Quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở Việt Nam đang diễn ra mạnh mẽ trong những năm gần đây. Trong quá trình đó chúng ta đã và đang triển khai nhiều dự án với các mục tiêu phát triển các khu công nghiệp, xây dựng cơ sở hạ tầng, xây dựng các khu đô thị mới...
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI
- -NGUYỄN HỮU HIỆU
ĐÁNH GIÁ VIỆC THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH BỒI THƯỜNG GIẢI PHÓNG MẶT BẰNG
Ở MỘT SỐ DỰ ÁN TẠI HUYỆN HIỆP HOÀ, TỈNH BẮC GIANG
LUẬN VĂN THẠC SĨ
HÀ NỘI, 2013
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI
- -NGUYỄN HỮU HIỆU
ĐÁNH GIÁ VIỆC THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH BỒI THƯỜNG GIẢI PHÓNG MẶT BẰNG
Ở MỘT SỐ DỰ ÁN TẠI HUYỆN HIỆP HOÀ, TỈNH BẮC GIANG
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS TS NGUYỄN XUÂN THÀNH
HÀ NỘI, 2013
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu do tôi trực tiếp thựchiện cùng với sự hướng dẫn của PGS.TS Nguyễn Xuân Thành - Trường Đạihọc Nông nghiệp Hà Nội Các số liệu và kết quả trong luận văn là trung thực
và chưa từng được công bố trong bất kỳ một công trình nào khác Tôi camđoan rằng các thông tin, trích dẫn trong luận văn đó được chỉ dẫn nguồn gốc
và nghiên cứu đầy đủ Nếu sai tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm
Tác giả luận văn
Nguyễn Hữu Hiệu
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Từ khi nhận đề tài cho đến khi hoàn thành đề tài ngoài sự cố gắng nỗlực của bản thân tôi còn nhận được sự đóng góp, giúp đỡ tận tình của nhiềutập thể và cá nhân
Trước hết, tôi xin trân trọng cảm ơn PGS.TS Nguyễn Xuân Thành Giảng viên trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội đã tận tình, trực tiếp hướngdẫn chỉ bảo tôi trong suốt thời gian thực hiện đề tài
-Tôi xin cảm ơn sự đóng góp ý kiến chân thành của các thầy, cô giáoKhoa Tài nguyên và Môi trường - Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội đãtạo điều kiện thuận lợi cho tôi thực hiện và hoàn thành đề tài
Tôi xin chân thành cảm ơn Phòng Tài nguyên và Môi trường huyệnHiệp Hoà, Trung tâm Phát triển quỹ đất & Cụm Công nghiệp huyện HiệpHoà, Phòng Tài chính huyện, UBND xã Mai Đình, UBND xã Hợp Thịnh,UBND xã Đại Thành, UBND xã Mai Trung, UBND Thị trấn Thắng, cùng bàcon đã giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện đề tài
Một lần nữa tôi xin trân trọng cảm ơn!
Tác giả luận văn
Nguyễn Hữu Hiệu
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN I LỜI CẢM ƠN II MỤC LỤC III DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT VI DANH MỤC BẢNG VII DANH MỤC CÁC HÌNH, ẢNH VIII
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục đích và yêu cầu 2
2.1 Mục đích 2
2.2 Yêu cầu 2
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 3
1.1 Bản chất của công tác bồi thường, GPMB 3
1.2 Chính sách bồi thường, hỗ trợ và TĐC của các tổ chức tài trợ và một số nước trên Thế giới 4
1.2.1 Chính sách bồi thường, hỗ trợ và GPMB của một số nước trên thế giới 4
1.2.2 Chính sách bồi thường thiệt hại và TĐC của các tổ chức tài trợ (Ngân hàng thế giới và Ngân hàng phát triển Châu Á) 8
1.3 Chính sách bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất ở Việt Nam và ở tình Bắc Giang 9
1.3.1 Những văn bản pháp quy của Nhà nước về đất đai 10
1.3.2 Một số văn bản về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất sử dụng vào mục đích an ninh quốc phòng, lợi ích Quốc gia, lợi ích công cộng 13
1.4 Thực tiễn bồi thường giải phóng mặt bằng ở Việt Nam 20
1.4.1 Phương án bồi thường 20
1.4.2 Chính sách hỗ trợ 21
1.4.3 Diện tích đất bồi thường, giá đất bồi thường 21
1.4.4 Bồi thường về tài sản, cây cối, hoa màu gắn liền với đất bị thu hồi 22
1.4.5 Tái dịnh cư và cơ sở hạ tầng khu tái định cư 22
1.4.6 Trình độ hiểu biết pháp Luật Đất đai và bồi thường giải phóng mặt bằng 23
1.5 Khái quát thực trạng công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng của tỉnh Bắc Giang 23
CHƯƠNG 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 25
2.1 Đối tượng nghiên cứu 25
2.2 Nội dung nghiên cứu 25
2.2.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang 25
2.2.2 Điều tra đánh giá việc thực hiện chính sách bồi thường giải phóng mặt bằng của 3 dự án trọng điểm trên địa bàn huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang 25
2.2.3 Đánh giá tổng hợp chung của 3 dự án trên địa bàn huyện Hiệp Hòa 25
Trang 62.2.4 Đề xuất một số giải pháp nhằm bổ sung chính sách bồi thường thiệt hại khi Nhà nước thu hồi đất
đai giải phóng mặt bằng trên địa bàn huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang 25
2.3 Phương pháp nghiên cứu 26
2.3.1 Phương pháp điều tra khảo sát 26
2.3.2 Phương pháp điều tra phỏng vấn trực tiếp người dân (theo phiếu điều tra PA) 26
2.3.3 Phương pháp thống kê, tổng hợp số liệu 26
2.3.4 Phương pháp phân tích số liệu và xử lý số liệu 26
2.3.5 Phương pháp chuyên gia: phương pháp này tranh thủ ý kiến của các chuyên gia trong lĩnh vực chuyên môn, để đưa ra các giải pháp tối ưu phù hợp với tình hình thực tế tại địa phương 26
2.3.6 Phương pháp phân tích, tổng hợp, có sử dụng các phần mêm hỗ trợ như: Excel, microstation, mapinfo 26
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 27
3.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội 27
3.1.1 Điều kiện tự nhiên 27
3.1.2 Điều kiện Kinh tế - xã hội 33
3.2 Một số nội dung Quản lý đất đai của huyện Hiệp Hoà từ năm 2003 đến nay 41
3.2.1 Tình hình đo đạc lập bản đồ địa chính 42
3.2.2 Lập quy hoạch, Kế hoạch sử dụng đất 42
3.2.3 Công tác cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất 42
3.2.4 Công tác thanh tra giải quyết khiếu nại, tố cáo về đất đai 42
3.3 Tình hình chung về công tác bồi thường thiệt hại khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn huyện Hiệp Hoà - tỉnh Bắc Giang 43
3.4 Giới thiệu về ba dự án và các văn bản pháp lý liên quan đế ba dự án 44
3.4.1 Dự án xây dựng công viên trung tâm huyện Hiệp Hoà - Dự án 1 44
3.4.2 Dự án xây dựng trạm biến áp 500 Kv Sơn La - Hiệp Hoà - Dự án 2 45
3.4.3 Dự án xây dựng cầu Đông Xuyên - Hiệp Hoà - Dự án 3 46
3.4.4 Các văn bản pháp lý có liên quan đến bồi thường, hỗ trợ tại ba dự án 46
3.5 Đánh giá việc thực hiện chính sách bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất tại ba dự án nghiên cứu 48
3.5.1 Xác định đối tượng, điều kiện được bồi thường hỗ trợ về đất 48
3.5.2 Kết quả điều tra, xác định các đối tượng và điều kiện được bồi thường ở ba dự án nghiên cứu 51
3.5.3 Bồi thường, hỗ trợ về đất, tài sản, công trình, vật nuôi trên đất 54
3.5.4 Kết quả thực hiện bồi thường, hỗ trợ về đất và tài sản, công trình trên đất ở ba dự án 58
3.5.5 Chính sách hỗ trợ 58
3.5.6 Kết quả thực hiện các khoản hỗ trợ của ba dự án 62
3.5.7 Chính sách TĐC 63
3.5.8 Đánh giá chung kết quả đạt được và những tồn tại của ba dự án, giải pháp thực hiện 63
3.6 Tác động của việc thực hiện chính sách bồi thường giải phóng mặt bằng đến đời sống và việc làm của các hộ dân bị thu hồi đất 66
3.6.1 Tình hình chung về bồi thường, hỗ trợ 66
3.6.2 Kết quả chi tiết điều tra, phỏng vấn các hộ dân về tình hình thu hồi đất, bồi thường và hỗ trợ tại 03 dự án nghiên cứu 67
3.6.3 Tình hình việc làm của người dân sau khi thu hồi đất 69
3.7 Đề xuất các giải pháp nhằm thực hiện tốt chính sách bồi thường, giải phóng mặt bằng khi Nhà nước thu hồi đất 72
3.7.1 Giải pháp về chính sách 72
3.7.2 Giải pháp về đào tạo nghề, việc làm, tăng thu nhập, ổn định cuộc sống cho người có đất bị thu hồi 72
3.7.3 Giải pháp về tổ chức thực hiện 73
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 76
1 Kết luận 76
- Về giá bồi thường đất: 76
2 Đề nghị 77
Trang 7TÀI LIỆU THAM KHẢO 79
Trang 8DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
BNNPTNT Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thônBTNMT Bộ Tài nguyên và Môi trường
CBCNV Cán bộ công nhân viên
CNH, HĐH Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
GCNQSDĐ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
Trang 9DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1 Phân loại thổ nhưỡng huyện Hiệp Hòa 29
Bảng 3.2 Hiện trạng sử dụng đất năm 2012 30
Bảng 3.3 Thời tiết khí hậu huyện Hiệp Hoà trung bình từ nãm 1999 - 2012 31
Bảng 3.4 Điều kiện Kinh tế - Xã hội của huyện từ 2010 - 2012 33
Bảng 3.5 Giá trị sản xuất ngành nông nghiệp qua các năm 35
Bảng 3.6 Bảng giá đất nông nghiệp năm 2012 55
Bảng 3.7 Bảng giá đất ở ven một số trục đường tại thị trấn Thắng năm 2010 56
Bảng 3.8 Kết quả bồi thường, hỗ trợ về đất 3 dự án nghiên cứu 58
Bảng 3.9 Bồi thường thiệt hại cây trồng, vật kiến trúc 3 dự án 58
Bảng 3.10 Kết quả thực hiện chính sách hỗ trợ trong bồi thường, giải phóng mặt bằng 3 dự án 62
Bảng 3.11 Phương thức sử dụng tiền bồi thường hỗ trợ của các hộ dân thuộc dự án 1 67
Bảng 3.12 Phương thức sử dụng tiền bồi thường hỗ trợ của các hộ dân thuộc dự án 3 (số tiền được làm tròn số) 68
Bảng 3.13 Phương thức sử dụng tiền bồi thường hỗ trợ của các hộ dân thuộc dự án 3 (số tiền được làm tròn số) 69
Bảng 3.14 Trình độ văn hoá, chuyên môn của số người trong độ tuổi lao động tại 03 dự án nghiên cứu 71
Trang 10DANH MỤC CÁC HÌNH, ẢNH
Hình 3.1: Bản đồ hành chính Huyện Hiệp Hoà 28
Hình 3.2 Cơ cấu sử dụng đất huyện Hiệp Hòa năm 2012 31
Hình 3.3 Cơ cấu kinh tế huyện Hiệp Hoà năm 2012 34
Hình 3.4 Cơ cấu lao động phân theo ngành kinh tế 37
Ảnh 3.1: Khu Trung tâm Tượng đài 44
Ảnh 3.2: Công nhân trên công trình của dự án 2 45
Ảnh 3.3: Lễ khởi công xây dựng cầu Đông Xuyên - xã Mai Đình 46
Trang 11ĐẶT VẤN ĐỀ
1 Tính cấp thiết của đề tài
Quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở Việt Nam đang diễn ra mạnh
mẽ trong những năm gần đây Trong quá trình đó chúng ta đã và đang triểnkhai nhiều dự án với các mục tiêu phát triển các khu công nghiệp, xây dựng
cơ sở hạ tầng, xây dựng các khu đô thị mới
Để triển khai được các dự án này chúng ta buộc phải sử dụng tới quỹđất khác nhau như đất sản xuất nông nghiệp, đất ở, đất sản xuất kinhdoanh Do vậy việc thực hiện chuyển đổi mục đích sử dụng của một bộ phậnquỹ đất hiện nay vào việc triển khai các dự án như nói trên đang diễn ra ngàymột nhiều hơn theo yêu cầu của phát triển cơ sở hạ tầng cho CNH, HĐH vàĐTH nền kinh tế
Việc đẩy nhanh quá trình CNH, HĐH, ĐTH sẽ đòi hỏi phải xây dựngnhiều loại kết cấu hạ tầng như: Đường giao thông, cầu cống, hệ thống thôngtin, kho tàng, bến bãi Quỹ đất dành vào các mục đích này sẽ ngày càngnhiều và lớn hơn khi các cơ sở hạ tầng quy mô lớn được triển khai
Việc chuyển đổi mục đích từ đất nông nghiệp sang đất phi nông nghiệp
mà đặc biệt là đất chuyên dùng đang là vấn đề bức xúc được nhiều cơ quanquản lý Nhà nước về đất đai và người dân quan tâm
Trên thực tế việc chuyển quỹ đất vào triển khai các dự án không đơngiản, vì nó tác động đến nhiều vấn đề liên quan đến cuộc sống của người bịthu hồi đất Có thể nói đây là một thách thức rất lớn đối với việc triển khai các
dự án hiện nay, đòi hỏi chúng ta phải giải quyết hàng loạt các vấn đề liênquan đến người bị thu hồi đất như: Đời sống, việc làm
Hiệp Hòa là một huyện trung du thuộc tỉnh Bắc Giang Cách trung tâmthành phố Bắc Giang khoảng 30km về phía Nam Trong những năm hiện nay,hòa chung với quá trình CNH, HĐH, ĐTH của cả nước, Hiệp Hòa cũng đang
Trang 12đi lên CNH, HĐH, ĐTH với những nét riêng của mình Tuy quá trình CNH,HĐH, ĐTH diễn ra còn chưa thật sự mạnh mẽ, nhưng cũng đã có nhiều dự án
đã và đang được triển khai với để phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế, để pháttriển khu công nghiệp, phát triển khu dân cư Để thực hiện được các dự án
đó, UBND huyện Hiệp Hòa đã tiến hành phối hợp với các cơ quan, tổ chức cóliên quan tiến hành công tác GPMB GPMB luôn là công tác hết sức phức tạp
và khó khăn Nhiều mâu thuấn, vướng mắc đã phát Đơn thư, khiếu nại về vấn
đề GPMB ngày một nhiều và trở thành vấn đề bức xúc mà chưa có lời đápcho lãnh đạo UBND huyện Hiệp Hòa
Xuất phát từ điều kiện thực tiễn trên, tôi tiến hành thực hiện đề tài:
''Đánh giá việc thực hiện chính sách bồi thường giải phóng mặt bằng khi nhà nước thu hồi đất một số dự án huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang''
2 Mục đích và yêu cầu
2.1 Mục đích
- Đánh giá việc thực hiện chính sách bồi thường giải phóng mặt bằngkhi Nhà nước thu hồi đất ở 3 dự án trọng điểm (Xây dựng công viên trungtâm; Xây dựng trạm biến áp 500 Kv; Xây dựng cầu Đông Xuyên) huyện HiệpHòa - tỉnh Bắc Giang;
- Đề xuất một số giải pháp góp phần giải quyết những tồn tại, khó khăntrong quá trình thực hiện bồi thường, giải phóng mặt bằng tại huyện Hiệp Hòa -tỉnh Bắc Giang
2.2 Yêu cầu
Chỉ ra được những khó khăn, yếu tố hạn chế trong quá trình triển khaicông tác giải phóng mặt bằng tại địa điểm nghiên cứu để làm căn cứ kiến nghịđiều chỉnh chính sách giải phóng mặt bằng của Nhà nước các cấp
Trang 13Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU
1.1 Bản chất của công tác bồi thường, GPMB
Theo từ điển tiếng Việt thì: "Bồi thường" hay “đền bù” có nghĩa là trả lạitương xứng giá trị hoặc công lao cho một chủ thể nào đó bị thiệt hại vì mộthành vi của chủ thể khác “GPMB” có nghĩa là di dời, di dân đi nơi khác đểlấy mặt bằng xây dựng công trình [21]
Điều này có nghĩa là:
+ Không phải mọi khoản đều bồi thường bằng tiền
+ Sự mất mát của người bị thu hồi đất không chỉ là về mặt vật chất mànhiều trường hợp còn mất mát cả về tinh thần nhất là khi phải tái định cư.+ Về mặt hành chính thì đây là một quá trình không tự nguyện, có tínhcưỡng chế và vốn là điều hoà sự "hi sinh" không chỉ là một sự bồi thườngngang giá tuyệt đối
Việc bồi thường có thể vô hình (xin lỗi) hoặc hữu hình (bồi thường bằngtiền, bằng vật chất khác), có thể do các quy định của pháp luật điều tiết, hoặc
do thỏa thuận giữa các chủ thể
Trên thực tế, ngoài các khoản bồi thường nói trên thì có một hình thứcbồi thường khác gọi là việc hỗ trợ
Bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất để sử dụng vào mục đích an ninhquốc phòng, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng, mục đích phát triển kinh tếđược quy định tại điều 36 Nghị định 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 vàcác văn bản hướng dẫn như Nghị định số 197/2004/NĐ-CP ngày 03/12/2004của Chính phủ Từ đó có thể hiểu bản chất của công tác bồi thường, GPMBtrong tình hình hiện nay không đơn thuần là bồi thường về mặt vật chất màcòn phải đảm bảo được lợi ích của người dân phải di chuyển Đó là họ phải có
Trang 14được chỗ ở ổn định, có điều kiện sống bằng hoặc tốt hơn nơi ở cũ, được hỗtrợ ổn định đời sống sản xuất, hỗ trợ đào tạo chuyển đổi nghề nghiệp để tạođiều kiện cho người dân sống và ổn định
1.2 Chính sách bồi thường, hỗ trợ và TĐC của các tổ chức tài trợ và một số nước trên Thế giới
1.2.1 Chính sách bồi thường, hỗ trợ và GPMB của một số nước trên thế giới
Với những đặc thù về quan hệ đất đai, nhiều nước trên thế giới cố gắngkhông ngừng trong việc hoàn thiện chính sách pháp luật trong đó có chínhsách về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư, đặc biệt các nỗ lực trong việc khôiphục cuộc sống và khôi phục nguồn thu nhập cho người bị ảnh hưởng Từkinh nghiệm lý thuyết và thực tế cho thấy, các yếu tố đảm bảo cho bồithường, hỗ trợ và TĐC thành công là những chính sách phù hợp của Chínhphủ, nguồn tài chính đầu tư, khâu tổ chức của chính quyền địa phương, trình
độ nhận thức và hiểu biết pháp luật của người dân, đồng thời phải có sự kiểmsoát, giám sát chặt chẽ của cơ quan quản lý Nhà nước Có thể nói nhữngthành công và thất bại của các nước mà chúng ta có thể rút ra được những bàihọc quý giá
1.2.1.1 Trung Quốc
Có thể thấy rằng Luật Đất đai của Trung Quốc có nhiều nét tương đồngvới Luật Đất đai của Việt Nam Tuy nhiên nhìn về tổng thể, Trung Quốc làmột nước khá thành công trong việc thực hiện công tác bồi thường và TĐC.Nguyên nhân chính của sự thành công đó là do nước này có một hệ thốngpháp luật nói chung và pháp Luật Đất đai nói riêng rất đầy đủ, chi tiết đồng
bộ, phù hợp với công tác quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất năng động, khoahọc Cùng với một Nhà nước pháp quyền vững chắc, năng lực thể chế củachính quyền địa phương theo thẩm quyền có hiệu lực cao, người dân có ýthức chấp hành pháp luật nghiêm minh Bên cạnh đó việc sử dụng đất đai tại
Trang 15Trung Quốc thực sự tiết kiệm, Nhà nước Trung Quốc hoàn toàn cấm việc muabán chuyển nhượng đất đai Do vậy thị trường đất đai gần như không tồn tại
mà chỉ có thị trường nhà cửa Trung Quốc xây dựng chính sách và các thủ tụcrất chi tiết ràng buộc hoạt động TĐC với nhiều lĩnh vực khác nhau, trong đómục tiêu của chính sách này là cung cấp cơ hội cho TĐC thông qua cách tiếpcận cơ bản nơi ở ổn định, tạo nguồn lực sản xuất cho người thuộc diện bồithường và tái định cư Về phương thức bồi thường, Nhà nước thông báo chongười sử dụng đất biết trước việc họ sẽ bị thu hồi đất trong thời hạn một năm.Người dân có quyền lựa chọn các hình thức bồi thường, bằng tiền hoặc nhàtại khu ở mới Giá bồi thường theo tiêu chuẩn giá thị trường Nhưng đồng thờiđược Nhà nước quy định cho từng khu vực và điều chỉnh rất linh hoạt chophù hợp với thực tế Đối với các dự án phải bồi thường GPMB thì kế hoạchTĐC chi tiết được chuẩn bị trước khi thông qua dự án cùng với việc dàn xếpkinh tế, khôi phục cho từng địa phương từng hộ gia đình và từng người bị ảnhhưởng [1]
1.2.1.2 Thái Lan
Luật Đất đai Thái Lan cho phép hình thức sở hữu cá nhân với đất đai, vìvậy khi Nhà nước hoặc các tổ chức lấy đất thì đều phải có sự thỏa thuận về sửdụng đất giữa chủ dự án và chủ đang sử dụng khu đất đó (chủ sở hữu) trên cơ
sở một hợp đồng
Năm 1987 Thái Lan ban hành luật về trưng dụng bất động sản áp dụngcho việc trưng dụng đất phục vụ vào các mục đích xây dựng các công trìnhcông cộng, an ninh quốc phòng Luật BE 2530 quy định những nguyên tắc thuhồi đất, nguyên tắc tính giá trị bồi thường các loại tài sản được bồi thường,trình tự lập dự án, duyệt dự án, lên kế hoạch bồi thường trình các cấp có thẩmquyền phê duyệt Luật còn quy định thủ tục thành lập các cơ quan, uỷ ban tínhtoán bồi thường TĐC, trình tự đàm phán, nhận tiền bồi thương, trình tự khiếunại, giải quyết khiếu nại, trình tự đưa ra toà án [2]
Trang 16Về giá đất làm căn cứ bồi thường thì căn cứ mức giá do một ủy ban củaChính phủ xác định trên cơ sở thực tế giá thị trường chuyển nhượng bất độngsản Qúa trình bồi thường chủ yếu bằng tiền mặt
Việc chuẩn bị khu TĐC được chính quyền Nhà nước quan tâm đúngmức, luôn đáp ứng đầy đủ các nhu cầu tái định cư, cho nên họ chủ động đượccông tác này
Việc tuyên truyền vận động đối với các đối tượng được di dời được thựchiện rất tốt, việc bố trí cán bộ có phẩm chất, năng lực phục vụ công tác bồithường, GPMB rất được quan tâm, các tổ chức chuyên trách thực hiện côngtác này
Sự thống nhất trong chỉ đạo điều hành giải quyết, sự phân côngnhiệm vụ rõ ràng, phân cấp rõ về trách nhiệm, sự phối hợp cao trong quátrình giải quyết vấn đề, cũng góp phần đẩy nhanh tiến độ thực hiện côngtác bồi thường, GPMB
1.2.1.3 Australia
Luật Đất đai của Australia quy định đất đai của quốc gia thuộc sở hữuNhà nước và sở hữu tư nhân Luật Đất đai bảo hộ tuyệt đối quyền lợi và nghĩavụ cảu chủ sở hữu đất đai Chủ sở hữu đất đai có quyền cho thuê, chuyểnnhượng, thế chấp, thừa kế theo di chúc mà không có sự cản trở nào, kể cả việctích luỹ đất đai Luật cũng quy định Nhà nước có quyền trưng thu đất tư nhân
để sử dụng vào mục đích công cộng, phục vụ phát triển kinh tế, xã hội và việctrưng thu đó gắn liền với việc Nhà nước thực hiện bồi thường
Theo Luật Accquisition Act 1989 của Australia có hai loại thu hồi đất,
đó là thu hồi đất bắt buộc và thu hồi đất tự nguyện
Thu hồi đất tự nguyện được tiến hành khi chủ đất cần được thu hồi đất.Trong thu hồi đất tự nguyện không có quy định đặc biệt nào được áp dụng màviệc thoả thuận đó là nguyên tắc cơ bản nhất Chủ có đất cần được thu hồi vàngười thu hồi đất sẽ thoả thuận giá bồi thường đất trên tinh thần đồng thuận
Trang 17và căn cứ vào thị trường Không có bên nào có quyền hơn bên nào trong thoảthuận và cũng không có bên nào được áp đặt đối via bên kia.
Thu hồi đất bặt buộc được Nhà nước Australia tiến hành khi Nhà nước
có nhu cầu sử dụng đất cho các mục đích cong cộng và các mục đích khác.Thông thường, Nhà nước thu hồi được đất thông qua đàm phán
Trình tự thu hồi đất bắt buộc được thực hiện như sau: Nhà nước gửicho các chủ đất một văn bản trong đó nêu rõ mục tiêu thu hồi đất vì các mụcđích công cộng Văn bản này gồm các nội dung chính như cơ quan muốn thuhồi đất, miêu tả chi tiết khu đất, mục đích sử dụng đất sau khi thu hồi và cácgiải thích vì sao mảnh đất đó phù hợp với mục tiêu công cộng đó Chủ sở hữumảnh đất có thể yêu cầu Bộ Tài chính và quản lý xem xét lại vấn đề thu hồiđất Nếu chủ sở hữu vẫn chưa hài lòng thì có thể tiếp tục yêu cầu Trọng tàiphúc thẩm hành chính phán xử Trọng tài phúc thẩm hành chính không thểxem xét tính đúng đắn của Chính phủ nhưng có thể xem xét các vấn đề liênquan khác Nhà nước thông báo rộng rãi quyết định thu hồi đất và chủ sở hữuđất phải thông báo cho bất kỳ ai muốn mua mảnh đất đó về quyết định thu hồiđất của Chính phủ Sau đó, Nhà nước sẽ ban hành quyết định thu hồi đất vàchủ sở hữu đất phải thông báo cho bất kỳ ai muốn mua mảnh đất đó về quyếtđịnh thu hồi đất Chủ sở hữu đất được thông báo khuyên tiến hành các thủ tụcyêu cầu bồi thường Chủ sở hữu thông thường được tiếp tục ở trên đất ít nhất
là 6 tháng sau khi đã có quyết định thu hồi đất Ngay say khi có quyết địnhthu hồi đất, chủ đất có thể yêu cầu Nhà nước bồi thường Nguyên tắc bồithường là công bằng và theo giá thị trường Thông thường các yếu tố sẽ đượctính toán trong quá trình bồi thường đó là giá trị thị trường, giá trị đặc biệt đốivới chủ sở hữu, các chi phí liên quan như chi phí di chuyển, chi phí TĐC.(28_LV Tâm)
Trang 181.2.2 Chính sách bồi thường thiệt hại và TĐC của các tổ chức tài trợ (Ngân hàng thế giới và Ngân hàng phát triển Châu Á)
Theo Ngân hàng thế giới (WB), Ngân hàng phát triển châu Á (ADB) vàcác tổ chức phi Chính phủ thì bản chất của việc bồi thường, hỗ trợ và tái định
cư khi Nhà nước thu hồi đất phục vụ mục đích an ninh quốc phòng, lợi íchquốc gia, lợi ích công cộng phải đồng thời đảm bảo lợi ích của những người
bị ảnh hưởng để họ có một cuộc sống tốt hơn trước về mọi mặt Trên tinhthần giảm thiểu đến mức thấp nhất các tác động của việc thu hồi đất có chínhsách thỏa đáng, phù hợp đảm bảo cho người bị thu hồi đất không gặp bất lợihay khó khăn trong cuộc sống Khắc phục cải thiện chất lượng cuộc sống,nguồn sống đối với người bị ảnh hưởng Để thực hiện được phương châm đóthì trong công tác bồi thường và TĐC phải nhìn nhận con người là trung tâmchứ không phải chính sách bồi thường vật chất Từ quan điểm đó chính sáchbồi thường công bằng là bồi thường ngang bằng với tình trạng như không có
dự án được sử dụng bằng giá thay thế, sao cho đời sống của người bị ảnhhưởng sau khi được bồi thường ít nhất phải đạt được ngang mức cũ của họnhư trước khi có dự án Tuy vậy các chính sách này cũng có những khác biệt
so với chính sách của Nhà nước Việt Nam như:
- Khái niệm hợp pháp hay không hợp pháp trong chính sách bồi thường,TĐC là một trong những khác biệt có khả năng gây ra những vấn đề xã hộilớn khi áp dụng chính sách TĐC của ADB Theo ADB và WB thì thiếu chứngthư hợp pháp về đất sẽ không ảnh hưởng tới bồi thường cho một số nhóm dân
bị ảnh hưởng và được mở rộng đối với cả đối tượng không bị thiệt hại về đất
và tài sản mà chỉ bị ảnh hưởng tới mặt tinh thần Ở Việt Nam trước kia chỉ bồithường cho những người có chứng thư hợp pháp nhưng ở Nghị định197/2004/NĐ-CP đó mở rộng hơn khái niệm hợp pháp, đồng thời có quy định
rõ ràng các trường hợp không được bồi thường về đất nếu xét thấy cần được
Trang 19hỗ trợ thì UBND cấp tỉnh ra quyết định đối với từng trường hợp có thể
- Theo chính sách của ADB thì việc bồi thường, hỗ trợ và TĐC bao giờcũng phải hoàn thành xong trước khi tiến hành công trình xây dựng, trong khi
ở Việt Nam chưa có quy định rõ ràng về thời hạn này (rất nhiều dự án về giảitỏa mặt bằng và triển khai thi công, chỗ nào GPMB xong thì thi công trướctránh lấn chiếm đất đai), do vậy, nhiều gia đình còn chưa kịp thời sửa chữa,xây dựng lại hoặc xây dựng nhà ở mới ổn định trước khi giải tỏa
- Quy định của ngân hàng ADB là không những phải thông báo đầy đủcác thông tin về dự án cũng như chính sách bồi thường, tái định cư của dự áncho các hộ dân mà còn tham khảo ý kiến và tìm mọi cách thỏa mãn các yêucầu chính đáng của họ trong suốt quá trình kế hoạch hóa cũng như thực hiệncông tác tái định cư ở Việt Nam, thực tế cho thấy việc thực hiện đầy đủ nộidung này là rất khó khăn, vì việc thu hồi đất là quyền của Nhà nước, nhưngviệc di chuyển theo kế hoạch như thế nào, TĐC ra sao hầu như không trả lờingay được
- Theo quy định của Ngân hàng ADB, ngoài giám sát nội bộ, cơ quanthực hiện dự án phải do một tổ chức bên ngoài giám sát độc lập để đảm bảonhững thông tin là khách quan Nhiệm vụ của cơ quan giám sát độc lập phảikiểm tra xem các hoạt động TĐC có được triển khai đúng không? Từ đó cónhững kiến nghị biện pháp giải quyết, sao cho công tác TĐC đạt được mụctiêu cuối cùng là giải quyết những vướng mắc nảy sinh
Các chính sách hiện hành tại Việt Nam chưa có quy định về giám sát độclập về TĐC Cho nên việc giám sát độc lập công tác TĐC là công tác khá mới
mẻ ở Việt Nam và ít cá nhân quen với công việc này
- Phạm vi ảnh hưởng của dự án phải quan tâm theo ADB là rất rộng còntheo chính sách hiện hành của Việt Nam thì vẫn còn hạn chế [20]
1.3 Chính sách bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất ở Việt Nam và ở tình Bắc Giang
Trang 201.3.1 Những văn bản pháp quy của Nhà nước về đất đai
Sau khi cách mạng tháng 8 thành công, chúng ta tiến hành xoá bỏ chiếmhữu ruộng đất của địa chủ, thiết lập quyền sở hữu ruộng đất cho nhân dân
Hiến pháp (Hiến pháp) năm 1959, Nhà nước thừa nhận tồn tại hình thức
sở hữu đất đai ở nước ta gồm có sở hữu Nhà nước, sở hữu tư nhân và sở hữutập thể Thời kỳ này quan hệ đất đai trong bồi thường chủ yếu là thỏa thuận,sau đó thống nhất giá trị bồi thường mà không cần cơ quan Nhà nước có thẩmquyền phê duyệt phương án bồi thường hay ban hành giá bồi thường
Nghị định 151/TTg ngày 15 tháng 04 năm 1959 của Thủ tướng Chính phủquy định thể lệ tạm thời về trưng dụng ruộng đất, là văn bản pháp quy đầu tiênliên quan đến việc bồi thường và TĐC bắt buộc ở Việt Nam Nghị định nàyquy định những nguyên tắc cơ bản trong việc trưng dụng ruộng đất của nhândân trong việc xây dựng những công trình do Nhà nước quản lý, đó là: "Đảmbảo kịp thời và đủ tiện ích cần thiết cho công trình xây dựng đồng thời chiếu cốđúng mức quyền lợi và đời sống của người có ruộng đất Những người córuộng đất được trưng dụng được bồi thường và trong trường hợp cần thiết đượcgiúp giải quyết công ăn việc làm " Có thể nói, những nguyên tắc cơ bản củaviệc bồi thường thiệt hại trong Nghị định 151/TTg là rất đúng đắn, đáp ứng nhucầu trưng dụng đất đai trong những năm 1960 Tuy nhiên, Nghị định chưa quyđịnh cụ thể mức bồi thường thiệt hại mà chỉ quan tâm đến sự thỏa thuận củacác bên Tiếp đó, ngày 06 tháng 07 năm 1959 ban hành Thông tư liên bộ:1424/TTLB hướng dẫn thi hành Nghị định 151/TTg
Ngày 11 tháng 01 năm 1970 Thủ tướng Chính phủ ban hành Thông tư:1792/TTg quy định một số điểm tạm thời về bồi thường nhà cửa, đất đai vàcây cối lâu năm, hoa màu cho nhân dân xây dựng vùng kinh tế mới, mởrộng tỉnh trên nguyên tắc: "Phải đảm bảo thỏa đáng quyền lợi hợp pháp củaHợp tác xã và của nhân dân" Tuy nhiên, thông tư này mới chỉ dừng lại ởviệc quy định bồi thường về tài sản trên đất mà chưa đề cập cụ thể đến
Trang 21chính sách bồi thường về đất.
Hiến pháp năm 1980 quy định về đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhànước thống nhất quản lý, ngày 01 tháng 07 năm 1980 Hội đồng Chính phủ raQuyết định số 201/CP về việc "Không được phát canh, thu tô, cho thuê, cầm
cố hoặc bán nhượng đất dưới bất cứ hình thức nào, không được dùng để thunhững khoản lợi không do thu nhập mà có, trừ trường hợp do Nhà nước quyđịnh" Quan hệ đất đai thời kỳ đơn thuần chỉ là quan hệ "Giao-thu" giữa Nhànước và người sử dụng [10]
Luật Đất đai năm 1988, không nêu cụ thể việc bồi thường khi Nhà nước thuhồi đất, mà chỉ nêu tại phần nghĩa vụ của người sử dụng đất (Điều 48): " Đền bùthiệt hại cho người sử dụng đất để giao cho mình bồi hoàn thành quả lao động vàkết quả đầu tư đó làm tăng giá trị của đất đó theo quy định của pháp luật " [13].Các văn bản hướng dẫn thi hành Luật Đất đai năm 1988 không hướngdẫn nội dung về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất mà chỉ tập trung vàoviệc bồi thường đất nông nghiệp, đất có rừng khi chuyển sang mục đích khác.Nghị định số 186/HĐBT ngày 31 tháng 05 năm 1990 của Hội đồng Bộtrưởng quy định về việc bồi thường đất nông nghiệp, đất có rừng khi chuyểnsang mục đích khác Tại điều 1 của Nghị định này quy định rõ: Mọi tổ chức,
cá nhân được giao đất nông nghiệp, đất có rừng để sử dụng vào mục đíchkhác phải đền bù về đất nông nghiệp, đất có rừng cho Nhà nước Tiền bồithường tài sản trên mặt đất và tài sản trong lòng đất cho chủ sử dụng hợppháp không thuộc các khoản tiền thiệt hại về đất Khung mức giá bồi thường
do UBND tỉnh, tỉnh, đặc khu trực thuộc Trung ương (TW) quy định cụ thểmức bồi thường đối với từng quận, huyện, huyện, tỉnh thuộc tỉnh sát với giáđất ở địa phương nhưng không được thấp hơn hoặc cao hơn khung định mứcbồi thường của Chính phủ
Hiến pháp năm 1992 công nhận và bảo vệ quyền sử dụng đất của các tổchức, cá nhân và quyền sở hữu cá nhân về tài sản Điều 17 Hiến pháp quy
Trang 22định: "Đất đai, rừng núi, sông hồ, nguồn nước, tài nguyên trong lòng đất,nguồn lợi ở vùng biển thềm lục địa và vùng trời đều thuộc sở hữu toàn dân".Tại Điều 18, Hiến pháp quy định về quyền quản lý của Nhà nước đối với đấtđai theo quy hoạch và pháp luật, đảm bảo việc sử dụng đúng mục đích và cóhiệu quả, đồng thời quy định việc giao đất cho các tổ chức, cá nhân sử dụng
ổn định lâu dài và có trách nhiệm, nghĩa vụ của người được Nhà nước cho sửdụng đất (Tổ chức và cá nhân có trách nhiệm bảo vệ, bồi thường khai tháchợp lý, sử dụng tiết kiệm đất, được chuyển quyền sử dụng đất do Nhà nướcgiao theo quy định của pháp luật) Tại Điều 23, Hiến pháp quy định: "Tài sảnhợp pháp của cá nhân, tổ chức không bị quốc hữu hóa, trong trường hợp thậtcần thiết vì lý do An ninh - Quốc phòng, lợi ích quốc gia mà Nhà nước trưngmua hay trưng dụng, có bồi thường tài sản của cá nhân hay tổ chức theo thờigiá thị trường" [11]
Trên cơ sở Hiến pháp năm 1992, thừa kế có chọn lọc Luật Đất đai năm
1988, Luật Đất đai năm 1993 ra đời với những đổi mới quan trọng, đặc biệt vớinội dung thu hồi đất phục vụ cho công cộng và bồi thường khi Nhà nước thuhồi đất Luật Đất đai năm 1993 thể chế hóa các quy định của Hiến pháp năm
1992 về đất đai thông qua việc giao đất, cho thuê đất, chế độ quản lý, sử dụngcác loại đất, quản lý việc sử dụng đất đúng hợp lý, xác định thời hạn giao đất,cho thuê đất, thẩm quyền thu hồi và giao, cho thuê đất; hạn mức sử dụng cácloại đất và quy định cụ thể các quyền và nghĩa vụ của các tổ chức, cá nhân sửdụng đất Luật quy định rõ hơn về quyền của người được giao đất gồm: quyềnchuyển đổi, chuyển nhượng, thừa kế, cho thuê, thế chấp Đồng thời, Chính phủquy định khung giá đất cho từng loại đất, từng vùng theo thời gian [14]
Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đất đai ngày 29 tháng 6 năm
2001 quy định cụ thể hơn về bồi thường, GPMB khi Nhà nước thu hồi đất sửdụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng.Việc bồi thường, hỗ trợ được thực hiện theo quy định của Chính phủ Nhà
Trang 23nước có chính sách để ổn định đời sống cho người có đất bị thu hồi [16] Luật Đất đai 2003 có ý nghĩa quan trọng, đáp ứng yêu cầu mới đặt ratrong tiến trình phát triển nền kinh tế, ổn định chính trị - xã hội của đấtnước, hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế Luật Đất đai 2003 quy địnhthêm về chế tài áp dụng xử lý vi phạm pháp luật trong quản lý và sử dụngđất đai, quy định cụ thể nhiệm vụ quyền hạn của cơ quan Nhà nước trongquản lý đất đai, trình tự, thủ tục thực hiện quyền của người sử dụng đất Vềthu hồi đất, việc thu hồi đất để sử dụng vào mục đích phát triển kinh tế làmột quy định mới của Luật Đất đai 2003 Bổ sung trường hợp thu hồi đấtđược Nhà nước giao, cho thuê để thực hiện dự án đầu tư mà không được sửdụng trong thời hạn 12 tháng liền hoặc tiến độ sử dụng đất chậm hơn 24tháng so với tiến độ ghi trong dự án Quy định thêm về việc thu hồi đất đốivới các trường hợp đất bị lấn, chiếm [17].
Về vấn đề bồi thường, tái định cư cho người có đất bị thu hồi được quyđịnh tại điều 42: Người bị thu hồi loại đất nào thì được bồi thường bằng việcgiao đất mới có cùng mục đích sử dụng, nếu không có đất để bồi thường thìbồi thường bằng giá trị quyền sử dụng đất tại thời điểm có quyết định thu hồi
1.3.2 Một số văn bản về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất sử dụng vào mục đích an ninh quốc phòng, lợi ích Quốc gia, lợi ích công cộng
Nghị định 90/CP ngày 17/8/1994 của Chính phủ quy định cụ thể cácchính sách và phân biệt chủ thể sử dụng đất, cơ sở pháp lý để xem xét tínhhợp pháp của thửa đất để lập kế hoạch bồi thường, GPMB theo quy định khiNhà nước thu hồi đất vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích Quốc gia, lợiích công cộng
Nghị định 22/1998/NĐ-CP ngày 24/04/1998 của Chính phủ quy định vềviệc đền bù khi Nhà nước thu hồi đất để sử dụng vào mục đích an ninh, quốcphòng, lợi ích Quốc gia, lợi ích công cộng Bao gồm cả đất sử dụng cho các
dự án sản xuất kinh doanh, khu chế xuất, khu du lịch, khu đô thị mới, khu
Trang 24công nghiệp cao su, khu vui chơi giải trí, khu dân cư tập trung và các dự ánđầu tư phát triển khác được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quyết định vàđất sử dụng xây dựng các công trình phục vụ công ích, cộng đồng khác khôngnhằm mục đích kinh doanh của địa phương, do UBND tỉnh, tỉnh trực thuộc
TW quyết định Nghị định 22/1998/NĐCP ngày 24/04/1998 quy định chi tiếthơn, hoàn chỉnh hơn, toàn diện hơn, tiến bộ hơn và hợp lý hơn Nghị định90/CP Mở rộng phạm vi được bồi thường cho các đối tượng có khả năng hợppháp hóa quyền sử dụng đất Giá đất để tính bồi thường được tính trên cơ sởgiá đất của địa phương ban hành theo quy định của Chính phủ nhân với hệ số
K Các Nghị định trước đây chủ yếu quan tâm đến việc bồi thường đất bị thuhồi và tài sản trên đất đó thì Nghị định 22/1998/NĐCP ngày 24/04/1998 đó cóthêm một số chính sách hỗ trợ cũng như một số điều khoản mới về việc lậpkhu TĐC cho các hộ phải di chuyển
Thông tư số 145/1998/TT-BTC ngày 04/11/1998 của Bộ Tài chínhhướng dẫn thi hành Nghị định 22/1998/NĐCP ngày 24/04/1998 quy địnhphương pháp hệ số K để định giá đất bồi thường, lập lại phương án đền bù và
bổ sung thêm một số nội dung như: Điều kiện đền bù về đất, đền bù về nhà,công trình kiến trúc về nhà cấp 4, đền bù cho người thuê nhà thuộc quyền sởhữu của Nhà nước, đền bù cho doanh nghiệp (DN), đơn vị hành chính sựnghiệp Điểm cần lưu ý trong Thông tư này là giao trách nhiệm cho chủ đầu
tư là thành viên của Hội đồng GPMB xem xét, thẩm định Trên cơ sở đó trìnhUBND tỉnh phê duyệt hoặc Hội đồng thẩm định thỏa thuận để UBND cấphuyện phê duyệt
Nghị định số 197/2004/NĐ-CP ngày 03/12/2004 của Chính phủ về bồithường, hỗ trợ và TĐC khi Nhà nước thu hồi đất Đây là Nghị định thay thế choNghị định 22/1998/NĐ-CP ngày 24/04/1998 của Chính phủ trong quá trình pháttriển kinh tế - xã hội, hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế, khi mà nhu cầu sửdụng đất cho các mục đích kinh tế, quốc phòng, an ninh, mục đích công cộng
Trang 25ngày càng nhiều Vì vậy, việc bồi thường cho người bị thu hồi đất, GPMB, hỗtrợ và TĐC phục vụ cho dự án là công việc thường xuyên lâu dài trong thời kỳcông nghiệp hóa - hiện đại hóa hiện nay Nghị định này quy định chi tiết hơn,đầy đủ hơn và toàn diện hơn, tiến bộ hơn và hợp lý hơn Nghị định22/1998/NĐCP ngày 24/04/1998, phù hợp với những nội dung thay đổi của LuậtĐất đai năm 2003 thể hiện
- Về phạm vi điều chỉnh:
+ Ngoài trường hợp bồi thường, hỗ trợ TĐC khi Nhà nước thu hồi đất sửdụng vào mục đích lợi ích Quốc phòng, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng, mụcđích kinh tế thì còn nêu thêm trường hợp bồi thường, hỗ trợ và TĐC đối với các
dự án sử dụng nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA)
+ Các trường hợp không thuộc phạm vi áp dụng của Nghị định Cộngđồng dân cư xây dựng, chỉnh trang các công trình phục vụ lợi ích chung củacộng đồng bằng nguồn vốn do nhân dân đóng góp hoặc Nhà nước hỗ trợ KhiNhà nước thu hồi đất không thuộc phạm vi quy định của Nghị định
- Về đối tượng áp dụng:
Tổ chức, cộng đồng dân cư, cơ sở tôn giáo, hộ gia đình, cá nhân trongnước, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, tổ chức, cá nhân nước ngoàiđang sử dụng đất bị Nhà nước thu hồi đất
Người bị thu hồi đất bị thiệt hại tài sản gắn liền với đất bị thu hồi Người
có đất, tài sản thuộc phạm vi thu hồi đất để sử dụng vào các mục đích đó mà
tự nguyện biếu, tặng một phần hoặc toàn bộ đất, tài sản cho Nhà nước
- Về chi trả bồi thường, hỗ trợ, TĐC:
+ Nhà nước tổ chức thực hiện việc bồi thường, hỗ trợ, TĐC và GPMBquy định cho các trường hợp:
Tổ chức được Nhà nước giao đất không thu tiền sử dụng đất
Tổ chức, cá nhân được Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất, chothuê đất
Trang 26Tổ chức, cá nhân nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoàiđầu tư vào Việt Nam.
+ Quy định về chi phí bồi thường, hỗ trợ và TĐC
- Về bồi thường đất:
+ Về nguyên tắc bồi thường
Quy định thêm về trường hợp không đủ điều kiện được bồi thường thìUBND cấp tỉnh xem xét để hỗ trợ
Trường hợp người sử dụng đất được bồi thường mà chưa thực hiệnnghĩa vụ tài chính về đất đai
+ Quy định những trường hợp thu hồi đất mà không được bồi thường.+ Về điều kiện để được bồi thường đất
Mở rộng hơn các trường hợp không có chứng thư pháp lý nhưng vẫnđược bồi thường
Cộng đồng dân cư đang sử dụng đất có các công trình là đình đền,chùa, miếu, am, từ đường, nhà thờ họ
Tổ chức sử dụng đất trong các trường hợp đất được Nhà nước giao cóthu tiền sử dụng đất mà tiền sử dụng đất đó không có nguồn gốc từ ngân sáchNhà nước Đất nhận chuyển nhượng của người sử dụng đất hợp pháp mà tiềntrả cho việc chuyển nhượng không có nguồn gốc từ ngân sách Nhà nước Đất
sử dụng có nguồn gốc hợp pháp từ hộ gia đình, cá nhân
+ Về giá đất:
Giá để tính bồi thường là giá đất theo mục đích đang sử dụng tại thờiđiểm có quyết định thu hồi đất do UBND cấp tỉnh công bố theo quy định củaChính phủ vào ngày 01 tháng 01 hàng năm
Quy định thêm về giá đất trong trường hợp thực hiện bồi thường chậm Quy định về chi phí đầu tư vào đất còn lại
+ Về bồi thường, hỗ trợ đối với đất nông nghiệp
Tại điều 10 có quy định về đất nông nghiệp xen kẽ trong khu dân cư,
Trang 27đất vườn ao liền kề với đất ở trong khu dân cư Ngoài việc được bồi thườngtheo giá đất nông nghiệp còn được hỗ trợ bằng tiền từ 20%-50% mức bồithường đất ở liền kề
Bồi thường chi phí đầu tư vào đất còn lại và hỗ trợ đối với hộ giađình, cá nhân đang sử dụng đất do nhận giao khoán đất sử dụng vào mụcđích nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản (Không bao gồm đấtrừng đặc dụng, rừng phòng hộ) của các nông lâm trường quốc doanh khiNhà nước thu hồi đất
+ Điểm cần lưu ý là ở Nghị định này, tại điều 15 quy định bồi thường đất
ở đối với những người đang đồng quyền sử dụng đất, tại điều 16 quy định bồithường đối với đất thuộc hành lang an toàn khi xây dựng công trình côngcộng có hành lang bảo vệ an toàn
- Về bồi thường tài sản:
+ Nguyên tắc bồi thường:
Quy định rõ những trường hợp được bồi thường, hỗ trợ và những trườnghợp không được bồi thường
+ Mức bồi thường:
Tài sản bồi thường theo mức độ thiệt hại thực tế, bằng giá trị hiện có củanhà và công trình Nhưng tổng mức bồi thường tối đa không hơn 100% giá trịcủa nhà, công trình xây mới
+ Tại khoản 2 điều 20 xử lý các trường hợp bồi thường, hỗ trợ cụ thể vềnhà, công trình không được cấp giấy phép xây dựng thì tuỳ theo mức độ, tínhchất hợp pháp của đất, nhà và công trình được bồi thường và hỗ trợ
+ Tại điều 21 quy định người đang sử dụng nhà ở thuộc sở hữu Nhànước bị phá đi được thuê nhà ở tại nơi TĐC, trường hợp đặc biệt không cónhà TĐC để bố trí thì được hỗ trợ bằng tiền để tự lo chỗ ở mới, mức hỗ trợbằng 60% giá trị đất và 60 % giá trị nhà đang thuê
+ Tại điều 26 quy định bồi thường cho người lao động do ngừng việc
Trang 28- Về chính sách hỗ trợ:
+ Hỗ trợ di chuyển: Quy định thêm về trường hợp người bị thu hồi đất ở,không còn chỗ ở khác trong thời gian chờ tạo lập chỗ ở mới (Bố trí vào khuTĐC) được bố trí vào nhà ở tạm hoặc hỗ trợ tiền thuê nhà ở
+ Hỗ trợ ổn định đời sống và ổn định sản xuất: Quy định thêm trườnghợp khi Nhà nước thu hồi đất của tổ chức kinh tế, hộ sản xuất kinh doanh cóđăng ký kinh doanh mà bị ngừng sản xuất kinh doanh
+ Hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp và tạo việc làm: Hộ gia đình, cá nhântrực tiếp sản xuất nông nghiệp khi thu hồi trên 30% diện tích đất sản xuấtnông nghiệp thì được hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp cho người trong độ tuổilao động, mức hỗ trợ và số lao động do UBND tỉnh quy định phù hợp vớithực tế ở địa phương
+ Hỗ trợ khi thu hồi đất công ích của xã, phường, thị trấn
- Về TĐC
+ Bố trí TĐC:
Hộ gia đình bị thu hồi đất phải di chuyển chỗ ở được thông báo về
dự kiến phương án bố trí TĐC và phương án này được niêm yết côngkhai thời gian 20 ngày trước khi cơ quan Nhà nước có thẩm quyền phêduyệt phương án
Tạo điều kiện cho các hộ vào khu TĐC được xem có thể khu TĐC vàthảo luận công khai về dự kiến bố trí nhiều dự án
+ Nghị định này có thêm những quy định mới về TĐC Cụ thể: Tại điều
36 quy định các biện pháp hỗ trợ
+ Tại điều 37 quy định quyền và nghĩa vụ của người bị thu hồi đất phải
di chuyển chỗ ở Tại điều 38 quy định TĐC đối với dự án đặc biệt mà phải dichuyển cả một cộng đồng dân cư
- Về tổ chức thực hiện
+ Giao nhiệm vụ bồi thường, hỗ trợ và TĐC cho Hội đồng bồi thường,
Trang 29hỗ trợ và TĐC cấp huyện hoặc giao cho tổ chức phát triển quỹ đất.
+ Nêu trách nhiệm của Hội đồng bồi thường, hỗ trợ và TĐC
+ Thẩm định phương án bồi thường, hỗ trợ và TĐC của dự án
+ Nêu rõ trách nhiệm của UBND các cấp, của các sở, ban, ngành cấp tỉnh;của tổ chức được giao nhiệm vụ thực hiện bồi thường hỗ trợ và TĐC của Bộ Tàichính, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Xây dựng, Bộ Tài nguyên và Môi trường.+ Cưỡng chế thi hành quyết định thu hồi đất, GPMB
+ Nêu chi phí tổ chức thực hiện bồi thường, hỗ trợ và TĐC
+ Khiếu nại và giải quyết khiếu nại
+ Đặc biệt tại điều 42 của Nghị định quy định sự thỏa thuận bồi thường,
hỗ trợ giữa người được giao đất, được thuê đất hoặc tổ chức phát triển quỹ đấtvới người bị thu hồi đất
Thông tư số 116/2004/TT-BTC ngày 07/12/2004 của Bộ Tài chínhhướng dẫn thực hiện Nghị định 197/2004/NĐ-CP Thông tư này hướng dẫnmột số nội dung về bồi thường đất, bồi thường tài sản, các chính sách hỗ trợ,
bố trí TĐC, tổ chức thực hiện việc bồi thường, hỗ trợ và TĐC khi Nhà nướcthu hồi đất đối với các trường hợp quy định tại Nghị định 197/2004/NĐ-CP.Cụ thể:
+ Giá đất để tính bồi thường và chi phí đầu tư vào đất còn lại, tại khoản
3, điều 9 Nghị định 197 có nêu về chi phí đầu tư vào đất còn lại thì ở Thông
tư này hướng dẫn cách xác định chi phí đầu tư vào đất còn lại
+ Bồi thường đối với cả trường hợp khi hành lang bảo vệ an toàn côngtrình chiếm dụng khoảng không trên 70% diện tích đất sử dụng có nhà ở,công trình của một chủ sử dụng đất thì phần diện tích còn lại cũng được bồithường theo quy định
+ Bồi thường đối với cây trồng, vật nuôi: Cách xác định giá trị hiện cócủa vườn cây lâu năm để tính bồi thường Bồi thường đối với cây trồng vàlâm sản trồng trên diện tích đất lâm nghiệp mà khi Nhà nước giao là đất trống,
Trang 30đồi núi trọc.
+ Về TĐC: Nêu các biện pháp hỗ trợ sản xuất và đời sống tại khu TĐC.+ Về tổ chức thực hiện bồi thường, hỗ trợ và TĐC: Nêu trình tự tổ chứcthực hiện (Bồi thường) Nêu phương án và chi trả (Bồi thường)
+ Chi phí cho công tác tổ chức thực hiện: Dự toán chi phí, mức chi
1.4 Thực tiễn bồi thường giải phóng mặt bằng ở Việt Nam
1.4.1 Phương án bồi thường
Theo báo cáo xã hội học của Viện nghiên cứu Địa chính năm 2003, trongtổng số 6000 hộ được điều tra thì phương án bồi thường bằng tiền cho đếnnay vẫn là phương án được áp dụng phổ biến (92,50%) Vì trên thực tế, quỹđất phục vụ cho việc bồi thường GPMB và TĐC của mỗi địa phương khônggiống nhau, quỹ đất công ích còn lại của các địa phương không đáng kể, nênkhông đáp ứng được yêu cầu bồi thường bằng đất và lập khu TĐC Mặt khác,
số lượng các hộ di chuyển lớn, có những hộ diện tích đất thu hồi lớn nên việcbồi thường diện tích đất có cùng giá trị là rất khó Hầu hết địa điểm khu TĐC
và cơ sở hạ tầng khu TĐC không thỏa mãn yêu cầu của người bị thu hồi đấtnhư cách xa trung tâm, không thể kinh doanh, buôn bán nên rất nhiều trườnghợp người bị thu hồi đất lựa chọn phương án bồi thường bằng tiền Thực tếcho thấy chính sách bồi thường chưa thật công bằng giữa các loại đất vớinhau, giữa hộ gia đình với nhau và giữa 2 địa phương liền kề Trong cùng mộtkhu vực giải toả nhiều nơi có sự phân biệt giữa hai đối tượng sử dụng đất cóngành nghề khác nhau Mức bồi thường lại quá thấp so với giá chuyểnnhượng thực tế tại địa phương, tạo ra sự chênh lệch làm cho người bị thu hồiđất cảm thấy bị thiệt thòi, đòi tăng tiền bồi thường, không bàn giao mặt bằngđúng kế hoạch gây ảnh hưởng đến tiến độ của dự án [20]
Trang 311.4.2 Chính sách hỗ trợ
Một số địa phương chưa thực hiện chính sách hỗ trợ tuyển dụng đàotạo việc làm cho các hộ thuộc diện chính sách, mặc dù số hộ được hưởngchính sách rất cao
Một số dự án có thực hiện chính sách đào tạo việc làm cho lao động bịthu hồi đất nông nghiệp song chất lượng đào tạo không đảm bảo trình độ vàtay nghề để làm việc ở các nhà máy
Tình trạng không có việc làm ở khu vực có dự án ngày càng cao, nhất làđối với các dự án chiếm dụng đất nông nghiệp có quy mô lớn Vì vậy, sự didân tự do vào các tỉnh lớn ngày càng nhiều gây hậu quả lâu dài về mặt xã hội,nên phải có biện pháp giải quyết kịp thời
1.4.3 Diện tích đất bồi thường, giá đất bồi thường
Cách xác định hạn mức đất ở bồi thường so với quy định còn tuỳ tiện,không thống nhất giữa các địa phương và các dự án với nhau
Bồi thường đất nông nghiệp theo phân hạng đất đến nay quá lạc hậu,không còn phù hợp, nó không chỉ ảnh hưởng đến việc xác định giá bồi thường
mà còn làm thất thu thuế nông nghiệp của Nhà nước
Do giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là chứng thư pháp lý quan trọngtrong việc xác định điều kiện được bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất,nhưng công tác cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ở các địa phương cònchậm trễ gây không ít khó khăn cho công tác thu hồi, GPMB
Hiện nay, những quy định về tính hợp pháp của thửa đất đang được điềuchỉnh theo xu hướng giảm dần các căn cứ pháp lý Vì vậy, để GPMB kịp tiến
độ, nhiều địa phương đã phải thừa nhận và thỏa thuận bồi thường cho cáctrường hợp không có đủ căn cứ pháp lý về quyền sử dụng đất
Công tác định giá đất ở các địa phương hiện nay chủ yếu dựa vào khunggiá đất quy định của Chính phủ hàng năm, tuỳ vào giá mỗi loại đất, mỗi khu vực,tuỳ vào điều kiện có thể của mỗi địa phương mà ban hành khung giá đất ở các
Trang 32địa phương không giống nhau Tuy nhiên, mức giá đều thấp hơn nhiều lần giáthực tế.
1.4.4 Bồi thường về tài sản, cây cối, hoa màu gắn liền với đất bị thu hồi
Trên cơ sở chính sách bồi thường và TĐC của Nhà nước cách xác địnhphương án bồi thường tài sản gắn liền với đất của các địa phương được ngườidân đồng tình ủng hộ Nhiều dự án bồi thường cho một số công trình, cây cối,hoa màu cao hơn giá thị trường
1.4.5 Tái dịnh cư và cơ sở hạ tầng khu tái định cư
Thực trạng trong những năm qua cho thấy việc xây dựng các khu TĐCcủa các dự án rất bị động, thiếu đồng bộ nhất là các dự án thuộc nguồn vốn
TW, trong đó, tồn tại lớn nhất là cơ sở hạ tầng khu TĐC không được đầu tưtheo quy định hoặc đầu tư nửa vời Các dự án thiếu biện pháp phục hồi thunhập tại nơi ở mới cho người TĐC Các công trình khu công nghiệp khu chếxuất phương án bồi thường do các chủ dự án lập, Hội đồng GPMB chỉ thamgia với tư cách tư vấn Vì vậy trách nhiệm của chính quyền địa phươngthường không cao và là nguyên nhân làm giảm hiệu lực pháp luật của cácchính sách bồi thường và TĐC, ảnh hưởng đến tiến độ GPMB
Nguồn đất xây dựng các khu TĐC ở các khu đô thị loại I và loại II rấthiếm, mặc dù có chính sách xây dựng nhà ở ra khu ven đô nhưng chưa đượcngười dân chấp nhận do giá căn hộ quá cao, có sự lệch lớn về chế độ xã hội,những hộ sống bằng nghề buôn bán thì hầu hết không lựa chọn phương án đổiđất lấy đất Còn ở khu dân cư nông thôn, việc thu hồi đất làm ảnh hưởng đếntập quán sinh hoạt của người dân, giao đất mới với quy mô như diện tích hiệnnay không đáp ứng được nhu cầu sinh hoạt và nông nghiệp của người dânnhư: Nhà phải có sân phơi, gần gũi với họ hàng, đi lại thuận tiện
Vì vậy, cần quy định rõ thêm dự án nào có khu TĐC và quy trình thẩmđịnh kế hoạch TĐC có thể giúp cho người dân bị thu hồi không bị thiệt thòisau khi giải tỏa
Trang 331.4.6 Trình độ hiểu biết pháp Luật Đất đai và bồi thường giải phóng mặt bằng
Công tác phổ biến pháp Luật Đất đai và chính sách bồi thường, GPMB
và TĐC của Hội đồng bồi thường cho người bị thu hồi đất tại các địa phươngtính theo mặt bằng chung là chưa sát thực tế Phần lớn người dân rất quan tâmđến chính sách bồi thường GPMB nhưng công tác tuyên truyền ở các địaphương còn nhiều hạn chế, ở những vùng có trình độ dân trí cao thì kiến thứchiểu biết pháp luật, việc chấp hành các quy định của luật nghiêm minh vàcông tác GPMB đạt tiến độ và hiệu quả so với kế hoạch Trái lại, đối vớinhững vùng nông thôn, miền núi, vùng xa, hải đảo, do không có điều kiệntuyên truyền phổ biến chính sách pháp luật, mặt bằng dân trí thấp dẫn đếnviệc GPMB gặp khó khăn
1.5 Khái quát thực trạng công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng của tỉnh Bắc Giang
Bắc Giang là tỉnh có tốc độ tăng thu hút đầu tư phát triển công nghiệpthuộc diện trung bình của cả nước Việc đưa Bắc Giang trở thành một tỉnh côngnghiệp phát triển trong tương lai của đất nước là nhiệm vụ hết sức to lớn củaĐảng bộ, chính quyền và nhân dân địa phương trong việc thu hút đầu tư, pháthuy nguồn lực từ bên ngoài Một trong những nhân tố quan trọng góp phần tạonên sự thành công đó là những nỗ lực của địa phương, đặc biệt là ngành tàinguyên và môi trường trong công tác bồi thường GPMB phục vụ phát triển côngnghiệp, đồng thời có những chính sách xã hội nhằm giúp đỡ các hộ dân vùngnông thôn có đất thu hồi ổn định sản xuất
Thực tế cũng như các địa phương khác, công tác GPMB của Bắc Gianggặp phải không ít khó khăn Một trong những khó khăn lớn nhất đó là nhândân có tâm lý trông chờ về giá Hầu hết các doanh nghiệp đầu tư vào BắcGiang là lĩnh vực công nghệ cao, việc tuyển chọn nhân công tại địa phươngvới trình độ thấp không đáp ứng được yêu cầu của doanh nghiệp cũng gâyrất nhiều khó khăn cho tỉnh trong công tác bồi thường GPMB Ngoài ra
Trang 34một số doanh nghiệp tự ý nâng giá đất cao hơn khung giá của tỉnh cũngnhư bồi thường không đồng bộ cũng gây những khó khăn không nhỏ trongcông tác bồi thường GPMB Việc một số doanh nghiệp nhận đất nhưngkhông sử dụng mà lại giao cho doanh nghiệp khác và không tuân thủ nhữngđiều kiện Hội đồng đầu khi thuê đất, áp lực giải quyết việc làm cho nhândân khi bị thu hồi đất.
Bắc Giang luôn xác định việc bồi thường GPMB phục vụ phát triểncông nghiệp phải đảm bảo ổn định và nâng cao hơn đời sống cho những hộdân có đất bị thu hồi Với phương châm đó, tỉnh đã xây dựng chính sách hỗtrợ kết hợp công tác vận động tuyên truyền nên đã từng bước khắc phục đượcnhững khó khăn, tạo niềm tin trong nhân dân đồng thời nâng cao uy tín vàtrong việc thu hút đầu tư trong và ngoài nước vào tỉnh
Trong những năm vừa qua, công tác bồi thường, GPMB tại tỉnh BắcGiang đạt được nhiều thành tựu Tuy nhiên, tại nhiều dự án, sau khi được giaođất, các chủ đầu tư không đủ năng lực tài chính nên dự án chưa được triểnkhai Diện tích đất thu hồi đều bị bỏ hoang gây lãng phí tài nguyên đất Bêncạnh đó, điều này cũng ảnh hưởng không tốt đến công tác tuyên truyền, vậnđộng người dân trong công tác bồi thường, GPMB sau này
Trang 35Chương 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
Đất đai và các vấn đề liên quan đến việc bồi thường, hỗ trợ giải phóngmặt bằng khi Nhà nước thu hồi đất tại 3 dự án trên địa bàn huyện Hiệp Hoà:
- Dự án xây dựng công viên trung tâm;
- Dự án Xây dựng trạm biến áp 500 Kv Hiệp Hoà;
- Dự án xây dựng cầu Đông Xuyên
2.2 Nội dung nghiên cứu
2.2.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang
- Điều kiện tự nhiên
- Điều kiện kinh tế xã hội
2.2.2 Điều tra đánh giá việc thực hiện chính sách bồi thường giải phóng mặt bằng của 3 dự án trọng điểm trên địa bàn huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang
- Tiến độ thực hiện dự án, tỷ lệ % giải phóng mặt bằng, v.v…
- Sự phù hợp về chính sách đền bù thiệt hại giải phóng mặt bằng củaNhà nước
- Ý kiến của ban quản lý và của người dân về chính sách đền bù(tổng hợp từ phiếu điều tra phỏng vấn)
- Những thuận lợi và thách thức của việc thực hiện chính sách thuhồi đất, đền bù thiệt hạị
2.2.3 Đánh giá tổng hợp chung của 3 dự án trên địa bàn huyện Hiệp Hòa 2.2.4 Đề xuất một số giải pháp nhằm bổ sung chính sách bồi thường thiệt hại khi Nhà nước thu hồi đất đai giải phóng mặt bằng trên địa bàn huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang
- Giải pháp về chính sách
Trang 36- Giải pháp về tổ chức thực hiện
- Giải pháp về kinh tế việc làm của hậu dự án
- Giải pháp khác
2.3 Phương pháp nghiên cứu
2.3.1 Phương pháp điều tra khảo sát
2.3.1.1 Điều tra thu thập các tài liệu, số liệu có liên quan đến chính sách bồi thường thiệt hại giải phóng mặt bằng trong quá trình thu hồi đất đai trên địa bàn nghiên cứu.
2.3.1.2 Điều tra phỏng vấn trực tiếp Ban quản lý dự án, các phòng ban liên quan và các tổ chức
2.3.2 Phương pháp điều tra phỏng vấn trực tiếp người dân (theo phiếu điều tra PA)
2.3.3 Phương pháp thống kê, tổng hợp số liệu
2.3.4 Phương pháp phân tích số liệu và xử lý số liệu.
2.3.5 Phương pháp chuyên gia: phương pháp này tranh thủ ý kiến của các chuyên gia trong lĩnh vực chuyên môn, để đưa ra các giải pháp tối ưu phù hợp với tình hình thực tế tại địa phương.
2.3.6 Phương pháp phân tích, tổng hợp, có sử dụng các phần mêm hỗ trợ như: Excel, microstation, mapinfo
Trang 37Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội
3.1.1 Điều kiện tự nhiên
3.1.1.1 Vị trí địa lý của huyện Hiệp Hoà
Hiệp Hoà, là huyện trung du nằm ở phía Tây Nam của tỉnh Bắc Giangtrên trục Quốc lộ 37 (từ quốc lộ 1A đi tỉnh Thái Nguyên), cách tỉnh Bắc Giang
30 km, cách tỉnh Hà Nội 60 km Nằm trong tọa độ địa lý: Từ 1050 52' 40" đến
1060 2'20" độ kinh đông, từ 210 13' 20" đến 210 26' 10" vĩ độ bắc
Phía Bắc giáp huyện Phú Bình - tỉnh Thái Nguyên
Phía Đông giáp huyện Tân Yên và huyện Việt Yên - tỉnh Bắc GiangPhía Nam giáp huyện Yên Phong - tỉnh Bắc Ninh
Phía Tây giáp huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội và huyện Phổ Yên, tỉnhThái Nguyên
Vị trí địa lý huyện Hiệp Hoà khá thuận lợi so với các huyện khác trongtỉnh Bắc Giang, có mạng lưới giao thông hợp lý (1 tuyến đường quốc lộ, cócầu Vát bắc qua sông cầu về tỉnh Hà Nội lên tỉnh Thái Nguyên, 3 tuyếnđường tỉnh lộ và có sông Cầu bao quanh phía Tây - Nam) tạo cho huyện cónhiều lợi thế để giao lưu hàng hóa, kinh tế, văn hoá - xã hội với các tỉnh ở đồngbằng Bắc bộ, đặc biệt với thủ đô Hà Nội và tỉnh Bắc Ninh, tỉnh Thái Nguyên
Trung tâm huyện Hiệp Hoà là thị trấn Thắng, đây là thị trấn có từ lâu đời
và đó được quy hoạch lên đô thị loại IV vào năm 2015
Với vị trí địa lý, mạng lưới giao thông khá thuận lợi Đặc biệt từ khi khaithông cầu Vát sang khu công nghiệp Thăng Long - Nội Bài, nâng cấp Quốc lộ
37 đi tỉnh Thái Nguyên, huyện Hiệp Hoà lại càng có thêm vị thế để phát triểncông nghiệp - TTCN và ngành nghề nông thôn, đồng thời tạo đà cho pháttriển kinh tế - xã hội nhanh, mạnh và bền vững
Trang 38Hình 3.1: Bản đồ hành chính Huyện Hiệp Hoà
Trang 393.1.1.2 Địa hình đất đai
* Tài nguyên đất
Toàn huyện có 7 loại thổ nhưỡng, trong đó đa số là các loại đất bạc mầu,đất nâu vàng trên phù sa cổ, đất phù sa không được bồi…
Bảng 3.1 Phân loại thổ nhưỡng huyện Hiệp Hòa
Nguồn: Phòng Tài nguyên và Môi trường huyên Hiệp Hòa, năm 2012
Với thành phần như trên, Hiệp Hoà có thể vừa phát triển cây lương thực,vừa phát triển các loại cây công nghiệp ngắn ngày có giá trị kinh tế cao nhưlạc, đậu tương , phát triển chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản và các loại cây ănquả trên các vùng vườn đồi Tuy nhiên hạn chế ở đây là:
- Địa hình dốc, quá trình rửa trôi làm đất bạc mầu nhanh, độ phì thấp nên
đã hạn chế năng suất cây trồng Cần có biện pháp cải tạo để nâng cao độ phìcủa đất
Tổng diện tích đất tự nhiên của huyện là 20305,98 ha trong đó:
Đất nông nghiệp 12316.0 ha chiếm tỷ lệ 60,65%
Đất phi nông nghiệp 7713,54 ha chiếm tỷ lệ 37,99%
Đất chưa sử dụng 276,44 ha chiếm tỷ lệ 1,36%
Trang 40Bảng 3.2 Hiện trạng sử dụng đất năm 2012
(ha)
Tỷ lệ (%)
Nguồn: Phòng Tài nguyên & Môi trường huyện Hiệp Hoà, năm 2012
Cơ cấu sử dụng đất hiện nay cho thấy, việc sử dụng vào mục đích nôngnghiệp chiếm tỷ lệ khá cao (60,65%)
Cùng với quá trình đô thị hoá, công nghiệp hoá, quỹ đất giành cho sảnxuất nông nghiệp ngày càng bị thu hẹp Để đáp ứng Mục tiêu sản xuất nôngnghiệp và an ninh lương thực cho nhân dân trong huyện, trong giai đoạn sắptới, đòi hỏi huyện một mặt phải đầu tư thâm canh trong sản xuất nông nghiệp,một mặt phải tiếp tục mở rộng và khai thác nguồn đất đai chưa được sử dụng(276,44ha) để bổ sung cho quỹ đất nông nghiệp
Cơ cấu sử dụng đất huyện Hiệp Hoà còn được thể hiện rõ qua hình 3.2