Tăng huyết áp là yếu tố nguy cơ đã được chứng minh rõ ràng của cácbiến cố tim mạch như bệnh ĐMV, tử vong do bệnh ĐMV, đột quỵ, suy tim ứhuyết, đột tử .Trong nghiên INTERHEART, THA đóng g
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn này, tôi đã nhận được sự giúp đỡ về mọi mặt của các cơ quan, đơn vị, các thầy cô giáo, các nhà khoa học, gia đình và bạn bè đồng nghiệp.
Tôi xin trân trọng cảm ơn: Ban giám hiệu, các phòng, khoa, bộ môn
Trường Đại học Y Hà Nội; Ban giám đốc, các phòng, khoa Viện Tim Mạch Việt Nam; Trung tâm Y tế phường Quang Trung- Trung Phụng-Kim Liên; Đảng uỷ, HĐND, UBND, Trạm Y tế và các ban ngành Quận Đống Đa-
Hà Nội đã giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi cho tôi học tập và nghiên cứu.
Xin trân trọng cảm ơn thầy cô giáo bộ môn tim mạch Trường Đại học
Y-Hà Nội đã truyền đạt những kiến thức quý báu cho tôi trong suốt quá trình học tập.
Xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn: PGS-TS Nguyễn Thị Bạch Yến,
người thầy đã tận tình trực tiếp hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thiện luận văn này.
Xin chân thành cảm ơn: Bạn bè, đồng nghiệp và những người thân
trong gia đình, những người luôn giúp đỡ và động viên tôi trong học tập, công tác cũng như trong cuộc sống.
Tác giả
Lê Thị Bích Thủy
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đề tài “Nghiên cứu yếu tố nguy cơ tim mạch tồn dư
trong quần thể dân cư Quận Đống Đa- Hà Nội” là đề tài do bản thân tôi
thực hiện Các số liệu là hoàn toàn trung thực và chưa được công bố.
Tác giả
Lê Thị Bích Thủy
Trang 4DANH MỤC VIẾT TẮT
(Cholesterol của lipoprotein tỷ trọng cao)JNC : Joint National Committee on detection, evalution and
treatmen of hight blood pressure VII (Uỷ ban Quốc gia vềphát hiện, đánh giá và điều trị tăng huyết áp Hoa Kỳ)
(cholesterol của lipoprotein tỷ trọng thấp)NCEP/ATPIII : National Cholesterol Education Program - Adult Treatenzymt
Panel (Chương trình giáo dục quốc gia về cholesterol tại Mỹ phiênbản III, điều trị cho người trưởng thành)
VLDL : Very low density lipoprotein (Lipoprotein tỷ trọng rất thấp)
YTNC : Yếu tố nguy cơ
Trang 6Trong những thập niên gần đây mô hình bệnh tật có nhiều thay đổi, cácbệnh nhiễm trùng có xu hướng ngày 1 giảm thì ngược lại các bệnh không lâynhiễm như: tim mạch, tâm thần, ung thư…Đặc biệt là các bệnh tim mạchngày càng tăng Bệnh tim mạch đã và đang là vấn đề sức khỏe được quan tâmhàng đầu thế giới với tỉ lệ tử vong và tàn phế đứng hàng đầu Ước tính của TổChức Y Tế Thế Giới (WHO) cho thấy, hàng năm có khoảng 17 triệu người tửvong do bệnh tim mạch.
Các nhà khoa học đã ước tính tới năm 2020 bệnh tim mạch sẽ là cănbệnh tử vong chủ chốt của nhân loại Chính vì thế nhiều công trình y học trênthế giới đã tập trung nghiên cứu các yếu tố nguy cơ của bệnh tim mạch
Yếu tố nguy cơ của bệnh tim mạch là yếu tố liên quan với sự gia tăngkhả năng mắc bệnh tim mạch Một người mang một hoặc nhiều yếu tố nguy
cơ nào đó có nghĩa là có sự gia tăng khả năng mắc bệnh của người đó chứkhông phải bắt buộc là chắc chắn mắc bệnh Thường thì các yếu tố nguy cơhay đi kèm nhau thúc đẩy nhau phát triển và làm nguy cơ bị bệnh tăng theocấp số nhân Người ta nhận thấy càng ngày càng có nhiều các nguy cơ timmạch xuất hiện[1] Trong đó RLLM là một YTNC thường gặp có thể lànguyên nhân hoặc hậu quả của các yếu tố nguy cơ tim mạch khác
Trước kia, các nghiên cứu thường tập trung làm giảm LDL-C, kiểmsoát huyết áp và đường huyết tích cực Nhưng rất nhiều nghiên cứu nhận rarằng việc làm giảm LDL-C mục tiêu và kiểm soát tích cực các yếu tố nguy cơkhác cũng không đủ để giải quyết nguy cơ mạch máu còn tồn tại liên quanđến mức HDL-C thấp và mức triglycerid cao Tỉ lệ nhồi máu cơ tim ở nhữngngười có cholesterol máu bình thường là 25% trong khi đó nguy cơ nhồi máu
cơ tim ở những người có HDL-C thấp là 50%
Trang 7Trong các nghiên cứu như nghiên cứu PROCAM [2], nghiên cứuUKPDS [3] cho thấy HDL-C thấp là yếu tố góp phần vào nguy cơ còn tồn dư
bị bệnh mạch máu lớn HDL-C thấp là yếu tố tiên đoán độc lập nguy cơ bệnhmạch vành với tất cả các mức LDL-C
Cùng với HDL-C, triglyceride là yếu tố quan trọng góp phần vào nguy
cơ tồn dư bệnh mạch máu lớn Theo nghiên cứu PROVE-IT TIMI- 22, ngay
cả khi điều trị đạt mức LDL-C < 70 mg/dl thì những bệnh nhân có TG 200mg/dl vẫn có nguy cơ tử vong, nhồi máu cơ tim hay hội chứng vành cấp tăng56% so với nhóm có TG < 200 mg/dl [4] Các nghiên cứu này đều chỉ ra rằngtăng triglyceride và giảm HDL-C là yếu tố nguy cơ tim mạch tồn dư và là yếu tốtiên đoán độc lập nguy cơ bệnh tim mạch Trên thế giới đã đã có nhiều côngtrình nghiên cứu về yếu tố nguy cơ tim mạch tồn dư Ở Việt Nam chưa cónghiên cứu nào về yếu tố nguy cơ tim mạch tồn dư được tiến hành ở cộng đồng
Xuất phát từ thực tiễn này chúng tôi tiến hành đề tài: “Nghiên cứu yếu
tố nguy cơ tim mạch tồn dư trong quần thể dân cư trong quần thể dân cư
Quận Đống Đa – Hà Nội’’ với 2 mục tiêu cụ thể là:
1 Khảo sát yếu tố nguy cơ tim mạch tồn dư (triglyceride, HDL-C)trong
quần thể dân cư Quận Đống Đa – Hà Nội.
2 Tìm hiểu mối liên quan giữa yếu tố nguy cơ tim mạch tồn dư với một số
yếu tố nguy cơ tim mạch khác (tăng huyết áp, đái tháo đường, béo phì).
Trang 8Chương 1 TỔNG QUAN
1.1 Các yếu tố nguy cơ tim mạch chung
Yếu tố nguy cơ của bệnh tim mạch là yếu tố liên quan với sự gia tăng
khả năng mắc bệnh tim mạch Sự liên quan này dường như luôn mang tính
chất thống kê Một người mang một yếu tố nguy cơ nào đó chỉ có nghĩa là
có sự gia tăng khả năng mắc bệnh của anh ta chứ không phải là anh ta chắcchắn sẽ mắc bệnh Ngược lại, một người khác không mang bất kì yếu tốnguy cơ nào cũng không thể chắc chắn mình sẽ không mắc bệnh Bởi trongthực tế, nhiều người bị đột quỵ nhưng không hề mang yếu tố nguy cơ [1]
Các yếu tố nguy cơ bệnh tim mạch
Yếu tố nguy cơ không thể thay đổi được
- Giảm dung nạp đường
- Đái tháo đường
- C-Reactive Protein (CRP)
- Dày thất trái
- Yếu tố tâm lý xã hội
- Mức độ tiêu thụ rau, hoa quả hàng ngày
Trang 9- Mức độ tiêu thụ rượu hàng ngày
- Uống rượu vừa phải
1.1.1.Các yếu tố nguy cơ có thể thay đổi được.
1.1.1.1.Tăng huyết áp.
Tăng huyết áp (THA) là yếu tố nguy cơ tim mạch thường gặp nhất vàcũng là yếu tố nguy cơ được nghiên cứu đầy đủ nhất Hơn 60 triệu người dânnước Mỹ bị tăng huyết áp Tại Việt Nam hiện nay ước tính có trên 20% sốngười lớn bị THA
Ước tính hiện nay hơn 1 tỉ người trên thế giới bị tăng huyết áp và con số
này đang tăng lên Tăng huyết áp được mệnh danh là “Kẻ giết người thầm
lặng’’
Tăng huyết áp là yếu tố nguy cơ chính và là nguyên nhân hàng đầu gây
tử vong của bệnh tim thiếu máu cục bộ và đột quỵ, là nguyên nhân thứ 2 gây
tử vong tại nước ta
Tăng huyết áp là yếu tố nguy cơ đã được chứng minh rõ ràng của cácbiến cố tim mạch như bệnh ĐMV, tử vong do bệnh ĐMV, đột quỵ, suy tim ứhuyết, đột tử Trong nghiên INTERHEART, THA đóng góp tới 18 % nguy cơquy thuộc quần thể của NMCT (lần đầu tiên).Số đo huyết áp tâm thu cũngnhư tâm trương đều là những yếu tố dự báo mạnh các biến cố mạch vành, đặcbiệt ở người cao tuổi THA tâm thu đơn độc giờ đây đã được chứng minh nhưmột tác nhân có hại đối với đột quỵ và bệnh ĐMV
Theo định nghĩa của Tổ chức Y tế Thế giới, một người lớn được gọi làTHA khi HA tối đa ≥140 mmHg và /hoặc HA tối thiểu ≥ 90 mmHg [5], [6]
Trang 10Các nghiên cứu dịch tễ học cho thấy có mối liên quan chặt chẽgiữa tăng huyết áp và rối loạn lipid máu.
Tăng huyết áp làm tăng áp lực lòng mạch, các tế bào nội mạc bị kíchthích cấu trúc tế bào bị nới lỏng gây giảm chức năng che trở của tế bào nội mạc,tăng tính thấm thành mạch làm cho các thành phần huyết tương như mảng LDLxuyên qua khoảng dưới nội mạc, vì vậy làm tăng cholestero l lắng đọng dưới nộimạc Tổn thương dưới nội mạc làm tăng kết dính tiểu cầu, đây cũng là khởiđiểm cho sự hình thành mảng xơ vữa ở cấp độ tế bào [7]
Bảng 1.1 Phân loạn huyết áp (HA) theo J.N.C VI [5 ]
(mmHg)
Tăng HA giai đoạn I 140 - 159 Và/Hoặc 90 - 99
Tăng HA giai đoạn II 160 - 179 Và/Hoặc 100 - 109
Mối tương quan thuận trực tiếp giữa huyết áp và nguy cơ mắc bệnh timmạch đều được quan sát thấy ở cả nam và nữ đủ mọi lứa tuổi, chủng tộc, cácnhóm dân cư và quốc gia bên cạnh các yếu tố nguy cơ khác của bệnh tim mạch.Các nghiên cứu quan sát cho thấy, tử vong do bệnh tim mạch gia tăng và tươngquan tuyến tính khi huyết áp tăng trên 115 mmHg đối với huyết áp tâm thu và 75mmHg đối với huyết áp tâm trương Với mỗi mức huyết áp tâm thu tăng thêm 20mmHg hoặc 10mmHg đối với huyết áp tâm trương tỷ lệ tử vong do thiếu máu cục
bộ cơ tim và đột quỵ tăng lên gấp đôi ở tất cả các nhóm
Khi tăng huyết áp tâm thu (con số cao hơn, là áp suất máu khi tim cobóp) và huyết áp tâm trương (con số thấp hơn, là áp suất máu khi tim giãn ra)đều là những yếu tố nguy cơ Tuy nhiên, huyết áp tâm thu được xem là yếu tố dựbáo quan trọng hơn nguy cơ về các tai biến do tăng huyết áp gây ra
Trang 11Tăng huyết áp lại thường kết hợp với các yếu tố nguy cơ khác, đặc biệt
là béo phì, tăng hàm lượng cholesterol, triglycerid trong máu và đái tháo
đường Trong các rối loạn này, một rối loạn có thể là nguy cơ của rối loạnkhác và ngược lại
Tình hình quản lý tăng huyết áp trên thế giới và Việt Nam
- Trên thế giới:
Ở Mỹ, mặc dù đã có một chương trình quốc gia từ những năm 70 củathế kỷ 20 nhưng tỷ lệ kiểm soát được HA mục tiêu (< 140/90 mmHg) cũngchỉ đạt 29% ở Canada tỷ lệ này là 17%, các nước châu Âu đạt khoảng 10%.Còn các nước ở châu á tỷ lệ kiểm soát được HA về HA mục tiêu còn kháthấp: như ấn Độ tỷ lệ này là 9%, Trung Quốc 8%, Nepan 6% và Bangladesh
là 11% [8]
Ở Canada năm 1986 - 1992 nghiên cứu 2551 người từ 20 - 79 tuổi thấy
tỷ lệ THA là 21,3% trong đó có 65,7% được điều trị, 14,7% được điều trịkhông liên tục, 19,5% không được điều trị (trong số này có 13,7% không haybiết bị THA) [9]
Một nghiên cứu ở Mỹ năm 1999 - 2000 trên 1565 người, tỷ lệ THA là28,7%, có 68,9% nhận biết được bệnh, 58,4% được điều trị thuốc, trong đó
có 31,0% HA được khống chế < 140/90 mmHg Nghiên cứu cho thấy trên 40triệu người Mỹ bị THA không được điều trị [10]
Ở Trung Quốc phân tích từ 13 nghiên cứu năm 1998 trên 13500 ngườituổi từ 35 - 59: kết quả cho thấy 24% THA trong đó 42% nhận biết tình trạngbệnh, 31,1% được điều trị, 6% được khống chế về HA [11]
- Tại Việt Nam:
Năm 1992 Trần Đỗ Trinh khảo sát trên 1716 người bị THA thì 67,5%không biết bệnh, 15% biết bệnh nhưng không điều trị, 13,5% điều trị nhưngthất thường và không đúng cách, chỉ có 4% là điều trị đúng [12]
Trang 12Năm 2001, Nguyễn Minh Tâm, Nguyễn Thị Trúc khảo sát 1582 người
từ 18 tuổi trở lên tại Tiền Giang: 16,1% chưa từng được đo HA, 58,7% có đo
HA nhưng không nhớ con số HA của mình, 10,3% biết số đo HA nhưngkhông kiểm tra thường xuyên, và chỉ có 14,3% có ý thức kiểm tra HA định kỳ
Năm 2002, Phạm Gia Khải và cộng sự điều tra 5012 người từ 25 tuổitrở lên ở 4 tỉnh miền Bắc Việt Nam kết quả là 23% biết đúng các nguy cơcủa bệnh THA Trong 818 người được phát hiện có THA, chỉ có 94 người làdùng thuốc và tỷ lệ HA được khống chế tốt là 19,1% [13]
1.1.1.2 Đái tháo đường và kháng Insulin
Đái tháo đường là bệnh rối loạn chuyển hóa Glucid, trong đó nhữngngười mang bệnh này có lượng đường cao trong máu và vượt quá ngưỡnggiới hạn lọc của cầu thận dẫn đến tình trạng glucose hay đường trong nướctiểu Đái tháo đường do tình trạng thiếu hụt insullin tiết ra từ tụy và/hoặc tìnhtrạng đáp ứng kém của các tế bào với insullin
Bệnh tiểu đường rất phổ biến nhưng nhiều người vẫn chưa biết vậy cơchế gây nên tình trạng tăng đường huyết trong máu của bệnh tiểu đường.nhóm bệnh rối loạn chuyển hóa là các bệnh liên quan đến vấn đề sử dụng thựcphẩm, tiêu hóa và biến chúng thành năng lượng Khi chúng ta ăn các thựcphẩm glucid chúng sẽ được phân tách thành các glucose ở hệ thống tiêu hóa
và hấp thu vào cơ thể mà trực tiếp là vào hệ thống tuần hoàn thông qua gan.Glucose là nguyên liệu chính để tạo ra năng lượng cho các tế bào hoạt động.Tuy nhiên muốn sử dụng được glucose thì các tế bào phải “lấy” glucose trongmáu, mà việc này phải thông qua insulin là hoocmon được hiểu như là ngườilái đò đưa glucose vượt qua “con sông – bức tường” màng tế bào để tiến nhậpvào tế bào tham gia vào các phản ứng nội bào tạo nên năng lượng cho tế bàohoạt động ở mức vi mô mà ở mức vĩ mô là năng lượng để con người thực hiệncác hoạt động thường ngày Vì một lý do nào đó mà lượng insulin được tạo rakhông đủ để đưa các glucose vào tế bào hay do tế bào đáp ứng không tương
Trang 13xứng với insulin Do vậy, mặc dù trong máu lượng glucose rất cao nhưng các
tế bào thì ở trong tình trạng “đói” glucose cho các hoạt động của mình
Bệnh tiểu đường gây tổn thương mạch máu nhỏ và tổn thương mạchmáu lớn qua xơ vữa, vì vậy tác hại đến rất nhiều cơ quan như thận, mắt, mạchmáu của não, mạch máu chi đặc biệt là bệnh tim mạch
Những người bị bệnh tiểu đường có nguy cơ mắc bệnh tim mạch gấp 2đến những tám lần người không bị tiểu đường ¾ những người tiểu đường tửvong vì bệnh mạch vành
Bệnh ĐTĐ , rối loạn mỡ máu hay xẩy ra cùng với bệnh THA Người
ta thấy khoảng 30 -50% bệnh nhân ĐTĐ bị THA, những bệnh nhân nàythường béo Ngược lại, xét nghiệm đường trong máu thấy tăng cao ở 1/3 sốbệnh nhân THA [14]
Năm 1976 Berghen và cộng sự cũng nhận thấy sự gia tăng insulin khiđói và sau khi uống 100 g glucose ở bệnh nhân THA chưa điều trị Năm
1987, Ferranini và cộng sự lần đầu tiên đã chứng minh ở người trẻ bị THAchưa được điều trị với trọng lượng và sự dung nạp glucose bình thường có
sự kháng insulin ở mô ngoại biên và liên quan đến mức độ THA Năm 1988Shen và cộng sự so sánh sự đáp ứng glucose, insulin ở người HA bình thườngvới người bệnh THA chưa điều trị và THA được điều trị Kết quả cho thấy
ở các bệnh nhân THA này có tình trạng kháng insulin [15]
Người ta đã dễ dàng nhận thấy một tỷ lệ đáng kể các bệnh nhân THA cókháng insulin và tăng insulin máu, nhưng cũng chưa chắc đây là quan hệ nhânquả Sự kháng insulin hay gặp ở những bệnh nhân ĐTĐ typ 2 hoặc béo phì
Grandi A.M., Zanzi P., Fachinetti A đã nghiên cứu sự liên hệ giữanhậy cảm insulin, bề dầy thất trái và chức năng tim mạch ở những người gầy
có THA không được điều trị và những người béo bị THA năm 1999 tại ý.Chọn 50 người gầy THA có họ hàng không THA (yếu tố gia đình âm tính), 64người gầy THA có một hoặc hai người họ hàng bị THA (yếu tố gia đình
Trang 14dương tính), 40 người béo bị THA có yếu tố gia đình âm tính, và 43 ngườibéo có yếu tố gia đình dương tính Bốn nhóm được so sánh theo tuổi, giới,
HA 24 giờ và thời khoảng THA Định lượng đường máu, insulin, C - peptidekhi đói và trong test dung nạp glucose Hình thể thất trái và chức năng của nóđược đánh giá bằng điện tâm đồ và siêu âm tim
Đường máu khi đói và lúc làm nghiệm pháp đều ở mức bình thường vàtương tự trong bốn nhóm Mức insulin và C - peptide khi đói và lúc làmnghiệm pháp cao hơn ở những người béo có THA hơn là người gầy có THA.Tương tự, chỉ số khối lượng cơ thể, mức insulin và C - peptide cũng cao hơn
ở nhóm có yếu tố gia đình dương tính So với nhóm gầy - THA thì nhóm béo
- THA có chỉ số dầy thất trái lớn hơn Chức năng tâm thu đều bình thường ởcác nhóm Chỉ số tâm trương thất trái thấp hơn đáng kể ở nhóm có yếu tố giađình dương tính [16]
Nghiên cứu ARIC (Atheroslerosis Risk In Communities) trên 12550người lớn tuổi 45 - 64 ở Hoa Kỳ cho thấy THA là một yếu tố nguy cơ củaĐTĐ mới mắc Trong nghiên cứu này người THA có tần suất ĐTĐ mới mắccao gấp 2,43 lần so với người không THA [17]
Kaplan cho rằng: insulin có vai trò quan trọng trong cơ chế bệnh sinhcủa THA [18]
Một số các nghiên cứu ở Việt Nam cũng cho thấy bệnh ĐTĐ có tỷ lệcao hơn ở những người THA Huỳnh Văn Minh nghiên cứu 181 người tạiHuế Phạm Tử Dương điều tra 219 bệnh nhân THA trên 4693 người tại HàNội trong 5 năm (1994 - 1998) thì có 5 trường hợp ĐTĐ (2,3%) [19]
Trương Thanh Hương nghiên cứu 38 bệnh nhân THA điều trị ngoại trútại Viện Tim mạch từ tháng 6 - 1995 đến 3 - 1996 thấy mức đường máu lúcđói lớn hơn 7,77 mmol/l (1/38 ca) [20]
Trang 15Năm 1998, Nguyễn Thị Dung nghiên cứu 1160 bệnh nhân THA tại Bệnhviện Việt Tiệp, đường máu lúc đói đã được làm ở 79,3% ca thấy 14,5% số bệnhnhân này bị ĐTĐ (glucose máu tĩnh mạch lúc đói > 7,8 mmol/l) [21].
Phạm Gia Khải nghiên cứu 571 người THA tại Hà Nội trong 2 năm(1998- 1999) thì có 17 ca ĐTĐ chiếm 2,97%
1.1.1.3 Thừa cân / béo phì.
Thừa cân/ béo phì ở các mức độ khác nhau đều làm tăng nguy cơ mắcbệnh tim mạch Béo phì có thể tác động tới sự hình thành các yếu tố nguy cơkhác Béo phì càng nhiều thì khả năng xuất hiện các yếu tố tiền đề cho xơ vữađộng mạch như tăng huyết áp, đái tháo đường cũng như nguy cơ mắc bệnhtim mạch càng cao
Thừa cân và béo phì là tình trạng dư thừa mỡ trong cơ thể Cácchỉ số thường được sử dụng để đánh giá tình trạng thừa cân và béo phì làchỉ số khối cơ thể (BMI), vòng eo (VE) và tỷ số vòng eo/vòng hông Chỉ số BMIđánh giá khối lượng mỡ chung trong cơ thể, còn hai chỉ số sau đánh giá tình trạngbéo trung tâm hay còn gọi là béo tạng, béo vùng bụng, béo dạng nam với đặctrưng tích lũy mỡ chủ yếu ở các tạng vùng bụng
* Chỉ số khối lượng cơ thể (BMI):
Năm 1986, nhóm chuyên viên về nhu cầu năng lượng của Liên HợpQuốc đã đề nghị sử dụng BMI để đánh giá tình trạng dinh dưỡng ở ngườitrưởng thành Năm 1998, James W.P.T., Ferro - Luzzi A., và Waterlow J.C
đã đưa ra chỉ số BMI bình thường là từ 18,5 - 24,9 (kg/m2) Các mức độ béocũng được chia thành 3 mức:
- Béo độ 1: BMI từ 25 - 29,9 (kg/m2),
- Béo độ 2: BMI từ 30 - 39,9 (kg/m2),
- Béo độ 3: BMI từ 40 (kg/m2) trở lên [22]
Trang 16Nghiên cứu về dịch tễ THA của quần thể người trưởng thành ở thànhphố Maracaibo - Venezuela thấy rằng người có BMI ≥ 25 kg/m2 có tỷ lệ mắcTHA gấp 2 lần người có BMI < 25 kg/m2 (47,6% so với 24,2%) [23], [24].
Phạm Gia Khải và cộng sự điều tra 7610 người tại Hà Nội từ tháng 4năm 1998 đến 4 năm 1999 thấy chỉ số BMI trung bình của quần thể nghiêncứu là 20,09 ± 2,72 kg/m2 Nhóm BMI từ 22 kg/m2 trở lên đã có nguy cơTHA [25]
* Tỷ lệ vòng bụng/vòng mông (Waist/Hip Ratio: WHR):
Béo bệu còn được lượng giá bằng tỷ lệ vòng bụng/vòng mông Béobệu gây THA và làm tăng nguy cơ bệnh mạch vành là một trong những cơchế đã được thừa nhận
Steyn N.P và cộng sự, năm 1994, ở Nam Phi đã tiến hành nghiên cứutrên 431 sinh viên (có 231 nữ) về ảnh hưởng của các yếu tố trọng lượng,chiều cao, vòng mông và vòng bụng tới THA, rối loạn lipid và đái tháođường Chỉ số khối lượng cơ thể (BMI), tỷ lệ vòng bụng/vòng mông (WHR)
và chu vi vòng bụng (WC) đều được tính toán cho mỗi cá thể Mỗi người đềuđược đo cả HATT và HATTr Các câu hỏi điều tra để xác định các yếu tốnguy cơ liên quan tới thói quen sinh hoạt Kết quả cho thấy: 18% sinh viên bịtăng cân (BMI 25 - 29,9), 6,5% béo phì (BMI ? 30) và 26,8% giảm cân
HA, BMI, WHR và WC đều tăng đáng kể cùng với tuổi Nghiên cứu chothấy BMI, WC và WHR có mối tương quan với HA và tuổi [26]
Gus, Moreira và cộng sự (Brazil - 1998) nghiên cứu sự liên quan giữaBMI, WHR và chu vi vòng bụng với tỷ lệ THA trong một mẫu đại diện 1088người trưởng thành ở Porto Alegre - Brazil Tiêu chuẩn được gọi là béo bệukhi: hoặc BMI ≥ 27 kg/m2 (cho cả 2 giới), hoặc WHR ≥ 0,95 (với nam) và ≥0,80 (với nữ), hoặc WC ≥ 96 cm (với nam) và ≥ 92 cm (với nữ) Kết quả
Trang 17nghiên cứu trên cho thấy: béo bệu tính theo BMI có sự liên quan với THA ở
cả hai giới (RR 1,9; CI 1,0 - 3,2 ở nam RR 2,2; CI 1,3 - 3,8 ở nữ) [27]
Béo phì là một yếu tố nguy cơ và là một khâu quan trọng trong
cơ chế bệnh sinh của THA nguyên phát Nghiên cứu của Huang và cộng sự(1998) [28], [29] cho thấy tầm quan trọng của việc tránh tăng cân ở 82473người có HA bình thường tuổi từ 30 đến 55 Kết quả nghiên cứu chỉ rarằng ở những người tăng 5 - 10 kg từ lúc 18 tuổi đến khi 34 tuổi (trong 16năm) có nguy cơ xuất hiện THA cao gấp đôi so với những người ít tăng cântrong thời gian này Nguy cơ này sẽ lớn hơn ở phụ nữ có tuổi do khối lượng
cơ ít hơn, khối lượng mỡ nhiều hơn khi họ còn trẻ
Ở nước ta, trong một nghiên cứu của Phạm Gia Khải và cộng sự, WHR
từ 0,80 trở lên là nguy cơ liên quan chặt chẽ với THA Điều này có nghĩa là:vòng bụng càng to thì THA càng cao [25]
Để tính cân nặng lí tưởng người ta dựa trên chiều cao và cân nặng đểtính ra chỉ số khối lượng cơ thể hay còn gọi là BMI (body mass index) Chỉ sốnày được tính bằng cách lấy cân nặng tính bằng kg chia cho bình phươngchiều cao tính theo mét
Về mặt cơ chế, rối loạn lipid máu trong béo trung tâm liên quan đếntăng nồng độ các acid béo tự do trong máu làm kích thích gan tăng sản xuất
và bài tiết VLDL dẫn đến tăng TG máu Tăng VLDL trong máu làm tăngchuyển TG từ VLDL cho LDL, HDL và ngược lại làm tăng chuyểncholesteryl ester từ LDL và HDL cho VLDL, như thế LDL và HDL trở lêngiàu TG và chứa ít cholesteryl ester Tăng acid béo tự do và VLDL trong máulại làm tăng hoạt tính của lipase gan, enzym này thuỷ phân TG của LDL vàHDL Kết quả là hình thành LDL hạt nhỏ và đặc có tính gây xơ vữa độngmạch cao và HDL3 hạt nhỏ có khả năng chống xơ vữa động mạch kém (giảmHDL2 có khả năng chống xơ vữa động mạch) [30], [31]
Trang 18Các nghiên cứu dịch tễ học cho thấy thừa cân và béo phì có liênquan đến tăng TG, TC, LDL-C, TC/HDL-C và giảm HDL-C Mức độliên quan giữa thừa cân và béo phì với rối loạn lipid máu có sự khác nhaukhi dùng các chỉ số khác nhau (BMI, hay VE) để đánh giá thừa cân và béophì, có sự khác nhau với các chỉ số lipid máu khác nhau và có sự khácnhau giữa các nhóm chủng tộc và giới [32] Mối liên quan hằng định nhấtgiữa lipid máu và thừa cân, béo phì là giữa béo trung tâm với HDL-C và
TG, phù hợp với cơ chế nêu trên Điều tra dinh dưỡng và sức khoẻ quốcgia Hoa kỳ III 1988 - 1994 (National Health and Nutrition ExaminationSurvey) [33] cho thấy tăng BMI có liên quan đến giảm HDL-C ở tất cảcác nhóm tuổi và chủng tộc nhưng không có liên quan với tăng TC ở phụ
nữ Mỹ gốc Mehico và tương quan yếu với tăng TC ở phụ nữ da đennguồn gốc không phải Tây ban nha hoặc nam giới da trắng không phảigốc Tây ban nha Một nghiên cứu khác ở Mỹ [34],[35],[36] cho thấy ở
nữ BMI chỉ có tương quan với HDL-C còn vòng eo thì có tương quan với
cả HDL-C và TG còn tương quan giữa BMI và vòng eo với LDL-C chỉ thấy ởnam giới và nữ giới trẻ mà không thấy ở đối tượng cao tuổi hơn Ở người Hànquốc rối loạn lipid máu có liên quan với VE ở 2 giới và với BMI ở nữ giới mạnhhơn [37] Ngược lại ở thổ dân da đỏ châu Mỹ thì tỷ số E/H có tương quan với rối
loạn lipid máu mạnh hơn VE.
1.1.1.4 Lười vận động (lối sống tĩnh tại)
Lối sống tĩnh tại được coi là một nguy cơ của các nguy cơ tim mạch Việcvận động hàng ngày đều đặn ít nhất 30 phút mang lại lợi ích rõ rệt trong giảmnguy cơ bệnh tim mạch Người ta đã chứng minh việc tập luyện thể lực thườngxuyên làm giảm nguy cơ xuất hiện NMCT Tập luyện dường như cũng có tácđộng tích cực tới những yếu tố nguy cơ khác Người ta cho rằng lợi ích của tạpluyện là ở việc giảm cân nặng, tăng khả năng dung nạp đường, tăng sức mạnh cơtim, tăng nồng độ HDL-C, giảm căng thẳng, hạ huyết áp…
Trang 19Các hình thức luyện tập được khuyến cáo là tập đều đặn (hầu hết cácngày) mỗi ngày ít nhất 30 phút, tập đủ mạnh (ấm người, thở hơi nhanh, ra mồhôi vừa).
1.1.1.5 Hút thuốc lá.
Hút thuốc lá (kể cả thuốc lào) là một yếu tố nguy cơ, đã rõ làm tăng nguy
cơ mắc bệnh động mạch vành, đột quỵ, bệnh mạch máu ngoại vi cho dù nhữngngười hút thuốc thường gầy và có huyết áp thấp hơn những người không hútthuốc Bên cạnh đó, hút thuốc lá còn gây ung thư phổi và các bệnh lí khác
Hút thuốc lá: 30 - 40% trong số khoảng 500.000 trường hợp chết vìbệnh mạch vành hằng năm có nguyên nhân từ thuốc lá Các kết quả từ nghiêncứu Framingham đã chứng minh rằng, nguy cơ đột tử cao hơn 10 lần ở nam
và 5 lần ở nữ giới có hút thuốc Thuốc lá là yếu tố nguy cơ số 1 đối với đột tử
và bệnh mạch ngoại vi
Khi hút thuốc lá dù ít hay nhiều cũng làm tăng tỉ lệ bệnh mạch vành.Nếu hút mỗi ngày 20 điếu thuốc lá hoặc hơn thì sẽ tăng 2-3 lần bệnh mạchvành so với người không hút
Cơ chế gây ra bệnh mạch vành của thuốc lá rất phức tạp : nó làm tổnthương thành mạch, co mạch vành, đông máu, gây viêm…Do nicotin và cácchất khác trong thuốc lá: carbon monoxide gây nên
Nicotin trong thuốc lá có tác dụng chủ yếu làm co mạch ngoại biên,làm tăng nồng độ serotonin, catecholamin ở não, tuyến thàng thận Thựcnghiệm của Maslova năm 1958 trên súc vật thấy nicotin trong thuốc lá gây THA.Trên công nhân viên như máy thuốc lá, nơi chịu đựng bụi và khói thuốc lá nhiềuthấy tỷ lệ bệnh THA cao hơn rõ rệt Tuy nhiên tác giả còn chưa thống nhất hútthuốc lá gây THA như thế nào, nhưng tất cả đều cho là ở người đã THA thì hútthuốc lá chỉ có hại, con số HA tăng lên rõ rệt [38]
Trang 20Hút thuốc lá, mặc dầu không phải là một nguyên nhân THA, rối loạnlipid nhưng là một yếu tố đe dọa quan trọng của bệnh, vì nguy cơ mắc bệnhmạch vành ở người rối loạn chuyển hóa lipip có hút thuốc lá cao hơn 50 -60% so với những người không hút thuốc lá.
Nghiên cứu của Gordon H Williams cho thấy những yếu tố nguy cơcủa vữa xơ động mạch như tăng cholesterol trong máu, giảm dung nạpglucose, và/hoặc hút thuốc lá đã làm tăng đáng kể tỷ lệ tử vong ở người cóTHA bất kể ở giới, tuổi, hay chủng tộc nào
Olatunbosun S.T., Kaufman J.S., Cooper R.S nghiên cứu các số liệu về sinh
xã hội học gồm tiền sử hút thuốc lá, uống rượu và mức độ hoạt động thể lực hàngngày ở nhóm người dân thành thị ở châu Phi Kết quả không thấy có sự liên quangiữa THA với hút thuốc lá, uống rượu và tập luyện thường xuyên [39]
Nghiên cứu của Trần Đỗ Trinh về dịch tễ học bệnh THA ở Việt Nam(1989 - 1992), cho thấy: ở nhóm người có THA, tỷ lệ hút nhiều (trên 8 điếu/ngày) cao hơn ở những người bình thường (p < 0,05), nhưng nếu hút dưới
số lượng đó thì không khác nhau [40]
Năm 1998 - 1999, Phạm Gia Khải và cộng sự tại Hà Nội đã tiến hànhnghiên cứu trên các đối tượng nghiện hút thuốc lá, có 1450 người chiếm tỷ lệ19,03% (nam: 1399 người chiếm 96,48%; nữ 51 người chiếm 3,51%) Số điếuhút trung bình là 22,14 ± 4,7 điếu/ngày tức khoảng 1 bao/ngày/người; ngườihút nhiều nhất là 50 điếu/ngày Tỷ lệ THA chung cho những người nghiệnthuốc lá là 15,86% so với người không hút thuốc là 16,12% sự khác biệt nàykhông có ý nghĩa thống kê (p > 0,05) [25]
1.1.1.6 Uống rượu
Đã có một số nghiên cứu được báo cáo về sự liên quan của uống nhiềurượu và THA, nhưng cơ chế của liên quan này vẫn còn chưa rõ ràng [41] Cónhững ý kiến chưa thống nhất nhưng đa số thừa nhận rượu làm THA
Trang 21- Các thực nghiệm cho thấy rằng với khối lượng lớn, ethanol có tácdụng co mạch trực tiếp rõ rệt Giảm tiêu thụ rượu xuống tới dưới 3 lần uốngtrong ngày (30 ml rượu cất) làm giảm HA ở bệnh nhân có điều trị [42], [43].
- Marques V.P., Areiler D., Evans A điều tra 5363 đàn ông ở Pháp và 1367đàn ông ở Bắc Ailen tuổi từ 50 - 59 Kết quả: ở Pháp uống nhiều rượu nhẹ, trái lạiuống bia và rượu mạnh ở Bắc Ailen lại cao hơn ở Pháp dùng đồ uống có cồn trong
cả tuần, nhưng ở Bắc Ailen uống dồn vào thứ sáu thứ bảy chiếm tới
Mối liên quan giữa uống rượu và tỷ lệ tử vong toàn phần có đườngcong hình chữ U Đối với các bệnh tim mạch, tỷ lệ tử vong lớn hơn ở nhữngngười không uống rượu Còn đối với đột qụy thì ngược lại bởi vì tác dụngxấu của rượu đối với THA Rượu làm THA và do đó là nguy cơ tai biến mạchmáu não [44]
Điều tra dịch tễ học bệnh THA ở Việt Nam năm 1989 - 1992, Trần ĐỗTrinh thấy ở người THA tỷ lệ uống rượu cao hơn những người bình thường(p < 0,01) [41] Nghiên cứu của Phạm Gia Khải về dịch tễ học THA tại HàNội năm 1999 thấy uống rượu có mối liên quan chặt chẽ với THA ở cả haigiới (RR = 1,9, CI 95% và 1,66 - 2,17) [25]
1.1.1.7.Tình trạng tiền viêm.
Biểu hiện bằng tăng protein C phản ứng (C- reactive protein- CRP),xuất hiện phổ biến ở những đối tượng có HCCH, một trong những cơ chế củahiện tượng này là béo phì, các mô mỡ dư thừa sẽ giải phóng các cytokineviêm làm tăng nồng độ CRP
Những nghiên cứu gần đây đã chỉ ra rằng viêm tham gia một vai trò rấtquan trọng trong bệnh mạch vành cũng như xơ vữa động mạch Người ta thấyrằng CRP và Interleukin-6 (IL-6) tăng ở những bệnh nhân đau thắt ngựckhông ổn định và nhồi máu cơ tim, nồng độ càng cao thì tiên lượng càng tồi.Các yếu tố viêm khác cũng tăng cao ở những bệnh nhân này: fibrinogen, IL-7,
Trang 22IL-8, chất gắn CD-40 hoà tan Nồng độ CRP cao trong đau thắt ngực không ổnđịnh gặp trong bệnh mạch vành do mảng xơ vữa chứ không phải trong co thắtmạch, điều này gợi ý CRP tham gia vào quá trình viêm tại chỗ trong lòng độngmạch vành và các mô khác (mô mỡ), hình thành các mảng xơ vữa [45], [46].
1.1.2.Các yếu tố nguy cơ tim mạch không thể thay đổi được.
1.1.2.1.Tuổi.
Khoảng 82% người tử vong vì bệnh mạch vành tim là từ 65 trở lên Nam
> 45 tuổi, nữ > 55 tuổi được coi là nguy cơ mắc tim mạch
1.1.2.2 Giới tính (nam):
Nam giới có nguy cơ bị bệnh ĐMV cao hơn phụ nữ và bị sớm hơn.Ngay cả sau giai đoạn mãn kinh, khi tỉ lệ tử vong phụ nữ do bệnh tim tăng lênthì cũng không bằng nam giới
1.1.2.3.Yếu tố di truyền (kể cả chủng tộc):
Trẻ có cha mẹ bệnh tim thì dễ bị mắc bệnh này Người Mỹ gốc Phi bịcao huyết áp nặng hơn người gốc châu Âu và có nguy cơ mắc bệnh tim lớnhơn Nguy cơ mắc bệnh tim cũng cao hơn trong số các sắc dân người Mỹ gốcMexico, người Mỹ gốc Da đỏ, người Hawai bản địa và một số sắc dân Mỹgốc Á Điều này có liên quan một phần do tần suất béo phì và tiểu đường caohơn Phần lớn người có tiền sử gia đình rõ rệt là có người bị bệnh tim có mộthoặc nhiều yếu tố nguy cơ khác nữa Do đó, điều trị và kiểm soát bất cứ yếu
tố nguy cơ nào bạn có dường như là điều quan trọng hơn cả
1.2.Các yếu tố nguy cơ tim mạch tồn dư.
1.2.1 Nguy cơ tim mạch tồn dư:
Nguy cơ tim mạch tồn dư là nguy cơ còn tồn dư bị các biến cố mạchmáu lớn và các biến chứng mạch máu nhỏ vẫn còn ở bệnh nhân đã được điềutrị tốt nhất theo chuẩn hiện tại bao gồm đạt mục tiêu về mức lipoprotein tỷtrọng thấp (LDL-C) và kiểm soát huyết áp và đường huyết tích cực
Trang 23Nguy cơ tồn dư ở mạch mỏu nhỏ và mạch mỏu lớn: Cỏc biến cố mới mắccủa bệnh động mạch vành, mạch mỏu nóo hoặc động mạch ngoại biờn gia tăng
do cỏc yếu tố nguy cơ tim mạch tồn dư cú thể ảnh hưởng lờn mạch mỏu lớn
1.2.2 Rối loạn chuyển húa lipid.
Rối loạn lipid máu là một trong những yếu tố nguy cơ chính của bệnh timmạch do vữa xơ động mạch Đó là sự biến đổi nồng độ các thành phần lipid máunh: tăng cholesterol toàn phần (TC), tăng triglycerid (TG), tăng lipoprotein tỷtrọng thấp (LDL-c) và giảm lipoprotein tỷ trọng cao (HDL-c) [47,48]
Bệnh vữa xơ động mạch cùng với bệnh tăng huyết áp là nguyên nhânmắc bệnh và tử vong quan trọng bậc nhất ở các nớc phát triển; cũng đang có
xu hớng tăng lên ở các nớc đang phát triển Theo Tổ chức y tế thế giới(WHO), ở các nớc phát triển tỷ lệ tử vong nhiều nhất do bệnh tim (32%) màchủ yếu là do vữa xơ động mạch, do tai biến mạch máu não(18%), nhiều hơnhẳn so với các bệnh khác Theo tài liệu mới nhất của WHO, số ngời tử vong
do bệnh động mạch vành ở Việt Nam là 66.179 ngời mỗi năm và dự báo con
số này sẽ là 100.000 vào năm 2010 (khoảng 300 ngời tử vong do bệnh nàymỗi ngày) [49]
Vai trò của rối loạn lipid máu trong bệnh lý vữa xơ động mạch đã đợcchứng minh qua nhiều nghiên cứu dịch tễ học quan sát, thực nghiệm và cảnhững công trình nghiên cứu tiền can thiệp Rối loạn lipid làm rối loạn chứcnăng của nội mạc mạch máu, khởi đầu cho quá trình hình thành và phát triểncủa vữa xơ động mạch Hình ảnh lâm sàng vữa xơ động mạch rất đa dạng cóthể là vữa xơ động mạch vành, động mạch não, động mạch chủ, động mạchchi, động mạch thận Mảng vữa xơ động mạch thờng xuất hiện khi còn trẻ,tiến triển thầm lặng, không ngừng, không có triệu chứng lâm sàng và chỉ bộc
lộ khi động mạch bị hẹp nhiều hoặc tắc nghẽn , gây nên biến chứng ở các cơquan: suy tim, nhồi máu cơ tim, tai biến mạch não, tắc động mạch ngoại vi,suy thận ; thậm chí còn là nguyên nhân chính gây đột tử (chiếm 80-85% tr-ờng hợp đột tử) [50,51]
ở nớc ta, bệnh xơ vữa động mạch trớc đây hiếm gặp nhng đã thấy tăng
lên rõ rệt trong vài thập kỷ qua,.Theo nghiên cứu của Trơng Thanh Hơng vàTrơng Quang Bình cho thấy rối loạn lipid máu là một vấn đề rất thờng gặp ởcộng đồng và nhất là ở các đối tợng có bệnh động mạch vành (67%) [52,53]
Trang 24Trong thời gian gần đây, nhiều nghiên cứu trong nớc và thế giới đã chứngminh mối liên quan chặt chẽ giữa tỷ lệ tử vong và tần suất mắc các yếu tốnguy cơ ở bệnh nhân bệnh tim mạch; trong đó rối loạn lipid máu gây vữa xơ
động mạch là một trong những yếu tố nguy cơ hàng đầu
1.2.2.1.Khỏi niệm và phõn loại RLLP mỏu:
b.Phõn loại:
Phõn loại theo thành phần lipid và lipoprotein
- Tổ chức Y tế thế giới (WHO) đưa ra phõn loại rối loạn lipid mỏunăm 1970, là phõn loại của Fredrickson được sửa đổi, dựa trờn thành phầnlipid và lipoprotein mỏu [55], [56]:
Trang 25Bảng 1.2 Phân loại rối loạn lipid máu theo WHO/Fredrickson.
Týp
Thµnh
phÇn
C¸c týp rèi lo¹i lipip m¸u
Chó thÝch: BT: b×nh thêng; ↑: t¨ng nhÑ; ↑↑: t¨ng võa; ↑↑↑ : t¨ng nÆng Theo Turpin, 90% các trường hợp rối loạn lipid máu thuộc các typ
IIa, IIb và IV, 99% các trường hợp xơ vữa động mạch nằm trong các typIIa, IIb, III và IV
Phân loại theo De Gennes dựa trên cholesterol và triglyerid
Tăng cholesterol máu đơn thuần
Tăng triglyerid máu đơn thuần
Tăng lipid máu hỗn hợp (cả cholesterol và triglyerid)
Phân loại theo căn nguyên
RLLM nguyên phát: Có tính chất gia đình do đột biến gen hoặc
do thiếu hụt các enzym cần cho chuyển hóa bình thường củalipoprotein như lipoprotein lipase…
RLLM thứ phát: Do các bệnh: đái tháo đường, suy giáp, hội chứng thận
hư, cường cortisol, suy tuyến yên, bệnh to đầu chi, béo phì Hoặc do uốngrượu, chế độ ăn giàu lipid
Đánh giá mức độ RLLP ( NCEP-ATP III):
Trang 26-Tất cả những người ≥ 20 tuổi cần được xét nghiệm về lipid máu (TC,
TG, HDL-C, LDL-C ) mỗi 5 năm Kết quả xét nghiệm sẽ được đánh giá theobảng sau:
- Cholesterol máu:
Bình thường: < 5,2mmol/l
Tăng giới hạn: 5,2-6,2mmol/l
Tăng nhiều: > 6,2mmol/l
- Triglycerid máu:
Bình thường: < 1,7 mmol/l
Tăng giới hạn: 1,7- 2,3 mmol/l
Tăng rất nhiều: > 5,7 mmol/l
Tăng giới hạn: 3,4-4,1mmol/l
Tăng nhiều: > 4,1mmol/l
LDLcholesterol
Rối loạn chuyển hoá lipid máu là yếu tố nguy cơ tim mạch quan trọngnhất ở bệnh nhân ĐTĐ, tăng huyết áp, tai biến mạch máu não Kiểu rối loạnlipid hay kết hợp với ĐTĐ týp 2 là tăng VLDL-triglycride, giảm HDL-C, tuynhiên LDL-C thường không tăng hoặc tăng rất nhẹ Người ta thấy rằng, tỷ lệtăng nồng độ LDL-C ở bệnh nhân ĐTĐ týp 2 gần như tương tự như trongquần thể, tuy nhiên, có sự khác biệt trong kích thước phân tử LDL, ở BN
Trang 27ĐTĐ tăng các phân tử LDL nhỏ, đậm đặc so với quần thể nói chung Chínhphân tử LDL-C nhỏ đậm đặc này là yếu tố rất quan trọng đối với nguy cơbệnh tim mạch cũng như là xơ vữa động mạch [3],[57] Trong nghiên cứu củaTetsuo và cộng sự, nồng độ LDL-C nhỏ đậm đặc có mối liên quan chặt chẽvới độ dày lớp trung nội mạc động mạch cảnh ngay cả khi đã hiệu chỉnh vềtuổi, giới, THA, ĐTĐ, CRP, hút thuốc và mức lọc cầu thận Theo NCEP –ATP III: nếu giảm 1% LDL-C thì sẽ giảm 1% nguy cơ bệnh mạch vành [58].Trong nghiên cứu The Strong Heart Study, các tác giả kết luận cứ giảm 1 mg/
dl LDL-C sẽ giảm 12% nguy cơ bệnh tim mạch [59], nghiên cứu khác củaStephen N Davis cũng cho cứ thấy giảm 1 mmol/l LDL-C (18mg/dl) sẽ giảm36% nguy cơ mạch vành [3]
HDL-cholesterol
Tầm quan trọng của HDL-C trong bảo vệ tim đã được chứng minh bởicác nghiên cứu dịch tễ học về mối quan hệ nghịch giữa nồng độ HDL-C vànguy cơ bệnh mạch vành Mặc dù vai trò trực tiếp lên cơ chế xơ vữa mạchchưa được hiểu biết đầy đủ nhưng người ta thấy rằng HDL-C thấp thường kếthợp với tăng LDL-C nhỏ đậm đặc, và liên quan đến sự xuất hiện các yếu tốgây xơ vữa mạch khác HDL-C thấp là yếu tố quan trọng góp phần vào nguy
cơ còn tồn dư bị bệnh mạch máu lớn.Trong nghiên cứu PROCAM, HDL-Cthấp là yếu tố tiên đoán độc lập nguy cơ bệnh mạch vành với tất cả các mứcLDL-C [2], giảm 1% HDL-C sẽ giảm 2-3% nguy cơ bệnh mạch vành [2].Trong nghiên cứu Framingham, nguy cơ bệnh tim mạch tăng 6 lần ở phụ nữ
có HDL-C <1,2 mmol/l so với phụ nữ có HDL-C >1,7 mmol/ Trong nghiêncứu UKPDS, nguy cơ tương đối bệnh tim mạch giảm 0,15 lần với giảm mỗi0,1mmol/l HDL-C ở bệnh nhân ĐTĐ týp 2 Trong nghiên cứ TNT: tỷ lệ biến
cố tim mạch trong phân nhóm HDL-C thấp nhất tăng 61% so với phân nhóm
có HDL-C cao nhất ngay cả ở bệnh nhân có LDL-C thấp (<70mg/dl hay
Trang 281.8mmo/l) Cỏc bằng chứng về vai trũ bảo vệ của HDL cũng được củng cố bởicỏc nghiờn cứu quan sỏt khỏc [3].
Triglyceride
Ngày nay người ta đó cụng nhận vai trũ của triglyceride đối với nguy
cơ bệnh mạch vành Cựng với HDL-C, triglyceride là yếu tố quan trọng gúpphần vào nguy cơ tồn dư bệnh mạch mỏu lớn Theo nghiờn cứu PROCAMtăng triglyceride làm tăng nguy cơ bệnh động mạch vành với tất cả cỏc mứcLDL-C.Theo nghiờn cứu PROVE-IT TIMI- 22, ngay cả khi điều trị đạt mứcLDL-C < 70 mg/dl thỡ những bệnh nhõn cú TG 200 mg/dl vẫn cú nguy cơ
tử vong, nhồi mỏu cơ tim hay hội chứng vành cấp tăng 56% so với nhúm cú
TG < 200 mg/dl [4] Theo NCEP ATP III: mức triglycerid cũn cao chớnh làyếu tố gõy xơ vữa động mạch Cỏc nghiờn cứu cũng cho thấy tăng triglyceridecũng làm tăng biến cố tim mạch ở bệnh nhõn ĐTĐ týp 2 [60], sự kết hợp tăngtriglycride mỏu sau ăn, hỳt thuốc lỏ và thời gian mắc bệnh là cỏc yếu tố nguy
cơ độc lập với biến chứng mạch mỏu lớn trờn lõm sàng và cận lõm sàng ởbệnh nhõn đỏi thỏo đường týp 2 [61]
1.3 Một số nghiờn cứu về RLLP mỏu
1.3.1 Nghiờn cứu trờn thế giới [49,62,63,64]
- Năm 1970 “Nghiên cứu 7 quốc gia” cho thấy rằng ngời Nhật và các dântộc ở quanh Địa Trung Hải ăn ít mỡ bão hoà, mức cholesterol máu thấp và tỷ lệ
tử vong do bệnh động mạch vành cũng thấp Trong khi ngời Phần Lan và Hoa Kỳ
có mức cholesterol máu cao và tỷ lệ tử vong do động mạch vành cũng cao
- Năm 1986 nghiên cứu của MRFIT (Multiple Rick Factor InterventionTrial) trên 350b.000 đối tợng nam giới tuổi 35 - 54 đã chứng minh có sự liên quan
rõ rệt giữa mức cholesterol máu và tỷ lệ tử vong do bệnh động mạch vành
- Nghiên cứu quan sát trên từng cá thể của cộng đồng nh nghiên cứuFramingham ở Massachusette (Hoa Kỳ) bắt đầu từ năm 1948 và hiện nay vẫn
đang tiếp tục, khảo sát trên 10.000 ngời sau đó theo dõi, phát hiện bệnh động
Trang 29mạch vành ở những ngời này Các nhà nghiên cứu thấy rằng tỷ lệ bệnh động mạchvành rất cao ở những ngời có mức cholesterol máu cao từ đầu nghiên cứu
- Năm 1994: nghiên cứu 4S (Scandinavian Simvastatin Survival Study)trên 4.444 bệnh nhân dùng simvastatin so sánh với placebo theo dõi trong 5,4năm thấy thuốc làm giảm 25% cholesterol, 35% LDL-c, tăng 8% HDL-c,giảm 37% nhồi máu cơ tim không tử vong, 37% nhu cầu tái tạo động mạchvành, 42% tử vong do tim, 30% tử vong chung
- Nghiên cứu LCAS (the Lipoprotein and Coronary AtherosclerosisStudy, 1997) trên 429 bệnh nhân dùng fluvastatin, một số ít dùng thêmcholestyramin, có so sánh với placebo theo dõi trong 4,9 năm cho thấy thuốc làmgiảm 23,9% LDL-c, giảm 14,7% cholesterol, tăng 8,5% HDL-c, các mảng vữa xơgiảm tiến triển 25%, tăng thoái triển 75%, các mảng vữa xơ mới giảm hình thành40,5% đồng thời giảm 24,1% tai biến mạch vành kể cả tử vong
- Thử nghiệm ASTEROID (A Study To evaluate the Effect ofRosuvastatin On Intravascular ultrasound - Derived coronary atheroma burden)(2006) Đánh giá hiệu quả của rosuvastatin bằng siêu âm trong lòng mạch Gồm
349 bệnh nhân đợc điều trị bằng rosuvastatin 40mg/ngày Tác giả thấy rằng có sựthoái triển một cách rõ ràng thể tích mảng vữa xơ động mạch Nồng độ LDL-ctrung bình từ 130,4 mg/dl giảm xuống đến 60,8 mg/dl Nồng độ HDL- trớcnghiên cứu là 43,1 mg/dl tăng đến 49,0 mg/dl sau nghiên cứu
1.3.2.Nghiờn cứu ở Việt Nam
- Năm 1994, Nguyễn Thị Bích Hà nghiên cứu trên 118 bệnh nhân timmạch cho thấy cholesterol tăng trong 44% bệnh nhân nhồi máu cơ tim, 51,9%
số bệnh nhân tăng huyết áp Triglycerid tăng trong 24% bệnh nhân nhồi máucơ tim, 40,4% số bệnh nhân tăng huyết áp Apoprotein B tăng trong 92% bệnhnhân nhồi máu cơ tim, 75% số bệnh nhân tăng huyết áp HDL-c giảm trong68% bệnh nhân nhồi máu cơ tim, 67,3% số bệnh nhân tăng huyết áp.Apoprotein A1 giảm trong 80% bệnh nhân nhồi máu cơ tim, 71,1% số bệnhnhân tăng huyết áp [65]
- Trịnh Đình Cần (1996), nghiên cứu trên 405 ngời có rối loạn lipidmáu, tuổi trung bình 45,4 thấy có 86,7% có tăng cholesterol đơn thuần, 37,3%
có tăng triglycerid đơn thuần và 26% tăng hỗn hợp [66]
- Nghiên cứu của Nguyễn Văn Nguyên và cộng sự (2000) trên 592 ờng hợp tuổi từ 40-70 thấy: 20,6% có tăng cholesterol, 29,6% tăng
Trang 30tr-triglyceride, 37,3% có tăng ít nhất một chỉ tiêu lipid, 10,1% tăng đồng thời cảcholesterol và triglyceride [67].
- Nguyễn Kim Lơng (2001) nghiên cứu trên 150 bệnh nhân ở 3 nhóm:tăng huyết áp, đái tháo đờng, đái tháo đờng có tăng huyết áp thấy rằng kiểutăng cholesterol đơn thuần là kiểu rối loạn lipid hay gặp nhất chiếm 31,2% ởbệnh nhân đái tháo đờng, 21,5% ở bệnh nhân tăng huyết áp, và 39,2% ở bệnhnhân đái tháo đờng và có tăng huyết áp Sau đó đến rối loạn lipid kiểu hỗnhợp Kiểu tăng triglycerid đơn thuần ít gặp hơn cả [68]
- Trần Văn Hiên (2006) nghiên cứu rối loạn lipid máu trên bệnh nhân
đái tháo đờng typ II lần đầu tiên đợc điều trị tại Bệnh viện Nội tiết trung ơngcho thấy rối loạn lipid máu thờng gặp ở lứa tuổi 40- 59, tỷ lệ rối loạn lipid nóichung là 65,3% Tăng cholesterol toàn phần 40%, tăng triglyceride 53%, tăngLDL-c 42,9%, tăng non-HDL-c 41,3%, giảm HDL-c 20% [69]
1.4 Mối liờn quan giữa yếu tố nguy cơ tim mạch tồn dư (HDL-C và Triglyceride) với tăng huyết ỏp, đỏi thỏo đường, bộo phỡ.
Cỏc bệnh mạn tớnh liờn quan chặt chẽ tới tỡnh trạng rối loạn lipid mỏu
đú là đỏi thỏo đường typ2, tăng huyết ỏp, bệnh tim mạch
HDL-C giảm dưới 0.9mmol/l hoặc triglycerid lớn hơn 2.83mmol/l làmột nguy cơ cao phỏt triển bệnh đỏi thỏo đường nhất là những người cao tuổiđồng thời là nguy cơ tiến triển cỏc biến chứng mạch mỏu lớn , biến chứng timnhất là bệnh mạch vành
Nhiều nghiờn cứu cho thấy tăng huyết ỏp và đỏi thỏo đường thường đikốm với bộo phỡ và rối loạn lipid mỏu Tại Việt Nam, nghiờn cứu về rối loạn cỏcthành phần lipoprotein mỏu ở người ở bệnh nhõn giảm dung nạp glucose chothấy 84% bệnh nhõn nghiờn cứu cú rối loạn 1 hay nhiều thành phần lipid [70]
- Tăng triglycerid mỏu : là rối loạn lipid gặp nhiều nhất chiếm tỷ lệ 68% [70]
- Giảm HDL-C : Là rối loạn lipid mỏu gặp với tỷ lệ khỏ cao chiếm 50%
số người mắc đỏi thỏo đường [30] Cơ chế của giảm HDL-C ở bệnh nhõngiảm dung nạp glucose đó được nhều tỏc giả đề cập đến Bờn cạnh vai trũ của
Trang 31kháng insulin gây giảm hình thành HDL-C, có vai trò của tăng nồng độtriglycerid.
- Tăng cholesterol: Theo nghiên cứu của Phạm Thị Minh Tâm [70]đánh giá tình trạng RLLM ở bệnh nhân giảm dung nạp glucose có 46% bệnhnhân nghiên cứu có tăng nồng độ cholesterol máu Như vậy tăng cholesterolmáu là một rối loạn lipid cũng thường gặp ở bệnh nhân giảm dung nạpglucose Về thành phần LDL-C tăng là rối loạn lipid máu it gặp nhất so vớirối loạn các thành phần lipid khác
-Nghiên cứu tại Huế cho thấy tỷ lệ tăng huyết áp ở nhóm béo phì là70%, đái tháo đường và giảm dung nạp glucose là 16% [71] Khi xem xét rốiloạn lipid máu như là một yếu tố nguy cơ cho cao huyết áp thấy rằng nhữngbệnh nhân giảm dung nạp glucose có rối loạn lipid máu có nguy cơ cao huyết
áp tăng gấp 6,7 lần so với bệnh nhân giảm dung nạp glucose không có rốiloạn lipid máu [72]
Béo phì và rối loạn lipid máu ở bệnh nhân giảm dung nạp glucose đặcbiệt là kiểu béo bụng thường phối hợp với nhau Béo phì có vai trò quantrọng trong sự xuất hiện và tăng tình trạng kháng insulin ở ngoại vi Nhữngngười giảm dung nạp glucose béo phì có xu hướng rối loạn không những vềnồng độ lipoprotein mà còn ảnh hưởng đến chất lượng lipoprotein 93% bệnhnhân giảm dung nạp glucose có béo phì có rối loạn một hay nhiều thành phầnlipoprotein máu và đặc biệt 97% bệnh nhân giảm dung nạp glucose kèm theobéo kiểu bụng có rối loạn lipid máu Trong nghiên cứu ở những bệnh nhângiảm dung nạp glucose kèm theo béo phì có nguy cơ rối loạn lipid máu caogấp 6 lần so với nhóm giảm dung nạp glucose có chỉ số BMI bình thường[70], [73] Rõ ràng béo phì và rối loạn lipid có vai trò quan trọng trong rốiloạn chuyển hóa glucose
Trang 32Tại khu vực Châu Á , qua thống kê của ngân hàng phát triển Châu Á chothấy tại các nước Thái Lan, Hồng Kông, Hàn Quốc, Singapore, Indonesia…có tỉ
lệ đái tháo đường tăng lên Bệnh tim mạch đang là nguyên nhân hàng đầu củamắc bệnh và tử vong không ở những đang phát triển mà ngay cả các quốc giađang phát triển Ngày nay những hiểu biết mới đây cho thấy một trong nhữngvấn đề thời sự nhất của vấn đề sức khỏe tim mạch là mối liên quan với hộichứng chuyển hóa cũng như của các bệnh đái tháo đường, tim mạch và huyết
áp Rối loạn lipid máu là hậu quả của nhiều nguyên nhân kết hợp
Trang 33Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu.
2.1.1 Đối tượng
Đối tượng nghiên cứu được lựa chọn là những người Việt Namtrưởng thành (≥ 25 tuổi), không phân biệt giới tính, thỏa mãn đầy đủ cáctiêu chuẩn chọn mẫu trong nghiên cứu
2.1.2 Thời gian nghiên cứu
Nghiên cứu được triển khai từ tháng 10/2012 đến tháng 10/2013
2.1.3 Địa điểm nghiên cứu
Nghiên cứu được tiến hành tại 3 phường Quang Trung- Trung Phụng- Kim Liên thuộc quận Đống Đa- Hà Nội
2.2 Phương pháp nghiên cứu.
2.2.1 Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu được thiết kế theo phương pháp mô tả cắt ngang
d
p) p(1 Z
n
Nghiên cứu của chúng tôi là một nghiên cứu nhỏ nằm trong một thiết
kế nghiên cứu chung ước tính các yếu tố nguy cơ tim mạch trong cộng đồng Vì vậy trên đây là công thức tính cỡ mẫu chung cho các yếu tố nguy cơ tim mạch trong cộng đồng
Trang 34Trong đó:
n : Cỡ mẫu tối thiểu (số đối tượng cần nghiên cứu)
α : Mức ý nghĩa thống kê = 0,05 (ứng với độ tin cậy 95%)
Z1 - α /2: Giá trị giới hạn phụ thuộc vào độ tin cậy (hoặc sai số ) xácđịnh, với độ tin cậy lấy ở ngưỡng 95%, Z1 - α/2 = 1,96
p : Tỷ lệ ước đoán nguy cơ tim mạch ở cộng đồng khoảng 45% ( Dựavào một nghiên cứu trước đấy.)
d : Độ chính xác tuyệt đối mong muốn= 0,045
cỡ mẫu cần ch o ngh iên cứu : n = 480 bệnh nhân/ Phường
2.2.2.2 Phương pháp chọn mẫu
a) Tiêu chuẩn:
- Tiêu chuẩn lựa chọn:
Toàn bộ người dân ≥ 25 tuổi có hộ khẩu và đang sinh sống tại 3 phườngQuang Trung-Trung Phụng- Kim Liên thuộc quận Đống Đa- Hà Nội
Bệnh nhân đồng ý tham gia nghiên cứu
- Tiêu chuẩn loại trừ:
Bệnh nhân đang mắc các bệnh ác tính, bệnh tâm thần …
Những người không đồng ý tham gia nghiên cứu
b) Quy trình lấy mẫu:
Những bệnh nhân có đủ tiêu chuẩn nghiên cứu sẽ được chọnvào nghiên cứu Quy trình thu thập số liệu theo mẫu bệnh án nghiêncứu thống nhất, bao gồm:
- Phỏng vấn bằng phiếu điều tra
- Đo chỉ số nhân trắc, đo huyết áp
- Xét nghiệm máu
c) Cách chọn mẫu:
Sử dụng phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên đa tầng gồm các bước sau:
Trang 35Bước 1: Liệt kê danh sách tất cả các phường thuộc quận Đống Đa, Hà
Nội, chúng tôi bốc thăm ngẫu nhiên ra 03 phường đại diện cho một vùngthành thị đã có những nghiên cứu về kinh tế xã hội trước đó vì kinh tế xã hộicũng là một yếu tố có liên quan đến bệnh tim mạch Kết quả chọn được 3phường đó là Trung Phụng, phường Kim Liên và phường Quang Trung
Bước 2: Liệt kê danh sách tất các tổ trong mỗi phường đã được bốc
thăm Bốc thăm ngẫu nhiên 3 tổ/ phường
Bước 3: Lập danh sách tất cả những người dân ≥ 25 tuổi đang sinh sống
tại các tổ/ phường đã được bắt thăm, không phân biệt giới, nghề nghiệp.Chúng tôi sử dụng phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên bằng bảng số ngẫunhiên trong chường trình EPI-INFO 6.1 2000 của WHO để chọn ra 170 người
từ danh sách này và mời đến khám ( 160 người ở danh sách chính thức và 10người ở danh sách dự bị) Kết quả mỗi phường có 480 người chính thức và 30người dự bị cho điều tra
2.2.2.3 Kế hoạch điều tra thu thập số liệu
Bước 1: Chuẩn bị điều tra
- Tiến hành chọn đối tượng điều tra theo phương pháp ngẫu nhiên
- Liên hệ và tổ chức chuẩn bị địa điểm, phát phiếu mời các đốitượng điều tra, hướng dẫn cụ thể về chế độ ăn uống, sinh hoạt và thời gianlàm xét nghiệm theo đúng chỉ định
- Chuẩn bị các dụng cụ, nguyên vật liệu cho điều tra như: cân, thướcdây, mẫu biểu điều tra, máy đo huyết áp, máy xét nghiệm, máy điện tim vàdụng cụ liên quan
Bước 2: Hướng dẫn cán bộ điều tra
Tổ chức hướng dẫn cho điều tra viên cách thức chọn mẫu, tổ chứctiến hành điều tra, phương pháp phỏng vấn, khám, xét nghiệm, thu thậpthông tin, nội dung và yêu cầu của cuộc điều tra
Trang 36Bước 3: Tiến hành điều tra thu thập thông tin tại thực địa, làm xétnghiệm tại trạm y tế.
2.2.3 Quy trình điều tra
2.2.3.2 Đo nhân trắc.
Xác định cân nặng, chiều cao và tính ra chỉ số BMI
Đo chiều cao và cân nặng vào buổi sáng, bệnh nhân nhịn ăn sáng, mặcquần áo mỏng, bỏ dày dép khi cân đo
Chiều cao được tính bằng cm (sai số không quá 1cm) và cân nặng tínhbằng kg (sai số không quá 100g)
Cân đo 2 lần ở mỗi số đo sau đó tính giá trị trung bình giữa 2 lần cân đo
Đo vòng bụng, vòng mông bằng thước dây không giãn FIGUREFINDER độ chính xác tính bằng mm Đo chiều cao bằng thước LEICESTER
độ chính xác tính bằng cm Cân nặng: dùng cân TANITA sản xuất tại NhậtBản, độ chính xác tính bằng 0,1kg
Trang 37+ Cân: Đặt cân lên mặt phẳng chắc chắn, điều chỉnh cân về 0, yêu cầu
BN bỏ giầy, mũ, quần áo nặng và bất kỳ vật gì trong túi BN đứng lên cân,nhìn về phía trước, 2 tay để dọc thân mình Thầy thuốc đọc kết quả, ghi số đo,chính xác đến 0,1kg
b) Chiều cao.
- Trang bị: Thước đo chiều cao
- Trình tự đo:
+ Yêu cầu BN bỏ mũ, nơ ra khỏi đầu
+ Bệnh nhân đứng bằng bàn chân, 2 gót chân áp sát nhau và sát vào bệsau của thước, mắt nhìn thẳng, các mốc chẩm, vai, mông, gót áp sát vào mặttường đo, hai tay thả lỏng tự nhiên
+ Đọc số đo trên cột thước thẳng với mũi tên trên tay đo, ghi số đochính xác đến 0,5cm
c) Đo vòng eo, vòng hông.
- Đo vòng eo bằng thước dây không co giãn: đối tượng đứng thẳng,thoải mái, hít thở đều, dùng thước dây, đo ngang qua điểm giữa từ bờ trênmào chậu hai bên và đỉnh của xương sườn cuối cùng, đảm bảo rằng thước đo
ở ví trí nằm ngang, đọc số đo đến mm
- Đo vòng hông cũng bằng thước dây không co giãn: đối tượng đứngthẳng, thoải mái, hít thở đều, dùng thước dây đo ngang qua hai lồi cầu xươngđùi hai bên đảm bảo rằng thước đo ở vị trí nằm ngang, đọc số đến mm
à Số đo vòng eo và vòng hông là trung bình cộng của 2 số đo lần 1 và lần 2
Trang 382.2.3.2 Đo huyết áp.
Đo HA bằng máy HA kế đồng hồ được kiểm chuẩn và đo lại bằnghuyết áp kế cột thuỷ ngân LPK2 sản xuất tại Nhật Bản
- Các điều kiện về đối tượng khi đo huyết áp:
+ Không được hoạt động mạnh trước khi đo 1 giờ
+ Nghỉ ngơi, thoải mái ít nhất 5-10 phút trước khi đo HA
+ Không uống cà phê, các loại đồ uống có caphein 30 phút trước khi
đo, không uống rượu trước khi đo
+ Không hút thuốc lá 30 phút trước khi đo
+ Không dùng các loại kích thích giao cảm ngoại lai (như: thuốc chốngngạt mũi, thuốc nhỏ mắt làm giãn đồng tử)
+ Khi đo đối tượng cần được yên tĩnh, dễ chịu, thoải mái, không lạnh,không mót tiểu, không tức giận hoặc xúc động
- Đo huyết áp: Bệnh nhân ngồi, đặt một cách tự nhiên khuỷu, cẳng tay
và bàn tay trái ngửa trên bàn, cánh tay trần (hoặc xắn tay áo) đủ để băng cuốncánh tay nằm ở trên nếp khuỷu 2 cm Điều chỉnh để vị trí của cánh tay ở mặtphẳng ngang với tim Thầy thuốc đặt ống nghe ở nếp lằn khuỷu tay trái củađối tượng, xả bao hơi với tốc độ 2 mmHg/s và ghi kết quả của huyết áp tâmthu, tâm trương, chính xác đến 2 mmHg Đo 2 lần cách nhau 5 phút, lấy giátrị trung bình để xác định trị số huyết áp tâm thu, huyết áp tâm trương
- Một số lỗi thường gặp khi đo HA: không biết đối tượng đã uốngcaphein trong vòng 30 phút trước đó hay không, không đo đúng tư thế, không
đo HA 2 lần hoặc đo lại ngay dưới 1 phút, làm tròn số khi đọc kết quả
2.2.3.3 Các kỹ thuật xét nghiệm sinh hóa.
Bệnh nhân được làm các xét nghiệm sinh hóa tai Khoa hóa sinh Bệnhviện Bạch Mai Mẫu máu sẽ được nhân viên của khoa Hóa Sinh bệnh việnBạch Mai lấy tại các địa điểm tố chức nghiên cứu, trạm y tế phường sau đó
Trang 39được bảo quản theo quy chuẩn trong hộp xốp với đá khô lạnh Mẫu máu sẽđược chuyển về Bệnh viện Bạch Mai lúc 11h sáng hàng ngày.
Đối tượng điều tra được chuẩn bị kỹ, từ vài ngày trước cán bộ điều tragửi giấy mời và thông báo nội dung xét nghiệm tới đối tượng nghiên cứu,đồng thời dặn dò đối tượng nhịn ăn trước khi lấy máu
Kỹ thuật tiến hành lấy máu tĩnh mạch: Đối tượng nghiên cứu ngồi( nghỉ ngơi ít nhất10 phút trước khi lấy máu, những người đang sốt hoặc quá
sợ hãi đều không lấy máu) Thời gian lấy máu lúc đói (8 - 14 giờ sau khi ăn),
ăn từ tối ngày hôm trước, sau đó không ăn gì thêm, không uống nước giảikhát có đường, sáng ngày hôm sau nhịn ăn đến lấy máu trong khoảng từ 7 giờ
30 phút đến 9 giờ 30 phút sáng Lấy máu làm xét nghiệm theo một kỹ thuậtthống nhất như sau:
+ Buộc dây ga - rô vào cánh tay, cách nếp khuỷu tay 7 - 10 cm
+ Lau sạch vùng giữa khuỷu tay bằng bông cồn 700, để khô tự nhiên.+ Lắp kim lấy máu vào bơm tiêm
+ Đưa kim lấy máu vào lòng tĩnh mạch, hút nhẹ nhàng 5ml máu vàobơm tiêm
+ Tháo dây ga - rô, đặt bông cồn 700 vào vết kim trên da BN, ấn nhẹrồi gập khuỷu tay BN lại khoảng 10 phút
+ Tháo kim lấy máu, bơm chậm 5ml máu trong bơm tiêm sang ốngnghiệm có chứa sẵn các hạt nhựa chuyên biệt để lấy huyết thanh làm các xétnghiệm về lipid máu Các mẫu máu được ly tâm trong vòng 10 phút ngay tạinơi lấy máu để tách lấy huyết thanh và huyết tương bảo quản bệnh phẩm thuđược trong điều kiện lạnh từ 2oC đến 8oC và vận chuyển về Bệnh viện BạchMai ngay trong ngày
Trang 40a) Định lượng glucose huyết tương lúc đói.
Sử dụng máy sinh hóa Hitachi cobas 8000 bằng phương pháp enzym( glucosexidase – peroxidase) so màu
Định lượng glucose máu trong vòng 2 giờ sau khi lấy máu (tránh hiệntượng đường phân)
c) Định lượng HbA1c
HbA1c được định lượng bằng catset thuốc thử HbA1c, thực hiện trênmáy DCA - 2000 Bệnh phẩm xét nghiệm là máu tĩnh mạch có chống đôngbằng heparin
d) Định lượng lipid máu.
- Định lượng cholesterol toàn phần theo phương pháp CHOD-PAPphương pháp so màu dùng enzym ( Enzymatic colorometric), cholesteroloxidase phenazone amino peroxidase
- Triglycerid huyết thanh theo phương pháp GOP-PAP-phương pháp
so màu dùng enzym ( glycerol phosphat oxidase phenaon amino oxidase)
- HDL-C huyết thanh định lượng theo phương pháp sự kết tủa củaLDL, VLDL, chylomicron ( đồng nhất trực tiếp )
- LDL-C huyết thanh định lượng theo phương pháp sự kết tủa củaHDL, VLDL, chylomicron ( đồng nhất trực tiếp )
- Máy đọc kết quả xét nghiệm được đọc trên máy Hitachi cobas 8000
- Hóa chất kit chuẩn của hãng Human cung cấp
2.2.4 Các tiêu chuẩn đánh giá được sử dụng trong nghiên cứu.
2.2.4.1.Chỉ số khối cơ thể (BMI):
Dựa theo tiêu chuẩn của WHO 2000 áp dụng cho người trưởng thànhChâu Á Chỉ số BMI được tính theo công thức: BMI (kg/m2) = Cân nặng(kg) / Chiều cao2 (m)