Một trong những biểu hiện của xu thế đó là sự gia tăng nhanh các Hiệp định thiết lập khu vực thương mại tự do Free TradeAgreement – FTA, mà trước hết là sự gia tăng các Hiệp định thiết l
Trang 1LỜI CAM ĐOAN
Tác giả xin cam đoan chuyên đề “Các hiệp định thương mại tự do với chiếnlược tham gia của Việt Nam đến năm 2020” là do chính tác giả viết ra và tổng hợp lại trong thời gian thực tập tại công ty TNHH Tư vấn quốc tế IMC dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Nguyễn Thương Lạng, không sao chép từ bất kỳ chuyên đề nào khác Tác giả xin chịu hoàn toàn trách nhiệm về lời cam đoan này.
Hà Nội, Ngày tháng năm 2012
Sinh viên thực hiện
Nguyễn Đức Duy
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành được chuyên đề thực tập này trước tiên tôi xin được gửi lời cảm ơn sâu sắc đến tập thể cán bộ công nhân viên công ty IMC tạo điều kiện cho tôi thực tập và hoàn thành tốt những công việc được giao ở công ty qua đó tôi có thể nắm bắt được các vấn đề thực tiễn xuất nhập khẩu để bài viết chân thực và sinh động hơn.
Tôi xin được gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc đến PGS.TS Nguyễn Thường Lạng người trực tiếp hướng dẫn chuyên đề thực tập, làm cho bài viết mang tính thực tiễn cao hơn và nội dung phong phú hơn.
Tôi cũng xin được cám ơn các thầy cô giáo trong khoa Thương mại và Kinh tế quốc tế, các bạn cùng lớp đã giúp đỡ tôi trong quá trình tìm hiểu tài liệu làm phong phú thêm bài viết
Hà Nội, Ngày tháng năm 2012
Sinh viên thực hiện
Nguyễn Đức Duy
Trang 3LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính tất yếu
Xu thế liên kết kinh tế khu vực chưa bao giờ ngừng vận động Trong nhữngnăm 90 của thế kỷ XX, đặc biệt là sau những thất bại liên tiếp của Vòng đàm phán Đô-
ha của WTO, việc thiết lập các khu vực thương mại tự do (FTA) lại bùng lên mạnh
mẽ Không thể sớm tăng cường xây dựng hệ thống thương mại đa phương, các nước
đã từng bước hướng nguồn lực sang xây dựng các liên kết khu vực quy mô nhỏ hơnnhưng hiệu quả rõ rệt hơn Trên thế giới, bên cạnh xu hướng liên kết đa phương vàtoàn cầu, đã xuất hiện xu hướng liên kết song phương Tổ hợp các xu hướng lớn đóđang thúc đẩy quá trình tái cấu trúc nền kinh tế thế giới (cả về mặt sản xuất, thươngmại và mặt thể chế), thúc đẩy quá trình hội nhập ngày càng sâu hơn các nền kinh tếquốc gia vào kinh tế khu vực và toàn cầu Một trong những biểu hiện của xu thế đó là
sự gia tăng nhanh các Hiệp định thiết lập khu vực thương mại tự do (Free TradeAgreement – FTA), mà trước hết là sự gia tăng các Hiệp định thiết lập khu vực thươngmại tự do song phương (Bilatera Free Trade Agreement – BFTA)… hình thành các môhình FTA đa dạng như: FTA hai nước, FTA một khối các nước hoặc giữa một khốinước với một nước khác… Bản chất chung của các FTA là các nước tham gia dànhcho nhau những ưu đãi về mở cửa thị trường, thực hiện tự do hoá thương mại, đầu tư
và tăng cường các liên kết song phương, đa phương về cả kinh tế và chính trị
Đối với Việt Nam, tiến trình tham gia các FTA là một phần trong hiện thực hoáchủ trương mở cửa, hội nhập sâu hơn vào kinh tế khu vực và thế giới của Đảng.Nguyên tắc bao trùm đã được Nghị quyết Đại hội IX của Đảng đề ra là: “Chủ động hộinhập kinh tế quốc tế theo tinh thần phát huy nội lực, nâng cao hiệu quả hợp tác quốc
tế, bảo đảm độc lập tự chủ và định hướng XHCN, bảo vệ lợi ích dân tộc, an ninh quốcgia, giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc, bảo vệ môi trường” Trong thời gian vừa qua,cùng với việc gia nhập Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), ký kết Hiệpđịnh thương mại song phương Việt Nam – Hoa Kỳ (BTA) và gia nhập WTO…, ViệtNam tham gia thiết lập khu vực thương mại tự do (FTA) đối với 15 nước trong khungkhổ của 6 FTA khu vực (AFTA, ACFTA, AKFTA, AJFTA, AANZFTA, AIFTA), vớiphạm vi lĩnh vực tự do hoá khác nhau (thương mại hàng hóa, dịch vụ, đầu tư…) và độsâu hội nhập khác nhau Tỉ trọng thương mại hai chiều giữa Việt Nam với các đối tác
đã có FTA chiếm gần 60% tổng giá trị thương mại của Việt Nam, trong đó, chiếm gần50% kim ngạch xuất khẩu và gần 70% kim ngạch nhập khẩu hàng hóa
Việt Nam đang ở giai đoạn đầu trong quá trình tham gia các FTA Đến nay,quan điểm và nhận thức về tham gia các FTA của Việt Nam còn có sự khác nhau, chưathống nhất Do đó, việc đánh giá lại một số thay đổi trong nền kinh tế sau khi ViệtNam tham gia các FTA là một vấn đề rất cần thiết để từ đó xây dựng được chủ trươngchính thống, chiến lược tổng thể với các định hướng chiến lược và lộ trình thống nhất
Trang 4cho tiến trình tham gia các FTA của Việt Nam trong dài hạn Nhận thức được tầm
quan trọng của vấn đề này nên đề tài: “Các hiệp định thương mại tự do với chiến
lược tham gia của Việt Nam đến năm 2020” được chọn để nghiên cứu
2 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở phân tích việc tham gia các Hiệp định thương mại tự do của ViệtNam từ đó đề ra chiến lược tham gia các Hiệp định thương mại tự do của Việt Namđến năm 2020
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng: Các Hiệp định thương mại tự do Việt Nam ký kết với
Chiến lược tham gia của Việt Nam tới năm 20203.2 Phạm vi: Giai đoạn 1997 – 2011 và định hướng đến năm 2020
4 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng phương pháp: tổng hợp, phân tích, dự báo… Để giải quyết cácvấn đề đặt ra
Nguồn thông tin trong đề tài được thu thập từ Bộ Công Thương, Ủy ban Quốcgia về Hợp tác kinh tế quốc tế, Tổng cục hải quan, Bộ ngoại giao…
5 Kết cấu đề tài
Ngoài lời cam đoan, lời cám ơn, lời mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu thamkhảo, phụ lục chuyên đề được chia làm 3 chương:
Chương 1 Giới thiệu về cơ sở thực tập và kinh nghiệm chiến lược tham gia
FTA của một số quốc gia
Chương 2 Thực trạng chiến lược tham gia các hiệp định thương mại tự do của
Việt Nam trong giai đoạn 1997-2011
Chương 3 Định hướng và giải pháp chiến lược tham gia các hiệp định thương
mại tự do của Việt Nam tới năm 2020
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN 1
LỜI CẢM ƠN 2
LỜI MỞ ĐẦU 3
DANH MỤC BIỂU ĐỒ 9
DANH MỤC BẢNG 9
DANH MỤC HỘP 10
DANH MỤC SƠ ĐỒ 10
: GIỚI THIỆU VỀ CƠ SỞ THỰC TẬP VÀ KINH NGHIỆM CHIẾN LƯỢC THAM GIA FTA CỦA MỘT SỐ QUỐC GIA 11
: THỰC TRẠNG CHIẾN LƯỢC THAM GIA CÁC HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI TỰ DO CỦA VIỆT NAM TRONG GIAI ĐOẠN 1997-2011 26
: ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP CHIẾN LƯỢC THAM GIA CÁC HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI TỰ DO CỦA VIỆT NAM ĐẾN NĂM 2020 63
KẾT LUẬN 83
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 85
Trang 6BẢNG KÝ HIỆU VIẾT TẮT
1 AANZFTA Asean Australia New Zealand
Free Trade Area
Khu vực/Hiệp định thươngmại tự do ASEAN – Úc và
4 AEC Asean Economic Community Cộng đồng kinh tế ASEAN
Agreement
Hiệp định thành lập khu vựcthương mại tự do ASEAN –
16 ANZCERTA Australia-New Zealand Closer
Economic Relations Trade
Trang 7Cooperation Châu Á-Thái Bình Dương
18 ASEAN Association Of Southeast Asian
20 AUSFTA Australia-United States Free
Trade Agreement
Khu vực/Hiệp định thươngmại tự do Úc – Mỹ
21 BFTA Bilatera Free Trade Agreement Khu vực/Hiệp định thương
mại tự do song phương
22 BTA Bilateral Trade Agreement Hiệp định thương mại song
phương Việt Nam – Hoa Kỳ
23 CEPA Comprehensive Economic
26 EFTA European Free Trade Association Hiệp hội Thương mại tự do
châu Âu
28 FDI Foreign Direct Investment Đầu tư trực tiếp nước ngoài
29 FTA Free Trade Agreement/Area Khu vực/Hiệp định thương
31 GDP Gross Domestic Product Tổng sản phẩm nội địa
32 HSL Highly Sensitive List Danh mục nhạy cảm cao
33 IGA Investment Guarantee Agreement Hiệp định khuyến khích và
bảo hộ đầu tư ASEAN
34 IMF International Monetary Fund Quỹ Tiền tệ Quốc tế
37 MIGA Multilateral Investment Guarantee
Agreement
Hiệp định thành lập tổ chứcbảo đảm đầu tư đa phương
38 NAFTA North American Free Trade
Agreement
Hiệp định Thương mại Tự
do Bắc Mỹ
39 ODA Official Development Assistance Hỗ trợ phát triển chính thức
40 PTA Preferential Trade Agreement Các thoả thuận thương mại
ưu đãi
41 S&D Special & Diffỉrent Treatment Quy chế đãi ngộ đặc biệt
42 SAFTA South Asian Free Trade Area Khu vực/Hiệp định thương
mại tự do Úc – Singapore
Trang 844 SPS Sanitary And Phytosanitary
48 TNCs Transnational Corporations Công ty xuyên quốc gia
49 TPP Trans-Pacific Partnership Hiệp định đối tác kinh tế
chiến lược xuyên Thái Bình
Dương
50 TRIMs Trade-Related Investment
Measures
Hiệp định về Các biện phápđầu tư liên quan đến thương
53 WTO World Trade Organization Tổ chức Thương mại Thế
giới
Trang 9DANH MỤC BIỂU ĐỒ
TT Biểu
đồ
1 2.1 Giá trị thương mại hai chiều của Việt Nam với các khu
vực thị trường đã ký FTA giai đoạn 1996-2009
42
2 2.2 Hệ số tăng trưởng giá trị thương mại hai chiều của Việt
Nam với các khu vực thị trường đã ký FTA giai đoạn
2002-2009
45
3 2.3 Giá trị xuất khẩu của Việt Nam sang các khu vực thị
trường đã ký FTA giai đoạn 1996-2009
2 2.2 Khung thời gian cắt giảm và xoá bỏ thuế quan của Việt
Nam trong các FTA
37
3 2.3 Mức độ tập trung thương mại và hệ số tăng trưởng giá trị
thương mại của Việt Nam
44
4 2.4 Mức độ tập trung xuất khẩu và hệ số tăng trưởng xuất khẩu
của Việt Nam sang các thị trường đã ký FTA
48
5 2.5 Mức độ tập trung nhập khẩu và hệ số tăng trưởng nhập
khẩu của Việt nam từ các thị trường đã ký FTA giai đoạn
2001 - 2009
50
6 2.6 Tình hình nhập siêu và xuất khẩu ròng của Việt Nam với
các đối tác đã ký FTA giai đoạn 2001 – 2009
52
Trang 10DANH MỤC HỘP
2 1.2 Một số khách hàng tiêu biểu của công ty IMC 12
3 1.3 Chứng nhận chất lượng của công ty IMC 14
DANH MỤC SƠ ĐỒ
1 1.1 Sơ đồ tổ chức công ty tư vấn quốc tế IMC 13
Trang 11: GIỚI THIỆU VỀ CƠ SỞ THỰC TẬP VÀ KINH NGHIỆM CHIẾN LƯỢC THAM GIA FTA CỦA MỘT SỐ QUỐC GIA
1.1 GIỚI THIỆU VỀ CƠ SỞ THỰC TẬP – CÔNG TY TNHH TƯ VẤN QUỐC TẾ (IMC VIỆT NAM)
1.1.1 Giới thiệu chung về IMC
Công ty Tư Vấn IMC Việt nam được hình thành dựa trên ý tưởng nghiên cứu
và xây dựng các giải pháp tư vấn và đào tạo chuyên nghiệp cho các doanh nghiệphướng tới việc áp dụng các hệ thống quản lý tiên tiến theo các tiêu chuẩn quốc tế tạiViệt Nam (ISO9000 - ISO14000 - SA8000 - HACCP - ISO22000 - TS16949 -ISO17799)
IMC được viết tắt theo các chữ cái đầu tiên của cụm từ Tiếng Anh:
International Management Consultant (Nhà tư vấn Quản lý quốc tế), song cũng
được hiểu là: Intelligence Motivation Concrete (Nền tảng phát triển chất xám) Và
đó cũng là nền tảng phát triển và phương châm của IMC Việt Nam trong việc nghiêncứu, đưa ra các giải pháp tư vấn chuyên nghiệp và hiệu quả cho khách hàng
Hộp 1.1: Một số tiêu chuẩn chất lượng
Nguồn: Công ty tư vấn quốc tế IMC
Hộp 1.2: Một số khách hàng tiêu biểu của công ty IMC
Nguồn: Công ty tư vấn quốc tế IMC
Trang 12Thế mạnh của IMC là sự kết hợp thành công từ kinh nghiệm tư vấn cho mọithành phần doanh nghiệp trong, ngoài nước và việc tìm ra các giải pháp thực tiễn,đồng thời luôn đảm bảo tính chuyên nghiệp trong chất lượng dịch vụ.
Các chuyên gia tư vấn của IMC đã trải qua những khóa đào tạo đặc biệt về hệthống quản lý ở trong nước và ngoài nước Với nhiều năm công tác thực tiễn trong lĩnhvực Đào tạo, Tư vấn xây dựng các hệ thống quản lý, sẽ cống hiến hết mình cho kháchhàng và không ngừng cải tiến để luôn luôn cung cấp cho khách hàng một dịch vụ:Chuyên nghiệp - Hiệu quả Mục tiêu phấn đấu của IMC là không ngừng nâng cao chấtlượng và uy tín của mình để trở thành người bạn đồng hành của Doanh nghiệp trongsuốt quá trình phát triển
1.1.2 Sơ đồ tổ chức
Công ty bao gồm ban giám đốc trực thuộc hội đồng thành viên, có 4 phòng ban:phòng kế toán, phòng tư vấn, phòng kinh doanh và phòng hành chính tổng hợp
Sơ đồ 1.1: Sơ đồ tổ chức công ty tư vấn quốc tế IMC
Nguồn: Công ty tư vấn quốc tế IMC
Trang 131.1.3 Chính sách chất lượng
Công ty Tư vấn Quản lý Quốc tế (IMC) với phương châm:
“TẤT CẢ HÀNH ĐỘNG, NGUỒN LỰC CỦA IMC ĐỀU HƯỚNG TỚI THỎA
IMC thực hiện, duy trì và liên tục cải tiến hệ thống quản lý chất lượng theo tiêuchuẩn ISO 9001:2000, lấy đó làm cơ sở để từng thành viên trong công ty phát huy tối
đa năng lực, trí tuệ của mình trong công tác đào tạo và tư vấn, nhằm cung cấp chokhách hàng các dịch vụ hoàn hảo nhất
Toàn thể cán bộ của IMC phải nhận thức được rằng sự thành đạt của IMC cũng
là sự thành đạt của mình Điều đó chỉ đến khi đạt được sự thỏa mãn của khách hàng
Hộp 1.3: Chứng nhận chất lượng của công ty IMC
Nguồn: Công ty tư vấn quốc tế IMC
Trang 141.1.4 Hoạt động chính của công ty IMC
1.1.4.1 Thực hiện khảo sát hệ thống doanh nghiệp
IMC sẽ tiến hành khảo sát thực trạng hệ thống quản lý hiện hành của Công ty,nhằm nắm bắt được tổng quan tình hình quản lý thực tế và xác định mức độ chưa phùhợp với các yêu cầu của tiêu chuẩn, làm cơ sở cho việc thiết kế hệ thống và lập kếhoạch hành động chi tiết
Việc đánh giá thực trạng được tiến hành bởi các chuyên gia về hệ thống chấtlượng và chuyên gia ký thuật am hiểu lĩnh vực hoạt động của công ty
1.1.4.2 Khóa học nhận thức chung tiêu chuẩn
IMC tổ chức đào tạo nhận thức và diễn giải về các yêu cầu của tiêu chuẩn khóahọc giới thiệu cho những người tham gia, là những người có trách nhiệm lãnh đạo vàthực hiện hệ thống quản lý theo yêu cầu của tiêu chuẩm hiểu được khái niệm về việcđảm bảo chất lượng, cơ cấu và chức năng của một hệ thống quản lý, tiến trình pháttriển chất lượng, các nguyên tắc quản lý chất lượng Khóa học sẽ trình bày tổng quát
bộ Tiêu chuẩn ISO 9001 hoặc ISO 14001
Sau khóa đào tạo này cán bộ của công ty có thể sẵn sàng tham gia vào các hoạtđộng xây dựng hệ thống quản lý và duy trì hệ thống quản lý sau này
1.1.4.3 Khóa thiết lập hệ thống văn bản
Khóa học này sẽ được IMC chia thành 2 phần Phần giới thiệu sẽ bao gồm cácnội dung sau:
- Cấu trúc của hệ thống tài liệu
- Các mẫu tài liệu
- Cùng với công ty lựa chọn mẫu tài liệu tương ứng và phù hợp với hoạt độngcủa công ty
Phần hướng dẫn cụ thể sẽ được IMC tiến hành trong khoảng thời gian từ 2-3ngày Sau đó, một bản kế hoạch hành động sẽ được IMC thiết lập nhằm đề ra cácnhiệm vụ cụ thể cho từng thành viên liên quan với thiết lập tài liệu
1.1.4.4 Hướng dẫn thiết lập và chỉnh sửa tài liệu
Trong suốt quá trình thiết lập tài liệu, IMC sẽ thực hiện các lần tư vấn và hướngdẫn tại doanh nghiệp Trước mỗi lần tư vấn, IMC sẽ gửi tới công ty kế hoạch cụ thể đểcác nhân viên liên quan chuẩn bị nội dung thảo luận về các sửa đổi trong tài liệu domình soạn thảo
Số lần tư vấn sẽ phụ thuộc vào mức độ hoàn thành tài liệu của công ty và đượcđiều chỉnh để phù hợp với các hoạt động của công ty
Trang 15IMC sẽ hướng dẫn công ty tổng hợp hệ thống văn bản đã xây dựng, chuẩn bịcho công tác phê duyệt và ban hành hệ thống tài liệu
1.1.4.5 Triển khai áp dụng
Sau khi tổng hợp, xem xét, hiệu chỉnh hệ thống văn bản, IMC tư vấn cho công
ty phê duyệt và ban hành hệ thống văn bản
IMC sẽ hướng dẫn các phòng ban trong công ty áp dụng hệ thống một cáchđồng bộ và hiệu quả
Hỗ trợ các trưởng bộ phận, các cán bộ chủ chốt trong công ty theo dõi và kiểmtra việc áp dụng hệ thống, nhằm đảm bảo rằng các công việc thực hiện tại mọi vị tríđược tuân thủ theo hệ thống văn bản đã ban hành
1.1.4.6 Khóa đào tạo chuyên gia đánh giá nội bộ
IMC sẽ đào tạo cho các nhân viên được tuyển chọn các kỹ năng giúp họ có thểthực hiện được việc đánh giá nội bộ nhằm đảm bảo hệ thống quản lý được áp dụnghiệu quả
1.1.4.7 Hướng dẫn thực hiện đánh giá nội bộ
Sau khóa học đào tạo chuyên gia đánh giá nội bộ, IMC sẽ phối hợp với cácchuyên gia đánh giá nội bộ của công ty lập kế hoạch và tiến hành các đợt đánh giá nội
bộ để tìm ra những điểm chưa phù hợp của hệ thống
IMC sẽ kết hợ với từng bộ phận để có được các biện pháp khắc phụ, phòngngừa và đưa ra các phương án cải tiến cần thiết nhằm hoàn chỉnh hệ thống quản lý củacông ty
Thông qua các cuộc đánh giá nội bộ, IMC sẽ tham mưu cho công ty trong côngtác đánh giá, xem xét năng lực của từng vị trí
1.1.4.8 Hướng dẫn họp xem xét của lãnh đạo
IMC sẽ tham mưu cho ban lãnh đạo của công ty tiến hành các cuộc họp xem xétcủa lãnh đạo đối với toàn bộ hệ thống đang được áp dụng tại công ty
Trang 16Qua giai đoạn này công ty có thể tự thực hiện việc vận hành và đánh giá đối với
hệ thống quản lý của công ty
1.1.4.9 Đăng ký chứng nhận và cấp chứng chỉ
IMC sẽ tư vấn cho công ty cách thức lựa chọn tổ chức đánh giá chứng nhận có
uy tín trên thế giới
IMC sẽ hướng dẫn công ty các thủ tục đăng ký xin cấp chứng nhận
Tổ chức chứng nhận sẽ thực hiện đánh giá sơ bộ theo như các thỏa thuận giữa
Quá trình hội nhập các FTA chưa được lãnh đạo cấp cao nhất của Đảng và Nhànước dành sự quan tâm định hướng, chỉ đạo sâu sát, thường xuyên.Hệ thống pháp luật
và năng lực quản lý Nhà nước trên một số lĩnh vực trực tiếp liên quan đến hội nhậpFTA còn bất cập.Kết cấu hạ tầng còn yếu kém, nhất là hạ tầng phát triển thương mại.Chất lượng nguồn nhân lực tham gia hội nhập FTA còn nhiều hạn chế, cả ở trong khâuđàm phán ký kết FTA và thực hiện các cam kết…
Quá trình hội nhập các FTA chưa được lãnh đạo cấp cao nhất của Đảng và Nhànước dành sự quan tâm định hướng, chỉ đạo sâu sát, thường xuyên.Hệ thống pháp luật
và năng lực quản lý Nhà nước trên một số lĩnh vực trực tiếp liên quan đến hội nhậpFTA còn bất cập.Kết cấu hạ tầng còn yếu kém, nhất là hạ tầng phát triển thương mại.Chất lượng nguồn nhân lực tham gia hội nhập FTA còn nhiều hạn chế, cả ở trong khâuđàm phán ký kết FTA và thực hiện các cam kết…
Quá trình hội nhập các FTA chưa được lãnh đạo cấp cao nhất của Đảng và Nhànước dành sự quan tâm định hướng, chỉ đạo sâu sát, thường xuyên.Hệ thống pháp luật
và năng lực quản lý Nhà nước trên một số lĩnh vực trực tiếp liên quan đến hội nhậpFTA còn bất cập.Kết cấu hạ tầng còn yếu kém, nhất là hạ tầng phát triển thương mại.Chất lượng nguồn nhân lực tham gia hội nhập FTA còn nhiều hạn chế, cả ở trong khâuđàm phán ký kết FTA và thực hiện các cam kết…
Trang 171.2.2 Thực hiện
1.2.2.1 Mỹ
Xem xét cách tiếp cận FTA của Mỹ có thể nhận thấy sự đa dạng ở các đốitượng tham gia FTA với Mỹ Những FTA với các nước đang phát triển như Mexico,Chile, các quốc gia nằm ở khu vực Trung Mỹ và Caribê đan xen với những FTA vớicác nước phát triển như Canada, Australia Tuy có sự đa dạng về trình độ phát triểnnhư vậy song các đối tác FTAcủa Mỹ đều có một đặc điểm chung là ít nhiều hàm chứa
vị thế địa chính trị và địa kinh tế ở những tiểu khu vực nơi họ hiện diện với tư cáchcác quốc gia độc lập Sự lựa chọn đối tác FTA của Mỹ rõ ràng là còn hướng tới nhữngmục tiêu dài hạn hơn chứ không chỉ là những lợi ích kinh tế trước mắt
Có thể nhận thấy hàm lượng kinh tế Mỹ, thông qua quan hệ thương mại và đầu
tư, trong nền kinh tế của các nước này khá cao.Mỹ luôn đóng vai trò quan trọng trong
sự phát triển kinh tế của các nước này.80% quan hệ thương mại của Mexico là vớiNAFTA, trong đó chủ yếu là với Mỹ Đóng góp vào 1/2 tăng trưởng kinh tế củaMexico giai đoạn từ nửa cuối thập niên 1990 đến nay là nhờ phát triển quan hệ thươngmại và đầu tư với NAFTA 50% kim ngạch xuất khẩu của các nước Trung Mỹ vàCaribê là với thị trường Mỹ Quan hệ thương mại với Mỹ cũng chiếm tới 60% kimngạch thương mại của Canada Mỹ cũng là nước có dòng đầu tư trực tiếp lớn nhất đổvào các nước nói trên
Ở chiều ngược lại, ngoại trừ Trung Mỹ và Cộng hoà Dominica có nền kinh tếcòn chưa lớn, các đối tác FTA khác của Mỹ đều có GDP khá lớn, thậm chí có một sốnền kinh tế còn đạt mức GDP bình quân đầu người tiệm cận Mỹ như Canada,Singapore Với sức mạnh kinh tế đáng kể, các nước này cũng đảm bảo lợi ích kinh tế,thương mại cho Mỹ khi đưa ra các sáng kiếnFTA
Một đặc điểm nữa cũng dễ nhận thấy là các đối tác FTA của Mỹ đều có nềnkinh tế thị trường với mức độ hội nhập cao (Theo đánh giá của Tổ chức Tự do kinh tếthế giới, Singapore thậm chí còn được đánh giá cao hơn Mỹ về mức độ mở của nềnkinh tế) Kể từ khi lập quốc, nước Mỹ đã cam kết với kinh tế thị trường tự do và đâycũng là nguyên tắc mà Mỹ muốn phổ biến giá trị của nó trên toàn thế giới Vì vậy, yêucầu đối với đối tác phảicó một nền kinh tế thị trường luôn là một trong số những điềukiện tiên quyết để Quốc hội Mỹ biểu quyết thông qua một hiệp định thương mại tự donào đó Sựlựa chọn đối tượng FTA đi theo mô hình kinh tế thị trường của chính quyền
Mỹ có liên quan mật thiết tới sự thành công hay thất bại khi đưa ra bỏ phiếu trướcQuốc hội Mỹ
Một điểm đáng lưu ý nữa trong các FTA là Mỹ thường nhắm tới các đối tác cókhả năng trở thành một cầu nối hoặc đòn bẩy đối với phong trào FTA khu vực Cácnước đã ký FTA với Mỹ ở các khu vực, đặc biệt là ở châu Á - Thái Bình Dương, hầuhết là những đồng minh của Mỹ và có nền kinh tế đóng vai trò quan trọng, có thể tạo
Trang 18ra những ảnh hưởng nhất định tại các tiểu khu vực, ít nhất là ở khía cạnh địa kinh tế(Canada ở châu Mỹ; Singapore,Hàn Quốc ở Đông Á; Australia ở châu Đại dương;Mexico và CAFTA 5 ở khuvực Trung Mỹ và Caribê) Việc ký kết FTA với các nướcnày có thể sẽtạo thêm nhiều thuận lợi cho chiến lược FTA của Mỹ ít nhất ở hai khíacạnh Thứ nhất, sự thành công của các nước này trong một FTA với Mỹ có thể khiếncác nướckhác còn lại trong khu vực tìm kiếm một FTA tương tự với Mỹ nhằm tránh bịphân biệt đối xử; thứ hai, các nước nói trên đều là những nền kinh tế mở, do đó nhữngkinh nghiệm từ quá trình đàm phán FTA với Mỹ có thể giúp họ chủ động hội nhậpkinh tế quốc tế ở mức độ cao hơn, với những phạm vi rộng hơn Dù chỉ một trong haikịch bản trên diễn ra thì mục tiêu thúc đẩy tiến trình tự dohoá thương mại của Mỹ trênphạm vi toàn cầu có tính khả thi hơn
Dù với đối tượng nào thì mục tiêu xuyên suốt của Mỹtrong việc ký kết FTA là
hỗ trợ tiến trình tự do hoá thương mại đa phươngvà đẩy mạnh sự phổ biến của giá trị
tự do kinh tế Do đó, các yêu cầu trongFTA thường được Mỹ đặt ra rất cao với một nộidung rất toàn diện Tất cả các yếu tố có thể thúc đẩy việc hình thành một trật tự kinh tếquốc tế tự do nhất đều được Mỹ đưa vào nội dung đàm phán Mở cửa thị trường tối đa
và thực thi các điềukhoản nhằm bảo đảm cạnh tranh tự do hoá thương mại công bằng
là các mục tiêu được hiện thực hoá bằng các điều khoản mở cửa không giới hạn ở tất
cả các ngành sản xuất hàng hoá và dịch vụ Bên cạnh đó các yêu cầu về quyền sở hữutrí tuệ, minh bạch hoá chính sách, tiêu chuẩn lao động và môi trường cũng như tựdohoá các lĩnh vực đầu tư được đưa vào nội dung FTA với những yêu cầu cao hơnnhiều
so với các cam kết hiện có trên diễn đàn đa phương và so với các FTA giữa các nướcđang phát triển ký với nhau (có người gọi các FTA mà Mỹ tham gia ký kết là các FTA+) Kể từ NAFTA, các FTA của Mỹ đều được xác lập theo tiêuchuẩn WTO +
Tuy đặt ra mục tiêu tự do hoá thương mại ở mức cao nhất, song sự phức tạptrong nền chính trị lưỡng đảng ở Mỹ khiến chính sách FTA của Mỹ đôi khi nhận đượchản hồi không mấy tích cực từ các đối tác ở trình độ phát triển lẫn các đối tác đangphát triển
Mỹ chỉ tự do hoá cao nhất ở những ngành có lợi thế,trong khi đó lại bảo hộ kháchặt chẽ những ngành ít lợi thế cạnh tranh Mộtcách truyền thống, nông nghiệp làngành được Quốc hội Mỹ cho rằng khó có khả năng cạnh tranh với nông sản nhậpkhẩu do phải gánh chịu những chi phí lớn để thực thi hàng loạt những yêu cầu cao về
vệ sinh thực phẩm và bảo vệ sức khoẻ người tiêu dùng Vì vậy trong quá trình đàmphán các FTA, Mỹ luôn tìm cách bảo vệ ngành nông nghiệp của họ Cách bảo hộ làkhông cho phép hoặc hạn chế tiếp cận thị trường đối với những sản phẩm mà nông dân
Mỹ kém cạnh tranh, ví dụ như đường, sữa, thịt bò và một số nông sản khác Mặc dùtrợ cấp nông sản của Mỹ là rất lớn, mỗi năm các chủ trang trại nhận được khoản hỗ trợ
có giá trị hàng trăm tỷ USD, song họ luôn loại trừ điều này ra khỏi cơ chế giải quyếttranh chấp trong khuôn khổ FTA Để tạo thuận lợi đàm phán FTA, Mỹ chỉ chấpnhận
Trang 19xoá bỏ trợ cấp xuất khẩu trực tiếp đối với nông sản, tuy nhiên sự cắt giảm này là quánhỏ và nó gây ra sự bất bình đẳng trong đàm phán giữa các bên Đây là vấn đề khiếncho những vòng đàm phán FTA gần đây với một số nước có giá trị xuất khẩu nôngsản khá lớn ở Nam Mỹ như Columbia, Bolivia, ở Đông Nam Á như Thái Lan,Malaysia không có thêm bất cứ tiến triển quan trọng nào
Một điểm đáng phê phán nữa trong chính sách FTA củaMỹ là việc sử dụngFTA như là một phần thưởng cho các nước đồng minh Có những bằng chứng chothấy sự ủng hộ nhiệt thành cả bằng tài chính lẫn sựtham gia của quân đội Australiarong chiến dịch chống khủng bố của Mỹ ở Afghanistan và tham chiến ở Iraq đã đượctrả công bằng một FTA được ký kết nhanh chóng (thời gian đàm phán và ký kết chỉmất 12 tháng) Trong khi đó một quốc gia khác ở trình độ phát triển tương tự Australia
và cũng đang nỗ lực hội nhập kinh tế quốctế là New Zealand đã bị Mỹ trừng phạt bằngcách trì hoãn đề nghị đàm phán FTA của nước này do phản đối cuộc chiến của Mỹ ởIraq Mặc dù cách ứng xử này cóthể tạo ra hiệu quả nhất định trong chính sách đốingoại nhưng nếu Mỹ tiếp tục duy trì sự phân biệt đối xử kiểu này có thể khiến cácnước khác xem xét lại mối quanhệ với Mỹ do lòng tự tôn dân tộc bị xâm phạm
1.2.2.2 Nhật Bản
Do sự thay đổi của thương mại thế giới, cũng như do những khó khăn của quátrình thỏa thuận các Hiệp định mậu dịch buộc Nhật Bản phải điều chỉnh chiến lượcbuôn bán của mình theo hướng tăng cường ký kết các Hiệp định thương mại tự do(FTA) với các nước trong khu vực, Tính đến tháng 2/2009, Nhật Bản đã ký kết được
11 FTA với các quốc gia châu Á, châu Âu
Nguyên nhân chuyển đổi chính sách thương mại Nhật Bản
- Chính sách tự do hóa thương mại của Nhật Bản bắt đầu thay đổi từ đầu nhữngnăm 2000s dựa trên những lý do sau:
- Nếu Nhật Bản vẫn đơn phương theo đuổi chính sách thương mại đa phương,Nhật Bản sẽ bị cô đơn và gặp nhiều bất lợi Trong khi hầu hết các đối tác thương mạicủa Nhật Bản đã ký kết các FTA Một khi hai quốc gia đã ký kết FTA với nhau thìchắc chắn mối quan hệ thương mại của các nước này sẽ trở nên gần gũi và thân thiếtvới nhau hơn
- Nhật Bản có thể thực hiện những cuộc cải cách cơ cấu triệt để nhờ Hiệp địnhthương mại tự do FTA Ví dụ, ngành công nghiệp rượu của Canada rất yếu trước khiCanada và Mỹ ký hiệp định thương mại tự do Bắc Mỹ (NAFTA) Khi có sự tham giacủa bên ngoài thông qua FTA, ngành công nghiệp rượu của Canada trở nên cạnh tranhhơn, sản xuất rượu gạo có chất lượng cao hơn
- FTA thúc đẩy các cuộc cải cách thương mại đạt triển vọng nhanh hơn Tổ chứcthương mại thế giới (WTO) Các thành viên của Tổ chức thương mại thế giới khó có
Trang 20thể có sự nhất trí cao bởi mức độ quan tâm và lợi ích rất khác biệt Nhưng trong trườnghợp FTA giữa hai hay nhiều nước, để đạt được sự nhất trí sẽ gặp ít khó khăn hơn.
- Các công ty Nhật Bản thực sự cảm thấy thua thiệt do FTA của các nền kinh tếkhác Ví dụ, các công ty của Mỹ có thể xuất khẩu hàng hóa đến Mêxicô với thuế quan
tự do theo qui định của Hiệp định thương mại tự do Bắc Mỹ (NAFTA) Các công tycủa châu Âu cũng có thể làm như vậy nhờ FTA giữa EU và Mêxicô
- Quyết định của Trung Quốc trong việc đàm phán FTA với ASEAN năm 2001cũng là sự kiện tranh luận, tạo áp lực thêm cho Nhật Bản điều chỉnh chính sách thươngmại, hướng Nhật Bản quan tâm hơn đến FTA nhằm tránh thua thiệt về lợi ích kinh tếcũng như vai trò ảnh hưởng trong khu vực Đông Á
- Việc theo đuổi chính sách tự do hóa thương mại theo hai gọng kìm của Mỹ (vừatăng cường hợp tác kinh tế khu vực và thúc đẩy hợp tác kinh tế song phương) cũng tạođộng lực mạnh cho sự chuyển đổi chính sách thương mại Nhật Bản Mỹ không những
đã thành lập Hiệp định thương mại tự do Bắc Mỹ (NAFTA) cách hàng chục năm, mà
đã ký Hiệp định mậu dịch tự do với 5 nước Trung Mỹ (kể cả Costa Rica và EnXanvado) và cả Hiệp định thương mại tự do với châu Á (Singapore, Thái Lan…)
Trong bối cảnh trên, Nhật Bản nếu không chuyển đối chính sách thương mại thì
sẽ bị tụt hậu so với những nước khác trong các cuộc thương lượng mua bán hàng hóa, đồng thời có nguy cơ bị thua thiệt trong các cuộc thương lượng mậu dịch ở WTO do Nhật Bản phản đối tự do hóa mậu dịch hàng nông sản
Nhân tố tác động chính sách tự do hóa thương mại Nhật Bản
- Để ký kết những hiệp định mậu dịch tự do khu vực, Nhật Bản đã áp dụng cáctiêu chuẩn về nhân tố kinh tế, địa lý, chính trị để lựa chọn đối tác FTA của mình:
- Về nhân tố kinh tế: Nhật Bản ký các hiệp định thương mại tư do (FTA) vớinhững nước không tác động tiêu cực đến sức cạnh tranh của các ngành công nghiệptrong nước của Nhật Bản Các FTA mới này sẽ đóng góp vào những cải cách cơ cấu
và phi điều chỉnh trong nước của Nhật Bản
- Về nhân tố địa lý: Nhật Bản chú trọng ký kết FTA với những đối tác ở khu vựcĐông Bắc Á trong khi hạn chế tiếp cận tới các nước thuộc khu vực khác Điều này thểhiện rõ mục tiêu chiến lược của chính phủ Nhật Bản nhằm thúc đẩy sự liên kết kinh tếkhu vực và tăng cường ổn định khu vực
- Về nhân tố chính trị: Các FTAs mà Nhật Bản ký kết sẽ không chỉ đem lạinhững lợi ích kinh tế, mà còn phải đóng góp vào việc cải thiện các quan hệ chính trị vàngoại giao khu vực Ngoài những nhân tố trên, Nhật Bản cũng xem xét đến khả năngtổn hại đến cơ sở kinh doanh trong nước của sản phẩm nhập khẩu khi ký FTAs vớinước khác (ví dụ như với Trung Quốc, Mỹ, EU…) bởi vì, Nhật Bản lo sợ sản phẩm
Trang 21nhập khẩu từ các quốc gia này sẽ tràn ngập thị trường trong nước, ảnh hưởng đến hoạtđộng sản xuất của thị trường nội địa.
Tuy nhiên, trên bình diện quốc tế, việc theo đuổi các Hiệp định thương mại tự
do FTA đang đặt ra một số vấn đề, đó là:
Các chính phủ hiện theo đuổi FTA như là một công cụ trong chính sách thươngmại gồm nhiều tầng nấc đan xen nhau, gồm cả song phương, khu vực và đa phương.Nếu có quá nhiều FTA mà không có sự điều phối thỏa đáng thì điều này sẽ đe dọa sẽlàm đổ vỡ tiến trình Doha
Hầu như tất cả các FTA của Nhật Bản hình thành trong thời gian gần đây đều
có nội dung bao trùm các lĩnh vực dịch vụ và sở hữu trí tuệ, đặc biệt cả đầu tư vàthương mại điện tử , là những lĩnh vực chưa có quy định quốc tế chung Vì vậy, cáccam kết mang tính ràng buộc chưa chắc phù hợp, thậm chí tạo ra những rào cản mớicho các nước bên ngoài và tác động tiêu cực đến tiến trình đàm phán đa phương về cáclĩnh vực này, giảm bớt thương mại của các nước không tham gia FTA
Tham gia FTA dường như chỉ nhằm mục đích tự vệ để tránh bị gạt ra ngoài,chứ hoàn toàn không theo một chiến lược cụ thể, khiến tình hình FTA nói chung trênthế giới càng thêm phức tạp, đặc biệt là tại Đông Á Nhật Bản trước những năm 2000còn rất bàng quan, giờ đã trở thành nước ráo riết tìm kiếm FTA song phương, chủ yếu
vì ngại các nước khác có FTA sẽ chiếm mất thị trường truyền thống của họ
Các FTA đều được tiến hành một cách riêng rẽ hoàn toàn hoặc rất thiếu sự phốihợp tổng thể chung, không chỉ ở bình diện từng khu vực mà cả trong từng quốc gia.Nhật Bản, vừa tham gia cùng ASEAN, vừa đàm phán song phương riêng rẽ với TrungQuốc, Thái Lan, Philippines, nơi các bộ, ngành chủ chốt bất đồng với nhau về việc nênđàm phán riêng rẽ với từng nước hay đàm phán chung với cả khối ASEAN
Nếu tham gia nhiều FTA song phương, mà quy tắc xuất xứ của một loại hànghóa nào đó lại khác nhau trong từng hiệp định, thì doanh nghiệp xuất khẩu mặt hàng
Trang 22(chủ yếu nhằm mở rộng hoạt động thương mại), mục tiêu FTA của Nhật Bản khôngchỉ là tạo điều kiện thuận lợi cho các hoạt động thương mại mà còn thúc đẩy môitrường kinh doanh và khuyến khích hợp tác kinh tế với các nước đối tác nơi có cácdoanh nghiệp Nhật Bản đang hoạt động
1.2.2.3 Hàn Quốc
Nền kinh tế Hàn Quốc, nền kinh tế lớn thứ 11 trên thế giới, phụ thuộc rất lớnvào xuất khẩu Tổng kim ngạch ngoại thương của Hàn Quốc chiếm tới 70% GDP củanước này Tuy nhiên, cho đến những năm gần đây, Hàn Quốc vẫn bị xem là quốc giatụt hậu rất xa so với các nước thành viên WTO khác trong các đàm phán Khu vực Mậudịch Tự do (FTA) vào thời điểm mà làn sóng FTA đang lan rộng ở khu vực Châu Á vàmột số khu vực khác trên thế giới Hàn Quốc là một trong hai nước thành viên WTOcòn lại, cùng với Mông Cổ, không tham gia vào bất cứ hiệp định FTA nào trước khinước này kết thúc đàm phán và ký kết Hiệp định FTA đầu tiên với Chi Lê vào tháng 3năm ngoái
Một năm sau khi ký kết Hiệp định FTA với Chi Lê, xuất khẩu của Hàn Quốcsang quốc gia Nam Mỹ này đã tăng lên một cách nhanh chóng Theo Hiệp hội Thươngmại Quốc tế Hàn Quốc (KITA), hàng hoá chuyên chở bằng đường biển của Hàn Quốcsang Chi Lê đã tăng 58,7% trong 11 tháng qua so với năm trước đó sau khi Hiệp địnhFTA ký với Chi Lê có hiệu lực vào tháng 4 năm ngoái Xuất khẩu ôtô của Hàn Quốcsang Chi Lê cũng tăng 59,3%, xuất khẩu điện thoại di động tăng 225,7% và xuất khẩutivi màu tăng 110.4% Nhập khẩu từ Chi Lê cũng tăng 54,3% trong cùng thời kỳ đó,chủ yếu là các nguyên vật liệu thô, trong đó có quặng đồng Nhập khẩu các sản phẩmnông nghiệp, trừ rượu, từ Chi Lê tăng thấp hơn mức dự kiến 2,6% đã làm dịu bớtnhững lo ngại của nông dân, những người luôn đấu tranh chống lại việc mở cửa thịtrường hàng nông sản vốn đang được Hàn Quốc bảo hộ chặt chẽ
Nhìn chung, Hiệp định FTA với Chi Lê đã cho thấy tiềm năng tăng trưởng mớitrong năm qua, làm tăng niềm tin về mở cửa thị trường và xoa dịu những lo ngại đốivới tự do hoá thương mại của quốc gia này Lạc quan về tình hình xuất khẩu gia tăngsau khi ký kết Hiệp định FTA đầu tiên với Chi Lê, Hàn Quốc thể hiện tham vọngmuốn đẩy mạnh đàm phán và ký kết các hiệp định FTA với ít nhất 15 quốc gia khác,
dự kiến hoàn thành vào năm 2007 trước khi nhiệm kỳ 5 năm của Tổng thống RohMoo-huyn kết thúc Nhằm đạt mục tiêu này, Hàn Quốc sẽ tiến hành các đàm phán với
50 đối tác thương mại trên toàn thế giới
Trong điều kiện như hiện nay, Hàn Quốc hiểu rằng các FTA đóng một vai tròquan trọng trong sự phát triển của nền kinh tế Chính sách đa biên sẽ giúp Hàn Quốcđẩy mạnh tự do hoá thương mại, giảm dần các rào cản đối với thương mại và bảo đảmđem lại nhiều lợi ích hơn cho nền kinh tế vốn phụ thuộc vào xuất khẩu của mình Mộtchiến lược dài hạn nhằm phát triển và mở rộng thương mại là cần thiết đối với nền
Trang 23kinh tế Hàn Quốc vốn đang phải đối mặt với nhiều điều kiện bất lợi từ bên ngoài nhưgiá dầu tăng cao, đồng won tăng giá so với đồng đôla Mỹ và ngày càng xuất hiệnnhiều rào cản thương mại khác Mở rộng các đàm phán FTA được xem là giải phápduy nhất để các công ty Hàn Quốc có thể tiếp cận tốt hơn với thị trường bên ngoài.Trong khi đó, một số quan điểm khác lại cho rằng việc đẩy nhanh các đàm phán FTA
có thể sẽ phản tác dụng, ảnh hưởng xấu đến một số ngành công nghiệp chủ chốt trongnước
Hàn Quốc đã hoàn tất những khâu cuối cùng để Quốc hội chính thức thông quaHiệp định FTA ký kết với Singapore vào tháng 4 vừa qua Với Hiệp định FTA này,Hàn Quốc hy vọng có thể đẩy nhanh các đàm phán FTA với Hiệp hội các Quốc giaĐông Nam Á (ASEAN), Trung Quốc và các quốc gia ở Châu Á khác trong tương lai
Hàn Quốc hiện nay đang triển khai đàm phán FTA với 16 quốc gia khác, gồmNhật Bản, Canađa, 10 nước thành viên ASEAN và 4 nước thành viên Hiệp hộiThương mại Tự do Châu Âu (EFTA) Theo ước tính của Viện Chính sách Kinh tếQuốc tế Hàn Quốc, một Hiệp định FTA ký kết với ASEAN sẽ làm tăng GDP của HànQuốc 14,6 tỷ đôla Mỹ trong ngắn hạn và 18,2 tỷ đôla Mỹ về lâu dài Một Hiệp địnhFTA ký kết với EFTA sẽ làm tăng xuất khẩu của Hàn Quốc 26% mỗi năm Ngoài ra,Hiệp định FTA với EFTA cũng được xem như là sự khởi đầu đối với các hiệp định phithuế quan với Liên minh Châu Âu (EU) vì EFTA gồm bốn nước Châu Âu là Ai-xơ-len, Liechtenstein, Na Uy và Thụy Sỹ đã ký kết một Hiệp định FTA với EU
Hàn Quốc hiện đang tiến hành các nghiên cứu chung với 7 quốc gia, trong đó
có Ấn Độ, Mêhicô và Nga, về tính khả thi của các đàm phán FTA Hàn Quốc cũngđang tiến hành các đối thoại ban đầu với 27 quốc gia, trong đó có Mỹ, Trung Quốc vàEU
Nhật Bản hiện đang là một đối tác thương mại lớn của Hàn Quốc, với kimngạch thương mại song phương đạt 67,8 tỷ đôla Mỹ trong năm ngoái Đầu tư trực tiếpnước ngoài từ Nhật Bản tăng 2,24 tỷ đôla Mỹ, tăng 310% so với năm trước, đã đưaquốc gia này, cùng với Mỹ thành một trong những nước đầu tư lớn nhất vào Hàn Quốc
1.2.3 Bài học
Trong giai đoạn “hậu WTO” cần phải định hình một lộ trình mới cho hội nhậpkinh tế quốc tế, phù hợp với trào lưu khu vực hóa hiện nay Từ những phân tích về xuthế đàm phán FTA nói chung và thực tiễn một số nước, có thể thấy sự cần thiết phải cómột sách lược rõ ràng, cụ thể cho đàm phán FTA của Việt Nam Có như vậy chúng tamới có thể chủ động phối hợp giữa các diễn đàn kinh tế và ngoại giao, kết hợp cảicách trong nước với đàm phán thương mại, tránh bị động do bị cuốn theo trào lưu Về
cơ bản, sách lược này cần gắn với một số mục tiêu phát triển sau:
Trang 24- Mở rộng thị trường xuất khẩu Nền kinh tế trong giai đoạn khôi phục tăng trưởng rất cần thị trường đầu ra Bên cạnh việc phát triển thị trường nội địa với phong trào “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam” do Bộ Chính trị phát động, thị trường quốc tế vẫn có vai trò quan trọng đối với kinh tế nước ta trong điều kiện kim ngạch xuất khẩu tương ứng xấp xỉ 70% GDP Đặc biệt nhiều mặt hàng xuất khẩu chủ lực, đã khẳng định vị thế, có kim ngạch lớn (nông sản, dệt may, giày dép, đồ gỗ, thủy hải sản…) chỉ có thể phát triển khi mở rộng được thị trường quốc tế FTA là công cụ hữu hiệu để mở cửa cho hàng Việt Nam tiếp cận các thị trường tiềm năng mà không viphạm nguyên tắc không phân biệt đối xử trong thương mại quốc tế Bởi WTO thừa nhận quyền các quốc gia dành cho nhau các đãi ngộ ưu đãi trong khuôn khổ FTA.
- Phản ánh nhu cầu khách quan của nền kinh tế Về bản chất, FTA là sự
đánh đổi các cam kết mở cửa thị trường của mình lấy các cơ hội tiếp cận thị trường của đối tác Việc các doanh nghiệp không phát huy được các cơ hội trong FTA đồng nghĩa với việc ta bị thua thiệt Bởi vậy, đối tượng và nội dung đàm phán phải được hình thành từ thực tiễn, bắt nguồn từ nhu cầu của nền kinh tế và các doanh nghiệp Cần tạo điều kiện để các doanh nghiệp và giới học giả có thể đóng góp ý kiến vào quá trình hoạch định sách lược đàm phán
- Khắc phục hiệu ứng “chuyển hướng thương mại” Đối ngược với tác động
tích cực tạo “tăng trưởng thương mại” của FTA là hiệu ứng gây “chệch hướng thương mại” FTA đem lại ưu đãi cho hàng hóa và dịch vụ xuất khẩu của các nước thành viên
Vô hình trung nó hướng người tiêu dùng lựa chọn sản phẩm từ các nước này bởi lợi thế giá rẻ chứ không hoàn toàn do có sức cạnh tranh hơn sản phẩm tương tự từ các nước ngoài FTA
Điều đáng lưu ý là trong các FTA Việt Nam đã ký có Hàn Quốc và Trung Quốc
là hai đối tác ta đang nhập siêu ở mức cao Trong thời gian tới, FTA sẽ càng tăng sức cạnh tranh của hàng hóa hai nước này trên thị trường Việt Nam, gây khó khăn cho việckiềm chế nhập siêu từ hai nước này Ngoài các giải pháp tăng cường xuất khẩu, cần nghiên cứu phương án sử dụng các FTA khác để “lấy độc trị độc” Mở cửa thị trường cho hàng hóa và dịch vụ cho các đối tác khác sẽ gia tăng mức độ cạnh tranh trên thị trường Việt Nam, giúp kiềm chế bớt nhập siêu từ các đối tác này
- Phát triển quan hệ kinh tế để củng cố quan hệ chính trị truyền thống Có
một nhà kinh tế đã nhận định: trong nền kinh tế thị trường, tình bạn dựa trên lợi ích kinh tế bền vững hơn quan hệ kinh tế dựa trên tình bạn Những mối quan hệ hữu nghị với Liên bang Nga, Lào và Campuchia cần phải được “hiện thực hóa” và củng cố bằngcác thiết chế thương mại để phản ánh đúng tiềm năng quan hệ cũng như ý nghĩa chiến lược của các nước này trong chính sách đối ngoại của Việt Nam
Cần nhận thức rõ rằng, tiến trình đàm phán FTA sắp tới sẽ là một bước ngoặt mới, thách thức và đòi hỏi sự quyết tâm, trí tuệ như chúng ta đã từng thể hiện trong
Trang 25đàm phán WTO Nếu gánh nặng đàm phán WTO thiên về các cải cách thể chế thì đàm phán FTA sẽ chủ yếu tập trung vào mở cửa thị trường với những tác động trực tiếp hơn tới các doanh nghiệp và nền kinh tế Bởi vậy, cần tạo cơ chế để các doanh nghiệp thông qua các hiệp hội đóng góp ý kiến, trí tuệ của mình cho các cơ quan chức năng trong quá trình xây dựng định hướng hội nhập giai đoạn “hậu WTO”.
Trang 26: THỰC TRẠNG CHIẾN LƯỢC THAM GIA CÁC HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI TỰ DO CỦA VIỆT NAM TRONG GIAI ĐOẠN
1997-2011
1.3 CHIẾN LƯỢC THAM GIA CÁC HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI TỰ DO
1.3.1 Bối cảnh tham gia các hiệp định thương mại tự do của Việt Nam.
Việt Nam tham gia các FTA trong một thế giới toàn cầu hoá đang có nhữngthay đổi nhanh chóng nhưng chưa định hình; cục diện kinh tế thế giới đang có nhữngbiến đổi khó lường, tác động mạnh đến xu hướng tự do hoá thương mại toàn cầu
Trong nền kinh tế thế giới, mặc dù, xu hướng tự do hoá thương mại đã diễn ratrên nửa thế kỷ qua (từ GATT 1947) nhưng đến nay chủ nghĩa bảo hộ vẫn đang là mộtthách thức đối với các vòng đàm phán đa phương của WTO, đối với tiến trình toàn cầuhoá và tái cấu trúc nền kinh tế thế giới sau cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoáitoàn cầu hiện nay
Từ thập kỷ 90 của thế kỷ trước, tiến trình tự do hóa thương mại toàn cầu bị chiphối bởi các xu hướng lớn: 1) Xu hướng toàn cầu hóa, khu vực hóa và hội nhập quốc
tế được đẩy mạnh; 2) Xu hướng phát triển nền kinh tế tri thức diễn ra nhanh chóng; 3)
Sự thay đổi tương quan sức mạnh của các cường quốc đang tạo ra một cục diện vànhững tình huống phát triển mới Hiệu ứng tổng hợp của các xu hướng đó đã một mặtthúc đẩy tái cấu trúc nền kinh tế thế giới (sản xuất, thương mại và thể chế ), mặt khácthúc đẩy xu hướng liên kết song phương đang lấn át mạnh mẽ xu thế đa phương theokhu vực và toàn cầu Các liên kết song phương đang được đẩy lên vị trí ưu tiên trongchiến lược phát triển của các quốc gia, còn các liên kết đa phương đóng vai trò xúc tác
và làm nền tảng cơ sở cho các liên kết song phương
Quá trình toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng hơn, các nềnkinh tế càng trở nên tùy thuộc lẫn nhau nhiều hơn Bên cạnh những tác động tích cựccủa quá trình đó đối với phát triển kinh tế hiện đại thì thế giới đang trở nên bất thường
và khó dự đoán hơn, các quá trình phát triển có độ rủi ro ngày càng tăng lên, nhất làđối với các nền kinh tế kém phát triển Trong khi đó, thực tiễn thế giới trên một thậpniên qua với kinh nghiệm của cuộc khủng hoảng tài chính – tiền tệ Châu Á (1997-1998), khủng hoảng tài chính Argentina và cuộc khủng hoảng tài chính dẫn đến suythoái kinh tế toàn cầu từ năm 2008 đến nay, lại cho thấy: Các thể chế kinh tế toàn cầunhư WB, IMF thiếu năng lực phản ứng nhanh và chính xác để cảnh báo, ngăn chặn
và khắc phục các rủi ro phát triển Mặt khác, dưới tác động của các xu hướng côngnghệ hiện đại, các quá trình cơ cấu và tái cơ cấu của nền kinh tế thế giới đang chuyểnđộng rất nhanh, chúng tạo ra rất nhiều cơ hội phát triển cho mỗi quốc gia Trong khi
đó, các nguyên tắc và “luật chơi” của hệ thống kinh tế thế giới lại chưa được định
Trang 27hình, chưa được khẳng định là cấu trúc nào bảo vệ được lợi ích quốc gia một cách hữuhiệu trên nguyên tắc bình đẳng Trong bối cảnh đó, để tóm bắt được các cơ hội pháttriển “thoắt đến, thoắt đi”, mỗi quốc gia cần phải phát triển nhanh các quan hệ mở cửa,liên kết và hội nhập thực chất; có cơ chế đối ngoại cho phép phản ứng nhanh trước các
cơ hội, đồng thời tạo dựng được chỗ dựa “đối ngoại” mạnh để chuyển hóa các cơ hộiphát triển lớn nhất (cơ hội công nghệ, cơ hội vốn, cơ hội thị trường ) thành hiện thứcphát triển nhanh nhất Điều đó cũng có nghĩa rằng, khả năng đáp ứng các lợi ích pháttriển quốc gia của các quá trình đa phương – toàn cầu khó có thể cao hơn khả năng củacác quá trình khu vực, còn các quá trình khu vực lại ít khả năng như vậy hơn các quátrình song phương
Tại khu vực Đông Nam Á, ASEAN chuyển động với tư cách là một khối liênkết “đa phương” Cùng với tiến trình thực hiện CEPT/ATIGA/AFTA…, các thànhviên đang nỗ lực hướng tới cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC) vào năm 2015 Sau cuộckhủng hoảng tài chính (1997 – 1998), các nước ASEAN đã đẩy nhanh các nỗ lực tìmkiếm động lực cải cách và tăng trưởng, chuyển hướng chính sách kinh tế đối ngoạisang liên kết kinh tế khu vực và song phương Cuộc bùng nổ FTA ở Đông Á (TrungQuốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, Hồng Kông…) đã tạo hiệu ứng mạnh đến xuhướng liên kết của ASEAN Một mặt, ASEAN với tư cách là một FTA, đã mở rộngcác FTA liên khu vực với Trung Quốc (ACFTA), Nhật Bản (AJCEP), Hàn Quốc(AKFTA), Ấn Độ (AITIG), Úc và NiuDilân (AANZFTA) và sắp tới là AEFTA… Mặtkhác, do năng lực và trình độ liên kết của các thành viên ASEAN rất khác nhau trongkhi lợi ích phát triển của một số thành viên có thể tổn hại nếu quá trình liên kết khuvực diễn ra chậm, nên một số thành viên đã ít chú trọng hơn đến liên kết khu vực đểtheo đuổi các quá trình thiết lập các FTA song phương bên ngoài (“đi đêm”) hoặc đẩynhanh hơn quá trình liên kết ASEAN – Đông Á so với quá trình liên kết ASEAN Từnăn 2003 đến nay, ASEAN trở thành khu vực săn lùng BFTA của các nước khu vựcChâu Á – Thái Bình Dương Đến nay, Singapore đã ký BFTA với Nhật Bản, Mỹ,Trung Quốc, Ấn Độ, Hàn Quốc, Úc… Thái Lan cũng đã ký BFTA với Nhật Bản, Ấn
Độ, Hàn Quốc, Úc… và đang xúc tiến ký BFTA với Trung Quốc, Hoa Kỳ, Hàn Quốc.Maylaysia, Philipin, Indonexia cũng đã ký BFTA với Nhật Bản, đồng thời đang xúctiến đàm phán để ký BFTA với Úc Hiện nay các nước ASEAN đang xem xét khảnăng tham gia đàm phán FTA Đông Á mở rộng (gồm ASEAN và các nước Đông BắcÁ) và tham gia Hiệp định đối tác kinh tế chiến lược xuyên Thái Bình Dương (TPP)…
Các quá trình tương tự các trường hợp điển hình nêu trên cũng đang diễn ra ởnhiều khu vực, quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới, tạo ra làn sóng FTA mà đỉnhcủa nó là các BFTA diến ra ở qui mô toàn cầu Theo thống kê của WTO, tính đến năm
2008, trong nền thương mại toàn cầu có khoảng 300 FTA đã có hiệu lực
Việt Nam đã chậm một nhịp và chưa bắt kịp xu hướng tham gia FTA của khuvực, của thế giới Đến nay, Việt Nam đã tham gia 6 FTA khu vực nhưng ngoại trừ
Trang 28VJEPA (phần nhiều do phía Nhật Bản hối thúc theo chiến lược FTA hướng mạnhxuống phía Nam của Nhật Bản) thì ta chưa ký được một BFTA nào khác So với bốicảnh bùng nổ BFTA trên thế giới, nhất là ở khu vực Đông Á và ngay trong nội bộASEAN, có thể thấy chúng ta đã chưa bắt kịp xu hướng của khu vực, của thế giới.
Việt Nam với vị trí chiến lược tại khu vực Nam Á và châu Á – Thái BìnhDương, có nền kinh tế đang đi lên và có vị thế ngày càng lớn trong kinh tế toàn cầu,thị trường có tiềm nằng lớn về sức mua nhưng mức độ bảo hộ còn khá cao, vị thế cạnhtranh còn thấp (ở cả cấp độ doanh nghiệp, sản phẩm và toàn nền kinh tế) Đây vừa là
cơ hội vừa là thách thức đối với ta trong việc lựa chọn đúng đối tác và mô hình FTAphù hợp với điều kiện của ta
1.3.2 Việt Nam tham gia hiệp định thương mại tự do của một số quốc gia lớn
Các nước lớn khi tăng cường các FTA thường xây dựng chiến lược tham gia FTA(dưới đây gọi tắt là chiến lược FTA) để thống nhất chủ trương và hành động
•Việt Nam với chiến lược FTA hướng về Đông Á và hướng xuống phía Nam củaNhật Bản:
Chiến lược tham gia FTA của Nhật Bản là chiến lược FTA hướng về Đông Ánhằm thực hiện chiến lược tổng thể cạnh tranh Đông Á của Nhật Bản Bước sang thế
kỷ XXI, có ba yếu tố chủ yếu thôi thúc Nhật Bản phải xem xét lại chiến lược FTA củamình: i) Sự gia tăng của các Hiệp định thương mại tự do khu vực trên thế giới và sự bếtắc của mô hình liên kết đa phương trong khung khổ WTO; ii) Cơn sốt FTA của khuvực Châu Á do Trung Quốc khởi xướng; iii) Nhu cầu thúc đẩy việc tái cơ cấu lại nềnkinh tế Nhật Bản để phù hợp với môi trường kinh tế mới
Mô hình chiến lược FTA của Nhật Bản gồm những đặc trưng cơ bản, gồm: Một
là, các đối tác ưu tiên ký kết FTA của Nhật Bản được sắp xếp dựa theo các tiêu chí: a)kinh tế, b) địa lý, c) chính trị và ngoại giao, d) mang tính khả thi, và e) thời gian liênquan Theo đó, Nhật Bản ưu tiên ký kết FTA với các nền kinh tế lớn hoặc các nước,các khối kinh tế lớn có vai trò chính trị, ngoại giao đặc biệt quan trọng đối với NhậtBản; và các quốc gia Đông Á là ưu tiên hàng đầu trong chiến lược FTA của Nhật Bản.Hai là, trong chiến lược đàm phán FTA, Nhật Bản luôn không nhượng bộ trong chínhsách bảo hộ nông nghiệp Ba là, Nhật Bản coi việc ký kết FTA là một kênh để hỗ trợcác nước đang phát triển Thứ tư, giống như các nước phát triển khác, Nhật Bản sửdụng cách tiếp cận đa chiều, tức là có thể cùng đàm phán FTA với nhiều nước, nhiềukhối kinh tế
Với chiến lược FTA hướng về Đông Á và hướng xuống phía Nam, tháng1/2002, Nhật Bản đã ký FTA đầu tiên với Singapore (JSEPA), bước đi đầu tiên cạnhtranh với Trung Quốc trong việc tạo lập một FTA với ASEAN, khu vực có vai trò đặcbiệt quan trọng trong chiến lược cạnh tranh Đông Á của Nhật Bản Năm 2003, NhậtBản cùng các nước ASEAN ký thoả thuận khung về đối tác kinh tế toàn diện ASEAN
Trang 29– Nhật Bản, bắt đầu khởi động đàm phán Hiệp định đối tác kinh tế toàn diện ASEAN– Nhật Bản theo chiêu thức kết hợp giữa đàm phán song phương với đàm phán đaphương Với bước đi và chiêu thức đó, trong giai đoạn 2002 – 2008, cùng với việc kýHiệp định đối tác kinh tế toàn diện với ASEAN (AJCEP), Nhật Bản cũng đã ký Hiệpđịnh đối tác kinh tế toàn diện song phương với từng nước ASEAN 6 và Việt Nam (vớiSingapore tháng 1/2002, với Maylayxia tháng 12/2005, với Philipin tháng 9/2006, vớiThái Lan tháng 4/2007, với Brunei tháng 6.2007, với Indonexia tháng 8/2007 và vớiViệt Nam tháng 12/2008) Qua việc ký kết FTA đa phương với ASEAN (AJCEP) và
ký FTA song phương với 7 nước ASEAN, Nhật Bản đã tương đối thành công trongchiến lược FTA hướng về Đông Á của mình, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp NhậtBản trong xu hướng chuyển dịch đầu tư từ Đông Bắc Á (nhất là từ Trung Quốc) xuốngĐông Nam Á (trong số 15 FTA khu vực và song phương của Nhật Bản đã ký kết vàđang đàm phán, có 10 FTA với các nước Đông Á mở rộng và 12 nước khu vực Châu
Á – Thái Bình Dương) Việt Nam đã tham gia AJCEP và cùng Nhật Bản ký kếtVJEPA (ngày 25/12/2008) là nằm trong động thái chiến lược FTA hướng về Đông Ácủa Nhật Bản Đến nay, hai nước đang xem xét khả năng phát triển hơn nữa mối quan
hệ FTA như đàm phản bổ sung thêm ưu đãi cho nhau trong khuôn kkhổ VJEPA hoặccùng tham gia vào một FTA khu vực rộng lớn hơn như FTA Đông Á mở rộng
•Việt Nam với chiến lược FTA hướng tới các nền kinh tế có tiềm năng lớn, mức
độ tự do hoá cao và có tính đa chiều của Hàn Quốc:
Từ năm 1998, chiến lược tham gia FTA của Hàn Quốc có những đặc trưng chủyếu gồm: Một là, hướng đến việc đàm phán ký kết các FTA với các nền kinh tế lớnhoặc các khối kinh tế và các thị trường mới nổi Hai là, theo đuổi các FTA có mức độ
tự do hoá cao và có phạm vi điều chỉnh toàn diện Ba là, theo đuổi cách tiếp cận đachiều, có thể đàm phán ký FTA đồng thời với nhiều nước nếu cần thiết Bốn là, để đạtđược sự nhất trí trong nước trong quá trình tham gia các FTA, Chính phủ thườngxuyên có những nỗ lực thiết lập kênh trao đổi giữa khu vực Nhà nước và khu vực tưnhân (trong số 12 FTA khu vực và song phương Hàn Quốc đã ký kết và đang đàmphán, có 8 FTA với các đối tác lớn là: Mỹ, Nhật Bản, Trung Quốc, EU, ASEAN, Ấn
Độ, EFTA, Úc
Việt Nam đã cùng các nước ASEAN tham gia khu vực thương mại tự doASEAN – Hàn Quốc (AKFTA) trên cơ sở Hiệp định thương mại hàng hóa ký tháng8/2006 (có hiệu lực từ 1/6/2007), Hiệp định thương mại dịch vụ ký tháng 11/2007, vàđang tiến hành đàm phán về đầu tư, các dự án hợp tác kinh tế và việc thực thi Hiệpđịnh đã ký Khả năng Việt Nam đàm phán ký FTA song phương với Hàn Quốc là cónhiều hạn chế nhưng khả năng đàm phán song phương để bổ sung thêm ưu đãi chonhau trong khuôn khổ AKFTA và cùng tham gia vào một FTA khu vực rộng lớn hơn(như FTA Đông Á mở rộng và TPP) là có tính hiện thực cao
Trang 30•Việt Nam với chiến lược FTA lan toả và hướng về Châu Á – Thái Bình Dươngcủa Trung Quốc:
Chiến lược FTA của Trung Quốc từng bước định hình từ sau năm 1999 TrungQuốc chưa đưa ra một chiến lược chính thống, nhưng thông qua các FTA mà TrungQuốc đã ký, đang đàm phán hoặc đang nghiên cứu, có thể nhận diện đặc trưng củachiến lược FTA của Trung Quốc là: Tập trung vào khu vực Châu Á – Thái BìnhDương , các quốc gia láng giềng, các nước công nghiệp mới và các nước đang pháttriển Mục tiêu chủ yếu hướng tới trong chiến lược FTA của Trung Quốc, gồm: 1)Thông qua các FTA để thúc đẩy hợp tác kinh tế khu vực Châu Á, trước hết là NhậtBản, Hàn Quốc và ASEAN; 2) Các FTA tạo điều kiện cho Trung Quốc có khuôn khổthể chế với các đối tác, nhằm thúc đẩy hợp tác song phương về thương mại và đầu tưvới các đối tác, để đảm bảo thị trường XK, tăng cường xuất siêu – một động lực tăngtrưởng kinh tế của Trung Quốc; 3) Thắt chặt mối quan hệ hợp tác kinh tế với các đốitác, củng cố hoà bình, an ninh và ổn định khu vực để Trung Quốc tiếp tục duy trì đượctốc độ tăng trưởng kinh tế cao; 4) Các FTA là một công cụ giúp Trung Quốc đảm bảođược an ninh năng lượng (trong số 16 FTA khu vực và song phương Trung Quốc đã
ký kết và đang đàm phán, có 5 FTA với các nước láng giềng và các vùng lãnh thổ củaTrung Quốc, và có 8 FTA với các đối tác thuộc khu vực Châu Á – Thái Bình Dương)
Với định hướng và mục tiêu tổng quát nêu trên, Trung Quốc áp dụng chính sáchlinh hoạt trong đàm phán ký kết các FTA Các FTA của Trung Quốc với các vùnglãnh thổ thuộc Trung Quốc (Hồng Kông, Ma Cao) có mức độ tự do hoá cao hơn cácđối tác khác ngoài Trung Quốc Đối với các FTA này, trong lĩnh vực hàng hóa, TrungQuốc thường áp dụng tiêu chí so sánh mức độ tự do hoá thương mại dựa trên kimngạch nhập khẩu Theo đó, Trung Quốc cam kết dành thuế suất ưu đãi 0% đến trên90% đối với hàng nhập khẩu từ các đối tác FTA (FTA Trung Quốc – Singapore là95%, FTA Trung Quốc – Chilê là 97,2%) Cách tiếp cận này giúp Trung Quốc vẫn giữlại được những bảo lưu đối với những mặt hàng mà Trung Quốc cần bảo hộ mà cácbiện pháp thuế quan hoặc phi thuế quan Trung Quốc đang áp dụng , khiến kim ngạchnhập khẩu của những mặt hàng đó từ các đối tác FTA là không đáng kể Mặt khác,Trung Quốc cũng sẵn sàng sử dụng cách tiếp cận dành ưu đãi sớm cho một số mặthàng (chương trình thu hoạch sớm trong ACFTA và FTA Trung Quốc – Pakixtan)trước khi hai bên có thể hoàn tất đàm phán FTA
Trong lĩnh vực dịch vụ, mức độ mở cửa thị trường của Trung Quốc cao hơncam kết của Trung Quốc trong WTO nhưng không nhiều, tập trung chủ yếu vào cácngành dịch vụ chuyên môn, kinh doanh, y tế, giáo dục, văn hoá Các ngành dịch vụchủ chốt có giá trị gia tăng cao như tài chính, viễn thông, vận tải… nhìn chung có mức
độ cam kết như cam kết của Trung Quốc khi gia nhập WTO
Việt Nam đã cùng các nước ASEAN ký Hiệp định khung về hợp tác kinh tếtoàn diện ASEAN – Trung Quốc (ACFTA) tháng 11/2002, Hiệp định thương mại hàng
Trang 31hóa ASEAN – Trung Quốc tháng 11/2004 (nhưng Việt Nam bảo lưu về danh mục camkết thuế) Từ tháng 1/2005 Việt Nam đã chủ động kết hợp đàm phán thuế quan trongkhuôn khổ gia nhập WTO và đàm phán thành lập khu vực thương mại tự do ASEAN –Trung Quốc Ngày 18/7/2005 ký kết biên bản ghi nhớ giữa Việt Nam và Trung Quốc
về xử lý những vấn đề còn tồn tại trong Hiệp định thương mại hàng hóa ASEAN –Trung Quốc, đồng thời kết thúc đàm phán song phương với Trung Quốc về việc ViệtNam gia nhập WTO
Hiện nay, Việt Nam và Trung Quốc cũng đang xem xét các khả năng về việcđàm phán ký FTA song phương hay cùng tham gia FTA Đông Á mở rộng, và /hoặctham gia TPP
•Việt Nam với chiến lược FTA có mức độ tự do hoá thấp và bảo hộ nông nghiệpcao của Ấn Độ:
Ấn Độ là nền kinh tế lớn mới nổi nhưng vẫn là nền kinh tế bảo hộ ở mức cao vàkhông dựa vào XK mà dựa vào đầu tư và tiêu dùng trong nước Ấn Độ hiện cũng lànước áp dụng nhiều nhất các biện pháp thuế chống bán phá giá và tự vệ thương mại
để bảo hộ nền sản xuất trong nước nên các nước rất khó thâm nhập thị trường Ấn Độ(nguyên nhân chủ yếu của tình trạng đó là do sức cạnh tranh của nền kinh tế và hànghóa Ấn Độ không cao trên thị trường thế giới) Thế nhưng, Ấn Độ hiện là nước Châu
Á có số lượng Hiệp định thương mại tự do (FTA, CECA, PTA…) nhiều nhất đã vàđang thực hiện hoặc đàm phán
Đặc điểm nêu trên cũng qui định mục tiêu, quan điểm và phương hướng chiếnlược tham gia các FTA của Ấn Độ là nhằm mở ra các cơ hội để Chính phủ Ấn Độ dỡ
bỏ các thủ tục và tình trạng trì trệ trong sản xuất, tạo điều kiện cho hàng hóa Ấn Độthâm nhập thị trường nước ngoài, tăng cường XK hàng hóa, công nghệ và dịch vụ
Mô hình FTA mà Ấn Độ chú trọng hướng tới là những mô hình có mức độ tự do hoáthương mại thấp, độ liên kết không cao (CECA, CEPA, PTA, TIG…); các Hiệp định
về từng lĩnh vực (thương mại hàng hóa, dịch vụ, đầu tư…) thường được đàm phán và
ký riêng lẻ mà không muốn ký các FTA “trọn gói” Về định hướng đối tác tham giaFTA, Ấn Độ rất muốn ký FTA, CECA với các nước mà Ấn Độ có lợi thế xuất khẩunhư Mỹ, GCC, Srilanka, Bănglađét, Pakistan, Việt Nam…, nhưng không muốn kýFTA với các nước Ấn Độ đang nhập siêu và có khả năng cạnh tranh mạnh hơn mìnhnhư Trung Quốc Trong đàm phán và ký kết các FTA, Ấn Độ không áp dụng FTA chotất cả các hàng hóa mà luôn bảo lưu số lượng lớn các mặt hàng nông nghiệp khôngđưa vào danh mục cắt giảm hoặc nhượng bộ thuế nhằm tiếp tục bảo hộ nông nghiệp
Việt Nam đã cùng các nước ASEAN đàm phán với Ấn Độ ký Hiệp định khung
về hợp tác kinh tế toàn diện ASEAN – Ấn Độ nhằm thiết lập AIFTA vào năm 2011đối với ASEAN 5 (Brunei, Indonexia, Maylayxia, Singapore, Thái Lan) và vào năm
2016 với các nước ASEAN còn lại Tuy nhiên, phải 6 năm sau ASEAN và Ấn Độ mới
Trang 32kết thúc đàm phán căng thẳng để ký Hiệp định thương mại hàng hóa ASEAN – Ấn Độ(ATIG) và năm 2009 Trong đó, vẫn có khoảng 600 mặt hàng nông nghiệp của Ấn Độkhông trong danh mục cắt giảm hoặc nhượng bộ thuế Hiện nay, cả Ấn Độ và ViệtNam đều đang xem xét việc ký FTA song phương Việt Nam – Ấn Độ.
•Việt Nam với chiến lược FTA toàn diện (phạm vi và mức độ tự do hoá)và liênkết song phương với đa phương của Úc:
Tháng 1/1983, Úc bắt đầu thử nghiệm mô hình FTA song phương bằng việc kýkết Hiệp định quan hệ kinh tế thân thiện Úc – NiuDilân (ANZCERTA) Từ năm 2003
Úc đẩy mạnh tham gia các FTA Chiến lược tham gia FTA của Úc theo các quan điểm
và định hướng chính là: i) Úc sử dụng các FTA làm công cụ để đẩy nhanh tự do hoáthương mại song phương và đa phương; ii) Tăng cường liên kết giữa chiến lược FTAsong phương và chiến lược FTA đa phương khu vực nhằm thực hiện chiến lượcthương mại quốc tế đa dạng (chiến lược chung), nâng cao khả năng cạnh tranh xuấtkhẩu và tìm kiếm các cơ hội thị trường mới ít rủi ro và bất lợi cho nhà xuất khẩu củaÚc; iii) Hướng tới các FTA mang tính toàn diện cả về phạm vi cũng như mức độ tự dohoá nhằm tối đa hoá lợi ích và những đóng góp cho mục tiêu đẩy mạnh hệ thốngthương mại đa phương; iv) Chú trọng ký kết các BFTA với các đối tác chủ chốt như
Mỹ, EU, NiuDilân, Trung Quốc, Nhật Bản, Ấn Độ Các nước GCC… nhằm mở ra các
cơ hội cho các nhà xuất khẩu và đầu tư của Úc tại các thị trường lớn đồng thời hướngvào các thị trường tiềm năng khu vực Châu Á – Thái Bình Dương như ASEAN…
Việt Nam đã cùng các nước ASEAN ký FTA “trọn gói” với Úc và NiuDilân(AANZFTA) tháng 2/2009 (thực hiện từ 1/1/2010) Hiện nay cả hai nước đang xemxét khả năng đàm phán ký BFTA; đồng thời cùng tham gia TPP…
•Việt Nam với chiến lược FTA sử dụng cách tiếp cận ba chiều, toàn diện, mức
độ tự do hoá cao, dựa theo tiêu chí thương mại ngày càng nhiều hơn nhằm mục tiêukinh tế và tạo thế cân bằng địa lý của Hoa Kỳ:
Mô hình chiến lược FTA của Hoa Kỳ gồm những đặc trưng cơ bản: Một là,Hoa Kỳ sử dụng cách tiếp cận ba chiều (hướng) trong đàm phán ký kết các Hiệp địnhthương mại, gồm: (i) sử dụng các cuộc đàm phán đa phương để thiết lập và phát triểnmột hệ thống thương mại có qui tắc (ví dụ: Trong các vòng đàm phán WTO, NAFTA,US-DR-CAFTA…); (ii) sử dụng cách tiếp cận đơn phương làm mối đe doạ trả đũa đốitác (trái với nguyên tắc thông thường trong đàm phán là các bên thực hiện sự nhượng
bộ theo kiểu có đi có lại), thường là dưới hình thức hạn chế việc tiếp cận thị trườngHoa Kỳ, buộc các đối tác thương mại phải mở cửa thị trường cho hàng xuất khẩu củaHoa Kỳ hoặc chấm dứt các biện pháp và chính sách thương mại không có lợi cho Hoa
Kỳ, sử dụng cơ chế ưu đãi đơn phương đối với một số nước đang phát triển (ví dụ sửdụng GSP, sáng kiến khu vực Caribê…); (iii) sử dụng ngày càng nhiều hơn cách tiếpcận song phương và nhiều bên để thiết lập các FTA, coi các thoả thuận FTA là “cái
Trang 33van” an toàn cho hệ thống thương mại đa phương, thúc đẩy các cuộc đàm phán đaphương Hai là, chiến lược FTA của Hoa Kỳ đã chuyển từ sử dụng chính sách “câygậy và củ cà rốt” trong thời Tổng thống J.Bush sang dựa trên các tiêu chí thương mạingày càng nhiều hơn trong thời Tổng thống Obama Ba là, chiến lược đàm phán FTAcủa Hoa Kỳ luôn dựa vào bốn tiêu chí cơ bản là: khả năng ảnh hưởng đối với chínhsách trong nước, phù hợp với mục tiêu kinh tế của Hoa Kỳ; mức độ cam kết cải cáchthương mại của nước đối tác (nhiều khi) phải vượt trên các qui định của WTO; và phùhợp với chính sách ngoại giao của Hoa Kỳ Bốn là, các FTA Hoa Kỳ đàm phán ký kếtthường có phạm vi rộng, chi tiết, đa mục tiêu phù hợp với chiến lược toàn cầu của Hoa
Kỳ Chẳng hạn như: các vấn đề liên quan đến lợi ích kinh tế của Hoa Kỳ (xuất khẩu,lao động, môi trường, lợi ích của các nhà đầu tư…); nước đối tác đàm phán có tạo lậplại thế bình đẳng trong quan hệ với các nước khác đã ký FTA trước đó hay không; liệuFTA mới có nới rộng thêm phạm vi đàm phản liên quan đến các lĩnh vực khác (sở hữutrí tuệ, lao động, môi trường…) để tạo tiền lệ tốt cho các đàm phán cấp khu vực và thếgiới ở mức độ cao hay không; nước đối tác có ủng hộ những theo đuổi của Hoa Kỳtrong việc tham gia sâu hơn vào hội nhập toàn cầu trong khuôn khổ của WTO haykhông, có tạo ra cơ chế dân chủ và pháp quyền cho nước đối tác đàm phán hay không;việc đàm phán FTA với đối tác có tạo ra được lợi thế cân bằng địa lý trong chiến lượcthương mại của Hoa Kỳ hay không… Năm là, nội dung các FTA mới mà Hoa Kỳtham gia đàm phán, ký kết thường rất đồ sộ, “trọn gói” với các cam kết luôn ở mứcbằng hoặc cao hơn các FTA ký trước đó và cũng cao hơn các cam kết của WTO Cácngành hàng, lĩnh vực được đưa vào cam kết không những bao gồm hàng công nghiệp,nông nghiệp, mà cả các lĩnh vực dịch vụ, đầu tư, sở hữu trí tuệ, chính sách cạnh tranh,thủ tục hải quan và qui tắc xuất xứ, nhập cảnh tạm thời, mua sắm Chính phủ, lao động
và môi trường, giải quyết tranh chấp; trong các FTA đã ký thông thường có tới 85%danh mục hàng hóa được miễn thuế ngay lập tức và thường có điều khoản về danhmục “phủ định” (negative lis) Sáu là, hướng ưu tiên trong chiến lược FTA của Hoa
Kỳ là Châu Mỹ, Trung Đông, Đông Á và ASEAN (riêng ASEAN, Hoa Kỳ đã kýBFTA với Singapore và Maylayxia)
Trong quan hệ thương mại song phương Việt Nam – Hoa Kỳ, sau khi ký BTA(năm 2000), Hiệp định dệt may Việt Nam – Hoa Kỳ (tháng 4/2003), Chính phủ Hoa
Kỳ trao cho Việt Nam Qui chế quan hệ thương mại bình thường vĩnh viễn – PNTR(tháng 12/2006) và hai bên ký Hiệp định khung về thương mại và đầu tư (TIFA) tháng6/2007 Đến nay, hai nước đang nghiên cứu chuẩn bị đàm phán để ký BFTA và cùngtham gia đàm phán TPP
•Việt Nam với chiến lược FTA toàn diện về phạm vi, có mức độ tự do hoá cao
và hướng đến các thị trường tiềm năng có mức độ bảo hộ còn cao của EU:
Mô hình chiến lược FTA mới của EU (các mô hình FTA cũ mà EU đã kýkhông còn nhiều giá trị), có những đặc trưng chủ yếu, gồm: 1) EU hướng mạnh đến
Trang 34việc đàm phán, tham gia các FTA toàn diện về phạm vi và đi xa hơn nguyên tắc củaWTO nhằm đẩy mạnh hơn việc mở cửa thị trường và tự do hoá cao hết mức có thểtrong tất cả các lĩnh vực, loại bỏ tất cả các hạn chế nhập khẩu định lượng dưới tất cảcác dạng như thuế, phí, hạn chế xuất khẩu, cho EU tăng cường khả năng tiếp cận cácnguồn tài nguyên (nhất là năng lượng), giải quyết các rào cản phi thuế thông qua chiêuthức hội tụ các qui định, thực thi bảo đảm (IPRR) và cạnh tranh theo qui định của EU,đơn giản hoá các qui tắc xuất xứ, tăng cường phát triển bền vững với các điều khoản
về lao động và môi trường, giải quyết hậu quả tiêu cực của các Hiệp định FTA… 2)Tiêu chí kinh tế chính để EU đàm phán là thị trường tiềm năng, mức độ bảo hộ thịtrường còn cao, những thị trường mà các đối thủ cạnh tranh của EU đang hướng đếnđàm phán FTA (như ASEAN, Ấn Độ , Nga, Hàn Quốc, vùng vịnh…) 3) Các mô hìnhFTA mới mà EU hướng tới là đa dạng, với các Hiệp định FTA dưới nhiều hình thức và
“trọn gói”, mức độ tự do hoá rất cao với trên 80% dòng thuế tự do hoá ngay và trên90% dòng thuế có lộ trình cắt giảm nhất định
EU là đối tác thương mại hàng đầu của Việt Nam, EU đã đơn phương dành ưuđãi thuế quan cho Việt Nam Việt Nam đang cùng các nước ASEAN đàm phán với EU
để ký Hiệp định thiết lập khu vực thương mại tự do AEFTA; đồng thời, ta đang nghiêncứu khả năng đàm phán, ký kết BFTA với EU với những cơ hội và thách thức khôngnhỏ
1.4 CÁC CAM KẾT CHỦ YẾU CỦA VIỆT NAM TRONG CÁC HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI TỰ DO
1.4.1 Cam kết thuế quan của Việt Nam trong các hiệp định thương mại tự do
về thương mại hàng hoá
Tham gia vào các FTA Việt Nam đã cam kết lộ trình cắt giảm thuế quan về thương mại hàng hoá như sau:
- Về mức độ tự do hoá: cơ bản là cao hơn mức cam kết gia nhập WTO của ViệtNam Trong đó, khoảng 90% số dòng thuế (tính theo dòng thuế của kim ngạch nhậpkhẩu) với khung thời gian thực hiện cắt giảm xuống 0% trong vòng 10 năm, có một số
ít tỉ lệ dòng thuế được phép linh hoạt trong khoảng thời gian kéo dài thêm 2 – 6 năm.Trong đó, mức độ tự do hoá trong cam kết AFTA/CEPT/ATIGTA cao nhất (99 dòngthuế 8 số), thấp nhất là trong cam kết AIFTA/AITIG (80 dòng thuế 6 số) và trong camkết AJCEP (88,6% dòng thuế 10 số), cụ thể xem trong bảng 2.1
Trang 35Bảng 2.1 : Tổng hợp cam kết tự do hoá thuế quan của Việt Nam trong các FTA
đã ký kết
Các thoả thuận Tỉ lệ tự do hoá Bắt đầu Kết thúc
thực hiện cắt giảm từ 1999)
+ t/s 0-5%:2006 +t/s 0%: 2015, 7% số dòng thuế được linh hoạt đến 2018
NT2: 2018 ASEAN - Hàn Quốc 90% dòng thuế (6 số) 01/6/2007 NT1: 2016
NT2: 2018
NT2: 2021 ASEAN - Úc – NiuDilân 90% dòng thuế (8 số) 01/01/2010 NT1: 2018
NT2: 2020 ASEAN – Nhật Bản 88,6% dòng thuế (10 số) 31/12/2008 NT1: 2018 NT3: 2004
NT2: 2023 Việt Nam – Nhật Bản 91% dòng thuế (10 số) 01/01/2009 NT1: 2019 NT3: 2023
NT2: 2021 NT4: 2025
Nguồn UBQG về hợp tác KTQT
- Về lộ trình cắt giảm thuế: Với AFTA, ACFTA và AKFTA việc giảm thuế sẽđược thực hiện theo lộ trình qui định cho các bước giảm thuế hàng năm Mô hình giảmthuế đối với các FTA còn lại (AJCEP, AIFTA, AANZFTA, VJEPA) sẽ cắt giảm dầnđều từng năm để đạt mức thuế suất cuối cùng theo cam kết
Trang 36Bảng 2.2 : Khung thời gian cắt giảm và xoá bỏ thuế quan của Việt Nam trong các
FTA ASEAN-
Trung Quốc
(ACFTA)
ASEAN-Ấn Độ (AITIG/AIFTA)
ASEAN- Nhật Bản (AJCEP)
Việt Nam – Nhật Bản (VJEPA)
ASEAN- Hàn Quốc
(AKFTA)
ASEAN- NiuZilân
dòng thuế
31/3/2019:
62,2% dòng thuế 31/3/2024: 87,9 dòng thuế 31/3/2025: 88,6 dòng thuế
31/3/2020: 84,7%
kim ngạch 31/3/2025: 89,4 kim ngạch
31/3/2026: 89,8 kim ngạch
1/1/2016: 85%
dòng thuế 1/1/2018: 90%
dòng thuế
1/1/2018: 85% dòng thuế 1/1/2020: 90% dòng thuế
2 Kết thúc giảm thuế Danh mục nhạy cảm thường (SL)
2024: 12 dòng thuế (0%)
2025: 0,6% dòng thuế giảm xuống 5%
2024/2026: 0,6%
dòng thuế giảm xuống 5%
2021: 4%
dòng thuế giảm xuống 50%
2022: 6% dòng thuế giảm xuống 5%
3 Kết thúc giảm thuế Danh mục nhạy cảm cao (HSL)
gồm 93 dòng và giảm 25% gồm 137 dòng)
2023: 0,8%
dòng thuế giảm xuống 50%
2025: 0,8% dòng thuế giảm xuống 50%
2021: 6%
dòng thuế giảm xuống 50%
2022: 3% dòng thuế (giữ nguyên/giảm xuống 50%/40%)
Nguồn UBQG về hợp tác KTQT
- Về mức thuế bình quân đơn giản của biểu thuế theo cam kết của Việt Nam
trong các FTA (được giảm dần theo các mô hình và lộ trình khác nhau giữa các FTA):
Mức thuế trong AFTA giảm từ 3,2% năm 2008 xuống 0,4% năm 2018; Trong ACFTA
giảm từ 14,5% năm 2007 xuống 2,1% năm 2020; Trong AKFTA giảm từ 17,53% năm
2007 xuống 4,59% năm 2021; Trong AIFTA giảm từ 15,04% năm 2009 xuống 6,96%
Trang 37năm 2024; Trong AANZFTA giảm từ 19,7% năm 2009 xuống 2,9% năm 2022; TrongAJCEP giảm từ 11,3% năm 2008 xuống 1,8% năm 2026.
- Về mức thuế suất bình quân gia quyền của biểu thuế (bình quân có trọng số làkim ngạch nhập khẩu của một năm nhất định) Theo cam kết của Việt Nam trong cácFTA: Mức thuế trong AFTA giảm từ 7,9% năm 2008 xuống 6,4% vào năm 2018;trong ACFTA giảm từ 10,5% năm 2007 xuống 2,1% năm 2020; trong AKFTA giảm từ14,02% năm 2007 xuống 2,41% năm 2021; trong AIFTA giảm từ 8,09% năm 2009xuống 3,61 năm 2024; trong AANZFTA giảm từ 4,3% năm 2009 xuống 0,3% năm2022; trong VJEPA giảm từ 6,7% năm 2008 xuống 1,7% năm 2026
- Về mức độ bảo hộ của Việt Nam trong các FTA :
Về nguyên tắc, các mặt hàng không thuộc diện được bảo hộ ở mức cao sẽ đượcxoá bỏ thuế quan, thường là 10 năm (mặc dù thực tế hầu hết các mặt hàng này đềuđược giảm thuế dần dần mà không phải xoá bỏ thuế quan ngay, đây là một hình thứcbảo hộ có thời gian) Các mặt hàng còn lại thường được chia thành 2 nhóm: nhómnhạy cảm thường (giảm thuế xuống mức 5%) và nhóm nhạy cảm cao (giảm thuếxuống một mức cao hơn, ví dụ 50%; 40%, hoặc được phép loại trừ không phải giảmthuế tuỳ thuộc vào kết quả đàm phán trong các FTA)
Trong đàm phán các FTA của Việt Nam, về cơ bản các mặt hàng được lựa chọn
để bảo hộ tương đối nhất quán để bảo hộ theo 2 mức độ
(1) Bảo hộ ở mức vừa phải (các mặt hàng nhạy cảm thường) chủ yếu gồm: một
số nông sản, thịt và các sản phẩm từ thịt, dầu thô, một số loại hoá chất, phân bón, nhựa
và các sản phẩm nhựa, giấy, vải và nguyên liệu dệt may, thuỷ tinh , kính, một số loạisắt thép, một số loại động cơ, một số loại máy móc và điện máy, tàu thuyền đánh bắtthuỷ sản
(2) Bảo hộ ở mức cao (các mặt hàng nhạy cảm cao), gồm: các mặt hàng hiệnđang áp dụng hạn ngạch thuế quan (trứng, muối, đường và thuốc lá), các mặt hàng xa
xỉ như rượu, bia, thuốc lá, ô tô, xe máy và một số mặt hàng trong nước đã có khả năngsản xuất thay thế hàng nhập khẩu như xi măng, xăng dầu, săm lốp xe, vật liệu xâydựng, một số loại sắt thép, một số loại động cơ, tàu thuyền đánh bắt thuỷ sản
1.4.2 Các cam kết về đầu tư trong các hiệp định thương mại tự do Việt Nam
đã tham gia
Đến nay, Việt Nam đã ký kết và tham gia rất nhiều cam kết quốc tế về đầu tưhoặc liên quan đến đầu tư, bao gồm: (i) Hiệp định khuyến khích và bảo hộ đầu tư(BTT) (ii) Hiệp định/Chương Đầu tư trong khuôn khổ FTA (iii) các cam kết khác liênquan đến đầu tư như Hiệp định về Các biện pháp đầu tư liên quan đến thương mại(TRIMs) của WTO, các hiệp định về dịch vụ trong WTO và các FTA, Hiệp định thànhlập tổ chức bảo đảm đầu tư đa phương (MIGA), Công ước New York 1958 về công
Trang 38nhận và thi hành phán quyết của trọng tài nước ngoài… Việt Nam đã ký hiệp địnhkhuyến khích và bảo hộ đầu tư với 55 quốc gia ở cả Châu Á, Châu Âu, Châu Mỹ,Châu Phi và Châu Đại Dương, trong đó với 4 nước là Phần Lan, Cộng hoà Séc, Cuba
và Hàn Quốc đã có hiệp định sửa đổi hiệp định ban đầu Bên cạnh đó, trong Hiệp địnhThương mại Việt Nam- Hoa Kỳ (BTA) cũng có một Chương về Phát triển quan hệ đầu
tư với quy mô lớn và chi tiết
Trong khuôn khổ ASEAN, Việt Nam đã tham gia Hiệp định khuyến khích vàbảo hộ đầu tư ASEAN (IGA, ký năm 1987, sửa đổi năm 1996), Hiệp định Khu vựcĐầu tư ASEAN (1998 -AIA) về tự do hoá đầu tư Hai hiệp định này đã được thay thếbởi Hiệp định Đầu tư Toàn diện ASEAN (ACIA) mới ký kết tháng 2/2009 tại Hội nghịThượng đỉnh ASEAN tổ chức tại Thái Lan Hiệp định Thương mại Tự do ASEAN –Australia và New Zealand (AANZFTA) được ký kết cùng thời gian với ACIA cũng cómột Chương Đầu tư có quy mô lớn và mức độ cam kết sâu Việt Nam còn đàm phán,
ký kết hai Hiệp định đầu tư trong khuôn khổ các Hiệp định Thương mại Tự doASEAN- Trung Quốc (ACFTA) và ASEAN – Hàn Quốc (AKFTA) Các hiệp định đầu
tư trong khuôn khổ ASEAN thể hiện rõ rệt tính chất của cam kết đầu tư trong thoảthuận hội nhập kinh tế quốc tế của các nước đang phát triển: có quy mô lớn và mức độcam kết sâu hơn BIT truyền thống, nhưng có cách tiếp cận tương đối thận trọng vớiviệc tự do hoá hay mở cửa thị trường Dưới đây là một số nội dung cam kết về đầu tưtrong khung khổ các FTA Việt Nam đã tham gia
- Trong VJEPA: Việt Nam khi tham gia Hiệp định Hợp tác Kinh tế với Nhật
Bản (VJEPA) thì Hiệp định khuyến khích, bảo hộ và tự do hoá đầu tư Việt Nam-NhậtBản đã được đưa vào thành nội dung về đầu tư của Hiệp định này
Trong nội dung về đầu tư của VJEPA, Việt Nam đã ký kết các nội dung về hìnhthức đầu tư trong tất cả các lĩnh vực, trừ các ngoại lệ Ngoại lệ đầu tư của Nhật Bảnđưa ra được xây dựng theo phương pháp Hai Phụ lục, theo đó Phụ lục I liệt kê các biệnpháp, lĩnh vực có tính nhạy cảm cao mà các Bên có quyền bảo lưu các biện pháp hiệnhành hoặc ban hành mới các biện pháp vi phạm nghĩa vụ trong tương lai Phụ lục IIliệt kê các biện pháp ngoại lệ đang tồn tại hiện hành mà các Bên ký kết có quyền duytrì nhưng không được ban hành mới hoặc sửa đổi theo hướng bất lợi cho nhà đầu tư.Nhật Bản cũng đưa ra phương pháp tiếp cận chọn bỏ áp dụng đối với tất cả các ngành,
kể cả dịch vụ và phi dịch vụ Đây cũng là Hiệp định FTA có nội dung đầu tư đầu tiêncủa Việt Nam đề cập trực tiếp, rõ ràng đến thuế, và mở ra khả năng coi áp dụng biệnpháp thuế là một trường hợp tước quyền sở hữu gián tiếp Quy định này tuy nhiên đãđược làm giảm bớt bằng Biên bản Ghi nhớ, theo đó các biện pháp thuế không phânbiệt đối xử thông thường không được coi là tước quyền sở hữu, trừ một số trường hợpđặc biệt
- Trong ACIA: các cam kết về bảo hộ đầu tư chứa đựng các điều khoản mang
tính chuẩn mực của các hiệp định khuyến khích và bảo hộ đầu tư truyền thống, có kế
Trang 39thừa hiệp định khuyến khích và bảo hộ đầu tư ASEAN (IGA) nhưng phát triển ở mức
độ sâu, cụ thể hơn để phù hợp với tính chất là một hiệp định đầu tư toàn diện cấp khuvực trong bối cảnh toàn cầu hoá Bảo hộ đầu tư theo hiệp định ACIA chỉ dành cho cáckhoản đầu tư hợp pháp và trong giai đoạn sau thành lập
- Trong AANZFTA (là một FTA trọn gói, tất cả các Chương được đàm phán và
ký kết tại cùng một thời điểm): Chương Đầu tư là một nội dung quan trọng của FTA,liên quan chặt chẽ đến nhiều Chương khác của hiệp định như Chương về Thương mạiDịch vụ, Chương về Các ngoại lệ, v v…
Chương Đầu tư trong AANZFTA có quy mô thuộc loại lớn nhất trong các camkết về đầu tư mà Việt Nam đã ký kết, được thiết kế bao gồm cả nội dung tự do hoá vàbảo hộ đầu tư Tuy nhiên, do những khác biệt về quan điểm giữa AANZ và ASEAN,một số nội dung tự do hoá của Chương này chưa có hiệu lực tại thời điểm ký kết mà sẽđược tiếp tục đàm phán trong vòng 5 năm kể từ khi hiệp định có hiệu lực Mặc dù vậy,các cam kết khác của Chương này vẫn có độ chi tiết và mức cam kết cao, đặt ra tiêuchuẩn mới về bảo hộ đầu tư trong ASEAN Các Hiệp định đầu tư mà ASEAN đàmphán sau khi đàm phán AANZFTA kết thúc, kể cả Hiệp định đầu tư toàn diện ASEAN(ACIA) đều chịu ảnh hưởng sâu sắc của Chương Đầu tư trong AANZFTA
1.4.3 Cam kết về các lĩnh vực khác trong các hiệp định thương mại tự do Việt
Nam đã tham gia
Khi tham gia các FTA, ngoài các cam kết về cắt giảm thuế quan và về đầu tư,Việt Nam còn thực hiện một số các cam kết khác:
- Các các cam kết về di chuyển thể nhân và lao động trong các FTA với cácnước và khu vực mà Việt Nam tham gia đều dựa trên cam kết nền được xác định trongđàm phán gia nhập WTO
- Một số cam kết về lao động trong các FTA
+ Trong AANZFTA: Ngoài cam kết chung gia nhập WTO, Việt nam
và New Zealand đã thoả thuận thực hiện 2 chương trình trao đổi lao động:
(1) Chương trình làm việc theo kỳ nghỉ (working holiday schemes), theo đó mỗibên sẽ tiếp nhận 100 công dân mỗi nước đáp ứng các yêu cầu của bên kia Đối vớingười Việt nam cần đáp ứng: Có bằng đại học học với thời gian học ít nhất 3 năm; Cótrình độ tiếng Anh ở mức có thể làm việc được; Ký quỹ 4.200 Đô la NZ
(2) Chương trình làm việc tạm thời (temporary employment entry) với thời hạn
3 năm, theo đó NZ sẽ tiếp nhận: 100 đầu bếp, kể cả thợ làm bánh có trình độ tay nghềtương đương ANZSCO skill level 3 và được chủ sử dụng lao động ở NZ tuyển dụng;
100 chuyên gia thuộc các ngành nghề khác có trình độ tương đương ANZSCO skilllevel 1, mức 7 của APEC và đăng ký tại NZ nếu có yêu cầu
Trang 40+ Trong VJEPA: Ngoài các cam kết theo WTO, hai bên đồng ý tiếp
nhận khách kinh doanh, nhận y tá nếu đáp ứng đủ điều kiện theo yêu cầu luật pháp củanước tiếp nhận trong thời hạn 3 năm và có thể được gia hạn Ngoài ra, Nhật bản cònchấp nhận:
(1) Dành khoản vay ODA lãi suất ưu đãi cho Việt nam đào tạo mỗi năm
200-300 y tá Việt Nam tại Nhật bản và cho phép y tá đào tạo tại Nhật bản đượclàm việc lâu dài (tới 7 năm) tại Nhật Bản
(2) Hỗ trợ xây dựng hệ thống kiểm định tay nghề cho Việt Nam, trong đó cónghề y tá, hộ lý; hỗ trợ xây dựng hệ thống cấp chứng chỉ cho nghề y tá, hộ
bổ sung không lớn Những kết quả đạt được trong đàm phán về di chuyển lao động nóichung còn rất khiêm tốn, việc triển khai thực hiện các cam kết đã đạt được vẫn còn cónhiều thách thức phía trước
1.5 TÁC ĐỘNG CỦA CÁC HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI TỰ DO TỚI KINH TẾ VIỆT NAM
1.5.1 Giá trị thương mại của Việt Nam với các khu vực thị trường đã ký hiệp
định thương mại tự do
Các FTA mà Việt Nam đã tham gia ký kết đều có mức độ tự do hoá cao và hộinhập sâu hơn vào WTO nên về cơ bản các FTA đã tạo điều kiện thương mại tích cựcđối với phát triển thương mại song phương của Việt Nam với các đối tác tham gia cácFTA khu vực, tạo hiệu ứng tích cức tới tăng trưởng giá trị thương mại quốc tế của ViệtNam, nhưng hệ số tăng trưởng thương mại hai chiều giữa Việt Nam với ASEAN vàASEAN+ chưa cao, chưa ổn định vững chắc, tổn thương lớn khi gặp khủng hoảng tàichính và suy thoái kinh tế toàn cầu
Nhờ có mức độ hội nhập sâu, có sự hài hoà nhất định về qui trình thủ tục, tiêuchuẩn, chất lượng và các biện pháp thuận lợi hoá thương mại… nên giá trị thương mạihai chiều Việt Nam – ASEAN, Việt Nam – ASEAN + 1, Việt Nam – ASEAN + 3 vàViệt Nam – ASEAN + 6 tăng khá nhanh Biểu hiện rõ nhất là với các đối tác ASEAN
từ năm 2003 (sau mốc thời gian ASEAN 6 kết thúc lộ trình CEPT/ATIGA, vớiASEAN +1 sau năm 2004 (khi EFH/ACFTA có hiệu lực) và với ASEAN + 3 sau năm
2006 (mốc AKFTA và AJCEP có hiệu lực)