1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

hoạt động tiêu thụ sách giáo khoa tại công ty cổ phần sách và thiết bị trường học nghệ an trong 2 năm 2010 – 2011

90 878 8

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 90
Dung lượng 7,18 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

NHẬN THỨC CHUNG VỀ SÁCH GIÁO KHOA VÀ Ý NGHĨA CỦA HOẠT ĐỘNG TIÊU THỤ SÁCH GIÁO KHOA ĐỐI VỚI CÔNG TY CỔ PHẦN SÁCH VÀ THIẾT BỊ TRƯỜNG HỌC NGHỆ AN……… 8 1.1.. Sách giáo khoa phổ thông là tập

Trang 1

MỤC LỤC

Mục lục……… 1

Danh mục sơ đồ, bảng biểu……… 4

Danh mục từ viết tắt……… 4

LỜI MỞ ĐẦU……… 5

Chương 1 NHẬN THỨC CHUNG VỀ SÁCH GIÁO KHOA VÀ Ý NGHĨA CỦA HOẠT ĐỘNG TIÊU THỤ SÁCH GIÁO KHOA ĐỐI VỚI CÔNG TY CỔ PHẦN SÁCH VÀ THIẾT BỊ TRƯỜNG HỌC NGHỆ AN……… 8

1.1 Nhận thức chung về Sách giáo khoa……… 8

1.1.1 Khái niệm Sách……… 8

1.1.2 Khái niệm Sách giáo khoa……….10

1.2 Đặc điểm của Sách giáo khoa………13

1.2.1 Nội dung của Sách giáo khoa được trình bày theo hệ thống tri thức của môn học theo chương trình đã xác định……… 13

1.2.2 Nội dung của Sách giáo khoa được biên soạn theo chương trình của Bộ Giáo dục – Đào tạo……… 14

1.2.3 Sách giáo khoa có nội dung mang tính hệ thống tương ứng với từng môn học, bậc học, cấp học và có tính tương đối ổn định………16

1.2.4 Sách giáo khoa có tính phổ thông……….17

1.3 Nội dung của hoạt động tiêu thụ Sách giáo khoa………18

1.3.1 Hoạt động nghiên cứu nhu cầu thị trường………19

1.3.2 Tổ chức xây dựng kênh phân phối và thực hiện các hình thức tiêu thụ………20

1.3.2.1 Tổ chức các kênh phân phối……… 21

1.3.2.2 Các hình thức tiêu thụ……….23

1.3.3 Các biện pháp xúc tiên tiêu thụ……….27

Trang 2

1.4 Ý nghĩa của hoạt động tiêu thụ Sách giáo khoa đối với Công ty CP Sách và TBTH Nghệ An………30

1.4.1 Tiêu thụ mặt hàng Sách giáo khoa góp phần thúc đẩy sự phát triểnngành Giáo dục – Đào tạo của tỉnh Nghệ An……… 301.4.2 Đối với Công ty cổ phần Sách và TBTH Nghệ An……… 321.4.2.1 Góp phần giúp Công ty CP Sách và TBTH Nghệ An hoàn thành mụctiêu phục vụ nhiệm vụ xã hội trên địabàn……… 32

1.4.2.2 Tiêu thụ Sách giáo khoa trực tiếp mang lại hiệu quả kinh doanh choCông ty………331.4.2.3 Tiêu thụ Sách giáo khoa đảm bảo sự phát triển của Công ty……….34

Chương 2 THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG TIÊU THỤ SÁCH GIÁO KHOA TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN SÁCH VÀ TBTH NGHỆ AN TRONG

2 NĂM 2010 – 2011……… 37 2.1 Giới thiệu tổng quan về Công ty CP Sách và TBTH Nghệ An…… 37

2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển Công ty……… 372.1.2 Cơ cấu tổ chức của Công ty……… 38

2.2 Môi trường kinh doanh của Công ty CP Sách và TBTH Nghệ An…42

2.2.1 Môi trường Giáo dục – Đào tạo của tỉnh Nghệ An……… 422.2.2 Môi trường kinh tế……… 44

2.3 Thực trạng hoạt động tiêu thụ Sách giáo khoa tại Công ty CP Sách

và TBTH Nghệ An trong 2 năm 2010 – 2011……… 45

2.3.1 Tổ chức nghiên cứu nhu cầu Sách giáo khoa trên thị trường tỉnh NghệAn………452.3.2 Tổ chức hoạt động tiêu thụ Sách giáo khoa tại Công ty CP Sách vàTBTH Nghệ An trong 2 năm 2010 – 2011……….482.3.2.1 Tổ chức hoạt động xúc tiến tiêu thụ mặt hàng Sách giáo khoa…… 48

Trang 3

2.3.2.2 Tổ chức xây dựng kênh phân phối và thực hiện các hình thức tiêu

thụ………53

2.4 Kết quả hoạt động tiêu thụ Sách giáo khoa của Công ty CP Sách và TBTH Nghệ An trong 2 năm 2010 – 2011……… 58

2.5 Nhận xét chung……… 65

2.5.1 Những ưu điểm……… 65

2.5.2 Hạn chế cần khắc phục……….68

Chương 3 Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động tiêu thụ Sách giáo khoa tại Công ty CP Sách và TBTH Nghệ An……… 70

3.1 Dự báo nhu cầu tiêu thụ Sách giáo khoa của tỉnh Nghệ An trong những năm tới………70

3.2 Giải pháp đối với cơ quan quản lý Nhà nước và các đơn vị có liên quan……….71

3.3 Giải pháp đối với Công ty cổ phần Sách và TBTH Nghệ An………… 80

KẾT LUẬN………85

TÀI LIỆU THAM KHẢO………86 PHỤ LỤC ẢNH MINH HOẠ

Trang 4

DANH MỤC SƠ ĐỒ, BẢNG BIỂU

Sơ đồ 1 Tổ chức bộ máy quản lý……… 41

Sơ đồ 2 Kênh tiêu thụ Sách giáo khoa……… 55Bảng 1 Mức chiết khấu cho các đối tượng khách hàng……… 50Bảng 2 Tổng kết doanh số bán Sách giáo khoa năm 2010-2011………… 58Bảng 3 Tổng kết số lượng và doanh số Sách giáo khoa được tiêu thụ qua các kênh……… 60Bảng 4 Kết quả kinh doanh……… 62Bảng 5 Lợi nhuận ròng tiêu thụ Sách giáo khoa qua 2 năm 2010-2011… 64

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

Trang 5

“ Nguồn lực con người” – một yếu tố quyết định đến sự phát triển,hưng thịnh của nền kinh tế, văn hóa của đất nước Vì thế, vấn đề giáo dục vàđào tạo con người ngày càng trở nên bức thiết và luôn được đặt lên hàng đầu.

Từ trước đến nay, Đảng và Nhà nước ta luôn coi trọng vấn đề giáo dục,

vì giáo dục đóng vai trò chủ yếu và là một bộ phận cấu thành rất quan trọngtrong hệ thống kinh tế, xã hội quốc dân Đảng và Nhà nước ta đã khẳng định:

“Phát triển giáo dục và đào tạo là một trong những động lực quan trọng thúcđẩy sự nghiệp công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước, là điều kiện để pháthuy nguồn lực con người, yếu tố cơ bản để phát triển xã hội, tăng trưởng kinh

tế nhanh chóng và bền vững” Mảng sách giáo dục nói chung và sách giáokhoa nói riêng là công cụ cơ bản, thiết yếu để góp phần quan trọng vào việcthực hiện tốt các mục tiêu phát triển nguồn nhân lực có trình độ chuyên môncao

Xã hội ngày càng phát triển, đòi hỏi con người ta phải nâng cao trình

độ Do vậy nhu cầu sử dụng xuất bản phẩm, trong đó có sách giáo dục, đặcbiệt là sách giáo khoa ngày càng cao Xuất bản phẩm là một loại hàng hóa đặcthù nên hoạt động kinh doanh xuất bản phẩm cũng là một hoạt động kinhdoanh đặc thù, vừa thực hiện nhiệm vụ chính trị - xã hội, vừa đảm bảo mụctiêu kinh tế cho doanh nghiệp Để đạt được mục tiêu kinh doanh, các doanhnghiệp kinh doanh rất coi trọng khâu tiêu thụ sản phẩm

Tiêu thụ là khâu nghiệp vụ đầu ra đánh giá toàn bộ nỗ lực cũng như kếtquả kinh doanh của doanh nghiệp Công ty cổ phần Sách và TBTH Nghệ An– một Công ty rất có uy tín trong ngành và trên thị trường Để đáp ứng cácyêu cầu, nhiệm vụ đặt ra Công ty luôn đặc biệt coi trọng quá trình tiêu thụ sảnphẩm

Vì những lý do trên, sau gần 3 tháng thực tập tại Công ty CP Sách và

TBTH Nghệ An em đã lựa chọn đề tài: “ Hoạt động tiêu thụ Sách giáo khoa

Trang 6

tại Công ty cổ phần Sách và thiết bị trường học Nghệ An trong 2 năm 2010 – 2011” để làm đề tài cho bài khóa luận tốt nghiệp của mình.

2 Mục đích nghiên cứu

Bài khóa luận tập trung nghiên cứu vấn đề thực tiễn hoạt động tiêu thụSách giáo khoa ở Công ty cổ phần Sách và TBTH Nghệ An và đề xuất một sốgiải pháp để nâng cao hiệu quả của hoạt động này

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu là tìm hiểu hoạt động tiêu thụ Sách giáo khoa ở Công

ty CP Sách và TBTH Nghệ An

- Phạm vi nghiên cứu: đề tài tập trung nghiên cứu ở Công ty cổ phần Sách vàTBTH Nghệ An và các cửa hàng bán lẻ trực thuộc

4 Phương pháp nghiên cứu

Trong quá trình nghiên cứu, người viết đã sử dụng một số phương phápnghiên cứu sau:

- Phương pháp luận triết học

- Phương pháp thống kê

- Phương pháp so sánh

- Phương pháp phân tích tổng hợp

- Phương pháp điều tra xã hội học

5 Kết cấu của khóa luận

Ngoài phần mở đầu, phụ lục và kết luận, khóa luận được chia làm 3chương:

Chương 1 Nhận thức chung về Sách giáo khoa và ý nghĩa của hoạt động tiêu thụ SGK đối với Công ty CP Sách và TBTH Nghệ An

Chương 2 Thực trạng hoạt động tiêu thụ Sách giáo khoa ở Công ty cổ phần Sách và TBTH Nghệ An trong 2 năm 2010 – 2011

Trang 7

Chương 3 Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động tiêu thụ Sách giáo khoa tại Công ty cổ phần Sách và TBTH Nghệ An

Mặc dù đã có nhiều cố gắng để hoàn thành bài khóa luận nhưng do thờigian hạn hẹp và còn nhiều hạn chế về kinh nghiệm thực tế nên bài khóa luậnkhông thể tránh khỏi những thiếu sót Em kính mong nhận được sự ủng hộ, ýkiến đóng góp và giúp đỡ của các thầy cô để bài viết của em được hoàn thiện

Trong quá trình nghiên cứu đề tài, em đã nhận được sự giúp đỡ nhiệttình của các cô chú trong Công ty và sự giúp đỡ, đóng góp ý kiến của thầyhướng dẫn Th.s Nguyễn Văn Minh Qua đây em xin gửi lời cảm ơn chânthành tới các cô chú, anh chị trong Công ty cổ phần sách và thiết bị trườnghọc Nghệ An và thầy giáo Th.s Nguyễn Văn Minh

Chương 1 NHẬN THỨC CHUNG VỀ SÁCH GIÁO KHOA VÀ Ý NGHĨA CỦA HOẠT ĐỘNG TIÊU THỤ SGK ĐỐI VỚI CÔNG TY CP SÁCH VÀ TBTH

NGHỆ AN

Trang 8

1.1 Nhận thức chung về Sách giáo khoa

Khi xã hội ngày càng phát triển, đời sống vật chất và tinh thần củangười dân ngày càng được nâng cao thì nhu cầu học tập, nghiên cứu, nâng caotrình độ và hiểu biết cũng tăng Do vậy, học tập để nắm những kiến thức cơbản và để nâng cao trình độ đã trở thành nhu cầu phổ biến trong xã hội Hiệnnay có nhiều phương tiện giúp con người tiếp cận với tri thức như: Truyềnhình, đài báo, mạng internet, băng đĩa, Tuy nhiên, sự phát triển của côngnghệ hiện đại vẫn không thể phủ nhận được vai trò của sách – phương tiệnhọc tập truyền thống, giữ vai trò chủ đạo trong việc truyền bá tri thức, giáodục – đào tạo hiện nay

1.1.1 Khái niệm Sách

Sách là sản phẩm văn hóa tinh thần vĩ đại của nhân loại, là nhân tốquan trọng trong việc hình thành nhân cách con người Sách là phương tiệngiáo dục không thể thiếu trong nhà trường, có vai trò to lớn trong việc trang bịnhững kiến thức cơ bản nhất về thế giới quan, nhân sinh quan Đồng thời,thông qua sách chúng ta có điều kiện giới thiệu truyền thống văn hóa đất nướcvới bạn bè thế giới và tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại, những thành tựukhoa học tiên tiến trên thế giới Như vậy chúng ta có thể khẳng định sách làcông cụ học tập, nâng cao hiểu biết không thể thiếu trong quá trình phát triểnnền giáo dục – đào tạo nói riêng và sự phát triển đất nước ta nói chung

Theo Điều 4 – Luật Xuất bản Việt Nam năm 2005 đã quyết định: “Xuất bản phẩm là tác phẩm, tài liệu về chính trị, kinh tế, văn hóa, giáo dục vàđào tạo, khoa học và công nghệ, văn học, nghệ thuật được xuất bản bằng tiếngViệt, tiếng dân tộc thiểu số Việt Nam, tiếng nước ngoài và còn được thể hiệnbằng hình ảnh, âm thanh trên các vật liệu, phương tiện kỹ thuật khác nhau”.Xuất bản phẩm tại Điều 4 gồm:

Trang 9

1 Sách: sách giấy, sách điện tử, sách dành cho người khiếmthị

2 Tranh ảnh, bản đồ, áp phích, tờ rơi, tờ gấp có nội dung quyđịnh tại Điều 4 – Luật Xuất bản

Theo Từ điển Tiếng Việt: “ Sách là tập hợp một số lượng nhất địnhnhững tờ giấy có chữ in, đóng gộp thành quyển”.Từ định nghĩa này chúng ta

có thể nhận thấy đặc điểm cơ bản của sách đó là những tờ giấy được đóng lạithành quyển và trên bề mặt giấy được in chữ thể hiện nội dung mang lại chobạn đọc những thông tin cần thiết phục vụ nhu cầu học tập, giải trí và nghiêncứu Tuy nhiên, định nghĩa này thiên về nghiên cứu các loại sách truyền thống

là sách bằng giấy – loại sách có vai trò quan trọng trong nghiên cứu, học tập

và phổ biến nhất hiện nay

Theo http://gocdocsach.com có định nghĩa về sách như sau:

Trang 10

“ Sách là tập hợp các thông tin dạng chữ viết, hình ảnh, được lưu bằngcác tờ giấy, giấy da hoặc các vật liệu khác Mỗi mặt giấy được gọi là mộttrang sách Một quyển sách được sản xuất theo dạng điện tử được gọi là sáchđiện tử ( hay ebook) Trong thư viện sách có nhiều loại sách: sách thông tinkhoa học, sách dùng trong trường học, sách nghiên cứu hay sách tham khảotheo các chuyên đề Ngoài ra còn có các ấn phẩm xuất bản định kỳ như tạpchí, nhật ký, các tờ báo, ”.

Theo định nghĩa này thì sách không chỉ giới hạn ở những loại sách truyềnthống (in trên giấy) mà có cả những loại sách điện tử được lưu giữ trên cácchất liệu khác nhau như: đĩa mền, trên các trang mạng điện tử,…

1.1.2 Khái niệm Sách giáo khoa

Sách giáo khoa là bộ phận quan trọng nhất trong cơ cấu mặt hàng sáchgiáo dục, hợp thành tổng thể sách của xã hội Đây là loại sách chiếm số lượnglớn, khoảng 80% tổng số mặt hàng sách giáo dục

Theo Từ điển Tiếng Việt ( NXB Từ điển Bách Khoa năm 2006): “ Sáchgiáo khoa là loại sách được biên soạn theo chương trình giảng dạy ở trườnghọc”

Theo Luật Giáo dục năm 2005 Điều 25 quy định:

- Sách giáo khoa phải thể hiện mục tiêu, nguyên lý giáo dục,

cụ thể hóa nội dung, phương pháp giáo dục quy định trong chươngtrình giáo dục của từng bậc học, cấp học, lớp học

- Sách giáo khoa do Bộ Giáo dục và Đào tạo tổ chức biênsoạn và duyệt trên cơ sở thẩm định của Hội đồng quốc gia thẩm địnhsách giáo khoa để sử dụng chính thức, thống nhất, ổn định trong giảngdạy, học tập ở nhà trường và cơ sở giáo dục khác

- Nhà nước quản lý việc xuất bản, in và phát hành sách giáokhoa

Trang 11

Theo Điều 29 của Luật sửa đổi, bổ sung Luật Giáo dục năm 2009 thì:

“Sách giáo khoa cụ thể hóa các yêu cầu về nội dung, hình thức và kỹ năngquy định trong chương trình giáo dục của các môn học ở mỗi lớp của giáo dụcphổ thông, đáp ứng các yêu cầu về phương pháp giáo dục phổ thông”

Từ đó có thể nêu lên khái niệm về Sách giáo khoa như sau: “ Sách

giáo khoa là loại sách chứa đựng những tri thức khoa học, được biên soạn theo những môn học khác nhau gắn với chương trình giáo dục quốc gia, phù hợp với các cấp học, bậc học, ngành học.” (Trích Tập bài giảng môn

Mặt hàng sách)

Sách giáo khoa hiện nay bao gồm 2 dạng: Sách giáo khoa phổ thông vàSách giáo trình Sách giáo khoa phổ thông bao gồm 2 bộ phận: sách giáo khoahọc sinh và sách bài tập kèm theo sách giáo khoa; sách giáo trình là nhữngloại sách dành cho học sinh / sinh viên các trường Trung học / Cao đẳng / Đạihọc Sách giáo khoa phổ thông là tập hợp những tri thức cơ bản và chuẩn mựcđược biên soạn theo chương trình giáo dục quốc gia ứng với các cấp học, lớphọc cụ thể và được sử dụng thống nhất trong nhà trường phổ thông Sách giáokhoa phổ thông bao gồm:

SGK tiểu học: từ lớp 1 đến lớp 5SGK trung học: - SGK trung học cơ sở

- SGK trung học phổ thông

SGK cho chương trình mục tiêu: là dạng sách phục vụ cho cácđối tượng học tập theo chế độ đặc biệt của chương trình phổ thông như: sáchcho các chương trình xoá mù chữ, sách cho học sinh khuyết tật, sách cho họcsinh dân tộc thiểu số

Sách giáo trình là dạng tài liệu giáo khoa quan trọng nhất cho sinh viên

và giảng viên các trường Đại học, Cao đẳng Sách giáo trình thường đượcxuất bản theo đơn đặt hàng hoặc liên kết xuất bản; được sử dụng tại nhiều

Trang 12

trường đại học, cao đẳng có cùng chuyên ngành đào tạo Những năm gần đâysách giáo trình đang được khuyến khích xuất bản tại các trường đại học.

Chương trình giáo dục quốc gia được hiểu là những yêu cầu cụ thể vềnhững nội dung và chính sách đào tạo được nhà nước hoạch định mang tínhchiến lược phù hợp với từng thời kỳ, từng giai đoạn phát triển của đất nước.Theo tinh thần Nghị quyết TW4 khóa VII và Nghị quyết TW2 khóa VIII,trong những năm qua Nhà nước đã có những định hướng quan trọng đối vớingành giáo dục, cụ thể là đã thực hiện và có định hướng về đổi mới nội dungchương trình sách giáo khoa phổ thông từ năm 2010 đến năm 2020, hoànthành phổ cập giáo dục Tiểu học năm 2000, phổ cập giáo dục đối với cấpTrung học cơ sở từ năm 2000 đến năm 2010

Hiện nay, Bộ Giáo dục và Đào tạo đang biên soạn một số nội dungkhác như: Sách giáo khoa cho dân tộc thiểu số, cho người khuyết tật, bộ Sáchgiáo khoa điện tử, sau đó sẽ tiến hành dạy thí điểm Tuy nhiên, bộ sách giáokhoa phổ thông vẫn là là bộ sách không thể thay thế được

Như vậy có thể khẳng định Sách giáo khoa phổ thông là phương tiệnhọc tập không thể thiếu cho việc phổ biến những tri thức khoa học cơ bản vànâng cao kiến thức cho người học Theo quy định, Sách giáo khoa được dùngtrong nhà trường chứa đựng những kiến thức chuẩn mực mà học sinh phảitiếp thu Đây là loại sách được viết cho cả giáo viên và học sinh, nhưng chủyếu dành cho học sinh Do đó, Sách giáo khoa phổ thông phải đáp ứng cácyêu cầu: thể hiện đúng tinh thần của chương trình, mức độ chuẩn của kiếnthức, kết hợp tốt tính khoa học và tính sư phạm, nhất là phát huy tính năngđộng sáng tạo của học sinh

1.2 Đặc điểm của Sách giáo khoa

1.2.1 Nội dung của Sách giáo khoa được trình bày theo hệ thống tri thức của môn học và theo một chương trình đã xác định.

Trang 13

Nội dung của Sách giáo khoa gồm các kiến thức cơ bản, kỹ năng cũngnhư hệ phương pháp giảng dạy và học tập bộ môn Sách giáo khoa phải thểhiện được mục tiêu, nguyên lý giáo dục, cụ thể hóa nội dung, phương phápgiáo dục quy định trong chương trình giáo dục của từng bậc học, cấp học, lớphọc.

Trong mỗi môn học có những đặc điểm riêng, phù hợp với nội dung vàphương pháp nghiên cứu của bộ môn khoa học tương ứng Sách giáo khoachính là nơi mà sự phản ánh của bộ môn khoa học thành một môn học cụ thể.Mỗi môn học có những bài học cụ thể cho mỗi giờ lên lớp Những bài học đãđược biên soạn này được giáo viên truyền đạt cho học sinh nhằm đạt mục tiêudạy và học Quá trình này được thể hiện theo sơ đồ:

Từ khoa học cho đến môn học chịu sự chỉ đạo và chi phối của nhiềuđiều kiện khác nhau như: mục tiêu giáo dục, yêu cầu về nội dung, phươngpháp giáo dục quy định trong chương trình giáo dục của từng bậc học, cấphọc, lớp học Những điều kiện thực tế về giáo viên, học sinh và nhà trườnghiện tại cũng có những tác động đến Sách giáo khoa Bởi vậy, Sách giáo khoathể hiện chương trình bộ môn trong những điều kiện ràng buộc, nên Sách giáokhoa của một môn học chưa phải là khoa học về chuyên môn đó, mà chỉ là hệthống tri thức nhất định đã được xã định

Bên cạnh đó, mỗi môn học có những đặc điểm riêng, có những nét đặcthù của từng môn học Ví dụ như ở các môn khoa học tự nhiên và khoa học xãhội sẽ có những nét khác nhau đáng kể về phương pháp nghiên cứu Xuất phát

từ đặc điểm của quá trình nhận thức chương trình nên đòi hỏi trong từng mônhọc phải có khái niệm Nội dung được đề cập trong Sách giáo khoa của từng

Trang 14

môn học đòi hỏi phải phù hợp với mức độ, yêu cầu khác nhau của mỗi lớp,mỗi cấp Từ đây, phương pháp “ sư phạm” của Sách giáo khoa được giáo viênchuyển thành các bài học để giảng dạy cho học sinh nhằm thu được những kếtquả cao nhất.

1.2.2 Sách giáo khoa được biên soạn theo chương trình của Bộ Giáo dục – Đào tạo.

Sách giáo khoa có vị trí rất quan trọng, ở đó có đầy đủ những kiến thức

cơ bản, phổ biến nhất giúp học sinh vừa nắm những kiến thức cơ bản, hiệnđại, vừa phát huy khả năng tự học, tự nghiên cứu, là phương tiện để học sinhtiếp thu kiến thức mới, ôn tập củng cố những kiến thức đã học, trả lời các câuhỏi, làm bài tập về nhà Đồng thời, Sách giáo khoa cũng là chỗ dựa quantrọng, đáng tin cậy của giáo viên trong giảng dạy

Nội dung của Sách giáo khoa có tính chuẩn mực, bắt buộc về kiến thức,

về kỹ năng mà người dạy phải quán triệt và người học phải đạt tới nhằmthống nhất việc giảng dạy và học tập đối với từng loại trường lớp trong cảnước

Nội dung của Sách giáo khoa phổ thông được biên soạn theo chuẩnkiến thức do Hội đồng Quốc gia giáo dục và Bộ Giáo dục – Đào tạo phêchuẩn Hội đồng Quốc gia giáo dục do Thủ tướng chính phủ đứng đầu, thànhviên là các nhà giáo có uy tín của đất nước Hội đồng có trách nhiệm đưa ranhững quyết sách lớn hoạch định đường lối phát triển giáo dục và thông quachuẩn kiến thức cho chương trình giáo dục phổ thông Chuẩn kiến thức đượcthẩm định trên cơ sở:

- Đánh giá về mặt bằng giáo dục của Việt Nam với các nướctrong khu vực và trên thế giới

- Trình độ dân trí và khả năng tiếp cận với tri thức của họcsinh trong tương quan chung giữa các vùng miền

Trang 15

Học sinh sẽ tiếp thu kiến thức trong mối liên hệ tương quan giữa cácmôn học, lớp học, cấp học và bậc học Giáo viên sẽ lấy chuẩn kiến thức làmtiêu chí để đánh giá khả năng tiếp cận tri thức của học sinh.

Nội dung của Sách giáo khoa quy định học sinh phải tiếp thu các kháiniệm, các quy tắc, các công thức, các sự việc, Sách giáo khoa còn làm rõcác kỹ năng, kỹ xảo, những năng lực vận dụng và những thái độ ứng xử cơbản nhất; tập tổng kết, tổ chức các tri thức, thu thập các thông tin Sách giáokhoa còn giúp củng cố một cách hệ thống những điều đã học

Nội dung của Sách giáo khoa còn quy định rõ cả mối liên kết các trithức và kỹ năng ở giai đoạn trước và giai đoạn sau của cùng một môn học Nólàm rõ mối quan hệ của nhiều môn học trong cùng một lớp Bởi vậy, Sáchgiáo khoa là công cụ để giáo viên thực hiện được nhiệm vụ giảng dạy củamình, giúp giáo viên hướng dẫn, cung cấp tri thức nền tảng cho học sinh

Hiện nay, Sách giáo khoa được đổi mới theo hướng giảm tải chươngtrình, đảm bảo tính khoa học, tính khả thi, sự phân hóa của Sách giáo khoatheo chương trình chuẩn và Sách giáo khoa biên soạn theo chương trình nângcao Năm học 2006-2007 và 2007-2008, Sách giáo khoa lớp 10 và lớp 11được ban hành và áp dụng đại trà vào dạy học ở trường THPT trong cả nước.Đối với ban khoa học xã hội, học sinh được nâng cao ở các môn: Văn, Sử,Địa và sách giáo khoa chuẩn các môn còn lại Đối với ban khoa học tự nhiên,học sinh được nâng cao ở các môn: Toán, Lí, Hóa và sách giáo khoa theochương trình chuẩn các môn còn lại Còn với ban cơ bản, học sinh được họctheo chương trình chuẩn và tùy mỗi trường sẽ tự chọn trong số 8 môn học cónội dung nâng cao hoặc tổ chức cho học sinh học bổ sung thêm những nộidung nâng cao từ chương trình chuẩn theo yêu cầu của học sinh

1.2.3 Sách giáo khoa có nội dung mang tính hệ thống tương ứng với từng môn học, bậc học, cấp học và có tính ổn định tương đối.

Trang 16

Sách giáo khoa của một môn học sẽ tác động tới nhiều cấp học theo hệthống dọc và hệ thống ngang Sách giáo khoa của một môn học không phảichỉ có tác dụng trong một lớp mà có tác dụng trong nhiều lớp, đây là hệ thốngdọc của môn học Sách giáo khoa môn học của một lớp là cơ sở cho Sách giáokhoa của môn học đó cho những lớp tiếp theo Các môn học trong Sách giáokhoa còn có mối liên hệ ngang, đây là mối liên hệ hữu cơ giữa các môn họctrong cùng một lớp học Mỗi lớp học có nhiều môn học khác nhau, Sách giáokhoa của các môn học này cũng có mối liên hệ tương tác Mối liên hệ ngang

sẽ đảm bảo tăng thêm tính hiệu quả của Sách giáo khoa

Ở giáo dục phổ thông từ lớp 1 đến lớp 12, với mối liên hệ dọc và ngangthì đòi hỏi các kiến thức được trình bày trong Sách giáo khoa phải có tính ổnđịnh trong một thời gian tương đối dài Tính ổn định tương đối của Sách giáokhoa là yêu cầu về sự ổn định nội dung của Sách giáo khoa Sự ổn định nàyđược đặt ra mang tính tương đối về mặt thời gian để Sách giáo khoa vừa đápứng được sự ổn định nhất quán về nội dung chương trình vừa đảm bảo choviệc điều chỉnh, kịp thời bổ sung những kiến thức mới

Yếu tố thời gian trong sự ổn định tương đối của Sách giáo khoa phụthuộc vào vấn đề chủ quan và khách quan như:

- Chiến lược giáo dục của Quốc gia

- Sự điều chỉnh nội dung và chương trình giáo dục

- Sự phát triển của tri thức nhân loại (phát minh, sángchế, )

- Sự phát triển và thay đổi của xã hội (Chính trị, Lịch sử,Địa lý, Kinh tế, )

Việc theo dõi tính ổn định tương đối của Sách giáo khoa cần chú ý:Sách giáo khoa điều chỉnh quá nhanh thì học sinh sẽ tiếp thu lượng kiến thứckhông ổn định, gây tốn kém cho nhà nước và xã hội; Sách giáo khoa thay đổi

Trang 17

và điều chỉnh quá chậm thì Sách giáo khoa có thể bị lỗi thời, lạc hậu về nộidung tri thức Trên thế giới, ở các quốc gia có nền giáo dục phát triển, chu kỳthay Sách giáo khoa trung bình là từ 10 đến 15 năm.

Như vậy, nội dung của Sách giáo khoa cần đảm bảo tính ổn định tươngđổi vì khi có sự thay đổi kiến thức trong một môn học nào đó thì sẽ ảnhhưởng đến các môn học khác và ảnh hưởng đến khả năng tiếp thu của họcsinh Tuy nhiên, cũng không nên quan niệm tính ổn định tương đối một cáchcứng nhắc Khi cần thiết vẫn phải chỉnh lý nội dung Sách giáo khoa cho phùhợp với những thành tựu mới nhất của khoa học Mỗi lần cải cách giáo dục,chương trình các môn học thay đổi thì khi đó Sách giáo khoa đều phải đượcxây dựng lại cho phù hợp với mục tiêu yêu cầu về nội dung và phương phápgiáo dục

1.2.4 Sách giáo khoa có tính phổ thông.

Sách giáo khoa được biên soạn ra không phải chỉ dành cho người dạy,người học mà còn dành cho cả phụ huynh học sinh cũng như những ngườikhông đủ điều kiện đến trường nhưng có mong muốn học tập Do đó, các vấn

đề nêu ra trong Sách giáo khoa phải phù hợp với trình độ nhận thức của họcsinh ở mức trung bình hoặc cao hơn trong lớp, phải tương ứng với số tiết họcquy định

Nội dung của Sách giáo khoa phải cơ bản, cô đọng, súc tích Trongcùng một cuốn sách, phần sau phải kế thừa kiến thức của phần trước và phầntrước phải là nền tảng cho phần sau Ở mỗi bộ môn thì sách lớp này khôngđược trùng lặp, chồng lấn lên sách lớp trước mà chỉ vừa đủ để kế thừa, tiếpnối đồng thời lại đặt nền tảng kiến thức cơ bản cho lớp sau

Ngoài ra, ngôn ngữ trong Sách giáo khoa phải được sử dụng chính xác,phổ thông và trong sáng Mức độ khó và lượng từ mới phải phù hợp với tâm

Trang 18

sinh lý, với lứa tuổi để vừa truyền tải được nội dung, vừa dễ hiểu với học sinhmọi miền đất nước, thiể hiện rõ tính phổ thông của sách.

1.3 Nội dung của hoạt động tiêu thụ Sách giáo khoa

Tiêu thụ là khâu nghiệp vụ đầu ra đặc biệt quan trọng trong quá trình tổchức kinh doanh một sản phẩm hàng hóa Hiện nay có nhiều quan niệm khácnhau về tiêu thụ Việc hiểu đúng về hoạt động tiêu thụ sẽ giúp cho doanhnghiệp có định hướng đúng trong hoạt động kinh doanh của mình

“Tiêu thụ sách là một quá trình đầu tư công sức, trí tuệ và tiền của

để thực hiện việc trao đổi giá trị cho sách nhằm chuyển giao quyền sở hữu hàng hóa từ tay nhà sản xuất – kinh doanh đến người sử dụng sách, thỏa mãn nhu cầu của khách hàng và mang lại lợi ích cho nhà sản xuất – kinh doanh” (Trích Bài giảng môn Tổ chức tiêu thụ XBP)

Tiêu thụ sách là một hoạt động thương mại có bản chất là trao đổi hàng– tiền – hàng (H-T-H) Qua trình trao đổi này để giải quyết việc thoả mãn nhucầu của hai bên: người mua và người bán Kết thúc một quá trình trao đổihàng hoá, người mua được loại sách mà họ mong muốn và có quyền sở hữuloại sách đó; người bán nhận được lượng tiền mà họ mong muốn Khách hàng

có được sách để thoả mãn nhu cầu về các giá trị tri thức trong sách và các giátrị vật chất khác của hàng hoá, còn nhà tiêu thụ thu được tiền về để tái sảnxuất sức lao động, sức kinh doanh Quá trình thực hiện trao đổi đó là việcchuyển giao quyền sở hữu hàng hoá và giá trị tương ứng của nhau

Tiêu thụ sách nói riêng, hàng hóa nói chung là một quá trình sử dụngcác công cụ, phương tiện, sức lao động để đảm bảo cho quá trình di chuyểnhàng hóa đúng tiến độ, nhanh chóng từ tay người sản xuất đến kinh doanh.Tuy nhiên, việc sử dụng các công cụ, phương tiện, sức lao động còn phải phụthuộc vào điều kiện, tính chất hoạt động tiêu thụ, vào quy mô của nhà kinhdoanh

Trang 19

Sách giáo khoa là một dạng XBP đặc thù, vì vậy tiêu thụ SGK khôngnhững phải đảm bảo đem lại lợi ích cho nhà sản xuất – kinh doanh mà nó cònphải thực hiện được lợi ích xã hội Nội dung của hoạt động tiêu thụ Sách giáokhoa bao gồm:

1.3.1 Hoạt động nghiên cứu nhu cầu thị trường

Nghiên cứu nhu cầu là việc áp dụng các biện pháp kĩ thuật và nghiệp

vụ để xác định nhu cầu của khách hàng trong những khoảng thời gian vàkhông gian nhất định Quá trình nghiên cứu nhu cầu là quá trình thu thậpthông tin, số liệu liên quan đến nhu cầu sách, so sánh, phân tích những số liệu

đó và rút ra kết luận Hoạt động nghiên cứu nhu cầu thị trường là một hoạtđộng vô cùng quan trọng, nó là cơ sở để doanh nghiệp có thể đề ra nhữngchiến lược tiêu thụ hiệu quả Nhu cầu sách hiện nay rất đa dạng và phong phú,phát triển không ngừng theo thời gian và không gian

Để nghiên cứu nhu cầu thị trường thì người ta có thể sử dụng nhiềuphương pháp nghiên cứu khác nhau, nhưng thông thường chúng ta vẫnthường sử dụng 2 phương pháp nghiên cứu, đó là nghiên cứu nhu cầu tại vănphòng và nghiên cứu nhu cầu tại hiện trường

-Nghiên cứu tại văn phòng:

Là phương pháp thông qua các nguồn tài liệu đã được phổ biến Đây làphương pháp phổ thông nhất vì nó có nhiều ưu điểm như: đỡ tốn kém thờigian, tiền của, tận dụng được kết quả nghiên cứu của các cơ quan, tổ chức đãnghiên cứu trước đó Để có được kết quả tốt bằng phương pháp này thì ngườinghiên cứu cần phải phát hiện ra các nguồn thông tin tin cậy, chính xác, đầy

đủ và triệt để khai thác nguồn tài liệu đó Tuy nhiên nguồn thông tin khai thác

từ những tài liệu tại văn phòng cũng có mặt hạn chế của nó, đó là những vấn

đề này đã diễn ra và có thể không phù hợp với thực tiễn và tương lai Với

Trang 20

phương pháp này người nghiên cứu cần phải có trình độ và có cái nhìn kháchquan để có thể đánh giá chính xác những điều mà mình đã thu thập.

-Nghiên cứu tại hiện trường:

Đây là phương pháp quan trọng trong nghiên cứu nhu cầu Phươngpháp này chủ yếu thu thập thông tin bằng trực quan và qua các quan hệ củangười nghiên cứu với các doanh nghiệp hoặc người sử dụng hàng hóa Đây làmột phương pháp nghiên cứu khá phức tạp, nó đòi hỏi nhiều thời gian vàcũng tốn kém tiền của, vì sử dụng phương pháp này thì người nghiên cứu phải

đi thực tế tại hiện trường; phải có kế hoạch trước về nội dung nghiên cứu tạihiện trường, người nghiên cứu phải có trình độ chuyên môn và khả năng ứng

xử, đối phó với tình huống tốt; người nghiên cứu phải chọn địa điểm khảo sátthực tế, nội dung và mục đích nghiên cứu

Phương pháp này sẽ thu thập được số liệu đáng tin cậy Tác động củaphương pháp này đối với nhu cầu của khách hàng là rất lớn, nó có thể kíchthích nhu cầu khách hàng trong quá trình nghiên cứu

Sau khi đã tìm hiểu kĩ về nhu cầu thị trường, việc phân đoạn thị trường,nghiên cứu kĩ các nhóm khách hàng cũng cần được chú trọng Mỗi nhómkhách hàng lại có những sở thích, thị hiếu, thu nhập và khả năng chi trả choXBP khác nhau Do vậy, để thực hiện tốt hoạt động tiêu thụ thì nghiên cứunhu cầu thị trường, nhu cầu khách hàng là hoạt động không thể bỏ qua

1.3.2 Tổ chức kênh phân phối và thực hiện các hình thức tiêu thụ

1.3.2.1 Tổ chức các kênh phân phối

Kênh phân phối SGK được hình thành bởi các tuyến đi và phương thức

di chuyển hàng hóa, được tổ chức bởi hệ thống lực lượng trung gian làm chứcnăng di chuyển hàng hóa liên tục từ tay nhà sản xuất đến người mua cuốicùng nhằm thỏa mãn nhu cầu khách hàng và đạt được mục tiêu của nhà kinhdoanh Quá trình di chuyển hàng hóa từ nhà xuất bản đến người tiêu dùng ít

Trang 21

nhất có một lần chuyển giao quyền sở hữu Kênh phân phối bao gồm 3 bộphận: nhà sản xuất, lực lượng trung gian, người tiêu dùng cuối cùng Để tổchức kênh phân phối cần căn cứ vào hàng hóa, nhu cầu thị trường và chiếnlược kinh doanh của doanh nghiệp.

Tổ chức kênh phân phối góp phần quan trọng hỗ trợ tích cực cho tiêuthụ mặt hàng sách giáo khoa của doanh nghiệp Quá trình xây dựng kênhphân phối cần chú ý đến các yếu tố và điều kiện để kết hợp chặt chẽ giữa nhàxuất bản với các lực lượng trung gian trong vận chuyển hàng hóa nhằm tạođiều kiện tốt nhất để thực hiện mục đích tiêu thụ mặt hàng sách giáo khoatrong kỳ kinh doanh

Các loại kênh phân phối được sử dụng trong kinh doanh XBP nóichung và kinh doanh sách nói riêng:

- Kênh phân phối loại dài: là kênh phân phối mà XBP di chuyển qua tay

nhiều nhà trung gian mới đến được người mua cuối cùng, đồng thời XBP dichuyển phải trải qua thời gian dài mới đến được đích cuối cùng

Để đưa hàng hóa XBP vào kênh dài đòi hỏi nhà phân phối phải xácđịnh được lực lượng trung gian tham gia vào kênh và phải di chuyển hàng hóathường xuyên, liên tục Quá trình di chuyển hàng hóa phải chi phí một khoảngthời gian nhất định để đảm bảo cho hàng hóa có thể di chuyển đến các thịtrường khác nhau, đồng thời quá trình này cũng cần phải có đủ chi phí về tàichính cho các lực lượng tham gia trong kênh

Hàng hóa XBP, đặc biệt là sách khi được đưa vào kênh phân phối loạidài thì khả năng tuyên truyền, phổ biến, giáo dục của XBP là rất lớn; nhà kinhdoanh sử dụng kênh phân phối loại dài sẽ thu hút được nhiều lực lượng trunggian tham gia vào kênh, từ đó sẽ có khả năng mở rộng thị trường, mở rộngmối quan hệ trên thị trường; doanh nghiệp kinh doanh sử dụng kênh phânphối loại dài cũng sẽ hạn chế được rủi ro trong quá trình kinh doanh; đặc biệt

Trang 22

hàng hóa XBP khi tham gia vào kênh phân phối loại dài sẽ có khả năng loạitrừ, hạn chế được những XBP không đúng với định hướng của Đảng và Nhànước Tuy nhiên, kênh phân phối loại dài cũng còn có những hạn chế nhấtđịnh như: tốc độ di chuyển hàng hóa chậm dẫn đến chi phí cho quá trình dichuyển cao,khả năng thu hồi vố chậm; khả năng XBP bị lạc hậu, nhu cầu trênthị trường bị bão hòa, dễ dẫn đến khả năng hàng bị tồn kho, ế đọng Mặc dùnhư vậy nhưng kênh phân phối loại dài vẫn được sử dụng phổ biến hiện nay.

- Kênh phân phối loại ngắn: là kênh phân phối mà Sách giáo khoa trực tiếp

hoặc chỉ đi qua một nhà trung gian đến tay người mua cuối cùng

Lực lượng trung gian tham gia vào kênh phân phối loại ngắn ít, do đóhàng hóa được đưa ngay ra thị trường để bán, đó thường là thị trường trọngđiểm, thị trường trung tâm của nhà sản xuất, nhà cung cấp độc quyền Vớiphạm vi hẹp, thời gian di chuyển ngắn, tốc độ di chuyển nhanh nên khả năngthu hồi vốn sẽ nhanh và lợi nhuận mang lại có thể cao hơn so với kênh dài.Hàng hóa XBP khi được đưa vào kênh ngắn sẽ có khả năng đáp ứng nhanh,kịp thời nhu cầu của khách hàng Đồng thời giảm được chi phí dự trữ, lưu khocủa hàng hóa

Tuy nhiên, hàng hóa XBP nói chung khi đưa vào kênh ngắn thì sẽ khókiểm soát nội dung, khó quản lý trên thị trường Vì vậy nó sẽ tạo nên sự xáođộng trên thị trường, từ đó sẽ làm ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh vàmức độ hưởng thụ tri thức của xã hội Đồng thời, không phải loại XBP nàocũng có thể đưa vào kênh ngắn ( kênh ngắn có sự kén chọn hàng hóa tham giavào kênh)

- Kênh phân phối rộng:

Là sự kết hợp giữa 2 hoặc nhiều nhà tiêu thụ cùng cấp để khai thác các

cơ hội kinh doanh mới Thông qua việc kết hợp các doanh nghiệp có thể gópvốn, góp sức sản xuất hoặc các nguồn lực khác để đưa vào những hướng khác

Trang 23

nhau trên một thị trường nhất định Sử dụng kênh này thì hàng hóa sẽ đến tayngười sử dụng nhanh hơn sơ với kênh dài, thậm chí còn nhanh hơn so vớikênh ngắn, hình thành những cụm thị trường có điều kiện và đặc điểm đồngnhất, tạo ra khả năng tổ chức các mối quan hệ hiệu quả Hạn chế của kênhphân phối này là không có khả năng chuyển tải nhiều hàng hóa với nhữngchủng loại, mẫu mã đa dạng, không phải lúc nào cũng có thể tổ chức được vàkhông phải hàng hóa nào cũng có thể đưa vào được kênh rộng này.

1.3.2.2 Các hình thức tiêu thụ

Trong nền kinh tế thị trường hiện nay, nhu cầu của khách hàng về cácloại hàng hóa nói chung ngày càng đa dạng, đòi hỏi người bán phải sử dụngnhiều cách thức khác nhau để bán hàng Mỗi cách thức có những kĩ năng khácnhau, đòi hỏi các nhà kinh doanh phải thực hiện những hành vi khác nhau phùhợp với loại hàng hóa, môi trường kinh doanh và phù hợp với quy mô, tínhchất của nhà kinh doanh Để thỏa mãn nhu cầu ngày càng phức tạp của kháchhàng, đòi hỏi các nhà kinh doanh, nhà tiêu thụ phải nghiên cứu, tìm hiểu, lựachọn cách thức bán hàng phù hợp để hoạt động bán hàng đạt hiệu quả caonhất

“Hình thức tiêu thụ XBP là những cách thức bán hàng mà tổ chứcdoanh nghiệp sử dụng tại những địa điểm và thời gian nhất định tương ứngvới các nhóm đối tượng khách hàng nhất định”

Các hình thức tiêu thụ Sách giáo khoa được các doanh nghiệp kinhdoanh sử dụng hiện nay:

- Tiêu thụ tại điểm cố định:

Đây là hình thức tiêu thụ giữ vị trí quan trọng vì nó không chỉ đáp ứng

về khối lượng, chủng loại hàng hóa, mức độ thỏa mãn nhu cầu mà còn tạo rahình ảnh, thương hiêu cho doanh nghiệp

Trang 24

“Tiêu thụ tại điểm cố định là tiêu thụ XBP ở những địa điểm nhất định,thường xuyên liên tục và sử dụng một hệ thống cửa hàng, cửa hiệu, các ki ốt

và các trang thiết bị khác nhằm thỏa mãn nhu cầu XBP của đông đảo kháchhàng.”

Hàng hóa XBP khi được đưa vào tiêu thụ tại điểm cố định thì thườngphong phú đa dạng với khối lượng lớn; thị trường là thị trường quen thuộc và

là thị trường trọng điểm của doanh nghiệp Tiêu thụ hàng hóa tại những điểm

cố định thì doanh nghiệp có điều kiện sử dụng nhiêu cách thức, biện pháp bánhàng như: bán tự chọn, bán buôn hay bán trực tiếp Đồng thời, doanh nghiệpcũng có nhiều điều kiện để đầu tư trang thiết bị, cơ sở vật chất kĩ thuật hiệnđại để phục vụ cho công tác bán hàng Những điểm bán cố định này đượchoạt động thường xuyên, liên tục theo nguyên tắc nhất định mà nhà kinhdoanh đã đề ra

Nhà tiêu thụ khi mang hàng hóa của mình đi tiêu thụ ở những điểm cốđịnh thì cần chú ý tới việc sắp xếp, trưng bày hàng hóa theo tính chất, đặcđiểm, điều kiện của cửa hàng với mục tiêu tạo ra sự hấp dẫn cho cửa hàng, sựhấp dẫn cho hàng hóa và tạo ra sự hấp dẫn cho chính người bán hàng Bêncạnh đó còn phải chú ý tới việc bố trí các trang thiết bị và dụng cụ phục vụbán hàng Tùy theo tính chất của hoạt động bán hàng mà doanh nghiệp lựachọn cho mình cách tổ chức phục vụ khách hàng một cách hợp lý nhất Doanhnghiệp có thể lựa chọn cách bán hàng trực tiếp hoặc ban buôn hoặc bán tựchọn

Tiêu thụ XBP tại điểm cố định mang lại cho doanh nghiệp kinh doanhnhiều ưu điểm vượt trội, góp phần quan trọng giúp doanh nghiệp ngày càngphát triển Tiêu thụ XBP nói chung và SGK nói riêng tại điểm cố định manglại doanh số lớn cho doanh nghiệp (chiếm tới khoảng 80% doanh số) Hìnhthức tiêu thụ này sẽ là cơ sở cho doanh nghiệp thực hiện các hình thức tiêu

Trang 25

thụ khác như: bán hàng ở các điểm lưu động, bán hàng qua mạng, và thựchiện được các cách thức, biện pháp bán khác nhau Các nhà sách, các điểmtiêu thụ cố định là bộ mặt của doanh nghiệp, do đó phong cách tiêu thụ tạiđiểm cố định sẽ thể hiện bộ mặt của doanh nghiệp đó trên thị trường như thếnào, nó sẽ tạo ra phong cách phụ vụ riêng cho từng doanh nghiệp Và từ đó sẽgiúp doanh nghiệp hình thành được đội ngũ khách hàng quen thuộc.

Tuy nhiên, hoạt động tiêu thụ XBP tại điểm cố định cần đầu tư lớn về

cơ sở vật chất, trang thiết bị kĩ thuật để phục vụ cho công tác tiêu thụ Đồngthời phải đầu tư xây dựng đội ngũ nhân viên bán hàng chuyên nghiệp, giỏi vềchuyên môn, khóe léo trong cách ứng xử với khách hàng Nhân viên bán hàng

là người trực tiếp tiếp xúc với khách hàng, do đó khả năng giao tiếp và ứng

xử là điều rất cần được đào tạo

- Tiêu thụ XBP tại điểm lưu động:

“Tiêu thụ XBP tại điểm lưu động là việc tổ chức mang các XBP ra khỏicửa hàng hoặc địa điểm của doanh nghiệp, của tổ chức để đến một điểm xácđịnh trong những khoảng thời gian nhất định và phục vụ cho những nhómkhách hàng nhất định” Những địa điểm mà doanh nghiệp mang hàng hóaXBP đến tiêu thụ trong những khoảng thời gian nhất định này là những thịtrường mới được xác định ngoài khu vực kiểm soát của doanh nghiệp, chỉthực hiện tiêu thụ trong một thời điểm nhất định và chỉ phục vụ được một sốđối tượng khách hàng nhất định Tiêu thụ XBP tại những điểm này thì doanhnghiệp chỉ mang theo một số loại hàng hóa XBP phù hợp với nhu cầu thịtrường ở đấy Thị trường mới được xác định này có thể thường được cácdoanh nghiệp tổ chức tại các trường học, cơ quan, các hội chợ triển lãm

Tiêu thụ XBP tại điểm lưu động thì doanh nghiệp sẽ có điều kiện giớithiệu, quảng bá hàng hóa và tổ chức doanh nghiệp trên thị trường XBP, đặcbiệt đối với thị trường mới và khách hàng tiềm năng Do mang hàng hóa đến

Trang 26

tận các khu dân cư, trường học, cơ quan nên hình thức tiêu thụ này đã gópphần thỏa mãn tốt nhất nhu cầu XBP cho khách hàng, đặc biệt là nhóm kháchhàng không có điều kiện đến các cửa hàng, đến các điểm bán cố định củadoanh nghiệp Đồng thời tạo cơ hội tìm kiếm khách hàng mới và mở rộng thịtrường trọng điểm cho doanh nghiệp Từ đó sẽ giúp doanh nghiệp tăng khảnăng cạnh tranh trên thị trường và nâng cao hiệu quả kinh doanh Khi manghàng hóa đến các điểm lưu động để tiêu thụ thì doanh nghiệp sẽ nắm bắt nhucầu mới nhanh hơn và từ đó sẽ nhanh chóng đáp ứng nhu cầu mới của kháchhàng Do đó doanh nghiệp sẽ nhanh chóng thiết lập được quan hệ với kháchhàng mới, gia tăng đội ngũ khách hàng mới cho doanh nghiệp mình.

Bên cạnh những ưu điểm mà tiêu thụ XBP tại điểm lưu động mang lạithì hình thức tiêu thụ này cũng còn có những hạn chế mà doanh nghiệp kinhdoanh cần chú ý khắc phục như: doanh nghiệp sẽ phải chi phí một khoảntương đối lớn cho quá trình vận chuyển hàng hóa ra thị trường mới; việc quản

lý hàng hóa gặp khó khăn; hàng hóa không phu phú đa dạng nên giới hạn đốitượng phục vụ; khó sử dụng các phương thức bán hàng khác; khó thực hiệnvăn hóa bán hàng

- Tiêu thụ XBP qua mạng internet:

Là hình thức tiêu thụ sử dụng công nghệ để thực hiện việc bán hàng.Doanh nghiệp có thể phục vụ nhu cầu khách hàng trên thị trường rộng lớn vớiđông đảo các nhóm đối tượng khách hàng khác nhau Hình thức này giúpdoanh nghiệp có thể tiêu thụ được hàng hóa với số lượng lớn và đạt hiệu quảcao Đây là một hình thức tiêu thụ đòi hỏi yêu cầu cao về cơ sở vật chất kĩthuật hạ tầng như phải có hệ thống máy tính, lập trang web bán hàng và cácphương tiện kĩ thuật khác có liên quan Đội ngũ bán hàng phải đáp ứng đượcyêu cầu về trình độ tin học và ngoại ngữ

1.3.3 Các biện pháp xúc tiến tiêu thụ

Trang 27

Xúc tiến tiêu thụ XBP là biện pháp thương mại bao gồm rất nhiều công

cụ nhằm kích thích và thu hút khách hàng mua hàng hóa XBP của doanhnghiệp Các công cụ bao gồm: tuyên truyền quảng cáo, khuyến mãi khuyếnmại, kỹ năng giao tiếp bán hàng, hội chợ triển lãm

Theo Luật Thương mại năm 2005: Xúc tiến thương mại là hoạt độngthúc đẩy, tìm kiếm cơ hội mua bán hàng hóa và cung ứng dịch vụ, bao gồmcác hoạt động khuyến mại, quảng cáo, trưng bày, giới thiệu hàng hóa dịch vụ

và hội chợ triển lãm thương mại Mục đích của hoạt động cúc tiến thương mại

là nhằm thúc đẩy, tìm kiếm cơ hội mua bán hàng hóa và cung ứng dịch vụnhằm đạt hiệu quả cao

Các biện pháp xúc tiến tiêu thụ làm cho hàng hóa trở nên hấp dẫn hơn,thu hút được khách hàng, bán hàng nhanh hơn, nhiêu hơn và mang lại hiêuquả kinh tế cao hơn, góp phần tạo dựng tốt hình ảnh của doanh nghiệp trên thịtrường

Các biện pháp xúc tiến tiêu thụ hiện nay gồm:

- Tuyên truyền quảng cáo:

Là việc sử dụng công cụ, phương tiện hay hình thức, thông tin nào đó

có tính kích thích và truyền cảm nhằm tạo nên sự chú ý, tập trung, làm hìnhthành và thúc đẩy nhu cầu tiêu dùng của công chúng

Tuyên truyền quảng cáo được thể hiện qua cách sắp xếp, phân loại,trưng bày hàng hóa một cách hợp lý, khoa học Có 2 cách tuyên truyền quảngcáo cơ bản trong kinh doanh XBP: quảng cáo trong cửa hàng và quảng cáongoài cửa hàng Quảng cáo trong cửa hàng cần chú ý tới cách sắp xếp, phânloại, trưng bày hàng hóa Trưng bày hàng hóa trong cửa hàng cần căn cứ vàokhông gian cửa hàng, mục đích khuyếch trương, căn cứ vào hàng hóa, khảnăng của nhà tiêu thụ và thị trường mà nhà tiêu thụ hướng tới Tuyên truyềnquảng cáo qua các biển đề, biển chỉ dẫn, có thể qua đội ngũ nhân viên bán

Trang 28

hàng với kỹ năng bán hàng chuyên nghiệp Ngoài ra, tuyên truyền quảng cáothông qua các biển hiệu, pano, apphích, thông qua các phương tiện thông tinđại chúng Đây là biện pháp xúc tiến tiêu thụ gây được ấn tượng mạnh mẽ đếnkhách hàng Tuy nhiên, hoạt động quảng cáo không phải là sự phô trương,đánh lừa khách hàng mà là thông tin cho khách hàng biết về đặc điểm của sảnphẩm, thu hút sự chú ý của khách hàng.

- Hội chợ triển lãm:

Hội chợ triển lãm là một hoạt động xúc tiến thương mại tập trung vớinhững hành vi của nhà tiêu thụ thông qua việc tổ chức mang hàng hóa đếnmột địa điểm nhất định cùng với các đối tác khác để khuyếch trương quảng báhàng hóa và bán hàng

Hội chợ triển lãm thương mại là hoạt động xúc tiến thương mại đượcthực hiện tập trung trong một thời gian và tại một địa điểm nhất định đểthương nhân trưng bày, giới thiệu hàng hóa, dịch vụ nhằm mục đích thúc đẩy,tìm kiếm cơ hội giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa, hợp động dịch vụ Hộichợ được tổ chức để các cá nhân, tổ chức, doanh nghiệp quảng cáo, quảng básản phẩm, dịch vụ, thương hiệu

Tham gia hội chợ triển lãm sẽ giúp cho doanh nghiệp có điều kiện, cơhội để khuyếch trương, quảng cáo hàng hóa doanh nghiệp, từ đó có thể thựchiện được mục tiêu bán hàng tốt nhất Hội chợ triển lãm sẽ làm cho hàng hóahấp dẫn hơn đối với khách hàng và đối tác, tạo cơ hội để doanh nghiệp tiếpcận với khách hàng mục tiêu nhanh hơn Tham gia hội chợ triển lãm sẽ giúpcho nhà tiêu thụ tổ chức thêm được các quan hệ trong mua bán hàng hóa, giúpdoanh nghiệp có điều kiện khẳng định mình, tạo ra uy tín, thương hiệu trên thịtrường Đồng thời, biện pháp xúc tiến tiêu thụ này sẽ tạo cơ hội để thu thậpnhững thông tin cần thiết về nhu cầu khách hàng, về đối thủ cạnh tranh, từ đó

sẽ có cơ hội mở rộng thị trường, mang lại hiệu quả kinh tế xã hội

Trang 29

- Khuyến mại, khuyến mãi:

Khuyến mãi là hoạt động xúc tiến thương mại của thương nhân nhằmxúc tiến việc mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ bằng cách dành cho kháchhàng những lợi ích nhất định

Mục đích của khuyến mãi, khuyến mại là kích cầu tiêu dùng, thúc đẩyngười tiêu dùng mua và bán nhiều hơn các hàng hóa, dịch vụ mà doanhnghiệp cung cấp hoặc phân phối

Trong quá trình tổ chức hoạt động bán hàng, các doanh nghiệp thườngxuyên xây dựng các chiến lược khuyến mại Chiến lược này chỉ diễn ra trongnhững khoảng thời gian và không gian nhất định nhằm đạt được mục tiêu nhấtđịnh thu hút khách hàng đến với hàng hóa của doanh nghiệp Khuyến mãi chỉ

áp dụng với một số hàng hóa nhất định như: hàng hóa khó bán và hàng hóamới để chào hàng

- Kỹ năng giao tiếp bán hàng:

Giao tiếp là một hoạt động tiếp xúc trực tiếp hoặc gián tiếp nhằm xáclập mối quan hệ giữa con người với con người trong đời sống xã hội, thôngqua các công cụ như: ngôn ngữ, tiếng nói, hành vi, tâm lý nhằm thỏa mãnnhững nhu cầu nhất định Giao tiếp bắt buộc phải tuân theo những nguyên tắcnhất định: những chuẩn mực văn hóa, đạo đức, lối sống, phong tục, tập quán

và truyền thống văn hóa công đồng người, biểu hiện trong quan hệ giữa người

và người

Giao tiếp bán hàng là một quá trình vận dụng nghệ thuật nói chuyện đểhướng đối tượng đến một vấn đề gì đó thuộc lĩnh vực kinh doanh XBP vànhững vấn đề có liên quan Nó diễn ra trong những không gian, thời gian cụthể nhằm đạt được những mục tiêu cụ thể

1.4 Ý nghĩa của hoạt động tiêu thụ SGK đối với Công ty CP sách và TBTH Nghệ An

Trang 30

1.4.1 Tiêu thụ mặt hàng SGK góp phần thúc đẩy sự phát triển của ngành Giáo dục và Đào tạo của tỉnh Nghệ An

Đảng và Nhà nước ta luôn coi “ Giáo dục là quốc sách hàng đầu” Theotài liệu giáo dục của Liên Hợp Quốc, có ba yếu tố quyết định chất lượng giáodục của một quốc gia là: hệ thống tổ chức giáo dục, hệ thông chương trình vàSGK, thiết bị dạy học, giáo viên Để có một nền giáo dục phát triển thì khôngthể thiếu Sách giáo khoa

Sách giáo khoa là công cụ giáo dục hữu ích và gần gũi nhất đối với họcsinh và giáo viên Nó cung cấp những kiến thức cơ bản nền tảng nhất chongười học Do đó hoạt động tổ chức tiêu thụ mặt hàng Sách giáo khoa có ýnghĩa to lớn đối với sự phát triển của ngành Giáo dục – Đào tạo nước ta nóichung và của tỉnh Nghệ An nói riêng

Trong hoạt động Giáo dục – Đào tạo, người thầy luôn đóng vai trò vôcùng quan trọng trong việc cung cấp cho các em học sinh những kiến thức cơbản về phương pháp tư duy, khả năng nhìn nhận vấn đề, khả năng nhận xét vàphán đoán Những kiến thức trong mỗi bài giảng của giáo viên có ảnh hưởng,tác động nhất định đến khả năng nhận thức tư duy của học sinh Vì vậy,phương pháp giảng dạy của giáo viên đóng vai trò rất quan trọng

Sách giáo khoa cung cấp cho người học những kiến thức cơ bản, chuẩnmực và được sử dụng thống nhất bắt buộc trong nhà trường Trên cơ sở nộidung của SGK, giáo viên sẽ truyền đạt cho học sinh những kiến thức cơ bảnnhất về thế giới xung quanh và từ đó có thể mở rộng kiến thức cho học sinh

Hoạt động tiêu thụ SGK đạt hiệu quả cao tức là SGK được tiêu thụ với

số lượng lớn và đến được tay nhiều người sử dụng (chủ yếu là học sinh vàgiáo viên) Làm được điều này tức là Sách giáo khoa đã góp phần quan trọngvào việc đổi mới phương pháp giảng dạy của giáo viên và phát triển ngànhGiáo dục – Đào tạo của đất nước

Trang 31

Thông qua quá trình học tập, học sinh được tiếp cận các lĩnh vực trithức khác nhau thông qua các môn học khác nhau của chương trình đào tạo.Xuất bản phẩm giáo dục là phương tiện lưu giữ và truyền tải những kiến thức

cơ bản, đầy đủ nhất một cách rộng khắp và đồng loạt cho mọi người trong quátrình học tập Trong đó, Sách giáo khoa cung cấp những kiến thức chuẩn mựcnhằm trang bị cho người học những tri thức khoa học nền tảng

Trong những năm gần đây, Bộ Giáo dục – Đào tạo đã thực hiện cảicách nội dung SGK Theo đó, các em học sinh phổ thông thuộc các khối lớp

đã được học những bộ sách mới Bộ SGK mới không chỉ đẹp về hình thức mànội dung đã được biên soạn khoa học hơn Nhiều kiến thức mới đã được bổsung, thay thế, kịp thời đáp ứng nhu cầu cập nhật thông tin

Hoạt động tiêu thụ SGK có ý nghĩa giáo dục rất to lớn, đã góp phầnnâng cao chất lượng học tập của học sinh và nâng cao hiêu quả giảng dạy củagiáo viên Thông qua việc cung cấp nhanh chóng, đồng bộ, kịp thời SGK đếntay người sử dụng, góp phần tạo nên sự phát triển nền giáo dục nước nhà Vìthế hoạt động tiêu thụ Sách giáo khoa đã và đang góp phần to lớn vào việcnâng cao dân trí, đào tạo nguồn nhân lực và bồi dưỡng nhân tài cho đất nước.Nguồn nhân lực ngày càng được nâng cao về số lượng va chất lượng Đây làmột nguồn lực quan trọng để phát triển kinh tế, xã hội đất nước Rất nhiều trithức khoa học chuẩn mực được người học tiếp thu thừ SGK và dần đượcnghiên cứu sâu hơn để áp dụng vào đời sống Như vậy hoạt động tổ chức tiêuthụ Sách giáo khoa đã góp phần quan trọng vào việc phát triển của ngànhGiáo dục – Đào tạo tỉnh Nghệ An nói riêng và của đất nước nói chung

1.4.2 Đối với Công ty CP Sách và TBTH Nghệ An

1.4.2.1 Góp phần giúp Công ty CP Sách và TBTH Nghệ An hoàn thành mục tiêu phục vụ nhiệm vụ xã hội trên địa bàn tỉnh.

Trang 32

Sách giáo dục nói chung và Sách giáo khoa nói riêng là một mặt hàngđặc thù, do đó kinh doanh Sách giáo khoa cũng là một hoạt động kinh doanhđặc thù Vì nó vừa phải đảm bảo mục tiêu phổ biến tri thức, phục vụ văn hóa– xã hội, vừa phải đảm bảo kinh doanh có lãi, đem lại hiệu quả kinh tế chodoanh nghiệp nói riêng và cho ngành nói chung.

Tiêu thụ SGK góp phần truyền tải chủ trương, đường lối, chính sáchcủa Đảng và Nhà nước ta về giáo dục Trong điều kiện hiện nay, hoạt độngnày ngày càng góp phần to lớn và trực tiếp vào chiến lược phát triển giáo dụccủa tỉnh Nghệ An nói riêng và nền giáo dục nước nhà nói chung Công ty CPSách và TBTH Nghệ An là một đơn vị chịu sự quản lý trực tiếp của Sở Giáodục và Đào tạo Nghệ An, và đến ngày 12/08/2010 vừa qua thì Công ty đãchính thức được tiếp nhận trở thành đơn vị thành viên của Nhà xuất bản Giáodục Việt Nam Từ khi thành lập cho tới nay, Công ty CP Sách và TBTH Nghệ

An đã thực hiện nhiệm vụ xã hội trên địa bàn tỉnh thông qua hoạt động pháthành sách giáo dục nói chung cũng như phát hành một lượng lớn Sách giáokhoa nói riêng Công ty đã tổ chức phân phối, di chuyển một khối lượng lớnSách giáo khoa đến các trường học trên khắp địa bàn tỉnh nhằm thỏa mãn nhucầu tiếp cận, nghiên cứu các tri thức khoa học và kiến thức xã hội Hoạt độngtiêu thụ SGK càng đạt hiệu quả thì tri thức khoa học càng được phổ biến rộngrãi đến mọi người, từ đó nâng cao chất lượng dạy và học của thầy và trò, gópphần tích cực vào việc thực hiện mục tiêu giáo dục của quốc gia nói chung vàcủa tỉnh Nghệ An nói riêng

Hàng năm, Công ty CP Sách và TBTH Nghệ An đã tổ chức tiêu thụmột số lượng lớn Sách giáo khoa phục vụ cho học sinh phổ thông từ Tiểu họcđến Trung học trên địa bàn Nghệ An, đảm bảo cho các em có đầy đủ sách chonăm học mới Sách giáo khoa được tiêu thụ thông qua hệ thống Phòng Giáodục của Sở và của các huyện, các thư viện trường, các đại lý, cửa hàng và

Trang 33

khách hàng mua lẻ tại các hệ thống cửa hàng của Công ty Công ty đã xâydựng được hệ thống các cửa hàng bán lẻ nằm rải các ở các huyện, bổ sungthêm cho các thư viện trường học, giúp Công ty tiêu thụ tốt lượng Sách giáokhoa mỗi năm.

Như vậy, thông qua hoạt động tiêu thụ Sách giáo khoa, Công ty CPSách và TBTH Nghệ An đã hoàn thành tốt nhiệm vụ xã hội của mình, đâychính là cầu nối giữa Sách giáo khoa với người sử dụng, góp phần quan trọngvào việc nâng cao dân trí, đẩy mạnh sự phát triển nhanh chóng của nền giáodục tỉnh nhà

1.4.2.2 Tiêu thụ Sách giáo khoa trực tiếp mang lại hiệu quả kinh doanh cho Công ty

Sách giáo khoa là mặt hàng chính trong cơ cấu mặt hàng kinh doanhcủa Công ty CP Sách và TBTH Nghệ An Ngoài mục tiêu phục vụ các nhiệm

vụ xã hội, Công ty cũng không ngừng cố gắng đưa ra các biện pháp tiêu thụ

để bán được nhanh, được nhiều hàng với mức giá hợp lý nhằm đem lại doanh

số bán hàng cao, đem lại lợi nhuận cho Công ty, và từ đó sẽ tạo cơ sở để quayvòng vốn và nâng cao đời sống vật chất cũng như tình thần cho cán bộ côngnhân Công ty

Sách giáo khoa là mặt hàng có tính thời vụ cao, do đó hoạt động tiêuthụ SGK của Công ty diễn ra sôi động nhất vào mùa vụ kinh doanh ( từ tháng

4 đến tháng 9) Trong thời gian này quá trình tiêu thụ SGK diễn ra nhanhchóng với số lượng lớn Mỗi năm Công ty tiêu thụ một số lượng lớn SGK vớidoanh số đạt khoảng gần 20 tỷ đồng, với lợi nhuận đạt hơn 300 triệu đồng( số liệu năm 2010) Trong những năm tới ban lãnh đạo Công ty dự định sẽmạnh dạn đưa ra những định hướng phát triển năng động nên doanh số tiêuthụ của Công ty sẽ không ngừng tăng lên nhanh chóng, đồng thời làm tăngdoanh thu lợi nhuận hàng năm

Trang 34

Hoạt động tiêu thụ SGK của Công ty CP Sách và TBTH Nghệ An cũnggiúp Công ty ngày càng hoàn thiện mình hơn, từ đó Công ty càng có điều kiệnđầu tư tái sản xuất sức lao động và đầu tư cơ sở vật chất kĩ thuật phục vụ choquá trình sản xuất kinh doanh của Công ty Với doanh thu khoảng 70 – 75 tỷđồng mỗi năm, thu nhập của cán bộ nhân viên được đảm bảo và không ngừngtăng lên Khi đời sống vật chất của cán bộ nhân viên Công ty được nâng caothì họ có khí thế làm việc tích cực hơn, thái độ làm việc nghiêm túc, nhiệt tìnhhơn Đồng thời Công ty cũng có điều kiện để đầu tư cơ sở vật chất kĩ thuật,xây dựng cơ sở vật chất hiện đại hơn, khang trang hơn, tạo môi trường làmviệc thuận tiện, thoải mái cho cán bộ nhân viên Từ đó quy mô hoạt động củaCông ty ngày càng được mở rộng và phát triển hơn.

1.4.2.3 Tiêu thụ Sách giáo khoa đảm bảo sự phát triển của Công ty

Sản xuất, phân phối, trao đổi, tiêu dùng là sự vận động tất yếu của mọiphương thức sản xuất Khi nói đến sản xuất thì phải đề cập tới vấn đề tiêudùng, có cung thì phải có cầu và ngược lại, tiêu dùng tạo ra mục đích và động

cơ thúc đẩy sản xuất phát triển Các doanh nghiệp trực tiếp sản xuất kinhdoanh hàng hóa chỉ có thể khẳng định vị trí của mình khi sản phẩm của doanhnghiệp được người tiêu dùng tin tưởng lựa chọn sử dụng Vì vậy việc sản xuấtkinh doanh sản phẩm chỉ có ý nghĩa khi nó được tiêu thụ Hoạt động tiêu thụsản phẩm quyết định tới sự tồn tại hay phá sản của doanh nghiệp

Tiêu thụ là một khâu quan trọng trong quá trình sản xuất kinh doanh,

nó giúp doanh nghiệp thu hồi được đồng vốn bỏ ra, đồng thời mở rộng quátrình tái sản xuất kinh doanh và nâng cao đời sống cho đội ngũ cán bộ côngnhân viên Đặc biệt, kết quả khâu tiêu thụ sẽ là yêu tố cơ bản đảm bảo sự pháttriển của doanh nghiệp

Công ty CP Sách và TBTH Nghệ An là một doanh nghiệp kinh doanh

có hiệu quả trong những năm qua Với vai trò là đơn vị độc quyền phân phối

Trang 35

Sách giáo khoa trên địa bàn tỉnh Nghệ An, hàng năm Công ty đã cung cấp gầnchục triệu bản Sách giáo khoa phục vụ các đối tượng sử dụng trên thị trườngNghệ An Tuy nhiên, mạng lưới tiêu thụ của công ty còn mỏng, nhu cầu muaSách giáo khoa của học sinh rất lớn, không chỉ tập trung ở Thành phố Vinh

mà còn nằm rải rác ở các huyện khác nhau trong tỉnh Những năm gần đây, sựtham gia của các lực lượng khác trong việc phân phối SGK đã gây nên nhữngbiến động phức tạp trên thị trường, nhất là vào thời vụ SGK ( từ tháng 4 đếntháng 9) Để tồn tại và phát triển được trong sự cạnh tranh với các lực lượngkhác, Công ty buộc phải thực hiện tốt hoạt động kinh doanh của mình

Ở khâu đầu vào: Công ty đã tận dụng khả năng của khâu khai thác

nguồn hàng, có mối quan hệ tốt với nhà xuất bản, đặc biệt là các NXB truyềnthống như: NXB Giáo dục, Kim Đồng, NXB Trẻ với các nguồn hàng khácnhau Đồng thời, Công ty cũng thường xuyên theo dõi những thông tin về sốlượng, thời điểm ra sách, số lượng sách chưa cung ứng để có kế hoạch nhậpsách và đăng kí vào những thời điểm cụ thể khi thị trường yêu cầu Làm tốtkhâu này sẽ tạo thuận lợi bước đầu cho Công ty

Ở khâu đầu ra: Công ty đã nhạy bén trong việc thực hiện các phương

thức bán hàng: bán tự chọn tại Siêu thị Sách và TBTH Nghệ An ở 65 LêHồng Phong- TP Vinh, bán hàng gián tiếp theo hệ thống các phòng giáo dụchuyện, đưa sách về tận các trường phổ thông, đặc biệt chú ý đến các trường ởvùng sâu vùng xa Củng cố khâu quản lý và đẩy mạnh khâu tiêu thụ đối vớicác đại lý và các cửa hàng trung tâm, các cửa hàng bán lẻ trực thuộc Công ty

Sự chú ý đầu tư ở khâu đầu vào và khâu đầu ra đã tạo nên hiệu quả choquá trình kinh doanh SGK, đồng thời đảm bảo sự phát triển cho Công ty CPSách và TBTH Nghệ An trong những năm tới

Trang 36

Chương 2 THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG TIÊU THỤ SÁCH GIÁO KHOA TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN SÁCH

VÀ THIẾT BỊ TRƯỜNG HỌC NGHỆ AN TRONG HAI

Trang 37

- Email: doanhnghiepnghean@gmail.com

- Website: http://sachthietbi.com.vn

- Giám đốc: Ông Trần Xuân Toàn

Công ty CP Sách và TBTH Nghệ An được thành lập theo Quyết định

số 1118/QĐ-UB ngày 23/08/1983 của UBND tỉnh Nghệ An trên cơ sở sátnhập Phòng Phát hành – Thư viện và Trạm thiết bị trường học thuộc Sở Giáodục – Đào tạo Nghệ An Công ty được thành lập dựa trên những yêu cầukhách quan của sự nghiệp phát triển giáo dục và đào tạo cũng như nhằm phùhợp với điều kiện nền kinh tế xã hội của tỉnh

Là một trong những doanh nghiệp nhà nước đầu tiên trên địa bàn tỉnhthực hiện hạch toán độc lập do UBND tỉnh Nghệ An quản lý và Sở Giáo dục– Đào tạo chỉ đạo về mặt chuyên môn, có tư cách pháp nhân, có con dấu riêng

và tự chịu trách nhiệm về kết quả kinh doanh

Ngày 22/05/2003 theo quyết định số 1845/QĐ-UBĐMDN của UBNDtỉnh Nghệ An, Công ty đã thực hiện cổ phần hóa, trong đó Nhà nước nắm giữ51% cổ phần Đồng thời được Sở Kế hoạch và Đầu tư cấp giấy phép kinhdoanh số 2026 ngày 04/11/2003 với số vốn điều lệ là 3.462 triệu đồng

Ngày 09/07/2004 theo quyết định số 2529/QĐ-UBĐMDN của UBNDtỉnh Nghệ An, Công ty đã chính thức cổ phần hóa hoàn toàn với 10 tỷ đồngvốn pháp định

Ngày 12/08/2010 Công ty CP Sách và TBTH Nghệ An chính thức đượctiếp nhận trở thành đơn vị thành viên của NXB Giáo dục Việt Nam Đây vừa

là niềm vinh dự, vừa là trách nhiệm để tập thể cán bộ công nhân viên củaCông ty thực hiện tốt hơn nữa nhiệm vụ của mình, góp phần vào sự nghiệptrồng người của ngành Giáo dục – Đào tạo tỉnh nhà

Công ty vinh dự được đón nhận Bằng khen của Thủ tướng chính phủ vì

đã có thành tích góp phần vào sự nghiệp xây dựng CNXH và bảo vệ đất nước

Trang 38

năm 2010; Huân chương Lao động Hạng 3 năm 1993 và nhiều huân huychương khác.

Sau gần 30 năm hoạt động, Công ty CP Sách và TBTH Nghệ An trởthành một trong những doanh nghiệp cung cấp thiết bị dạy và học lớn củatỉnh, liên tục phát triển lớn mạnh, quy mô ngày càng được mở rộng, doanh sốtăng dần qua các năm, luôn hoàn thành tốt nghĩa vụ nộp ngân sách, đời sốngcông nhân viên ổn định, các hoạt động phục vụ sự nghiệp giáo dục ngày càng

đi vào nề nếp, tay nghề của đội ngũ cán bộ công nhân viên Công ty ngày càngvững vàng hơn

2.1.2 Cơ cấu tổ chức bộ máy Công ty

Thực hiện chủ trương của Đảng và Nhà nước về cải cách hành chính,

bộ máy của Công ty hoàn thiện với phương châm:

- Tinh giản, gọn nhẹ, dễ điều hành

- Phục vụ kịp thời, chất lượng cho khách hàng

- Đạt hiệu quả kinh doanh cao

Về cơ bản, bộ máy của Công ty được tổ chức theo kiểu kết hợp trựctuyến chức năng Bộ máy quản lý của Công ty gồm:

- Đại hội đồng cổ đông: là cơ quan có quyền quyết định cao nhất củaCông ty, có chức năng và nhiệm vụ là xem xét quyết định phương hướng,nhiệm vụ phát triển của Công ty và kế hoạch sản xuất kinh doanh hàng năm

Có quyền bầu, bãi, miễn các thành viên trong Hội đồng quản trị và ban kiểmsoát

- Hội đồng quản trị: do Đại hội đồng cổ đông bầu ra, là cơ quan quản lýcủa Công ty, có toàn quyền nhân danh Công ty để quyết định mọi vấn đề liênquan đến Công ty trừ các vấn đề thuộc thẩm quyền của Đại hội đồng cổ đông

Có quyền bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Giám đốc, Phó Giám đốc và Kếtoán trưởng

Trang 39

- Ban kiểm soát: là cơ quan hoạt động độc lập do Đại hội đồng cổ đôngbầu ra, có chức năng giám sát Hội đồng quản trị, ban giám đốc và toàn bộ cácphòng ban, xưởng sản xuất và cửa hàng thuộc Công ty.

- Giám đốc: là người lãnh đạo điều hành mọi hoạt động chung củaCông ty, chịu trách nhiệm toàn bộ về kết quả kinh doanh; đảm bảo thực thiđầy đủ các chủ trương, chính sách, đường lối của Đảng và Nhà nước

- Phó Giám đốc: là người giúp việc cho giám đốc về các mặt công tácđược phân công, chịu trách nhiệm trước giám đốc về kết quả thực thi côngviệc

- Phòng Tài vụ: hoạt động dưới sự chỉ đạo trực tiếp của kế toán trưởng,thực hiện chức năng tham mưu về mặt tài chính theo đúng quy định của chế

độ tài chính kế toán, quy định của Công ty và sự phân công của Giám đốcCông ty

- Phòng Kế hoạch – Kinh doanh: Tìm kiếm các đối tác kinh doanh, lập

kế hoạch sản xuất kinh doanh, chịu trách nhiệm tổ chức, thẩm định, dự toán,tham mưu cho giám đốc và lãnh đạo Công ty về việc xây dựng kế hoạch thịtrường, phối hợp với các phòng ban triển khai hợp đồng kinh tế, tăng cườngcác mối quan hệ mở rộng thị trường sản xuất kinh doanh

- Phòng Tổ chức – Hành chính: Tham mưu cho Ban giám đốc và thựchiện về việc quản lý, giải quyết việc làm và thực hiện các chính sách đối vớingười lao động; giải quyết các công việc hành chính phát sinh hàng ngày,đảm bảo các nhu cầu cần thiết cho công tác sản xuất, kinh doanh

- Phòng chỉ đạo sản xuất kinh doanh: Lập kế hoạch theo dõi sử dụngsách và thiết bị trường học tại thư viện các trường, các phòng giáo dục trongtỉnh

Trang 40

- Khối các bộ phận kinh doanh: Làm nhiệm vụ sản xuất, kinh doanhđược đặt dưới sự quản lý trực tiếp của Ban giám đốc Khối các bộ phận kinhdoanh gồm:

+ Trung tâm thiết bị học liệu: trực tiếp sản xuất gia công các sản phẩmtheo chỉ tiêu về số lượng và chất lượng do Ban giám đốc đề ra

+ Cửa hàng trung tâm: thực hiện việc tiếp nhận và tiêu thụ các mặt hàngtại trung tâm, chỉ đạo việc phân phối, tiêu thụ tại hệ thống các của hàngbán lẻ ở các huyện

Sơ đồ 1:

SƠ ĐỒ TỔ CHỨC BỘ MÁY QUẢN LÝ

Hội đồng quản trị

Ban giám đốc và Cácphó giám đốc

Đại hội đồng cổ đông

Ban kiểm soát

Ngày đăng: 10/10/2014, 17:49

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đỗ Thị Quyên, bài giảng môn “Tổ chức tiêu thụ Xuất bản phẩm”, Trường Đại học Văn hoá Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Tổ chức tiêu thụ Xuất bản phẩm”
2. Phạm Thị Thanh Tâm, Đại cương kinh doanh Xuất bản phẩm, Trường Đại học Văn hoá Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại cương kinh doanh Xuất bản phẩm
3. Phùng Quốc Hiếu, bài giảng môn “Mặt hàng sách giáo dục”, Trường Đại học Văn hoá Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Mặt hàng sách giáo dục”
10.Các trang website tham khảo:- http://sachthietbi.vn - http://gocdocsach.com - http://dantri.com.vn Link
5. Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh sách giáo dục của Công ty CP Sách và TBTH Nghệ An 2010 – 2011 Khác
6. Báo cáo tổng kết công tác phát hành sách giáo dục năm 2010, 2011 của Công ty CP Sách và TBTH Nghệ An Khác
7. Luật Xuất bản năm 2005, NXB Chính trị Quốc gia Khác
8. Luật sửa đổi, bổ sung Luật Giáo dục năm 2009, NXB Chính trị Quốc gia Khác
9. Từ điển Tiếng Việt, NXB Từ điển Bách khoa năm 2006 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ 1. Tổ chức bộ máy quản lý………………………………………… 41  Sơ đồ 2. Kênh tiêu thụ Sách giáo khoa…………………………………… 55 Bảng 1 - hoạt động tiêu thụ sách giáo khoa tại công ty cổ phần sách và thiết bị trường học nghệ an trong 2 năm 2010 – 2011
Sơ đồ 1. Tổ chức bộ máy quản lý………………………………………… 41 Sơ đồ 2. Kênh tiêu thụ Sách giáo khoa…………………………………… 55 Bảng 1 (Trang 4)
Sơ đồ 1: - hoạt động tiêu thụ sách giáo khoa tại công ty cổ phần sách và thiết bị trường học nghệ an trong 2 năm 2010 – 2011
Sơ đồ 1 (Trang 40)
Sơ đồ 2: - hoạt động tiêu thụ sách giáo khoa tại công ty cổ phần sách và thiết bị trường học nghệ an trong 2 năm 2010 – 2011
Sơ đồ 2 (Trang 54)
Bảng 2: BẢNG TỔNG KẾT DOANH SỐ BÁN SÁCH GIÁO KHOA  NĂM 2010-2011 - hoạt động tiêu thụ sách giáo khoa tại công ty cổ phần sách và thiết bị trường học nghệ an trong 2 năm 2010 – 2011
Bảng 2 BẢNG TỔNG KẾT DOANH SỐ BÁN SÁCH GIÁO KHOA NĂM 2010-2011 (Trang 58)
Bảng 5: LỢI NHUẬN RềNG TIấU THỤ SÁCH GIÁO KHOA QUA 2 NĂM 2010-2011 - hoạt động tiêu thụ sách giáo khoa tại công ty cổ phần sách và thiết bị trường học nghệ an trong 2 năm 2010 – 2011
Bảng 5 LỢI NHUẬN RềNG TIấU THỤ SÁCH GIÁO KHOA QUA 2 NĂM 2010-2011 (Trang 65)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w