Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ nông nghiệp ...viBảng 4.11: Ảnh hưởng của phân bón lá tới tỷ lệ rụng quả ..... Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ n
Trang 1Trường ðại học Nụng nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ nụng nghiệp 1
Bộ giáo dục và đào tạo Trường đại học nông nghiệp hà nội
Trang 2Trường ðại học Nụng nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ nụng nghiệp i
Lời cam đoan Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và chưa hề được sử dụng để bảo vệ một học vị nào
Tôi xin cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đ2 được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều
đ2 được chỉ rõ nguồn gốc
Hà Nội, ngày…… thỏng…… năm 2010
Tác giả luận văn
Vương Quốc Hòa
Trang 3Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ nông nghiệp ii
LỜI CẢM ƠN
ðể hoàn thành luận văn này, tôi xin bày tỏ long kính trọng và biết ơn
sâu sắc ñến sự giúp ñỡ tận tình của GS TS Hoàng Minh Tấn, người hướng
ñẫn trực tiếp và ñóng góp nhiều ý kiến quan trọng trong quá trình thực hiện nghiên cứu và viết luận văn
Ban lãnh ñạo, cùng các cán bộ Trung tâm Nghiên cứu Nông nghiệp miền núi phía Bắc, ban lãnh ñạo xã Chiềng Ban – Sơn la, ñã ñộng viên, tạo ñiều kiện và giúp ñỡ tôi rất nhiều trongquá trình thực hiện nghiên cứu
ThS Vương Văn Hải và tập thể cán bộ công nhân viên công ty Cà phê
& Cây ăn quả Sơn La ñã nhiệt tình giúp ñỡ trong suốt thời gian nghiên cứu
Tập thể các thầy cô giáo Khoa Nông Học, Sau ðại Học và ñặc biệt các thầy cô trong bộ môn Cây công nghiệp - Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội ñã tận tình giảng dạy, hướng dẫn và ñóng góp ý kiến ñể tác giả hoàn thành luận văn này
Cuối cùng tôi xin chân thành cảm ơn các nhà khoa học trong ngành, các ñồng nghiệp, bạn bè và người thân trong gia ñình ñã ñộng viên, giúp ñỡ tôi trong thời gian học tập và hoàn thành luận văn
Hà Nội, ngày…… tháng…… năm 2010
T¸c gi¶ luËn v¨n
V−¬ng Quèc Hßa
Trang 4Trường ðại học Nụng nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ nụng nghiệp iii
MỤC LỤC 1 MỞ ðẦU 1
1.1 ðặt vấn ủề 1
1.2 Mục ủớch và yờu cầu 3
1.2.1 Mục ủớch 3
1.2.2 Yờu cầu 3
1.3 í nghĩa khoa học và thực tiễn 3
1.4 Giới hạn của ủề tài 3
2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
2.1 Tỡnh hỡnh sản xuất, tiờu thụ cà phờ trờn thế giới và ở Việt Nam 4
2.1.1 Vài nột về nguồn gốc và phõn loại cà phờ 4
2.1.2 Vài nột về cõy cà phờ chố 6
2.1.3 Tỡnh hỡnh sản xuất và tiờu thụ cà phờ trờn thế giới 8
2.1.4 Tỡnh hỡnh sản xuất và tiờu thụ cà phờ ở Việt Nam 10
2.2 í nghĩa của cà phờ trong nền kinh tế 15
2.3 Một số kết quả về thực trạng sử dụng phõn bún cho cà phờ 16
2.3.1 Sử dụng phõn vụ cơ bún cho cà phờ chố 18
2.3.2 Sử dụng phõn bún hữu cơ cho cà phờ 21
2.3.3 Cỏc kết quả nghiờn cứu việc bún phối hợp NPK cho cà phờ ở cỏc giai ủoạn khỏc nhau 21
2.4 Một số kết quả về việc sử dụng phõn bún lỏ cho cà phờ tại Việt Nam 22
3 ðỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIấN CỨU 26
3.1 ðặc ủiểm vựng nghiờn cứu 26
3.1.1 Vị trí địa lý 26
3.1.2 Địa hình 26
3.1.3 Điều kiện khí hậu 26
3.1.4 Điều kiện đất đai 28
3.1.5 Đặc điểm kinh tế x2 hội vùng nghiên cứu 29
Trang 5Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ nông nghiệp iv
3.2 ðối tượng, ñịa ñiểm và thời gian nghiên cứu 30
3.3 Vật liệu nghiên cứu 30
3.4 Nội dung nghiên cứu 31
3.4.1 ðiều tra tình hình sử dụng phân bón cho cà phê chè tại Sơn la 31
3.4.2 Ảnh hưởng của phân bón lá ñến sinh trưởng, phát triển và năng suất cà phê chè tại Sơn la 31
3.5 Phương pháp nghiên cứu 31
3.5.1 Phương pháp bố trí thí nghiệm 31
3.5.2 Các chỉ tiêu theo dõi và phương pháp xác ñịnh 32
3.6 Phương pháp xử lý số liệu thí nghiệm 33
4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 34
4.1 Tình hình sử dụng phân bón của các hộ gia ñình trồng cà phê tại xã Chiềng Ban – huyện Mai Sơn – tỉnh Sơn La 34
4.2 Ảnh hưởng của phân bón lá ñến sinh trưởng, phát triển và năng suất cà phê chè 43
4.2.1 Ảnh hưởng của phân bón lá ñến sinh trưởng của cây cà phê chè 43
4.2.2 Ảnh hưởng của phân bón lá ñến sự ra hoa và ñậu quả ban ñầu 52
4.2.3 Ảnh hưởng của phân bón lá ñến sự rụng quả (thí nghiệm năm 2010) 54 4.2.4 Ảnh hưởng của phân bón lá ñến các chỉ tiêu cấu thành năng suất 57
4.3 Ảnh hưởng của phân bón lá ñến năng suất cà phê 63
4.4 Sơ bộ ñánh giá hiệu quả kinh tế của việc sử dụng các loại phân bón lá cho cà phê 65
5 KẾT LUẬN VÀ ðỀ NGHỊ 68
5.1 Kết luận 68
5.2 ðề nghị 68
Trang 6Trường ðại học Nụng nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ nụng nghiệp v
DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1: Cỏc thị trường tiềm năng cho xuất khẩu cà phờ thế giới 9Bảng 2.2: Kết quả sản xuất và tiờu thụ cà phờ ở Việt Nam từ 2001 – 2009 12Bảng 2.3: Lượng phõn bún sử dụng cho cà phờ trong ủiều kiện cú che búng và
khụng che búng 17Bảng 2.4: ðịnh lượng phõn bún hàng năm cho cà phờ chố (kg/ha) 20Bảng 3.1: ðiều kiện khớ hậu của Thành phố Sơn La trong năm 2009 27Bảng 3.2: ðiều kiện khớ hậu tại thành phố Sơn La trong 6 thỏng ủầu năm
2010 28Bảng 3.3: Kết quả phân tích đất vườn cà phê Sơn La (0 - 30 cm) 29Bảng 4.1: Tỡnh hỡnh sản xuất cà phờ của tỉnh cỏc năm gần ủõy 34Bảng 4.2: Thực trạng sử dụng phân bón và năng suất cà phê tại một số hộ
trồng cà phê tỉnh Sơn La 36Bảng 4.3: Mức phân bón của các hộ trồng cà phê có năng suất khá tại Chiềng
Ban Sơn La 39Bảng 4.4: Mức bón phân của các hộ có năng suất trung bình tại Chiềng Ban
Sơn La 40Bảng 4.5: Mức bón phân của các hộ có năng suât thấp tại Chiềng Ban Sơn La
41Bảng 4.6: Ảnh hưởng của phõn bún lỏ ủến ủộng thỏi tăng trưởng ủường kớnh
cành (mm/cành) 43Bảng 4.7: Ảnh hưởng của phõn bún lỏ ủến ủộng thỏi tăng trưởng ủộ dài cành
(cm/cành) 47Bảng 4.8: Ảnh hưởng của phõn bún lỏ ủến ủộng thỏi ra lỏ (số lỏ/cành) 48Bảng 4.9: Ảnh hưởng của phõn bún lỏ ủến số ủốt mang quả trờn cành (số
ủốt/cành) 51Bảng 4.10: Ảnh hưởng của phõn bún lỏ ủến tỷ lệ ủậu hoa 53
Trang 7Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ nông nghiệp vi
Bảng 4.11: Ảnh hưởng của phân bón lá tới tỷ lệ rụng quả 54
B¶ng 4.12: ¶nh h−ëng cña ph©n bãn l¸ tíi tû lÖ ®Ëu qu¶ (th¸ng 7/2010) 56
Bảng 4.13: Ảnh hưởng của các công thức tới khối lượng 100 hạt 57
B¶ng 4.14: ¶nh h−ëng cña c¸c c«ng thøc ph©n bãn l¸ tíi tû lÖ nh©n/qu¶ t−¬i vµ thãc kh«/qu¶ t−¬i 59
B¶ng 4.15: ¶nh h−ëng cña ph©n bãn l¸ tíi kÝch th−íc qu¶ chÝn vµ tû lÖ lÐp 61
Bảng 4.16: Ảnh hưởng của phân bón lá ñến năng suất cà phê 63
Bảng 4.17: HiÖu qu¶ kinh tÕ cho c¸c c«ng thøc phun ph©n bãn l¸ 66
Trang 8Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ nông nghiệp vii
DANH MỤC HÌNH
Hình 4.1: Ảnh hưởng của phân bón lá tới ñộng thái tăng trưởng ñường kính
cành 44Hình 4.2: Ảnh hưởng của phân bón lá ñến ñộng thái tăng trưởng chiều dài
cành (cm/cành) 47Hình 4.3: Ảnh hưởng của phân bón lá tới ñộng thái ra lá (số lá/cành) 49Hình 4.4: Ảnh hưởng của phân bón lá tới năng suất cà phê nhân (tấn/ha) 64
Trang 9Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ nông nghiệp 1
1 MỞ ðẦU 1.1 ðặt vấn ñề
Cà phê là tên một chi thực vật thuộc họ Thiến thảo (Rubiaceae) Họ này
bao gồm khoảng 500 chi khác nhau với trên 6.000 loài cây nhiệt ñới
Chi cà phê bao gồm nhiều loài cây lâu năm khác nhau Tuy nhiên, không phải loài nào cũng chứa caffein trong hạt, một số loài khác xa với những cây cà phê ta thường thấy Chỉ có hai loài cà phê có ý nghĩa kinh tế Loài thứ nhất có tên thông thường trong tiếng Việt là cà phê chè (tên khoa
học: Coffea arabica), ñại diện cho khoảng 61% các sản phẩm cà phê trên thế giới Loài thứ hai là cà phê vối (tên khoa học: Coffea canephora hay Coffea
ñáng kể
Cà phê chè là tên gọi theo tiếng Việt do loài cà phê này có lá nhỏ, cây thường ñể thấp giống cây chè một loài cây công nghiệp phổ biến ở Việt Nam
Cà phê arabica còn ñược gọi là Brazilian Milds nếu nó ñến từ Brasil, gọi là
nước khác Qua ñó có thể thấy Brasil và Colombia là hai nước xuất khẩu chính loại cà phê này, chất lượng cà phê của họ cũng ñược ñánh giá cao nhất Các nước xuất khẩu khác gồm có Ethiopia, Mexico, Guatemala, Honduras, Peru,
Ấn ðộ…
Cây cà phê arabica ưa sống ở vùng núi cao Người ta thường trồng nó ở
ñộ cao từ 1000-1500 m Cây có tán lớn, màu xanh ñậm, lá hình oval Cây cà phê trưởng thành có thể cao từ 4-6 m, nếu ñể mọc hoang dã có thể cao ñến 15
m Quả hình bầu dục, mỗi quả chứa hai hạt cà phê
Cà phê chè sau khi trồng khoảng 3 ñến 4 năm thì có thể bắt ñầu cho thu hoạch Thường thì cà phê 25 tuổi ñã ñược coi là già, không thu hoạch ñược nữa Thực tế nó vẫn có thể tiếp tục sống thêm khoảng 70 năm Cây cà phê arabica ưa thích nhiệt ñộ từ 16-25°C, lượng mưa khoảng trên 1000 mm
Trang 10Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ nông nghiệp 2
Trên thị trường cà phê chè ñược ñánh giá cao hơn cà phê vối (coffea
lượng caffein hơn Một bao cà phê chè (60 kg) thường có giá cao gấp 2 lần một bao cà phê vối Việt Nam là nước xuất khẩu cà phê lớn thứ hai thế giới nhưng chủ yếu là cà phê vối Năm 2005 dự kiến diện tích trồng cà phê chè mới ñạt khoảng 10% tổng diện tích trồng cà phê cả nước (khoảng 40.000 ha/410.000 ha) Trong ñiều kiện chăm bón tương ñối ñầy ñủ, năng suất cà phê chè ñạt từ 15 tấn ñến trên 18 tấn quả tươi/ha, tương ñương với từ 2,5 ñến trên
3 tấn nhân/ha Với thời ñiểm hiện nay, giá bán 1 tấn sản phẩm cà phê chè khoảng 55 triệu ñồng, cao hơn gấp ñôi so với cà phê vối với giá chỉ khoảng 25 triệu ñồng
Một vài năm gần ñây cây cà phê chè ñã ñược phát triển mở rộng ở một
số tỉnh miền núi phía Bắc với tổng diện tích khoảng 7.000 ha bao gồm: Sơn
La, Tuyên Quang, Bắc Thái, Vĩnh Phú, Lai Châu, Lạng Sơn, Hòa Bình, Yên
Bái v.v Do sử dụng giống mới có tên là Catimor nên ñã hạn chế ñược tác
hại của sâu bệnh, một số ñiển hình ñã cho năng suất cà phê nhân ñạt từ 1 - 2 tấn/ha Tại Viện nghiên cứu cà phê năng suất ñã ñạt ñược trên 3 tấn/ha Theo chủ trương của Chính phủ và Bộ Nông nghiệp mục tiêu phát triển cà phê chè ở Việt Nam tới năm 2020 là 100.000 ha và tổng sản lượng hàng năm ñạt 200.000 tấn
Cà phê Việt Nam sẽ là một mặt hàng nông sản quan trọng trên thị trường thế giới
và ñem về nguồn ngoại tệ ñáng kể trong nền kinh tế quốc dân
Vấn ñề khó khăn nhất ñối với sản xuất cà phê tại Sơn La là dân trí thấp, thói quen canh tác, thu hoạch thủ công, lạc hậu, không tuân thủ quy trình kỹ thuật tiên tiến Do ñó, nếu phát triển cà phê không theo quy mô lớn và ñược kiểm soát chặt chẽ, hiệu quả sẽ thấp thậm chí thất bại ðặc biệt tình hình sử dụng phân bón cho cà phê chè chưa ñược nghiên cứu và sử dụng một cách khoa học, mặc dù ñã có những quy trình bón phân ñược công bố thành văn bản và ñược các cán bộ kỹ thuật triển khai xuống tận người dân, nhưng do người dân chưa quan tâm nhiều ñến vấn ñề này Các loại phân bón lá cho cà phê chưa ñược quan tâm nghiên cứu và sử dụng tại ñây
Trang 11Trường đại học Nông nghiệp Hà Nội Ờ Luận văn thạc sĩ nông nghiệp 3
Trên cơ sở ựó, chúng tôi tiến hành thực hiện ựề tài: Ộđánh giá thực trạng sử dụng phân bón và nghiên cứu ảnh hưởng của một số phân bón lá ựến sinh trưởng, phát triển và năng suất cà phê chè (Coffea arabica) tại Sơn LaỢ
1.2 Mục ựắch và yêu cầu
1.2.1 Mục ựắch
Trên cơ sở ựánh giá thực trạng sử dụng phân bón và nghiên cứu hiệu quả của phân bón lá ựối với cà phê chè ựể có thể ựưa ra một khuyến cáo vể sử dụng phân bón hiệu quả cho cà phê ở Sơn La
Làm tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu và giảng dạy về cây cà phê
ở Việt Nam
Ý nghĩa thực tiễn
đưa ra khuyến cáo về sử dụng phân bón hợp lý và phân bón lá cho cà phê chè ở Sơn La
1.4 Giới hạn của ựề tài
Thời gian thực hiện ựề tài: do cà phê là cây lâu năm, niên vụ kéo dài trong 1 năm, nên thắ nghiệm ựược tiến hành trong năm 2009 (từ tháng 1 Ờ 12/2009), thắ nghiệm ựược lặp lại vào năm 2010 ựể bổ sung thêm một một số chỉ tiêu nghiên cứu
Trang 12Trường đại học Nông nghiệp Hà Nội Ờ Luận văn thạc sĩ nông nghiệp 4
2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 Tình hình sản xuất, tiêu thụ cà phê trên thế giới và ở Việt Nam
2.1.1 Vài nét về nguồn gốc và phân loại cà phê
Cẹy cộ phế thuéc hả Rubiaceae, trong ệã chi Coffea cã gẵn 100 loội, Charier (1947) ệ2 gép thộnh 4 nhãm chÝnh lộ: Eucoffea K Schum; Argocoffea Piere; Mascarocoffea vộ Paracoffea Miq Riếng nhãm Paracoffea bao găm nhọng loội cã nguăn gèc Ên ậé, cịc n−ắc ậềng D−ểng, Sri Lanka, Malaysia
vộ Viỷt Nam Trong ệã Viỷt Nam mắi phịt hiỷn cã 2 loội mảc hoang dỰi ệã lộ Coffea dongnaiensis P.ex.Pit vộ Coffea conchinchinensis P.ex.Pit [21]
Cà phê chè (Coffea arabica) sống ở ựộ cao 1.500 Ờ 2000 m Cây cà
phê chè thuộc dạng bụi, cao 3 Ờ 4 m, ở ựiều kiện thuận lợi chiều cao có thể từ
6 Ờ 7 m, cành và lá mọc ựối xứng, lá hình trứng, nhọn ựầu, cuống lá ngắn, hoa màu trắng, hương thơm nhẹ, mọc ở nách lá, quả cà phê chè chắn có màu ựỏ hoặc màu vàng, hình trứng có ựường kắnh từ 10 Ờ 18 mm, hạt có màu xanh xám, xanh lục, xanh cốm hoặc sẫm Cà phê chè có ựặc tắnh tự thụ phấn và khoảng 90%, vì vậy ựộ thuần chủng cao hơn các loài cà phê khác [9], [16]
Trong ựiều kiện bình thường hạt phấn có thể duy trì sức nảy mầm trong thời gian từ 24 Ờ 36 giờ, còn nếu ựược bảo quản trong ựiều kiện chân không ở nhiệt ựộ 18 0C, hạt phấn có thể kéo dài sức nảy mầm của chúng tới 3 năm hoặc hơn nữa [46], [47]
Cà phê chè Catimor (Coffea arabica var catimor) ựược tạo ra ở Bồ
đào Nha năm 1959, là sản phẩm lai tạo giữa giống Caturra (Cofea arrabica
sớm và cho năng suất cao, thường là bằng hoặc hơn các giống thương mại khác Catimor có ựặc ựiểm thân thấp và có tiềm năng năng suất cao; kháng bệnh gỉ sắt và chịu hạn tốt Tại Ấn độ giống Catimor trong sản xuất mang tên
ỘCauveryỢ ựang rất ựược ưa chuộng Tại Colombia nó có tên ỘLa Variedad
Trang 13Trường đại học Nông nghiệp Hà Nội Ờ Luận văn thạc sĩ nông nghiệp 5
ColombiaỢ Một số ựời con lai Catimor thế hệ F3, F4 từ Bồ đào Nha, Cu Ba
và Colombia ựã nhập vào Việt Nam từ năm 1986 Ờ 1987; từ năm 1988 Ờ 1995 kết hợp nhiều phương pháp ựánh giá và chọn lọc quần thể Viện KHKT Nông Lâm nghiệp Tây Nguyên ựã chọn lọc ựược giống Catimor thế hệ F6 có khả năng kháng bệnh gỉ sắt cao ựược bộ Nông nghiệp và PTNT chắnh thức công nhận và cho phổ biến ra sản xuất [10]
Cà phê vối (Coffea canephora Pierre) có nguồn gốc từ rừng nhiệt ựới
ẩm, trải dài từ Guiné ựến Uganda và Angola Loài cà phê vối mới ựược phát hiện ở châu Phi vào cuối thế kỷ 19 trong các vùng thấp thuộc châu thổ sông Congo và ựược ựặt tên bởi nhà thực vật học người Pháp, Pierre, 1897 Cà phê vối có ựặc ựiểm thụ phấn chéo bắt buộc nên quần thể rất ựa dạng về hình thái nếu ựược nhân giống bằng hạt Cây cà phê vối là cây nhỡ, cao 8 Ờ 12 m, có
nhiều thân, ắt cành thứ cấp, cành dài lả lướt Coffea canephora var robusta là
thứ cà phê vối ựược trồng nhiều nhất, chiếm 90% diện tắch cà phê vối trên thế giới đặc trưng thực vật của chủng này là cây khỏe, ắt cành thứ cấp, cho năng suất cao và khả năng kháng bệnh khá Nhược ựiểm chắnh của giống này là khả năng chịu hạn kém Cà phê vối ựược trồng nhiều ở châu Phi và châu Á Ở Việt Nam có trên 95% diện tắch cà phê ựược trồng bằng giống này và ựược gọi là giống cà phê vối, riêng tại đắkLắk ựa số nông dân trồng bằng giống cà
phê vối Ở Việt Nam, cà phê vối nhóm Robusta và Kuillou trồng ở miền Nam
ựược du nhập từ ựảo Java Inựônesia và cộng hòa Trung Phi (Nguyễn Sỹ Nghị, 1982) [20]
Cà phê vối mọc khỏe, dễ trồng, chịu thâm canh, năng suất cao Do ựặc tắnh cây sinh trưởng khỏe, ắt sâu bệnh, năng suất cao nên cây cà phê vối ựược phát triển nhanh trong vòng 30 năm trở lại ựây Về phẩm chất, cà phê vối có
vị ngon nhưng kém về vị hương nên ắt ựược ưa chuộng bằng cà phê chè Quả
cà phê vối to hơn quả cà phê chè, tỷ lệ quả tươi/ nhân thấp (4,2 Ờ 4,7), hàm lượng cafein từ 2,5 Ờ 3% cao hơn cà phê chè (1,8 Ờ 2%) Cà phê vối là nguyên
Trang 14Trường ðại học Nụng nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ nụng nghiệp 6
liệu chớnh ủể sản xuất cà phờ hũa tan và hiện nay chiếm trờn 32% sản lượng
cà phờ thế giới
Cà phờ mớt (Coffea excelsa Chev.) phỏt hiện ủầu tiờn vào năm 1902 ở
Ubangui – Chari nờn thường ủược gọi là cà phờ Chari Cõy gỗ nhỡ cú chiều cao từ 15 – 20 m sinh trưởng khỏe, ớt kộn ủất, ớt sõu bệnh, chịu hạn khỏ Lỏ to hỡnh trứng hoặc hỡnh mũi mỏc, chiều dài lỏ tối ủa 25 – 40 cm Quả hỡnh trứng hơi dẹt, cú nỳm lồi, khi chớn quả cú màu ủỏ sẫm Hạt màu xanh ngả vàng, hàm lượng cafein thấp, khoảng 1,02 – 1,15% Phẩm chất cà phờ mớt núi chung kộm, vị chua, ớt hương hoặc khụng hương, trờn thị trường cú giỏ trị thấp Ở Việt Nam, cõy cà phờ mớt trước ủõy ủược trồng nhiều ở cỏc tỉnh Lõm ðồng và Gia Lai Hiện nay diện tớch cõy cà phờ mớt ủó giảm ủi nhiều
Nhìn chung công tác phân loại thực vật cũng như quá trình tiến hóa của các nhóm, loài, thuộc chi Coffea rất phức tạp vì nó bao gồm nhiều loại cây mang đặc điểm thực vật rất khác nhau, rất dễ nhầm lẫn trong phân loại, song
đây là công việc không chỉ có ý nghĩa về mặt khoa học thuần túy, mà còn có ý nghĩa thực tiễn hết sức quan trọng giúp các nhà chọn tạo giống làm cơ sở cho việc lai tạo, cải tiến và chọn lọc giống
2.1.2 Vài nột về cõy cà phờ chố
Tổ tiên của loài cà phê chè (Coffea arabica) có nguồn gốc ở Ethiopia và cao nguyên Boma thuộc Sudan, nhưng m2i tới năm 850 sau Công nguyên
tán rừng ở nơi đây Hiện nay, ở Ethiopia còn khoảng 200.000 ha rừng vẫn thấy
cà phê chè mọc hoang dại Từ đây, cây cà phê được đem sang trồng ở ả Rập thuộc địa của Harar rồi tới Mecca và các vùng khác trên thế giới theo bước chân của những người hành hương, truyền đạo
Hầu hết các chi Coffea là những loài nhị bội (2n = 22) và là những cây hoàn toàn không có khả năng tự thụ phấn Duy nhất có loài cà phê chè
là loài tứ bội (2n = 44) có khả năng tự thụ phấn [21]
Trang 15Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ nông nghiệp 7
Cà phê chè là tên gọi theo tiếng Việt, do loài cà phê này có lá nhỏ, cây thường ñể thấp giống cây chè một loài cây công nghiệp phổ biến ở Việt Nam ðây là loài có giá trị kinh tế nhất trong số các loài cây cà phê Cà phê chè chiếm 61% các sản phẩm cà phê toàn thế giới Cây cà phê arabica ưa sống ở vùng núi cao Người ta thường trồng nó ở ñộ cao từ 1000-1500 m Cây có tán lớn, màu xanh ñậm, lá hình oval Cây cà phê chè có thể cao tới 6 m Tuy nhiên ở các trang trại cà phê người ta thường phải cắt tỉa ñể giữ ñược ñộ cao
từ 2-4 m, thuận lợi cho việc thu hoạch Cây cà phê có cành thon dài, lá cuống ngắn, xanh ñậm Mặt trên lá có màu xanh thẫm, mặt dưới xanh nhạt hơn Chiều dài của lá khoảng 8-15 cm, rộng 4-6 cm Rễ cây cà phê là loại rễ cọc, cắm sâu vào lòng ñất từ 1 ñến 2,5 m với rất nhiều rễ phụ tỏa ra xung quanh làm nhiệm vụ hút chất dinh dưỡng nuôi cây Hoa cà phê màu trắng, có năm cánh, thường mọc thành chùm ñôi hoặc chùm ba Màu hoa và hương hoa dễ làm ta liên tưởng tới hoa nhài Hoa chỉ nở trong vòng 3 ñến 4 ngày và thời gian thụ phấn chỉ vài ba tiếng Một cây cà phê trưởng thành có từ 30.000 ñến 40.000 bông hoa Sau khi thụ phấn từ 7 ñến 9 tháng cây sẽ cho quả hình bầu dục, bề ngoài giống như quả anh ñào Trong thời gian chín, màu sắc của quả thay ñổi từ xanh sang vàng rồi cuối cùng là ñỏ Quả có màu ñen khi ñã chín nẫu Do thời gian ñâm hoa kết trái lâu như vậy mà một vụ cà phê kéo dài gần một năm trời và có thể xảy ra những trường hợp trên một cây vừa có hoa, vừa
có quả
Thông thường một quả cà phê chứa hai hạt Chúng ñược bao bọc bởi lớp thịt quả bên ngoài Hai hạt cà phê nằm ép sát vào nhau Mặt tiếp xúc giữa chúng là mặt phẳng, mặt hướng ra bên ngoài có hình vòng cung Mỗi hạt còn ñược bảo vệ bởi hai lớp màng mỏng: một lớp màu trắng, bám chặt lấy vỏ hạt; một lớp màu vàng rời rạc hơn bọc ở bên ngoài Hạt có thể có hình tròn hoặc dài, lúc còn tươi có màu xám vàng, xám xanh hoặc xanh Thỉnh thoảng cũng
Trang 16Trường đại học Nông nghiệp Hà Nội Ờ Luận văn thạc sĩ nông nghiệp 8
gặp nhưng quả chỉ có một hạt (do chỉ có một nhân hoặc do hai hạt bị dắnh lại thành một)
Lý do khó phát triển cà phê chè do ựộ cao ở Việt Nam không phù hợp, những vùng chuyên canh cà phê ở Việt Nam như Buôn Ma Thuột đắk Lắk, Bảo Lộc Lâm đồng ựều chỉ có ựộ cao từ 500-1000m so với mực nước biển, loài cây này lại nhiều sâu bệnh hại nên không kinh tế bằng trồng cà phê vối nếu trồng ở Việt Nam
2.1.3 Tình hình sản xuất và tiêu thụ cà phê trên thế giới
Trến thạ giắi hiỷn nay cã 80 n−ắc tham gia sờn xuÊt cộ phế vắi tững diỷn tÝch trến 10 triỷu ha, trong ệã sờn phÈm cựa cộ phế chÌ chiạm tắi 75 % cưn lỰi lộ cộ phế vèi Mét sè n−ắc cã sờn l−ĩng cộ phế lắn nh− Brasil, Colombia, Indonesia, Bê BiÓn Ngộ Riếng Brasil, sản xuất cà phê ệ2 chiạm
25 - 26 % sờn l−ĩng cộ phế thạ giắi Nẽng suÊt bừnh quẹn trến thạ giắi khoờng
800 kg/ ha; cịc n−ắc cã diỷn tÝch lắn còng chử ệỰt 600 - 700 kg/ ha N−ắc Costa Rica ẻ Trung Mủ cã diỷn tÝch khoờng 110.000 ha ệ2 ệỰt nẽng suÊt bừnh quẹn trến 1380 kg/ ha do sỏ dông cịc gièng mắi vộ mẺt ệé dộy
Theo Trần Thị Quỳnh Chi (2006) [44], trong vòng 35 năm qua, cầu cà phê thế giới tăng gấp nhiều lần trong những năm giá cà phê tăng cao Tuy nhiên, mức tăng này không vượt quá 2 năm Gần ựây nhu cầu cà phê ựã tăng khoảng 90.000 tấn/năm (1,5 Ờ 1,7%/năm) Tỷ lệ này tập chung ở các nước như Nhật Bản, Trung Quốc, Nga, và các nước đông Âu
Trước tình hình nhu cầu có xu hướng tăng và cung có xu hướng giảm, người dân trồng cà phê lại có thêm cơ hội tăng giá trị gia tăng cho sản phẩm của mình Tuy nhiên, việc phụ thuộc vào thị trường thế giới như vậy tỏ ra không bền vững và ựã từng làm nhiều nước thất bại Bài học ựó ựến bây giờ vẫn còn giá trị và buộc ngành cà phê phải tìm nhiều con ựường khác nhau ựể tăng giá trị gia tăng
Trang 17Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ nông nghiệp 9
Ngoài những thị trường như Hoa Kỳ, ðức, Nhật Bản, Ý, Pháp, Canada, Anh là những thị trường nhập khẩu cà phê hàng ñầu thế giới năm 2009, những thị trường tiềm năng cho xuất khẩu cà phê toàn cầu ñược thống kê trong bảng dưới ñây
Bảng 2.1: Các thị trường tiềm năng cho xuất khẩu cà phê thế giới
Các nước
Kim ngạch nhập khẩu cà phê 11 tháng 2008 (triệu USD)
Tăng trưởng nhập khẩu cà phê
11 tháng 2008 (%)
Tăng trưởng kinh tế năm
2008 (%)
Tăng trưởng kinh tế năm
Nguồn: AGROINFO tổng hợp – Ghi chú: (*) dự báo của IMF
Brazil - nước sản xuất cà phê lớn nhất thế giới, chắc chắn sẽ chỉ cung cấp khoảng 39 triệu bao cà phê trong niên vụ này, so với 46 triệu bao niên
vụ trước Trong khi ñó Việt Nam - nước sản xuất lớn thứ 2 thế giới,
có thể sẽ bị giảm 20% sản lượng trong niên vụ này, xuống 17,5 triệu bao (khoảng 1,05 triệu tấn) Mức dự báo trung bình về sản lượng cà phê Việt Nam
do hãng Bloomberg ñưa ra là khoảng 1,08 ñến 1,2 triệu tấn Các nước xuất khẩu lớn khác là Việt Nam, Colombia, Indonesia, Côte d'Ivoire, Mexico, Ấn
ðộ, Guatemala, Ethiopia, Uganda, Costa Rica, Peru và El Salvador Những nước tiêu thụ cà phê lớn nhất là Hoa Kỳ, ðức, Pháp, Nhật Bản và Ý
Các yếu tố chính chi phối thị trường cà phê năm 2009 vẫn là cung - cầu Do nguồn cung khan hiếm ở các nước sản xuất hàng ñầu thế giới trong
Trang 18Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ nông nghiệp 10
khi nhu cầu mạnh, giá Arabica ñã tăng 21,3% trong năm qua, ñạt 135,95 US cent/lb Thị trường cà phê thế giới năm qua biến ñộng không ñồng nhất: tăng mạnh với loại Arabica, song lại giảm mạnh với loại Robusta
thụ cà phê ñang tăng mạnh, khiến lượng dư cung dành cho xuất khẩu giảm sút Các nước sản xuất hiện chiếm khoảng 26% tiêu thụ cà phê thế giới, và các nước ñang nổi chiếm khoảng 18%
Từ năm 2000 tới 2008, nhu cầu ở các thị trường truyền thống như Bắc
Mỹ và Châu Âu ñã tăng 0,9% lên 68,6 triệu bao, trong khi tiêu thụ ở các nước sản xuất tăng 3,8% lên 35,9 triệu bao Mức tăng nhu cầu cao nhất thuộc về các thị trường ñang nổi, với 5,5%
2.1.4 Tình hình sản xuất và tiêu thụ cà phê ở Việt Nam
Hội nhập kinh tế quốc tế ñã tạo ra những cơ hội lớn cho ngành nông nghiệp nước ta phát huy lợi thế về ñiều kiện tự nhiên, sinh thái ñể phát triển những sản phẩm có tính cạnh tranh cao Cà phê là một trong những nông sản ñiển hình ñó Có thể nói, ngành cà phê nước ta ñã có những bước phát triển nhanh vượt bậc chỉ trong vòng 15-20 năm trở lại ñây Ðó cũng là một trong những nguồn xuất khẩu chính, mang lại cơ hội công ăn việc làm và thu nhập ngày một cao cho người sản xuất, kinh doanh cà phê Vụ 2008/09, sản lượng
cà phê của Việt Nam niên vụ 2008/09 ñạt 18 triệu bao, tức 1,08 triệu tấn Năng suất bình quân của vụ này ñạt 2,16 tấn/héc ta Chính phủ Việt Nam nỗ lực hạn chế việc mở rộng diện tích trồng cà phê trong khoảng 500.000 – 525.000 héc
ta, trong khi chú trọng cải thiện những diện tích ñã có sẵn Trong vài năm qua, người trồng cà phê Việt Nam ñã tăng thêm 2.000 héc ta diện tích ñất trồng cà phê mỗi năm tại các tỉnh trồng chủ chốt Cà phê arabica hiện chiếm 35.000 héc
ta và chỉ chiếm 6% trong tổng diện tích cây cà phê của cả nước Trong niên vụ 2009/10, sản lượng cà phê của Việt Nam ước giảm còn 17,5 triệu bao, tương ñương 1,05 triệu tấn, thấp hơn 3% so với niên vụ trước ñó
Trang 19Trường đại học Nông nghiệp Hà Nội Ờ Luận văn thạc sĩ nông nghiệp 11
Cà phê Việt Nam từ lâu ựược khẳng ựịnh là có chất lượng tự nhiên cao
và có hương vị ựậm ựà do ựược trồng ở ựộ cao nhất ựịnh so với mặt biển Nhưng do khâu thu hái, phơi sấy, chế biến không tốt ựã ảnh hưởng ựến chất lượng nên cà phê Việt Nam bị ựánh giá thấp Mặt khác, kế hoạch xuất khẩu không ổn ựịnh dẫn ựến bị ép cấp, ép giá, càng làm giảm giá trị xuất khẩu Vấn
ựề khó khăn nhất ựối với các vùng sản xuất cà phê là dân trắ thấp, thói quen canh tác, thu hoạch thủ công, lạc hậu, không tuân thủ quy trình kỹ thuật tiên tiến Do ựó, nếu phát triển cà phê không theo quy mô doanh nghiệp và ựược
kiểm soát chặt chẽ, hiệu quả sẽ thấp thậm chắ thất bại Theo Phan Huy Thông
[29], Việt Nam là nước xuất khẩu cà phê lớn thứ 2 trên thế giới (sau Brazil),
cà phê là 1 trong 5 mặt hàng nông nghiệp xuất khẩu có giá trị lớn hơn 1 tỷ USD của Việt Nam
Theo FAO, năm 1956 diện tắch cà phê Việt Nam chiếm 0,2% diện tắch, 0,1% sản lượng và năng suất chỉ ựạt 41% cà phê thế giới Sau 50 năm (2006) Việt Nam ựạt 488,7 ngàn ha (4,6%), năng suất ựạt 17,7 tạ/ha (240%), sản lượng ựạt khoảng 853,5 ngàn tấn chiếm gần 10,8% so trung bình thế giới, là bước tiến vượt bậc của nông nghiệp Việt Nam nói chung và ngành cà phê nói riêng
Với 6 vùng sản xuất cà phê hiện nay là đông Bắc 0,06% (1 tỉnh), Tây Bắc 0,65% diện tắch (2 tỉnh), Bắc Trung Bộ 1,6% diện tắch, Duyên Hải Nam Trung Bộ 0,4% diện tắch (3 tỉnh), Tây Nguyên 89,1% diện tắch (5 tỉnh), đông Nam Bộ chiếm 8,1% diện tắch toàn quốc
Trong 6 tháng ựầu năm 2010 Việt Nam ựã xuất khẩu cà phê sang 81 nước chủ yếu là các nước đức (87.770tấn), Mỹ (75.484tấn) và Tây Ban Nha (45.635tấn) với tổng số lượng là 577.686 tấn nhân và thu về 811 triệu USD Trong ựó thị trường Việt Nam tiêu thụ khoảng 64.866 tấn chiếm 11,2% [nguồnVICOFA][8]
Trang 20Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ nông nghiệp 12
Bảng 2.2: Kết quả sản xuất và tiêu thụ cà phê ở Việt Nam từ 2001 – 2009
Năm
Diện tích trồng (nghìn ha)
Diện tích kinh doanh (nghìn ha)
Sản lượng
cà phê nhân (nghìn tấn)
Giá bình quân (USD/tấn)
Năng suất (tấn/ha)
[Nguồn: Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn]
Việt Nam ñang trở thành nước sản xuất hàng ñầu thế giới về cà phê vối
và có những lợi thế: cà phê vối ở nước ta chủ yếu ñược tròng ở ñộ cao 500 –
600 m so với mực nước biển (Tây Nguyên), có sự chênh lệch nhiệt ñộ ngày ñêm khá lớn, nên có chất lượng tốt hơn những nước cùng sản xuất như Châu Phi và các nước Châu Á khác
Theo nhận ñịnh của nhiều chuyên gia, tiêu thụ cà phê nội ñịa của Việt Nam còn quá ít, khoảng 500gr/người/năm Một nghiên cứu gần ñây của Ngân hàng thế giới (WB) ñưa ra cho thấy tiềm năng thị trường cà phê nội ñịa của Việt Nam có thể tiêu thụ ñến 70.000tấn/năm [44] Trong khi ñó theo Hiệp hội
Cà phê thế giới, tiêu dùng nội ñịa cà phê Việt Nam chỉ ñạt khoảng 5% tổng sản lượng của cà phê Việt Nam, thấp nhất trong số các nước sản xuất cà phê
Tiêu thụ cà phê ở thị trường nội ñịa Việt Nam niên vụ 2008/09 ñạt 1,06 triệu bao, tương ñương 64 nghìn tấn hạt xanh, chiếm chỉ 5,9% tổng sản lượng
Trang 21Trường ðại học Nơng nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ nơng nghiệp 13
của cả nước Trong niên vụ 2009/10, tiêu thụ dự đốn tăng lên mức 1,1 – 1,2 triệu bao, tương đương 72 nghìn tấn hạt, cao hơn 13% so với vụ trước, và chiếm 6,7% tổng sản lượng cà phê sản xuất ra Báo cáo dự đốn, niên vụ 2010/11 tiêu thụ cà phê nội địa Việt Nam sẽ đạt 1,26 triệu bao, tức 75,6 nghìn tấn hạt, tăng 5% so với vụ trước
Tiêu thụ cà phê ở thị trường Việt Nam đang tăng nhờ hiệu quả của các
kế hoạch marketing khi giới kinh doanh bắt đầu chú trọng tới thị trường nội địa thơng qua phương thức mở các chuỗi cửa hàng theo phong cách phương Tây như Highlands Coffe, Gloria Jean's, The Coffee Bean, Tea Leaf, và Illy Hiện tiêu thụ cà phê nội địa vẫn gia tăng ở tầng lớp trung lưu
Dù vậy, theo Tổ chức Cà phê Quốc tế, hiện tiêu thụ cà phê bình quân đầu người tại Việt Nam ở mức 0,83 kg, thấp hơn nhiều so với ở các nước như Braxin 5,72 kg/người, EU 4,83 kg/người và Mỹ 4,13 kg/người
Tại Sơn la chỉ cĩ một cơng ty duy nhất là cơng ty Cà phê & Cây ăn quả của tỉnh đầu tư Sau 12 năm đã ký hợp đồng với 7.200 hộ nơng dân thuộc 11 huyện, thị xã trong tồn tỉnh với tổng diện tích thiết kế lên tới 7.000 ha Song
do nhiều nguyên nhân khách quan, chủ quan; đặc biệt là 4 lần bị sương muối (1992, 1993, 1996, 1999) đã làm diện tích cà phê bị mất quá nửa, nay chỉ cịn lại 3.500 ha với 4.500 hộ nơng dân thuộc 3 huyện thị: Thành phố Sơn La, huyện Mai Sơn và huyện Thuận Châu Tuy vậy diện tích cà phê kinh doanh tồn tỉnh chỉ đạt 2.500 ha với sản lượng là 27.500 tấn quả tương đương 4.200 tấn nhân/năm Năng suất bình quân 11 tấn quả/ ha (1,7 tấn nhân/ha) [8]
Cà phê Sơn la các năm gần đây, đặc biệt sau đợt sương muối năm 1999
đã cĩ bước phát triển bền vững và ổn định hơn Khơng phát triển phong trào, khơng trồng ồ ạt, quảng canh UBND Tỉnh chỉ đạo phát triển tập trung, thâm canh Làm đến đâu chắc đến đĩ Quan tâm đến cơng nghiệp chế biến, nâng cao chất lượng sản phẩm Xây dựng thương hiệu cho cà phê Sơn la Kết quả vùng nguyên liệu cà phê được tập trung phát triển, tham canh tốt tại 3 huyện:
Trang 22Trường đại học Nông nghiệp Hà Nội Ờ Luận văn thạc sĩ nông nghiệp 14
Thị Xã; Mai Sơn và Thuận Châu Người dân trồng cà phê ựược tập huấn, hướng dẫn kỹ thuật trồng, chăm sóc, thu hái, chế biến và bảo quản Kỹ năng
kỹ thuật của người dân ngày một nâng cao hơn Vùng nguyên liệu phát triển tốt, ổn ựịnh, mỗi năm trồng mới 150 ựến 250 ha
Công nghiệp chế biến: Sơn La có 3 xưởng chế biến ướt tập trung của công ty và hàng trăm máy sát mini của hộ nông dân, có 1 nhà máy chế biến cà phê nhân công xuất 4.000 tấn nhân/năm
Cà phê Sơn La luôn nhận ựược hỗ trợ, giúp ựỡ của Hiệp hội Cà phê Ca cao Việt Nam, Tổng công ty Cà phê Việt Nam, các tổ chức nước ngoài ựã giúp cho Sơn La ựược tiếp cận, tham gia các dự án phát triển cà phê bền vững, thân thiện với môi trường như dự án: PPP; 4C; UTZ certified đến nay
có thể nói chương trình cà phê Sơn La ựã làm thay ựổi bộ mặt nông thôn Sơn
La Giải quyết công ăn việc làm cho hàng vạn lao ựộng Hàng trăm hộ có thu nhập cao từ 50 - 100 triệu/ năm đóng góp ựáng kể cho GDP của tỉnh; và là mặt hàng xuất khẩu chắnh trong tỉnh Người dân yên tâm, phấn khởi và rất tin tưởng vào việc phát triển cây cà phê
Chi phắ sản xuất chủ yếu là công lao ựộng như: Thu hái, chăm sóc; Sau ựến vật tư: Giống, phân bón, thuốc sâu; Và một số chi khác Cà phê Sơn La hầu như không tưới, hoàn toàn thụ thuộc nước trời (Giá thành sản xuất: 3.700 ựồng/kg cà phê quả)
Cà phê sơn la có chất lượng khá tốt (do ựộ cao trung bình 600 Ờ 800m;
thì cà phê Sơn La là một trong loại cà phê ngon của Việt Nam
Thực trạng cà phê Sơn La trong mấy năm qua, tình hình chế biến còn nhiều bất cập Sự ổn ựịnh và ựồng ựều không cao, chất lượng thấp, do công tác chế biến chưa ựược kiểm soát, không tập trung Toàn tỉnh có 400 máy xát
cà phê mini (công suất 2-5 tạ quả/h) Trung bình cứ 11 hộ có một máy xát quả tươi điều này ảnh hưởng rất nhiều ựến công tác quản lý, kiểm soát chất
Trang 23Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ nông nghiệp 15
lượng cà phê trong tỉnh (Cà phê chế biến tập trung từ nhà máy của công ty chất lượng rất tốt, ñều, ổn ñịnh Tỷ lệ xuất khẩu ñạt trên 95% Trong khi chế biến phân tán của dân tỷ lệ xuất khẩu chỉ ñạt 65% và rất không ñều không ổn ñịnh)
Cà phê Sơn La thường bị một số loại sâu, bệnh chính, ñó là: Rệp sáp, rệp rễ; Sâu gặm vỏ; và bệnh khô cành khô quả Nhưng công tác phòng trừ người dân làm tương ñối tốt; Chưa năm nào ñể dịch bệnh lớn xảy ra Bệnh khô cành khô quả chỉ thấy ở những vườn chăm sóc kém Có thể nói sâu bệnh
cà phê luôn nằm trong tầm kiểm soát Năm 2010 dự kiến diện tích trồng mới
sẽ ñạt mức 300 ha [8]
2.2 Ý nghĩa của cà phê trong nền kinh tế
Mức tiêu dùng cà phê tính theo ñầu người ñược coi là một chỉ tiêu ñánh giá trình ñộ phát triển, mức ñộ sinh hoạt vật chất của một nước ñó Hàng năm, xuất khẩu cà phê ñem lại nguồn ngoại tệ rất lớn cho ñất nước Năm1982 xuất khẩu ñạt 5 triệu USD, năm 1997 ñạt 556 triệu USD, năm 1998 ñạt xấp xỉ
600 triệu USD (Nguồn: C.P.R.Dubos (ICO), tại hội nghị quốc tế cà phê Châu
cà phê Trong ñó một nửa sản lượng cà phê trên thế giới ñược trồng ở các trang trại nhỏ với diện tích nhỏ hơn 5 ha Tại Châu Phi, tỷ trọng ñóng góp sản lượng cà phê chủ yếu do các hộ gia ñình nhỏ ñảm nhận, chiếm khoảng 95%
Cà phê không chỉ có ý nghĩa về mặt kinh tế mà còn có ý nghĩa to lớn về mặt chính trị ở nhiều nước trên thế giới Sự sụt giảm giá cà phê ngay lập tức ảnh hưởng ñến thu nhập của người dân ở nhiều nước, tỷ lệ ñói nghèo, bất bình
Trang 24Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ nông nghiệp 16
ñẳng và các chỉ số kinh tế vĩ mô khác Từ năm 2001, tỷ lệ nghèo ñói của nông dân làm trong ngành cà phê của Nicaragua tăng 2% trong khi ñó tỷ lệ này lại giảm ở khu vực nông thôn là 6%, do ñó chính phủ ở nhiều nước sản xuất cà phê mong muốn hợp tác mang lại sự ổn ñịnh lâu dài cho thị trường cà phê, giúp cân bằng thị trường cà phê thế giới, góp phần tăng kim ngạch xuất khẩu
ổn ñịnh thu nhập cho người trồng cà phê
2.3 Một số kết quả về thực trạng sử dụng phân bón cho cà phê
Hiệu quả của việc sử dụng phân bón rất khac nhau tùy thuộc vào loại ñất, ñiều kiện khí hậu, kỹ thuật canh tác… Việc sử dụng một lượng phân bón cao cho những vùng có mưa thấp và phân bố không ñều, vườn cây không ñược tưới nước, có nhiều cây che bóng thường không mang lại hiệu quả
Cà phê là loại cây lâu năm nên việc cung cấp dinh dưỡng không phải chỉ ñể nuôi quả mà còn ñể tạo ra những cành dự trữ cho năm sau Theo Bheemaiah (1992), lượng dinh dưỡng lấy ñi từ sản phẩm thu hoạchchỉ bằng 1/3 tổng số dinh dưỡng mà cây cần ñể nuôi quả và bộ khung tán Lượng dinh dưỡng trong 1.000kg quả tươi có 15kg N; 2,5kg P2O5; 24kg K2O (Catani) Còn trong 1.000 kg nhân cà phê (gồm cả vỏ quả) biến ñộng từ 30kg N; 3,75kg
P2O5 và 36,5kg K2O (Forestier, 1969) ñến 40,83 kg N; 5,27 kg P2O5; 49,6 kg
Ở Ấn ðộ lượng phân bón bình quan cho 1 ha có năng suất dưới 1 tấn là 80kg N, 60kg P2O5, 80kg K2O và trên 1 tấn là 120kg N, 90kg P2O5, 120kg
Lượng phân bón cho cây cà phê ñược sử dụng rất khác nhau tùy thuộc vào năng suất, tính chất ñất nhưng nhìn chung ở các vườn không có cây che bóng, lượng phân bón ñược khuyến cáo luôn luôn cao hơn khi có cây che bóng Theo De Geus, (1973) (dẫn theo Hoàng Thanh Tiệm, 2004) [30] lượng phân bón cho 1 ha cà phê ở 1 số nước như sau:
Trang 25Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ nông nghiệp 17
Bảng 2.3: Lượng phân bón sử dụng cho cà phê trong ñiều kiện có che
Tại Việt Nam, Tôn Nữ Tuấn Nam (1993) [22] khuyến cáo lượng phân
quả nghiên cứu của Trình Công Tư (1999) [32] cho thấy tổ hợp phân khoáng
có ý nghĩa nhất ñối với sinh trưởng và năng suất cà phê vối kinh doanh trên
3,71 tấn/ha
Ngoài các nguyên tố ña lượng NPK, cây cà phê có yêu cầu khá cao về lưu huỳnh Theo kết quả nghiên cứu của Tôn Nữ Tuấn Nam thì phần lớn ñất trồng cà phê của Việt Nam ñều thiếu nguyên tố này ðất ñỏ bazan tuy có hàm lượng lưu huỳnh khá cao, từ 300 – 700 ppm nhưng không ñủ ñể ñảm bảo cho cây cà phê sinh trưởng, phát triển tốt và tác giả ñề nghị bổ sung 30- 60 kg S/ha/năm bằng cách dùng phân ammonium sulphat (SA), là loại phân N dưới dạng SA với mức 100 kg/ha ñể giải quyết vấn ñề thiếu lưu huỳnh của cây cà phê vối trên ñất ñỏ bazan
Trang 26Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ nông nghiệp 18
Ảnh hưởng của phân chuồng ñến năng suất cà phê vối ở Tây Nguyên cũng ñã ñược nhiều tác giả nghiên cứu Trương Hồng (1999) [9] nhận xét: Bón bổ sung thêm 20 tấn phân chuồng/ha theo chu kỳ 3 năm bón 1 lần ñã có tác dụng nâng cao năng suất trên 15% và có hiệu quả kinh tế cao hơn so với ñối chứng không bón phân chuồng Trình Công Tư (1999) [32] cũng có kết luận tương tự và khuyến cáo nên bón bổ sung 10 tấn phân chuồng/ha/năm ñể nâng cao hiệu quả sử dụng của phân khoáng
Kết quả ñiều tra của Phân viện Thiết kế quy hoạch Nông nghiệp miền Trung (2004) [23] cho thấy tỷ lệ hộ bón phân chuồng cho cà phê thay ñổi tùy vùng, biến ñộng từ 21% ở huyện Krông Păk ñến 100% ở vùng Buôn Ma Thuột Trung bình có trên 50% nông dân bón phân hữu cơ (chủ yếu là phân
bón 1lần
2.3.1 Sử dụng phân vô cơ bón cho cà phê chè
Cà phê là một loại cây công nghiệp lâu năm nhưng rất nhạy cảm ñối với phân bón Trong ñiều kiện các biện pháp kỹ thuật khác ñược thoả mãn nếu ñược bón chất hữu cơ, N, P, K ñầy ñủ và cân ñối thì cà phê cho năng suất cao ổn ñịnh, bền vững Ngược lại, phân bón thiếu, lại bón không cân ñối thì cây cà phê sẽ bị khô cành khô quả, vườn cà phê thoái hóa và không có hiậu quả kinh tế
Theo Coste (1960) [51] N, P và K là những nguyên tố ña lượng vô cùng cần thiết cho cây cà phê Tùy từng giai ñoạn sinh trưởng mà nhu cầu N-P-K
có khác nhau
Theo De Geus (1967) [35], trong giai ñoạn kiến thiết cơ bản, cây cà phê rất cần P ñể phát triển bộ rễ, còn sang giai ñoạn kinh doanh cà phê lại cần N
và K nhiều hơn
Tại Brazil, theo Malavolta (1990) [36], khi trồng mới người ta bón cho
0,2g bo; 0,2g ñồng; 1g kẽm, trộn ñều với lớp ñất mặt với cà phê kiến thiết cơ
Trang 27Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ nông nghiệp 19
bản năm thứ nhất cần bón bổ sung 4 lần phân ñạm, 5g N/gốc; 2 lần kali mõi lần 5 – 10g/gốc Năm thứ 2 bón gấp 4 lần năm thứ nhất, năm thứ 3 bón gấp ñôi năm thứ 2 Trong giai ñoạn kinh doanh, lượng phân bón cho 1 ha là 200 –
1 lần phân urê với lượng bón 150 kg urê/ha ðối với cà phê cưa ñốn phục hồi,
lần/năm, lần 1 bón lúc ra hoa, lần 2 bón hình thành hạt
Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (2002) [4], ñưa ra quy trình bón phân cho cà phê trên ñất hình thành trên bazan và ñất hình thành trên ñá vôi ñể ñạt năng suất từ 2 – 2,5 tấn nhân/ha như bảng 2.4
Trang 28Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ nông nghiệp 20
Bảng 2.4: ðịnh lượng phân bón hàng năm cho cà phê chè (kg/ha)
[Nguồn: Bộ Nông nghiệp và phát triển Nông thôn]
Ngoài lượng phân bón hóa học quy ñịnh trên, ñể ñảm bảo cho vườn cây
cà phê bền vững, năng suất cao ổn ñịnh thì 2 -3 năm có thể bón vôi 1 lần vào ñầu vụ mưa, rải ñều trong phạm vi tán cây với lượng 500 – 1.000 kg/ha Vào
Theo Tôn Nữ Tuấn Nam và ctv (1998) [18], [19] khi bón phân cho cà phê chè mật ñộ 6.666 cây/ha trên ñất bazan Tây Nguyên, năng suất tích lũy
Nguyễn Văn Bộ và ðặng ðức Duy (1998) [3] khi nghiên cứu các tổ hợp NPK cho cà phê Catimor kinh doanh năm thứ nhất tại Sơn La cho biết: ñể
Trang 29Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ nông nghiệp 21
K2O kg/ha
2.3.2 Sử dụng phân bón hữu cơ cho cà phê
Bón phân hữu cơ làm tăng khả năng giữ ẩm, tạo ñộ tơi xốp, tăng hàm lượng mùn, tăng cấp hạt ñất có giá trị nông học Do vậy bón phân hữu cơ là biện pháp cải tạo lý, hóa tính, nâng cao ñộ phì nhiêu của ñất, giúp cây cà phê ñạt năng suất ổn ñịnh, vườn cà phê phát triển bền vững
Theo Vũ Hữu Yêm (1995) [34], sau khi vùi, phân chuồng thường ñã bị mùn hóa một phần và có tác dụng như một sản phẩm hình thành trong quá trình lên men ổn ñịnh ñược cấu trúc ñất
Theo Gros André (1967) [49], bón phân chuồng thường xuyên với số lượng thấp có lợi hơn bón nhiều nhưng không liên tục Việc bón chất hữu cơ cải thiện dung tích hấp thụ các cation trao ñổi (C.E.C), tăng khả năng hấp thu
P trong ñất, tăng hàm lượng P dễ tiêu
Theo Coste René [42], việc bón chất hữu cơ cho cà phê là quan trọng, Cần bón phân chuồng hoặc phân xanh 20 – 30 tấn/ha quay vòng 2 – 4 năm một lần Vỏ quả cà phê còn lại sau khi chế biến cà phê cũng là nguồn phân bón hữu cơ ñược tận dụng
Theo Nguyễn Sỹ Nghị (1982) [20], với ñất có hàm lượng mùn <3% thì hàng năm trong giai ñoạn KTCB phải bón phân hữu cơ cho cà phê với lượng
10 kg/gốc và 2 năm bón 1 lần cho cà phê kinh doanh với lượng 15 kg/gốc
2.3.3 Các kết quả nghiên cứu việc bón phối hợp NPK cho cà phê ở các giai ñoạn khác nhau
Trong các nguyên tố dinh dưỡng khoáng cho cây cà phê thì NPK là những nguyên tố ña lượng có quan hệ chặt chẽ với nhau và ñặc biệt cần thiết cho cây trồng Mối quan hệ hiêp ñồng hay ñối kháng giữa các nguyên tố này phụ thuộc vào số lượng và nồng ñộ của chúng trong dung dịch ñất
Trang 30Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ nông nghiệp 22
Theo De Geus (1967) [35], nên dùng tỷ lệ N:K = 1:1 cho cà phê KTCB
và cà phê kinh doanh
Tuy nhiên, các nhà nghiên cứu ñều khuyến cáo nên bón N:P:K với các
tỷ lệ khác nhau, thay ñổi tùy vào giai ñoạn sinh trưởng của cà phê
Theo Robinson (1961) [39] và Murrieta (1988) [37], việc bón ñồng thời cả 3 nguyên tố N, P, K có tác dụng tăng năng suất cà phê chứ không ảnh hưởng ñến chất lượng mùi vị cà phê chế biến
Theo khuyến cáo của Abd Rahman, Shukor Ngadimon (1991) [38], tỷ
lệ N:P:K bón cho thời kỳ kinh doanh của cà phê là 4:1:8
1:1:1,5 cho cà phê giai ñoạn kinh doanh
Tại Bờ Biển Ngà, Snoeck (1988) [41], ñề nghị tỷ lệ N:P:K là 12:6:20 cho cà phê kinh doanh Còn ở Papua New Guinea, CRI (1991) ñưa ra tỷ lệ N:P:K là 4:1:4
Tôn Nữ Tuấn Nam và Trương Hồng (1999) [19] khi nghiên cứu tổ hợp NPK cho cà phê vối ở ðắc Lăk vào giai ñoạn KTCB ñã ñề nghị bón N cao hơn P và K, còn ở giai ñoạn kinh doanh thì bón N-P-K theo các tỷ lệ 2:1:2 hay 1:2:2 (N bằng hoặc thấp hơn K) ñể ñạt ñược năng suất cao
2.4 Một số kết quả về việc sử dụng phân bón lá cho cà phê tại Việt Nam
Với sự gia tăng dân số nhanh chóng và ñất ñai canh tác bị giới hạn, người ta phải nâng cao năng suất nông sản ñể thỏa mãn nhu cầu thực phẩm và bảo ñảm an toàn lương thực, qua hai yếu tố sản suất căn bản - phát triển hệ thống tưới tiêu và sử dụng phân hóa học Hiện nay thế giới tiêu thụ mỗi năm
ñộ 130 triệu tấn phân và Việt Nam trên một triệu tấn Nhiều nước trên thế giới
và nước ta ñã sử dụng "phân bón lá" (foliar fertilizer) càng ngày càng nhiều, ñặc biệt trong khâu trồng rau hoa, cây ăn quả và cây công nghiệp như cà phê,
ca cao, bông vải, dâu, ñậu nành Việc sử dụng phân lá ñã có từ giữa thế kỷ
17 (1676), lúc mà ông E Mariotte (Pháp) ñã tìm thấy lá cây có thể hấp thụ nước từ bên ngoài Năm 1916 ông M O Johnson (Mỹ) phun chất sulfat sắt lên cây dứa có lá vàng làm cho cây này trở nên xanh trong vài tuần lễ
Trang 31Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ nông nghiệp 23
Phạm Văn Vinh (2007) [33], ñã nghiên cứu ảnh hưởng của phân bón Komix lên cà phê vối của Tây Nguyên và cho kết quả là phân Komix ñã làm tăng năng suất cà phê lên 15%
Thường sử dụng phân lá ñược xem như phương pháp bón phân bổ túc hoặc dùng chữa trị các loài bệnh sinh lý thực vật do sự xáo trộn hoặc thiếu chất dinh dưỡng ñất ñai, làm ảnh hưởng ñến các chất kích thích tố trong cây, làm ảnh hưởng ñến khả năng hấp thụ của hệ thống rễ và sự phát triển của cây (thí dụ: chất kẽm (Zn), ñồng (Cu), Bore (B) hoặc áp dụng thêm phân hay thay thế phân bón ñể kích thích sự phát triển cây (như chất ñạm (N), lân (P), magnesium (Mg) v.v ) hoặc áp dụng nhằm kích thích dinh dưỡng của cây trong lúc ra hoa và hình thành quả, hạt ñể bảo ñảm năng suất cao và tăng cao chất lượng (như chất Mg, manganese (Mn) ) Thường sử dụng phân bón lá, nếu áp dụng ñúng phương pháp, có thể thu ñược lợi tức kinh tế cao vì hiệu quả của sự hấp thụ phân bón lá cao ñến 80% so với 20-50% phân bón ñược hấp thụ ở rễ
Ngoài ra, phân bón lá dưới hình thức hỗn hợp chất lân còn giúp cho cây chịu ñựng ñược một số vấn ñề như hạn hán, bệnh tật và mật ñộ cây cao Phân bón lá có thể gồm các chất dinh dưỡng chính như chất ñạm, lân, kali, canxi và các chất vi lượng như chất sắt (Fe), kẽm (Zn), ñồng (Cu), bore (B), manganèse (Mn), magnésium (Mg), v.v và cả chất kích thích tố Trên thị trường người ta tìm thấy các phân bón lá dưới hình thức ñơn chất hoặc hợp chất giữa chất dinh dưỡng và chất kích thích tố Phân bón lá còn ñược phối hợp với thuốc sát trùng hoặc sát khuẩn, nhằm tăng gia hiệu năng của phân bón
lá trong lĩnh vực bảo vệ mùa màng và ñồng thời bớt tốn kém trong khi áp dụng Tuy nhiên sự phối hợp các chất này cần ñược nghiên cứu về hóa tính hỗ tương giữa các chất tố khi áp dụng
Cho nên, sử dụng phân bón lá ñòi hỏi sự hiểu biết chính xác về tình trạng dinh dưỡng ñất ñai của mình, các cấu tố của phân lá và các phương pháp, ñiều kiện áp dụng phân lá thích ứng ñể nâng cao mức ñộ hữu hiệu Nếu không, sự áp dụng phân bón lá trở nên hoang phí Cho nên, cần có các cuộc
Trang 32Trường đại học Nông nghiệp Hà Nội Ờ Luận văn thạc sĩ nông nghiệp 24
thử nghiệm từng loại phân bón lá cho từng loại hoa màu, ựất ựai và ựịa phương cho mỗi mục tiêu trước khi ựem phổ biến và áp dụng
Sau nhiều năm nghiên cứu, Viện Thổ nhưỡng - Nông hóa (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn) vừa chắnh thức công bố phân bón qua lá FID, không chỉ có tác dụng làm tăng năng suất cây trồng, mà còn có thể bổ sung iốt cho người thông qua lượng iốt hòa tan trong cây
Bùi đình Dinh, chủ nhiệm ựề tài cho biết, ban ựầu nhóm chỉ tạo ựược sản phẩm phân bón lá FID 20 chứa nồng ựộ iốt là 20 ppm và chỉ dùng thử nghiệm trên một số loại cây trồng nhất ựịnh Sau nhiều lần cải tiến, ựến nay nhóm ựã cho ra chế phẩm FID 500, với hàm lượng iốt tăng 25 lần và ựược mở rộng thử nghiệm trên nhiều loại cây trồng khác nhau
FID ựược ựiều chế trên nguyên tắc bảo ựảm thành phần các nguyên tố dinh dưỡng (N, P, K) với tỷ lệ cao và cân ựối, thắch hợp với nhiều loại cây trồng Tất cả các nguyên tố trung và vi lượng (Ca, Mg, Fe, Zn, Cu, Mn, Mo ) ựược ựưa vào hỗn hợp chứa dạng Chelate hữu cơ, cùng với chất ựiều tiết sinh trưởng và chất hoạt ựộng bề mặt Sau cùng, nguyên tố iốt ựược ựưa vào dung dịch với hàm lượng hợp lý
Thử nghiệm chế phẩm này cho kết quả rất khả quan Trên các loại ựất phù sa sông Hồng ở Hà Nội, Hà Tây, ựất bạc màu ở Sóc Sơn (Hà Nội), ựất ựỏ vàng ở Hòa Bình, ựất bazan ở Buôn Mê Thuột (đăk Lăk) , phân bón lá FID ựều làm tăng lượng iốt và năng suất ựáng kể Cụ thể, năng suất lúa tăng 13%, ựậu tương 15%, rau muống 23%, ựậu cô ve 25%, xà lách 21-26%, cải đông
Dư 13% Hàm lượng iốt ở lúa tăng lên 3 lần, cải đông Dư 1,5 lần, xà lách 3 lần, cải xanh 6 lần, ựậu cô ve 4-5 lần
Theo các nhà nghiên cứu, chế phẩm phân bón lá FID sẽ giúp con người thông qua cây trồng hấp thụ iốt nhiều nhất dưới dạng hòa tan đây cũng là phương pháp cung cấp iốt hiệu quả cho ựồng bào vùng cao, ựồng bào dân tộc, góp phần phòng chống các bệnh rối loạn do thiếu iốt
Trang 33Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ nông nghiệp 25
Thêm nữa, việc sử dụng phân bón lá FID cũng rất ñơn giản Người dùng chỉ cần pha 30-40ml dung dịch FID cho một bình 8-18 lít nước, liều lượng phun trung bình 2 bình/sào Bắc Bộ
Ngoài ra còn các loại phân bón lá chuyên dùng cho cà phê như NUCAFE do Viện Khoa học Kỹ thuật Nông lâm nghiệp Tây Nguyên (WASI) sản xuất dựa trên kết quả nghiên cứu khoa học trên 20 năm về cây cà phê Sản phẩm phân bón lá này ñã ñã Hội ñồng Khoa học của Bộ Nông nghiệp nghiệm thu ñánh giá và công nhận là tiến bộ kỹ thuật cho phép sản xuất và lưu hành Các kết quả nghiên cứu, khảo nghiệm và áp dụng vào sản xuất từ năm 2000 ñến nay ñã cho thấy sử dụng NUCAFE phun từ 2 – 3 lần từ tháng 6 ñến tháng
8 ñã làm tăng năng suất từ 5 – 30 % do hạn chế ñược tỷ lệ rụng quả, tăng trọng lượng nhân và cải thiện ñược kích cỡ hạt cà phê ñáng kể nên chất lượng hạt cà phê cũng ñược nâng cao Ngoài ra, sử dụng NUCAFE còn giúp phòng trị ñược các loại bệnh sinh lý dinh dưỡng như vàng, bạc lá non do thiếu lưu huỳnh, xoăn lá, rụt cổ do thiếu kẽm, ñặc biệt rất quả hiệu quả trong việc phòng trị hội chứng rối loạn sinh lý dinh dưỡng cho cà phê sau ghép cải tạo Phun vào giai ñoạn sau thu hoạch giúp cây tăng khả năng chống chịu ñược với ñiều kiện khô hạn, tăng khả năng phân hoa mầm hoa, ra hoa và ñậu quả
Phân bón lá, theo lý thuyết, là loại phân lý tưởng trong ngành nông nghiệp vì ñộ hiệu quả cao nhất, nhưng ñòi hỏi người dùng phải có sự hiểu biết tối thiểu ñể thu ñược lợi tức kinh tế cao cần nên nhớ rằng phân bón lá chỉ có thể làm thỏa mãn một phần các chất dinh dưỡng (N, P, K và Ca) của cây mà thôi và không thể thay thế hoàn toàn nhu cầu về các chất này ñược Vì vậy, phân bón lá chỉ có thể làm quân bình chất dinh dưỡng của cây, chữa trị ñược vài vấn ñề về bệnh sinh lý của cây, chống chịu thời tiết bất thường như hạn hán, giúp cây ñơm bông kết trái, hột mỹ mãn hoặc sớm muộn theo ý muốn, giúp cho hệ thống rễ cây hấp thụ chất dinh dưỡng nhiều hơn, và cải thiện năng suất cùng chất lượng
Trang 34Trường ðại học Nụng nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ nụng nghiệp 26
3 ðỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIấN CỨU
3.1 ðặc ủiểm vựng nghiờn cứu
so với mặt biển
3.1.3 Điều kiện khí hậu
Khí hậu Sơn La mang tính lục địa, có 2 mùa rõ rệt, mùa mưa nóng ẩm
từ tháng 4 đến tháng 9, lượng mưa chiếm 85 - 90 % tổng lượng mưa cả năm Mùa khô từ tháng 10 đến hết tháng 3 năm sau, lạnh và khô
Lượng mưa trung bình 1300 - 1500 mm nhưng phân bố không đều Sơn La còn chịu ảnh hưởng của gió Tây Nam (gió Lào), do vậy có thời
kỳ rất khô và nóng, đặc biệt vào tháng 2 và tháng 3
Chế độ khô hạn không gay gắt, chỉ số khô hạn cao nhất là 2,3 Do vậy
cà phê Sơn La không tưới vẫn có thể cho năng suất cao, nếu có chế độ canh tác
đảm bảo (Bùi Văn Sỹ, Nguyễn Tử Hải, 2000) [27]
Trang 35Trường ðại học Nụng nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ nụng nghiệp 27
Sơn La có số ngày sương muối tập trung vào tháng 12 và tháng 1 Phạm
vi, mức độ ảnh hưởng của sương muối rất khác nhau giữa các năm, có năm bị nặng như năm 1975, 1999 và bị nhẹ như năm 1993 và 1995 Sương muối thường chỉ xảy ra ở các vùng thung lũng dọc quốc lộ 6, nơi có độ cao trên
Ẩm ủộ tương ủối (%)
Lượng mưa (mm)
gian khô và lạnh vào tháng 12 và tháng 1, rất có lợi cho sự phân hóa mầm hoa
Trang 36Trường ðại học Nụng nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ nụng nghiệp 28
của cà phê
Nhìn chung khí hậu Sơn La phù hợp cho sự sinh trưởng và phát triển của
cà phê Song cần tăng cường các biện pháp kỹ thuật thâm canh và quy hoạch vùng trồng cà phê để hạn chế sương muối gây hại
Bảng 3.2: ðiều kiện khớ hậu tại thành phố Sơn La
trong 6 thỏng ủầu năm 2010
[Nguồn: Trung tõm khớ tượng thủy văn khu vực Tõy Bắc]
3.1.4 Điều kiện đất đai
Sơn La có độ cao trung bình từ 650 - 700 m so mặt biển Đất chủ yếu là
đất ferralit đỏ vàng phát triển trên phiến thạch, sa thạch và trên đá vôi, có độ dốc cao nên bị rửa trôi, xói mòn mạnh Đất có độ dốc dưới 250 chỉ chiếm
lý, bảo vệ và chống xói mòn đất
Kết quả phân tích đất của Sơn La được trình bày ở bảng 9 cho thấy đất rất chua, pHKCl biến động từ 3,5 - 3,9 Tuy nhiên đất có hàm lượng các bon khá, hàm lượng N, P cao và hàm lượng kali tổng số thấp Đất rất giàu canxi
Trang 37Trường ðại học Nụng nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ nụng nghiệp 29
Bảng 3.3: Kết quả phân tích đất vườn cà phê Sơn La (0 - 30 cm)
(Nguồn: Trung tâm phân tích đất thuộc Viện Nông hóa Thổ nhưỡng)
3.1.5 Đặc điểm kinh tế x" hội vùng nghiên cứu
Tỉnh Sơn La có 10 huyện, 1 thành phố với dân số 115 vạn người, mật độ dân số 75 người/ km2
Sơn La có 12 dân tộc, chủ yếu: Dân tộc Thái (54 %), Kinh (18 %), HMông (12 %)
Nền kinh tế của tỉnh chủ yếu vẫn là sản xuất nông nghiệp Tốc độ tăng trưởng kinh tế khá GDP bỡnh quõn ủạt 630USD/ người /năm
Sản xuất nông nghiệp phát triển, việc chuyển đổi cơ cấu đ2 có kết quả theo hướng sản xuất hàng hóa, xác định cây chủ lực xuất khẩu, như chè, mía,
Trang 38Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ nông nghiệp 30
3.2 ðối tượng, ñịa ñiểm và thời gian nghiên cứu
Cà phê chè giống Catimor Chọn vườn làm thí nghiệm có ñiều kiện ñịa hình, ñất ñai bằng phẳng mật ñộ khoảng 4500 – 5000 cây/ha, vườn cà phê chè có ñộ tuổi 4 - 5 năm, ñồng ñều về sinh trưởng và năng suất ổn ñịnh là khoảng 15 – 20 tấn/ha (năng suất quả tươi)
ðịa ñiểm nghiên cứu là tại xã Chiềng Ban - huyện Mai Sơn - tỉnh Sơn La Thời gian tiến hành thí nghiệm là từ tháng 1 năm 2009 tới tháng 7 năm 2010
3.3 Vật liệu nghiên cứu
Giới thiệu các loại phân bón lá:
Thí nghiệm phân bón lá chỉ giới hạn ở các loại phân: Komix, ðầu Trâu
09, Multi_K ñây là các loại phân bón lá phổ biến ở Sơn La
+ Komix: Pha 60ml/8 lít nước phun ñều trên các phần của cây, phun 1 lần trước khi ra hoa và 3 lần khi ñậu quả mỗi lần cách nhau 7 ngày Thành phần: chất hữu cơ >15%, N (2,6%), P2O5 (7,5%), K2O (2,2%) Mg (2%), vi lượng: 500ppm, các chất ñiều hòa sinh trưởng
+ ðầu Trâu 009: Pha 20g/8 lít nước, phun dưỡng cây ñịnh kỳ 10-15 ngày/lần và phun 3-4 lần sau khi ñậu quả Thành phần: 20% ñạm (N), 20%
sắt (Fe), ñồng (Cu), mangan (Mn), bo (B), molypden (Mo), gibberellin, αNAA
+ Multi_K: Pha 80g/8 lít nước phun từ 2 – 3 lần Thành phần: chứa 13%N, 46% K2O, 0% P2O5
Phương pháp xử lý: Vì theo dõi các chỉ tiêu sinh trưởng cành nên phải phun sớm vào tháng 11 – 12/2008 Phun làm 3 lần: lần 1 trước khi ra hoa lần 1(tháng 11 – 12/2008); lần 2 khi ñậu quả (tháng 4); lần 3 khi quả bắt ñầu tăng kích thước (tháng 6)
Phun vào buổi chiều, phun ướt 2 mặt lá, quả non với liều lượng là 500 lít/lần/ha
Trang 39Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ nông nghiệp 31
3.4 Nội dung nghiên cứu
3.4.1 ðiều tra tình hình sử dụng phân bón cho cà phê chè tại Sơn la
ðiều tra tình hình sử dụng phân bón của các hộ gia ñình trồng cà phê: Phân khoáng (N, P2O5, K2O), phân chuồng, phân bón lá
So sánh năng suất cà phê và hiệu quả kinh tế với các mức phân bón khác nhau
3.4.2 Ảnh hưởng của phân bón lá ñến sinh trưởng, phát triển và năng suất
cà phê chè tại Sơn la
Thí nghiệm ñược tiến hành với 3 loại phân bón lá, mỗi loại là một công thức thí nghiệm Phân bón lá ñược phun theo khuyến cáo với 3 lần phun: lần 1 trứơc khi phân hoá mầm hoa, lần 2 khi quả mới hình thành và lần 3 khi quả tăng kích thước Bón trên nền: 250N - 120P2O5 - 300K2O
Trang 40Trường ðại học Nụng nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ nụng nghiệp 32
Cỏc thớ nghiệm ủược bố trớ theo phương phỏp khối ngẫu nhiờn ủầy ủủ
Thời kỳ bón: Bón 2 – 3 lần/năm Từ tháng 3 đến tháng 10 Tránh bón khi mưa
to, hoặc lúc quá khô hạn
Cách bón: Cây chăm sóc bón cách gốc 15 – 20 cm; Cây kinh doanh bón cách gốc 30cm theo dải rộng 50cm ra phía ngoài tán Đào r2nh quanh tán bỏ phân lấp đất
Tỉa hình tạo tán: Thường xuyên tỉa cành, tạo tán cho cà phê Bấm h2m ngọn ở
độ cao 160cm
3.5.2 Cỏc chỉ tiờu theo dừi và phương phỏp xỏc ủịnh
Chọn ngẫu nhiờn trong mỗi ụ thớ nghiệm 5 cõy, mỗi cõy chọn 5 cành sau
ủú tiến hành ủo ủếm cỏc chỉ tiờu
*Cỏc chỉ tiờu theo dừi
- ðộng thỏi tăng trưởng chiều dài cành (cm/cành): Dựng thước dõy ủo
từ ủầu cành tới ngọn lỏ xa nhất
- ðộng thỏi tăng trưởng ủường kớnh cành (mm): Dựng thước kẹp panme
ủo tại vị trớ cỏch thõn chớnh 10cm
- ðộng thỏi ra lỏ (lỏ/cành)
- Số ủốt mang quả trờn cành (ủốt/cành)
Cỏc chỉ tiờu sinh trưởng theo dừi 1 thỏng 1 lần
- Số lượng hoa/cành
- Tỷ lệ ủậu hoa (%) = (số hoa ủịnh hỡnh/số hoa thỏng 1)* 100
- Tỷ lệ ủậu quả ban ủầu = (% số quả ủậu /số hoa)*100