I. Lí do chọn đề tài Trong xu hướng đổi mới hình thức thi cử như hiện nay của các kỳ thi quốc gia (tốt nghiệp và tuyển sinh đại học, cao đẳng) việc giải nhanh, chính xác các câu hỏi trắc nghiệm khách quan luôn là vấn đề lớn mà bất cứ học sinh nào cũng muốn tìm ra cho mình hướng giải quyết. Bài tập hóa học là phương thức hữu hiệu giúp học sinh phát triển tư duy, khắc sâu kiến thức và rèn luyện tính cẩn thận, chính xác trong công việc. trong bài tập hóa học tác giả luôn đưa ra rất nhiều “bẫy” mà nếu học sinh không phát hiện được những “bẫy” đó thì việc dẫn đến những kết quả sai lầm là điều không thể tránh khỏi. Hiện nay trên thị trường có rất nhiều tài liệu hướng dẫn giải bài tập hóa học tuy nhiên các tài liệu này chỉ hướng dẫn học sinh giải bài toán mà không chú ý đến việc phân tích bài toán cũng như những vấn đề khác mà tác giả cố ý đưa vào trong bài toán đó. Do đó đại đa số học sinh chỉ quan tấm đến việc giải như thế nào mà không chú ý đến những sai lầm có thể mắc phái trong quá trình giải toán. Đó cũng chính là lí do học sinh thường làm sai mà không biết nguyên nhân là do đâu. Komensky nhà giáo dục đại tài Cộng Hòa Sec đã từng khẳng định:”Bất kỳ một sai lầm nào cũng có thể làm cho học sinh kém đi nếu như giáo viên không chú ý ngay tới sai lầm đó bằng cách hướng dẫn học sinh nhận ra và sửa chữa, khắc phục sai lầm”. Với những suy nghĩ đó trong quá trình dạy học tôi đã tổng hợp và rút ra kinh nghiệm cho bản thân để xây dựng nên đề tài: “Phân tích những sai lầm thường gặp trong giải toán hóa học ở trường phổ thông nhằm khắc sâu kiến thức và phát triển tư duy cho học sinh” Do lần đầu tiên viết đề tài này và kinh nghiệm bản thân còn hạn chế nên không thể tránh khỏi những thiếu sót. Rất mong được sự đóng góp ý kiến của các đồng nghiệp và bạn đọc. Xin chân thành cám ơn II. Mục đích của đề tài: Nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả của quá trình giảng dạy và học tập môn hóa học ở trường phổ thông. Giúp các em học sinh thi vào các trường đại học – cao đẳng có được kết quả khả quan nhất. Giúp đỡ bản thân và đồng nghiệp trong quá trình giảng dạy. III. Giới hạn của đề tài: Hướng dẫn học sinh THPT ôn thi tốt nghiệp, luyện thi đại học cao đẳng. Hướng dẫn học sinh ôn luyện và giải bài tập hóa học ở trường phổ thông. Thực hiện công tác bồi dưỡng học sinh giỏi. IV. Đối tượng nghiên cứu: Hệ thống kiến thức, kỹ năng hóa học THPT chương trình lớp 10, 11, 12. Các bài tập hóa học chương trình phổ thông, bài tập trong các đề thi quốc gia tốt nghiệp THPT và tuyển sinh ĐH CĐ. Các phương pháp giải bài tập hóa học cơ bản ở trường phổ thông. V. Phương pháp nghiên cứu. 1. Phương pháp nghiên cứu lý thuyết. Nghiên cứu lí luận dạy học và lý luận dạy học hóa học, các tài liệu có liên quan đến đề tài đặc biệt là lý thuyết và bài tập trong cấu trúc chương trình hóa học phổ thông và đề thi tốt nghiệp THPT, tuyển sinh đại học – cao đẳng từ năm 2007 đến nay. Căn cứ vào nhiệm vụ của đề tài nghiên cứu kỹ về cơ sở lý thuyết phản ứng hóa học trong chương trình hóa học ở trường THPT. Nghiên cứu sâu vào bản chất của các định luật cơ bản trong hóa học: Bảo toàn khối lượng, bảo toàn electron, bảo toàn nguyên tố. 2. Phương pháp quan sát. Quan sát quá trình dạy học hóa học và luyện thi đại học – cao đẳng ở trường THPT với hình thức thi trắc nghiệm khách quan. Quan sát quá trình kiểm tra đánh giá kiến thức, kỹ năng trong các bài kiểm tra định kỳ, kỳ thi quốc gia. 3. Nguyên tắc xây dựng. Trên cơ sở phân loại bài tập hóa học ở trường phổ thông để chia bài tập thành các mức độ khác nhau: Nhận biết, thông hiểu, vận dụng và vận dụng nâng cao mà chủ yếu và mức độ thông hiểu, vận dụng và vận dụng nâng cao. Xây dựng cách giải bài tập trắc nghiệm hóa học theo hướng giải nhanh trong các đề thi và kiểm tra đánh giá. 4. Tư liệu nghiên cứu. Đề thi tuyển sinh đại học – cao đẳng từ năm 2007 đến năm 2011. SGK hóa học chương trình THPT cơ bản và nâng cao. Tài liệu tham khảo liên quan đến nội dung của đề tài. PHẦN II. NỘI DUNG I. Cơ sở lí luận: Trong quá trình giảng dạy môn hóa học ở trường phổ thông không chỉ dừng lại ở việc hướng dẫn các em học sinh học lý thuyết mà còn phải làm bài tập thông qua việc nắm vững lý thuyết. Bài tập hóa học phổ thông giúp học sinh yêu thích môn học và tin tưởng vào năng lực của bản thân. Giải nhanh, chính xác và phân tích đúng các trường hợp xảy ra của các bài tập hóa học là góp phần giúp học sinh rèn luyện khả năng tư duy và tốc độ giải quyết vấn đề chính xác và đầy đủ. Bài tập hóa học phổ thông mô phỏng một số tình huống thực tế của đời sống mà việc giải nhanh, chính xác và khoa học các bài tập là công việc mà qua đó kích thích khả năng tìm tòi, sáng tạo giải quyết vấn đề một cách tối ưu nhất. II. Thực trạng của vấn đề: Đa số học sinh khi giải bài tập cảm thấy bế tắc trong một số điểm như: Xác định sản phẩm tạo thành trong các phản ứng hóa học Xác định các trường hợp có thể xảy ra của bài toán. Xác định chất các bẫy (chốt) trong từng bài toán. Chọn phương pháp giải phù hợp và đúng với bản chất của các phản ứng. Mất quá nhiều thời gian cho việc viết các phản ứng và đặt ẩn dẫn đến dễ nhầm lẫn trong quá trình tính toán. Xác định lương chất hết, còn dư sau mỗi phản ứng Xác định sự thay đổi số oxi hóa trong phản ứng oxi hóa khử III. Giải pháp cho vấn đề: Phân tích, hình thành kỹ năng xác định “chốt” trong bài toán nhằm giải quyết bài toán đúng yêu cầu. Tổng kết những kinh nghiệm trong từng dạng bài tập cụ thể về hóa học ở trường phổ thông. Hạn chế tối đa những sai lầm trong việc giải bài tập.
Trang 1MỤC LỤC
Trang
Phần 1: Mở đầu 2
1 Lý do chọn đề tài 3
2 Mục đích của đề tài 3
3 Giới hạn của đề tài: 3
4 Đối tượng nghiên cứu: 3
5 Phương pháp nghiên cứu 3
Phần 2: Nội dung 5
1 Cơ sở lí luận 5
2 Thực trạng của vấn đề 5
3 Giải pháp cho vấn đề 5
4 Phân tích sai lầm và hướng khắc phục 6
Kiểm nghiệm 31
Phần 3: Kết luận 32
Tài liệu tham khảo 33
Trang 2PHẦN I: MỞ ĐẦU
I Lí do chọn đề tài
Trong xu hướng đổi mới hình thức thi cử như hiện nay của các kỳ thi quốc gia (tốt nghiệp và tuyển sinh đại học, cao đẳng) việc giải nhanh, chính xác các câu hỏi trắc nghiệm khách quan luôn là vấn đề lớn mà bất cứ học sinh nào cũng muốn tìm ra cho mình hướng giải quyết
Bài tập hóa học là phương thức hữu hiệu giúp học sinh phát triển tư duy, khắc sâu kiến thức và rèn luyện tính cẩn thận, chính xác trong công việc trong bài tập hóa học tác giả luôn đưa ra rất nhiều “bẫy” mà nếu học sinh không phát hiện được những “bẫy” đó thì việc dẫn đến những kết quả sai lầm
là điều không thể tránh khỏi
Hiện nay trên thị trường có rất nhiều tài liệu hướng dẫn giải bài tập hóa học tuy nhiên các tài liệu này chỉ hướng dẫn học sinh giải bài toán mà không chú ý đến việc phân tích bài toán cũng như những vấn đề khác mà tác giả cố ý đưa vào trong bài toán đó Do đó đại đa số học sinh chỉ quan tấm đến việc giải như thế nào mà không chú ý đến những sai lầm có thể mắc phái trong quá trình giải toán Đó cũng chính là lí do học sinh thường làm sai mà không biết
nguyên nhân là do đâu Komensky nhà giáo dục đại tài Cộng Hòa Sec đã
từng khẳng định:”Bất kỳ một sai lầm nào cũng có thể làm cho học sinh kém
đi nếu như giáo viên không chú ý ngay tới sai lầm đó bằng cách hướng dẫn học sinh nhận ra và sửa chữa, khắc phục sai lầm”
Với những suy nghĩ đó trong quá trình dạy học tôi đã tổng hợp và rút ra kinh nghiệm cho bản thân để xây dựng nên đề tài: “Phân tích những sai lầm thường gặp trong giải toán hóa học ở trường phổ thông nhằm khắc sâu kiến thức và phát triển tư duy cho học sinh”
Do lần đầu tiên viết đề tài này và kinh nghiệm bản thân còn hạn chế nên không thể tránh khỏi những thiếu sót Rất mong được sự đóng góp ý kiến của các đồng nghiệp và bạn đọc
Trang 3II Mục đích của đề tài:
Nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả của quá trình giảng dạy và học tập môn hóa học ở trường phổ thông
Giúp các em học sinh thi vào các trường đại học – cao đẳng có được kết quả khả quan nhất
Giúp đỡ bản thân và đồng nghiệp trong quá trình giảng dạy
III Giới hạn của đề tài:
Hướng dẫn học sinh THPT ôn thi tốt nghiệp, luyện thi đại học- cao đẳng
Hướng dẫn học sinh ôn luyện và giải bài tập hóa học ở trường phổ thông
Thực hiện công tác bồi dưỡng học sinh giỏi
IV Đối tượng nghiên cứu:
Hệ thống kiến thức, kỹ năng hóa học THPT chương trình lớp 10, 11, 12
Các bài tập hóa học chương trình phổ thông, bài tập trong các đề thi quốc gia tốt nghiệp THPT và tuyển sinh ĐH - CĐ
Các phương pháp giải bài tập hóa học cơ bản ở trường phổ thông
V Phương pháp nghiên cứu
1 Phương pháp nghiên cứu lý thuyết
Nghiên cứu lí luận dạy học và lý luận dạy học hóa học, các tài liệu có liên quan đến đề tài đặc biệt là lý thuyết và bài tập trong cấu trúc chương trình hóa học phổ thông và đề thi tốt nghiệp THPT, tuyển sinh đại học – cao đẳng từ năm 2007 đến nay
Căn cứ vào nhiệm vụ của đề tài nghiên cứu kỹ về cơ sở lý thuyết phản ứng hóa học trong chương trình hóa học ở trường THPT
Nghiên cứu sâu vào bản chất của các định luật cơ bản trong hóa học: Bảo toàn khối lượng, bảo toàn electron, bảo toàn nguyên tố
2 Phương pháp quan sát
Quan sát quá trình dạy học hóa học và luyện thi đại học – cao đẳng ở trường THPT với hình thức thi trắc nghiệm khách quan
Trang 4 Quan sát quá trình kiểm tra đánh giá kiến thức, kỹ năng trong các bài kiểm tra định kỳ, kỳ thi quốc gia
3 Nguyên tắc xây dựng
Trên cơ sở phân loại bài tập hóa học ở trường phổ thông để chia bài tập thành các mức độ khác nhau: Nhận biết, thông hiểu, vận dụng và vận dụng nâng cao mà chủ yếu và mức độ thông hiểu, vận dụng và vận dụng nâng cao
Xây dựng cách giải bài tập trắc nghiệm hóa học theo hướng giải nhanh trong các đề thi và kiểm tra đánh giá
4 Tư liệu nghiên cứu
Đề thi tuyển sinh đại học – cao đẳng từ năm 2007 đến năm 2011
SGK hóa học chương trình THPT cơ bản và nâng cao
Tài liệu tham khảo liên quan đến nội dung của đề tài
Trang 5PHẦN II NỘI DUNG
I Cơ sở lí luận:
Trong quá trình giảng dạy môn hóa học ở trường phổ thông không chỉ dừng lại ở việc hướng dẫn các em học sinh học lý thuyết mà còn phải làm bài tập thông qua việc nắm vững lý thuyết
Bài tập hóa học phổ thông giúp học sinh yêu thích môn học và tin tưởng vào năng lực của bản thân
Giải nhanh, chính xác và phân tích đúng các trường hợp xảy ra của các bài tập hóa học là góp phần giúp học sinh rèn luyện khả năng tư duy và tốc độ giải quyết vấn đề chính xác và đầy đủ
Bài tập hóa học phổ thông mô phỏng một số tình huống thực tế của đời sống mà việc giải nhanh, chính xác và khoa học các bài tập là công việc mà qua đó kích thích khả năng tìm tòi, sáng tạo giải quyết vấn đề một cách tối ưu nhất
II Thực trạng của vấn đề:
Đa số học sinh khi giải bài tập cảm thấy bế tắc trong một số điểm như:
Xác định sản phẩm tạo thành trong các phản ứng hóa học
Xác định các trường hợp có thể xảy ra của bài toán
Xác định chất các bẫy (chốt) trong từng bài toán
Chọn phương pháp giải phù hợp và đúng với bản chất của các phản ứng
Mất quá nhiều thời gian cho việc viết các phản ứng và đặt ẩn dẫn đến dễ nhầm lẫn trong quá trình tính toán
Xác định lương chất hết, còn dư sau mỗi phản ứng
Xác định sự thay đổi số oxi hóa trong phản ứng oxi hóa khử
III Giải pháp cho vấn đề:
Phân tích, hình thành kỹ năng xác định “chốt” trong bài toán nhằm giải quyết bài toán đúng yêu cầu
Tổng kết những kinh nghiệm trong từng dạng bài tập cụ thể về hóa học ở trường phổ thông Hạn chế tối đa những sai lầm trong việc giải bài tập
Trang 6IV PHÂN TÍCH SAI LẦM VÀ HƯỚNG KHẮC PHỤC
1 SAI LẦM TRONG CÁCH HIỂU VÀ VẦN DỤNG KIẾN THỨC CHO CÂU HỎI LÝ THUYẾT
1.1 Sai lầm của học sinh với nguyên tố có Z 20
Khi viết cấu hình electron thường chỉ quan tâm đến thứ tự năng lượng theo nguyên lí vững bền, từ đó sai cấu hình e và xác định sai vị trí của nguyên tố trong bảng tuần hoàn
Ví dụ 1: Cấu hình e của ion X2+ là 1s2 2s 2 2p 6 3s 2 3p 6 3d 6 Trong bảng tuần hoàn các nguyên tố hóa học, nguyên tố X thuộc:
A Chu kỳ 4, nhóm VIIIB B Chu kỳ 4, nhóm VIIIA
C Chu kỳ 3, nhóm VIIIB D Chu kỳ 4, nhóm IIA
Phân tích:
X X2+ + 2e, khi đó học sinh cho rằng cần điền tiếp 2 e vào cấu hình của ion
X2+ do đó cấu hình X là 1s22s22p63s23p63d8 Chọn phương án C sai
Ví dụ 2: Biết nguyên tử Fe (z=26) Cấu hình e của ion Fe2+ là:
Trang 7Fe Fe2+ +2e, khi đó cho rằng Fe có 26e vậy Fe2+ có 24 e nên cấu hình e giống Cr (z=24) chọn phương án B sai
Nếu nghĩ là phân lớp 3d có năng lượng cao hơn 4s nên electron ở 3d mất trước phương án D Sai
Vì cấu hình của Fe đúng: 1s22s22p63s23p63d64s2 và e của phân lớp 4s nhường trước nên phương án đúng là C
Nhận xét: Những sai lầm tương tự có thể mắc phải khi gặp các nguyên tố
nên phản ứng A không sinh ra HBr mà phải là phản ứng oxi hóa khử
Ví dụ 2: Cho dung dịch X chứa KMnO4và H2SO4 (loãng) lần lượt vào các dung dịch: FeCl2, FeSO4, CuSO4, MgSO4, H2S, HCl (đặc) Số trường hợp có xảy ra phản ứng oxi hoá - khử là
Phân tích:
Học sinh sẽ tìm chất có tính khử tác dụng với dung dịch KMnO4 trong H2SO4
là chất oxi hóa mạnh nếu theo ví dụ 1 học sinh sẽ nghĩ HCl không thể hiện tính khử nên sẽ chọn phương án D (FeCl2, FeSO4, H2S) Sai
Khi tác dụng với KMnO4 trong H2SO4 thì HCl sẽ thể hiện tính khử và Cl- bị oxi hóa thành Cl2 nên phương án đúng phải là B (FeCl2, FeSO4, H2S, HCl (đặc))
Trang 8Ví dụ 3: Cho các dung dịch sau: NaCl, NaF , KBr, Fe(NO3)2 NaOH, Na2SO4
Số chất tạo kết tủa khi cho phản ứng với dung dịch AgNO3 là:
Phân tích:
Đa số học sinh sẽ phân tích khi cho các dung dịch phản ứng với AgNO3
NaCl + AgNO3 AgCl+ NaNO3
NaF + AgNO3 AgF + NaNO3 (*)
NaBr + AgNO3 AgBr + NaNO3
Fe(NO3)2 không phản ứng
NaOH tạo AgOH chất này không tồn tại nên không xảy ra phản ứng
Na2SO4 tạo Ag2SO4
Chọn phương án trả lời là:C sai
Thực chất các nguyên tố Cl2, F2, Br2 đều là halogen nhưng AgF không kết tủa nên phản ứng (*) không xảy ra
Fe(NO3)2 + AgNO3 Fe(NO3)3 + Ag
AgOH không tồn tại phân hủy thành Ag2O nên vẫn có hết tủa
Vậy phương án đúng phải là A
1.3 Sai lầm do hiều không đúng về thuyết axit – bazơ
Ví dụ 1: Cho dãy các chất: Ca(HCO3)2, NH4Cl, (NH4)2CO3, ZnSO4, Al(OH)3, Zn(OH)2 Số chất trong dãy có tính chất lưỡng tính là
Phân tích:
Đa số học sinh đều nghĩ rằng các hợp chất của kẽm và nhôm đều có tính lưỡng tính nên chất lưỡng tính là: Ca(HCO3)2, (NH4)2CO3, ZnSO4, Al(OH)3, Zn(OH)2 nên chọn phương án A sai
Nếu học sinh cho rằng (NH4)2CO3 không phải chất lưỡng tính vì tính axit do
NH4+ thể hiện còn tính bazơ là do CO32- thể hiện nên các chất lưỡng tính là: Ca(HCO3)2, Al(OH)3, Zn(OH)2 chọn phương án C sai
Phân tích đúng:
Trang 9Chất lưỡng tính là chất vừa có khả năng thể hiện tính axit (nhường proton H+) vừa có khả năng thể hiện tính bazơ (nhận proton H+) nên các chất lưỡng tính là: Ca(HCO3)2, (NH4)2CO3, Al(OH)3, Zn(OH)2
Na2CO3 Sn(OH)2, ZnO, (NH4)2CO3 Sai
Thực ra Al và Na2CO3 đều có thể tác dụng với axit và với bazơ nhưng không phải chất lưỡng tính:
Trang 10Nếu học sinh nghĩ rằng có thêm đồng phân hình học từ cấu tạo (*) và chọn phương án B Sai vì chỉ hỏi đồng phân cấu tạo
Thực ra C5H10 có đồng phân cấu tạo xicloankan làm mất màu dung dịch Brom (vòng 3 cạnh)
C – C C
C C
Vậy phương án đúng A C
Ví dụ 2: Số hợp chất đồng phân cấu tạo của nhau có công thức phân tử
C8H10O trong phân tử có vòng benzen, tác dụng với Na, không tác dụng với NaOH là:
A 7 B 6 C 4 D 5
Nếu học sinh chỉ chú ý đến điều kiện không tác dụng với NaOH để tránh viết đồng phân phenol mà không chú ý đến nhất thiết phải có nhóm OH thì sẽ chọn phương án A Sai
Ví dụ 3: Cho dãy các chất: phenyl axetat, anlyl axetat, metyl axetat, etyl
fomat, tripanmitin, vinyl axetat Số chất trong dãy khi thủy phân trong dung dịch NaOH (dư), đun nóng sinh ra ancol là
Phân tích:
Nếu học sinh nghĩ tất cả este khi tác dụng với NaOH đều sinh ancol
CH3COOC6H5 + NaOH t0 CH3COONa + C6H5OH (1)
CH3COOCH2-CH=CH2 + NaOHt0CH3COONa + CH2=CH – CH2OH (2)
CH3COOCH3 + NaOH t0 CH3COONa + CH3OH (3)
HCOOC2H5 + NaOHt0 HCOONa + C2H5OH (4)
(C15H31COO)3C3H5 + 3NaOH t0 3C15H31COONa + C3H5(OH)3 (5)
CH3COOCH=CH2 + NaOH t0 CH3COONa + CH2=CHOH (6)
Chọn phương án D Sai
Nếu chỉ nghĩ rằng C6H5OH không phài là ancol mà là phenol
chọn phương án B Sai
Trang 11Thực ra C6H5OH không phải ancol, ở phản ứng (6) CH2=CHOH không bền chuyển thành CH3CHO nên chỉ có 4 phản ứng (2),(3),(4),(5) sinh ra ancol phương án đúng là C
anđehit axetic Trong các chất trên, số chất vừa có khả năng tham gia phản ứng tráng bạc vừa có khả năng phản ứng với Cu(OH)2ở điều kiện thường là
Phân tích:
Nếu không chú ý đến phản ứng với Cu(OH)2 ở điều kiện thường học sinh sẽ cho rằng: glucozơ, fructozơ, etyl fomat, axit fomic và anđehit axetic vừa có phản ứng tráng gương vừa có phản ứng với Cu(OH)2
Chọn phương án B Sai
Thực ra etyl fomat và anđehit axetic đều có phản ứng tráng gương nhưng chỉ tác dụng với Cu(OH)2 khi đun nóng tạo kết tủa Cu2O màu đỏ gạch nên phương án đúng là 3 chất glucozơ, fructozơ, axit fomic Phương án A
C6H5NH2 (anilin), C6H5OH (phenol), C6H6 (benzen) Số chất trong dãy phản ứng được với nước brom là
Trang 12Đáp án đúng là D
1.5 Sai lầm do hiều sai bản chất của phản ứng
Ví dụ 1: Cho dãy các chất sau: Al, NaHCO3, (NH4)2CO3, NH4Cl, Al2O3, Zn,
K2CO3, K2SO4 Có bao nhiêu chất trong dãy vừa tác dụng được với dung dịch HCl, vừa tác dụng được với dung dịch NaOH?
Thực ra NaHCO3 là chất lưỡng tính nên tác dụng được với HCl và NaOH
Al, Zn tan được trong cả HCl và NaOH giải phóng khí hiđro
Vậy các chất Al, NaHCO3, (NH4)2CO3, Al2O3, Zn đều tác dụng với HCl và NaOH
Phương án đúng là A
Ví dụ 2: Cho dung dịch Ba(HCO3)2 lần lượt vào các dung dịch: CaCl2, Ca(NO3)2, NaOH, Na2CO3, KHSO4, Na2SO4, Ca(OH)2, H2SO4, HCl Số trường hợp có tạo ra kết tủa là
Với NaOH tạo kết tủa BaCO3
Với Ca(OH)2 tạo kết tủa BaCO3 và CaCO3
Na2CO3 và Na2SO4 phản ứng với Ba(HCO3)2 là phản ứng trao đổi tạo kết tủa BaCO3 và BaSO4
Trang 13Khi đó chọn phương án B Sai
Học sinh thường nghĩ KHSO4 không có phản ứng trao đổi với Ba(HCO3)2 vì không thỏa mãn điều kiện của phản ứng thực ra KHSO4 phản ứng được với Ba(HCO3)2 vì HSO4- là một axit
HCO3- + HSO4- SO42- + CO2 + H2O
Kết tủa tạo ra là BaSO4
Phương án đúng là A (NaOH, Na2CO3, KHSO4, Na2SO4, Ca(OH)2, H2SO4)
Nhận xét: Sai lầm tương tự có thể xảy ra với câu hỏi liên quan đến muối
HCO3-, HSO3-, HSO4-, một số kim loại Al, Zn, Sn…
1.6 Sai lầm do không xét hết các phản ứng xảy ra
Ví dụ 1: Cho bốn hỗn hợp, mỗi hỗn hợp gồm hai chất rắn có số mol bằng
nhau: Na2O và Al2O3; Cu và FeCl3; BaCl2 và CuSO4; Ba và NaHCO3 Số hỗn hợp có thể tan hoàn toàn trong nước (dư) chỉ tạo ra dung dịch là
Cu + 2FeCl3 CuCl2 + 2FeCl2
Với cặp Ba, NaHCO3
Ba + 2H2O Ba(OH)2 + H2
Ba(OH)2 + 2NaHCO3 BaCO3 + Na2CO3 + 2H2O
Nếu học sinh không chú ý đến tỉ lệ của số mol hai chất sẽ chọn 2 cặp Na2O,
Al2O3 và Cu, FCl3 chọn phương án B sai
Do tỉ lệ số mol bằng nhau nên chỉ có cặp Na2O và Al2O3 tan vào nước chỉ tạo dung dịch
Phương án đúng là A
Trang 14Ví dụ 2: Cho dãy các chất: NH4Cl, (NH4)2SO4, NaCl, MgCl2, FeCl2, AlCl3
Số chất trong dãy tác dụng với lượng dư dung dịch Ba(OH)2 tạo thành kết tủa
MgCl2 + Ba(OH)2 Mg(OH)2 + BaCl2
FeCl2 + Ba(OH)2 Fe(OH)2 + BaCl2
2AlCl3 + 3Ba(OH)2 2Al(OH)3 + 3BaCl2 (*)
Đa số học sinh sẽ loại phản ứng (1) vì không tạo kết tủa
Chọn phương án C sai
Sai lầm ở đây là học sinh không chú ý đến phản ứng (*) Ba(OH)2 dư mà Al(OH)3 là hiđroxit lưỡng tính nên tan trong Ba(OH)2 và không còn kết tủa 2Al(OH)3 + Ba(OH)2 Ba(AlO2)2 + 4H2O
Phương án đúng phải là D
Ví dụ 3: Cho hỗn hợp X gồm Fe2O3, ZnO và Cu tác dụng với dung dịch HCl (dư) thu được dung dịch Y và phần không tan Z Cho Y tác dụng với dung dịch NaOH (loãng, dư) thu được kết tủa
A Fe(OH)2, Cu(OH)2và Zn(OH)2 B Fe(OH)3và Zn(OH)2
C Fe(OH)2và Cu(OH)2 D Fe(OH)3
FeCl3 + 3NaOH Fe(OH)3 + 3NaCl
ZnCl2+ 2NaOH Zn(OH)2 + 2NaCl
Trang 15Sai lầm thứ nhất là khi dung dịch có FeCl3 thì Cu sẽ phản ứng theo quy tắc anpha của dãy điện hóa
Cu + 2FeCl3 CuCl2 + 2FeCl2
Vì Cu dư nên dung dịch không có FeCl3 mà chỉ tồn tại FeCl2, ZnCl2, CuCl2(không tính HCl dư vì không liên quan tạo kết tủa) Chọn A Sai
Sai lầm thứ hai sẽ dẫn đến phương án A là Zn(OH)2 tan được trong NaOH nên sau phản ứng chỉ còn lại kết tủa Fe(OH)2 và Cu(OH)2
FeCl2 + 2NaOH Fe(OH)2 + 2NaCl
CuCl2 + 2NaOH Cu(OH)2 +2NaCl
ZnCl2+ 2NaOH Zn(OH)2 + 2NaCl
Zn(OH)2 + 2NaOH Na2ZnO2 + H2O
Trang 162 SAI LẦM TRONG BÀI TOÁN ĐỊNH LƯỢNG
2.1 Sai lầm trong bài toán có lượng kết tủa biến thiên
Bài toán: Cho muối Al 3+ tác dụng với OH
-Hiện tượng: Có kết tủa keo trắng sau đó tan ra khi OH- dư
Al3+ + 3OH- Al(OH)3 (*)
Al(OH)3 + OH- [Al(OH)4]- (**)
Có hai trường hợp xảy ra:
Trường hợp 1: Al3+ dư, kết tủa không bị hòa tan:
nếu bài toán không hỏi giá trị lớn nhất, nhỏ nhất thì có hai trường hợp xảy
ra Nết hỏi giá trị lớn nhất xảy ra trường hợp 2 hoặc nhỏ nhất thì xảy ra trường hợp 1
Sai lầm có thể gặp phải trong:
Bài toán Zn2+, Cr3+tác dụng với OH-
Bài toán muối AlO2- tác dụng với H+
Bài toán CO2, SO2 tác dụng với dung dịch Ca(OH)2 hoặc Ba(OH)2
Al2(SO4)3 và 0,1 mol H2SO4 đến khi phản ứng hoàn toàn, thu được 7,8 gam kết tủa Giá trị lớn nhất của V để thu được lượng kết tủa trên là
Trang 17A 2 và 1,2 B 1,8 và 1 C 2,4 và 2 D 2 và 1,8 Câu 2: Nhỏ từ từ 0,25 lít dung dịch NaOH 1,04M vào dung dịch gồm 0,024
mol FeCl3; 0,016 mol Al2(SO4)3và 0,04 mol H2SO4thu được m gam kết tủa Giá trị của m là
A 1,560 B 2,568 C 5,064 D 4,128