1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh tại xí nghiệp may xuất khẩu hoàng anh

58 243 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 58
Dung lượng 547 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thấy được tầm quan trọng cũng như những lợi ích mà việc phân tích kết quả kinh doanh mang lại và những cơ hội, thách thức trong môi trường kinh doanh gay gắt như hiện nay, sau một thời g

Trang 2

DANH MỤC SƠ ĐỒ, BẢNG BIỂU

Trang 3

LỜI MỞ ĐẦU

Trong môi trường cạnh tranh gay gắt như hiện nay, vấn đề đặt ra cho các doanh nghiệp là làm thế nào để có thể tồn tại và phát triển, bất kỳ doanh nghiệp nào cũng chú trọng đến vấn đề hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp mình Hiệu quả kinh doanh là thước đo cuối cùng trong suốt thời kỳ hoạt động và là vấn đề sống còn của doanh nghiệp Muốn có được thành công trong tương lai thì doanh nghiệp phải thường xuyên phân tích kết quả hoạt động kinh doanh, vì thông qua việc phân tích này sẽ giúp cho các nhà quản trị đánh giá đầy đủ, chính xác mọi diễn biến và biết được mặt mạnh mặt yếu của công ty trong mối quan hệ với môi trường xung quanh Qua đó cũng xác định rõ nguyên nhân và sự ảnh hưởng của các nguyên nhân làm tăng giảm lợi nhuận để tìm hướng đi riêng cho mình và có các giải pháp không ngừng nâng cao hiệu quả kinh doanh nhằm mở rộng quy mô hoạt động, đảm bảo đời sống cho người lao động, hoàn thành nghĩa vụ với nhà nước

Thấy được tầm quan trọng cũng như những lợi ích mà việc phân tích kết quả kinh doanh mang lại và những cơ hội, thách thức trong môi trường kinh doanh gay gắt như hiện nay, sau một thời gian tìm hiểu tình hình thực tế

hoạt động sản xuất kinh doanh tại công ty, em quyết định chọn đề tài: "Giải

pháp nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh tại xí nghiệp may xuất khẩu Hoàng Anh" làm đề tài nghiên cứu.

Chuyên đề bao gồm 3 chương:

Chương 1: Tổng quan về hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của

doanh nghiệp

Chương 2: Thực trạng hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh tại xí

nghiệp may xuất khẩu Hoàng Anh

Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh tại xí

nghiệp may xuất khẩu Hoàng Anh

Trang 4

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT KINH

DOANH CỦA DOANH NGHIỆP 1.1 Khái niệm, bản chất, nội dung và ý nghĩa của hiệu quả kinh tế trong sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

1.1.1 Khái niệm về hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

Trong cơ chế thị trường như hiện nay, mọi doanh nghiệp hoạt động kinh doanh đều có một mục tiêu chung là tối đa hóa lợi nhuận Lợi nhuận là một yếu tố quyết định đến sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp Để đạt được mức lợi nhuận cao, các doanh nghiệp cần phải hợp lý hóa quá trình sản xuất- kinh doanh từ khâu lựa chọn các yếu tố đầu vào, thực hiện quá trình sản xuất cung ứng, tiêu thụ Mức độ hợp lý hóa của quá trình được phản ánh qua một phạm trù kinh tế cơ bản được gọi là: Hiệu quả kinh doanh

Hiện nay cũng có nhiều ý kiến khác nhau về thuật ngữ hiệu quả kinh doanh xuất phát từ các góc độ nghiên cứu khác nhau về vấn đề hiệu quả kinh doanh và sự hình thành phát triển của ngành quản trị doanh nghiệp Tuy nhiên, người ta có thể chia các quan điểm thành các nhóm cơ bản sau đây:

Nhóm thứ nhất theo nhà kinh tế học người Anh, Adam Smith cho rằng: Hiệu quả kinh doanh là kết quả thu được trong hoạt động kinh doanh, là doanh thu tiêu thụ hàng hóa.[1]

Theo quan điểm này, hiệu quả kinh doanh đồng nhất với kết quả kinh doanh và với các chỉ tiêu phản ánh kết quả hoạt động kinh doanh Quan điểm này không đề cập đến chi phí kinh doanh, nghĩa là nếu hoạt động kinh doanh tạo ra cùng một kết quả thì có cùng một mức hiệu quả, mặc dù hoạt động kinh doanh đó có hai mức chi phí khác nhau

Nhóm thứ hai cho rằng: Hiệu quả kinh doanh là quan hệ tỉ lệ giữa phần tăng thêm của kết quả và phần tăng thêm của chi phí.[1]

Quan điểm này nói lên quan hệ so sánh một cách tương đối giữa kết quả đạt được và chi phí bỏ ra để thu được kết quả đó, nhưng lại chỉ xét đến

Trang 5

phần kết quả và chi phí bổ sung.

Nhóm thứ ba cho rằng: Hiệu quả kinh doanh là một đại lượng so sánh giữa kết quả thu được và chi phí bỏ ra để thu được kết quả đó Theo Manfred Kuhn: "Tính hiệu quả được xác định bằng cách lấy kết quả tính theo đơn vị giá trị chia cho chi phí kinh doanh"[2]

Quan điểm này đã phản ánh được mối tương quan về bản chất của hiệu quả kinh doanh, vì nó gắn được kết quả với chi phí bỏ ra, coi hiệu quả kinh doanh là sự phản ánh trình độ sử dụng các chi phí Tuy nhiên, kết quả và chi phí đều luôn luôn vận động, nên quan điểm này chưa biểu hiện được tương quan về lượng và chất giữa kết quả và chi phí

Nhóm thứ tư cho rằng: Hiệu quả kinh doanh phải thể hiện được mối quan hệ giữa sự vận động của chi phí tạo ra kết quả đó, đồng thời phản ánh được trình độ sử dụng các nguồn lực sản xuất

Quan điểm này đã chú ý đến sự so sánh tốc độ vận động của hai yếu tố phản ánh hiệu quả kinh doanh, đó là tốc độ vận động của kết quả và tốc độ vận động của chi phí Mối quan hệ này phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực sản xuất của doanh nghiệp

Như vậy, hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp là một phạm trù kinh

tế phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực sản xuất, trình độ tổ chức và quản

lý của doanh nghiệp để thực hiện cao nhất các mục tiêu kinh tế xã hội với chi phí thấp nhất Hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp gắn chặt với hiệu quả kinh tế của toàn xã hội, vì thế nó cần được xem xét toàn diện cả về mặt định tính lẫn định lượng, không gian và thời gian Về mặt định tính, nó phản ánh trình độ quản lí của doanh nghiệp đồng thời gắn với việc đáp ứng các mục tiêu và yêu cầu của doanh nghiệp và của toàn xã hội về kinh tế, chính trị và xã hội Về mặt định lượng, hiệu quả kinh doanh là biểu thị tương quan giữa kết quả mà doanh nghiệp thu được với chi phí mà doanh nghiệp bỏ ra để thu kết quả đó Hiệu quả kinh doanh chỉ có được khi kết quả cao hơn chi phí bỏ ra Mức chênh lệch này càng lớn thì hiệu quả kinh doanh càng cao và ngược lại

Trang 6

Cả hai mặt định tính và định lượng của hiệu quả đều có quan hệ chặt chẽ với nhau, không tách rời nhau, trong đó hiệu quả về lượng phải gắn với mục tiêu kinh tế, chính trị, xã hội, môi trường nhất định.

Về mặt thời gian, hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp đạt được trong từng thời kì, từng giai đoạn không làm giảm sút hiệu quả kinh doanh của từng giai đoạn, các thời kì, chu kì kinh doanh tiếp theo Điều đó đòi hỏi bản thân các doanh nghiệp không được vì lợi ích trước mắt mà bỏ đi lợi ích lâu dài

Tóm lại, hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ sử dụng các yếu tố sản xuất nói riêng, trình độ tổ chức và quản lý nói chung để đáp ứng các nhu cầu xã hội và đạt được các mục tiêu mà doanh nghiệp đã xác định Hiệu quả kinh doanh biểu thị mối tương quan giữa kết quả mà doanh nghiệp đạt được với các chi phí mà doanh nghiệp bỏ ra để đạt được kết quả đó và mối quan hệ giữa sự vận động của kết quả với sự vận động của chi phí tạo ra kết quả đó trong những điều kiện nhất định

Nâng cao hiệu quả kinh doanh được hiểu là làm cho các chỉ tiêu đo lường hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp tăng lên thường xuyên và mức

độ đạt được các mục tiêu định tính theo hướng tích cực

1.1.2 Bản chất về hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

Hiệu quả sản xuất kinh doanh là một phạm trù phản ánh mặt chất lượng của các hoạt động kinh doanh, phản ánh trình độ lợi dụng các nguồn lực vật chất sản xuất (lao động, máy móc, thiết bị, nguyên liệu, tiền vốn) trong quá trình tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

Để hiểu rõ bản chất của phạm trù hiệu quả kinh doanh cần phân biệt rõ ranh giới giữa hai phạm trù hiệu quả và kết quả Kết quả là phạm trù phản ánh những cái gì thu được sau một quá trình kinh doanh nào đó Kết quả bao giờ cũng là mục tiêu của doanh nghiệp có thể được biểu hiện bằng đơn vị hiện vật hoặc đơn vị giá trị Các đơn vị cụ thể được sử dụng tùy thuộc vào đặc trưng của sản phẩm mà quá trình kinh doanh tạo ra, nó có thể là tấn, tạ, kg Các đơn vị giá trị có thể là triệu đồng, đồng, ngoại tệ Kết quả cũng có thể phản

Trang 7

ánh mặt chất lượng của sản xuất kinh doanh hoàn toàn định tính như uy tín, danh tiếng của doanh nghiệp, chất lượng sản phẩm

Trong khi đó, hiệu quả là phạm trù phản ánh trình độ lợi dụng các nguồn lực sản xuất Trình độ lợi dụng các nguồn lực không thể đo bằng các đơn vị hiện vật hay giá trị mà là một phạm trù tương đối Nó được phản ánh bằng số tương đối: tỷ số giữa kết quả và hao phí nguồn lực Chênh lệch giữa kết quả và chi phí nguồn lực luôn là tuyệt đối, phạm trù này chỉ phản ánh mức

độ đạt được về một mặt nào đó nên cũng mang bản chất là kết quả của quá trình kinh doanh và không bao giờ phản ánh được trình độ lợi dụng các nguồn lực sản xuất

Vậy hiệu quả kinh doanh là một phạm trù phản ánh trình độ lợi dụng các nguồn lực phản ánh mặt chất lượng của quá trình kinh doanh, phức tạp và khó tính toán bởi cả phạm trù kết quả và hao phí nguồn lực gắn với một thời

- Kết quả hoạt động kinh doanh có thể là kết quả của từng giai đoạn riêng biệt như kết quả bán hàng, tình hình lợi nhuận

- Nội dung phân tích chủ yếu là các chỉ tiêu kết quả hoạt động kinh doanh như doanh thu bán hàng, lợi nhuận

- Phân tích các chỉ tiêu số lượng và chỉ tiêu chất lượng Trong đó, chỉ tiêu số lượng phản ánh lên quy mô kết quả hay điều kiện kinh doanh như doanh thu, lao động, vốn, diện tích Ngược lại, chỉ tiêu chất lượng phản ánh lên hiệu suất kinh doanh hoặc hiệu suất sử dụng các yếu tố kinh doanh như:

Trang 8

giá thành, tỷ suất chi phí, doanh lợi năng suất lao động

- Phân tích kinh doanh không chỉ dừng lại ở việc đánh giá kết quả kinh doanh thông qua các chỉ tiêu kinh tế mà còn đi sâu nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến kết quả kinh doanh biểu hiện trên các chỉ tiêu đó Các nhân tố ảnh hưởng có thể là các nhân tố chủ quan hoặc khách quan

1.1.4 Ý nghĩa của việc nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

- Hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh là công cụ quản lý kinh doanh

Để tiến hành bất kỳ một hoạt động sản xuất kinh doanh nào cũng đều phải tập hợp các phương tiện vật chất cũng như con người và thực hiện sự kết hợp giữa lao động với các yếu tố vật chất để tạo ra kết quả phù hợp với ý đồ của doanh nghiệp và từ đó có thể tạo ra lợi nhuận Như vậy, mục tiêu bao trùm lâu dài của kinh doanh là tạo ra lợi nhuận, tối đa hóa lợi nhuận trên cơ sở những nguồn lực sản xuất sẵn có Để đạt được mục tiêu này, quản trị doanh nghiệp phải sử dụng nhiều phương pháp khác nhau Hiệu quả kinh doanh là một trong các công cụ để các nhà quản trị thực hiện chức năng của mình

- Sản xuất kinh doanh có hiệu quả là điều kiện sống còn đối với mọi doanh nghiệp

Trong cơ chế thị trường, việc giải quyết ba vấn đề kinh tế cơ bản: sản xuất cái gì? sản xuất như thế nào? sản xuất cho ai? dựa trên quan hệ cung cầu, giá cả thị trường, cạnh tranh và hợp tác Các doanh nghiệp phải tự ra các quyết định kinh doanh của mình, tự hạch toán lãi lỗ Lúc này mục tiêu lợi nhuận trở thành mục tiêu quan trọng nhất, mang tính chất sống còn của sản xuất kinh doanh Trong khi nhu cầu của con người là vô hạn thì nguồn lực lại ngày càng khan hiếm Việc nâng cao hiệu quả kinh doanh tức là nâng cao khả năng sử dụng các nguồn lực có hạn trong sản xuất, đạt được sự lựa chọn tối

ưu Trong điều kiện khan hiếm các nguồn lực sản xuất thì nâng cao hiệu quả kinh doanh là điều kiện không thể không đặt ra đối với bất kỳ hoạt động sản

Trang 9

xuất kinh doanh nào.

- Nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh là nhân tố thúc đẩy sự cạnh tranh và tiến bộ trong kinh doanh Chính sự thúc đẩy cạnh tranh yêu cầu các doanh nghiệp phải tự tìm tòi, đầu tư tạo nên sự tiến bộ trong kinh doanh Trong khi thị trường ngày càng phát triển thì cạnh tranh giữa các doanh nghiệp ngày càng gay gắt và khốc liệt hơn Một doanh nghiệp kinh doanh có hiệu quả, sản phẩm ngày càng có uy tín, quy mô sản xuất ngày càng mở rộng, doanh nghiệp ngày càng phát triển thì cạnh tranh là yếu tố càng làm cho doanh nghiệp đó mạnh lên và ngược lại cũng có thể làm cho doanh nghiệp đó không tồn tại được trên thị trường

1.2 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

1.2.1 Các chỉ tiêu phản ánh khả năng sinh lời

- Tỷ suất doanh lợi doanh thu (ROS)

Lợi nhuận sau thuế

=

Doanh thu thuần

Tỷ số ROS đo lường khả năng sinh lời so với doanh thu thuần, tỷ số này phản ánh cứ một đồng doanh thu thuần sẽ thu được bao nhiêu đồng lợi nhuận [4] Sự biến động của tỷ số này phản ánh sự biến động về hiệu quả hay ảnh hưởng của chiến lược tiêu thụ, nâng cao chất lượng sản phẩm Tỷ số ROS càng cao chứng tỏ doanh nghiệp sử dụng vốn và hoạt động có hiệu quả Ngược lại, nếu tỷ số này giảm sẽ ảnh hưởng đến sự tồn tại và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp Thông thường, tỷ số này giảm do thu nhập trước thuế

và lãi vay giảm

- Tỷ suất doanh lợi tổng tài sản ( ROA)

Lợi nhuận trước thuế

= Tổng tài sản bình quân

Trang 10

- Tỷ suất doanh lợi vốn chủ sở hữu (ROE)

Khả năng sinh lời của vốn chủ sở hữu là chỉ tiêu phản ánh khái quát nhất hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp Chỉ tiêu này cho biết: bình quân doanh nghiệp sử dụng một đồng vốn chủ sở hữu vào quá trình kinh doanh tạo

ra bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế Trị số của chỉ tiêu này càng cao chứng

tỏ mức sinh lời của một đồng vốn chủ sở hữu càng cao và ngược lại.[4]

Trong đó:

Tổng vốn CSH

bình quân

1.2.2 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn sản xuất kinh doanh

- Hiệu suất sử dụng vốn vay

Tổng tài sản đầu năm + Tổng tài sản cuối năm

Trang 11

Chỉ tiêu này cho biết: bình quân doanh nghiệp sử dụng một đồng vốn vay vào quá trình kinh doanh tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận trước thuế Trị

số của chỉ tiêu này càng lớn chứng tỏ mức sinh lời của một đồng vốn vay càng cao và ngược lại

Trong đó:

Tổng vốn vay

bình quân

- Hiệu suất sử dụng vốn cố định

Doanh thu (hoặc doanh thu thuần) trong kì

- Hiệu suất sử dụng vốn lưu động

Chỉ tiêu này phản ánh một đồng vốn lưu động làm ra bao nhiêu đồng doanh thu thuần trong kỳ

Trang 12

Chỉ tiêu này phản ánh số vòng quay hàng tồn kho bình quân trong kỳ hay là thời gian hàng hóa nằm trong kho trước khi bán ra, số vòng quay hàng tồn kho càng lớn thì khả năng chuyển hóa thành tiền của hàng tồn kho càng nhanh.

- Vòng quay khoản phải thu

Doanh thu thuần

=

Các khoản phải thuChỉ tiêu này phản ánh tốc độ luân chuyển các khoản phải thu, số vòng quay khoản phải thu tăng lên chứng tỏ doanh nghiệp thu hồi nhanh các khoản

nợ, khả năng chuyển đổi thành tiền của các khoản phải thu càng nhanh ảnh hưởng tốt đến khả năng thanh toán và khả năng hoạt động Tuy nhiên, nếu tỷ

số này quá cao cũng có thể là một biểu hiện không tốt vì kinh doanh thể hiện phương thức tín dụng khắt khe sẽ ảnh hưởng không tốt đến quá trình tiêu thụ, giảm doanh thu bởi vì khách hàng luôn muốn thời hạn trả tiền kéo dài thêm.1.2.3 Các chỉ tiêu tài chính thể hiện khả năng thanh toán

- Khả năng thanh toán ngắn hạn

Tài sản ngắn hạn

=

Nợ ngắn hạnChỉ tiêu này cho biết tình hinh thanh toán của doanh nghiệp trong ngắn hạn, đánh giá tài sản ngắn hạn sẽ tài trợ cho khả năng trả nợ ngắn hạn của doanh nghiệp như thế nào, nó còn được gọi là khả năng thanh toán hiện hành

- Khả năng thanh toán nhanh

Tài sản ngắn hạn - hàng tồn kho

=

Nợ ngắn hạnChỉ tiêu này cho biết sau khi loại trừ khoản mục có tính thanh khoản thấp nhất ra khỏi tài sản ngắn hạn thì khả năng thanh toán của doanh nghiệp được bảo đảm như thế nào Nếu tỷ số này lớn hơn 1 thì vẫn đủ khả năng thanh toán

Trang 13

- Khả năng thanh toán tức thời

Tiền và tương đương tiền

=

Nợ ngắn hạnChỉ tiêu này cho biết sau khi loại trừ tất cả các khoản mục có tính thanh khoản thấp hơn tiền mặt ra khỏi tài sản ngắn hạn thì khả năng thanh toán của doanh nghiệp được bảo đảm như thế nào Nếu tỷ số này lớn hơn 1 thì vẫn đủ khả năng thanh toán

1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh có thể được chia thành hai nhóm đó là nhóm các nhân tố ảnh hưởng bên trong doanh nghiệp và các yếu tố ảnh hưởng bên ngoài doanh nghiệp Mục tiêu của quá trình nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp là nhằm lựa chọn được các phương án kinh doanh phù hợp Tuy nhiên việc nghiên cứu các nhân tố này cần được thực hiện trong suốt quá trình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp trên thị trường

1.3.1 Các nhân tố bên trong doanh nghiệp

1.3.1.1 Tình hình tài chính của doanh nghiệp

Doanh nghiệp có khả năng tài chính mạnh thì không những đảm bảo cho các hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp diễn ra liên tục và

ổn định mà còn giúp cho doanh nghiệp có khả năng đầu tư đổi mới công nghệ

và áp dụng kỹ thuật tiên tiến vào sản xuất nhằm làm giảm chi phí, nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm Ngược lại, nếu như khả năng về tài chính của doanh nghiệp yếu kém thì doanh nghiệp không những không đảm bảo được các hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp diễn ra bình thường mà còn không có khả năng đầu tư đổi mới công nghệ, áp dụng kỹ thuật tiên tiến vào sản xuất do đó không nâng cao được năng suất và chất lượng sản phẩm Khả năng tài chính của doanh nghiệp ảnh hưởng trực tiếp tới

Trang 14

uy tín của doanh nghiệp, tới khả năng chủ động trong sản xuất kinh doanh tới tốc độ tiêu thụ và khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp, ảnh hưởng tới mục tiêu tối thiểu hoá chi phí bằng cách chủ động khai thác và sử dụng tối ưu các nguồn lực đầu vào Nhắc đến khả năng tài chính của doanh nghiệp thì yếu tố vốn là chủ chốt, quyết định đến quy mô của doanh nghiệp và quy mô của cơ hội có thể khai thác Nó phản ánh sự phát triển của doanh nghiệp và là sự đánh giá về hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trong kinh doanh Đây là một nhân tố tổng hợp phản ánh sức mạnh của doanh nghiệp thông qua khối lượng vốn mà doanh nghiệp có thể huy động vào kinh doanh

1.3.1.2 Lực lượng lao động

Lao động là một trong các yếu tố đầu vào quan trọng, nó tham gia vào mọi hoạt động, mọi giai đoạn, mọi quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Trình độ, năng lực và tinh thần trách nhiệm của người lao động tác động trực tiếp đến tất cả các giai đoạn các khâu của quá trình sản xuất kinh doanh, tác động trực tiếp đến năng suất, chất lượng sản phẩm, tác động tới tốc

độ tiêu thụ sản phẩm bởi dù máy móc có hiện đại đến đâu thì cũng phải phù hợp với trình độ tổ chức kỹ thuật, trình độ sử dụng máy móc của người lao động Thực tế do trình độ sử dụng kém nên vừa không đem lại năng suất cao vừa tốn kém tiền bạc cho hoạt động sửa chữa, kết cục là hiệu quả sản xuất kinh doanh thấp Lực lượng lao động trực tiếp tác động đến năng suất lao động và trình độ sử dụng nguồn lực khác (máy móc, thiết bị, nguyên vật liệu ) do vậy tác động trực tiếp đến hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp

Ngoài ra công tác tổ chức lao động phải hợp lý giữa các bộ phận sản xuất, giữa các cá nhân trong doanh nghiệp, sử dụng người đúng việc sao cho phát huy tốt nhất năng lực sở trường của người lao động là một yêu cầu không thể thiếu trong công tác tổ chức lao động của doanh nghiệp nhằm đưa các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp có hiệu quả cao Như vậy nếu ta coi chất lượng lao động (con người phù hợp trong kinh doanh) là điều kiện cần để tiến hành sản xuất kinh doanh thì công tác tổ chức lao động hợp lý là điều

Trang 15

kiện đủ để doanh nghiệp tiến hành sản xuất kinh doanh có hiệu quả Công tác

tổ chức bố trí sử dụng nguồn nhân lực phụ thuộc vào nhiệm vụ sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, phụ thuộc vào chiến lược kinh doanh, kế hoạch kinh doanh, phương án kinh doanh…đã đề ra Tuy nhiên công tác tổ chức lao động của bất kỳ một doanh nghiệp nào cũng cần tuân thủ các nguyên tắc chung và

sử dụng đúng người đúng việc, quyền lợi và trách nhiệm rõ ràng sao cho có thể thực hiện nhanh nhất, tốt nhất các nhiệm vụ được giao, đồng thời phải phát huy được tính độc lập, sáng tạo của người lao động có như vậy sẽ góp phần vào việc nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

Do đó chăm lo việc đào tạo, bồi dưỡng và nâng cao chuyên môn của đội ngũ lao động được coi là nhiệm vụ hàng đầu của nhiều doanh nghiệp hiện nay và thực tế cho thấy những doanh nghiệp mạnh trên thị trường là những doanh nghiệp có đội ngũ lao động có trình độ chuyên môn cao, có tác phong làm việc khoa học và có kỷ luật

1.3.1.3 Trình độ tổ chức sản xuất và trình độ quản trị doanh nghiệp

Đội ngũ quản trị luôn đóng vai trò nòng cốt trong các doanh nghiệp đặc biệt là những doanh nghiệp sản xuất kinh doanh Mốn tồn tại và phát triển doanh nghiệp phải chiến thắng trong cạnh tranh Các lợi thế về chất lượng và

sự khác biệt hàng hóa sản phẩm, giá cả và tốc độ cung ứng đảm bảo cho doanh nghiệp chiến thắng trong cạnh tranh phụ thuộc chủ yếu vào nhãn quan

và khả năng quản trị của các nhà quản trị Đến nay người ta cũng khẳng định ngay cả đối với việc đảm bảo và ngày càng nâng cao chất lượng sản phẩm của một doanh nghiệp cũng chịu ảnh hưởng nhiều của nhân tố quản trị chứ không phải của nhân tố kỹ thuật; quản trị định hướng kỹ thuật theo tiêu chuẩn ISO

9000 chính là dựa trên nền tảng tư tưởng này Nhân tố quản trị có tác động rất lớn tới việc nâng cao hiệu quả và kết quả sản xuất kinh doanh cụ thể là bằng trình độ chuyên môn của mình, các nhà quản trị hoạch định phương hướng chiến lược hoạt động cho doanh nghiệp cũng như cơ cấu, xác định chức năng, nhiệm vụ cho từng bộ phận Bộ máy quản trị doanh nghiệp phải đồng thời

Trang 16

thực hiện nhiều nhiệm vụ khác nhau :

- Nhiệm vụ đầu tiên của bộ máy quản trị doanh nghiệp là xây dựng cho doanh nghiệp một chiến lược kinh doanh và phát triển doanh nghiệp Nếu xây dựng được một chiến lược kinh doanh và phát triển doanh nghiệp hợp lý (phù hợp với môi trường kinh doanh, phù hợp với khả năng của doanh nghiệp) sẽ

là cơ sở, là định hướng tốt để doanh nghiệp tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh có hiệu quả

- Xây dựng các kế hoạch kinh doanh, các phương án kinh doanh và kế hoạch hoá các hoạt động của doanh nghiệp trên cơ sở chiến lược kinh doanh

và phát triển doanh nghiệp đã xây dựng

- Tổ chức thực hiện các kế hoạch, các phương án và các hoạt động sản xuất kinh doanh đã đề ra

- Tổ chức kiểm tra, đánh giá và điều chỉnh các quá trình trên

Với chức năng và nhiệm vụ vô cùng quan trọng của bộ máy quản trị doanh nghiệp, ta có thể khẳng định rằng chất lượng của bộ máy quản trị quyết định rất lớn tới hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Nếu bộ máy quản trị được tổ chức với cơ cấu phù hợp với nhiệm vụ sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, gọn nhẹ, linh hoạt, có sự phân chia nhiệm vụ chức năng rõ ràng, có cơ chế phối hợp hành động hợp lý, với một đội ngũ quản trị viên có năng lực và tinh thần trách nhiệm cao sẽ đảm bảo cho các hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp đạt hiệu quả cao Ngược lại, nếu bộ máy quản trị doanh nghiệp được tổ chức hoạt động không hợp lý (quá cồng kềnh hoặc quá đơn giản), chức năng nhiệm vụ chồng chéo và không rõ ràng hoặc là phải kiêm nhiệm quá nhiều, sự phối hợp trong hoạt động không chặt chẽ, các quản trị viên thiếu năng lực và tinh thần trách nhiệm sẽ dẫn đến hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp không cao

1.3.1.4 Cơ sở vật chất, kỹ thuật và công nghệ sản xuất của doanh nghiệp

Cơ sở vật chất kỹ thuật trong doanh nghiệp là yếu tố vật chất hữu hình quan trọng phục vụ cho quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, làm

Trang 17

nền tảng quan trọng để doanh nghiệp tiến hành các hoạt động kinh doanh Cơ

sở vật chất đem lại sức mạnh kinh doanh cho doanh nghiệp trên cơ sở sức sinh lời của tài sản Cơ sở vật chất dù chiếm tỷ trọng lớn hay nhỏ trong tổng tài sản của doanh nghiệp thì nó vẫn có vai trò quan trọng thúc đẩy các hoạt động kinh doanh, nó thể hiện bộ mặt kinh doanh của doanh nghiệp qua hệ thống nhà xưởng, kho tàng, cửa hàng, bến bãi…Cơ sở vật chất kỹ thuật của doanh nghiệp càng được bố trí hợp lý bao nhiêu thì càng góp phần đem lại hiệu quả cao bấy nhiêu Điều này thấy khá rõ nếu một doanh nghiệp có hệ thống nhà xưởng, kho tàng, cửa hàng, bến bãi được bố trí hợp lý, nằm trong khu vực có mật độ dân cư lớn, thu nhập về cầu về tiêu dùng của người dân cao…và thuận lợi về giao thông sẽ đem lại cho doanh nghiệp một tài sản vô hình rất lớn đó là lợi thế kinh doanh đảm bảo cho doanh nghiệp hoạt động kinh doanh có hiệu quả

Trình độ kỹ thuật và trình độ công nghệ sản xuất của doanh nghiệp ảnh hưởng tới năng suất, chất lượng sản phẩm, ảnh hưởng tới mức độ tiết kiệm hay tăng phí nguyên vật liệu do đó ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Nếu doanh nghiệp có trình độ kỹ thuật sản xuất và

có công nghệ sản xuất tiên tiến, hiện đại sẽ đảm bảo cho doanh nghiệp sử dụng tiết kiệm nguyên vật liệu, nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm, còn nếu trình độ kỹ thuật sản xuất của doanh nghiệp thấp kém hoặc công nghệ sản xuất lạc hậu hay thiếu đồng bộ sẽ làm cho năng suất, chất lượng sản phẩm của doanh nghiệp rất thấp, sử dụng lãng phí nguyên vật liệu

Ngoài ra với sự phát triển như vũ bão của khoa học công nghệ như hiện nay, các thông tin cần thiết cho một doanh nghiệp ngày càng nhiều về cung cầu thị trường hàng hóa, về công nghệ kỹ thuật về người mua, về các đối thủ cạnh tranh, các chính sách kinh tế trong và ngoài nước đòi hỏi mỗi doanh nghiệp phải cập nhật thông tin nhanh nhạy, kịp thời và chính xác Do đó, mỗi doanh nghiệp phải tự tổ chức một hệ thống thông tin nội bộ vừa đáp ứng nhu cầu thông tin kinh doanh lại vừa đảm bảo giảm thiểu chi phí kinh doanh cho quá trình thu thập, xử lý, lưu trữ và sử dụng thông tin

Trang 18

1.3.2 Các nhân tố bên ngoài doanh nghiệp

Hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp ngoài bị ảnh hưởng trực tiếp từ các nhân tố bên trong như đã nêu ở trên còn bị ảnh hưởng bởi các nhân tố bên ngoài như môi trường chính trị pháp luật, môi trường tự nhiên, môi trường kinh doanh Cụ thể:

1.3.2.1 Môi trường chính trị- pháp luật

Các yếu tố thuộc môi trường chính trị pháp luật chi phối mạnh mẽ đến quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Sự ổn định chính trị được xác định là một trong những tiền đề quan trọng trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Sự thay đổi của môi trường chính trị có thể ảnh hưởng có lợi cho một nhóm doanh nghiệp này nhưng lại kìm hãm sự phát triển của nhóm doanh nghiệp khác Môi trường này có tác động trực tiếp đến hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp vì môi trường pháp luật ảnh hưởng đến mặt hàng sản xuất ngành nghề, phương thức kinh doanh của doanh nghiệp Không những thế nó còn tác động đến chi phí của doanh nghiệp như chi phí lưu thông, vận chuyển, thuế

Tóm lại, môi trường chính trị pháp luật có ảnh hưởng rất lớn đến việc nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp bằng cách tác động đến hoạt động của doanh nghiệp qua hệ thống công cụ pháp luật, công cụ vĩ mô

1.3.2.2 Môi trường kinh doanh

Nhân tố ảnh hưởng thuộc môi trường kinh doanh như: đối thủ cạnh tranh, thị trường kinh doanh trong nước, môi trường kinh doanh quốc tế, cơ cấu ngành

Sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp hiện có trong ngành: Cạnh tranh được xác định là động lực thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế thị trường, ở

đó ai tốt hơn, hiệu quả hơn sẽ tồn tại và phát triển Trong điều kiện đó vừa mở

ra cơ hội phát triển lớn mạnh cho doanh nghiệp, vừa yêu cầu doanh nghiệp phải vươn lên vượt qua đối thủ Mức độ cạnh tranh giữa các doanh nghiệp

Trang 19

trong cùng một ngành với nhau ảnh hưởng trực tiếp tới lượng cung cấp sản phẩm của mỗi doanh nghiệp, ảnh hưởng tới giá bán, tốc độ tiêu thụ sản phẩm do vậy ảnh hưởng tới hiệu quả của mỗi doanh nghiệp.

Trong xu thế toàn cầu hóa như hiện nay thì môi trường kinh doanh quốc tế có ảnh hưởng lớn đến kết sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Các

xu hướng, chính sách bảo hộ hay mở cửa, sự ổn định hay biến động của chính trị, những khủng hoảng tài chính, tiền tệ đều có ảnh hưởng đến các hoạt động của doanh nghiệp Môi trường quốc tế ổn định là cơ sở để các doanh nghiệp tiến hành nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của mình.1.3.2.3 Môi trường tự nhiên và cơ sở hạ tầng

Nhân tố ảnh hưởng của môi trường tự nhiên bao gồm: thời tiết, khí hậu, mùa vụ, tài nguyên thiên nhiên, vị trí địa lý Đối với một doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực thời trang thì tính mùa vụ của sản phẩm lại thể hiện và tác động vô cùng rõ ràng Với các quốc gia khác nhau lại có tính chất mùa vụ khác nhau, vì vậy các doanh nghiệp xuất khẩu cần nắm rõ đặc tính này để tổ chức thiết kế, tìm bạn hàng phù hợp để mở rộng quan hệ hợp tác

Các yếu tố thuộc cơ sở hạ tầng như: hệ thống đường giao thông, hệ thống thông tin liên lạc, điện nước Doanh nghiệp sản xuất kinh doanh ở vị trí giao thông thuận lợi, dân cư đông đúc và có trình độ dân trí cao sẽ có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển sản xuất, tăng tốc độ tiêu thụ sản phẩm, tăng doanh thu, giảm chi phí sản xuất kinh doanh và do đó nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

Trang 20

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT KINH DOANH

TẠI XÍ NGHIỆP MAY XUẤT KHẨU HOÀNG ANH

2.1 Đặc điểm, tình hình chung của xí nghiệp may xuất khẩu Hoàng Anh

2.1.1 Sơ lược quá trình hình thành và phát triển của xí nghiệp

Xí nghiệp may xuất khẩu Hoàng Anh thuộc tổng công ty cổ phần đầu

tư xuất nhập khẩu Thăng Long được thành lập tháng 2/2002, theo giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh số 010200165 do sở kế hoạch đầu tư tỉnh Thái Bình cấp

Tên giao dịch: Xí nghiệp may xuất khẩu Hoàng Anh - Công ty CP ĐT XNK Thăng Long

Đơn vị quản lý: Công ty CP ĐT XNK Thăng Long

Trụ sở đặt tại: Khu 4B – Thị trấn Quỳnh Côi – Quỳnh Phụ - Thái BìnhGiám đốc xí nghiệp ông: Vũ Ngọc Anh

Người đại diện theo pháp luật ông: Vũ Ngọc Anh

Doanh nghiệp luôn hướng tới các sản phẩm may mặc có chất lượng cao hàng đầu như: áo khoác, áo sơ mi, quần soóc, đồ thể thao và những sản phẩm khác… Với công suất 230.000 chiếc/tháng

Những năm đầu mới thành lập là giai đoạn đầy khó khăn, thách thức với xí nghiệp bởi nguồn vốn chưa đủ lớn nên hệ thống máy móc, trang thiết bị còn hạn chế, kỹ thuật còn lạc hậu, sản xuất còn nhỏ lẻ, chưa có kinh nghiệm, sản phẩm của xí nghiệp là hàng may mặc xuất khẩu nên kỹ thuật sản xuất đòi

Trang 21

hỏi cao, bản thân xí nghiệp phải tự tìm tòi nghiên cứu để tìm hướng đi trong sản xuất cũng như trong tiêu thụ Cho đến nay, sau hơn 10 năm chính thức đi vào hoạt động, xí nghiệp vẫn vững vàng với ngành nghề kinh doanh của mình Cùng với sự phát triển của xí nghiệp, diện tích nhà xưởng, hệ thống máy móc thiết bị và cán bộ công nhân viên của xí nghiệp ngày càng tăng Cụ thể:

Diện tích nhà xưởng của xí nghiệp: Tổng diện tích là 16.199,97m2 Trong đó: Diện tích khu vực văn phòng: 3.103,2m2 Diện tích xưởng may: 8.184,47m2 Diện tích xưởng cắt: 1200m2 Diện tích xưởng hoàn thiện: 1500m2 Diện tích khuôn viên xí nghiệp: 2195,20m2 Ngoài ra, xí nghiệp đã đầu tư xây dựng một cửa hàng trưng bày và giới thiệu sản phẩm bên cạnh cổng ra vào xí nghiệp [5]

Xí nghiệp đã được trang bị hệ thống máy móc thiết bị hiện đại, đáp ứng được các yêu cầu sản xuất các mặt hàng may mặc cao cấp, với 2300 máy may các loại, trong đó có gần 300 máy chuyên dùng các loại và máy đặc chủng chuyên dùng khác như máy dán sim, máy ép fom

Tính đến năm 2012, xí nghiệp đã thành công trong các lần đánh giá nhà máy và được rất nhiều khách hàng lớn công nhận xí nghiệp có đủ tiêu chuẩn, điều kiện để sản xuất các mặt hàng có chất lượng cao của các khách hàng nổi tiếng trên thế giới như: DICKIES, TARGET, SGC, GAP, WRAP Sản phẩm của xí nghiệp ngày càng được ưa chuộng, theo đó, thị trường tiêu thụ ngày càng mở rộng Tỷ lệ sản phẩm sản xuất theo thị trường tiêu thụ của xí nghiệp:

EU (30%), Mỹ (50%), Canada (10%), thị trường khác (10%)

Đặc biệt sau gần 9 năm thành lập và hoạt động, cán bộ, công nhân trong toàn xí nghiệp đã nỗ lực cố gắng phấn đấu không ngừng và ngày 04 tháng 11 năm 2010, xí nghiệp đã được trung ương hội doanh nghiệp vừa và nhỏ Việt Nam ghi nhận danh hiệu “Doanh nghiệp Việt Nam vàng” năm 2010

2.1.2 Đặc điểm và cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý của xí nghiệp

Bộ máy quản lý của xí nghiệp được tổ chức theo mô hình trực tuyến

Trang 22

chức năng Các quyết định quản lý, chỉ đạo sản xuất kinh doanh từ giám đốc (có sự tham mưu từ tổng công ty) trực tiếp tới các phòng ban, các xưởng sản xuất

Đứng đầu công ty là ban giám đốc

Tại các phòng ban đều có trưởng phòng và phó phòng phụ trách công tác hoạt động của phòng ban mình

Tại các phân xưởng có quản đốc và phó quản đốc chịu trách nhiệm quản

lý điều hành sản xuất trong phân xưởng

- Giám đốc: là người đại diện hợp pháp theo pháp luật và chịu mọi trách nhiệm về kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của xí nghiệp

- Phó giám đốc: là người giúp việc cho giám đốc, có quyền quyết định khi giám đốc vắng mặt, có quyền quản lý đối với các phòng ban và các tổ sản xuất trong giới hạn trách nhiệm của mình

- Phòng tổ chức hành chính: Có chức năng quản lý về mặt nhân sự, giúp đỡ, tham mưu cho giám đốc và thực hiện tổ chức lao động của công ty: tuyển dụng lao động, tổ chức cán bộ, đào tạo bồi dưỡng cán bộ công nhân viên Lập kế hoạch và thực hiện các công tác lao động tiền lương

- Phòng tài chính kế toán: Hàng kỳ, ghi chép, phản ánh, tổng hợp các số liệu phát sinh về tình hình luân chuyển vốn, sử dụng tài sản, tình hình sản xuất kinh doanh và sử dụng kinh phí của công ty Trên cơ sở số liệu ghi chép, phòng kế toán kiểm soát, kiểm tra tình hình thực hiện kế hoạch sản xuất kinh doanh, kế hoạch sử dụng tài sản, vốn, vật tư Chịu trách nhiệm trước giám đốc và phòng tài chính cấp trên về việc thực hiện chế độ tài chính kế toán của nhà nước

- Phòng kinh doanh: chịu trách nhiệm chỉ đạo mọi công việc kinh doanh xuất khẩu quần áo ra thị trường và mua sắm các thiết bị, máy móc cần thiết của công ty, phát triển thị trường theo chiến lược của công ty, tham mưu đề xuất cho giám đốc, hỗ trợ cho bộ phận khác về kinh doanh, tiếp thị, thị trường, lập kế hoạch tiến hành hoạt động xuất nhập khẩu, tham gia xây dựng

Trang 23

hệ thống quản lý chất lượng, hệ thống quản lý môi trường và trách nhiệm xã hội của công ty.

- Phòng kĩ thuật: Nghiên cứu, ứng dụng thiết kế, sản xuất, lắp đặt, sửa chữa, bảo trì các loại máy móc thiết bị sản xuất ngành may

- Phòng kỹ thuật KCS: trực tiếp lập kế hoạch sửa chữa, thiết kế theo các kiểu dáng, mẫu mã mà tổ trưởng phòng KCS đề ra hoặc các mẫu, thiết kế mà khách hàng yêu cầu

- Phòng chỉ đạo sản xuất: trực tiếp chỉ đạo các chương trình sản xuất của doanh nghiệp và chịu trách nhiệm trong quá trình sản xuất Là phòng chỉ đạo trực tiếp các xưởng may và xưởng cắt trong quá trình sản xuất

- Xưởng cắt: chịu trách nhiệm cắt vải theo đúng kiểu dáng thiết kế quy định và chuyển cho xưởng may

- Xưởng may: chịu trách nhiệm nhận vải đã cắt đúng yêu cầu thiết kế từ xưởng cắt, lựa chọn màu sắc, loại chỉ phù hợp và các loại nguyên vật liệu cần thiết tiến hành hoàn thành sản phẩm theo đúng yêu cầu đề ra

- Sơ đồ cơ cấu quản lý của xí nghiệp:

Trang 24

Sơ đồ 2.1: Sơ đồ cơ cấu quản lý của xí nghiệp

Trang 25

2.1.3 Đặc điểm quy trình công nghệ sản xuất sản phẩm của xí nghiệp may xuất khẩu Hoàng Anh

Sơ đồ 2.2: Quy trình công nghệ sản xuất sản phẩm

(Nguồn: Giám đốc cung cấp)

Giai đoạn chuẩn bị sản xuất: là giai đoạn gồm nhiều công việc khác nhau chuẩn bị cho quá trình sản xuất được thuận lợi và không bị gián đoạn trong quá trình sản xuất nhằm tiết kiệm thời gian, chi phí sản xuất nâng cao hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp Giai đoạn này bao gồm các công viêc như chuẩn bị nguyên liệu như : mẫu mã, vải, chỉ, kéo cắt, thước đo, máy móc

và các thiết bị khác…

Quá trình sản xuất

Giai đoạn chuẩn

bị sản xuất Giai đoạn sản xuất

Giai đoạn thực hiện sản phẩm

Chuẩnbịvềlaođộng

QuáTrìnhlắpghép thành phẩm

CôngTáckiểmtrasốlượng

CôngTáckiểmtrachất lượng

CôngTácđónggóibaobìSp

Trang 26

Giai đoạn sản xuất sản phẩm: là giai đoạn quyết định số lượng, chất lượng sản phẩm, tái sản xuất sản phẩm ngắn hạn hay dài hạn hay ảnh hưởng tới hiệu quả sản xuất Chính vì vậy mà giai đoạn này cần được quan tâm đặc biệt, nó ảnh hưởng đến số lượng, chất lượng sản phẩm được sản xuất ra và cung ứng trên thị trường cũng như uy tín, thương hiệu và lơi nhuận của công ty.

Giai đoạn thực hiện sản phẩm: là giai đoạn kiểm tra chất lượng, số lượng sản phẩm những loại sản phẩm theo hợp đồng đã ký và chuẩn bị tốt cho điều kiên giao hàng hóa nhanh chóng tiếp cận thị trường như: bao bì, thủ tục, phương tiện vẫn chuyển Đây là giai đoạn rất quan trọng của quá trính sản xuất, nó ảnh hưởng trực tiếp đến thương hiệu, uy tín của doanh nghiệp trên thị trường

* Đặc điểm cơ bản của công nghệ sản xuất.

Trong quá trình công nghệ sản xuất sản phẩm của doanh nghiệp thì công nghệ sản xuất phải luôn đảm bảo được việc cân đối, nhịp nhàng, đảm bảo được sản xuất liên tục Tức là cần đảm bảo hệ số tỉ lệ giữa yếu tố máy móc thiết bị sản xuất nguyên vật liệu, quan hệ giữa bộ phận này với vộ phận khác, giữa các khâu trong quá trình sản xuất Công nghệ sản xuất nhịp nhàng

sẽ tạo ra được sản phẩm một cách đều đặn Bên cạnh đó doanh nghiệp cần phải sắp xếp bố trí sao cho phù hợp với tình hình sản xuất của doanh nghiệp

để tránh gây thiệt hại trong sản xuất, tránh máy móc ngừng hoạt động hoặc hoạt động quá tải Có như vậy mới tạo ra được những sản phẩm chất lượng tốt, năng xuất lao động cao trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

2.1.4 Khái quát tình hình sản xuất kinh doanh tại xí nghiệp may xuất khẩu Hoàng Anh trong 3 năm (từ năm 2010 đến năm 2012)

Trang 27

Bảng 2.1 Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh năm 2010-2012

Đơn vị: Nghìn đồng

Trang 28

Qua bảng 2.1 ta thấy tổng lợi nhuận sau thuế năm sau cao hơn năm trước, năm 2011 tăng so với năm 2010 là 69.780 nghìn đồng, với tỷ lệ tăng

13,31%; năm 2012 tăng so với năm 2011 là 47.812,5 nghìn đồng, với tỷ lệ tăng 8,05% Điều này cho thấy xí nghiệp kinh doanh đạt kết quả tốt, nó phản ánh sự cố gắng của doanh nghiệp trong quá trình tìm kiếm lợi nhuận, đồng thời nó cũng cho thấy sự phát triển của doanh nghiệp trong quá trình kinh doanh Bảng phân tích trên cũng cho thấy lợi nhuận thuần từ hoạt động kinh doanh tăng đáng kể, năm 2010 là 680.546 nghìn đồng, năm 2011 là 75.935 nghìn đồng, tăng 85.398 nghìn đồng với tỷ lệ 12,55%, con số này thể hiện sự

Trang 29

phát triển rõ rệt của xí nghiệp nhất là trong giai đoạn kinh tế khá khó khăn này Năm 2012 so với năm 2011 tỷ lệ tăng về lợi nhuận thuần tuy có giảm so với năm trước, nhưng tỷ lệ 9,53% cũng là con số có thể chấp nhận được Tổng lợi nhuận thu nhập trước thuế cũng tăng với tỷ lệ khá lớn Năm 2011 so với năm 2010 tăng 93.040 nghìn đồng, với tỷ lệ tăng 13,31%, năm 2012 so với năm 2011 tăng 63.750 nghìn đồng, với tỷ lệ tăng 8,05% Với kết quả như trên, bước đầu ta nhận thấy doanh nghiệp có tiền đề để phát triển, tuy nhiên cần phải xem xét đầy đủ các chỉ tiêu khác để kết luận sự tăng trưởng của doanh nghiệp có thật sự bền vững không.

Xem xét các chỉ tiêu phản ánh doanh thu và chi phí ta thấy:

Doanh thu bán hàng, trong đó có cả doanh thu xuất khẩu trong 3 năm

từ năm 2010 đến năm 2012 đều tăng với tỷ lệ tăng trung bình là 9,7% Doanh thu xuất khẩu qua các năm đều chiếm tỷ lệ rất cao Chứng tỏ hàm lượng xuất khẩu của doanh thu rất lớn, đồng nghĩa với việc doanh thu nội địa rất thấp, chứng tỏ thị phần nội địa là rất hạn chế Nhưng xét một cách tổng quát về doanh thu thì doanh thu tăng mạnh thể hiện sự cố gắng rất lớn của xí nghiệp trong việc tiêu thụ sản phẩm Điều này chẳng những làm tăng doanh thu thuần tạo điều kiện làm gia tăng lợi nhuận kinh doanh mà còn giúp xí nghiệp thu hồi được vốn Nguyên nhân doanh thu thuần tăng hoàn toàn là do doanh thu bán hàng tăng, điều này cho thấy sản phẩm của xí nghiệp rất có chất lượng vì không có hàng bán bị trả lại hay phải giảm giá hàng bán Cũng có thể đây là một đặc điểm của loại hình kinh doanh hàng may mặc xuất khẩu, giá trị hàng cao, chi phí bán hàng lớn nên hàng được sản xuất tuyệt đối đạt tiêu chuẩn và phải được kiểm tra rất gắt gao trước khi đem hàng giao bán Tuy nhiên cũng cần xem xét rằng doanh thu bán hàng tăng là do khối lượng hàng sản xuất để cung cấp cho khách hàng tăng hay do giá tăng, vì điều này mới thể hiện được

sự tăng trưởng thực sự

Xí nghiệp hiện tại không có hoạt động đầu tư tài chính nên chưa hình thành doanh thu tài chính cũng như chi phí tài chính Nhưng rất có thể trong

Ngày đăng: 10/10/2014, 23:36

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Giáo trình kinh tế thương mại dịch vụ- Nhà xuất bản Thống kê (1998) [1] Khác
2. Manred Kund, Từ điển kinh tế, Hamburg 1990, cột 982 [2] Khác
3. GS.TS Nguyễn Thành Độ, PGS.TS Nguyễn Ngọc Huyền- Trang 495- Giáo trình Quản trị kinh doanh- Nhà xuất bản Đại học Kinh tế quốc dân(2011) [3] Khác
4. PGS.TS Lưu Thị Hương- Nội dung phân tích tài chính- Trang 38-65- Giáo trình Tài chính doanh nghiệp- Nhà xuất bản Thống kê. [4] Khác
6. Báo cáo phương hướng và mục tiêu của xí nghiệp may xuất khẩu Hoàng Anh qua các năm. [6] Khác
7. Các bản báo cáo kết quả sản xuất kinh doanh từ năm 2010 đến năm 2012 của xí nghiệp may xuất khẩu Hoàng Anh Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ 2.1: Sơ đồ cơ cấu quản lý của xí nghiệp - giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh tại xí nghiệp may xuất khẩu hoàng anh
Sơ đồ 2.1 Sơ đồ cơ cấu quản lý của xí nghiệp (Trang 24)
Sơ đồ 2.2: Quy trình công nghệ sản xuất sản phẩm - giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh tại xí nghiệp may xuất khẩu hoàng anh
Sơ đồ 2.2 Quy trình công nghệ sản xuất sản phẩm (Trang 25)
Bảng 2.3 Cơ cấu vốn đầu tư vào tài sản lưu động (tài sản ngắn hạn) - giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh tại xí nghiệp may xuất khẩu hoàng anh
Bảng 2.3 Cơ cấu vốn đầu tư vào tài sản lưu động (tài sản ngắn hạn) (Trang 34)
Bảng 2.6: Chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn - giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh tại xí nghiệp may xuất khẩu hoàng anh
Bảng 2.6 Chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn (Trang 39)
Bảng 2.8 Các chỉ tiêu tài chính của xí nghiệp (2010-2012) - giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh tại xí nghiệp may xuất khẩu hoàng anh
Bảng 2.8 Các chỉ tiêu tài chính của xí nghiệp (2010-2012) (Trang 44)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w