khảo sát thực trạng chất lượng 8 vị thuốc bổ thường dùng tại các cơ sở khám chữa bệnh bằng y học cổ truyền tại Hà Nội
Trang 1ĐINH QUANG HUY
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BÉ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI
***
ĐINH QUANG HUY
Trang 2BỆNH VIỆN Y HỌC CỔ TRUYỀN Ở HÀ NỘI
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP BÁC SĨ Y KHOA
Trang 3thành tới:
Ban giám hiệu, phòng đào tạo đại học, khoa Y học cổ truyền TrườngĐại học Y Hà Nội, đã tạo điều kiện thuận lợi cho em trong suốt quá trình họctập nghiên cứu để em hoàn thành luận văn này
Đặc biệt em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới:
ThS.BS Nguyễn Thị Kim Dung, người thầy đã tận tình giúp đỡ, trực
tiếp hướng dẫn em em thực hiện đề tài này
PGS.TS Hoàng Minh Chung, người đã luôn dìu dắt, động viên, giúp
đỡ và đóng góp những ý kiến hết sức quý báu cho em trong suốt quá trìnhthực hiện đề tài
PGS.TS Đỗ Thị Phương, trưởng khoa Y học cổ truyền, TS Nguyễn Thị Thu Hà, giáo vụ đại học, cùng toàn thể các thầy, cô trong khoa Y học cổ
truyền trường Đại học Y Hà Nội đã nhiệt tình giảng dạy, tạo điều kiện thuậnlợi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu tại khoa
Em xin chân thành cảm ơn các thầy, cô, các nhân viên tại Trường Đạihọc Dược Hà Nội và Viện kiểm nghiệm đã cung cấp cho em những số liệuquý giá để em thực hiện đề tài
Em còng xin bày tỏ lòng kính trọng và cảm ơn sâu sắc tới các thầy côtrong hội đồng chấm khóa luận đã góp ý nhiều ý kiến quý báu để em hoànthành khóa luận này
Cuối cùng em xin được bày tỏ lòng biết ơn vô cùng tới bố mẹ, anh chịtrong gia đình và bạn bè đã động viên tinh thần và giúp đỡ em rất nhiều trongquá trình học tập, và nghiên cứu để em hoàn thành tốt luận văn này
Hà Nội, ngày 25 tháng 5 năm 2011
Sinh viên: Đinh Quang Huy
Trang 4liệu, kết quả trong khóa luận là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác.
Nếu sai tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm.
Hà Nội, ngày 25 tháng 5 năm 2011
Người cam đoan
Đinh Quang Huy
Trang 6Chương 1: Tổng quan 3
1.1 Tình hình sử dụng thuốc cổ truyền 3
1.1.1 Tình hình sử dụng thuốc cổ truyền trên thế giới 3
1.1.2 YHCT trong chăm sóc sức khỏe nhân dân Việt Nam 5
1.2 Vấn đề chất lợng TCT hiện nay 8
1.2.1 Tình hình nghiên cứu ở nớc ngoài 8
1.2.2 Tình hình tại Việt Nam 9
1.3 Tổng quan về một số vị thuốc bổ thờng dùng 13
1.3.1 Bạch thợc (Radix Paeoniae Alba) 13
1.3.2 Cam thảo (Radix Glycyrrhizae) 14
1.3.3 Câu kỷ tử (Khởi tử) (Fructus Lycii) 14
1.3.4 Đảng sâm (Phòng đẳng sâm) (Radix Condonopsis) 15
1.3.5 Đơng quy (Radix Angenicae sinensis) 16
1.3.6 Hà thủ ô đỏ (Radix Polygoni multiflori) 16
1.3.7 Hoài sơn (Rhizoma Dioscoreae) 17
1.3.8 Hoàng kỳ (Radix Astragali) 18
Chương 2: Đối tợng và phơng pháp nghiên cứu 19 2.1 Đối tợng nghiên cứu: 19
2.2 Phơng pháp nghiên cứu 19
2.2.1 Thiết kế nghiên cứu 19
2.2.2 Cỡ mẫu 19
2.2.3 Các chỉ số và biến số nghiên cứu 20
2.2.4 Nguyên liệu 20
2.2.5 Địa điểm nghiên cứu 21
2.2.6 Phơng pháp đóng vai khách hàng 21
2.2.7 Phơng pháp đánh giá chất lợng dợc liệu 21
2.2.8 Xử lý kết quả 26
2.2.9 Thời gian nghiên cứu 26
2.2.10 Đạo đức nghiên cứu 26
Chương 3: Kết quả nghiên cứu 27 3.1 Đánh giá các chỉ tiêu chất lợng các vị thuốc 27
3.1.1 Chỉ tiêu “mô tả” 27
Trang 73.1.5 Tro toàn phần 37
3.1.6 Tạp chất 38
3.1.7 Chất chiết đợc trong dợc liệu 38
3.1.8 Một số chỉ tiêu chất lợng khác 39
3.2 Tổng hợp kết quả kiểm nghiệm của từng vị thuốc 40
3.2.1 Bạch thợc 40
3.2.2 Cam thảo 41
3.2.3 Câu kỷ tử 41
3.2.4 Đảng sâm 42
3.2.5 Đơng quy 42
3.2.6 Hà thủ ô đỏ 43
3.2.7 Hoài sơn 43
3.2.8 Hoàng kỳ 44
3.3 Tổng hợp kết quả của từng cơ sở nghiên cứu 45
Chương 4: Bàn luận 46 4.1 Thực trạng chất lợng các vị thuốc nghiên cứu 46
4.2 Tình trạng chung về chất lợng TCT hiện nay 53
Kết luận 55 1 Các chỉ tiêu định tính 55
2 Các chỉ tiêu định lợng 55
Kiến nghị 56 Tài liệu tham khảo Phụ lục DANH M C B NG ỤC BẢNG ẢNG Bảng 2.1: Danh mục dợc liệu nghiên cứu 20
Bảng 3.1: Đặc điểm vị thuốc Bạch thợc: 27
Bảng 3.2: Đặc điểm vị thuốc Cam thảo: 28
Bảng 3.3: Đặc điểm vị thuốc Câu kỷ tử: 29
Bảng 3.4: Đặc điểm vị thuốc Đảng sâm: 30
Bảng 3.5: Đặc điểm vị thuốc Đơng quy: 31
Bảng 3.6: Đặc điểm vị thuốc Hà thủ ô đỏ: 32
Bảng 3.7: Đặc điểm vị thuốc Hoài sơn: 33
Trang 8Bảng 3.11: Kết quả đo hàm ẩm: 37
Bảng 3.12: Kết quả định tro toàn phần: 37
Bảng 3.13: Kết quả hàm lợng tạp chất: 38
Bảng 3.14: Kết quả hàm lợng chất chiết đợc trong dợc liệu: 38
Bảng 3.15: Hàm lợng kim loại nặng trong các mẫu Bạch thợc: 39
Bảng 3.16: Kết quả định lợng hàm lợng cắn chứa Acid glycyrrhizic trong Cam thảo: 39
Bảng 3.17: Tổng hợp kết quả kiểm nghiệm của vị thuốc Bạch thợc: 40
Bảng 3.18: Tổng hợp kết quả kiểm nghiệm của vị thuốc Cam thảo: 41
Bảng 3.19: Tổng hợp kết quả kiểm nghiệm của vị thuốc Câu kỷ tử: 41
Bảng 3.20: Tổng hợp kết quả kiểm nghiệm của vị thuốc Đảng sâm: 42
Bảng 3.21: Tổng hợp kết quả kiểm nghiệm của vị thuốc Đơng quy: 42
Bảng 3.22: Tổng hợp kết quả kiểm nghiệm của vị thuốc Hà thủ ô đỏ: 43
Bảng 3.23: Tổng hợp kết quả kiểm nghiệm của vị thuốc Hoài sơn: 43
Bảng 3.24: Tổng hợp kết quả kiểm nghiệm của vị thuốc Hoàng kỳ: 44
Bảng 3.25: Tổng hợp kết quả kiểm nghiệm của cơ sở: 45
DANH MỤC HèNH ẢNH Hình 3.1: Hình ảnh vị thuốc Bạch thợc tại các cơ sở nghiên cứu 27
Hình 3.2: Hình ảnh vị thuốc Cam thảo tại các cơ sở nghiên cứu 28
Hình 3.3: Hình ảnh Câu kỷ tử tại các cơ sở nghiên cứu 29
Hình 3.4: Hình ảnh Đảng sâm tại các cơ sở nghiên cứu 30
Hình 3.5: Hình ảnh Đơng quy tại các cơ sở nghiên cứu 31
Hình 3.6: Hình ảnh Hà thủ ô đỏ tại các cơ sở nghiên cứu 32
Hình 3.7: Hình ảnh Hoài sơn tại các cơ sở nghiên cứu 33
Hình 3.8: Hình ảnh Hoàng kỳ tại các cơ sở nghiên cứu 34
Hình 4.1: Hình ảnh vị thuốc Hoàng kỳ lấy mẫu tại Trung Quốc 52
Hình 4.2: Hình ảnh vị thuốc Đảng sâm lấy mẫu tại Trung Quốc 52
Hình 4.3: Hình ảnh vị thuốc Đơng quy lấy mẫu tại Trung Quốc 52
Hình 4.4: Hình ảnh vị thuốc Hà thủ ô lấy mẫu tại Trung Quốc 52
Trang 9Đặt vấn đề
Nền Y học cổ truyền (YHCT) của nước ta có một lịch sử phát triển lâu dài
và phong phú Từ xưa, ông cha ta đã biết sử dụng nguồn dược liệu quý giácủa đất nước để phòng bệnh và chữa bệnh Trải qua hàng ngàn năm lịch sử, từnhững kinh nghiệm do nhu cầu thực tiễn, số lượng các cây con được đưa vàolàm thuốc ngày càng gia tăng
Hiện nay, thuốc cổ truyền (TCT) ngày càng được sử dụng rộng rãi khôngnhững ở những nước phương Đông mà còn ở nhiều nước có nền công nghiệpphát triển nh Mỹ, Anh, Đức, Canada… Hàng năm, thuốc thảo dược chiếm 30
- 50% tổng số thuốc được sử dụng ở Trung Quốc, 60% trẻ em bị sốt cao dovirus sử dụng TCT đầu tiên ở Ghana, Mali, Nigeria và Zambia, 158 triệungười trưởng thành ở Mỹ đã sử dụng TCT… Người ta ưa chuộng TCT vìkhông những TCT có tác dụng chữa bệnh tốt mà còn có tác dụng điều hòa,cân bằng sự hoạt động của các cơ quan, bộ phận trong cơ thể để duy trì sứckhỏe, bảo vệ, kéo dài cuộc sống [37]
Ở Việt Nam, từ khi thực hiện công cuộc đổi mới nền kinh tế chuyển sangnền kinh tế thị trường thì nguồn gốc thuốc ngày càng phong phú kể cả thuốctân dược và đông dược Thuốc tân dược với ưu thế tác dụng nhanh, mạnh, dễdàng khi sử dụng thì ngày càng bị lạm dụng Thuốc cổ truyền có nguồn gốc từthiên nhiên tuy tác dụng chậm nhưng với những ưu điểm nổi trội là Ýt độchại, có thể điều trị một số bệnh mạn tính hoặc hỗ trợ điều trị trong một sốbệnh khó mà Y học hiện đại (YHHĐ) còn bị hạn chế Theo nghiên cứu củaTrần Thị Thu Trang tại một số cơ sở khám chữa bệnh bằng YHCT tại Hà Nội
có 85,3% bệnh nhân sử dụng TCT tin tưởng vào TCT, 100% bệnh nhân chorằng TCT tác dụng tốt, bổ dưỡng, Ýt độc, 69,6% người sử dụng TCT kết hợp
Trang 10với tân dược [28] Vì vậy, xu thế chung của thời đại trong đó có người dân HàNội tìm đến dùng TCT ngày càng nhiều.
Chất lượng TCT là một trong những yếu tố quan trọng nhất quyết địnhhiệu quả điều trị Hiện nay tiêu chuẩn hóa chất lượng dược liệu chủ yếu theodược điển Việt Nam IV nên tại các cơ sở khám chữa bệnh YHCT phươngpháp đánh giá chất lượng dược liệu chủ yếu dựa vào cảm quan [10] Nhữngthông báo gần đây về chất lượng dược liệu trên thị trường cho thấy năm 2000đến 2005 khoảng 35% mẫu dược liệu và chế phẩm TCT lấy kiểm tra khôngđạt một số tiêu chuẩn chất lượng [18] Qua kết quả kiểm tra chất lượng thuốccủa Viện Kiểm nghiệm thuốc TW, viện kiểm nghiệm thuốc TP Hồ Chí Minh
và các trung tâm kiểm nghiệm trên cả nước trong 5 năm từ 2004 - 2008 chothấy số mẫu thuốc Đông dược không đạt chất lượng đã đăng ký mỗi nămchiếm khoảng 10% trên tổng số mẫu kiểm tra, cao hơn nhiều so với thuốc Tândược (khoảng 2%) [24] Chính vì vậy, việc tìm hiểu thực trạng chất lượng vàtình hình sử dụng TCT là rất cần thiết Tuy nhiên, cho đến nay, chưa có cácnghiên cứu đánh giá về chất lượng và tình hình sử dụng thuốc tại các bệnhviện YHCT tại Hà Nội Nhằm giúp các nhân viên y tế, các nhà quản lý ngành
y tế có thêm thông tin về chất lượng và tình hình sử dụng TCT ở các CSKCBchúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Khảo sát thực trạng chất lượng 8 vịthuốc bổ thường dùng tại các cơ sở khám chữa bệnh bằng YHCT tại Hà Nội”với 3 mục tiêu:
1 Mô tả đặc điểm của 8 vị thuốc bổ thường dùng.
2 Đánh giá định tính một số chỉ tiêu chất lượng 8 vị thuốc bổ thường dùng.
3 Đánh giá định lượng một số chỉ tiêu chất lượng 8 vị thuốc bổ thường dùng.
Trang 11Ch¬ng 1 TổNG QUAN
1 Tình hình sử dụng thuốc cổ truyền
1.1 Tình hình sử dụng thuốc cổ truyền trên thế giới
TCT là những vị thuốc, chế phẩm thuốc có nguồn gốc thực vật, động vật,khoáng vật, được phối ngũ theo phương pháp cổ truyền sử dụng theo kinhnghiệm dân gian lâu đời trong đó các loại thảo dược vẫn là loại thuốc đượcdùng chữa bệnh lâu đời nhất
Trong những năm qua, mối quan tâm đối với TCT ngày càng tăng ở các quốcgia phát triển Theo báo cáo của Tổ chức y tế thế giới - WHO (1995), khoảng 60
- 80% dân số thế giới sử dụng thảo dược trong chăm sóc sức khỏe [30]
Ở Trung Quốc, trước khi giành được độc lập, YHHĐ đã thâm nhập và trởthành nền y học chính thống YHCT đã từng không được chấp nhận bởi hệthống các dịch vụ YHHĐ, việc hành nghề YHCT thậm chí bị ngăn cấm vàtrong nhiều năm nó chỉ tồn tại nh một phần trong cộng đồng và các hoạt động
cá nhân nằm ngoài hệ thống y tế chính thống Năm 1949, nước Cộng hòanhân dân Trung Hoa được thành lập và nền YHCT phát triển rất mạnh mẽ, nógóp phần không nhỏ cho sự tiến bộ của nền y học thế giới Chính phủ TrungQuốc đã đưa ra một số luật lệ để phát triển một khung điều chỉnh đúng đắn,đẩy mạnh giáo dục, đào tạo và nghiên cứu, điều khoản về dịch vụ y tế côngcộng, thúc đẩy sự phát triển công nghệ Năm 1949, chính sách về YHCT đượcban hành Năm 1954, chương trình quốc gia về thuốc cũng được công bố.Việc sử dụng YHCT trong Chăm sóc sức khỏe (CSSK) cho nhân dân cũngđược thể chế hóa bằng văn bản pháp luật Nhà nước trong đó coi trọng việc sửdụng tập trung YDHCT cho vấn đề CSSK tại cộng đồng Đội ngũ cán bộ tưvấn, mạng lưới y tế trải khắp nơi và đóng góp nhiÒu trong sự nghiệp CSSK[32], [39], [33]
Trang 12Ở Ấn Độ, ngay từ năm 1940 đã có chính sách quốc gia về YHCT, luật vàđiều lệ cũng được ban hành ngay từ những năm đó và được cập nhật dầntrong những năm 1964, 1970, 1982[34] Hiện nay, người ta chia YHCT Ên
Độ ra nhiều trường phái trên cơ sở các khác biệt về quan niệm, lý luận vàphương pháp thực hành: Ayurveda, Yoga, Unani, Sidha [27]
Nhật Bản cũng là nước có nền YHCT lâu đời và đã được sử dụng rộng rãi
từ trước chiến tranh thế giới thứ nhất và được xem là 1 trong những nướcdùng TCT cao nhất thế giới hiện nay Chính phủ Nhật cũng đã ban hành luật
về TCT từ năm 1950 Ước tính trên 95% Kampo (Thuốc dân gian Nhật Bảnkết hợp với TCT Trung Quốc) là những dạng bào chế tiện lợi và được coi nhưthuốc phải kê đơn Hiện tại có 147 thuốc Kampo, đã được đưa vào danh mụcthuốc kê đơn của nước này [39], [36], [31]
Ở các nước khu vực Đông Nam Á như Indonexia, Malaysia, đặc biệt làThái Lan cũng là nước có truyền thống sử dụng thuốc YHCT Chính sách vàchương trình Quốc gia về TCT đã được ban hành từ năm 1993 khi ViệnYHCT Thái Lan được thành lập [34]
Ở châu Âu, Bắc Mỹ và các nước công nghiệp khác, trên 50% dân số đã sửdụng YHCT Ýt nhất một lần ở Mỹ, ước tính 158 triệu người thường xuyên sửdụng TCT và 17 tỷ Đôla đã được sử dụng cho YHCT năm 2000 ở Vươngquốc Anh có 230 triệu Đôla được sử dụng cho YHCT hằng năm Còn ở Đức
có 80% dân số sử dụng thuốc thảo dược Theo báo cáo của WHO tổng số tiềnchi phí cho YHCT trên thế giới đạt trên 6 tỷ Đôla/năm và con số này ngàycàng gia tăng [30],[39]
Một số nước ở châu Phi, châu Á, châu Mỹ La tinh bước đầu đã sử dụngTCT để chữa bệnh trong CSSK ban đầu ở châu Phi có tới 80% dân số sửdụng TCT cho CSSK ban đầu [38]
Theo báo cáo của WHO tính đến 1995, trong tổng số 50% số người trênhành tinh được chăm sóc sức khỏe thì có 80% được chăm sóc bằng YHCT[31] Điều này nói lên sự tin cậy của người dân đối với YHCT trong CSSK
Trang 13YHCT không chỉ có tác dụng trong CSSK ban đầu mà còn là sự lựa chọn
an toàn, hiệu quả, rẻ tiền cho bệnh nhân HIV/AIDS Người ta ước tính ở SanFrancisco, London và Nam Phi có tới 75% bệnh nhân HIV/AIDS dùng TCTnhư một phương thuốc bổ, tăng cường năng lượng, giúp tiêu hóa tốt [38].Nhìn chung, nhiều nước trên thế giới rất quan tâm phát triển và sử dụngYHCT trong việc CSSK cho nhân dân và coi đó là một trong những yếu tốthen chốt trong CSSK ban đầu
1.2 YHCT trong chăm sóc sức khỏe nhân dân Việt Nam
Đông y, Đông dược là vốn cổ rất quý của dân tộc ta, có lịch sử lâu đời, bắtnguồn từ khi có loài người trên đất nước Việt Nam Khởi đầu, qua kinhnghiệm trong khi tìm kiếm thức ăn, người xưa đã phát hiện dần những vịthuốc từ cỏ cây đến động vật, khoáng vật Những kinh nghiệm đó dần đượcsưu tầm, đúc kết, ghi chép thành hệ thống lý luận truyền từ đời này qua đờikhác [15]
Việt Nam, giáp cạnh với Trung Quốc - núi liền núi, sông liền sông Vì vậy,trong quá trình lịch sử lâu dài xây dựng và phát triển của mỗi nước đều cógiao lưu và ảnh hưởng lẫn nhau về nhiều mặt: Văn hóa, xã hội, phong tục trong đó có Y học cổ truyền đóng góp cho sự phát triển của Y học cổ truyềnnói chung và nói riêng trong lĩnh vực Đông dược ở nước ta cũng đã có sựđóng góp rất nhiều của các danh y của nhiều triều đại Nhưng trong số đó nổibật lên là sự nghiệp của danh y Tuệ Tĩnh ở cuối đời Trần vào thế kỷ XIV.Ông được suy tôn là "Vị thánh thuốc nam" trong Y học cổ truyền nước ta vớihai tác phẩm y học nổi tiếng là "Hồng nghĩa giác tư y thư" Đây là bộ sáchgồm 2 quyển: thượng và hạ, quyển thượng gồm bài phú thuốc nam bằng chữnôm, bài phú về dược tính vị thuốc bằng chữ hán, các mục về y lý chung,cũng như chủ trị của các thuốc, thuốc bổ, tả, ôn, lương của 12 kinh, ba đơnthuốc thường dùng "Như ý đơn", "Hồi sinh đơn", "Bổ âm đơn" và 37 phươngkinh nghiệm Quyển hạ gồm 13 phương gia giảm, 37 phương trị thương hàn
Trang 14và đề cương phép trị các bệnh Quyển thứ hai là "Nam dược thần hiệu", đây
là bộ sách có 11 quyển, quyển đầu nói về dược tính 499 vị thuốc nam, 10quyển sau, mỗi quyển nói về một khoa trị bệnh, đây là bộ sách ảnh hưởng rấtsâu rộng trong các y gia Việt Nam, bởi nó đã chỉ dẫn cách dùng thuốc nam đểtrị bệnh cho đại đa số người nghèo, nên được phổ cập đến quần chúng qua cácphương thuốc điều trị đơn giản, dễ kiếm với những vị thuốc sẵn có ở ViệtNam Ông đã mở đường cho sự nghiệp nghiên cứu thuốc Nam, xây dựng nềnmóng cho ngành Đông dược Việt Nam Kế thừa Tuệ Tĩnh đến thế kỷ XVIII ởthời kỳ hậu Lê lại xuất hiện danh y Lê Hữu Trác với danh hiệu là Hải ThượngLãn Ông (1720 - 1791), ông đã dầy công biên soạn pho sách “Hải thượng Ytông tâm lĩnh”, một bộ sách đồ sộ với 28 tập gồm 66 quyển Trong đó cónhiều quyển đề cập đến Đông dược, nhưng nổi trội có tập "Dược phẩm vậngyếu", trong tập này ông đã chọn 150 vị thuốc thiết yếu trong các sách Đôngdược kinh điển, căn cứ vào khí vị và công năng mà phân loại theo ngũ hànhthành 5 bé, quy nạp tất cả tính vị ưa nhau vào cùng một loại, cơ sở để biênsoạn quyển sách này như ông đã viết " lấy phần dược tính trong Phùng thịcẩm nang làm cốt yếu, tham hợp thêm các sách Cảnh nhạc toàn thư, Y họcnhập môn, Lôi công bào chế, Bản thảo cương mục các vị thuốc đã nêu rõ:chủ dụng, hợp dụng, kỵ dụng và phụ thêm cách bào chế" để tạo thành quyểnsách được trình bày gọn gàng, cách tra tìm dễ dàng nhanh chóng "Lĩnh nambản thảo" cũng là một trong 28 tập của Hải Thượng Lãn Ông (Lĩnh nam bảnthảo - bản thảo của đất Lĩnh nam - bao gồm Việt Nam và phía nam TrungQuốc) là một quyển sách đề cập tới khí vị, chủ trị của các vị thuốc Nam, một
số vị có phụ thêm cách bào chế Ông đã phân chia thành 2 quyển là quyểnthượng, đây là quyển thừa kế biên tập theo Nam dược thần hiệu của Tuệ Tĩnh;Quyển hạ do Hải Thượng Lãn Ông sưu tầm nghiên cứu, tập hợp bổ xungthêm một số vị thuốc, ông đã sắp xếp phân chia các vị thuốc đông dược thành
22 loại, trong đó loại cỏ hoang gồm 60 vị, loại dây leo gồm 17 vị, loại raugồm 46 vị và bổ sung 117 vị [16]
Trang 15Vào cuối thế kỷ XIX và những năm đầu thế kỷ XX, cùng với sự du nhậpcủa văn hóa và kỹ thuật công nghệ phương tây dưới thể chế thực dân dongười Pháp đem đến nước ta, nền Y học phương tây đã dần hình thành nhưngtrong khuôn khổ còn hạn chế ở các thành phố lớn Đa số người dân vẫn quendùng thuốc cổ truyền trong nền y học truyền thống, nhưng vẫn trong vòngkim tỏa khó phát triển Chỉ sau ngày giải phóng miền Bắc năm 1954 và đặcbiệt sau ngày thống nhất đất nước năm 1975, ngành YHCT nói chung vàchuyên ngành DHCT nói riêng với sự quan tâm của Đảng và Nhà nước và đã
có bước chuyển mình và phát triển mạnh mẽ với hàng loạt Viện nghiên cứu
và Bệnh viện chuyên ngành ra đời, cùng với hệ thống đào tạo các bậc từ trungcấp, đại học và sau đại học,… Về chuyên ngành YHCT, vấn đề đào tạo vànghiên cứu dược cổ truyền được quan tâm - đặc biệt với các phương tiệnnghiên cứu của khoa học và Y dược học hiện đại đã tạo nhiều chế phẩm caocấp từ TCT, đóng góp tích cực trong hệ thống chăm sóc và nâng cao sức khỏecho nhân dân Thực hiện phương châm kết hợp YHCT với YHHĐ, hiện đạihóa YHCT nhưng vẫn giữ được bản sắc của YHCT [16]
Nghị định của Chính phủ số 37/CP ngày 20/6/1996 về định hướng chiếnlược công tác chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân trong 1996 - 2000 vàchính sách quốc gia về thuốc Việt Nam: “Phát huy, phát triển TCT, khai thác
có chọn lọc các bài thuốc gia truyền cũng như kinh nghiệm chữa bệnh cổtruyền của nhân dân đã được thử thách, công nhận qua thời gian, khuyếnkhích khen thưởng thỏa đáng về tinh thần và vật chất đối với những đơn vị đãcống hiến những bài thuốc, vị thuốc quý Tăng cường đầu tư, nghiên cứukhoa học trong lĩnh vực TCT, tiêu chuẩn hóa kỹ thuật bào chế, chế biến và sửdụng TCT Tăng cường đào tạo và bồi dưỡng các lương y, những người sảnxuất và bào chế TCT nhằm xây dựng một đội ngũ cán bộ về YDHCT có chấtlượng, có trình độ cao” [11]
Chính sách quốc gia về thuốc và chiến lược phát triển ngành dược giaiđoạn đến năm 2010 đã đặt vấn đề phát triển dược liệu, trong đó xác định kế
Trang 16hoạch hóa nhiệm vụ phát triển nguồn dược liệu, xác định vùng nuôi trồng câycon làm thuốc, chọn lọc, bảo tồn phát triển nguồn giống và gen cây thuốc, xâydựng vườn quốc gia về cây thuốc, xây dựng bộ tiêu chuẩn nhà nước về cácdược liệu [13].
Đến năm 2005, chóng ta đã khảo sát có 3948 loài thực vật, 408 loài độngvật, 75 loại khoáng vật, 52 loài tảo có ở Việt Nam được sử dụng làm thuốc[21] Năm 1999 Bé Y tế đã ban hành Danh mục thuốc chủ yếu với 88 chếphẩm thuốc YHCT, 60 cây thuốc tại tuyến y tế xã và 186 vị thuốc thiết yếu.Năm 2005, Danh mục thuốc chủ yếu YHCT được ban hành với 94 chế phẩmthuốc YHCT, 34 cây thuốc Nam phân theo nhóm bệnh và 215 vị thuốc Đếntháng 2/2008, Bé Y tế ban hành “Danh mục thuốc chữa bệnh chủ yếu sử dụngtại các cơ sở khám chữa bệnh” với 98 loại chế phẩm và 237 vị thuốc [4].Tháng 4/2010, Bé Y tế ban hành Thông tư số 12/2010/TT-BYT, quy định
“Danh mục thuốc y học cổ truyền chủ yếu sử dụng tại các cơ sở khám chữabệnh” với 127 loại chế phẩm và 300 vị thuốc [5] Tuy nhiên, qua thực tế sửdụng thuốc ở các cơ sở điều trị cho thấy vẫn còn một số thuốc chưa hợp lýnên cần phải khảo sát thực trạng sử dụng thuốc tại các cơ sở để có sự điềuchỉnh cho phù hợp
2 Vấn đề chất lượng TCT hiện nay
2.1 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài
Hồng Kông là một thị trường sử dụng nhiều dược liệu có nguồn gốc từTrung Quốc, họ rất quan tâm đến chất lượng dược liệu nhập khẩu Các dược
liệu được nhập phải có tiêu chuẩn và quan điểm “dược liệu đúng” là quan
trọng Tuy nhập có kiểm nhưng Hồng Kông vẫn thu thập & nghiên cứu thấy
có 86 dược liệu dễ bị nhầm lẫn được sử dụng ở Hồng Kông Được sự đồngthuận của Tổ chức y tế thế giới, năm 2003 Hội đồng hướng dẫn Dược liệu dễnhầm lẫn ở Hồng Kông công bố phương pháp nhận dạng 86 dược liệu dễnhầm lẫn, in 4000 bản và được chuyển đến các cơ sở sử dụng dược liệu Đến
Trang 17năm 2005 họ có bổ sung 4 dược liệu dễ nhầm lẫn nâng tổng số dược liệu dễnhầm lẫn ở Hồng Kông lên 90 loại và in thêm 6000 bản [35].
Tại Mỹ : Từ năm 2000 Cục An toàn thuốc và thực phẩm (FDA) đã khuyếncáo tình hình người dân dùng thực phẩm chức năng có nguồn gốc dược liệu
mà có chứa acid Aistolochic (từ loài dược liệu thuốc chi Aistolochia gây tổnthương thận và ung thư thận Người ta đã xác định trong 38 sản phẩm từ dượcliệu mà trên nhãn có ghi có dược liệu thuộc chi Aistolochia được lưu hành ở
Mỹ có tới 18 sản phẩm có chứa acid Aistolochic và FDA đã yêu cầu nhà sảnxuất và phân phối có liên quan thu hồi [40]
2.2 Tình hình nghiên cứu tại Việt Nam
Do nhu cầu sử dụng thuốc từ dược liệu và nhờ chính sách xã hội hóa trongviệc phát triển dược liệu và mở rộng hệ thống phục vụ y tế bằng Y - Dượchọc cổ truyền của Nhà nước nên trong những năm gần đây, việc sản xuấtdược liệu và thuốc Đông dược không ngừng tăng lên Tính đến 31/12/2008 cảnước đã có 9727 số đăng ký thuốc sản xuất trong nước còn hiệu lực trong đóthuốc Đông dược có 1804 số đăng ký chiếm 18,54% Bên cạnh những tíchcực, những ảnh hưởng không có lợi tới sức khỏe do việc sử dụng thuốc từdược liệu có xu hướng tăng lên Chất lượng thuốc sản xuất từ dược liệu cònnhiều vấn đề cấp bách cần được giải quyết [24] Thị trường dược liệu ở trongtình trạng thả nổi, thiếu sự quản lý của các cơ quan y tế (về chủng loại dượcliệu, chất lượng và tính chính xác, quy trình chế biến cách bảo quản ) và các
cơ quan quản lý thị trường Việc đánh giá chất lượng dược liệu gặp nhiều khókhăn, hệ thống các tiêu chuẩn kiểm nghiệm dược liệu về cơ bản chưa đáp ứngđược các yêu cầu thực tiễn [21] Phương pháp đánh giá chất lượng dược liệutại các cơ sở khám chữa bệnh YHCT chủ yếu dựa vào cảm quan [10]
Viện dược liệu nghiên cứu về thực trạng chất lượng an toàn dược liệu lưuhành trên thị trường trong năm 2005 Với một số dược liệu thu hái trong nướckiểm tra kết hợp với 4 tiêu chuẩn: tính đúng, độ Èm, hàm lượng chất hoạt chất
và tro toàn phần thì có tới 80% số mẫu dược liệu không đạt tiêu chuẩn Dược
Trang 18liệu nhập từ Trung Quốc với chỉ tiêu: Độ Èm, hàm lượng hoạt chất có 55% sốmẫu kiểm nghiệm không đạt tiêu chuẩn Nhiều nghiên cứu xác định dư lượnglưu huỳnh, kim loại nặng, thuốc bảo vệ thực vật trong dược liệu cũng đượcthực hiện [17].
Viện kiểm nghiệm cũng có nhiều nghiên cứu xây dựng tiêu chuẩn kiểmnghiệm dược liệu trên cơ sở máy móc phương tiện hiện đại Những thông báogần đây về chất lượng dược liệu trên thị trường cho thấy năm 2000 đến 2005khoảng 35% mẫu dược liệu và chế phẩm TCT lấy kiểm tra không đạt một sốtiêu chuẩn chất lượng [18] Qua kết quả kiểm tra chất lượng thuốc của ViệnKiểm nghiệm thuốc TW, viện kiểm nghiệm thuốc TP Hồ Chí Minh và cáctrung tâm kiểm nghiệm trên cả nước trong 5 năm từ 2004 - 2008 cho thấy sốmẫu thuốc Đông dược không đạt chất lượng đã đăng ký mỗi năm chiếmkhoảng 10% trên tổng số mẫu kiểm tra, cao hơn nhiều so với thuốc Tân dược(khoảng 2%) Các chỉ tiêu không đạt như: độ nhiễm khuẩn, độ Èm, định tính,hàm lượng hoạt chất, các chỉ tiêu về kỹ thuật bào chế như: độ rã, độ đồng đềukhối lượng; trong đó số mẫu hàng năm không đạt tiêu chuẩn về giới hạnnhiễm khuẩn chiếm tỷ lệ cao trong số các chỉ tiêu không đạt Đây là vấn đềthách thức lớn đối với các cơ sở sản xuất thuốc Đông dược, đặc biệt là các cơ
sở tư nhân nhỏ, lẻ, điều kiện sản xuất thủ công không thực hiện tốt trong quytrình sản xuất và chế biến [24]
Theo báo cáo của Đoàn thanh tra Sở y tế Hà Nôi (2007) kết quả kiểm trahành nghề kinh doanh dược liệu, đông dược chỉ riêng tại Ninh Hiệp (GiaLâm, Hà Nội) thì chỉ có 19/200 hé kinh doanh dược liệu có giấy phép [25].Theo thống kê, hàng năm Hà Nội thực hành thanh, kiểm tra 4600 lượt các
cơ sở hành nghề y tế tư nhân nói chung, song hiệu lực của công tác thanh,kiểm tra ở các quận, huyện chưa cao nên một số tồn tại vẫn chưa khắc phụcđược [19] Bên cạnh đó, việc kiểm soát chất lượng dược liệu nhập vào và các
Trang 19dược liệu có mặt trên thị trường đòi hỏi sự hỗ trợ của nhiều ban ngành cùngtham gia từ Trung ương đến địa phương Việc kiểm tra chất lượng dược liệukhi cần xác định các hoạt chất trong dược liệu thường tốn kém, mất nhiều thờigian đòi hỏi phải tiến hành trong labo, người làm công tác này phải có chuyênmôn về Dược cho nên thường không tiện lợi cho công tác kiểm tra thôngthường Thường chỉ có những dược liệu có nghi vấn về chất lượng thì cơ quanchức năng mới tiến hành lấy mẫu gửi đến Trung tâm kiểm nghiệm Dược - Mỹphẩm Hà Nội [21].
Hội nghị toàn quốc đánh giá tình hình sử dụng thuốc YHCT trong cở sởkhám chữa bệnh 3 năm (2004-2007) cho thấy: Việc kiểm tra chất lượng trướckhi nhập thuốc vào khoa YHCT hay bệnh viện YHCT đều bằng cảm quan,chưa phân tích được hoạt chất trong dược liệu Các chế phẩm được sản xuấthay mua ở các cơ sở sản xuất thuốc YHCT tuy được kiểm nghiệm nhưng cácmẫu kiểm nghiệm chủ yếu là về vi sinh, hóa lý và các chỉ tiêu khác nên chưathực sự đánh giá được các hoạt chất có trong chế phẩm [8] Chỉ tính năm
2004, các cơ sở thuộc Tổng công ty dược đã nhập khẩu khoảng 18000 tấndược liệu với khoảng 165 chủng loại dược liệu, trong đó 85 loại dược liệuđược nhập khẩu có số lượng trên 100 tấn [3] Việc nhập khẩu không đượckiểm soát chặt chẽ cũng như việc hành nghề trái phép của các tư thương tronglĩnh vực buôn bán dược liệu đã và đang gây rối thị trường chất lượng thuốcYHCT làm cho tình hình quản lý về chất lượng dược liệu ngày càng khókhăn Tính trung bình lượng dược liệu sử dụng hàng năm trên cả nước ước60.000 tấn, trong đó khoảng: 12.000 tấn (chiếm 12%) từ khai thác tự nhiên;16.000 tấn (chiếm 26,5%) từ trồng trọt còn lại khoảng 32.000 tấn (chiếm53,5%) từ nhập khẩu mà chủ yếu theo con đường tiểu ngạch nên việc kiểmsoát chất lượng thuốc còn có nhiều bất cập mặc dù hệ thống kiểm tra chấtlượng thuốc đã phủ khắp các sở y tế [8]
Trang 20Trên thị trường còn tồn tại thuốc từ dược liệu giả với thành phần trộn hoạtchất hóa học tân dược, không công bố hoặc ghi nhãn là thuốc từ dược liệunhưng thực chất là thuốc tân dược thì được coi là thuốc giả Trong những nămgần đây, cùng với sự phối hợp của các cơ quan công an, thanh tra dược, hệthống kiểm nghiệm từ Trung ương đến địa phương đã phát hiện nhiều loạithuốc này Trong số đó bao gồm cả thuốc có hoặc không có nguồn gốc, thuốcsản xuất trong nước hay thuốc nhập từ nước ngoài nhưng nhiều nhất là thuốcchưa được cấp số đăng ký [24].
Có 11 nguyên nhân dẫn đến dược liệu không đảm bảo tiêu chuẩn là dễ bịnhầm lẫn giữa các dược liệu; do thu hoạch không đúng thời vụ khiến hàmlượng hoạt chất thấp hoặc không có hoạt chất; do bảo quản không tốt; do bónnhiều phân đạm; do đất, nước tưới dược liệu bị ô nhiễm; lượng thuốc trừ sâucao; do xông sinh quá liều; do nhiễm phóng xạ ở giai đoạn tiệt trùng hoặctrồng gần trạm rada; do giống cây thuốc đưa vào trồng đã bị nhiễm bệnh; códược liệu không rõ nguồn gốc xuất xứ; dược liệu không có nơi bảo quản [15].Chính những nguyên nhân này khiến chất lượng dược liệu không đảm bảo, cóthể tồn dư những chất độc hại, từ đó ảnh hưởng đến chất lượng thuốc và ảnhhưởng trực tiếp đến sức khỏe người sử dụng
Theo Đỗ Thị Phương, trong tổng số dược liệu được khảo sát về tần suất sửdụng ở các cơ sở hành nghề YHCT tư nhân ở Hà Nội có: 22 dược liệu có tầnsuất sử dụng 91-100%, 54 loại có tần suất sử dụng 71-90%, 45 loại có tần suất
sử dụng 51-70% 82 loại có tần suất sử dụng 10 -50% chiếm tỷ lệ cao nhất, 48loại tỷ lệ < 10% có và về cảm quan các dược liệu này cũng có vấn đề nên việcđánh giá được chất lượng dược liệu trên địa bàn Hà Nội là cần thiết [23].Theo nghiên cứu của Nguyễn Thị Do Cam, trong tổng số dược liệu được khảosát về tần suất sử dụng ở các cơ sở khám chữa bệnh bằng YHCT công lập tại
Hà Nội có: 43 dược liệu có tần suất sử dụng 91-100%, 54 loại có tần suất sử
Trang 21dụng 71-90%, 22 loại có tần suất sử dụng 51-70%, 153 loại có tần suất sửdụng 10 -50% chiếm tỷ lệ cao nhất, 22 loại có tỷ lệ < 10% [12].
Chúng tôi chọn 8 vị thuốc bổ có tần suất sử dụng cao (8/8 vị thuốc có tầnsuất sử dụng 91-100% theo nghiên cứu của Đỗ Thị Phương [23]; 7/8 vị thuốc
có tần suất sử dụng 91-100%, 1/8 vị thuốc có tần suất sử dụng 71-90% theonghiên cứu của Nguyễn Thị Do Cam) [12], để đánh giá chất lượng tại 3 bệnhviện YHCT ở Hà Nội
Hiện nay, Dược điển Việt Nam IV là tài liệu pháp lý về tiêu chuẩn củatừng dược liệu qua các chuyên luận tương ứng Mức độ của từng chuyên luận
có khác nhau nên chúng tôi cũng chia mức độ đánh giá của các dược liệukhông hoàn toàn như nhau Chỉ tiêu về mô tả, độ Èm: đánh giá 100% mẫu thuthập được Các chỉ tiêu khác như: định tính, định lượng, sẽ phân loại và đánhgiá theo từng chuyên luận tương ứng
3 Tổng quan về một số vị thuốc bổ thường dùng
3.1 Bạch thược (Radix Paeoniae Alba)
Bạch thược là rễ cạo bỏ vỏ ngoài của cây Thược dược (Paconia lactiflora
Pall.), họ Hoàng liên (Ranunculaceae) [16]
Tính vị quy kinh: Vị ngọt, đắng, chua, tính lạnh Quy vào kinh can, tỳ, phế.
Tác dông: Bổ huyết, liễm âm cầm mồ hôi, chỉ thống.
Ứng dụng lâm sàng:
- Bổ huyết: chữa người xanh xao kết hợp với thục địa, đương quy, hà thủ
ô đỏ, xuyên khung Điều kinh, chữa chứng kinh nguyệt không đều, thốngkinh
- Cầm máu: chữa chứng chảy máu, ho ra máu, đại tiện ra máu, tiểu tiện
ra máu, rong kinh, trĩ ra máu
Trang 22- Thư cân, chỉ thống: chữa các chứng đau do can khí uất kết gây ra nh:đau dạ dày, đau vùng mạng sườn; chứng đau bụng ỉa chảy do thần kinh,chân tay co quắp kết hợp với cam thảo.
- Chữa ra mồ hôi vào ban đêm do âm hư kết hợp với ngũ vị tử, mẫu lệ,sơn thù Biểu hư bị phong hàn có mồ hôi thì kết hợp với quế chi
- Bổ can âm: Chữa chứng đau đầu, mất ngủ, hoa mắt chóng mặt do can
âm hư, can dương vượng Dùng kết hợp với cúc hoa, ngưu tất, sinh địa,thạch quyết minh, từ thạch
Liều lượng: 5 - 10g có thể tới 30g/ ngày.
3.2 Cam thảo (Radix Glycyrrhizae)
Cam thảo là rễ cây Cam thảo (Glycyrrhiza uralensis Fish.; Glycyrrhiza glabra L.; Glycyrrhiza inflata Bat.), họ Đậu (Fabaceae) [16].
Tính vị quy kinh: Vị ngọt, tính bình Quy vào 12 kinh.
Tác dông: Bổ trung khí, dưỡng huyết nhuận phế chỉ ho, thanh nhiệt giải
độc, hòa hoãn giảm đau
Ứng dụng lâm sàng:
- Ých khí, dưỡng huyết, dùng trong bệnh tâm khí hư nhược đánh trốngngực, buồn bực; phối hợp với đảng sâm, a giao, mạch môn, quế chi
- Chữa tỳ hư, dùng với đảng sâm, bạch linh, bạch truật
- Nhuận phế chỉ ho: Dùng trong bệnh đau hầu họng, viêm họng cấp, mạntính, viêm amidan, ho có nhiều đờm Nếu do phong nhiệt kết hợp tangbạch bì, cát cánh, cúc hoa Nếu ho do phế nhiệt hợp với thạch cao, mahoàng, cam thảo
- Tả hỏa, giải độc: Dùng trong bệnh mụn nhọt đinh độc sưng đau
- Hoãn cấp, chỉ thống: Trị đau dạ dày, loét đường tiêu hóa, đau bụng, gânmạch co rút kết hợp với bạch thược
- Điều vị, giảm tác dụng phụ và dẫn thuốc khi dùng phối hợp
Liều lượng: 4 - 10g/ ngày.
Trang 23Cấm kỵ: không dùng cho những người phù nề, thận trọng với người có
chứng huyết áp cao Không dùng với đại kích, cao toại, nguyên hoa, hải tảo
3.3. Câu kỷ tử (Khởi tử) (Fructus Lycii)
Câu kỷ tử là quả chín phơi khô của cây Rau khởi, Câu kỷ (Lycium barbarum L.), họ Cà (Solanaceae) [16].
Tính vị, quy kinh: vị ngọt, tính bình Quy vào kinh phế, can, thận.
Tác dông: bổ can thận, minh mục.
Ứng dụng lâm sàng:
- Bổ can thận, cố tinh dưỡng huyết: do can thận âm hư, huyết hư gây liệt dương,
di tinh, đau lưng, gối mỏi ù tai, chóng mặt, quáng gà, thị lực giảm dùng phối hợpvới cúc hoa, sinh địa, hoài sơn,… (bài “Kỷ cúc địa hoàng hoàn”)
- Sinh tân chỉ khát: dùng trị bệnh tiêu khát (đái tháo đường) do nhiệt
- Bổ phế âm, dùng trong bệnh lao, ho khan
- Ých khí huyết dùng cho người già, khí hư, huyết kém Phèi hợp vớilong nhãn, ngũ vị tử
Liều lượng: 6 - 12g/ngày.
3.4. Đảng sâm (Phòng đẳng sâm) (Radix Condonopsis)
Đảng sâm là rễ củ của cây Đảng sâm Có một số loài mang tên đảng sâm
được dùng làm thuốc nh: (Codonopsis pilosula Nannf.; C Tangshen Oliv.) và (Condonopsis javanica (BL.) Hook f có ở Việt Nam) đều thuộc họ Hoa
chuông (Campanulaceae) [16]
Tính vị, quy kinh: Vị ngọt, tính bình Quy vào kinh tỳ, phế.
Tác dông: Kiện tỳ khí, dưỡng huyết, sinh tân, bổ trung Ých khí.
Ứng dụng lâm sàng:
- Phế khí hư nhược gây ho, hen kéo dài do thận hư không tàng khí, hơithở ngắn Kết hợp với Hoàng kỳ, Ngũ vị tử, Tắc kè
Trang 24- Chữa tỳ vị hư, kém ăn, đại tiện lỏng, mệt mỏi, khát nước, ốm lâu ngày
cơ thể suy nhược Kết hợp với bạch truật, hoài sơn, xuyên khung, bạchlinh, trần bì, liên nhục
- Bổ trung Ých khí chữa sa trực tràng, sa tử cung Kết hợp với bạch truật,sài hồ, hoàng kỳ, thăng ma, trần bì
- Do tổn thương phần khí và âm do nhiệt gây ra mồ hôi, mệt mỏi, phiềnkhát Kết hợp với mạch môn, ngũ vị tử, xích thược
- Xanh xao do huyết hư hoặc cả khí và huyết hư Kết hợp với đương quy,thục địa
- Còn dùng làm thuốc bổ dưỡng cơ thể, lợi tiểu tiện, chữa ho, tiêu đờm.Dùng khi tỳ khí, phế khí hư Huyết hư do thiếu tân dịch
Liều dùng: 10 - 15g/ ngày Đảng sâm Việt Nam dùng 15 - 30g/ ngày 3.5 Đương quy (Radix Angenicae sinensis)
Đương quy là rễ phơi khô của cây Đương quy (Angelica sinensis (Oliv.)
Diel.), họ Hoa tán (Apiacerae) [16]
Tính vị quy kinh: Vị ngọt, cay, tính Êm Quy vào kinh tâm, can, tú.
Tác dông: Bổ huyết, hành huyết.
- Chữa sung huyết, tụ máu do sang chấn Kết hợp với xuyên khung, đàonhân, hồng hoa,
- Chữa cơn đau dạ dày, đau các dây thần kinh, các cơ do lạnh Đau đầunhiều dùng đương quy sao tẩm rượu
- Nhuận tràng thông tiện do huyết hư gây táo bón
Trang 25- Giải độc, tiêu viêm: chữa mụn nhọt, vết thương có mủ do vừa có tácdụng giải độc vừa có khả năng hoạt huyết, tiêu trừ huyết ứ.
Liều lượng: 6 - 12g/ngày Là 1 trong các thuốc hay dùng cho phụ nữ Kiêng kỵ: Người có tỳ vị thấp nhiệt, đại tiện lỏng, khi dùng nên sao để
giảm tính hoạt trường
3.6 Hà thủ ô đỏ (Radix Polygoni multiflori)
Hà thủ ô đỏ là rễ củ phơi khô của cây Hà thủ ô đỏ (Polygonum multiforum
Thunb.), họ Rau răm (Polygonaceae) [16]
Tính vị quy kinh: Vị đắng, chát, tính Êm Quy vào kinh can, thận.
Tác dông: Bổ Ých can thận, bổ huyết, cố tinh.
Ứng dụng lâm sàng:
- Bổ khí huyết: dùng khi khí huyết đều hư, cơ thể mệt nhọc vô lực, đoảnhơi, thiếu máu, da xanh, gầy khô sáp, chóng mặt, nhức đầu, râu tóc bạcsớm, mồ hôi trộm, tim loạn nhịp, mất ngủ Dùng với thục địa, long nhãn,bạch thược, đương quy, sơn thù, xuyên khung
- Bổ can, thận âm: dùng khi chức năng can thận kém, di tinh do thận hư,lưng gối mỏi Phụ nữ bạch đới, kinh nguyệt không đều Kết hợp với kỷ tử,thỏ ty tử, phá cố chỉ, đương quy, ngưu tất
- Chữa chứng tê liệt nửa người do co cứng động mạch gây thiếu máu,nhũn não hay gặp ở người già (bài Thủ ô diên thọ thang)
- Nhuận tràng chữa chứng táo bón do huyết hư tân dịch giảm gây nên.Chữa trĩ, đi ngoài ra máu
- Giải độc chống viêm chữa lao hạch và các vết loét lâu liền miệng,viêm gan mạn
- Dây hà thủ ô (dạ giao đằng) có tác dụng an thần giúp ngủ tốt
Liều lượng: 12 - 20g/ngày.
Trang 263.7 Hoài sơn (Rhizoma Dioscoreae)
Hoài sơn là rễ cây Củ mài (Dioscorea opposifa Thunb.), họ Củ từ
(Dioscoraceae) [16]
Tính vị, quy kinh: Vị ngọt, tính bình Quy kinh tỳ, vị, phế, thận.
Tác dông: Bổ tỳ vị, bổ phế âm.
Ứng dụng lâm sàng:
- Kiện tỳ, chỉ tả dùng trong các trường hợp tỳ vị hư nhược, ăn uống kém,
ỉa chảy Trẻ em vàng da, bụng ỏng Kết hợp với bạch truật, bạch linh, ý dĩ
- Bổ phế dùng khi phế khí suy nhược hoặc cả phế khí và thận hư, hơi thởngắn, người mệt mỏi Ngoài ra còn kết hợp với ngũ vị tử, đảng sâm chữa
ho, hen phế quản
- Cố tinh, Ých thận: Chữa di tinh, tiểu tiện không cầm được, phụ nữ bạch đới
- Sinh tân, chỉ khát do âm hư, trị đái tháo đường
- Giải độc, trị bệnh sưng vú, đau đớn Dùng Củ mài tươi giã nát đắp lênchỗ đau,…
Liều luợng: 12 - 40g/ngày.
Kiêng kỵ: Người có thực tà thấp nhiệt.
3.8 Hoàng kỳ (Radix Astragali)
Hoàng kỳ là rễ cây Hoàng kỳ (Astragalus membranacuis Fish.), họ Đậu
(Fabaceae) [16]
Tính vị, quy kinh: Vị ngọt, tính Êm Quy vào kinh tỳ, phế.
Tác dông: bổ khí, thăng dương khí của tỳ, cầm mồ hôi, lợi niệu, tiêu viêm Ứng dụng lâm sàng:
- Bổ khí (bổ trung khí): do trung khí không đầy đủ, tỳ dương hạ hãm gâychứng mệt mỏi, da mặt xanh vàng, ăn kém, nôn ra máu, chảy máu cam,rong huyết, ỉa chảy, sa trực tràng (dùng bài Bổ trung Ých khí thang)
- Ých huyết: dùng khi thiếu máu hoặc mất máu nhiều đặc biệt sau khi sốt rét
Trang 27- Cầm mồ hôi chữa chứng tự ra mồ hôi để chữa chứng ra mồ hôi trộm dobiểu hư hoặc do phong hàn Kết hợp với bạch truật, gạo nếp.
- Lợi niệu trừ phù thũng, chữa hen suyễn do tỳ hư, tâm thận dương hư.Kết hợp với phụ tử chế, bạch truật, bạch linh,…
- Trừ tiêu khát, sinh tân dùng cho người đái tháo đường Kết hợp vớimạch môn, nhân sâm, thiên hoa phấn,…
- Sinh cơ làm bớt mủ các vết thương, mụn nhọt lâu ngày không hết mủ.Kết hợp với đương quy, thục địa, đảng sâm, nhục quế
- Hoạt huyết trừ ứ trệ: điều trị đau lưng và chân do khí huyết ứ
Liều lượng: 6 - 20g/ngày.
Trang 28Ch¬ng 2 Đối tượng và phương pháp nghiên cứu
4 Đối tượng nghiên cứu:
Gồm có 8 vị thuốc sau: Bạch thược, Cam thảo, Câu kỷ tử, Đảng sâm,Đương Quy, Hà thủ ô đỏ, Hoài sơn, Hoàng kỳ được lấy mẫu tại 3 bệnh việnYHCT của Hà Nội: bệnh viện Đa khoa YHCT Hà Nội, bệnh viện Đa khoaYHCT Hòe Nhai, bệnh viện YHCT Hà Đông
5 Phương pháp nghiên cứu
5.1 Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu mô tả cắt ngang, kết hợp cả định tính và định lượng, hồi cứumột số thông tin và số liệu, bao gồm:
- Thu thập ngẫu nhiên các mẫu dược liệu tại các cơ sở nghiên cứu, quansát trực tiếp, đánh giá chất lượng dược liệu
- Gửi mẫu kiểm nghiệm, ghi chép và xử lí số liệu
5.2 Cỡ mẫu
Chúng tôi dùng phương pháp chọn cỡ mẫu có chủ đích:
Đối với CSKCB bằng YHCT của Hà Nội: 3 cơ sở: bệnh viện Đa khoaYHCT Hòe Nhai, bệnh viện YHCT Hà Nội, bệnh viện YHCT Hà Đông: đây
là 3 cơ sở khám chữa bệnh bằng YHCT tại Hà Nội có địa điểm phân bố ở 3khu vực khác nhau tại Hà Nội
Đối với các vị thuốc bổ: Chúng tôi chọn 8 vị thuốc trên để khảo sát vì đây
là các vị thuốc bổ thường dùng (8/8 vị thuốc có tần suất sử dụng 91-100%theo nghiên cứu của Đỗ Thị Phương, 7/8 vị thuốc có tần suất sử dụng 91-100%, 1/8 vị thuốc có tần suất sử dụng 71-90% theo nghiên cứu của NguyễnThị Do Cam [23],[12]), nếu chất lượng không đảm bảo sẽ ảnh hưởng đếnngười dùng
Trang 295.3 Các chỉ số và biến số nghiên cứu
Đánh giá định tính
- Mô tả (Đặc điểm vị thuốc)
- Phiếu điều tra
- Hàm lượng tro toàn phần
- Hàm lượng chất chiết được
- Hàm lượng kim loại nặng
5.4 Nguyên liệu
* Dược liệu nghiên cứu:
Khảo sát 8 vị thuốc bổ thường dùng theo bảng 2.1
Bảng 2.1: Danh mục dược liệu nghiên cứu
TT Tên vị
thuốc
Tên khoa học của
vị thuốc Tên khoa học của cây làm thuốc
1 Bạch
thược
Radix Paeoniae lactiflorae
Paeonia lactiflora Pall.), Họ Hoàng liên
(Ranunculaceae).
2 Cam thảo Radix Glycyrrhizae Glycyrrhyza uralensis Fish, hoặc
Glycyrrhiza glabra L., Họ Đậu (Fabaceae).
3 Câu kỷ
tử Fructus Lycii Lycium barbarum L., Họ Cà (Solanaceae).
4 Đảng
sâm Radix Codonopsis
Codonopsis spp, Họ Hoa chuông
(Campanulaceae).
quy
Radix Angelicae sinensis
Angelica sinensis (Oliv.) Diels, Họ Hoa tán
(Apiaceae).
6 Hà thủ ô
đỏ
Radix Fallopiae multiflorae
Fallopia multiflora (Thunb.) Haraldson.,
Họ Rau răm (Polygonaceae)
7 Hoài sơn Rhizoma Dioscoreae
Astragalus membranaceus Fisch., Họ Đậu
(Fabaceae).
* Hóa chất:
Trang 30Các loại hóa chất sử dụng để kiểm nghiệm: Đạt tiêu chuẩn tinh khiết phântích theo phụ lục 2.1 DĐVN IV
* Máy móc thiết bị
- Máy siêu âm, máy xay dược liệu, thiết bị chiết xuất và cô dưới áp suấtgiảm
- Kính hiển vi quang học Olympus CH-20 (Nhật)
- Máy sắc ký hiệu năng cao, sắc ký khí, quang phổ hấp thụ nguyên tử
- Máy cô quay áp suất giảm, tủ sấy thường, tủ Êm,…
- Bộ dụng cụ cất tinh dầu
- Bộ dụng cụ xác định độ Èm bằng phương pháp dung môi
- Máy cân xác định độ Èm
- Cân điện, cân phân tích, các dụng cụ khác
5.5 Địa điểm nghiên cứu
Các mẫu nghiên cứu được thu thập, mã hóa, mô tả và gửi đi kiểm nghiệm tại:
- Bộ môn Dược học cổ truyền Đại học Dược Hà Nội
- Viện kiểm nghiệm thuốc Việt Nam
5.6 Phương pháp đóng vai khách hàng
Phương pháp đóng vai khách hàng, những nghiên cứu viên đóng vai kháchhàng đi đến các cơ sở YDHCT để mua thuốc trong khi người hành nghềYDHCT không biết rằng những khách hàng đặc biệt này tham gia vào nghiêncứu
5.7 Phương pháp đánh giá chất lượng dược liệu
Các mẫu dược liệu thu về được nghiên cứu về tính đúng và chất lượngtheo chuyên luận của Dược Điển Việt Nam IV
Đánh giá chất lượng dược liệu bao gồm việc mô tả, vi phẫu, soi bột,định tính bằng phản ứng hóa học, sắc ký lớp mỏng, các phép thử tinh khiết,xác định hàm lượng chất chiết được và định lượng hoạt chất trong dược liệu,
Trang 31kim loại nặng Việc kiểm tra chất lượng mỗi dược liệu được tiến hành theonhững quy định chung sau:
2.2.7.1 Chỉ tiêu “Mô tả”
Bao gồm những mô tả về hình thái, kích thước, màu sắc, mùi vị, cácđặc điểm của bề mặt, vết bẻ hay mặt cắt của dược liệu hoặc đặc điểm thể chấtcủa dược liệu Trong nghiên cứu này, các mẫu dược liệu nghiên cứu đều đãchế biến (thái phiến) để dùng trong bệnh viện (nội trú hoặc ngoại trú) vì vậychỉ tiêu chất lượng về mô tả được khảo sát theo Dược điển Việt Nam IV kếthợp với tham khảo tài liệu tập huấn “Phương pháp chế biến bảo đảm chất
lượng đối với 85 vị thuốc Đông Y”, ban hành kèm theo Quyết định số 3759/QĐ-BYT ngày 08/10/2010 của Bộ trưởng Bộ Y tế [9].
- “Hình thái” là hình dạng của dược liệu khô Thông thường dược liệuđược quan sát mà không cần xử lý trước Các loại dược liệu là lá hayhoa bị nhăn nheo, khô quăn có thể được làm Èm, làm mềm và trảiphẳng trước khi quan sát Đối với một vài loại quả và hạt nếu cần cóthể được làm mềm và loại bỏ vỏ hạt để kiểm tra đặc điểm bên trong
- “Kích thước” là chiều dài, đường kính và độ dày của dược liệu Tiếnhành đo trên một số mẫu Cho phép một vài mẫu có giá trị hơi cao hơnhoặc thấp hơn giá trị đã xác định Sử dụng thước đo chia vạch tớimilimet Đối với hạt hay vật có kích thước nhỏ, xếp 10 hạt gần nhautheo một hàng trên một tờ giấy có chia vạch tới milimet, đo và tính giátrị trung bình
- “Màu sắc” của dược liệu được quan sát bằng mắt thường ở ánh sángban ngày Màu có thể được mô tả bằng các sắc độ như “hơi”, “đậm”hay “nhạt” (ví dụ màu hơi vàng, màu vàng đậm, màu vàng nhạt) Nếumàu được mô tả là màu phối hợp của hai màu thì màu chính là màu ghitrước (ví dụ trong màu nâu vàng thì màu nâu là màu chính)
- Đặc điểm bên ngoài, bề mặt vết bẻ hay cắt ngang của dược liệu thường
Trang 32được quan sát trên dược liệu chưa sơ chế Nếu quan sát thấy nhữngđường vằn khác nhau trên mặt bẻ thì có thể cắt phẳng rồi quan sát.
- “Mùi” của dược liệu được kiểm tra bằng cách ngửi trực tiếp hoặc saukhi bẻ gãy và vò nát Cũng có thể ngửi sau khi làm Èm dược liệu bằngnước nóng
- “Vị” của dược liệu được kiểm tra bằng cách nếm trực tiếp dược liệu
hoặc nếm dịch chiết nước
2.2.7.2 Định tính
Là những phương pháp dùng để nhận biết dược liệu, bao gồm các phươngpháp vi học và các phương pháp lý hóa
Định tính dược liệu bằng phương pháp vi học
Là việc quan sát đặc điểm của các tế bào, các mô của lát cắt, của bột hay(trong một vài trường hợp) của bề mặt dược liệu dưới kính hiển vi (Phụ lục12.18 DĐVN IV.)
Định tính bằng kính hiển vi là phương pháp sử dụng kính hiển vi để nhậnbiết các đặc điểm của các mô, tế bào hoặc các chất chứa trong tế bào, ở các látcắt, bột, các mô đã được làm rã ra, hoặc các tiêu bản bề mặt của dược liệu vàcác chế phẩm Việc chọn mẫu đại diện để định tính và sự chuẩn bị tiêu bản phảiphù hợp với những yêu cầu về định tính của mỗi loại mẫu cần kiểm tra Cáctiêu bản của các chế phẩm được chuẩn bị sau những xử lý thích hợp tuỳ theocác dạng chế phẩm khác nhau
Trang 33Sắc ký lớp mỏng là một kỹ thuật tách các chất được tiến hành khi cho phađộng di chuyển qua pha tĩnh trên đó đã chấm hỗn hợp các chất cần tách Phatĩnh là chất hấp phụ được chọn phù hợp theo từng yêu cầu phân tích, được trảithành lớp mỏng đồng nhất và được cố định trên các phiến kính hoặc phiếnkim loại Pha động là một hệ dung môi đơn hoặc đa thành phần được trộn vớinhau theo tỷ lệ quy định trong từng chuyên luận Trong quá trình di chuyểnqua lớp hấp phụ, các cấu tử trong hỗn hợp mẫu thử được di chuyển trên lớpmỏng, theo hướng pha động, với những tốc độ khác nhau Kết quả thu được làmột sắc ký đồ trên lớp mỏng Cơ chế của sự tách có thể là cơ chế hấp phụ,phân bố, trao đổi ion, sàng lọc phân tử hay sự phối hợp đồng thời của nhiều cơchế tùy thuộc vào tính chất của chất làm pha tĩnh và dung môi làm pha động.
2.2.7.3 Độ Èm (PL 5.16 DĐVN III)
Hàm Èm của dược liệu được xác định khối lượng mất do làm khô, là sựgiảm khối lượng của mẫu thử biểu thị bằng phần trăm (kl/kl) khi được làmkhô trong điều kiện xác định ở mỗi chuyên luận Phương pháp này dùng đểxác định hàm lượng nước, một phần hoặc toàn bộ lượng nước kết tinh vàlượng chất dễ bay hơi khác trong mẫu thử
Việc xác định mất khối lượng do làm khô không được làm thay đổi tínhchất lý hoá cơ bản của mẫu thử, vì vậy mỗi chuyên luận riêng sẽ có quy địnhcách làm khô theo mét trong các phương pháp sau đây:
- Trong bình hút Èm: Tiến hành làm khô trong bình hút Èm với những
chất hút nước như phosphor pentoxyd, silica gel v.v
- Trong chân không : Tiến hành làm khô ở điều kiện áp suất từ 1,5 đến 2,5
kPa có mặt chất hút Èm phosphor pentoxyd và ở nhiệt độ phòng
- Trong chân không ở điều kiện nhiệt độ xác định: Tiến hành làm khô ở
điều kiện áp suất từ 1,5 đến 2,5 kPa có mặt chất hút Èm phosphor pentoxyd
và trong điều kiện nhiệt độ quy định trong chuyên luận riêng
Trang 34- Trong tủ sấy ở điều kiện nhiệt độ xác định: Tiến hành làm khô trong tủ
sấy ở điều kiện nhiệt độ quy định trong chuyên luận riêng
- Trong chân không hoàn toàn: Tiến hành làm khô trong điều kiện áp suất
không quá 0,1 kPa có mặt chất hút Èm phosphor pentoxyd và ở điều kiệnnhiệt độ qui định trong chuyên luận riêng
2.2.7.4 Tro toàn phần (PL 9.8 DĐVN IV)
Với mẫu thử là thảo mộc: Cho 2 - 3 g bột đem thử vào một chén sứ hoặcchén platin đã nung và cân bì Nung ở nhiệt độ không quá 450 oC tới khikhông còn carbon, làm nguội rồi cân Bằng cách này mà tro chưa loại đượchết carbon thì dùng một Ýt nước nóng cho vào khối chất đã than hoá, dùngđũa thuỷ tinh khuấy đều, lọc qua giấy lọc không tro Rửa đũa thuỷ tinh vàgiấy lọc, tập trung nước rửa vào dịch lọc Cho giấy lọc và cắn vào chén nungrồi nung đến khi thu được tro màu trắng hoặc gần như trắng Hợp dịch lọcvào cắn trong chén nung, đem bốc hơi đến khô rồi nung ở nhiệt độ không quá
450 oC đến khi khối lượng không đổi Tính tỷ lệ phần trăm của tro toàn phầntheo dược liệu đã làm khô trong không khí
Với các mẫu thử khác: Cũng thực hiện như trên nhưng chỉ dùng 1 g mẫuthử nếu không có chỉ dẫn gì khác trong chuyên luận
2.2.7.5 Xác định chất chiết được (PL 12.10 DĐVN IV)
Là xác định hàm lượng các chất trong dược liệu có thể chiết được bằngdung môi (nước, ethanol hay mét dung môi khác)
Phương pháp xác định các chất chiết được bằng nước
Phương pháp chiết lạnh
Tiến hành: Cân chính xác khoảng 4,000 g bột dược liệu có cỡ bột nửa thô
cho vào trong bình nón 250 - 300 ml Thêm chính xác 100,0 ml nước, đậy
kín, ngâm lạnh, thỉnh thoảng lắc trong 6 giờ đầu, sau đó để yên 18 giờ Lọcqua phễu lọc khô vào một bình hứng khô thích hợp Lấy chính xác 20 ml dịchlọc cho vào một cốc thuỷ tinh đã cân bì trước, cô trong cách thủy đến cắn khô
Trang 35Sấy cắn ở 1050C trong 3 giờ, lấy ra để nguội trong bình hút Èm 30 phút, cânnhanh để xác định khối lượng cắn sau khi sấy, tính phần trăm lượng chất chiếtđược bằng nước theo dược liệu khô.
Phương pháp chiết nóng
Tiến hành: Cân chính xác khoảng 2,000 - 4,000 g bột dược liệu có cỡ bộtnửa thô cho vào bình nón 100 hoặc 250 ml Thêm chính xác 50,0 hoặc 100,0
ml nước, đậy kín, cân xác định khối lượng, để yên 1 giê, sau đó đun sôi nhẹ
dưới hồi lưu 1 giờ, để nguội, lấy bình nón ra, đậy kín, cân để xác định lại khối
lượng, dùng nước để bổ sung phần khối lượng bị giảm, lọc qua phễu lọc khô
vào một bình hứng khô thích hợp
Lấy chính xác 25 ml dịch lọc vào cốc thủy tinh đã cân bì trước, cô trongcách thủy đến cắn khô, cắn thu được sấy ở 105 0C trong 3 giờ, lấy ra để nguộitrong bình hút Èm 30 phút, cân nhanh để xác định khối lượng cắn Tính phầntrăm lượng chất chiết được bằng nước theo dược liệu khô
Phương pháp xác định các chất chiết được bằng ethanol hoặc methanol
Dùng các phương pháp tương tự nh phương pháp xác định các chất chiết đượcbằng nước Tuỳ theo chỉ dẫn trong chuyên luận riêng mà dùng ethanol hoặcmethanol có nồng độ thích hợp để thay nước làm dung môi chiết Với phươngpháp chiết nóng thì nên đun trong cách thuỷ nếu dung môi chiết có độ sôi thấp
5.8 Xử lý kết quả
Các số liệu được xử lý theo thuật toán thống kê Y sinh học, phần mềmMicrosoft Excelđ
5.9 Thời gian nghiên cứu
Nghiên cứu được tiến hành từ tháng 9/2010 đến tháng 4/2011
5.10 Đạo đức nghiên cứu
- Nghiên cứu được sự cho phép của Hội đồng Khoa học, phòng đào tạo đạihọc trường Đại học Y Hà Nội
Trang 36- Khách quan trong đánh giá, phân loại, trung thực trong xử lý số liệu.
- Các số liệu khảo sát được giữ bí mật cho các cơ sở được khảo sát bằng cách mã hóa cơ sở nghiên cứu
Trang 37Ch¬ng 3 Kết quả nghiên cứu
6 Đánh giá các chỉ tiêu chất lượng các vị thuốc
dễ bẻ gãy
MÉu thuốc phiến
là các lát dày,mỏng không đồngđều Thể chấtgiòn, dễ bẻ gãy
Vị Hơi đắng, chát Hơi đắng, chát Hơi đắng, chát 100Mốc
mọt
Không mốc mọt Không mốc mọt Không mốc mọt
100
Nhận xét: Qua bảng 3.1, 100% mẫu Bạch thược nghiên cứu đạt tiêu chuẩn
của Dược điển Việt Nam IV Hình ảnh minh họa tại hình 3.1:
Hình 3.1: Hình ảnh vị thuốc Bạch thược tại các cơ sở nghiên cứu.
Trang 38MÉu thuốc phiến
là các lát dày,mỏng không đồngđều Thể chấtmềm, khó bẻ gãy
0,5-Dày: 1-3mm
Dài: 3-12cm
Đường kính: 0,8 cm
tia ruột từ trung
tâm tỏa ra
Lớp vỏ bần màunâu đỏ, bên trongmàu vàng có nhiềutia ruột từ trungtâm tỏa ra
Lớp vỏ bần màunâu đỏ, bên trongmàu vàng có nhiềutia ruột từ trungtâm tỏa ra
100
Mùi Thơm đặc biệt Thơm đặc biệt Thơm đặc biệt 100
Vị Ngọt, hơi khé cổ Ngọt, hơi khé cổ Ngọt, hơi khé cổ 100Mốc
mọt
Không mốc mọt Không mốc mọt Không mốc mọt
100
Nhận xét: Qua bảng 3.2, 100% mẫu Cam thảo nghiên cứu tại 3 cơ sở đạt
tiêu chuẩn của Dược điển Việt Nam IV Hình ảnh minh họa ở hình 3.2:
Hình 3.2: Hình ảnh vị thuốc Cam thảo tại các cơ sở nghiên cứu.
Trang 39Thể chất mềm, vỏbóng, nhăn nheo.
Mẫu thuốc là quảkhô, kích thướckhông đồng đều
Thể chất mềm, vỏbóng, nhăn nheo
0,2-Dài: 0,6-1,2cm
Đường kính: 0,8cm
Mặt ngoài màu đỏcam, đỏ nâu, hạt
Vị Vị ngọt hơi chua Vị ngọt hơi chua Vị ngọt hơi chua 100Mốc
mọt
Không mốc mọt Không mốc mọt Không mốc mọt
100
Nhận xét: Qua bảng 3.3, 100% mẫu Câu kỷ tử nghiên cứu tại 3 cơ sở đạt tiêu
chuẩn về hình thức quả theo Dược điển Việt Nam IV Hình ảnh minh họa ở hình 3.3:
Hình 3.3: Hình ảnh Câu kỷ tử tại các cơ sở nghiên cứu.
Trang 40Rễ hình trụ trònhơi cong, rễ cónhiều nếp nhăn dọc
0,2-Dài: 20-35cm
Đường kính: 0,4 cm [không đạt]
Mốc
mọt Không mốc mọt. Không mốc mọt. Không mốc mọt. 100
Nhận xét: Qua bảng 3.4, 3/3 (100%) mẫu Đảng sâm không đạt chuẩn về
đường kính vị thuốc so với Dược điển Việt Nam IV (0,4-2cm) 100% mẫuĐảng sâm nghiên cứu tại 3 cơ sở đạt các tiêu chuẩn khác theo Dược điển ViệtNam IV Hình ảnh minh họa ở hình 3.4:
Hình 3.4: Hình ảnh Đảng sâm tại các cơ sở nghiên cứu.