Từ năm 2000 trở lại đây, các ngân hàng thương mại Việt Nam nóichung và hoạt động kinh doanh Bảo hiểm nói riêng là một trong những tổ chứcđịnh chế tài chính đã và đang dần thực hiện đồng
Trang 1MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
DNBHPNT Doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ
PJICO Công ty cổ phần bảo hiểm PJICO
Trang 2DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang 3DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ, ĐỒ THỊ
Sơ đồ 2.1: Mô hình tổ chức bộ máy của PJICO đến 31/12/2011 Error: Reference
source not found
Biểu 2.1: Thị phần doanh thu bảo hiểm gốc của PJICO 2006-2010 Error:
Reference source not found
Biểu 2.2: Vốn chủ sở hữu, doanh thu, lợi nhuận PJICO 2006 -2010 Error:
Reference source not found
Biểu 2.3: Tài sản, doanh thu và vốn đầu tư trở lại nền kinh tế của PJICO giai đoạn
2006-2010 Error: Reference source not found
Trang 4LỜI MỞ ĐẦU
Trong thời đại ngày nay, với trình độ phát triển cao của nền kinh tế - xã hội,thị trường ngày càng mở rộng và phát triển theo mối quan hệ kinh tế khu vực vàquốc tế - Đây là điều kiện môi trường thuận lợi để các doanh nghiệp hoạt động kinhdoanh bảo hiểm nói chung gắn liền hoạt động đầu tư tài chính của doanh nghiệpbảo hiểm nói riêng có cơ hội phát triển Tuy nhiên hoạt động đầu tư nhằm nâng caohiệu quả kinh doanh và phát triển nguồn vốn, gia tăng giá trị thặng dư luôn là vấn
đề doanh nghiệp quan tâm chú trọng hàng đầu
Nếu như trước năm 2000 - năm giao thời thể hiện sự thay đổi căn bản tronghoạt động đầu tư tài chính, hoạt động quản lý đầu tư và danh mục đầu tư trong đầu
tư tài chính còn mang tính tự phát, chưa có khái niệm khoa học về quản lý tài chính
và quản lý rủi ro Từ năm 2000 trở lại đây, các ngân hàng thương mại Việt Nam nóichung và hoạt động kinh doanh Bảo hiểm nói riêng là một trong những tổ chứcđịnh chế tài chính đã và đang dần thực hiện đồng bộ các giải pháp nhằm giảm thiểurủi ro để tăng hiệu quả hoạt động kinh doanh như đa dạng hoá danh mục đầu tư.Tuy nhiên trong thực tế đầu tư và quản lý danh mục đầu tư là một trong những lĩnhvực nhạy cảm, mọi sự biến động của nền kinh tế điều có thể ảnh hưởng trực tiếpđến như sự ổn định và phát triển của doanh nghiệp, trong đó bảo hiểm không nằmngoại lệ Vì vậy, việc xây dựng giải pháp quản lý để nâng cao hiệu quả đầu tư, cácphương pháp đo lường, đánh giá rủi ro, qua đó tìm ra các giải pháp nhằm kiểm soátrủi ro trong hoạt động đầu tư thích hợp thực sự cần thiết đối với sự tồn tại và pháttriển của các doanh nghiệp bảo hiểm
Từ năm 2008 đến nay, nền kinh tế Việt Nam gặp rất nhiều khó khăn, thách
thức (xuất khẩu giảm, lạm phát tăng, đầu tư nước ngoài và kiều hối đều giảm
mạnh ) do những yếu tố tiêu cực xuất hiện sau thời gian tăng trưởng nóng và ảnhhưởng của khủng hoảng kinh tế toàn cầu Các doanh nghiệp là những người đầutiên gánh chịu những khó khăn này Chính vì thế, nâng cao hiệu quả hoạt động kinh
Trang 5doanh vốn tại doanh nghiệp bảo hiểm càng trở nên cấp thiết trong giai đoạn khủnghoảng kinh tế thế giới vừa qua và hậu thời kỳ khủng hoảng.
Công ty Cổ phần Bảo hiểm PJICO là một trong những doanh nghiệp bảo hiểmphi nhân thọ đứng tốp đầu của cả nước Với những thành tựu đạt được của đơn vịtrong thời gian qua Bên cạnh đó còn có nhiều thách thức nhất là tình hình kinh tếthế giới và trong nước còn diễn biến phức tạp, bức tranh kinh tế hồi phục chưa rõnét, Công ty Cổ phần Bảo hiểm PJICO xác định mục tiêu: Tăng trưởng đi đôi với
ổn định; Nhiệm vụ trọng tâm: Bảo toàn đi đôi với phát triển, không ngừng gia tăngvốn chủ sở hữu thông Quản lý rủi ro trong hoạt động kinh doanh bảo hiểm gốc vànâng cao hiệu quả trong công tác đầu tư tài chính một cách linh hoạt và thận trọng.Trên cơ sở nhận thức tầm quan trọng của hoạt động đầu tư tài chính trong doanhnghiệp bảo hiểm, bằng những kiến thức lý luận cơ bản mà em đã được tiếp thutrong quá trình học tập kết hợp với kiến thức thực tế, vì vậy em quyết định chọn đề
tài: “Nâng cao hiệu quả đầu tư tài chính tại Công ty Cổ phần Bảo hiểm
Petrolimex” làm chuyên đề thực tập của mình.
2 Đối tượng và phạm vi chuyên đề
- Đối tượng chuyên đề là hoạt động đầu tư của doanh nghiệp bảo hiểm
- Phạm vi chuyên đề là hoạt động đầu tư tại PJICO giai đoạn 2006 đến 2010
3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
- Hệ thống hoá những vấn đề lý luận về hoạt động đầu tư và hiệu quả hoạt độngđầu tư trong doanh nghiệp bảo hiểm Làm rõ các đặc trưng về nguồn vốn, về hạn
Trang 6mức và lĩnh vực đầu tư của doanh nghiệp bảo hiểm cũng như các yếu tố ảnh hưởngtới hiệu quả hoạt động đầu tư của doanh nghiệp bảo hiểm.
- Đánh giá thực trạng hoạt động đầu tư và hiệu quả hoạt động đầu tư tạiPJICO: Các kết quả đã đạt được, các hạn chế và nguyên nhân
- Trên cơ sở phân tích thực trạng, từ đó đề xuất giải pháp nhằm phát triển hoạtđộng đầu tư và hiệu quả hoạt động đầu tư tại PJICO trong những năm tới
4 Kết cấu của chuyên đề
Ngoài phần mở đầu và kết luận, chuyên đề gồm 3 chương:
Chương I: Cơ sở lý luận về hoạt động đầu tư và hiệu quả hoạt động đầu tư trongdoanh nghiệp bảo hiểm
Chương II: Thực trạng đầu tư và hiệu quả hoạt động đầu tư tại PJICO giai đoạn
2006 -2010
Chương III: Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động đầu tư tại PJICO
Trang 7Ở Việt Nam trong những năm gần đây, khái niệm đầu tư cũng được đề cậpnhiều trong sách báo cũng như các phương tiện thông tin đại chúng khác Theonghĩa rộng, đầu tư có thể hiểu là sự hy sinh nguồn lực hiện tại (như tiền, sức laođộng, của cải vật chất, trí tuệ) nhằm đạt được những kết quả có lợi cho người đầu tưtrong tương lai Với khái niệm này, tất cả những hành động chi dùng vốn và nguồnlực trong hiện tại nhằm mục đích thu được lợi ích nào đó trong tương lai đều có thểgọi là đầu tư.
Theo quan điểm của tác giả: Hoạt động đầu tư của DNBH là việc sử dụng
các nguồn vốn nhàn rỗi để đầu tư tài chính nhằm đem lại lợi nhuận tương lai cho doanh nghiệp Nếu xét hoạt động đầu tư của DNBH trên cả góc độ huy động
và chi dùng vốn nhàn rỗi, đây thực chất là hình thức đầu tư gián tiếp trên quan điểmtài chính Sử dụng tiền nhàn rỗi từ vốn chủ sở hữu và phí bảo hiểm thu được nhưngchưa sử dụng, DNBH cung cấp vốn cho nền kinh tế như một trung gian tài chínhthông qua thị trường tài chính dưới các hình thức như gửi tiền ngân hàng, muachứng khoán hay góp cổ phần Chính vì vậy, xét trên quan điểm kinh tế pháttriển, hoạt động đầu tư của DNBH thực chất là loại hình đầu tư tài chính Cũng nhưcác doanh nghiệp nói chung, DNBH cũng có hoạt động đầu tư tài sản cố định (như
Trang 8xây dựng trụ sở làm việc của doanh nghiệp), và đầu tư tài sản lưu động (như muasắm các đồ dùng văn phòng), đồng thời DNBH cũng có hoạt động đầu tư phát triển(như xây dựng nhà cửa hay đào tạo bồi dưỡng nguồn lực) Nhưng đây là những hoạtđộng đầu tư chi dùng vốn của doanh nghiệp, không phải chi dùng vốn nhàn rỗi từcác quỹ dự phòng nghiệp vụ và phí bảo hiểm thu được Phạm vi nghiên cứu củachuyên đề là hoạt động đầu tư vốn nhàn rỗi của DNBH.
1.1.2 Vai trò của hoạt động đầu tư
Doanh thu cao, tăng trưởng mạnh song hiệu quả kinh doanh của các doanhnghiệp bảo hiểm tại Việt Nam không hề tương xứng Nhiều doanh nghiệp công bốmức lãi hàng chục, hàng trăm tỷ đồng nhưng thực tế hiệu quả của nghiệp vụ kinhdoanh chính là bảo hiểm lại là con số âm, đó là thực trạng của thị trường bảo hiểmViệt Nam trong những năm gần đây
Theo số liệu của Bộ Tài chính, năm 2008 có đến 16/25 doanh nghiệp BHPNT
bị thua lỗ về nghiệp vụ bảo hiểm, tổng số lỗ toàn thị trường là 163 tỷ đồng Năm
2009, chỉ có 10 doanh nghiệp BHPNT có lãi với số lãi rất thấp, và toàn thị trườngvẫn lỗ trên 200 tỷ đồng Hậu quả là các doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ phảilấy lãi từ đầu tư tài chính bằng vốn chủ sở hữu và dự phòng để bù đắp Điều đó dẫnđến cổ tức chia cho các cổ đông thấp, kém hấp dẫn trên thị trường chứng khoán.Điều này ảnh hưởng lớn tới thương hiệu của doanh nghiệp trong hoạt động kinhdoanh bảo hiểm và có thể dẫn đến việc khó khăn trong phát triển mở rộng kinhdoanh, thu hút nguồn nhân lực… Nguyên nhân của tình trạng thua lỗ nghiệp vụ bảohiểm kéo dài triền miên và mang tính phổ biến hiện nay được nhận định chủ yếu dochi phí khai thác lớn và bồi thường ngày càng tăng so với số phí thu được Tìnhtrạng này được dự báo còn tiếp diễn và đó là vấn đề cần quan tâm của các doanhnghiệp bảo hiểm Bên cạnh đó, nền kinh tế Việt Nam đang chịu nhiều ảnh hưởngxấu từ vấn đề lạm phát, cạnh tranh… nên các cổ đông ngày càng gia tăng sức ép đốivới vấn đề lợi tức của mình
Xuất phát từ những yếu tố đó, các doanh nghiệp bảo hiểm hiện nay chỉ còntrông cậy vào đầu tư tài chính và hiệu quả hoạt động đầu tư tài chính của doanh
Trang 9nghiệp ngoài ý nghĩa đem lại lợi nhuận để trả cổ tức còn tạo ra sức mạnh tài chính
hỗ trợ cho hoạt động kinh doanh bảo hiểm gốc của mình
Bên cạnh đó hoạt động đầu tư tài chính là một nhiệm vụ quan trọng tạo ra lợinhuận từ việc tận dụng các nguồn vốn nhàn dỗi của doanh nghiệp bảo hiểm mànhiều doanh nghiệp trong các lĩnh vực sản xuất, kinh doanh khác không có
Như vậy, có thể nói đầu tư tài chính là hoạt động có tầm quan trọng đặc biệtđối với sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp bảo hiểm:
- Thu nhập từ hoạt động đầu tư là một nguồn quan trọng tạo lợi nhuận chodoanh nghiệp bảo hiểm Hoạt động đầu tư ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng cạnhtranh của doanh nghiệp bảo hiểm Bên cạnh chính sách dịch vụ (thường là mối quantâm hàng đầu ở các khách hàng truyền thống) thì chính sách phí lại đóng vai tròquan trọng trong việc thu hút các khách hàng mới Một trong những điều kiện quantrọng để có khả năng thực hiện giảm phí để thu hút khách hàng là doanh nghiệpphải có được lợi nhuận cao từ hoạt động kinh doanh bảo hiểm và đầu tư tài chính
- Thông qua hoạt động đầu tư, doanh nghiệp bảo hiểm cũng có thể xây dựng,thắt chặt thêm các mối quan hệ với các khách hàng, từ đó, góp phần mở rộng quy
mô hoạt động của doanh nghiệp Ví dụ như qua việc cho một tổ chức nào đó vaytiền, hoặc góp vốn vào một doanh nghiệp, doanh nghiệp bảo hiểm sẽ có thể thựchiện khai thác bảo hiểm tại các doanh nghiệp, tổ chức đó Qua đó lại làm tăng quy
mô phí bảo hiểm cũng như quy mô nguồn vốn để phục vụ cho đầu tư tài chính
- Hoạt động đầu tư cũng giúp các doanh nghiệp bù đắp sự mất giá của đồngtiền, bảo toàn quỹ tài chính bảo hiểm trước rủi ro lạm phát…
1.1.3 Các hình thức đầu tư của doanh nghiệp bảo hiểm
Điều 11 của Nghị định số 46/2007/NĐ-CP quy định: Việc đầu tư từ nguồn vốnchủ sở hữu phải đảm bảo an toàn, hiệu quả và tính thanh khoản theo hướng dẫn của
Bộ Tài chính Doanh nghiệp bảo hiểm được phép đầu tư ra nước ngoài theo quyđịnh của pháp luật đối với phần vốn chủ sở hữu vượt quá mức vốn pháp định hoặcbiên khả năng thanh toán tối thiểu, tuỳ số nào lớn hơn Nhưng phải được sự chấpthuận của Bộ Tài chính
Trang 10Điều 98 của Luật kinh doanh bảo hiểm số 24/2000/QH10 quy định: Doanhnghiệp bảo hiểm chỉ được sử dụng vốn nhàn rỗi của mình để đầu tư ở Việt Namtrong các lĩnh vực sau: Mua trái phiếu Chính phủ; mua cổ phiếu, trái phiếu doanhnghiệp; kinh doanh bất động sản; góp vốn vào các doanh nghiệp khác; cho vay theoquy định của Luật các tổ chức tín dụng; gửi tiền tại các tổ chức tín dụng.
a Mua trái phiếu Chính phủ
Đáp ứng nhu cầu chi tiêu của Chính phủ, chính phủ phát hành trái phiếu đểhuy động tiền nhàn rỗi trong dân và các tổ chức kinh tế, xã hội Chính phủ luônđược coi là Nhà phát hành có uy tín nhất trên thị trường; vì vậy, trái phiếu Chínhphủ được coi là loại chứng khoán có ít rủi ro nhất Trái phiếu Chính phủ Việt Namthời gian vừa qua được phát hành gồm 6 loại: Tín phiếu kho bạc, trái phiếu kho bạc,trái phiếu ngoại tệ, công trái xây dựng Tổ quốc, trái phiếu đầu tư, trái phiếu côngtrình Trung ương
Doanh nghiệp bảo hiểm có thể mua trái phiếu Chính phủ để đầu tư đem lại lợinhuận cho doanh nghiệp từ nguồn vốn nhàn rỗi của mình một cách không hạn chế
Đầu tư trái phiếu chính phủ thường là loại đầu tư an toàn với các ưu thế sau: Một là: Có được một khoản thu nhập thường xuyên ổn định Người nắm giữ
trái phiếu có thể có thu nhập từ lãi trái phiếu và khoản chênh lệch giá từ việc bántrái phiếu trước hạn
Lãi suất của trái phiếu thường được ấn định ngay từ đầu và cố định trong suốtvòng đời của trái phiếu nên có thể coi trái phiếu là một loại đầu tư có thu nhập cốđịnh Đặc điểm này tạo điều kiện cho nhà đầu tư có thể tính được dòng thu nhập dựkiến trong tương lai
Khả năng chuyển đổi của trái phiếu trước ngày đáo hạn cũng đảm bảo cho khảnăng huy động vốn dài hạn của người phát hành và thu hồi vốn nhanh chóng củangười mua Trong trường hợp cần thiết, doanh nghiệp bảo hiểm có thể bán tráiphiếu để thực hiện nghĩa vụ với khách hàng
Hai là: Trái phiếu chính phủ có độ an toàn cao Trái phiếu trên thị trường
thường do chính phủ phát hành Do vậy việc thanh toán gốc và lãi trái phiếu thường
Trang 11được đảm bảo khá chắc chắn Hơn nữa, đối với mục tiêu mua và lưu giữ trái phiếuthì việc biến động giá trái phiếu không ảnh hưởng đến dòng thu nhập từ lãi tráiphiếu và số vốn thu hồi Đặc điểm này rất phù hợp với các doanh nghiệp đầu tưbằng nguồn vốn dài hạn Một doanh nghiệp bảo hiểm có thể nắm giữ nhiều loại trái
phiếu với các kỳ hạn khác nhau
Tuy nhiên, khi thực hiện đầu tư vào trái phiếu Chính phủ, các nhà đầu tư phảichịu những rủi ro nhất định, như: Rủi ro về giá, rủi ro lạm phát, rủi ro về điều khoảnđược quyền mua lại…
b Mua cổ phiếu, trái phiếu doanh nghiệp
Trái phiếu doanh nghiệp: Là những trái phiếu do doanh nghiệp Nhà nước,
công ty cổ phần và công ty trách nhiệm hữu hạn phát hành để tăng vốn hoạt động.Trái phiếu doanh nghiệp có nhiều loại và rất đa dạng
Doanh nghiệp bảo hiểm có thể sử dụng nguồn vốn nhàn rỗi của mình để muatrái phiếu doanh nghiệp Đầu tư trái phiếu doanh nghiệp cũng có một số ưu nhượcđiểm giống đầu tư trái phiếu Chính phủ, tuy nhiên độ an toàn thường thấp hơnnhưng lãi suất thường cao hơn so với trái phiếu Chính phủ
Đầu tư cổ phiếu: Trong trường hợp công ty làm ăn có lãi, nhà đầu tư có thể
thu được lợi nhuận dưới dạng cổ tức, lãi càng lớn thì cổ tức được chia càng nhiều,
từ đó tăng thu nhập cho nhà đầu tư Ngoài ra người giữ cổ phiếu còn nhận được thunhập từ cổ phiếu thông qua khoản chênh lệch giá khi bán cổ phiếu
Khả năng chuyển nhượng của cổ phiếu cho phép nhà đầu tư có thể bán mộtphần hoặc toàn bộ số cổ phần mình sở hữu khi cần thiết để đáp ứng nhu cầu về vốntại một thời điểm nhất định Tuy nhiên để thực hiện được điều này cũng đòi hỏiphải có một thị trường chứng khoán phát triển
Bên cạnh những ưu thế trên, việc đầu tư cổ phiếu cũng có một số bất lợi sau:
Một là: Chi phí để thu thập thông tin khi tiến hành đầu tư cao ảnh hưởng đến
lợi nhuận đầu tư Trước khi mua cổ phiếu của một công ty nào đó, nhà đầu tưthường phải tìm hiểu tình hình hoạt động của công ty đó Các chi phí này thườnglớn, đặc biệt đối với các công ty nhỏ hoặc mới thành lập
Trang 12Hai là: Sự không ổn định của nguồn thu nhập từ cổ phiếu Do lượng cổ tức
được hưởng phụ thuộc chủ yếu vào kết quả hoạt động kinh doanh của công ty pháthành và chính sách chia cổ tức của công ty Trong trường hợp công ty làm ăn không
có lãi hoặc ban quản trị công ty quyết định giữ lại toàn bộ lợi nhuận để tăng vốn thìnhà đầu tư sẽ không được chia cổ tức Do vậy, nhà đầu tư khó dự đoán được chínhxác nguồn thu nhập dự kiến trong tương lai
Ba là: Người giữ cổ phiếu có quyền ưu tiên thấp hơn người giữ trái phiếu đối
với các tài sản của công ty trong trường hợp công ty phá sản Người giữ cổ phiếu sẽchỉ được trả tiền nếu quỹ còn lại sau khi thanh toán cho người giữ trái phiếu và cácchủ nợ khác
Bốn là: Sự biến động bất thường của giá cổ phiếu do tác động của rất nhiều
yếu tố khác nhau làm nhà đầu tư khó dự đoán trước được Giá cổ phiếu thường có
xu hướng biến động nhiều hơn giá trái phiếu vì cổ phiếu không có ngày đáo hạn vàkhông có giá trị đáo hạn Điều này làm cho kinh doanh cổ phiếu được xếp vào mộttrong những lĩnh vực đầu tư mạo hiểm
Vì mức độ rủi ro cao hơn và đặc điểm dòng tiền không đều của cổ phiếu nêncác nhà bảo hiểm bị luật pháp hạn chế về tỷ lệ đầu tư vào cổ phiếu- tối đa 35%vốnnhàn rỗi từ dự phòng nghiệp vụ trong trường hợp không có bảo lãnh
Ngoài ra để đa dạng hoá danh mục đầu tư nhằm tăng khả năng sinh lời và giảmthiểu rủi ro đầu tư, doanh nghiệp bảo hiểm cũng thực hiện đầu tư vào nhiều loại cổphiếu khác nhau
c Kinh doanh bất động sản
Kinh doanh bất động sản đem lại cho các doanh nghiệp bảo hiểm khoản thunhập dưới dạng thu nhập cho thuê bất động sản, cơ hội tăng giá của tài sản đãđầu tư Trong trường hợp cho thuê được bất động sản, đây sẽ là một nguồn thunhập cao, thường xuyên, khá ổn định Tỷ lệ thu nhập hiện tại nhận được từ đầu
tư bất động sản thường lớn hơn tỷ lệ cổ tức được chia khi đầu tư cổ phiếuthường Đối với các doanh nghiệp đầu tư từ nguồn vốn dài hạn thì đây là mộtloại hình đầu tư hiệu quả
Trang 13Đầu tư bất động sản cũng là một hình thức khuyếch trương quảng cáo hìnhảnh của doanh nghiệp qua việc cung cấp những toà nhà cao cấp, chất lượng chokhách hàng
Tuy nhiên dòng thu nhập nhận được từ đầu tư bất động sản thường khó dựđoán trước vì khả năng không cho thuê được, giá trị bất động sản có thể dao độngđáng kể qua thời gian… Sự biến động giá cả thị trường bất động sản chịu tác độngcủa nhiều yếu tố khác nhau, khó có thể lường trước được Do đó sẽ là mạo hiểm nếudoanh nghiệp bảo hiểm đầu tư quá nhiều vào bất động sản để cho thuê hoặc chờ giátăng, sau đó bán đi thu lợi nhuận từ chênh lệch giá
Một đặc điểm bất lợi nữa là bất động sản có tính lỏng rất thấp Việc chuyểnnhượng một bất động sản thường đòi hỏi những thủ tục phức tạp, thời gian lâu dài,đặc biệt khi thị trường địa ốc chưa phát triển như ở nước ta
Chính vì vậy, ở các doanh nghiệp bảo hiểm, đầu tư bất động sản không đượcvượt quá 20% vốn nhàn rỗi từ dự phòng nghiệp vụ bảo hiểm
d Góp vốn vào các doanh nghiệp khác
Với hình thức đầu tư này, chủ đầu tư được tham gia quá trình quản lý công tyliên doanh, và được hưởng lãi theo kết quả kinh doanh dưới dạng lãi liên doanh
Ưu điểm của hình thức này là lãi liên doanh cũng không phải chịu thuế thunhập vì nó được trích từ nguồn lợi nhuận để lại của công ty Nếu công ty làm ănthuận lợi thì nhà đầu tư có cơ hội có được một khoản thu nhập từ đầu tư cao
Tuy nhiên, ngược lại, nếu kinh doanh gặp khó khăn thì nhà đầu tư sẽ khôngthu được lãi, thậm chí cả vốn trong trường hợp công ty làm ăn thua lỗ, bị phá sản.Một điểm nữa là hiệu quả của việc góp vốn liên doanh cũng phụ thuộc rất lớnvào đối tác cùng tham gia liên doanh, đặc biệt là bên góp vốn chi phối
Nhìn chung, dựa trên các quy định của luật pháp về lĩnh vực và hạn mứcđầu tư, căn cứ vào điều kiện thực tế về môi trường đầu tư cũng như đặc điểmnguồn vốn đầu tư, chiến lược phát triển riêng của doanh nghiệp, mỗi doanhnghiệp bảo hiểm có thể lựa chọn cho mình một danh mục đầu tư thích hợp vớicác hình thức đầu tư đa dạng
Trang 14đ Cho vay theo quy đinh của Luật tổ chức tín dụng
Doanh nghiệp bảo hiểm có thể cho vay theo Luật các tổ chức tín dụng số 47:2010/QH12 được Quốc hội nước Công hoà xã hôi chủ nghĩa Việt Nam khoá XII, kỳhọp thứ 7 thông qua ngày 16 tháng 6 năm 2010
e Gửi tiền tại các tổ chức tín dụng
Doanh nghiệp bảo hiểm có thể mở các tài khoản thanh toán không kỳ hạn vàcác tài khoản tiền gửi có kỳ hạn ở các tổ chức tín dụng để hưởng lãi suất theo nhưthoả thuận
Đây là loại hình đầu tư đơn giản, có mức độ an toàn vốn cao Nhà đầu tư cóthể tính tương đối chính xác các khoản thu nhập trong tương lai Tính thanh khoảncủa các khoản đầu tư này là rất lớn Chính vì vậy, đây vẫn là hình thức đầu tư chủyếu đối với các doanh nghiệp bảo hiểm ở các nước thị trường vốn chưa phát triểnnhư nước ta
Tuy nhiên, hình thức đầu tư này lại chịu ảnh hưởng rất lớn của lạm phát, của
sự bất ổn định của lãi suất Tiền gửi tại các tổ chức tín dụng thường có lãi suấtkhông cao bằng các loại hình đầu tư khác
1.2 Hiệu quả hoạt động đầu tư của doanh nghiệp bảo hiểm
1.2.1 Khái niệm hiệu quả hoạt động đầu tư
a Khái niệm
Xét góc độ thuật ngữ chuyên môn hiệu quả kinh tế là “Mối quan hệ giữa đầu
vào các yếu tố khan hiếm với đầu ra hàng hoá và dịch vụ, có thể được đo lường theo hiện vật gọi là hiệu quả kỹ thuật hoặc theo chi phí thì được gọi là hiệu quả kinh tế Khái niệm hiệu quả kinh tế được dùng như một tiêu chuẩn để xem xét các tài nguyên được thị trường phân phối như thế nào” (Từ điển thuật ngữ kinh tế
học, trang 244-NXB Từ điển bách khoa Hà Nội 2001)
Về bản chất hiệu quả hoạt động kinh doanh là sự so sánh giữa kết quả thuđược với chi phí lao động đã bỏ ra Tiêu chuẩn của hiệu quả hoạt động kinh doanh
là tối đa hóa kết quả hoặc tối thiểu hóa chi phí trên nguồn vốn sẵn có
Về mặt định lượng: Kết quả thu được so với chi phí bỏ ra, nếu số này càng lớn thì
hiệu quả hoạt động kinh doanh càng cao Thể hiện việc sử dụng các nguồn lực tốt hơn
Trang 15Về mặt định tính: Thể hiện ở trình độ và năng lực quản lý ở các khâu, các cấp
quản lý thông qua việc nỗ lực thực hiện nhiệm vụ kinh tế xã hội gắn liền với nhiệm
vụ chính trị
Như vậy hiệu quả là sự so sánh, phản ánh mối quan hệ giữa kết quả thực hiệncác mục tiêu hoạt động của chủ thể và chi phí mà chủ thể bỏ ra để có kết quả đótrong những điều kiện nhất định
Từ những phân tích trên ta có thể định nghĩa: Hiệu quả hoạt động đầu tư của
DNBH là mối quan hệ giữa kết quả thực hiện các mục tiêu trong hoạt động đầu
tư thương mại của DNBH và chi phí mà DNBH bỏ ra để có kết quả đó trong những điều kiện nhất định.
Hiệu quả hoạt động đầu tư là một phạm trù kinh tế, phản ánh trình độ sử dụngcác nguồn lực sẵn có của đơn vị để thực hiện mục tiêu đặt ra Nó không chỉ là chỉtiêu phản ánh chất lượng tổ chức quản lý kinh doanh của một doanh nghiệp, mà còn
là vấn đề sống còn của doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường
Để đạt hiệu quả ngày càng cao và vững chắc, đòi hỏi các doanh nghiệp khôngnhững phải khai thác được các khả năng tiềm ẩn về lao động, vốn … mà còn phảinắm vững tình hình cung, cầu trên thị trường, đối thủ cạnh tranh… , hiểu được thếmạnh thế yếu của doanh nghiệp để khai thác hết mọi tiềm năng hiện có, tận dụngđược những cơ hội kinh doanh trên thị trường
b Phân loại hiệu quả hoạt động đầu tư
Hiệu quả hoạt động đầu tư có thể được xem xét ở các góc độ khác nhau:
- Hiệu quả tài chính và hiệu quả kinh tế:
+ Hiệu quả tài chính còn được gọi là hiệu quả sản xuất – kinh doanh hay hiệuquả doanh nghiệp, là hiệu quả kinh tế xét trong phạm vi một doanh nghiệp Hiệuquả tài chính phản ánh mối quan hệ giữa lợi ích kinh tế mà doanh nghiệp nhận được
và chi phí mà doanh nghiệp phải bỏ ra để có được lợi ích kinh tế
+ Hiệu quả kinh tế quốc dân còn được gọi là hiệu quả kinh tế - xã hội là hiệuquả tổng hợp được xét trong phạm vi toàn bộ nền kinh tế Chủ thể của hiệu quả kinh
tế - xã hội là toàn bộ xã hội mà người đại diện cho nó là Nhà nước Vì vậy những
Trang 16lợi ích và chi phí được xem xét trong hiệu quả kinh tế - xã hội xuất phát từ quanđiểm toàn bộ nền kinh tế quốc dân.
- Hiệu quả trực tiếp và hiệu quả gián tiếp:
+ Hiệu quả trực tiếp là hiệu quả được xem xét trong phạm vi chỉ một dự án,một doanh nghiệp (một đối tượng) …
+ Hiệu quả gián tiếp là hiệu quả mà một đối tượng nào đó tạo ra cho đối tượngkhác Việc xây dựng một dự án này có thể kéo theo việc xây dựng hàng loạt các dự
án khác Hiệu quả của dự án đang xem xét là hiệu quả trực tiếp còn hiệu quả củacác dự án khác là hiệu quả gián tiếp
- Hiệu quả trước mắt và hiệu quả lâu dài: Căn cứ vào lợi ích nhận được trongnhững khoảng thời gian dài hay ngắn người ta chia thành:
+ Hiệu quả trước mắt là hiệu quả được xem xét trong khoảng thời gian ngắn.Lợi ích xem xét trong loại hiệu quả này là lợi ích trước mắt, mang tính tạm thời.+ Hiệu quả lâu dài là hiệu quả được xem xét trong khoảng thời gian dài
1.2.2 Đặc điểm hiệu quả hoạt động đầu tư của DNBH
Kinh doanh trong lĩnh vực bảo hiểm tạo cho DNBH một nguồn vốn tạm thờinhàn rỗi từ lúc thu phí bảo hiểm đến khi thực hiện thanh toán tiền bồi thường hoặctrả tiền bảo hiểm cho khách hàng DNBH có thể sử dụng nguồn vốn đó đầu tư kiếmlời Chính những đặc điểm hình thành nên nguồn vốn đầu tư đã quyết định tới đặcđiểm hiệu quả hoạt động đầu tư của DNBH, cụ thể:
- Hiệu quả hoạt động đầu tư của DNBH là hiệu quả tài chính hay hiệu quả kinh
tế xét trong phạm vi một doanh nghiệp
- Hiệu quả hoạt động đầu tư của DNBH là hiệu quả của quá trình sử dụngnguồn vốn nhàn rỗi để thực hiện hoạt động đầu tư thương mại của DNBH
- Do phụ thuộc vào tính chất nguồn vốn đầu tư (thường là ngắn hạn) nên hiệuquả hoạt động đầu tư của DNBH thường biến động, cơ cấu hiệu quả cũng thườngthay đổi
- Hiệu quả hoạt động đầu tư của DNBH thường bị tác động và quản lý bởinhững quy định mang tính chất đặc thù riêng có của pháp luật đối với việc sử dụng
Trang 17vốn đầu tư của DNBH.
- Do vừa phải đảm bảo hoạt động của nghiệp vụ bảo hiểm gốc vừa tập trungvốn cho hoạt động đầu tư thương mại nên ngoài những yếu tố tác động của thịtrường tài chính, tiền tệ… hiệu quả của hoạt động đầu tư thương mại của DNBHchịu ảnh hưởng rất lớn của hoạt động bảo hiểm gốc
- Ngoài việc đóng góp vào hiệu quả chung của DNBH, hiệu quả từ hoạt độngđầu tư của các DNBH còn hỗ trợ và thúc đẩy phát triển hoạt động bảo hiểm gốc
1.2.3 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả hoạt động đầu tư
Hiệu quả đầu tư là những gì mà chủ đầu tư có thể thu về từ những yếu tố đầu
ra được tạo ra trong toàn bộ quá trình hoạt động sau khi trừ đi tất cả chi phí và giátrị của nguồn lực đã bỏ ra ban đầu, là một mục tiêu quan trọng của hoạt động đầu tưnói chung và hoạt động đầu tư của doanh nghiệp bảo hiểm nói riêng
Hiệu quả hoạt động đầu tư của doanh nghiệp bảo hiểm có thể được tính toánbằng các chỉ tiêu tuyệt đối hoặc tương đối:
- Chỉ tiêu tính hiệu quả tuyệt đối:
E = K-C
- Chỉ tiêu tính hiệu quả tương đối:
E = K/C
Trong đó:
E: là hiệu quả đầu tư
K: là kết quả nhận được theo định hướng mục tiêu
C: là chi phí bỏ ra
Trên thực tế để đánh giá đúng đắn hiệu quả hoạt động đầu tư của một DNBHngười ta thường sử dụng hệ thống các chỉ tiêu sau:
a Chỉ tiêu đánh giá quy mô đầu tư của DNBH
- Quy mô nguồn vốn đầu tư: Nguồn vốn đầu tư càng lớn cho thấy quy mô hoạtđộng đầu tư của DNBH càng lớn, và đây cũng là một nhân tố ảnh hưởng lớn đến kếtquả hoạt động đầu tư của doanh nghiệp Doanh nghiệp có số lượng vốn chuyển vàođầu tư cho nền kinh tế càng lớn, điều đó chứng tỏ doanh nghiệp có vốn chủ sở hữucao hoặc doanh thu phí bảo hiểm cao hoặc cả hai
Trang 18- Doanh thu hoạt động đầu tư: Doanh thu hoạt động đầu tư thường tỷ lệ thuậnvới quy mô hoạt động đầu tư, đồng thời cũng phản ánh một phần kết quả hoạt độngđầu tư của doanh nghiệp
b Hiệu quả hoạt động đầu tư tổng quát
Chỉ tiêu này được xác định bằng công thức:
Hiệu quả hoạt động
đầu tư =
Kết quả thu được từ hoạt động đầu tư Chi phí cho hoạt động đầu tư
Kết quả thu được từ hoạt động đầu tư, có thể là:
- Doanh thu từ hoạt động đầu tư
- Lợi nhuận thu được từ hoạt động đầu tư
Chỉ tiêu này phản ánh cứ một đồng chi phí chi ra cho hoạt động đầu tư trong
kỳ thì thu được bao nhiêu đồng kết quả từ hoạt động đầu tư Chỉ tiêu này càng caochứng tỏ hiệu quả của hoạt động đầu tư của doanh nghiệp càng lớn Để nâng cao chỉtiêu này, một mặt doanh nghiệp phải tìm mọi biện pháp tăng nhanh quy mô kết quảđầu ra (doanh thu hoặc lợi nhuận), mặt khác cần giảm chi phí hoạt động đầu tư củadoanh nghiệp
Do hoạt động đầu tư có thể trong ngắn hạn và dài hạn, vì thế cần xem xét cácchỉ tiêu:
Hiệu quả hoạt động
Hiệu quả hoạt động
đầu tư dài hạn =
Kết quả từ hoạt động đầu tư dài hạn Chi phí cho hoạt động đầu tư dài hạn
Chỉ tiêu này phản ánh cứ một đồng chi phí hoạt động đầu tư dài hạn trong kỳthì thu được bao nhiêu đồng kết quả đầu ra (doanh thu hoặc lợi nhuận)
Trang 19Kỳ đầu tư các doanh nghiệp thường tính theo năm tài chính: Các khoản đầu tưdưới một năm được coi là ngắn hạn, từ một năm trở lên được coi là dài hạn Cácdoanh nghiệp thường định ra kế hoạch đầu tư trong danh mục đầu tư để lựa chọnviệc đầu tư ngắn hạn hay dài hạn Như đầu tư cổ phiếu, gửi ngân hàng thường làngắn hạn; đầu tư bất động sản, góp vốn liên doanh… thường là dài hạn.
c Hiệu quả sử dụng vốn hoạt động đầu tư tổng hợp theo doanh thu
Là tỷ số giữa tổng mức doanh thu đầu tư với tổng vốn đầu tư cho hoạt động
đầu tư thương mại của doanh nghiệp Chỉ tiêu này phản ánh cứ một đồng vốn hoạtđộng đầu tư trong kỳ thì thu được bao nhiều đồng doanh thu Chỉ tiêu này càng cao,phản ánh mức độ sử dụng vốn hoạt động đầu thương mại của doanh nghiệp trong kỳcàng lớn Để nâng cao chỉ tiêu này doanh nghiệp cần tập trung chú trọng đến đầu tưngắn hạn và tốc độ quay vòng của dòng đầu tư Để giải quyết hợp lý cơ cấu vốn củahoạt động đầu tư thương mại nhằm đem lại hiệu quả cao, doanh nghiệp cần tậptrung giải quyết những vấn đề sau đây:
- Đảm bảo tỷ lệ thích hợp giữa vốn cho hoạt động đầu tư ngắn hạn và dài hạn
- Đảm bảo tỷ lệ thích hợp giữa danh mục các loại hình đầu tư khác nhau (đầu tư cácloại cổ phiếu, chứng khoán, bất động sản, và các tài sản khác)
- Giảm tuyệt đối các khoản vốn đầu tư vào các hoạt động đầu tư không có hiệuquả hoặc không mang lại hiệu quả kinh tế cao
d Tỷ suất lợi nhuận theo tổng số vốn đầu tư của hoạt động đầu tư
Là tỷ số giữa tổng mức lợi nhuận thu được từ hoạt động đầu tư với tổng số vốncủa hoạt động đầu tư Chỉ tiêu này phản ánh cứ một đồng vốn của hoạt động đầu tư củadoanh nghiệp trong kỳ thì thu được bao nhiêu đồng lợi nhuận Chỉ tiêu này càng cao,chứng tỏ hiệu quả sử dụng vốn trong hoạt động đầu tư của doanh nghiệp càng lớn
Từ các chỉ tiêu tổng quát trên, có thể tính và phân tích các chỉ tiêu phản ánh hiệuquả hoạt động đầu tư dài hạn và ngắn hạn Ngoài ra, còn có thể chi tiết hơn việc phântích hiệu quả của từng danh mục đầu tư thương mại của DNBH như cổ phiếu, tráiphiếu, tín phiếu, cổ phần và các hoạt động đầu tư khác
e Chỉ tiêu đánh giá khả năng thanh toán đối với DNBH
Đảm bảo khả năng thanh toán là một trong những nguyên tắc quan trọng trong
Trang 20hoạt động đầu tư của doanh nghiệp bảo hiểm Các DNBH phải luôn duy trì khảnăng thanh toán trong suốt quá trình hoạt động kinh doanh bảo hiểm Do vậy, cácchỉ tiêu đánh giá khả năng thanh toán của doanh nghiệp bảo hiểm rất được coi trọngkhi phân tích hoạt động đầu tư của doanh nghiệp.
Một số chỉ tiêu khả năng thanh toán áp dụng đối với DNBH PNT được tínhtrên cơ sở sau:
+ Hệ số thanh toán nhanh
Hệ số thanh toán nhanh =
Các khoản phải thu + Tiền mặt + Đầu tư
ngắn hạn Tổng nợ ngắn hạn
Là khả năng thanh toán nhanh của doanh nghiệp Hệ số thanh toán nhanh > 1chứng tỏ doanh nghiệp có đủ khả năng thanh toán, ngược lại, nếu hệ số này < 1 thìkhả năng thanh toán nhanh của doanh nghiệp là yếu, càng gần 0 thì khả năng thanhtoán nhanh của doanh nghiệp càng yếu
Khả năng thanh toán biên = Biên khả năng thanh toán tối thiểu Biên khả năng thanh toán
Chỉ tiêu này cho biết khả năng đảm bảo thanh toán biên của doanh nghiệp bảohiểm (theo NĐ 46/2007/NĐ-CP), trong đó:
- Biên khả năng thanh toán là phần chênh lệch giữa giá trị tài sản và các khoản
Trang 21nợ phải trả của doanh nghiệp bảo hiểm tại thời điểm tính biên khả năng thanh toán.
- Biên khả năng thanh toán tối thiểu: Được đề tại mục 1.2.2.4
f Tỷ số lợi nhuận ròng trên tài sản (ROA)
Chỉ tiêu này đo lường khả năng sinh lợi trên mỗi đồng tài sản của doanhnghiệp
ROA =
Lợi nhuận ròng dành cho cổ đông thường
Tổng tài sản
Tài sản của một doanh nghiệp được hình thành từ vốn vay và vốn chủ sở hữu
Cả hai nguồn vốn này được sử dụng để tài trợ cho các hoạt động của doanh nghiệp,hiệu quả của việc sử dụng các nguồn vốn này được phản ánh qua chỉ số ROA ROAcàng cao thì có nghĩa doanh nghiệp đang kiếm được nhiều tiền hơn trên lượng đầu
tư ít hơn
g Tỷ số lợi nhuận ròng trên vốn chủ sở hữu (ROE)
Chỉ tiêu này đo lường khả năng sinh lợi trên mỗi đồng tài sản của doanhnghiệp
ROE =
Lợi nhuận ròng dành cho các cổ đông
thường Vốn cổ phần thường
Chỉ số này là thước đo chính xác để đánh giá một đồng vốn bỏ ra và tích luỹtạo ra bao nhiêu đồng lời Hệ số này thường được làm căn cứ để nhà đầu tư phântích so sánh với các cổ phiếu cùng ngành trên thị trường để từ đó quyết định đầu tư
1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động đầu tư của DNBH
1.3.1 Các nhân tố chủ quan:
- Các nhân tố ảnh hưởng đến quy mô nguồn vốn đầu tư:
+ Quy mô nguồn vốn chủ sở hữu:
Đây là một nguồn quan trọng tác động đến quy mô nguồn vốn đầu tư Nguồnvốn chủ sở hữu càng lớn thì quy mô nguồn vốn đầu tư có thể huy động càng lớn.Theo luật định, nguồn vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp ngoài phần đã sử dụng để
ký quỹ tại ngân hàng và phần đầu tư vào tài sản cố định và tài sản lưu động có thể
Trang 22được sử dụng để đầu tư
+ Quy mô phí bảo hiểm huy động:
Có thể thấy nhân tố trực tiếp tác động đến quy mô của quỹ dự phòng nghiệp vụbảo hiểm chính là quy mô lượng phí bảo hiểm huy động được Khi nguồn phí bảo hiểmhuy động được tăng lên sẽ là điều kiện tiên quyết làm tăng quỹ dự phòng nghiệp vụbảo hiểm, từ đó tăng quy mô nguồn vốn có thể đầu tư của DNBH Chính vì vậy, xétsâu xa, các chính sách sản phẩm, bán hàng, khuyếch trương mở rộng quy mô bảo hiểmgốc sẽ là nhân tố có tác động rất lớn đến hoạt động đầu tư của doanh nghiệp
+ Phí bảo hiểm gốc thực giữ lại:
Nếu một doanh nghiệp bảo hiểm có doanh thu bảo hiểm gốc lớn nhưng phíthực giữ lạ chiếm tỷ trọng ít (phần nhượng tái lớn) dẫn đến quy mô của các dựphòng nghiệp vụ nhỏ, nguồn vốn nhàn rỗi để đầu tư sẽ nhỏ
+ Trình độ quản lý
Nếu doanh nghiệp bảo hiểm có doanh thu lớn nhưng quản lý không tốt, cáckhoản về nợ phí bảo hiểm, tạm ứng cao, hoặc việc quản lý dòng tiền không hiệu quả(vì thường các doanh nghiệp bảo hiểm có các chi nhánh nằm rải rác trên một địabàn rộng lớn), bồi thường quá lớn, cũng là nhân tố ảnh hưởng tới quy mô củanguồn tiền để đầu tư
- Tính chất nguồn vốn có thể đầu tư:
Nếu doanh nghiệp có nguồn vốn chủ sở hữu lớn thì sẽ chủ động hơn trongquyết định đầu tư, bởi nguồn vốn chủ sở hữu là nguồn vốn ít chịu sự hạn chế củapháp luật nhất nên sẽ ảnh hưởng tích cực tới tính chủ động trong lựa chọn dự án đầu
tư của doanh nghiệp
Nguồn vốn từ dự phòng nghiệp vụ bảo hiểm chịu sự kiểm soát của luật pháp
về loại hình cũng như hạn mức đầu tư Phí bảo hiểm của DNBH PNT thường cótính chất ngắn hạn hơn và ít ổn định hơn vì hợp đồng bảo hiểm PNT thường có thờihạn một năm và khách hàng thường có xu hướng thay đổi doanh nghiệp bảo hiểmnhiều hơn nên việc đầu tư cũng khác hơn so với DNBHNT
- Tổ chức hoạt động đầu tư:
Trang 23Để có một hình thức tổ chức hoạt động đầu tư hợp lý đòi hỏi phải xem xétnhiều nhân tố, đặc biệt là quy mô DNBH, tính chất nghiệp vụ bảo hiểm và quy địnhcủa pháp luật.
Tuỳ theo đặc điểm và điều kiện riêng có của mình, mỗi doanh nghiệp bảohiểm sẽ lựa chọn cho mình một mô hình tổ chức hoạt động đầu tư thích hợp Nếu tổchức hoạt động đầu tư hợp lý sẽ giúp làm tăng hiệu quả hoạt động đầu tư của doanhnghiệp và ngược lại
- Quan điểm đầu tư của doanh nghiệp bảo hiểm:
Trên cơ sở các quy định của luật pháp, mỗi doanh nghiệp bảo hiểm lại có mộtquan điểm đầu tư khác nhau, tác động trực tiếp đến hiệu quả hoạt động đầu tư Vớicác quan điểm đầu tư khác nhau, các doanh nghiệp bảo hiểm sẽ có một danh mụcđầu tư khác nhau
Với quan điểm đầu tư thận trọng, doanh nghiệp bảo hiểm sẽ chú trọng đầu tưvào các khoản mục có độ an toàn cao như trái phiếu chính phủ, các khoản cho vayvới các tổ chức có khả năng tài chính tốt Còn với quan điểm đầu tư mạo hiểmhơn, họ có thể thực hiện những khoản đầu tư hứa hẹn khả năng sinh lời cao nhưnglại ẩn chứa độ rủi ro lớn như đầu tư chứng khoán, bất động sản
Các quan điểm đầu tư của doanh nghiệp bảo hiểm thường được thể hiện quachiến lược đầu tư, các chính sách đầu tư của doanh nghiệp Nếu xây dựng đượcchiến lược và chính sách đầu tư đúng đắn thì hoạt động đầu tư của doanh nghiệp sẽ
có hiệu quả cao, bảo toàn và phát triển được nguồn vốn
- Khả năng của đội ngũ cán bộ quản lý và cán bộ thực hiện đầu tư:
Đây cũng là một trong những yếu tố đóng vai trò hết sức quan trọng quyếtđịnh hiệu quả đầu tư của doanh nghiệp Hoạt động đầu tư của DNBH được thựchiện trong rất nhiều lĩnh vực rất đa dạng và chịu nhiều rủi ro Điều này đòi hỏi độingũ cán bộ đầu tư phải có năng lực, có sự phán đoán nhanh nhạy để từ đó có các đốisách phù hợp, kịp thời
- Khả năng thu thập thông tin:
Thông tin kịp thời, chính xác, đầy đủ là cơ sở giúp cho việc phân tích hoạt
Trang 24động đầu tư được tốt, từ đó nâng cao hiệu quả đầu tư của doanh nghiệp Thông tin
là yếu tố có ý nghĩa rất quan trọng đối với bộ phận làm công tác đầu tư, là cơ sở để
họ phân tích và ra quyết định đầu tư đúng đắn Thông tin của nhà đầu tư có thểđược thu thập từ nhiều nguồn khác nhau như qua tìm hiểu thị trường, thông tin từđối tác, từ hồ sơ của đối tượng đầu tư, từ các công trình nghiên cứu, các phươngtiện thông tin đại chúng (báo, đài)…
1.3.2 Các nhân tố khách quan:
- Hệ thống luật pháp, chính sách của Nhà nước:
+ Các quy định về hạn mức đầu tư của DNBH
Không giống như phần lớn các nhà đầu tư, các doanh nghiệp bảo hiểm phảituân theo các quy tắc về giới hạn loại hình và khối lượng các khoản đầu tư mà họthực hiện Các quy tắc này được đưa ra để yêu cầu các nhà bảo hiểm thực hiện sựtôn trọng việc đa dạng hoá đầu tư và bảo vệ khách hàng khỏi sự đe dọa của sự vỡ
nợ đối với nhà bảo hiểm khi họ thực hiện các hoạt động đầu tư quá mạo hiểm nhằmthu được lợi nhuận cao
Để đảm bảo quyền lợi của khách hàng và cũng là xuất phát từ lợi ích của bảnthân doanh nghiệp bảo hiểm, đảm bảo giữ uy tín của doanh nghiệp DNBH phảiluôn duy trì khả năng thanh toán trong suốt quá trình hoạt động kinh doanh bảohiểm, đồng thời thực hiện các khoản đầu tư có độ an toàn cao với khả năng sinh lờiphù hợp DNBH được coi là có đủ khả năng thanh toán khi đã trích lập đầy đủ dựphòng nghiệp vụ theo quy định và có biên khả năng thanh toán không thấp hơn biênkhả năng thanh toán tối thiểu theo quy định của chính phủ
Chính phủ thường yêu cầu các nhà bảo hiểm phải tuân theo các nguyên tắc chỉđạo khi lựa chọn đầu tư Các nguyên tắc này đòi hỏi danh mục đầu tư của nhà bảohiểm phải được đa dạng hoá và hình thành các tài sản chất lượng cao đại diện chomức độ rủi ro đầu tư thấp Các quy tắc này có hai dạng chung sau:
* Một là đưa ra giới hạn về danh mục đầu tư
Ví dụ: Tại Việt nam, theo Nghị định 46/2007/NĐ-CP ngày 27/03/2007 củaChính phủ chỉ cho phép các doanh nghiệp bảo hiểm đầu tư tối đa 35% vốn nhàn rỗi
Trang 25tự dự phòng nghiệp vụ bảo hiểm để đầu tư mua cổ phiếu, trái phiếu doanh nghiệpkhông có bảo lãnh, góp vốn vào các doanh nghiệp khác Tối đa 20% vốn nhàn rỗi từ
dự phòng nghiệp vụ bảo hiểm đối với kinh doanh bất động sản và cho vay
* Hai là đưa ra các quy tắc thận trọng, các nguyên tắc chỉ đạo mà nhà bảohiểm phải tuân theo khi thực hiện các quyết định đầu tư
+ Mức độ hoàn thiện của hệ thống luật pháp nói chung, luật pháp về hoạt độngkinh doanh bảo hiểm và về hoạt động đầu tư trong DNBH nói riêng
Một quốc gia có hệ thống luật pháp hoàn thiện sẽ tạo hành lang pháp lý thuậnlợi thúc đẩy hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp, khuyến khích cácdoanh nghiệp mở rộng hoạt động đầu tư
+ Ngoài ra, quan điểm của Nhà nước trong việc khuyến khích hoặc phát triểnmột ngành nghề nào đó cũng là một yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động đầu tư Nó ảnhhưởng đến sự lựa chọn các lĩnh vực để đầu tư: Thường tập trung đầu tư vào các lĩnhvực được ưu tiên phát triển
- Tình hình phát triển kinh tế xã hội:
Một nền kinh tế đang trong thời kỳ tăng trưởng phát triển cần thu hút nhiềunguồn vốn phục vụ quá trình phát triển đó sẽ là điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu
tư điều đó giúp hiệu quả đầu tư mang lại sẽ cao hơn
Ngược lại, nếu nền kinh tế rơi vào tình trạng suy thoái, trì trệ hoặc lạm pháttăng cao có thể dẫn đến làm ngưng trệ hoạt động đầu tư hoặc nguồn vốn đầu tưmang đi đầu tư sẽ không mang lại hiệu quả do sự mất giá của đồng tiền, điều đó ảnhhưởng xấu đến hiệu quả đầu tư
Một yếu tố khác ảnh hưởng tới hiệu quả đầu tư đó là tăng thu nhập của ngườidân, thu nhập của người dân tăng cao thì việc họ chú ý tới an toàn của bản thân họ
và gia đình sẽ được quan tâm hơn, qua đó làm tăng khả năng khai thác bảo hiểmgốc, từ đó tăng quy mô nguồn vốn đầu tư
- Môi trường đầu tư trong và ngoài nước:
+ Sự hình thành và mức độ phát triển của thị trường vốn, thị trường tiền tệ, thịtrường bất động sản, thị trường lao động, có ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động đầu
Trang 26tư Nếu các thị trường này chưa phát triển thì hạn chế sự lựa chọn hình thức đầu tưcủa doanh nghiệp dẫn đến hạn chế hiệu quả đầu tư.
+ Hệ thống cơ sở hạ tầng giao thông, hệ thống thông tin liên lạc, năng lượng;
hệ thống các dịch vụ hành chính, dịch vụ pháp lý liên quan đến hoạt động đầu tư; hệthống các dịch vụ tài chính ngân hàng, kế toán và kiểm toán Các nhân tố nàycũng là căn cứ quan trọng tác động đến quy định của pháp luật trong việc hạn chếlĩnh vực và hạn mức đầu tư của DNBH
Trang 27CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ VÀ HIỆU QUẢ
HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ TẠI PJICO
2.1 Tổng quan về hoạt động của PJICO
1.1.1 Lịch sử ra đời hình thành và phát triển của PJICO
Công ty cổ phần bảo hiểm Petrolimex (PJICO) được thành lập ngày15/6/1995 Là Công ty cổ phần bảo hiểm đầu tiên ra đời tại Việt Nam với các cổđông sáng lập là các Tổ chức kinh tế lớn của Nhà nước như: Tổng công ty xăng dầuViệt Nam (Petrolimex), Ngân hàng ngoại thương Việt Nam (Vietcombank), Tổngcông ty thép Việt Nam, Tổng công ty tái bảo hiểm Quốc gia Việt Nam, Liên hiệpĐường sắt Việt Nam, Công ty điện tử Hà Nội…
Sau 15 năm phát triển, PJICO đã trở thành một trong số các nhà bảo hiểmphi nhân thọ hàng đầu tại Việt Nam Doanh thu từ 14 tỷ đồng năm 1995 tăng lên
131 tỷ đồng năm 2000; 852 tỷ đồng vào năm 2005 và gần 1500 tỷ đồng vào năm
2010 (tốc độ tăng trưởng trung bình hàng năm của PJICO trong 15 năm qua làkhoảng 38%, cao hơn tốc độ tăng trưởng trung bình của toàn thị trường – 27%) Đểthực hiện chiến lược phát triển bền vững, PJICO tiếp tục triển khai mạnh các sảnphẩm bảo hiểm phục vụ cá nhân như bảo hiểm con người, bảo hiểm xe cơ giới…
Hiện nay, PJICO đang triển khai bán trên 80 sản phẩm bảo hiểm phi nhânthọ Có hệ thống mạng lưới bao gồm 51 chi nhánh, hàng trăm văn phòng phục vụkhách hàng trên toàn quốc, với hơn 1300 cán bộ công nhân viên và có trên 3000 đại
lý bảo hiểm chuyên nghiệp
Công ty đã có quan hệ đối tác gần gũi với các công ty bảo hiểm, môi giớibảo hiểm, tái bảo hiểm lớn trên thế giới như: Munich Re, CCR, Mitsui,Sumitomo… PJICO cũng tham gia nhận tái bảo hiểm các rủi ro từ thị trường HànQuốc, Nga, Malaysia…
Thị phần của PJICO đến nay đạt trên 10% - là một trong bốn công ty đứng
Trang 28đầu thị trường bảo hiểm phi nhân thọ tại Việt Nam Là nhà bảo hiểm số một ViệtNam về bảo hiểm xe máy, số hai về bảo hiểm ôtô và bảo hiểm hàng hoá Là nhà bảohiểm chính đối với một số mặt hàng xuất nhập khẩu chủ lực của Nhà nước như:Xăng dầu, sắt thép, phân bón, nông sản… Bên cạnh đó, PJICO cũng là nhà bảohiểm cho hàng loạt các công trình, dự án trị giá hàng nghìn tỷ đồng như: Dự ánquốc lộ 1A, đường Hồ Chí Minh; cầu Bãi cháy, cầu Cần Thơ; Nhà máy thuỷ điệnSơn La, Thuỷ điện Sesan 3; bảo hiểm các toà nhà văn phòng, khách sạn lớn; các độitàu viễn dương của Petrolimex, Vosco…
Trong những năm qua, PJICO đã giải quyết bồi thường hàng nghìn vụ tổnthất lớn như: Vụ cháy kho xăng dầu K31 (trên 21 tỷ đồng), tổn thất do lốc xoáy làmsập cẩu rót than tại Công ty Tuyển than Cửa Ông (trên 40 tỷ đồng), tổn thất sập cầucần thơ (trên 25 tỷ đồng), vụ đắm 11000 tấn phân Urê của Vegecam Hải Phòng (1,4triệu USD), tổn thất mặt hàng phân Kali trên tàu Maritime (trên 2 triệu USD)…
Bên cạnh hoạt động kinh doanh, công ty luôn quan tâm đến các công tác xãhội, thể hiện trách nhiệm với công đồng như: Các công tác từ thiện, tặng quà ủng hộđồng bào bị thiên tai; xây dựng Nhà tình nghĩa; phụng dưỡng các bà mẹ Việt Namanh hùng…số tiền lên đến hàng chục tỷ đồng
Với những thành tích đã đạt được, PJICO được Nhà nước tặng thưởng Huânchương lao động hạng ba năm 2000, Huân chương lao động hạng nhì năm 2010.Đạt Giải thưởng Sao vàng đất Việt nhiều năm liền Nhiều cá nhân, tập thể đượcnhận nhiều bằng khen, giấy khen của các cấp, các ngành và của Thủ tướng Chínhphủ
Nằm trong định hướng phát triển chung của Tổng công ty xăng dầu ViệtNam (Petrolimex) lên Tập đoàn kinh tế đa sở hữu Petrolimex Theo đó, PJICO sẽphát triển trở thành một tổng công ty bảo hiểm, là một đơn vị thành viên nằm trong
hệ thống tập đoàn Petrolimex Công ty đã xác định cho mình một sứ mệnh, đó là:Cung cấp các dịch vụ bảo hiểm đồng bộ, đa dạng và có chất lượng cao định hướngvào khách hàng; tạo môi trường làm việc chuyên nghiệp, minh bạch, năng động vàthân thiện để nhân viên phát huy tài năng, sáng tạo, hợp tác có hiệu quả với các đối
Trang 29tác để cùng phát triển và đóng góp xây dựng cộng đồng; phát triển bền vững để giatăng giá trị cho các cổ đông thông qua đa dạng hoá hoạt động bảo hiểm và đầu tư tàichính.
2.1.2 Cơ cấu tổ chức và quản lý hoạt động kinh doanh của PJICO
Sơ đồ 2.1: Mô hình tổ chức bộ máy của PJICO đến 31/12/2011
P TỔNG
HỢP
HỘI ĐỒNG QUẢN TRỊ
P TỔNG GIÁM
ĐỐC
P TỔNG GIÁM ĐỐC
TỔNG GIÁM ĐỐC
BAN KIỂM SOÁT
P BH TÀI SẢN
KỸ THUẬT
P
T/CHÍNH
KẾ TOÁN
P TỔNG GIÁM ĐỐC
P BH TÀU THUỶ
P BH XE
CƠ GIỚI
P NH CON NGƯỜI
P QUẢN
LÝ & PHÁT TRIỂN ĐẠI LÝ
P TÁI BẢO HIỂM
P KIỂM TOÁN NỘI BỘ
P THANH TRA PHÁP CHẾ
P TỔ
CHỨC
P CN THÔNG TIN
P ĐẦU TƯ
CÁC VP ĐẠI DIỆN
CÁC CHI
NHÁNH
CÁC TỔNG ĐẠI
LÝ & ĐẠI LÝ ĐẠI HỘI CỔ ĐÔNG
Trang 30Nhằm nâng cao chất lượng quản lý và tăng cường công tác phát triển kinhdoanh trong thời kỳ mới, PJICO liên tục điều chỉnh cấu trúc bộ máy cho phù hợp.Hiện nay có 16 phòng chức năng tại văn phòng Công ty và các Chi nhánh, Vănphòng trực thuộc trên 63 tỉnh thành của cả nước Mô hình tổ chức bộ máy củaPJICO đến thời điểm 31/12/2011 được khái quát hoá theo Sơ đồ 2.1
Tổng giám đốc PJICO do Hội đồng quản trị công ty bổ nhiệm, là người đạidiện theo pháp luật của Công ty, là người có trách nhiệm trực tiếp quản lý và đầu tưvốn Dưới Tổng giám đốc có các Phó Tổng giám đốc giúp Tổng giám đốc điều hànhquản lý các lĩnh vực cụ thể được giao
Trụ sở chính gồm 16 phòng chức năng để giúp việc và duy trì hoạt động choCông ty Chức năng của các phòng nghiệp vụ Công ty gồm: Tham mưu về công tácđào tạo và phát triển nguồn nhân lực, các đại lý; nghiên cứu tham mưu phát triểncác sản phẩm mới, các chính sách phát triển nghiệp vụ trên những nghiệp vụ bảohiểm cụ thể; hướng dẫn, hỗ trợ các Chi nhánh thành viên trong quá trình hoạt động;tham mưu giúp Tổng giám đốc điều hành trên những lĩnh vực cụ thể như đối ngoại,tài chính-kế toán, tổ chức, nhân sự, pháp chế, đầu tư xây dựng cơ bản và lĩnh vực táibảo hiểm…
Có 51 Chi nhánh, các Văn phòng đại diện, các tổng đại lý, đại lý trên cảnước Các chi nhánh hoạt động theo hình thức hạch toán phụ thuộc Các chi nhánh
có các các phòng bảo hiểm khu vực, phòng phục vụ khách hàng tại các quận huyệnlớn của tỉnh, thành phố
Với mạng lưới hoạt động trải rộng khắp đất nước, PJICO đã đáp ứng đượchầu hết nhu cầu bảo hiểm của khách hàng trên nhiều lĩnh vực, thể hiện vai trò làmột trong các doanh nghiệp cổ phần đi tiên phong trên thị trường bảo hiểm Việtnam
2.1.3 Kết quả hoạt động kinh doanh của PJICO
Hoà cùng sự phát triển và hội nhập của đất nước, trong thời gian vừa quaPJICO đã phát triển nhanh chóng Sau 15 năm đi vào hoạt động, phát triển của
Trang 31PJICO có thể được chia làm 3 giai đoạn điển hình:
Giai đoạn 1995 – 2000, là thời kỳ Công ty bắt đầu đi vào hoạt động, pháttriển tổ chức, mạng lưới… Doanh thu của PJICO tăng trong giai đoạn này từ 14 tỷđồng lên 131 tỷ đồng vào năm 2000
Giai đoạn 2001 – 2005 là thời kỳ Công ty tập trung phát triển mạnh về mạnglưới (tăng từ 14 chi nhánh lên 38 chi nhánh trực thuộc), tăng cường công tác bán lẻ
và vì vậy cơ cấu doanh thu có sự dịch chuyển mạnh – với tỷ trọng ngày càng tăngcủa các nghiệp vụ bán lẻ như: Bảo hiểm xe máy, ôtô, con người… đã làm chodoanh thu tăng mạnh từ 131 tỷ đồng lên 852 tỷ đồng vào năm 2005
Giai đoạn 2006 - 2010, Công ty chuyển sang chiến lược phát triển bền vữngvới định hướng “Ổn định – an toàn – hiệu quả” Với định hướng đó, Công ty đãxây dựng chính sách bán hàng hiệu quả nhưng vẫn đảm bảo tăng trưởng, thực hiệncông tác sàng lọc và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ công nhân viên, đầu tư xâydựng cơ sở vật chất cho các đơn vị trực thuộc…, và vì vậy doanh thu tăng từ 852 tỷđồng lên xấp xỉ 1500 tỷ đồng vào năm 2010, nhiều trụ sở chi nhánh đã và đangđược xây dựng, nguồn nhân lực ngày càng chuyên nghiệp hơn Đội ngũ nhân viêncũng phát triển nhanh chóng và có trình độ chuyên môn cao, phẩm chất đạo đức tốt
Từ chỗ chỉ 8 cán bộ công nhân viên những ngày đầu tiên, PJICO đến nay đã có trên
1300 nhân viên, trên 3000 đại lý bảo hiểm chuyên nghiệp Hoạt động kinh doanhbảo hiểm của PJICO hiện nay đa dạng và phong phú chứ không chỉ còn đơn thuần
là kinh doanh bảo hiểm gốc Hoạt động tái bảo hiểm giờ đây đã là một hoạt động có
ý nghĩa quan trọng và mang lại hiệu quả cho công ty, mở rộng quan hệ với cáckhách hàng lớn cả ở trong và ngoài nước; hoạt động đầu tư tài chính đã đem lại lợinhuận chủ yếu cho PJICO – nhất là trong giai đoạn hiện nay Hiện nay PJICO đangtriển khai trên 80 nghiệp vụ bảo hiểm phi nhân thọ ở tất cả các lĩnh vực trong đờisống như bảo hiểm con người, cháy nổ, bảo hiểm hàng hóa, hàng không, dầu khí, xe
cơ giới, trách nhiệm
Bên cạnh đó, PJICO cũng đã làm tốt công tác giải quyết bồi thường chokhách hàng với các thủ tục đơn giản, thuận tiện Trong năm 2010, PJICO đã giải
Trang 32quyết bồi thường trên 667 tỷ đồng, trong đó: Nghiệp vụ con người bồi thường trên
68 tỷ đồng, bảo hiểm xe cơ giới bồi thường trên 325 tỷ đồng…
Thực hiện chiến lược phát triển bền vững và đáp ứng tiêu chuẩn cao về cẩntrọng trong kinh doanh bảo hiểm, năm 2010 PJICO đã trích lập dự phòng nghiệp vụđạt gần 785 tỷ đồng tăng 101 tỷ so với năm 2009, tăng 240 tỷ so với năm 2008 cácquỹ dự phòng lớn là cơ sở đảm bảo sự an toàn về tài chính để phát triển bền vững củaCông ty trong những năm tiếp theo Kết quả hoạt động của PJICO qua Bảng 2.1
Bảng 2.1: Tình hình tài chính và kết quả hoạt động kinh doanh của PJICO giai
2.1.1 Doanh thu thuần hoạt động KDBH 525 664 861 1033 1258
- Thu phí bảo hiểm gốc 667 885 1069 1 298 1592 -Thu phí nhận tái bảo hiểm 41 51 62 91 82
- Hoa hồng nhượng tái bảo
Nguồn: Trích Báo cáo tài chính của PJICO các năm 2006 -2010
Với một thị trường cạnh tranh gay gắt, nhưng với chiến lược kinh doanh tốt vànguồn nhân lực cao, PJICO vẫn luôn giữ vững là một trong bốn doanh nghiệp BH PNThàng đầu trên thị trường bảo hiểm Việt Nam Với những chính sách liên tục được đổimới, trong 5 năm qua, PJICO đã đạt được những kết quả đáng khích lệ:
Trang 33- Tổng giá trị tài sản tăng từ 581 tỷ đồng năm 2006 lên tới 1699 tỷ đồng năm
1592 tỷ đồng năm 2010, tăng 138 %; doanh thu nhận tái bảo hiểm tăng từ 41 tỷđồng năm 2006 lên 82 tỷ đồng năm 2010, tăng 100 %; doanh thu hoạt động đầu tưtài chính tăng từ 30 tỷ đồng năm 2006 lên trên 91 tỷ đồng năm 2010, tăng 203 %.Lợi nhuận trước thuế tăng từ 29 tỷ đồng năm 2006 lên trên 82 tỷ đồng năm 2010,tăng 182% Thuế thu nhập doanh nghiệp tăng từ 7 tỷ năm 2006 lên 19 tỷ năm 2010,tăng 171% Mặc dù mức độ cạnh tranh ngày càng gia tăng, nhưng PJICO vẫn luônduy trì vị trí trong tốp bốn doanh nghiệp BH PNT dẫn đầu về thị phần tính theodoanh thu phí bảo hiểm (Biểu 2.1)
Biểu 2.1: Thị phần doanh thu bảo hiểm gốc của PJICO 2006-2010
Nguồn: Bản tin của Hiệp hội bảo hiểm Việt Nam 2006-2010.
Từ các số liệu cho thấy tình hình cạnh tranh đã làm thị phần của hai doanhnghiệp dẫn đầu thị trường vào năm 2006 đều bị giảm – mặc dù doanh thu vẫn tăng,Bảo Minh giảm từ 22% năm 2006 xuống còn 14% vào năm 2010, Bảo Việt giảm từ34% vào năm 2006 xuống còn 27% vào năm 2010, PJICO vẫn giữ được 10% thị
Trang 34phần vào năm 2010.
2.2 Thực trạng hiệu quả hoạt động đầu tư tại PJICO
2.2.1 Công tác tổ chức hoạt động đầu tư tại PJICO
Hiện nay công tác đầu tư tại PJICO được quản lý bởi phòng Đầu tư công ty.Phòng Đầu tư công ty chịu trách nhiệm thực hiện công tác đầu tư tài chính đối vớinguồn vốn được đầu tư theo quy định của Nhà nước và của Công ty Tất cả cácquyết định đầu tư liên quan đến quỹ đầu tư phải thông qua Tổng giám đốc PJICO,Hội đồng quản trị Công ty Các hình thức đầu tư tài chính và việc phân cấp đầu tưcủa Công ty được quy định tại Quyết định số 05/QĐ/HĐQT-2006 ngày 01 tháng 04năm 2006 của Chủ tịch Hội đồng quản trị Công ty về việc ban hành Quy chế tàichính trong đó:
- Hình thức đầu tư gồm: Mua trái phiếu, cổ phiếu; cho vay theo quy định củaLuật các tổ chức tín dụng; gửi tiền tại các tổ chức tín dụng; liên doanh, liên kết gópvốn cổ phần; đầu tư thành lập công ty trách nhiệm hữu hạn; mua lại công ty khác;kinh doanh bất động sản; uỷ thác đầu tư qua các tổ chức tín dụng
Công ty không được phép đầu tư vào các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh
tế có bố, mẹ, vợ, chồng, con của các thành viên Hội đồng quản trị, Tổng giám đốc
là người quản lý hoặc điều hành
- Phân cấp đầu tư:
+ Tổng giám đốc quyết định các hình thức đầu tư tiền gửi tại các tổ chức tíndụng, mua công trái, trái phiếu Chính phủ có giá trị tối đa đến 50% vốn chủ sở hữughi trên báo cáo tài chính Công ty tại quý gần nhất; Tổng giám đốc có quyền quyếtđịnh các dự án đầu tư đến 5 tỷ đồng
+ Hội đồng quản trị quyết định dự án đầu tư trên 5 tỷ đồng đến 50% vốn chủ
sở hữu ghi trên Báo cáo tài chính Công ty được công bố tại quý gần nhất trên cơ sởphương án đầu tư do Tổng giám đốc trình; Hội đồng quản trị quyết định cử ngườiđại diện quản lý hoặc điều hành các doanh nghiệp có vốn góp của Công ty trên cơ
sở tham khảo đề xuất của Tổng giám đốc Người được cử làm đại diện quản lý phần
Trang 35vốn đầu tư ra ngoài Công ty phải báo cáo và xin ý kiến Hội đồng quản trị bằng vănbản trước khi biểu quyết các vấn đề liên quan đến hoạt động của doanh nghiệp màmình được cử làm đại diện quản lý phần vốn của PJICO tại doanh nghiệp đó.
+ Đại hội cổ đông quyết định dự án đầu tư có giá trị trên 50% vốn chủ sởhữu ghi trên báo cáo tài chính Công ty tại quý gần nhất, trên cơ sở phương án doHội đồng quản trị trình
Hội đồng quản trị, Tổng giám đốc có trách nhiệm kiểm tra, giám sát việc đầu
tư ra ngoài Công ty và chịu trách nhiệm về hiệu quả của việc đầu tư
Trên cơ sở các quy định của Công ty và Luật pháp, phòng Đầu tư Công ty thực hiệnviệc đầu tư tài chính với các công việc:
a Công tác nghiên cứu thị trường và lựa chọn lĩnh vực đầu tư.
Nghiên cứu thị trường và lựa chọn lĩnh vực đầu tư cho phù hợp là một trongnhững công việc tối cần thiết đối với hoạt động đầu tư thương mại và công tác nângcao hiệu quả hoạt động đầu tư của PJICO, nhất là trong giai đoạn nền kinh tế cónhiều biến động như hiện nay Việc nghiên cứu thị trường được dựa trên các yếu tố:
- Các quy định của pháp luật đối với DNBH trong việc sử dụng vốn đầu tưtài chính về hạn mức, lĩnh vực đầu tư
- Các quy định của pháp luật, cơ quan ban ngành đối với các doanh nghiệp hoạtđộng trong lĩnh vực đầu tư vốn và kinh doanh vốn, như: Chính phủ, Ngân hàng Nhànước, Bộ Tài chính, Ủy ban chứng khoán Nhà nước, các Ngân hàng thương mại
- Quy định của Hội đồng quản trị trong việc phân cấp phân quyền đầu tư,định hướng đầu tư và định hướng sử dụng vốn đầu tư
- Tình hình diễn biến của thị trường vốn, thị trường bất động sản và tình hình
cụ thể của các doanh nghiệp cho vay
b Việc thực hiện giám sát tình hình đầu tư.
Hiện nay tại PJICO, phòng Đầu tư có chức năng đầu tư và giám sát kết quảcủa hoạt động đầu tư của Công ty trên cơ sở theo quy định trong Quyết định số05/QĐ/HĐQT-2006 ngày 01 tháng 04 năm 2006 của Chủ tịch Hội đồng quản trị