Các loài thiên địch luôn tồn tại song song với các loài côn trùng gây hại, chúng đóng một vai trò quan trọng trong việc kìm hãm sự phát sinh, phát triển về mặt số lượng của các loài sâu
Trang 1LỜI CẢM ƠN
Trước hết tôi xin trân thành cảm ơn TS. Nguyễn Xuân Thành – Viện Sinh Thái và Tài Nguyên Sinh Vật .Người đã tận tình chỉ bảo, hướng dẫn về mọi mặt trong quá trình nghiên cứu để tôi hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này .
Tôi xin gửi lời cảm ơn tới các cán bộ Trung Tâm Đậu Đỗ của Viện Khoa Học Nông Nghiệp Việt Nam đã giúp đỡ chúng tôi trong quá trình điều tra tại khu ruộng thí nghiệm của trung tâm .
Qua đây tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới các thầy cô, cán bộ Khoa Công Nghệ Sinh Học- Viện Đại Học Mở Hà Nội đã tận tình chỉ bảo, tạo điều kiện thuận lợi cho tôi học tập suốt 4 năm học vừa qua , cũng như trong quá trình thực hiện khóa luận tốt nghiệp này.
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn các cô các bác nông dân tại thôn Vĩnh Quỳnh – Thanh Trì – Hà nội, Thôn Khuyến Lương – Hoàng Mai –Hà Nội. Ninh Sở-Thường Tín-Hà Nội đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho chúng tôi điều tra tại thực địa .
Trang 2MỤC LỤC LỜI CẢM ƠN
DANH MỤC CÁC HÌNH
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
MỞ ĐẦU 1
PHẦN I: TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 5
1.1 Tình hình nghiên cứu sâu hại lạc 5
1.1.1 Tình hình nghiên cứu loài côn trùng hại lạc ở trong nước. 5
1.1.2 Tình hình nghiên cứu côn trùng hại lạc ở ngoài nước. 7
1.2 Tình hình nghiên cứu thiên địch của côn trùng hại lạc ở trong và ngoài nước. 7
1.2.1.Các loài côn trùng bắt mồi trên cây lạc. 8
1.2.2.Các loài côn trùng ký sinh trên sâu hại lạc. 9
PHẦN II: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG, VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 11
2.1 Đối tượng và nội dung nghiên cứu 11
2.1.1. Đối tượng nghiên cứu: 11
2.1.2. Nội dung nghiên cứu: 11
2.2 Vật liệu, địa điểm và thời gian nghiên cứu. 11
2.2.1. Vật liệu nghiên cứu 11
2.2.2. Địa điểm nghiên cứu 12
2.2.3. Thời gian nghiên cứu 13
2.3 Phương pháp nghiên cứu 13
2.3.1. Phương pháp điều tra ngoài tự nhiên 13
2.3.2. Phương pháp ghi chép điều tra 14
2.3.3. Phương pháp nghiên cứu trong phòng thí nghiệm (Nghiên cứu sinh thái, sinh hoc) 14
2.4 Phương pháp tính toán 14
PHẦN III :KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 15
Trang 33.1 Kết quả nghiên cứu thành phần sâu hại và thiên địch trên lạc ở
hà nội và các vùng lân cận 16
3.1.1.Thành phần loài gây hại trên cây Lạc tại khu điều tra thực địa 16
3.2 Đặc điểm hình thái của sâu xám 27
3.2.1 Đặc điểm hình thái của sâu xám 27
3.2.2 Tập quán sinh hoạt. 29
3.3 Đặc điểm sinh học, sinh thái của sâu xám. 31
3.4 Biến động số lượng ấu trùng loài sâu xám qua các buổi điều tra thực địa. 38
PHẦN IV: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 41
4 1 Kết Luận 41
4.2 Kiến Nghị. 41
TÀI LIÊỤ THAM KHẢO 43
PHỤ LỤC
Trang 4DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 1: Giá và lọ nuôi côn trùng. 12
Hình 2: Điều tra ngoài thực địa (Ảnh của TS. Nguyễn Xuân Thành) 13
Hình 3: Ấu trùng sâu khoang. 21
Hình 4: Ấu trùng sâu xanh. 22
Hình 5: Ấu trùng sâu róm 4 gù 2 vàng 2 vệt đen.(Ảnh của T.S Nguyễn Xuân Thành) 23
Hình 6: Ong ký sinh đèn lồng (Ảnh của TS. Nguyễn Xuân Thành) 25
Hình 7: Trưởng thành sâu xám. 31
Hình 8: Ấu trùng sâu xám 35
Hình 9: Nhộng của sâu xám 37
Trang 5DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Biểu đồ nhịp điệu đẻ trứng của sâu xám. 33
Bảng mật độ trung bình của sâu xám trong các buổi điều tra. 38
Biểu đồ mật độ sâu xám trên các khu điều tra thực địa. 39
Bảng 1: Thành phần loài côn trùng hại lạc. 16
Bảng 2: Thành phần thiên địch trên cây lạc. 24
Bảng 3: Kích thước từng pha phát dục của sâu xám. 30
Bảng 4: Thời gian sống của trưởng thành sâu xám 32
Bảng 5: Số lượng trứng trung bình của 1 cặp trưởng thành sâu xám 33
Bảng 6 : Thời gian phát dục của pha trứng sâu xám 34
Bảng 7: Thời gian phát dục và tỉ lệ sống của pha ấu trùng. 36
Bảng 8: Thời gian phát dục của pha nhộng sâu xám 38
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Cho đến nay, Việt Nam vẫn là một nước mà nền nông nghiệp đóng một vai trò quan trọng trong nền kinh tế của đất nước. Nông nghiệp được xem như
là một ngành mũi nhọn của nước ta, chính vì vậy nó nhận được sự quan tâm cũng như đầu tư rất nhiều cả về tiền của cũng như công sức. Trong những năm trở lại đây, dân số tăng trưởng nhanh đồng thời với đó là việc diện tích đất dành cho nông nghiệp ngày càng bị thu hẹp lại, do phải nhường đất để xây dựng các công trình chung cư, nhà ở… để đảm bảo đủ lương thực cho nước
ta, cũng như muốn trở thành nước xuất khẩu các sản phẩm nông nghiệp hàng đầu trên thế giới thì bài toán được đặt ra cho các ngành Nông Nghiệp đó là tăng năng suất và chất lượng của nông sản. Để tăng được năng suất cây trồng trên những diện tích đất ngày càng bị thu hẹp lại, con người đã sử dụng nhiều biện pháp như: nghiên cứu tạo ra các giống cây trồng mới có năng suất cao, bón phân, phun thuốc trừ sâu để phòng trừ sâu hại. Một trong những thói quen của người sản xuất nông nghiệp ở Việt Nam đó là thấy sâu là phun thuốc, thấy có dịch là dập chưa quan tâm nhiều tới các tác động tiêu cực của việc làm đó. Những việc làm như vậy chỉ có thể thu được kết quả trước mắt chứ không thể duy trì tác dụng diệt sâu về mặt lâu dài được. Đó cũng là một trong những hạn chế của ngành bảo vệ thực vật mà chưa thể giải quyết ngay được. Theo một kết quả điền tra mới đây của Đại học Quốc Gia Hà Nội thì có khoảng 15 – 20 triệu người thường xuyên tiếp xúc với thuốc bảo vệ thực vật.
Từ đó chứng tỏ việc sử dụng thuốc bảo vệ thực vật là một vấn đề cố hữu và khó thay đổi được. Chính từ những ưu điểm của thuốc bảo vệ thực vật như: bày bán rộng rãi, giá thành hợp lý, dễ mua, dễ sử dụng và đạt hiệu quả tương đối cao, có thể áp dụng trên nhiều loại sâu, loại cây mà nó trở thành lựa chọn hàng đầu của người sản xuất nông nghiệp mỗi khi phát hiện ra sâu bệnh. Từ
đó, việc sử dụng một cách tràn lan và bừa bãi đã gây ra những tác hại không nhỏ đối với sức khỏe của con người cũng như ảnh hưởng nặng nề tới môi
Trang 7trường: ô nhiễm đất, ô nhiễm nước, ô nhiễm không khí; làm mất cân bằng sinh thái, làm giảm sút tính đa dạng của loài. Trong quá trình sử dụng thuốc trừ bảo vệ thực vật để tiêu diệt các loài côn trùng gây hại, chúng ta cũng vô tình tiêu diệt cả những loài côn trùng có ích, là thiên địch của các con côn trùng gây hại. Các loài thiên địch luôn tồn tại song song với các loài côn trùng gây hại, chúng đóng một vai trò quan trọng trong việc kìm hãm sự phát sinh, phát triển về mặt số lượng của các loài sâu hại. Chúng săn bắt các loài côn trùng gây hại hoặc là truyền bệnh cho sâu hại. Thiên địch được chia làm 3 loại: Loại thiên địch bắt mồi ăn thịt, nhóm thiên địch kí sinh và nhóm vi sinh vật gây bệnh hại côn trùng. Việc sử dụng các loài thiên địch cũng mang lại nhiều tác dụng tích cực, làm giảm đáng kể lượng thuốc hóa học được sử dụng,
từ đó giảm thiểu được các tác động tiêu cực tới môi trường cũng như sức khỏe con người, như vậy sẽ bảo vệ môi trường theo một hướng lâu dài và bền vững hơn. Với tình hình sâu hại như hiện nay cùng với hiện tượng kháng thuốc đang xảy ra càng thường xuyên hơn thì các nhà khoa học đã nghiên cứu
và đưa ra biện pháp phòng trừ có nhiều ưu điểm hơn cả đó là biện pháp quản
lý dịch hại tổng hợp IPM ( Intergrated Pest Management ) là một hệ thống quản lý dịch hại mà trong khung cảnh cụ thể của môi trường và những biến động quần thể của các loài gây hại, sử dụng tất cả các kỹ thuật và biện pháp thích hợp có thể được, nhằm duy trì mật độ của các loài gây hại ở dưới mức gây ra những thiệt hại kinh tế. Một trong những nguyên tắc cơ bản của phương pháp IPM đó là bảo vệ thiên địch. Bản chất của việc bảo vệ thiên địch trong phương pháp IPM đó là tìm kiếm các loài thiên địch và bảo vệ chúng từ
đó dùng chính các loài côn trùng trong tự nhiên để chống lại các loài côn trùng gây hại. Xét về mặt sinh thái thì vai trò của các loài côn trùng là như nhau trong 1 chuỗi thức ăn; lưới thức ăn, nhưng chính viêc sử dụng các loài thuốc bảo vệ thực vật đã làm mất cân bằng sinh thái, làm cho số lượng của một loài nào đó tăng đột biến nên tạo thành dịch, và khi đã thành dịch thì hậu
Trang 8đã trở thành một vấn mang tính toàn cầu, việc bảo vệ môi trường đi kèm với phát triển một cách bền vững là mục tiêu phát triển mà các nước đang hướng tới. Trong ngành nông nghiệp cũng vậy, muốn đạt được năng suất cao mà vẫn bảo vệ được môi trường là một bài toán khó đối với các nhà quản lý. Bởi bảo
vệ môi trường chính là bảo vệ sức khỏe, nói xa hơn là bảo vệ cuộc sống của chính bản thân con người. Trong quá trình sản xuất nông nghiệp thì việc phòng trừ sâu hại là một trong những việc không thể thiếu, bới sâu hại mùa vụ nào cũng có và trong điều kiện nóng ẩm của nước ta, các loài sâu bệnh phát sinh kế tiếp luân phiên nhau theo vụ, theo mùa làm giảm năng xuất, sản lượng. Những năm gần đây các nhà khoa học đã nghiên cứu nhiều hơn về các loài côn trùng gây hại để từ đó đưa ra được các khuyến cáo cho ngành nông nghiệp. Một trong những loài đó là sâu xám với khả năng sinh trưởng mạnh
mẽ, phá hại mùa màng rất cao và là loài tương đối khó tiêu diệt. Chúng phá hoại trên lá nhiều loại cây nhưng chủ yếu là các giống cây trồng thuộc họ lạc,
đỗ tương, ngô. Sâu xám phá hoại chủ yếu vào giai đoạn cây còn non nên sẽ gây ra những ảnh hưởng nặng nề tới cây. Cùng với đó là vòng đời của loài sâu xám tương đối ngắn, thời gian của 1 cá thể từ giai đoạn trứng đến khi vũ hóa vào khoảng 50 ngày. Trưởng thành của sâu xám vũ hóa được 2 – 3 ngày
là bắt đầu đẻ trứng, số lượng trứng có thể lên tới 1600 quả. Trứng của sâu xám nhỏ lại đẻ rải rác nên khó nhận biết được để tiêu diệt. Giai đoạn ấu trùng thì có sức tàn phá rất lớn, lại sống dưới đất và chỉ chui lên mặt đất vào lúc sáng sớm để phá hoại nên cũng khó tiêu diệt.
Vì thế , được khoa Công Nghệ Sinh Học Viện Đại Học Mở Hà Nội cho phép , dưới sự giúp đỡ của Tiến sỹ Nguyễn Xuân Thành chúng tôi đã thực tập
và viết luận văn với đề tài “ Điều tra, nghiên cứu sự đa dạng về thành
phần loài côn trùng và đặc điểm sinh học sinh thái của sâu xám Agrotis
Trang 92 Mục tiêu của đề tài
Đề tài nhằm một số mục tiêu sau đây
- Điều tra thu thập mẫu vật, xác định các nhóm côn trùng gây hại và thành phần loài của từng loài côn trùng gây hại trên quần thể cây lạc, đậu tương trên địa bàn Hà Nội và các vùng phụ cận.
- Nghiên cứu các giai đoạn phát sinh, phát triển của loài sâu xám, để đưa
ra các kiến nghị cho ngành Nông Nghiệp. Từ đó áp dụng một cách hợp lý các biện pháp phòng trừ để không làm ảnh hưởng tới môi trường cũng như mất cân bằng sinh thái.
- Xác định sự đa dạng về thành phần loài sâu xám và thiên địch của chúng.
- Xác định được quy luật phát sinh cũng như sự phân bố của chúng.
- Xác định được đặc điểm hình thái, sinh học, sinh thái cơ bản của sâu xám.
- Có thể đề xuất được một số biện pháp phòng trừ loài sâu hại này.
3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Việc điều tra thành phấn loài sâu xám đóng vai trò quan trọng trong việc phòng trừ sâu hại:
Thông qua điều tra thành phần loài sâu xám từ đó ta đánh giá được sự
đa dang sinh học trên quần thể lạc ở Hà Nội và các vùng phụ cận. Theo dõi sự biến động của các loài côn trùng gây hại cũng như thiên địch của chúng nhằm
đề ra các biện pháp phòng trừ hợp lý đạt hiệu quả tối đa.
Từ việc nghiên cứu đặc điểm hình thái sinh học và sinh thái của sâu hại nhằm cung cấp các dẫn liệu khoa học cho biện pháp quản lí dịch hại tổng hợp ( IPM ) đạt hiệu quả cao hơn. Ngoài ra, việc điều tra mật độ và thành phần các loài côn trùng gây hại chủ yếu là theo dõi sự biến động mật độ quần thể của chúng, xác định được khi nào mật độ quần thể trở thành mối đe dọa cho con người và từ đó đề ra các phương pháp phòng trừ một cách hợp lí.
Trang 10
PHẦN I: TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU
1.1 Tình hình nghiên cứu sâu hại lạc
Lạc là loài cây công nghiệp ngắn ngày có giá trị kinh tế cao. Việc cải tiến
kĩ thuật trong canh tác nông nghiệp trong những năm trở lại đây đã mang lại được những kết quả to lớn. Năng xuất cây lạc cũng như vậy được tăng lên và đem lại kim ngạch xuất khẩu cao cho nước ta. Tuy nhiên, chất lượng các mặt hàng nông sản của nước ta vẫn chưa được cao, vì vậy mà giá trị về mặt kinh tế cũng bị hạn chế đi nhiều. Một trong những nguyên nhân khiến cho năng suất lạc và phẩm chất của lạc bị giảm là do các loài sâu hại. Tùy theo điều kiện thời tiết, các vùng địa lí, vào từng vụ và mùa khác nhau mà cây lạc bị sự phá hoại của các loại sâu hại khác nhau. Ở những giai đoạn sinh trưởng khác nhau trên cây lạc xuất hiện các loài côn trùng gây hại khác nhau.
1.1.1 Tình hình nghiên cứu loài côn trùng hại lạc ở trong nước Việc nghiên cứu về các loài côn trùng gây hại đóng một vai trò quan trọng trong việc tiêu diệt chúng. Từ nghiên cứu đó, ta biết được đặc điểm phát sinh, phát triển của các loài côn trùng gây hại, biết được giai đoạn nào yếu nhất và mạnh nhất của chúng Từ đó đề ra được các biện pháp phòng trừ hợp lý. Nước ta là một nước nông nghiệp nên việc nghiên cứu về các loài xôn trùng hại lạc cũng đã được nghiên cứu từ nhiều năm trở lại đây.
Kết quả nghiên cứu của Lê Song Dự, Nguyễn Thế Côn (1997) cho biết nước ta có khoảng 17 loài gây hại chính trên sinh quần ruộng lạc bao gồm: Nhóm sâu hại hạt giống có 4 loài, nhóm gây hại cây non có 3 loài và nhóm sâu hại lá có 10 loài. Trên vùng ruộng Hà Nội đã xác định được 21 loài sâu hại thường xuyên xuất hiện. Trong đó có 10 loài sâu hại đáng kể, nhiều nhất
là bọ trĩ Thrip sp., rệp, sâu cuốn lá, sâu khoang, sâu róm… Sâu khoang có mật
độ cao ở các giai đoạn lạc đâm tia, còn bọ trĩ, rệp và rầy xanh thường gây hại nặng ngay đầu vụ lạc. Đáng lưu ý là vào trung tuần tháng 4, trung tuần tháng
5 mật độ các loài sâu đạt đỉnh cao
Trang 118 bộ trong đó sâu hại lạc bộ cánh vẩy có 14 loài (6 họ) chiếm tỉ lệ cao nhất (30,43%) [ 31 ]
Qua điều tra của Sở Khoa Học và Công Nghệ Hà Tĩnh vào tháng 10 năm
2011 về các loài sâu, bệnh và thiên địch trên đồng ruộng Hà Tĩnh, đã phát hiện 17 loài sâu hại, trong đó nhóm sâu hại lá (sâu cuốn lá, sâu khoang, sâu xanh) phổ biến; 9 loài bệnh gây hại từ giai đoạn gieo đến thu hoạch; 13 đối tượng thiên địch. Diễn biến sâu, bệnh và thiên địch chính trên cây lạc: Nhóm sâu hại lá xuất hiện ở tất cả các giai đoạn sinh trưởng, phát triển của cây lạc, cao điểm gây hại vào giai đoạn lạc ra hoa - đâm tia. Nhóm bệnh héo rũ xuất hiện trong quá trình sinh trưởng. Ở thời kỳ cây con, bệnh chớm xuất hiện và đạt cao điểm giai đoạn phân cành. Bệnh đốm nâu gây hại từ khi cây lạc ra hoa
- đâm tia và đạt cao điểm ở giai đoạn hình thành và phát triển củ. Mật độ các loài thiên địch chính trên đồng ruộng tăng dần từ thời kỳ cây con và giai đoạn
ra hoa đâm tia.
Ranga Rao (1996) đã thống kê được 51 loài sâu hại lạc thuộc 27 họ của 9
bộ ở Miền Bắn Việt Nam, trong đó có 47 loài gây hại trên đồng ruộng, 4 loài gây hại trong kho. Bộ cánh vảy và bộ cánh cứng có số loài gây hại nhiều nhất
là 14 loài (chiếm 27,5% tổng số loài) bộ cánh thẳng có 9 loài, các bộ còn lại mới chỉ xác đinh được 1- 4 loài. Trong đó có 8 loài gây hại đáng kể là sâu
khoang (Spodotera litura), sâu đục hoa quả và quả đậu (Maruca testulatis), sâu xanhh (Helicoverpa armigera), bọ phấn (bemisia sp), rầy xanh (Empoasca motti), bọ trĩ (Scirtohrips dorsalas), rệp (Aphiscracivora) và sâu đục lá (Aproaerema modicella) [ 39 ]
Như vậy cho đến nay thành phần sâu hại lạc ở Việt Nam đã biết bao gồm 99 loài thuộc 35 họ của 12 bộ, trong đó bộ cánh vẩy 24 loài (chiếm 24,24% tổng số loài gây hại) bộ cánh cứng 21 loài (chiếm 21,21% loài gây hại) bộ cánh thẳng 17 loài (chiếm 17,2% loài gây hại) bộ cánh nửa 15 loài
Trang 12(chiếm 15,1%) bộ cánh giống 14 loài (chiếm 14%) các bộ còn lại mới xác định được 1 – 2 loài [ 14, 8, 10, 36 ]
Từ đó ta thấy được rằng, thành phần sâu hại lạc ở nước ta khá phong phú, đa số các loài sâu hại quan trọng trên cây lạc ở Việt Nam là các loài sâu
đa thực, ngoài ra chúng còn gây hại trên nhiều cây công nghiệp quan trọng khác như: ngô, bông, đậu tương
1.1.2 Tình hình nghiên cứu côn trùng hại lạc ở ngoài nước
Trên thế giới, tình hình nghiên cứu côn trùng hại lạc cũng được nhiều nhà khoa học nghiên cứu và đưa ra được nhiều kết quả. Góp phần làm đa dạng thêm danh mục các loài côn trùng gây hại trên lạc.
Smith và Barfield (1982) đã thống kê có khoảng 360 loài sâu hại lạc khác nhau ở các vùng trồng lạc trên thế giới , trong đó có khoảng 60 loaid thuộc bộ cánh vẩy , tuy nhiên số loài giảm làm giảm năng suất và gây hại về kinh tế lại không nhiều . Loài hại chính trên lạc là nhóm sâu chích hút chiếm khoảng 227,78% tổng số loài sâu hại (có khoảng hơn 100 loài) , trong đó có
19 loài bọ trĩ gây hại chính trên lạc .
Ở Đài Loan theo thống kê của Chen (1987) có 156 loài bọ trĩ được phát hiện trên các cây trồng khác nhau, trong đó có khoảng 70 loài gây hại trên lạc đặc biệt có 11 loài thường xuyên xuất hiện và phá hỏng đáng kể .
Tại Ấn Độ người ta đã tìm thấy 3 loài bọ trĩ gây hại chủ yếu cho lạc có tới 2500 loài rầy xanh phá hoại trên hầu hết các cây trồng trong đó có nhiều loại hại lạc [36] .
Ngoài ra còn rất nhiều nghiên cứu của các nhà khoa học ở các nước khác nhau như Mỹ, Trung Quốc, Thái Lan , Cũng đã xác định được đặc tính sinh học sinh thái của nhiều loài sâu hại bộ cánh vẩy, bỏ trĩ, rầy xanh ,
1.2 Tình hình nghiên cứu thiên địch của côn trùng hại lạc ở trong và ngoài nước.
Cùng với sự phát triển của các loài sâu hại đó là sự tồn tại của các loài thiên địch của chúng. Cả loài gây hại và thiên địch đều đóng vai trò quan
Trang 13trọng trong chuỗi thức ăn, chúng luôn tồn tại trên đồng ruộng và có vai trò điều hòa mật độ, kìm hãm sự phát triển của các loài sâu hại. Chúng được chia thành những nhóm: Nhóm thiên địch ký sinh (như ong ký sinh, ruồi ký sinh…) đây là hình thức của sinh vật sống của sinh vật sống cư trú trên hoặc trong cơ thế vật chủ khác. Ở đây chúng lấy thức ăn từ vật chủ trong suốt quá trình phát triển. Nhóm thứ hai là nhóm bắt mồi ăn thịt như (kiến vàng, bọ xít
ăn thịt, bọ rùa, bọ cánh cứng, bọ ngựa…) đây là những côn trùng săn bắt, cắn
xé và ăn thịt các loài sâu hại ở nhiều giai đoạn sinh trưởng. Nhóm thứ ba là nhóm tuyến trùng và vi sinh vật gây bệnh.
Mặc dù những năm gần đây đã có một số công trình nghiên cứu thiên địch của sâu hại lạc, tuy nhiên vai trò của chúng trong việc hạn chế quần thể sâu hại ở nước ta còn thấp. Để phòng trừ côn trùng hại lạc đa số người dân vẫn sử dụng thuốc hóa học là chính, bởi vậy không những không thể phát huy được vai trò của kẻ thù tự nhiên mà còn làm giảm mật độ của các loài thiên địch, ảnh hưởng đến chất lượng nông sản, gây ô nhiễm môi trường.
1.2.1 Các loài côn trùng bắt mồi trên cây lạc
Nhện bắt mồi ăn thịt đã được nghiên cứu khá chi tiết tại Texas trong điều kiện không phuc thuốc từ 1981-1982 (Agnew và Smith , 1989) , phân tích , định loại 25.000 cá thể nhện thu thập được thì thấy chúng thuộc 18 họ , 79 giống . Tỷ lệ giữa nhện săn bắt mồi và nhện kéo màng là 10/1 điều đó chứng
tỏ thành phần nhện bắt mồi ăn thịt trên sinh quần ruộng lạc rất phong phú . Bên cạnh đó có nhiều loại ăn mồi không kém phần quan trọng đối với sâu hại
lạc nhưng ít được quan tâm nghiên cứu như là bọ chân chạy (Carabidae) chẳng hạn như Chlaenius sp ( Ranga Rao , 1988 ).
Điều tra thiên địch ăn thịt ký sinh trên lạc ở Hà Bắc và Nghệ Tĩnh (1991)
Lê Văn Thuyết và các cộng sự (1993) đã thu thập được 19 loài nhện, 1 loài bọ rùa, 2 loài ong ký sinh trứng, 1 loài ruồi và một số loại bệnh trên sâu non của một số loài sâu hại như rệp, bọ trĩ, sâu khoang, sâu xanh nhưng chưa được định tên khoa học.[ 28 ]
Kết quả nghiên cứu của Phạm Thị Vượng (1995) cho biết có 9 loài chân
Trang 14bộ Coleoptera và 5 loài thuộc bộ Araneida. Cũng tác giả này (1996) khi
nghiên cứu về ký sinh sâu non sâu khoang ( Spodoptera litura ) hại lạc tại
Nghệ An, Hà Tây, Hà Bắc đã phát hiện được 5 loài ong và ruồi ký sinh thuộc
3 họ của 2 bộ. Bộ Hymenoptera có 2 loài thuộc họ Ichneumonidae, bộ Diptera có 3 loài thuộc 2 họ: Họ Tachinidea có 2 loài, họ Phoridae có 1 loài.
Tỷ lệ ký sinh dao động từ 1,99% - 4,91%, tỷ lệ sinh vào trung tuần tháng 5, thấp nhất ở Hà Bắc rồi đến Nghệ An cao nhất ở Hà Tây. Nghiên cứu cho thấy
tỉ lệ ký sinh thấp nhất ở những vùng nông dân phun thuốc trừ sâu hóa học nhiều lần/vụ. Phải chăng số lần phun thuốc đã là một trong những nguyên nhân làm giảm tỷ lệ ký sinh tự nhiên [30].
Mặc dù những năm gần đây đã có một số công trình nghiên cứu thiên địch của sâu hại lạc tuy nhiên vai trò của chúng trong hạn chế quần thể sâu hại ở nước ta còn thấp, phòng từ sâu hại lạc đa số người dân vẫn sử dụng thuốc trừ sâu hóa học là chính bởi vậy không phát huy được vai trò của kẻ thù
tự nhiên mà còn làm giảm mật độ của chúng, ảnh hưởng đến chất lượng nông sản, gây ô nhiễm môi trường…
1.2.2 Các loài côn trùng ký sinh trên sâu hại lạc
Việc sử dụng các loài ký sinh trong phòng trừ sâu hại đang là một hướng
đi mới được các nhà khoa học đang chú ý và nghiên cứu. Việc sử dụng các loài ký sinh có thể được áp dụng từ giai đoạn trứng của côn trùng nên việc phòng trừ cũng mang lại hiệu quả cao hơn. Ngoài ra, việc sử dụng các loài ký sinh cũng mang lại nhiều lợi ích cho ngành Nông Nghiệp như: giảm thiểu được lượng thuốc trừ sâu sử dụng trong quá trình sản xuất, không gây độc hại cho con người cũng như môi trường. Ở Việt Nam, các loài ký sinh trên côn trùng hại lạc mới chỉ được nghiên cứu vài năm gần đây và bước đầu mang lại những kết quả nhất định.
Ở Miền Nam nước ta, các loài ký sinh cũng làm giảm đáng kể đến trứng sâu khoang và đóng góp làm giảm 5-10% mật độ sâu non trên đồng ruộng. Tuy vậy một số nấm và virus lại có vai trò đáng kể trong hạn chế
mật độ sâu non. Ở nhiều nơi tỉ lệ sâu khoang (Spodoptera litura) bị nhiễm
Trang 15Theo Nguyễn Thị Chắt và cộng tác viên (1996) nghiên cứu tại vùng lạc Trảng Bàng-Tây Ninh và Củ Chi - Thành Phố Hồ Chí Minh cho biết, không thấy có hiện tượng ký sinh trứng sâu khoang, sâu non có tỷ lệ ký sinh là 8%, sâu non chết nguyên nhân chưa biết là 66% và chỉ có 34% sâu có khả năng hoàn thành phát dục .
Số liệu 10 năm nghiên cứu của trung tâm ICRISAT về thiên địch sâu non vẽ bùa và sâu khoang hại lạc cho thấy có 38 loài kí sinh. Tỷ lệ chết bởi ký sinh khá cao, biến động từ 6 - 9%. Trung bình trong mùa mưa 36% và sau mùa mưa là 40% nhờ đó làm giảm đáng kể mật độ sâu khoang và sâu vẽ bùa trên sinh quần lạc.
Trên thế giới có nhiều công trình nghiên cứu về thiên địch của sâu hại lạc theo Ranga Rao và Wightman (1994) đã xác định được 48 loài ăn thịt , 71 loài ký sinh , 25 loài tuyến vô trùng và sinh vật gây bệnh [39] .
Smith và Barfield (1982) đã tập trung nghiên cứu tác nhân gây chết của các loài sâu xanh Heliothis virescens ở vùng Đông Nam nước Mỹ . Kết quả
Bên cạnh nhóm sâu ăn lá thì nhóm sâu chích hút như rầy , rệp , bọ trĩ cũng gây hại đáng kể. Nghiên cứu về côn trùng ký sinh bọ trĩ hại lạc
Ananthaksishnan (1984) cho biết các loài thuộc nhóm ong kí sinh Chalcid, Eulophids, Mymarids, Trichogrammatics là những loài ký sinh chủ yếu của
bọ trị và chúng có khả năng hạn chế sự phát triển của bọ trĩ khá rõ nét . Điều
đó cho thấy các loài côn trùng ký sinh có vai trò quan trọng trong việc hạn chế sự phát triển của sâu hại cây trồng trên đồng ruộng.
Trang 16PHẦN II ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG, VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng và nội dung nghiên cứu
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu: Các loài côn trùng trên lạc tại ngoại thành
Hà Nội.
2.1.2 Nội dung nghiên cứu:
a- Điều tra nghiên cứu sự đa dạng về thành phần loài và sự phân bố của chúng theo không gian và theo thời gian sinh trưởng của cây lạc.
b- Điều tra nghiên cứu sự biến động số lượng của loài sâu xám Agrotis ypsilon Rott.
c. Nghiên cứu đặc điểm hình thái, sinh học, sinh thái của loài sâu xám
Agrotis ypsilon Rott.
2.2 Vật liệu, địa điểm và thời gian nghiên cứu.
2.2.1 Vật liệu nghiên cứu
Trang 17Hình 1: Giá và lọ nuôi côn trùng
- Vùng trồng lạc tại thôn Khuyến Lương – Trần Phú – Hoàng Mai – Hà Nội.
Trang 182.2.3 Thời gian nghiên cứu
- Bắt đâu nghiên cứu ngày 1/2/2012. Kết thúc nghiên cứu 5/2012
2.3 Phương pháp nghiên cứu
2.3.1 Phương pháp điều tra ngoài tự nhiên
- Điều tra định tính: Nhằm thu thập thành phần loài (Sự đa dạng về loài); Vùng phân bố của các loài (Phân bố sinh thái theo điều kiện địa lý); Phân bố theo các cây chủ (cây trồng khác nhau). (Điều tra ngoài vùng cố định)
Hình 2 Điều tra ngoài thực địa (Ảnh của TS Nguyễn Xuân Thành)
- Điều tra định lượng: Nhằm xác định sự biến động số lượng của loài sâu xám dưới tác động của môi trường (thời tiết hay thức ăn), cũng như đánh giá vai trò, hay vị trí của của loài sâu xám.
Điều tra cố định (định lượng) được tiến hành tại 1 địa điểm nhất nhất định, định kỳ theo thời gian: (5-7 ngày một lần liên tục trong suốt thời gian sinh trưởng của cây). Điều tra tại 3 khu khác nhau, mỗi khu điều tra 5 điểm chéo góc. Mỗi điểm điều tra 5 cây. Điều tra cả 4 hướng (Đông, tây, nam, bắc)
và điều tra từ trên xuống gốc cây. Kiểm tra cả 2 mặt lá và thu tất cả các pha
Trang 19phát triển của mọi loài côn trùng. Vật mầu được chứa trong lọ nhựa trên miệng bịt vải màn mang về phòng phân tích, xác định tên khoa học của loài,
tỷ lệ ký sinh…
2.3.2 Phương pháp ghi chép điều tra
Ghi nhật ký điều tra các thông tin: Ngày điều tra, thời tiết ngày điều tra, sinh trưởng của cây trồng ở từng thời điểm điều tra, các loài côn trùng thu được. Pha phát triển của loài và số lượng cá thể của từng loài thu được trên . Vật mồi (côn trùng bị ăn) của loài côn trùng bắt mồi.
2.3.3 Phương pháp nghiên cứu trong phòng thí nghiệm (Nghiên cứu sinh thái, sinh học)
2.3.3.1 Nghiên cứu sự ảnh hưởng của yếu tố sinh thái (ôn, ẩm độ)
đến trạng thái sinh học của loài sâu xám Agrotis ypsilon Rott.
1. Ảnh hưởng của T0C và W% đến thời gian phát triển, tỷ lệ sống sót của từng pha (Trứng, ấu trùng, nhộng, trưởng thành và tỷ lệ sống sót), và vòng đời
Trang 20n - Số pha phát triển của loài
n
6- Tỷ lệ nở trung bình của trứng %: = - x 100
N
Trang 21PHẦN III :KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1 Kết quả nghiên cứu thành phần sâu hại và thiên địch trên lạc ở
hà nội và các vùng lân cận
3.1.1 Thành phần loài gây hại trên cây Lạc tại khu điều tra thực địa Côn trùng gây hại luôn tồn tại trong tự nhiên, xét về mặt sinh thái thì các loài côn trùng đều đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì cân bằng sinh thái. Các loài côn trùng hại lạc vụ nào cũng có và có khác nhau chỉ là ở số lượng và mật độ các loài gây hại. Tùy thuộc vào các điều kiện sinh thái mà số lượng và mật độ các loài gây hại có thể tăng lên hay giảm đi. Vào các giai đoạn phát triển khác nhau của cây lạc thì cây lạc sẽ bị phá hoại bởi các loài côn trùng khác nhau. Chúng gây hại chủ yếu trên bộ phận thân và lá của cây lạc. Qua quá trình điều tra tại các khu điều tra thực địa, chúng tôi đã ghi nhận được các kết quả về các loài côn trùng hại lạc như sau.
Bảng 1: Thành phần loài côn trùng hại lạc
gây hại
Mức độ gây hại
Trang 23Hypomeses squarmosces
Trang 24Phân chia quá trình phát triển của cây lạc theo 3 giai đoạn: giai đoạn 1
từ khi cây lạc mới mọc cho đến khi cây lạc được từ 5 – 7 lá, giai đoạn 2 từ khi cây lạc được 5 – 7 lá cho tới khi cây lạc ra hoa, giai đoạn 3 từ khi cây lạc ra hoa đến khi thu hoạch. Mỗi giai đoạn phát triển của cây lạc chịu sự phá họa của các loài côn trùng khác nhau. Qua điều tra, chúng tôi đã ghi nhận được một số điều như sau:
Giai đoạn 1: Từ khi cây lạc mới mọc cho đến khi cây lạc được 5 –
7 lá.
Trong giai đoạn này thời tiết vẫn còn lạnh (20°C) và độ ẩm trong không khí tương đối cao(90%). Giai đoạn này của cây lạc vẫn còn non, số lượng các loài côn trùng gây hại cho cây lạc xuất hiện rất ít. Qua điều tra thực địa chúng tôi bắt gặp được sự xuất hiện của các loài sâu xám, sâu khoang. Trong đó,ở ruộng lạc tại khu điều tra Vĩnh Quỳnh thì bắt gặp sự xuất hiện với mật độ khá cao của loài sâu xám. Ở đây các lối trồng lạc được bao phủ một lớp nilon mỏng, chính vì vậy đã tạo điều kiện thuận lợi cho các loài sâu sống dưới đất có điều kiện vô cùng thuận lợi để phát triển. Giúp chúng tránh được kẻ thù tứ phía trên cao, đồng thời cũng giữ được nhiệt độ; độ
ẩm tạo điều kiện thích hợp cho chúng phát triển. Ngoài ra thức ăn chính của sâu xám là lá lạc vân còn non. Vì vậy loài sâu xám cso điều kiện thuân lợi để phát triển. Loài chiếm ưu thế trong giai đoạn này là loài sâu xám.
Ở các khu điều tra Khuyến Lương – Hoàng Mai – Hà Nội và Ninh Sở - Thường Tín – Hà Nội thì loài sâu xám bắt gặp muộn hơn và mật độ của chúng
ở đó cũng thấp hơn. Tại 2 khu điều tra đó, do bà con nông dân sử dụng các loài thuốc trừ sâu, thuốc diệt cỏ nên làm cho số lượng loài sâu xám giảm đi đáng kể.
Giai đoạn 2: Từ khi cây lạc được từ 5 – 7 lá đến khi cây lạc ra hoa. Bước vào giai đoạn phát triển này của cây lạc, chúng tôi bắt gặp sự xuất
Trang 25Nổi bật trong giai đoạn này vẫn là sự phát triển về số lượng của loài sâu xám. Quá trình điều tra đã ghi nhận được tại khu điều tra Vĩnh Quỳnh mật độ của loài sâu xám lúc cao điểm lên tời 37 con/100 cây. Chính các yếu tố như: thức ăn của sâu xám còn non và nhiều, nhiệt độ, độ ẩm phù hợp đã tạo điều kiện cho loài sâu xám phát triển. Ở 2 khu điều tra tra Khuyến Lương – Hoàng Mai – Hà Nội và Ninh Sở - Thường Tín – Hà Nội mật độ của loài sâu xám cũng tăng lên, nhưng vẫn thấp hơn so với khu Vĩnh Quỳnh – Thanh Trì – Hà Nội. Mật độ sâu xám ở 2 khu này khi đạt cao điểm cũng chỉ là 20 con/100 cây. Loài sâu xám vẫn là loài sâu chiếm ưu thế trong giai đoạn phát triển này của cây lạc.
Ngoài sự xuất hiện của sâu xám, chúng tôi còn bắt gặp sự xuất hiện của loài sâu khoang. Sâu khoang được xem là một trong những loài phổ biến và phá hoại nghiêm trọng trên lạc. Sâu xuất hiện khi cây lạc được khoảng 15 –
20 ngày. Ấu trùng của sâu khoang có 6 tuổi, chiều dài thân của tuổi 1 từ 1 – 2
mm, khi đẫy sức thì chiều dài của ấu trùng sâu khoang có thể dài tới 40 – 50mm. Trên dọc thân của ấu trùng có các vệt trắng kéo dài từ đầu đến cuối hậu môn. Đỉnh đầu của ấu trùng có chữ V in màu trắng. Giai đoạn nhộng của sâu khoang kéo dài trung bình 10 ngày, nhộng có màu cánh gián chiều dài từ
15 – 20mm và đốt cuối cùng có 2 mấu. Trưởng thành của sâu khoang có màu xám nâu, cánh trước màu nâu vàng với các đường hình phức tạp. Giữa cánh,
từ mép trước đến mép sau có một vân ngang rộng màu trắng xám. Trên cánh trước có nhiều vân cắt dọc tạo thành các ô nhỏ. Cánh sau màu xám bạc, phản quang. Chiều dài thân từ 16 – 21mm, sải cánh 35 – 40 mm. Trưởng thành đẻ trứng thành các ổ dưới đám lá. Trứng có màu trắng hình bán cầu, đường kính 0,5mm, sau chuyển sang màu xám tro. Sâu non khi nở sống quanh ổ trứng và
Trang 26và phân tán vào các bộ phận của cây để gây hại. Sâu non đẫy sức dài 37 – 43mm, toàn bộ thân hoặc màu xanh xám đậm có các lông cứng mọc thưa thớt. Nhộng sâu xanh có màu nâu bong, có chiều dài 18 – 20 mm, khi mới vào nhộng có màu xanh, sau một thời gian phát triển thì có màu nâu và khi sắp hóa vũ thì có màu nâu cánh gián.Vòng đời của sâu xanh từ 30 – 40 ngày có khi khi kéo dài tới 80 ngày. Điều kiện sinh thái thích hợp cho sâu xanh phát triển ở nhiệt độ 22 – 28°C và ẩm độ khoảng 70%.