,3 triệu nông hộ quy mô đất 14 ha/hộ, đến năm 1993chỉ còn 800 ngàn hộ với quy mô 35 ha/hộ Ở Mỹ năm 1950 cả nước có 5,65 triệu hộvới quy mô bình quân 86 ha/hộ đến năm 1992 chỉ còn 1,92 triệu, quy mô 198,9ha/hộ Tiến trình tích tụ ruộng đất và vốn nhanh chóng của các nông hộ ở châu Âuchủ yếu là nhờ áp dụng các thành tựu khoa học công nghệ phát triển trong quá trình

cơ giới hoá nông nghiệp của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 2

- Sự phù hợp giữa quy mô các thửa thửa (trong trồng trọt) và các đàn gia súctrong quá chăn nuôi với khả năng đầu tư thâm canh và áp dụng hiệu quả tiến bộkhoa học kỹ thuật Phương thức tăng quy mô ô thửa có thể hỗ trợ quá trình đầu tư,thâm canh, cơ giới hoá, qua đó có thể làm tăng hiệu quả sản xuất/đơn vị diện tích.Nhưng nhiều ý kiến cho rằng quá trình tập trung thâm canh trên đây chỉ phát huytác dụng khi sản xuất hàng hoá phát triển Nói cách khác, quy mô của các ô thửa,đàn gia súc… phụ thuộc vào quy mô sản xuất, trình độ sản xuất và khả năng đầu tưcủa nông hộ Trong trường hợp lao động dư thừa nhiều và sản xuất còn nhiều rủi

do, người nông dân nhỏ thường chọn giải pháp đầu tư vào lao động hơn là vào cácnguồn lực khác vì thế họ ít quan tâm đến DĐĐT Quy mô sản xuất phụ thuộc vàođặc điểm của mỗi loại hình nông hộ (hộ chăn nuôi hay trồng trọt, hộ trồng nho haytrồng lúa mỳ) và khả năng áp dụng khoa học công nghệ trong sản xuất … Ví dụ quy

mô sản xuất có hiệu quả hiện nay ở Pháp là từ 50 ha đến 100 ha, nhưng ở Mỹ quy

Trang 28

mô nông hộ từ 200 ha đến 300 ha (do khả năng cơ giới hoá cao hơn).

Ngoài ra cũng cần nhấn mạnh rằng trong điều kiện sản xuất của các nông hộnhỏ, sự manh mún không phải lúc nào cũng gây khó khăn Trên thực tế manh múnruộng đất cũng có ưu điểm nhất định đối với sản xuất nhỏ như: cho phép đa dạnghoá cây trồng, giảm rủi ro sản xuất, khắc phục dư thừa lao động thời vụ và khắcphục tính phi hiệu quả của thị trường lao động và thị trường đất đai

b Ruộng đất ở một số nước châu Á

Để phản ánh tình hình tích tụ ruộng đất ở một số nước châu Á được thể hiện

(Nguồn: Hội khoa học kinh tế Việt Nam,1998)

Qua bảng 1.5 cho thấy: Các nước thuộc Châu Á bình quân ruộng đất thấp,quy mô trang trại nhỏ nên việc tích tụ ruộng đất không dễ dàng như các nước Âu,

Mỹ Ngay ở Nhật Bản là một nước có trình độ công nghiệp hóa cao trong lĩnh vựcnông nghiệp cũng có tình trạng như vậy

Ở Nhật Bản, sau cải cách ruộng đất năm 1950, chủ trương hạn chế việc bánruộng đất đã gây trở ngại cho việc tích tụ ruộng đất Về sau đã thay đổi chủ trươngnày nhưng việc tích tụ ruộng đất cũng chậm chạp Tuy nhiên, họ có kinh nghiệmđáng quan tâm là hạn chế việc chia nhỏ quy mô ruộng đất của các hộ nông dân Một

hộ có nhiều con, theo tập quán chỉ có người con trai trưởng mới có nhiệm vụ tiếptục ở nông thôn làm ruộng và chăm sóc cha mẹ, còn các con khác phải đi làm nghềkhác, không chia ruộng cho tất cả các con

Ở Đài Loan, sau năm 1949 dân số tăng đột ngột do sự di dân từ lục địa ra Lúcđầu chính quyền Tưởng Giới Thạch thực hiện cải cách ruộng đất theo nguyên tắcphân phối đồng đều ruộng đất cho nông dân Ruộng đất đã được trưng thu, tịch thu,mua lại của các địa chủ rồi bán chịu, bán trả dần cho nông dân, tạo điều kiện ra đời

Trang 29

các trang trại gia đình quy mô nhỏ Năm 1953, ở Đài Loan đã có đến 679.000 trangtrại với quy mô bình quân là 1,29 ha/trang trại; đến năm 1991 số trang trại đã lênđến 823.256 với quy mô bình quân chỉ còn 1,08 ha/trang trại Tuy nhiên, quá trìnhcông nghiệp hoá nông nghiệp nông thôn sau này đòi hỏi phải mở rộng quy mô củacác trang trại gia đình nhằm ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, giảm chi phí sảnxuất, hạ giá thành sản phẩm,… nhưng do người Đài Loan coi ruộng đất là tiêu chíđánh giá vị trí của họ trong xã hội nên mặc dù có thị trường nhưng ruộng đất vẫnkhông được tích tụ (có nhiều người tuy là chủ đất nhưng đã chuyển sang làm nhữngnghề phi NN) Để giải quyết tình trạng này, năm 1983 Đài Loan công bố Luật Pháttriển nông nghiệp, trong đó công nhận phương thức sản xuất ủy thác của các hộnông dân, có nghĩa là nhà nước công nhận việc chuyển quyền sở hữu đất đai Ướctính đã có trên 75% số trang trại áp dụng phương thức này để mở rộng quy môruộng đất sản xuất Ngoài ra để mở rộng quy mô, các trang trại trong cùng thôn xómcòn tiến hành các hoạt động hợp tác như làm đất, mua bán chung một số vật tư, sảnphẩm nông nghiệp, nhưng không chấp nhận phương thức tập trung ruộng đất, laođộng để sản xuất (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, 2003).

1.2.3 Nghiên cứu việc dồn điền đổi thửa ở Việt Nam

- Khái niệm về dồn điền đổi thửa: là tập hợp, dồn đổi các thửa ruộng nhỏthành các thửa ruộng lớn, trái ngược với việc chia các mảnh ruộng to thành nhiềumảnh ruộng nhỏ Có hai cơ chế chủ yếu để thực hiện dồn điền đổi thửa:

Một là để cho thị trường ruộng đất và các nhân tố phi tập trung tham gia vào,Nhà nước chỉ hỗ trợ để cơ chế này vận hành tốt

Hai là thực hiện các biện pháp can thiệp hành chính, tổ chức phân chia lại ruộngđất, thực hiện quy hoạch có chủ định, theo cách này các địa phương đều xác định là dồnđiền đổi thửa sẽ không làm thay đổi các quyền của nông hộ đối với ruộng đất đã đượcquy định trong pháp luật Tuy nhiên việc thực hiện trong quá trình này có thể làm thayđổi khả năng tiếp cận ruộng đất của các nhóm nông dân hưởng lợi khác nhau dẫn đếnthay đổi bình quân ruộng đất ở các nhóm xã hội khác nhau

- Cơ sở thực tiễn của việc dồn điền, đổi thửa

Hơn nửa thế kỷ qua, nông nghiệp Việt Nam đã đạt được những thành tựu to

Trang 30

lớn, góp phần đưa Việt Nam trở thành nước xuất khẩu lương thực đứng thứ hai trênthế giới và đảm bảo an ninh lương thực quốc gia, nâng cao đời sống cho nông dân,

ổn định nông thôn và xây dựng đất nước

Sự phát triển của sản xuất nông nghiệp gắn liền với chính sách ruộng đất Mỗichính sách ruộng đất có tác dụng trong thời gian nhất định, phù hợp với phát triểnnông nghiệp ở mỗi thời kỳ

Chính sách người cày có ruộng phù hợp với lao động thủ công

Chính sách tập trung hoá ruộng đất sản xuất phù hợp với phát triển nôngnghiệp trong thời kỳ chiến tranh

Chính sách giao ruộng đất cho nông dân phù hợp với sản xuất nông nghiệptrong thời kỳ chuyển đổi từ cơ chế quản lý tập trung quan liêu bao cấp sang cơ chếthị trường

Thực hiện Luật đất đai, hiện cả nước đang có tới 70 triệu thửa ruộng manhmún, bình quân mỗi hộ nông dân chỉ có 0,7 ha đất canh tác, có tới 7-8 thửa, có hộlên tới 48 – 50 thửa Ruộng đất manh mún đã hạn chế việc áp dụng cơ giới hoá vàứng dụng khoa học kỹ thuật mới vào sản xuất

Từ năm 1997 đến nay, Đảng và Nhà nước Việt Nam có chủ trương lớn làthực hiện đồn điển đổi thửa, dưới tên gọi “dồn ô thửa nhỏ thành ô thửa lớn” vớimục đích là cho xuất hiện những vùng chuyên canh lớn Với Nghị quyết 6 của BộChính trị (năm 1998), Nghị quyết 03 của Chính phủ (năm 2000) kinh tế trang trạichính thức được công nhận như một loại hình sản xuất của thời kỳ kinh tế thịtrường Kinh tế trang trại đã tập trung và tích tụ ruộng đất với nhiều hình thức khácnhau để tổ chức sản xuất nông nghiệp hàng hoá quy mô lớn Đây là mô hình sảnxuất nông nghiệp có hiệu quả trong cơ chế thị trường

Nhờ có chính sách về đất đai, và các chính sách khác của nhà nước, nôngnghiệp đã có sự phát triển vượt bậc, không chỉ tăng so với các thời kỳ trước, màquan trọng là nhiều loại đã đủ dùng trong nước và xuất khẩu với khối lượng lớn(năm 2005 xuất khẩu thuỷ sản đạt 2,73 tỷ USD, trên 5,25 triệu tấn gạo, 54,5 nghìntấn lạc nhân, 892,4 nghìn tấn cà phê nhân, 587,1 nghìn tấn cao su, 108,8 nghìn tấnhạt điều nhân, 235,5 triệu USD hàng rau quả, 109 nghìn tấn hạt tiêu, 87,9 nghìn tấn

Trang 31

chè ) và đứng thứ hạng cao trên thế giới như gạo, cà phê, hạt tiêu, điều.

Xu hướng tích tụ ruộng đất để phát triển kinh tế trang trại ngày càng được

mở rộng với nhiều hình thức như: nhận chuyển nhượng đất, thuê đất, mượn đất, dồnđổi, tập trung ruộng đất

Tuy đạt được những thành tựu về tích tụ ruộng đất như trên, nhưng quá trìnhtích tụ ruộng đất đã bộc lộ những tồn tại, vướng mắc cần được tháo gỡ về cơ chếchính sách như:

Chưa có quy hoạch về phát triển sản xuất hàng hoá quy mô lớn, theo hướnghiện đại bền vững;

Mức hạn điền thấp, thời hạn sử dụng đất ngắn đã không khuyến khích nôngdân tích tụ ruộng đất và yên tâm đầu tư phát triển sản xuất lâu dài

Chưa có chính sách khuyến khích đầu tư cơ sở hạ tầng phù hợp với tích tụruộng đất để sản xuất hàng hoá lớn

Chưa có chính sách hỗ trợ đào tạo quản lý, kỹ thuật, thông tin thị trường,khuyến khích liên kết, chế biến và tiêu thụ nông sản cho nông dân tích tụ ruộng đấtphát triển kinh tế trang trại

Chưa có chính sách đào tạo, chuyển đổi nghề cho nông dân để rút bớt laođộng nông nghiệp, tào tiền đề cho tích tụ ruộng đất

Chưa có chính sách, cơ chế, quy hoạch giải quyết đầu ra, thường thì đượcmùa lại mất giá nên người dân không yên tâm đầu tư sản xuất

Gần 10 năm trở lại đây, vấn đề tích tụ ruộng đất tại Việt Nam được đề cậpkhá nhiều, nhưng với nhiều lo lắng và có phần né tránh, vì một loạt những bănkhoăn như trên, nếu không tiến hành thận trọng, tích tụ ruộng đất sẽ trở thành nhưbắt bí hộ đói nghèo để mua được đất giá rẻ, hoặc thu hồi đất “bờ xôi, ruộng mật”,lập dự án treo, hay phân lô bán nhằm làm giàu bất chính vì lợi ích của một nhómngười; hay có thể làm nẩy sinh tầng lớp địa chủ mới Chính vì thế, nhìn từ tổng thể,việc tích tụ ruộng đất vẫn đang là một bức tranh vẽ giở và còn quá nhiều rào cảntrên con đường đi đến giấc mơ đại điền của người nông dân Hai “nút thắt” lớn nhấtđang tồn tại hiện nay trong vấn đề tích tụ ruộng đất là nên tích tụ theo hình thứcmua đất hay thuê đất, và xử lý vấn đề lao động nông nghiệp thế nào khi họ rút ra

Trang 32

khỏi thị trường này? Chỉ riêng đối với vấn đề nên mua đất hay chỉ là cho thuê đất,

đã là vấn đề quá khó, khi vừa muốn đảm bảo yêu cầu nông dân không bị áp lực bởinỗi lo “không tấc đất cắm dùi”, vừa đảm bảo yêu cầu sớm tích tụ đất đai để tổ chứcđược sản xuất nông nghiệp quy mô lớn, để sản xuất theo kiểu hàng hóa.Nhữngngười tán thành quan điểm mua, bán cho rằng có tích tụ theo cách đó, mới có thểyên tâm sản xuất bền vững, chứ nếu chỉ là thuê thôi, thì tâm lý cũng không thểmuốn đầu tư lâu dài trên mảnh đất đó Thực tế, việc tích tụ ruộng đất diễn ra trongthời gian qua chủ yếu là theo hình thức này

Nhưng luồng quan điểm nên “cho thuê”, “Đây là cách để nông dân “có chỗ luivề” không mất trắng đất - ít nhất là về mặt tâm lý” “Thực trạng tích tụ ruộng đất, dồnđiền đổi thửa hiện nay đã làm cho nhiều hộ nông dân mất đất, trắng tay Vì vậy, mộtchính sách cần thiết lúc này là làm sao để nông dân cho thuê đất chứ không bán đất.Doanh nghiệp đầu tư xây dựng kênh mương, cây giống và tổ chức sản xuất, nông dânđược thuê làm việc trên chính thửa ruộng của mình Vậy nông dân vẫn còn sổ đỏ, cóthu nhập, có công việc; doanh nghiệp có diện tích lớn sẽ sản xuất kinh doanh hiệuquả” Và dù bán, hay thuê thì nguyên Phó thủ tướng Nguyễn Công Tạn cũng chorằng: “Việc tích tụ ruộng đất như thế nào là vấn đề khó Vì theo đặc điểm của ngườinông dân phương đông, ruộng đất đeo đuổi với họ như hình với bóng”

Nhìn vào khả năng thực hiện chủ trương tích tụ đất đai, TS Đặng Kim Sơn

đã phải sử dụng rất nhiều chữ “nếu”: “Ở miền Nam, nếu thị trường phát triển tốt,luật pháp cho phép nông dân tích tụ ruộng đất, giao quyền sử dụng đất lâu dài hơnhiện nay, thì khả năng tích tụ là có ở miền Bắc tình hình khó hơn khi lao động nôngnghiệp rời khỏi nông thôn, không bước được vào thị trường lao động chính thức

Họ làm nghề chạy xe ôm, cửu vạn, giúp việc, thợ xây ở thành phố, tất cả nhữngnghề đó không có hợp đồng, không có bảo hiểm, bất kỳ lúc nào cũng có thể bị đuổiviệc Vì thế họ sống chết giữ mảnh đất đó để đề phòng cơ nhỡ Như thế, mảnh đất

đó vừa không sinh lợi, lại không được tích tụ lại vào tay người thật sự sản xuất.Chính vì thế, đối với miền Bắc, muốn xử lý thị trường đất đai thì phải xử lý được thịtrường lao động Chừng nào, người nông dân đi được vào thị trường lao động chínhthức, thì chừng đó đất đai ở nông thôn mới tích tụ được, và việc dồn điền đổi thửa

Trang 33

mới thành công” Trong quá trình sửa Luật Đất đai tới đây, nhiều người kỳ vọngnhững vướng mắc về sử dụng đất sẽ được giải quyết về căn bản, giúp cho quá trìnhtích tụ ruộng đất được thuận lợi.

- Tình hình thực hiện dồn đổi ruộng đất ở một số tỉnh trong nước

Việt Nam bắt đầu con đường đổi mới kinh tế của mình vào năm 1986 Mụctiêu của chính sách đổi mới là chuyển nền kinh tế Việt Nam từ mô hình kinh tế kếhoạch hoá, tập trung sang nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa.Trong lĩnh vực nông nghiệp, Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị năm 1988 là bướcngoặt cơ bản Nội dung chính của chính sách này là công nhận hộ nông dân là mộtđơn vị kinh tế tự chủ, tự do hoá thị trường đầu vào và đầu ra của sản xuất cũng nhưcác tư liệu sản xuất khác (ngoại trừ đất đai) và giao đất sử dụng ổn định, lâu dài chongười dân Chính sách mới này đã dẫn đến xoá bỏ hợp tác hoá trong nông nghiệp.Cũng theo chính sách này, nông dân được giao đất nông nghiệp trong 15 năm và kýhợp đồng sử dụng các đầu vào, sử dụng lao động và sản phẩm mà họ sản xuất ra.Các chỉ tiêu trong hợp đồng được ổn định trong 5 năm Hơn nữa, hầu hết các tư liệusản xuất (máy móc, trâu bò và các công cụ khác) được coi là sở hữu tư nhân Từ đó,nông nghiệp Việt Nam bước vào một giai đoạn mới tương đối ổn định Tuy nhiên,thời gian giao đất còn quá ngắn và một số quyền sử dụng đất khác chưa được luậtpháp hoá Điều này dẫn đến nông dân có thể ít có động cơ đầu tư dài hạn trên đất.Luật Đất đai năm 1993 ra đời đã giải quyết được những vấn đề nêu trên Theo LuậtĐất đai năm 1993 thì nông dân được giao đất ổn định và lâu dài Họ được giao 5quyền sử dụng đất gồm: Quyền chuyển nhượng, chuyển đổi, cho thuê, thừa kế và thếchấp Nguyên tắc quan trọng nhất trong việc giao đất là duy trì sự công bằng Thôngthường nhiều nơi ở miền Bắc, đất đai được chia bình quân theo định suất (hoặc bìnhquân theo nhân khẩu) Những tiêu chuẩn khác cũng được xem xét khi giao đất là cácđối tượng chính sách xã hội, chất lượng đất, tình hình thuỷ lợi, khoảng cách đến thửaruộng và khả năng luân canh cây trồng Đất trồng cây hàng năm ở Việt Nam đượcchia thành 6 hạng Do đó, để duy trì nguyên tắc công bằng mỗi hộ thường được giaonhiều thửa với nhiều hạng đất khác nhau, ở các cánh đồng khác nhau với chất lượngđất khác nhau Đây là một trong những nguyên nhân cơ bản tạo ra tình trạng manh

Trang 34

mún đất đai ở Việt Nam Nguyên nhân của manh mún đất đai do giao đất nôngnghiệp công bằng đã được nhiều cơ quan và các nhà nghiên cứu thảo luận và phântích những năm gần đây Manh mún có nhiều mức độ khác nhau, ở một số vùng tìnhtrạng manh mún có thể nghiêm trọng hơn ở những nơi hoặc vùng khác Theo số liệucủa Tổng cục Địa chính năm 1998, bình quân 1 hộ vùng đồng bằng sông Hồng cókhoảng 7 thửa, trong khi ở vùng núi phía Bắc con số này còn cao hơn, từ 10 – 20thửa Số liệu điều tra 42.167 nông hộ ở tỉnh Hưng Yên cho thấy sau khi giao đất năm

1993, trung bình một hộ có 7,6 thửa

Vào năm 1998, Chính phủ đã đề ra chính sách khuyến khích nông dân đổiruộng cho nhau để tạo thành những thửa có diện tích lớn hơn Từ đó, các tỉnh ở miềnBắc, đặc biệt ở vùng đồng bằng sông Hồng, đã thành lập các hội đồng thực hiện thíđiểm công tác dồn điền, đổi thửa Theo báo cáo trên toàn quốc khoảng 700 xã ở 20tỉnh đã và đang thực hiện dồn điền, đổi thửa, tuy nhiên tiến trình vẫn còn rất chậm.Trên thực tế ở những vùng này đất đai được chia lại cho các hộ nông dân với mụctiêu là giảm số thửa ruộng Ví dụ: Ở tỉnh Thanh Hoá số thửa ruộng đã giảm 51%trong 3 năm thực hiện chính sách này (1998 – 2001) Trung bình số thửa ruộng củamột hộ đã giảm từ 7,8 thửa xuống còn 3,8 thửa Trong các báo cáo gửi Chính phủ vàUBND tỉnh, khi rút kinh nghiệm công tác dồn điền, đổi thửa, các địa phương đều đưa

ra kết luận công tác dồn điền, đổi thửa nên áp dụng ở những vùng mà manh mún đấtđai đang là vấn đề lớn và không có mâu thuẫn về đất đai Điều đó có nghĩa dồn điền,đổi thửa không nên dẫn đến những mâu thuẫn mới liên quan đến đất đai Nguyên tắcquan trọng nhất trong dồn điền, đổi thửa là các hộ nông dân tự nguyện đổi đất chonhau để tạo thành những thửa lớn hơn Tuy nhiên, ở rất nhiều tỉnh quá trình giao lạiđất đã xảy ra, trong đó các hộ nông dân được tham gia rất ít vào quá trình này, ngoạitrừ việc đánh giá chất lượng đất và xác định hệ số trao đổi giữa các hạng đất Bởi đấtđai ở Việt Nam là sở hữu toàn dân, do đó các hộ nông dân cho rằng họ không cóquyền tham gia vào quá trình giao lại đất hoặc thảo luận về kế hoạch hoá sử dụng đất

1.3 Hiệu quả sử dụng đất

Theo trung tâm từ điển ngôn ngữ, hiệu quả chính là kết quả như yêu cầu củaviệc làm mang lại

Trang 35

Kết quả hữu ích là một đại lượng vật chất tạo ra do mục đích của con người,được biểu thị bằng những chỉ tiêu cụ thể, xác định Do tính chất mâu thuẫn giữanguồn tài nguyên hữu hạn với nhu cầu ngày càng cao của con người mà ta phải xemxét kết quả được tạo ra như thế nào? Chi phí bỏ ra để tạo ra kết quả đó là bao nhiêu?

Có đưa lại kết quả hữu ích không? Chính vì thế khi đánh giá hoạt động sản xuấtkhông chỉ dừng lại ở việc đánh giá kết quả mà còn phải đánh giá chất lượng cáchoạt động sản xuất kinh doanh tạo ra sản phẩm đó Đánh giá chất lượng của hoạtđộng sản xuất kinh doanh là nội dung đánh giá hiệu quả

Việc xác định bản chất và khái niệm hiệu quả cần xuất phát từ những luận điểmtriết học của Mác và những luận điểm lý thuyết hệ thống sau đây:

- Thứ nhất: Bản chất của hiệu quả là sự thực hiện yêu cầu tiết kiệm thời gian, biểu

hiện trình độ sử dụng nguồn lực của xã hội Các Mác cho rằng quy luật tiết kiệm thờigian là quy luật có tầm quan trọng đặc biệt tồn tại trong nhiều phương thức sản xuất.Mọi hoạt động của con người đều tuân theo quy luật đó, nó quyết định động lực pháttriển của lực lượng sản xuất, tạo điều kiện phát triển văn minh xã hội và nâng cao đờisống của con người qua mọi thời đại

- Thứ hai: Theo quan điểm của lý thuyết hệ thống thì nền sản xuất xã hội là

một hệ thống các yếu tố sản xuất và các quan hệ vật chất hình thành giữa con ngườivới con người trong quá trình sản xuất

Hệ thống sản xuất xã hội bao gồm trong nó các quá trình sản xuất, các phươngtiện bảo tồn và tiếp tục đời sống xã hội, đáp ứng các nhu cầu xã hội, nhu cầu củacon người là những yếu tố khách quan phản ánh mối quan hệ nhất định của conngười đối với môi trường bên ngoài Đó là quá trình trao đổi vật chất, năng lượnggiữa sản xuất xã hội và môi trường

- Thứ ba: Hiệu quả kinh tế là mục tiêu nhưng không phải là mục tiêu cuối cùng

mà là mục tiêu xuyên suốt mọi hoạt động kinh tế Trong kế hoạch và quản lý kinh tếnói chung hiệu quả là quan hệ so sánh tối ưu giữa đầu vào và đầu ra, là lợi ích lớnhơn thu được với một chi phí nhất định, hoặc một kết quả nhất định với chi phí nhỏhơn

Ngày nay, nhiều nhà khoa học cho rằng: xác định đúng khái niệm, bản chất hiệu

Trang 36

quả thì phải xuất phát từ luận điểm triết học của Mác và những người nhận thức líluận của lý thuyết hệ thống, nghĩa là hiệu quả phải được xem xét trên 3 mặt: hiệuquả kinh tế, hiệu quả xã hội và hiệu quả môi trường

Hiệu quả kinh tế.

Theo Các Mác thì quy luật kinh tế đầu tiên trên cơ sở sản xuất tổng thể là quyluật tiết kiệm thời gian và phân phối một cách có kế hoạch thời gian lao động theocác ngành sản xuất khác nhau Theo nhà khoa học kinh tế Samuelson Nordhuas

"Hiệu quả có nghĩa là không lãng phí" Nghiên cứu hiệu quả sản xuất phải xét đếnchi phí cơ hội, "Hiệu quả sản xuất diễn ra khi xã hội không thể tăng sản lượng mộthàng hoá này mà không cắt giảm sản lượng một loại hàng hoá khác".Theo các nhàkhoa học Đức như: Stenien, Rusteruyer, Simmerman, Hanau hiệu quả kinh tế là chỉtiêu so sánh mức độ tiết kiệm chi phí trong một đơn vị kết quả hữu ích và mức tăngkết quả hữu ích của hoạt động sản xuất vật chất trong một thời kỳ, góp phần làmtăng thêm lợi ích của xã hội

Hiệu quả kinh tế phải đáp ứng được ba vấn đề:

- Một là: Mọi hoạt động sản xuất của con người đều tuân theo quy luật "tiết

kiệm thời gian"

- Hai là: Hiệu quả kinh tế phải được xem xét trên quan điểm lý thuyết hệ

thống

- Ba là: Hiệu quả kinh tế là một phạm trù phản ánh mặt chất lượng của các hoạt

động kinh tế bằng quá trình tăng cường các nguồn lực sẵn có phục vụ cho lợi íchcủa con người

Hiệu quả kinh tế được hiểu là mối tương quan so sánh giữa lượng kết quả đạtđược và lượng chi phí bỏ ra trong hoạt động sản xuất kinh doanh Kết quả đạt được làphần giá trị thu được của sản phẩm đầu ra, lượng chi phí bỏ ra là phần giá trị của cácnguồn lực đầu vào Mối tương quan cần xét cả về phần so sánh tuyệt đối và tương đốicũng như xem xét mối quan hệ chặt chẽ giữa hai đại lượng đó

Từ những vấn đề trên có thể kết luận rằng bản chất của phạm trù kinh tế sửdụng đất là: với một diện tích đất đai nhất định sản xuất ra một khối lượng của cảivật chất nhiều nhất với một lượng đầu tư chi phí về vật chất và lao động thấp nhất

Trang 37

nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng về vật chất của xã hội.

Hiệu quả xã hội

Phản ánh mối tương quan giữa kết quả thu được về mặt xã hội mà sản xuấtmang lại với các chi phí sản xuất xã hội bỏ ra Loại hiệu quả này đánh giá chủ yếu

về mặt xã hội do hoạt động sản xuất đem lại

Theo Nguyễn Duy Tính (1995), hiệu quả về mặt xã hội sử dụng đất nôngnghiệp chủ yếu được xác định bằng khả năng tạo việc làm trên một diện tích đấtnông nghiệp

Hiệu quả môi trường

Hiệu quả môi trường là môi trường được sản sinh do tác động của sinh vật,hoá học, vật lý , chịu ảnh hưởng tổng hợp của các yếu tố môi trường của các loạivật chất trong môi trường Hiệu quả môi trường phân theo nguyên nhân gây nêngồm: hiệu quả hoá học môi trường, hiệu quả vật lý môi trường và hiệu quả sinh vậtmôi trường Hiệu quả sinh vật môi trường là hiệu quả khác nhau của hệ thống sinhthái do sự phát sinh biến hoá của các loại yếu tố môi trường dẫn đến Hiệu quả hoáhọc môi trường là hiệu quả môi trường do các phản ứng hoá học giữa các vật chấtchịu ảnh hưởng của điều kiện môi trường dẫn đến Hiệu quả vật lý môi trường làhiệu quả môi trường do tác động vật lý dẫn đến

Hiệu quả sử dụng đất

Đất đai nói chung và đất nông lâm nghiệp nói riêng là loại tư liệu sản xuấtđặc biệt, một yếu tố đầu vào quan trọng nhất của sản xuất NLN Tiêu chuẩn hiệuquả kinh tế sử dụng đất là trên một đơn vị diện tích đất NLN nhất định có thể thuđược khối lượng sản phẩm nhiều nhất với mức chi phí bỏ ra thấp nhất trong mộtkhoảng thời gian nào đó Hoặc cũng có thể coi tiêu chuẩn hiệu quả kinh tế sử dụngđất là số lượng kết quả tăng thêm trên một đơn vị diện tích hoặc mức độ tiết kiệmchi phí bỏ ra để sản xuất một đơn vị sản phẩm

Tiêu chuẩn hiệu quả kinh tế phải ứng dụng lý thuyết sản xuất cơ bản nguyêntắc tối ưu hoá có ràng buộc Trong điều kiện sản xuất nhất định việc sử dụng đất đaiphải cố gắng tối thiểu hoá các chi phí đầu vào theo nghĩa tiết kiệm các chi phíkhông cần thiết để sản xuất ra lượng sản phẩm nào đó hoặc cố gắng tối đa hoá

Trang 38

lượng sản phẩm sản xuất khi có giới hạn diện tích đất và yếu tố sản xuất khác.

Tiêu chuẩn hiệu quả kinh tế sử dụng đất NLN phải gắn liền với hiệu quả kinh

tế xã hội của các chủ thể và ngành hàng trong nền kinh tế quốc dân Do vậy tiêuchuẩn hiệu quả sản xuất đất được đánh giá dựa trên quan điểm sử dụng đất tổng hợpbền vững dựa vào các chỉ tiêu đánh giá sau:

- Đảm bảo an ninh lương thực và tạo nhiều sản phẩm có giá trị hàng hoáđược thị trường chấp nhận, thúc đẩy sản xuất NLN phát triển, thực hiện tập trung vàchuyên canh hoá trong sản xuất

- Có thu nhập và khả năng sinh lợi cao Kiểm soát được xói mòn, bảo vệ vàduy trì độ phì của đất, tăng năng suất cây trồng, giữ được quỹ đất, nguồn nước, đadạng sinh học và tạo nhiều sản phẩm

- Không gây ảnh hưởng xấu đến cộng đồng, thu hút nguồn lao động, tạocông ăn việc làm, không làm tổn hai đến rừng phòng hộ, các hoạt động sản xuất- xãhội, tăng thu nhập và đảm bảo đời sống xã hội

Tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả sản xuất đất NLN phải đặt trong mối quan hệgiữa việc sử dụng loại đất này với các loại đất khác (dân cư nông thôn, đất ở đô thị,đất chuyên dùng) và sự phát triển chung của nền kinh tế xã hội

Việc đánh giá hiệu quả kinh tế sử dụng đất NLN phải gắn với đặc điểm vàtrình độ phát triển sản xuất trong từng thời kỳ Phải hiểu một cách đầy đủ bản chấtcủa hiệu quả kinh tế trong mối quan hệ với hiệu quả xã hội, môi trường, hiệu quảtrước mắt và lâu dài, hiệu quả toàn bộ và hiệu quả bộ phận

1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp

1.4.1 Yếu tố về điều kiện tự nhiên

a Vị trí địa lý, địa hình:

Vị trí địa lý có ảnh hưởng lớn đến bố trí sản xuất nói chung và có ảnh hưởngtrực tiếp tới sản xuất nông nghiệp (trồng trọt) nói riêng Sản xuất nông nghiệp vànhất là trồng trọt gắn liền với các điều kiện tự nhiên như đất, nước, khí hậu thời tiết,ngoài ra cũng cần có điều kiện thuận lợi cho đầu ra của sản phẩm trồng trọt Nếu vịtrí thuận lợi sẽ là điều kiện vô cùng quan trọng giúp phát triển trồng trọt theo hướngsản xuất hàng hóa

Trang 39

Nước ta là nước có khí hậu nhiệt đới gió mùa, nắng lắm mưa nhiều thuận lợicho việc trồng các loại cây nhiệt đới, ôn đới, diện tích đất đai màu mỡ được bồi đắphàng năm do có các hệ thống sông Mặt khác, nước ta nằm trong cửa ngõ giao lưukinh tế giữa các nước châu Á, châu Âu, có nhiều cảng biển dễ dàng cho việc giaolưu trao đổi hàng hóa, nhất là hàng hóa nông sản

b Chất lượng đất:

Sản xuất nông nghiệp phải được tiến hành trên đất tốt mới có hiệu quả Tuy

nhiên, để hình thành đất với độ phì nhiêu cần thiết cho canh tác nông nghiệp phảitrải qua hàng nghìn năm, thậm chí hàng vạn năm Vì vậy, mỗi khi sử dụng đất đangsản xuất nông nghiệp nói chung và đất cho trồng trọt nói riêng cần cân nhắc kỹ đểkhông rơi vào tình trạng chạy theo lợi ích trước mắt mà làm không chú ý đến mụctiêu phát triển trong tương lai

c Khí hậu - thời tiết:

Thời tiết là trạng thái khí quyển đặc trưng bởi một tập hợp các yếu tố khí tượngquan trắc được trong một thời điểm hoặc 1 khoảng thời gian ngắn nhất định Sự kếthợp các trị số của các yếu tố khí tượng rất khác nhau, ngoài ra nó biến thiên liên tục vàđột ngột theo thời gian Vì vậy, thời tiết có biểu hiện muôn hình muôn vẻ

Việt Nam nằm trên vòng cung Châu Á- Thái Bình Dương, là nơi gặp gỡ củacác luồng gió mùa với gió phơn tây nam nên tính chất gió mùa thể hiện rõ rệt: khắptrong nước có 2 mùa , mùa mưa có lượng mưa chiếm 80-85% lượng mưa cả năm,mùa khô ít mưa thủy triều xâm nhập sâu vào châu thổ nên đất bị nhiễm mặn, gâykhó khăn cho hoạt động sản xuất nông nghiệp Điều này cũng ảnh hưởng lớn đếnviệc lựa chọn giống cây trồng phù hợp với từng miền, từng vùng lãnh thổ, theo từngmùa khác nhau Mặc dù mưa lặp đi lặp lại theo từng năm nhưng những năm gần đâycũng có những biến đổi thất thường không giống nhau làm ảnh hưởng đến năng suấtcủa cây trồng Nếu thời tiết thuận lợi, mưa nắng điều hòa thì năng suất chất lượngcủa nông sản thu hoạch tăng và ngược lại một số hiện tượng thời tiết gây bất lợi chosản xuất của ngành trồng trọt:

- Hiện tượng bão: Khi thời tiết chuyển từ mùa hè sang mùa đông lạnh và mùa

hè là thời gian thường có những trận mưa lớn kèm theo những trận gió xoáy, gió lốcgây thiệt hại không nhỏ cả về con người lẫn vật chất như các công trình xây dựng

Trang 40

nơi cơn bão đi qua, vật nuôi chết, các loại cây lương thực có thể sẽ không cho thuhoạch hoặc thu hoạch rất ít, chất lượng kém.

- Rét đậm rét hại và sương muối: Mùa đông lạnh kèm theo là sương muối,đây là hiện tượng thời tiết phổ biến ở vùng trung du miền núi phía Bắc Rét đậm réthại và sương muối khiến cho các loại cây lương thực dễ bị chết, nhất là mạ mớigieo, năng suất các cây ăn quả giảm

1.4.2 Yếu tố về kinh tế - xã hội.

a Vốn đầu tư:

Vốn đầu tư cho nông nghiệp là điều kiện không thể thiếu được để thực hiệnquá trình sản xuất kinh doanh trong lĩnh vực nông nghiệp, vì vậy, vai trò của vốnđầu tư là rất quan trọng đối với sự phát triển nông nghiệp, cũng như đối với hiệuquả sử dụng đất, nó thể hiện:

+ Nông nghiệp đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế quốc dân, ngànhnông nghiệp là ngành sản xuất phụ thuộc nhiều vào điều kiện tự nhiên, có tính rủi rocao Trong điều kiện nền kinh tế thi trường, người sản xuất sẽ tập trung vào đầu tưcác ngành có lợi nhuận cao Ngành nông nghiệp là ngành có lợi nhuận thấp rủi rocao sẽ ít được chú ý quan tâm Bởi thế, muốn cho ngành nông nghiệp phát triểnnhanh cần có sự đầu tư hợp lý

+ Đầu tư cho nông nghiệp còn góp phần giải quyết các vấn đề của xă hộinhư: tạo công ăn việc làm cho người lao động, xóa đói giảm nghèo, nâng cao hiệuquả các chính sách của nhà nước Hoạt động đầu tư là điều kiện cần thiết cho sựphát triển của sản xuất nông nghiệp nói chung và ngành trồng trọt nói riêng Đầu tưcho trồng trọt như cây giống, phân bón còn góp phần làm tăng độ mầu mỡ của đất,theo đó cũng tăng năng suất cây trồng

b Lao động:

Nguồn lực lao động là lực lượng sản xuất quan trọng nhất của xă hội, nguồn laođộng trong nông nghiệp là tổng thể sức lao động tham gia vào hoạt động sản xuất nôngnghiệp, bao gồm số lượng và chất lượng người lao động Số lượng người lao độngtrong ngành trồng trọt là số người tham gia vào tất cả các hoạt động sản xuất trongngành trồng trọt bao gồm những người trong độ tuổi lao động (15-60 tuổi) Chất lượngngười lao động thể hiện trình độ học vấn của người lao động Nếu như người lao động

Ngày đăng: 11/10/2014, 18:01

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
25. Trần Công Tấu (2002), tài nguyên đất, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội 26. Thông báo số 100/TB-TU ngày 25 tháng 11 năm 1991 của Ban Thường vụtỉnh ủy Hà Nam Ninh về đổi mới tổ chức qản lý HTX nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: tài nguyên đất
Tác giả: Trần Công Tấu
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2002
27. Chu Mạnh Tuấn (2007), Nghiên cứu quá trình dồn điền đổi thửa và tác động của nó đến hiệu quả sử dụng đất của hộ nông dân huyện ứng Hoà, tỉnh Hà Tây, Luận văn thạc sĩ nông nghiệp, Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu quá trình dồn điền đổi thửa và tác độngcủa nó đến hiệu quả sử dụng đất của hộ nông dân huyện ứng Hoà, tỉnh Hà Tây,Luận văn thạc sĩ nông nghiệp
Tác giả: Chu Mạnh Tuấn
Năm: 2007
28. Tổng cục địa chính (1998), Hội nghị chuyên đề về chuyển đổi ruộng đất nông nghiệp khắc phục tình trạng manh mún trong sản xuất năm 1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hội nghị chuyên đề về chuyển đổi ruộng đất nông nghiệp khắc phục tình trạng manh mún trong sản xuất năm 1998
Tác giả: Tổng cục địa chính
Năm: 1998
31. Hoàng Xuân Tý (1998), Kiến thức bản địa của đồng bào vùng cao trong nông nghiệp và quản lý tài nguyên thiên nhiên, NXB Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kiến thức bản địa của đồng bào vùng cao trong nôngnghiệp và quản lý tài nguyên thiên nhiên
Tác giả: Hoàng Xuân Tý
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 1998
21 Phòng Tài nguyên &amp; Môi trường huyện Kim Bảng, Báo cáo thống kê đất đai, năm 2012 Khác
22 Phòng Thống kê huyện Kim Bảng, Niên giám thống kê các năm từ 2000- 2012 Khác
23 Quyết định số 115/QĐ-UB ngày 15 tháng 02 năm 1992 của ủy ban nhân dân tỉnh Hà Nam Ninh về giao đất nông nghiệp ổn định cho hộ nông dân, hướng dẫn của Chi cục quản lý đất đai tỉnh Hà Nam Ninh ngày 01/6/1992 Khác
24. Tài liệu tập huấn (1998) phát triển nông nghiệp và nông thôn theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá (tập I -II), NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội Khác
29. Tổng cục địa chính (1997), Báo cáo thực trạng tình hình manh mún ruộng đất Khác
30. Tổng cục thống kê,2006 Kết quả điều tra nông thôn, nông nghiệp và thuỷ sản năm 2005 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.1  Thay đổi quy mô đất nông nghiệp ở nông hộ (%) - THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ  SỬ DỤNG ĐẤT SAU KHI DỒN ĐIỀN ĐỔI THỬA  Ở HUYỆN KIM BẢNG TỈNH HÀ NAM
Bảng 1.1 Thay đổi quy mô đất nông nghiệp ở nông hộ (%) (Trang 15)
Bảng 3.1  Kết quả dồn điền đổi thửa ở huyện Kim Bảng - THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ  SỬ DỤNG ĐẤT SAU KHI DỒN ĐIỀN ĐỔI THỬA  Ở HUYỆN KIM BẢNG TỈNH HÀ NAM
Bảng 3.1 Kết quả dồn điền đổi thửa ở huyện Kim Bảng (Trang 42)
Bảng 3.2 Kết quả thực hiện dồn đổi nhóm thửa ở huyện Kim Bảng - THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ  SỬ DỤNG ĐẤT SAU KHI DỒN ĐIỀN ĐỔI THỬA  Ở HUYỆN KIM BẢNG TỈNH HÀ NAM
Bảng 3.2 Kết quả thực hiện dồn đổi nhóm thửa ở huyện Kim Bảng (Trang 43)
Bảng 3.3  Thực trạng manh mún ruộng đất tại các xã nghiên cứu trước khi thực hiện dồn điền đổi thửa (theo bình quân diện tích; số thửa/hộ) - THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ  SỬ DỤNG ĐẤT SAU KHI DỒN ĐIỀN ĐỔI THỬA  Ở HUYỆN KIM BẢNG TỈNH HÀ NAM
Bảng 3.3 Thực trạng manh mún ruộng đất tại các xã nghiên cứu trước khi thực hiện dồn điền đổi thửa (theo bình quân diện tích; số thửa/hộ) (Trang 44)
Bảng 3.6  Một số kết quả chính sau dồn điền đổi thửa ở các xã nghiên cứu - THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ  SỬ DỤNG ĐẤT SAU KHI DỒN ĐIỀN ĐỔI THỬA  Ở HUYỆN KIM BẢNG TỈNH HÀ NAM
Bảng 3.6 Một số kết quả chính sau dồn điền đổi thửa ở các xã nghiên cứu (Trang 46)
Bảng 3.5  Một số kết quả chính sau dồn điền đổi thửa ở các xã nghiên cứu - THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ  SỬ DỤNG ĐẤT SAU KHI DỒN ĐIỀN ĐỔI THỬA  Ở HUYỆN KIM BẢNG TỈNH HÀ NAM
Bảng 3.5 Một số kết quả chính sau dồn điền đổi thửa ở các xã nghiên cứu (Trang 46)
Bảng 3.7 So sánh một số chỉ tiêu trước và sau dồn điền đổi thửa - THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ  SỬ DỤNG ĐẤT SAU KHI DỒN ĐIỀN ĐỔI THỬA  Ở HUYỆN KIM BẢNG TỈNH HÀ NAM
Bảng 3.7 So sánh một số chỉ tiêu trước và sau dồn điền đổi thửa (Trang 48)
Bảng 3.8. Bình quân diện tích đất SXNN trên khẩu trước và sau CĐRĐ - THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ  SỬ DỤNG ĐẤT SAU KHI DỒN ĐIỀN ĐỔI THỬA  Ở HUYỆN KIM BẢNG TỈNH HÀ NAM
Bảng 3.8. Bình quân diện tích đất SXNN trên khẩu trước và sau CĐRĐ (Trang 50)
Bảng 3.9. Diện tích đất giao thông, thuỷ lợi sau CĐRĐ tăng - THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ  SỬ DỤNG ĐẤT SAU KHI DỒN ĐIỀN ĐỔI THỬA  Ở HUYỆN KIM BẢNG TỈNH HÀ NAM
Bảng 3.9. Diện tích đất giao thông, thuỷ lợi sau CĐRĐ tăng (Trang 51)
Hình 3.2 Sau dồn đổi ruộng đất cơ giới hóa đưa vào phục vụ SXNN - THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ  SỬ DỤNG ĐẤT SAU KHI DỒN ĐIỀN ĐỔI THỬA  Ở HUYỆN KIM BẢNG TỈNH HÀ NAM
Hình 3.2 Sau dồn đổi ruộng đất cơ giới hóa đưa vào phục vụ SXNN (Trang 53)
Bảng 3.10 Quyết định đầu tư máy móc sau khi dồn điền đổi thửa - THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ  SỬ DỤNG ĐẤT SAU KHI DỒN ĐIỀN ĐỔI THỬA  Ở HUYỆN KIM BẢNG TỈNH HÀ NAM
Bảng 3.10 Quyết định đầu tư máy móc sau khi dồn điền đổi thửa (Trang 54)
Bảng 3.11 Tác động về mức cơ giới hoá sau đồn điền đổi thửa - THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ  SỬ DỤNG ĐẤT SAU KHI DỒN ĐIỀN ĐỔI THỬA  Ở HUYỆN KIM BẢNG TỈNH HÀ NAM
Bảng 3.11 Tác động về mức cơ giới hoá sau đồn điền đổi thửa (Trang 54)
Bảng 3.14. Hiệu quả kinh tế sử dụng đất một số cây trồng chính của ba xã nghiên cứu (Theo giá hiện hành) - THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ  SỬ DỤNG ĐẤT SAU KHI DỒN ĐIỀN ĐỔI THỬA  Ở HUYỆN KIM BẢNG TỈNH HÀ NAM
Bảng 3.14. Hiệu quả kinh tế sử dụng đất một số cây trồng chính của ba xã nghiên cứu (Theo giá hiện hành) (Trang 58)
Bảng 3.15  Mức độ đầu tư, chi phí của các hộ trên 1 sào lúa trước và sau dồn điền đổi thửa - THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ  SỬ DỤNG ĐẤT SAU KHI DỒN ĐIỀN ĐỔI THỬA  Ở HUYỆN KIM BẢNG TỈNH HÀ NAM
Bảng 3.15 Mức độ đầu tư, chi phí của các hộ trên 1 sào lúa trước và sau dồn điền đổi thửa (Trang 59)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w