1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Sức mạnh của đồng tiền chung châu âu

24 313 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 24
Dung lượng 467,19 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Giả sử nhóm anhchị là các nhân viên của Bộ Tài Chính (Việt Nam). Nhóm anhchị muốn hỗ trợ thương mại cho các công ty Việt Nam. Anhchị được yêu cầu nghiên cứu hàng hóa, những vấn đề tiêu cực trong tình huống từ góc nhìn của một doanh nghiệp Việt Nam thực hiện kinh doanh với các quốc gia khác. Hãy chuẩn bị một báo cáo kinhdoanh nêu khái quát các kết quả và đề xuất của anhchị mà Bộ Tài Chính có thể áp dụng để tạo dựng một môi trường Việt Nam tốt hơn. Đặc biệt là đề xuất về chính sách đối với các đồng tiền ảo

Trang 1

LOGO

BÀI TẬP NHÓM

TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP QUỐC TẾ

Học viên 1: Nguyễn Văn Khái

Học viên 2: Lê Minh Tùng

Học viên 3: Phan Văn Quyền

Học Viên 4: Đỗ Thị Thơ

Học viên 5: Nguyễn Mạnh Cường

Học viên 6: Bùi Thị Thúy Hằng

Trang 2

Nội dung nghiên cứu

Lý luận chung về tài chính DN

Phân tích thị trường tài chính VN

Cán cân thương mại & khủng hoảng KT Nhận định chung về kinh tế tài chính VN

Đề xuất biện pháp để cải thiện tình hình

Trang 3

Khái niệm doanh nghiệp, tài chính doanh nghiệp

Doanh nghiệp:

Là các đơn vị chủ thể kinh tế độc lập được thành lập theo qui định của pháp luật nhằm mục đích chủ yếu là thực hiện các hoạt động sản xuất kinh doanh theo mục tiêu sinh lời

Tài chính doanh nghiệp:

Là hoạt động tài chính của các tổ chức nói trên Đó

là một hệ thống những quan hệ kinh tế phát sinh trong lĩnh vực phân phối quỹ tiền tệ, quá trình tạo lập

và chu chuyển nguồn vốn , của một doanh nghiệp để đạt được mục tiêu chung của doanh nghiệp đó.

Trang 4

Quan hệ của tài chính doanh nghiệp

doanh nghiệp

Trang 5

Đặc điểm tài chính doanh nghiệp

Đặc Điểm TCDN

Quá trình hình thành vốn

Quá trình sử dụng vốn

Trang 6

Tổng quan về tình hình kinh tế tài chính tại Việt Nam

Về tăng trưởng kinh tế

Trang 7

Về tăng trưởng kinh tế

 Sản xuất của nền kinh tế có xu hướng cải thiện nhưng chậm Mặc dù hàng tồn

kho công nghiệp chế biến chế tạo giảm khá mạnh 7 và chỉ số phát triển công nghiệp cũng có xu hướng tăng dần đều qua từng tháng để đạt mức tăng 5,4% trong 9 tháng/2013, cao hơn so với cùng kỳ năm 2012 (tăng 4,8% so với cùng

kỳ năm trước), nhưng tốc độ tăng nhập khẩu của các mặt hàng tư liệu phục vụ sản xuất vẫn chỉ ở mức khá khiêm tốn 9 Bên cạnh đó, tham khảo chỉ số PMI Việt nam của HSBC trong 8 tháng đầu năm cho thấy chỉ số này sau 2 tháng 3

và tháng 4/2013 liên tục tăng đã có 4 tháng liên tiếp đạt dưới mức 50 điểm Điều này cho thấy doanh nghiệp vẫn còn khá thận trọng trong việc mở rộng sản xuất khi các điều kiện thị trường chưa thực sự thuận lợi, đặc biệt là đối với các doanh nghiệp trong nước

 Tổng cầu được cải thiện nhưng còn khá yếu Theo đó, cầu tiêu dùng đã có xu

hướng tăng dần qua từng tháng nhưng vẫn ở mức tương đối yếu, tổng mức bán

lẻ hàng hóa dịch vụ 9 tháng/2013 vì vậy chỉ đạt mức tăng 12,5% so với cùng kỳ năm trước, nếu loại trừ yếu tố giá tăng 5,3% (cùng kỳ năm 2012 tăng 6,7% so với năm 2011) Có thể thấy rằng, tổng cầu thấp sẽ tiếp tục là một trong những nguyên nhân khiến sản xuất của nền kinh tế trong quí 4 khó có điều kiện tăng mạnh đột biến so với quí 3/2013

Trang 8

Về lạm phát

 Theo đánh giá của Ủy ban giám sát tài chính quốc gia (UBGSTCGQ), lạm phát

trong những tháng gần đây, đặc biệt là trong 2 tháng, tháng 8 (tăng 0,83% so với tháng 7 và tăng 7,5% so với cùng kỳ) và tháng 9 (tăng 1,06% so với tháng 8 và tăng 6,3% so với cùng kỳ) tăng chủ yếu là do tác động của việc điều chỉnh giá hàng hóa

cơ bản, và dịch vụ công (y tế, giáo dục) và một phần do yếu tố mùa vụ (chỉ số mùa

vụ của CPI thường có xu hướng tăng cao trong 2 đợt, từ tháng 9 cho đến cuối năm

và trong dịp tết nguyên đán) mà không chịu nhiều tác động của những yếu tố cơ bản (như mở rộng chính sách tiền tệ hay chính sách tài khóa)

 Phân tích các thành phần của lạm phát cho thấy khá rõ về nhận định này Cụ thể,

dưới tác động của Nghị quyết 11/NQ-CP năm 2011 với định hướng thắt chặt chính sách tiền tệ - tài khóa, thành phần chu kì của lạm phát sau khi đạt đỉnh vào tháng 8/2011 đã liên tục giảm xuống và chạm đáy vào tháng 7/2012, thành phần này chỉ thực sự có tác động nhẹ trở lại vào tháng 7 và tháng 8/2013 và gần như không gây tác động đáng kể nào đến CPI trong tháng 9/2013 Theo đánh giá của UBGSTCQG,

xu thế này nhiều khả năng sẽ được duy trì trong những tháng cuối năm 2013 Mặt khác, thành phần xu hướng mang tính dài hạn của lạm phát đang tiếp tục giảm nhẹ

và ổn định quanh mức 7% Vì vậy UBGSTCQG cho rằng tốc độ tăng CPI trong những tháng cuối năm 2013 vẫn sẽ chủ yếu phụ thuộc vào việc điều hành giá các mặt hàng cơ bản

Trang 9

Thị trường tiền tệ và ngoại hối

Thị trường tiền tệ trong 9 tháng đầu năm 2013 tiếp tục có những cải thiện tích cực: (i) Thanh khoản của hệ thống ngân hàng được củng cố và hiện khá dồi dào so với giai đoạn trước do tốc độ tăng huy động luôn đạt mức tăng cao hơn nhiều so với tốc độ tăng trưởng tín dụng của hệ thống12, lãi suất cho vay trên thị trường LNH vì vậy dù có một

số thời điểm tăng đột biến nhưng nhìn chung đã duy trì được sự ổn định với lãi suất luôn ở mức thấp (3-4% ) trong phần lớn thời gian của 9 tháng đầu năm; (ii) Tỷ lệ cho vay trên huy động trên thị trường 1 cũng như tỷ lệ huy động từ thị trường 2/tổng tài sản của các tổ chức tín dụng (TCTD) đang giảm dần cho thấy những tín hiệu tích cực khi mức độ rủi ro trong hoạt động của đa phần các TCTD và của toàn hệ thống đã giảm đáng kể; (iii) Trên thị trường ngoại hối, tỷ giá hối đoái từ đầu năm đến nay khá ổn định

và chỉ có vài biến động nhỏ mang tính thời vụ và tâm lý nhất thời Theo nhận định của UBGSTCGQ, thị trường ngoại hối và tỷ giá hối đoái nhiều khả năng sẽ tiếp tục duy trì được sự ổn định trong những tháng cuối năm 2013 do cung và cầu ngoại hối trên thị trường trong những tháng cuối năm vẫn ổn định, dự trữ ngoại tệ tiếp tục tăng khá

Trang 10

Tình hình ngân sách nhà nước

Tương tự như năm 2012, thu từ dầu thô tiếp tục là nhân tố chủ yếu để bù đắp cho hụt thu từ thu nội địa và thu cân đối từ hoạt động xuất nhập khẩu trong 9 tháng/2013 Theo đó, tính đến 15/9, thu dầu thô tăng 7,5% so với kế hoạch, bù đắp cho giảm thu 10% và 13% từ các khoản thu nội địa và thu cân đối từ hoạt động xuất nhập khẩu13 Dù vậy, tổng thu cân đối Ngân sách nhà nước (NSNN) cho đến nay vẫn ở mức thấp hơn khá nhiều so với kế hoạch14 Với xu hướng giảm thu từ hoạt động xuất nhập khẩu (so với kế hoạch) vẫn tiếp tục kéo dài từ năm 2012 đến nay15; xu hướng sản lượng, giá dầu và tốc

độ tăng thu từ dầu thô giảm so với cùng kỳ năm 201216 cùng những yếu tố làm tăng mạnh thu NSNN trong những tháng cuối năm 2013 không nhiều, UBGSTCQG cho rằng khả năng cân đối NSNN theo kế hoạch đề ra sẽ tiếp tục gặp những khó khăn thách thức lớn trong những tháng cuối năm 2013.

Trang 11

Đánh giá chung về sự nỗ lực của nhà nước trong

việc cải thiện tình hình

1

Về định hướng chung:

những chính sách được

thực hiện trong thời gian

qua với định hướng ổn

định vĩ mô, kiềm chế lạm

phát đã đạt được những

kết quả nhất định Chính

sách điều hành trong thời

gian tới cần kiên trì mục

tiêu ổn định vĩ mô, kiềm

chế lạm phát đã đề ra

nhằm tiếp tục cải thiện

môi trường kinh tế trong

nước và củng cố niềm tin

của nhà đầu tư và thị

trường.

3

Về chính sách tài khóa, khả năng cân

đối NSNN hiện đang rất khó khăn Về lâu dài, cần xây dựng khuôn khổ ngân sách trung hạn để đảm bảo

sự bền vững của NSNN, đồng thời xây dựng kế hoạch giảm dần đối tượng hưởng lương ngân sách để dần chuyển dịch cơ cấu chi NSNN, thiết lập sự cân bằng giữa chi thường xuyên

2

Về công tác quản lý giá, lạm phát trong

những tháng vừa qua tăng khá mạnh so với giai đoạn đầu năm

Dù vậy, như đã phân tích, CPI tăng trong những tháng qua không phải do những yếu tố cơ bản mà chủ yếu là do việc chủ động điều chỉnh giá các mặt hàng cơ bản

và dịch vụ công

Trang 12

Cán Cân Thương Mại và các tác động của Khủng Hoảng Kinh Tế

Toàn Cầu

Tác động ở mức nguy hiểm của khủng hoảng ở Eurozone đối với châu Á là do những quan

hệ tài chính và thương mại chặt chẽ giữa hai khu vực Các nền kinh tế châu Á mới nổi vẫn phải đối mặt với nguy cơ từ các dòng vốn quá biến động hoặc quá mạnh, hoặc kết hợp cả hai hiểm họa này Nếu các thị trường liên ngân hàng toàn cầu bị tê liệt và các ngân hàng châu Âu bị rối loạn thì nguồn cung tín dụng cho châu Á sẽ bị ảnh hưởng nghiêm trọng Ngoài ra, các nền kinh tế châu Á cũng phải đối mặt với biến động về giá cả hàng hóa và lương thực Căng thẳng địa chính trị có thể đẩy giá dầu tăng cao và điều này tác động đến các nền kinh tế châu Á phụ thuộc vào nhập khẩu dầu Giá dầu sẽ tác động đến giá các hàng hóa khác và giá lương thực, dẫn đến lạm phát cao ở hầu hết các nền kinh tế châu Á.

Như vậy, có thể thấy rằng kinh tế thế giới hiện đang và sẽ tiếp tục chịu tác động của những yếu tố tiêu cực, trong đó có quá trình tái cấu trúc nợ ở châu Âu, tốc độ tăng trưởng chậm lại của Trung Quốc và những vấn đề tài chính khó khăn của Mỹ.

Hiện thực trên được nhìn nhận ở nhiều phương diện khác nhau và cũng được lý giải với nhiều căn nguyên, song đều có những nhìn nhận khá căn bản rằng cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu khởi phát từ cuối năm 2007, đầu năm 2008 và cuộc khủng hoảng nợ công hiện nay là hiện thân của sự bất ổn nghiêm trọng mang tính cấu trúc của nền kinh tế thế giới và mô hình phát triển kinh tế thị trường thiên lệch, kém bền vững mà hầu hết các nước đang theo đuổi lâu nay Thế giới dường như đang chứng kiến một sự thất bại "kép" của cơ chế kinh tế thị trường và nhà nước với chức năng quản lý kinh tế.

Trang 13

Hệ quả của khủng hoảng kinh tế toàn cầu

Title

Ưu tiên tạo việc làm là lựa chọn mà các quốc gia, khu vực và toàn thế giới hướng đến

Nền kinh tế thế giới có xu

hướng gắn kết nhau cùng phát

triển, duy trì đối thoại mở

Phối hợp điều tiết kinh tế giữa các nhà nước sẽ là hoạt động phổ biến chi phối vai trò điều tiết kinh

tế của các nhà nước quốc gia

Để phục hồi nền kinh tế sau khủng hoảng, mỗi nền kinh tế, mỗi quốc gia sẽ có những cách thức riêng

Các nền kinh tế đều trực

tiếp hoặc gián tiếp kỳ

vọng hình thành một thể

chế quốc tế

Mỗi nền kinh tế quốc gia cũng

đang hướng tới những cải tổ cần

thiết đối với hệ thống tài chính

quốc gia nhằm đảm bảo sự ổn

định và an toàn cần thiết.

Trang 14

Các khung pháp lý và quy định của nhiều giao dịch tài

chính đa tiền tệ

Nhiều quốc gia đề xuất những ý tưởng phối hợp với nhau

để tạo thành một sức mạnh tổng hợp vượt qua khủng hoảng

Phương châm

xử thế của các nước trong những thiết chế khu vực (như EU, ASEAN) là tự cứu mình trước

Cấp độ khu vực Cấp độ quốc tế Giải pháp phục hồi

Thực hiện sứ mệnh của mình trên các phương diện như: đảm bảo ổn định vĩ mô; thiết lập một

hệ thống thể chế

và chính sách vĩ

mô hữu hiệu phù hợp với xu hướng phát triển mới của thế giới; đảm bảo

sự vững chắc của ngân sách quốc gia, coi chính sách ngân sách như một công cụ quan trọng

để điều chỉnh kinh

tế vĩ mô; chính sách tiền tệ - tín

dụng

Tùy vào vị trí, vai trò của mình

mà các nhà nước

có thể tham gia vào các diễn đàn hợp tác quốc tế ở những mức độ khác nhau Các ứng phó khủng hoảng thường được thực hiện bởi sự hỗ trợ tài chính khẩn cấp

và to lớn của cộng đồng quốc

tế thông qua vai trò tổ chức, điều phối và giám sát của các tổ chức quốc tế

Trang 15

Các tác động đến hiệu quả tài chính

bức tranh toàn cảnh về nguy

cơ tụt hậu càng rõ nét hơn.

Cơ hội

Bảo đảm môi trường đối

ngoại hòa bình để Việt Nam

có thể tập trung các nguồn

lực trong nước cho công cuộc

phát triển kinh tế Nâng cao vị

thế đất nước trong các giao

lưu và quan hệ kinh tế quốc

tế, tiếp cận, nắm bắt các công

nghệ tiên tiến để hiện thực

hóa mục tiêu đi tắt đón đầu,

rút ngắn khoảng cách tụt hậu

hoàn thiện thể chế thị trường

quốc gia theo những chuẩn

Trang 16

Giải pháp để khắc phục các thách thức

Một là

Phải có những điều chỉnh thích hợp các cân đối vĩ mô của nền kinh tế (cân đối tích lũy - đầu tư và tiêu dùng, thu và chi ngân sách, cân đối đầu tư sản xuất và đầu tư phát triển; nợ nước ngoài và nợ trong nước, cơ cấu mỗi loại nợ), cũng như các quan hệ chính trị - xã hội

Từng bước hình thành một cách rõ ràng và chủ động lộ trình phát triển và hội nhập của đất nước trên tất cả các lĩnh vực, các phương diện Tránh tình trạng mọi thứ đều chung chung và tình trạng khi phát sinh vấn đề cụ thể, cục

bộ

Trong định hướng chiến lược phát triển đất nước ngoài việc chủ động trong hội nhập cần tiến đến đạt mục tiêu phát triển bền vững với một nền kinh

tế xanh, sạch, hiệu quả và chất lượng cuộc sống

Trang 17

Nhận định chung về tình hình kinh tế tài chính tại Việt Nam

 Năm 2013, tình hình kinh tế thế giới vẫn còn nhiều bất ổn và biến động phức tạp Tăng trưởng khu vực đồng tiền chung châu Âu, đặc biệt là các nước đang chịu ảnh hưởng của

nợ công vẫn còn mờ nhạt, tác động không nhỏ đến sản xuất trong nước Bên cạnh đó, các yếu tố nội tại cũng chưa được giải quyết triệt để như hàng tồn kho ở mức cao, sức mua yếu, nợ xấu ngân hàng đáng lo ngại, nhiều doanh nghiệp thu hẹp sản xuất, dừng hoạt động hoặc giải thể

 Năm 2013, Ngân hàng Nhà nước đã điều tiết khá tốt mức cung tiền do đó kiểm soát được lạm phát, thêm vào đó giá lương thực, thực phẩm cũng chỉ tăng nhẹ Tuy nhiên, so với mục tiêu tổng quát đề ra, kinh tế năm 2013 mới hoàn thành một vế là “lạm phát thấp hơn, tăng trưởng cao hơn năm 2012”, còn yếu tố “tăng trưởng ổn định” vẫn được đánh giá là chưa vững chắc.

 Tăng trưởng cao hơn nhưng đây vẫn là năm thứ ba liên tiếp không hoàn thành mục tiêu Chất lượng tăng trưởng của Việt Nam cũng thiếu bền vững khi dựa nhiều vào vốn và lao động

 Công ty quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng (VAMC) được thành lập đang tiến hành mua nợ của các nhà băng nhưng còn vướng mắc về cơ chế xử lý Với thực trạng kinh tế Việt Nam hiện nay, giải quyết nợ xấu cũng phải mất thời gian chứ không thể xử lý trong ngắn hạn.

Trang 18

Đề xuất các biện pháp để cải thiện tình hình kinh tế tài

chính Việt Nam

Chống thất thoát, lãng phí,

tham nhũng

Tái cơ cấu thu-chi ngân sách

Giám sát chặt chẽ hơn các khoản

mục trong chi tiêu công

Xác định chi phải trên cơ sở

phủ và dư nợ quốc gia

Bảo đảm an toàn trong giới

hạn cho phép Bảo đảm an ninh tài chính quốc gia

Trang 19

Tình hình sử dụng đồng Bitcoin

 Nhu cầu mua bán Bitcoin xuất hiện là do Bitcoin hiện đang được sử dụng như một phương tiện thanh toán cho hàng hóa và dịch vụ của một số nhà cung cấp Giá trị của đồng tiền ảo này cũng liên tục biến động, dẫn đến nhu cầu mua đi bán lại Bitcoin để kiếm lợi nhuận Tuy nhiên, theo khuyến cáo của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Bitcoin và các loại tiền ảo tương

tự khác không phải là tiền tệ và không phải là phương tiện thanh toán hợp pháp tại Việt Nam Việc sở hữu, mua bán, sử dụng Bitcoin như là một loại tài sản tiềm ẩn rất nhiều rủi do cho người dân và không được pháp luật bảo vệ.

 Trước sự phát triển và biến động khó lường của Bitcoin trên thế giới cũng như sự xuất hiện

của đồng tiền ảo này trên thị trường Việt Nam, NHNN Việt Nam đã ra thông cáo không thừa nhận giá trị pháp lý của Bitcoin.

 Tuy nhiên, cho đến nay, cộng đồng Bitcoin Việt Nam đã lên tới 400 người và có xu hướng

ngày càng lan rộng, bất chấp những khuyến cáo mà NHNN đã đưa ra.

 Như vậy, hiện nay Cục Thương mại điện tử và CNTT không chấp nhận việc thông báo, đăng

ký các website mua bán Bitcoin như website thương mại điện tử bán hàng hay sàn giao dịch thương mại điện tử Do việc sở hữu và sử dụng Bitcoin như một loại tài sản tiềm ẩn nhiều rủi

ro và không được pháp luật bảo vệ, Cục cũng khuyến cáo người tiêu dùng thận trọng khi tham gia mua bán Bitcoin hay sử dụng Bitcoin để thanh toán cho các giao dịch thương mại điện tử.

Ngày đăng: 10/10/2014, 23:44

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w