1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

điều tra, nghiên cứu sự đa dạng về thành phần loài côn trùng và đặc điểm sinh học sinh thái của sâu xám agrotis ypsilon trên cây lạc tại vùng ngoại thành hà nội vụ xuân hè 2012

53 540 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 53
Dung lượng 26,88 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các loài thiên địch luôn tồn tại song song với các loài côn trùng gây hại, chúng đóng một vai trò quan trọng trong việc kìm hãm sự phát sinh, phát triển về mặt số lượng của các loài sâu

Trang 1

LỜI CẢM ƠN

Trước  hết  tôi  xin trân  thành  cảm  ơn  TS.  Nguyễn Xuân Thành  –  Viện Sinh Thái và Tài Nguyên Sinh Vật .Người đã tận tình chỉ bảo, hướng dẫn về mọi  mặt  trong  quá  trình  nghiên  cứu  để  tôi  hoàn  thành  khóa  luận  tốt  nghiệp này . 

Tôi xin gửi lời cảm ơn tới các cán bộ Trung Tâm Đậu Đỗ của Viện Khoa Học Nông Nghiệp Việt Nam đã giúp đỡ chúng tôi trong quá trình điều tra tại khu ruộng thí nghiệm của trung tâm . 

Qua  đây tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới các thầy cô, cán bộ Khoa Công Nghệ Sinh Học- Viện Đại Học Mở Hà Nội đã tận tình chỉ bảo, tạo điều kiện thuận lợi cho tôi học tập suốt 4 năm học vừa qua , cũng như trong quá trình thực hiện khóa luận tốt nghiệp này. 

Tôi cũng xin chân thành cảm ơn các cô các bác  nông dân tại thôn  Vĩnh Quỳnh  –  Thanh  Trì  –  Hà  nội,  Thôn  Khuyến  Lương  –  Hoàng  Mai  –Hà  Nội. Ninh  Sở-Thường  Tín-Hà  Nội  đã  tạo  mọi  điều  kiện  thuận  lợi  cho  chúng  tôi điều tra tại thực địa . 

Trang 2

MỤC LỤC LỜI CẢM ƠN

DANH MỤC CÁC HÌNH

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU

MỞ ĐẦU 1

PHẦN I: TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 5

1.1 Tình hình nghiên cứu sâu hại lạc   5 

1.1.1 Tình hình nghiên cứu loài côn trùng hại lạc ở trong  nước.   5 

1.1.2 Tình hình nghiên cứu côn trùng hại lạc ở ngoài nước.   7 

1.2 Tình hình nghiên cứu thiên địch của côn trùng hại lạc ở trong và ngoài nước.   7 

1.2.1.Các loài côn trùng bắt mồi trên cây lạc.   8 

1.2.2.Các loài côn trùng ký sinh trên sâu hại lạc.   9 

PHẦN II: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG, VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 11

2.1 Đối tượng và nội dung nghiên cứu   11 

2.1.1. Đối tượng nghiên cứu:    11 

2.1.2. Nội dung nghiên cứu:   11 

2.2 Vật liệu, địa điểm và thời gian nghiên cứu.   11 

2.2.1. Vật liệu nghiên cứu   11 

2.2.2. Địa điểm nghiên cứu   12 

2.2.3. Thời gian nghiên cứu   13 

2.3 Phương pháp nghiên cứu   13 

2.3.1. Phương pháp điều tra ngoài tự nhiên   13 

2.3.2. Phương pháp ghi chép điều tra   14 

2.3.3.  Phương  pháp  nghiên  cứu  trong  phòng  thí  nghiệm  (Nghiên  cứu  sinh thái, sinh hoc)   14 

2.4 Phương pháp tính toán   14 

PHẦN III :KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 15

Trang 3

3.1 Kết quả nghiên cứu thành phần sâu hại và thiên địch trên lạc ở

hà nội và các vùng lân cận   16 

3.1.1.Thành phần loài gây hại trên cây Lạc tại khu điều tra thực địa   16 

3.2 Đặc điểm hình thái của sâu xám   27 

3.2.1 Đặc điểm hình thái của sâu xám   27 

3.2.2 Tập quán sinh hoạt.   29 

3.3 Đặc điểm sinh học, sinh thái của sâu xám.   31 

3.4 Biến động số lượng ấu trùng loài sâu xám qua các buổi điều tra thực địa.   38 

PHẦN IV: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 41

4 1 Kết Luận   41 

4.2 Kiến Nghị.   41 

TÀI LIÊỤ THAM KHẢO 43

PHỤ LỤC       

Trang 4

DANH MỤC CÁC HÌNH

 

Hình 1:   Giá và lọ nuôi côn trùng.   12 

Hình 2:  Điều tra ngoài thực địa (Ảnh của TS. Nguyễn Xuân Thành)   13 

Hình 3:   Ấu trùng sâu khoang.   21 

Hình 4:  Ấu trùng sâu xanh.   22 

Hình 5:   Ấu trùng sâu róm 4 gù 2 vàng 2 vệt đen.(Ảnh của T.S Nguyễn  Xuân Thành)   23 

Hình 6:   Ong ký sinh đèn lồng (Ảnh của TS. Nguyễn Xuân Thành)   25 

Hình 7:   Trưởng thành sâu xám.   31 

Hình 8:   Ấu trùng sâu xám   35 

Hình 9:   Nhộng của sâu xám   37   

Trang 5

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU   

 

 

 

Biểu đồ nhịp điệu đẻ trứng của sâu xám.   33 

Bảng mật độ trung bình của sâu xám trong các buổi điều tra.   38 

Biểu đồ mật độ sâu xám trên các khu điều tra thực địa.   39 

  Bảng 1:   Thành phần loài côn trùng hại lạc.   16 

Bảng 2:   Thành phần thiên địch trên cây lạc.   24 

Bảng 3:  Kích thước từng pha phát dục của sâu xám.   30 

Bảng 4:   Thời gian sống của trưởng thành sâu xám    32 

Bảng 5:   Số lượng trứng trung bình của 1 cặp trưởng thành sâu xám   33 

Bảng 6 :   Thời gian phát dục của pha trứng sâu xám   34 

Bảng 7:   Thời gian phát dục và tỉ lệ sống của pha ấu trùng.   36 

Bảng 8:   Thời gian phát dục của pha nhộng sâu xám   38 

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Cho đến nay, Việt Nam vẫn là một nước mà nền nông nghiệp đóng một vai trò quan trọng trong nền kinh tế của đất nước. Nông nghiệp được xem như 

là một ngành mũi nhọn của nước ta, chính vì vậy nó nhận được sự quan tâm cũng  như  đầu  tư  rất  nhiều  cả  về  tiền  của  cũng  như  công  sức.  Trong  những năm trở lại đây, dân số tăng trưởng nhanh đồng thời với đó là việc diện tích đất dành cho nông nghiệp ngày càng bị thu hẹp lại, do phải nhường đất để xây dựng các công trình chung cư, nhà ở… để đảm bảo đủ lương thực cho nước 

ta, cũng như muốn trở thành nước xuất khẩu các sản phẩm nông nghiệp hàng đầu  trên thế giới thì bài toán được đặt  ra cho các ngành  Nông  Nghiệp đó là tăng năng suất và chất lượng của nông sản. Để tăng được năng suất cây trồng trên những diện tích đất ngày càng bị thu hẹp lại, con người đã sử dụng nhiều biện pháp như: nghiên cứu tạo ra các giống cây trồng mới có năng suất cao, bón phân, phun thuốc trừ sâu để phòng trừ sâu hại. Một trong những thói quen của  người  sản  xuất  nông  nghiệp  ở  Việt  Nam  đó  là  thấy  sâu  là  phun  thuốc, thấy  có  dịch là  dập  chưa  quan  tâm  nhiều  tới  các  tác  động  tiêu  cực  của  việc làm đó. Những việc làm như vậy chỉ có thể thu được kết quả trước mắt chứ không thể duy trì tác dụng diệt sâu về mặt lâu dài được. Đó cũng là một trong những hạn chế của ngành bảo vệ thực vật mà chưa thể giải quyết ngay được. Theo một kết quả điền tra mới đây của Đại học Quốc Gia Hà Nội thì có khoảng 15 – 20 triệu người thường xuyên tiếp xúc với thuốc bảo vệ thực vật. 

Từ đó chứng tỏ việc sử dụng thuốc bảo vệ thực vật là một vấn đề cố hữu và khó thay đổi được. Chính từ những ưu điểm của thuốc bảo vệ thực vật như: bày bán rộng rãi, giá thành hợp lý, dễ mua, dễ sử dụng và đạt hiệu quả tương đối cao, có thể áp dụng trên nhiều loại sâu, loại cây  mà nó trở thành lựa chọn hàng đầu của người sản xuất nông nghiệp mỗi khi phát hiện ra sâu bệnh. Từ 

đó, việc sử dụng một cách tràn lan và bừa bãi đã gây ra những tác hại không nhỏ  đối  với  sức  khỏe  của  con  người  cũng  như  ảnh  hưởng  nặng  nề  tới  môi 

Trang 7

trường:  ô  nhiễm  đất,  ô  nhiễm  nước,  ô  nhiễm  không  khí;  làm  mất  cân  bằng sinh thái, làm giảm sút tính đa dạng của loài. Trong quá trình sử dụng thuốc trừ bảo vệ thực vật để tiêu diệt các loài côn trùng gây hại, chúng ta cũng vô tình  tiêu  diệt  cả  những  loài  côn  trùng  có  ích,  là  thiên  địch  của  các  con  côn trùng gây hại. Các loài thiên địch luôn tồn tại song song với các loài côn trùng gây hại, chúng đóng một vai trò quan trọng trong việc kìm hãm sự phát sinh, phát  triển  về  mặt  số  lượng  của  các  loài  sâu  hại.  Chúng  săn  bắt  các  loài  côn trùng  gây  hại  hoặc  là  truyền  bệnh  cho  sâu  hại.  Thiên  địch  được  chia  làm  3 loại: Loại thiên địch bắt mồi ăn thịt, nhóm thiên địch kí sinh và nhóm vi sinh vật gây  bệnh  hại  côn  trùng.  Việc  sử  dụng  các  loài  thiên địch  cũng  mang  lại nhiều tác dụng tích cực, làm giảm đáng kể lượng thuốc hóa học được sử dụng, 

từ  đó  giảm  thiểu  được  các  tác  động  tiêu  cực  tới  môi  trường  cũng  như  sức khỏe con người, như vậy sẽ bảo vệ môi trường theo một hướng lâu dài và bền vững  hơn.  Với  tình  hình  sâu  hại  như  hiện  nay  cùng  với  hiện  tượng  kháng thuốc đang xảy ra càng thường xuyên hơn thì các nhà khoa học đã nghiên cứu 

và đưa ra biện pháp phòng trừ có nhiều ưu điểm hơn cả đó là biện pháp quản 

lý  dịch  hại  tổng  hợp  IPM  (  Intergrated  Pest  Management  )  là  một  hệ  thống quản lý dịch hại mà  trong khung cảnh cụ thể của  môi trường và những biến động quần thể của các loài gây hại, sử dụng tất cả các kỹ thuật và biện pháp thích hợp có thể được, nhằm duy trì mật độ của các loài gây hại ở dưới mức gây  ra  những  thiệt  hại  kinh  tế.  Một  trong  những  nguyên  tắc  cơ  bản  của phương pháp IPM đó là bảo vệ thiên địch. Bản chất của việc bảo vệ thiên địch trong phương pháp IPM đó là tìm kiếm các loài thiên địch và bảo vệ chúng từ 

đó  dùng  chính  các  loài  côn  trùng  trong  tự  nhiên  để  chống  lại  các  loài  côn trùng gây  hại.  Xét về  mặt sinh thái thì vai  trò của các  loài  côn trùng  là như nhau trong 1 chuỗi thức ăn; lưới thức ăn, nhưng chính viêc sử dụng các loài thuốc bảo  vệ  thực vật đã  làm  mất cân bằng sinh thái, làm cho  số lượng của một loài nào đó tăng đột biến nên tạo thành dịch, và khi đã thành dịch thì hậu 

Trang 8

đã trở thành một vấn mang tính toàn cầu, việc bảo vệ môi trường đi kèm với phát triển một cách bền vững là mục tiêu phát triển mà các nước đang hướng tới. Trong ngành nông nghiệp cũng vậy, muốn đạt được năng suất cao mà vẫn bảo vệ được môi trường là một bài toán khó đối với các nhà quản lý. Bởi bảo 

vệ môi trường chính là bảo vệ sức khỏe, nói xa hơn là bảo vệ cuộc sống của chính  bản  thân  con  người.  Trong  quá  trình  sản  xuất  nông  nghiệp  thì  việc phòng trừ sâu hại là một trong những việc không thể thiếu, bới sâu hại mùa vụ nào cũng có và trong điều kiện nóng ẩm của nước ta, các loài sâu bệnh phát sinh  kế  tiếp  luân  phiên  nhau  theo  vụ,  theo  mùa  làm  giảm  năng  xuất,  sản lượng. Những năm gần đây các nhà khoa học đã nghiên cứu nhiều hơn về các loài côn trùng gây hại để từ đó đưa ra được các khuyến cáo cho ngành nông nghiệp. Một trong những loài đó là sâu xám với khả năng sinh trưởng mạnh 

mẽ, phá hại mùa màng rất cao và là loài tương đối khó tiêu diệt. Chúng phá hoại trên lá nhiều loại cây nhưng chủ yếu là các giống cây trồng thuộc họ lạc, 

đỗ tương, ngô. Sâu xám phá hoại chủ yếu vào giai đoạn cây còn non nên sẽ gây ra những  ảnh hưởng nặng nề tới cây. Cùng với đó là vòng đời của loài sâu xám tương đối ngắn, thời gian của 1 cá thể từ giai đoạn trứng đến khi vũ hóa vào khoảng 50 ngày. Trưởng thành của sâu xám vũ hóa được  2 – 3 ngày 

là  bắt  đầu  đẻ  trứng,  số  lượng  trứng  có  thể  lên  tới  1600  quả.  Trứng  của  sâu xám nhỏ lại đẻ rải rác nên khó nhận biết được để tiêu diệt. Giai đoạn ấu trùng thì  có  sức tàn phá  rất  lớn,  lại sống  dưới đất  và  chỉ  chui  lên  mặt  đất  vào lúc sáng sớm để phá hoại nên cũng khó tiêu diệt. 

 Vì thế , được khoa Công Nghệ Sinh Học Viện Đại Học Mở Hà Nội cho phép , dưới sự giúp đỡ của Tiến sỹ Nguyễn Xuân Thành chúng tôi đã thực tập 

và  viết  luận  văn  với  đề  tài  “ Điều tra, nghiên cứu sự đa dạng về thành

phần loài côn trùng và đặc điểm sinh học sinh thái của sâu xám Agrotis

Trang 9

2 Mục tiêu của đề tài

Đề tài nhằm một số mục tiêu sau đây 

- Điều  tra  thu  thập  mẫu  vật,  xác  định  các  nhóm  côn  trùng  gây  hại  và thành  phần  loài  của  từng  loài  côn  trùng  gây  hại  trên  quần  thể  cây  lạc,  đậu tương trên địa bàn Hà Nội và các vùng phụ cận. 

- Nghiên cứu các giai đoạn phát sinh, phát triển của loài sâu xám, để đưa 

ra các kiến nghị cho ngành Nông Nghiệp. Từ đó áp dụng một cách hợp lý các biện pháp phòng  trừ để không làm  ảnh hưởng tới  môi  trường cũng như  mất cân bằng sinh thái. 

- Xác  định  sự  đa  dạng  về  thành  phần  loài  sâu  xám  và  thiên  địch  của chúng. 

       -    Xác  định  được  quy  luật  phát  sinh  cũng  như  sự  phân  bố  của  chúng. 

       -  Xác định được đặc điểm hình thái, sinh học, sinh thái cơ bản của sâu xám. 

       -  Có thể đề xuất được một số biện pháp phòng trừ loài sâu hại này. 

3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

Việc điều tra thành phấn loài sâu xám đóng vai trò quan trọng trong việc phòng trừ sâu hại: 

 Thông qua điều tra thành phần loài sâu xám từ đó ta đánh giá được sự 

đa dang sinh học trên quần thể lạc ở Hà Nội và các vùng phụ cận. Theo dõi sự biến động của các loài côn trùng gây hại cũng như thiên địch của chúng nhằm 

đề ra các biện pháp phòng trừ hợp lý đạt hiệu quả tối đa. 

Từ việc nghiên cứu đặc điểm hình thái sinh học và sinh thái của sâu hại nhằm cung cấp các dẫn liệu khoa học cho biện pháp quản lí dịch hại tổng hợp ( IPM ) đạt hiệu quả cao hơn. Ngoài ra, việc điều tra mật độ và thành phần các loài côn trùng gây hại chủ yếu là theo dõi sự biến động mật độ quần thể của chúng, xác định được khi nào mật độ quần thể trở thành mối đe dọa cho con người và từ đó đề ra các phương pháp phòng trừ một cách hợp lí. 

 

Trang 10

PHẦN I: TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU

1.1 Tình hình nghiên cứu sâu hại lạc

 Lạc là loài cây công nghiệp ngắn ngày có giá trị kinh tế cao. Việc cải tiến 

kĩ thuật trong canh tác nông nghiệp trong những năm trở lại đây đã  mang lại được những kết quả to lớn. Năng xuất cây lạc cũng như vậy được tăng lên và đem lại kim ngạch xuất khẩu cao cho nước ta. Tuy nhiên, chất lượng các mặt hàng nông sản của nước ta vẫn chưa được cao, vì vậy mà giá trị về mặt kinh tế cũng bị hạn chế đi nhiều. Một trong những nguyên nhân khiến cho năng suất lạc và phẩm chất của lạc bị giảm là do các loài sâu hại. Tùy theo điều kiện thời tiết, các vùng địa lí, vào từng vụ và mùa khác nhau mà cây lạc bị sự phá hoại của các loại sâu hại khác nhau. Ở những giai đoạn sinh trưởng khác nhau trên cây lạc xuất hiện các loài côn trùng gây hại khác nhau. 

1.1.1 Tình hình nghiên cứu loài côn trùng hại lạc ở trong nước Việc nghiên cứu về các loài côn trùng gây hại đóng một vai trò quan trọng trong việc tiêu diệt chúng. Từ nghiên cứu đó, ta biết được đặc điểm phát sinh, phát triển của các loài côn trùng gây hại, biết được giai đoạn nào yếu nhất và mạnh  nhất  của  chúng   Từ  đó  đề  ra  được  các  biện  pháp  phòng  trừ  hợp  lý. Nước ta là một nước nông nghiệp nên việc nghiên cứu về các loài xôn trùng hại lạc cũng đã được nghiên cứu từ nhiều năm trở lại đây. 

Kết  quả  nghiên  cứu  của  Lê  Song  Dự,  Nguyễn  Thế  Côn  (1997)  cho  biết nước  ta  có khoảng 17  loài  gây  hại  chính trên sinh  quần  ruộng  lạc  bao  gồm: Nhóm sâu hại hạt giống có 4 loài, nhóm gây hại cây non có 3 loài và nhóm sâu hại lá có 10 loài. Trên vùng ruộng Hà Nội đã xác định được 21 loài sâu hại thường xuyên xuất hiện. Trong đó có 10 loài sâu hại đáng kể, nhiều nhất 

là bọ trĩ Thrip sp., rệp, sâu cuốn lá, sâu khoang, sâu róm… Sâu khoang có mật 

độ cao ở các giai đoạn lạc đâm tia, còn bọ trĩ, rệp và rầy xanh thường gây hại nặng ngay đầu vụ lạc. Đáng lưu ý là vào trung tuần tháng 4, trung tuần tháng 

5 mật độ các loài sâu đạt đỉnh cao

Trang 11

8 bộ trong đó sâu hại lạc bộ cánh vẩy có 14 loài (6 họ) chiếm tỉ lệ cao nhất (30,43%) [ 31 ] 

Qua điều tra của Sở Khoa Học và Công Nghệ Hà Tĩnh vào tháng 10 năm 

2011  về  các  loài  sâu,  bệnh  và  thiên  địch  trên  đồng  ruộng  Hà  Tĩnh,  đã  phát hiện 17 loài sâu hại, trong đó nhóm sâu hại lá (sâu cuốn lá, sâu khoang, sâu xanh) phổ biến; 9 loài bệnh gây hại từ giai đoạn gieo đến thu hoạch; 13 đối tượng thiên địch. Diễn biến sâu, bệnh và thiên địch chính trên cây lạc: Nhóm sâu hại lá xuất hiện ở tất cả các giai đoạn sinh trưởng, phát triển của cây lạc, cao điểm gây hại vào giai đoạn lạc ra hoa - đâm tia. Nhóm bệnh héo rũ xuất hiện trong quá trình sinh trưởng. Ở thời kỳ cây con, bệnh chớm xuất hiện và đạt cao điểm giai đoạn phân cành. Bệnh đốm nâu gây hại từ khi cây lạc ra hoa 

- đâm tia và đạt cao điểm ở giai đoạn hình thành và phát triển củ. Mật độ các loài thiên địch chính trên đồng ruộng tăng dần từ thời kỳ cây con và giai đoạn 

ra hoa đâm tia. 

Ranga Rao (1996) đã thống kê được 51 loài sâu hại lạc thuộc 27 họ của 9 

bộ ở Miền Bắn Việt Nam, trong đó có 47 loài gây hại trên đồng ruộng, 4 loài gây hại trong kho. Bộ cánh vảy và bộ cánh cứng có số loài gây hại nhiều nhất 

là 14 loài (chiếm 27,5% tổng số loài) bộ cánh thẳng có 9 loài, các bộ còn lại mới  chỉ  xác  đinh  được  1-  4  loài.  Trong  đó  có  8 loài gây  hại  đáng  kể là  sâu 

khoang  (Spodotera litura),  sâu  đục  hoa  quả  và  quả  đậu  (Maruca testulatis),  sâu  xanhh  (Helicoverpa armigera),  bọ  phấn  (bemisia sp),  rầy  xanh  (Empoasca motti), bọ  trĩ  (Scirtohrips dorsalas),  rệp  (Aphiscracivora) và  sâu  đục lá (Aproaerema modicella) [ 39 ] 

 Như  vậy  cho  đến  nay  thành  phần  sâu  hại  lạc  ở  Việt  Nam  đã  biết  bao gồm  99  loài  thuộc  35  họ  của  12  bộ,  trong  đó  bộ  cánh  vẩy  24  loài  (chiếm 24,24% tổng  số  loài  gây  hại)  bộ  cánh  cứng 21  loài  (chiếm  21,21%  loài  gây hại)  bộ  cánh  thẳng  17  loài  (chiếm  17,2%  loài  gây  hại)  bộ  cánh  nửa  15  loài 

Trang 12

(chiếm  15,1%)  bộ  cánh  giống  14  loài  (chiếm  14%)  các  bộ  còn  lại  mới  xác định được 1 – 2 loài [ 14, 8, 10, 36 ] 

 Từ  đó  ta  thấy  được  rằng,  thành  phần  sâu  hại  lạc  ở  nước  ta  khá  phong phú, đa số các loài sâu hại quan trọng trên cây lạc ở Việt Nam là các loài sâu 

đa  thực,  ngoài  ra  chúng  còn  gây  hại  trên  nhiều  cây  công  nghiệp  quan  trọng khác như: ngô, bông, đậu tương  

1.1.2 Tình hình nghiên cứu côn trùng hại lạc ở ngoài nước

Trên  thế  giới,  tình  hình  nghiên  cứu  côn  trùng  hại  lạc  cũng  được  nhiều nhà  khoa  học  nghiên  cứu  và  đưa  ra  được  nhiều  kết  quả.  Góp  phần  làm  đa dạng thêm danh mục các loài côn trùng gây hại trên lạc. 

Smith  và  Barfield  (1982)  đã  thống  kê  có  khoảng  360  loài  sâu  hại  lạc khác  nhau  ở  các  vùng  trồng  lạc  trên  thế  giới  ,  trong  đó  có  khoảng  60  loaid thuộc bộ cánh vẩy , tuy nhiên số loài giảm làm giảm năng suất và gây hại về kinh tế lại không nhiều . Loài hại chính trên lạc là nhóm sâu chích hút chiếm khoảng 227,78% tổng số loài sâu hại (có khoảng hơn 100 loài) , trong đó có 

19 loài bọ trĩ gây hại chính trên lạc .  

Ở Đài Loan theo thống kê của Chen (1987) có 156 loài bọ trĩ được phát hiện trên các cây trồng khác nhau, trong đó có khoảng 70 loài gây hại trên lạc đặc biệt có 11 loài thường xuyên xuất hiện và phá hỏng đáng kể . 

Tại Ấn Độ người ta đã tìm thấy 3 loài bọ trĩ gây hại chủ yếu cho lạc có tới 2500 loài rầy xanh phá hoại trên hầu hết các cây trồng trong đó có nhiều loại hại lạc [36] . 

Ngoài ra còn rất nhiều nghiên cứu của các nhà khoa học ở các nước khác nhau như Mỹ, Trung Quốc, Thái Lan ,  Cũng đã xác định được đặc tính sinh học sinh thái của nhiều loài sâu hại bộ cánh vẩy, bỏ trĩ, rầy xanh ,   

1.2 Tình hình nghiên cứu thiên địch của côn trùng hại lạc ở trong và ngoài nước. 

  Cùng với sự phát triển của các loài sâu hại đó là sự tồn tại của các loài thiên  địch  của  chúng.  Cả  loài  gây  hại  và  thiên  địch  đều  đóng  vai  trò  quan 

Trang 13

trọng  trong  chuỗi  thức  ăn,  chúng  luôn  tồn  tại  trên  đồng  ruộng  và  có  vai  trò điều hòa mật độ, kìm hãm sự phát triển của các loài sâu hại. Chúng được chia thành  những  nhóm:  Nhóm  thiên  địch  ký  sinh  (như  ong  ký  sinh,  ruồi  ký sinh…) đây là hình thức của sinh vật sống của sinh vật sống cư trú trên hoặc trong cơ thế vật chủ khác. Ở đây chúng lấy thức ăn từ vật chủ trong suốt quá trình phát triển. Nhóm thứ hai là nhóm bắt mồi ăn thịt như (kiến vàng, bọ xít 

ăn thịt, bọ rùa, bọ cánh cứng, bọ ngựa…) đây là những côn trùng săn bắt, cắn 

xé và ăn thịt các loài sâu hại ở nhiều giai đoạn sinh trưởng. Nhóm thứ ba là nhóm tuyến trùng và vi sinh vật gây bệnh. 

Mặc  dù  những  năm  gần  đây  đã  có  một  số  công  trình  nghiên  cứu  thiên địch của sâu hại lạc, tuy nhiên vai trò của chúng trong việc hạn chế quần thể sâu hại  ở  nước ta  còn thấp.  Để phòng  trừ côn trùng  hại lạc đa số người  dân vẫn sử dụng thuốc hóa học là chính, bởi vậy không những không thể phát huy được vai trò của kẻ thù tự nhiên mà còn làm giảm  mật độ của các loài thiên địch, ảnh hưởng đến chất lượng nông sản, gây ô nhiễm môi trường. 

1.2.1 Các loài côn trùng bắt mồi trên cây lạc

Nhện bắt mồi ăn thịt đã được nghiên cứu khá chi tiết tại Texas trong điều kiện không phuc  thuốc từ  1981-1982 (Agnew và Smith ,  1989) , phân tích , định  loại  25.000  cá  thể nhện  thu  thập  được  thì  thấy  chúng  thuộc  18 họ  ,  79 giống . Tỷ lệ giữa nhện săn bắt mồi và nhện kéo màng là 10/1 điều đó chứng 

tỏ thành phần nhện  bắt  mồi ăn thịt  trên sinh quần ruộng  lạc  rất phong phú . Bên cạnh đó có nhiều loại ăn mồi không kém phần quan trọng đối với sâu hại 

lạc  nhưng  ít  được  quan  tâm  nghiên  cứu  như  là  bọ  chân  chạy  (Carabidae)  chẳng hạn như Chlaenius sp ( Ranga Rao , 1988 ).   

    Điều tra thiên địch ăn thịt ký sinh trên lạc ở Hà Bắc và Nghệ Tĩnh (1991) 

Lê Văn Thuyết và các cộng sự (1993) đã thu thập được 19 loài nhện, 1 loài bọ rùa, 2 loài ong ký sinh trứng, 1 loài ruồi và một số loại bệnh trên sâu non của một  số  loài  sâu  hại  như  rệp,  bọ  trĩ,  sâu  khoang,  sâu  xanh  nhưng  chưa  được định tên khoa học.[ 28 ] 

Kết quả nghiên cứu của Phạm Thị Vượng (1995) cho biết có 9 loài chân 

Trang 14

bộ  Coleoptera  và  5  loài  thuộc  bộ  Araneida.  Cũng  tác  giả  này  (1996)  khi 

nghiên  cứu  về  ký  sinh  sâu  non  sâu  khoang  (  Spodoptera litura  )  hại  lạc  tại 

Nghệ An, Hà Tây, Hà Bắc đã phát hiện được 5 loài ong và ruồi ký sinh thuộc 

3  họ  của  2  bộ.  Bộ  Hymenoptera  có  2  loài  thuộc  họ  Ichneumonidae,  bộ  Diptera có 3 loài thuộc 2 họ: Họ Tachinidea có 2 loài, họ Phoridae có 1 loài. 

Tỷ lệ ký sinh dao động từ 1,99% - 4,91%, tỷ lệ sinh vào trung tuần tháng 5, thấp nhất ở Hà Bắc rồi đến Nghệ An cao nhất ở Hà Tây. Nghiên cứu cho thấy 

tỉ  lệ  ký  sinh  thấp  nhất  ở  những  vùng  nông  dân  phun  thuốc  trừ  sâu  hóa  học nhiều  lần/vụ.  Phải  chăng  số  lần  phun  thuốc  đã  là  một  trong  những  nguyên nhân làm giảm tỷ lệ ký sinh tự nhiên [30]. 

Mặc  dù  những  năm  gần  đây  đã  có  một  số  công  trình  nghiên  cứu  thiên địch của  sâu hại lạc tuy nhiên vai trò của chúng trong hạn  chế  quần  thể sâu hại  ở  nước  ta  còn  thấp,  phòng  từ  sâu  hại  lạc  đa  số  người  dân  vẫn  sử  dụng thuốc trừ sâu hóa học là chính bởi vậy không phát huy được vai trò của kẻ thù 

tự nhiên mà còn làm giảm mật độ của chúng, ảnh hưởng đến chất lượng nông sản, gây ô nhiễm môi trường… 

1.2.2 Các loài côn trùng ký sinh trên sâu hại lạc

Việc sử dụng các loài ký sinh trong phòng trừ sâu hại đang là một hướng 

đi mới được các nhà khoa học đang chú ý và nghiên cứu. Việc sử dụng các loài ký  sinh  có  thể  được  áp dụng  từ giai  đoạn trứng  của  côn  trùng  nên  việc phòng trừ cũng mang lại hiệu quả cao hơn. Ngoài ra, việc sử dụng các loài ký sinh  cũng  mang  lại  nhiều  lợi  ích  cho  ngành  Nông  Nghiệp  như:  giảm  thiểu được lượng thuốc trừ sâu sử dụng trong quá trình sản xuất, không gây độc hại cho con người cũng như môi trường. Ở Việt Nam, các loài ký sinh trên côn trùng hại lạc mới chỉ được nghiên cứu vài năm gần đây và bước đầu mang lại những kết quả nhất định. 

Ở  Miền  Nam  nước  ta,  các  loài  ký  sinh  cũng  làm  giảm  đáng  kể  đến trứng sâu khoang và đóng góp làm giảm 5-10% mật độ sâu non trên đồng ruộng.  Tuy  vậy  một  số  nấm  và  virus  lại  có  vai  trò  đáng  kể  trong  hạn  chế 

mật độ sâu non. Ở nhiều nơi tỉ lệ sâu khoang (Spodoptera litura) bị nhiễm 

Trang 15

Theo Nguyễn Thị Chắt và cộng tác viên (1996) nghiên cứu tại vùng lạc Trảng Bàng-Tây Ninh và Củ Chi - Thành Phố Hồ Chí Minh cho biết, không thấy có hiện tượng ký sinh trứng sâu khoang, sâu non có tỷ lệ ký sinh là 8%, sâu non chết nguyên nhân chưa biết là 66% và chỉ có 34% sâu có khả năng hoàn thành phát dục . 

Số  liệu  10  năm  nghiên  cứu  của  trung  tâm  ICRISAT  về  thiên  địch  sâu non vẽ bùa và sâu khoang hại lạc cho thấy có 38 loài kí sinh. Tỷ lệ chết bởi ký sinh  khá  cao,  biến  động  từ  6  -  9%.  Trung  bình  trong  mùa  mưa  36%  và  sau mùa mưa là 40% nhờ đó làm giảm đáng kể mật độ sâu khoang và sâu vẽ bùa trên sinh quần lạc.  

Trên  thế  giới  có  nhiều công trình nghiên  cứu về  thiên địch của  sâu hại lạc theo Ranga Rao và Wightman (1994) đã xác định được 48 loài ăn thịt , 71 loài ký sinh , 25 loài tuyến vô trùng và sinh vật gây bệnh [39] . 

Smith và Barfield (1982) đã tập trung nghiên cứu tác nhân gây chết của các loài sâu xanh Heliothis virescens ở vùng Đông Nam nước Mỹ . Kết quả 

Bên  cạnh  nhóm  sâu  ăn  lá  thì nhóm  sâu  chích hút  như  rầy  ,  rệp  , bọ  trĩ cũng  gây  hại  đáng  kể.  Nghiên  cứu  về  côn  trùng  ký  sinh  bọ  trĩ  hại  lạc 

Ananthaksishnan  (1984)  cho  biết  các  loài  thuộc  nhóm  ong  kí  sinh  Chalcid,  Eulophids,  Mymarids,  Trichogrammatics  là  những  loài  ký  sinh  chủ  yếu  của 

bọ trị và chúng có khả năng hạn chế sự phát triển của bọ trĩ khá rõ nét . Điều 

đó  cho thấy  các  loài côn  trùng ký  sinh  có  vai  trò quan trọng trong  việc  hạn chế sự phát triển của sâu hại cây trồng trên đồng ruộng.  

Trang 16

PHẦN II ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG, VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP

NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng và nội dung nghiên cứu

2.1.1 Đối tượng nghiên cứu: Các loài côn trùng trên lạc tại ngoại thành 

Hà Nội. 

2.1.2 Nội dung nghiên cứu:

a- Điều tra nghiên cứu sự đa dạng về thành phần loài và sự phân bố của chúng theo không gian và theo thời gian sinh trưởng của cây lạc. 

b- Điều tra nghiên cứu sự biến động số lượng của loài sâu xám Agrotis ypsilon Rott. 

c. Nghiên cứu  đặc điểm hình thái, sinh học, sinh thái của loài sâu xám 

Agrotis ypsilon Rott. 

2.2 Vật liệu, địa điểm và thời gian nghiên cứu. 

2.2.1 Vật liệu nghiên cứu

Trang 17

 Hình 1: Giá và lọ nuôi côn trùng

- Vùng trồng lạc tại thôn Khuyến Lương – Trần Phú – Hoàng Mai – Hà Nội. 

Trang 18

2.2.3 Thời gian nghiên cứu

- Bắt đâu nghiên cứu ngày 1/2/2012. Kết thúc nghiên cứu 5/2012 

2.3 Phương pháp nghiên cứu 

2.3.1 Phương pháp điều tra ngoài tự nhiên

- Điều tra định tính: Nhằm thu thập thành phần loài (Sự đa dạng về loài); Vùng  phân  bố  của  các  loài  (Phân  bố  sinh  thái  theo  điều  kiện  địa  lý);  Phân  bố theo các cây chủ (cây trồng khác nhau). (Điều tra ngoài vùng cố định) 

Hình 2 Điều tra ngoài thực địa (Ảnh của TS Nguyễn Xuân Thành)

- Điều tra định lượng: Nhằm xác định sự biến động số lượng của loài sâu xám dưới tác động của môi trường (thời tiết hay thức ăn), cũng như đánh giá vai trò, hay vị trí của của loài sâu xám. 

  Điều tra cố định (định lượng) được tiến hành tại 1 địa điểm nhất nhất định, định kỳ  theo thời gian: (5-7 ngày  một lần liên tục trong suốt thời  gian sinh trưởng của cây). Điều tra tại 3 khu khác nhau, mỗi khu điều tra 5 điểm chéo góc. Mỗi điểm điều tra 5 cây. Điều tra cả 4 hướng (Đông, tây, nam, bắc) 

và điều tra từ trên xuống gốc cây. Kiểm tra cả 2 mặt lá và thu tất cả các pha 

Trang 19

phát  triển  của  mọi  loài  côn  trùng.  Vật  mầu  được  chứa  trong  lọ  nhựa  trên miệng bịt vải màn mang về phòng phân tích, xác định tên khoa học của loài, 

tỷ lệ ký sinh… 

2.3.2 Phương pháp ghi chép điều tra

 Ghi nhật ký điều tra các thông tin: Ngày điều tra, thời tiết ngày điều tra, sinh  trưởng  của  cây  trồng  ở  từng  thời  điểm  điều  tra,  các  loài  côn  trùng  thu được. Pha phát triển của loài và số lượng cá thể của từng loài thu được trên . Vật mồi (côn trùng bị ăn) của loài côn trùng bắt mồi. 

2.3.3 Phương pháp nghiên cứu trong phòng thí nghiệm (Nghiên cứu sinh thái, sinh học)

2.3.3.1 Nghiên cứu sự ảnh hưởng của yếu tố sinh thái (ôn, ẩm độ)

đến trạng thái sinh học của loài sâu xám Agrotis ypsilon Rott. 

1. Ảnh hưởng của T0C và W% đến thời gian phát triển, tỷ lệ sống sót của từng pha (Trứng, ấu trùng, nhộng, trưởng thành và tỷ lệ sống sót), và vòng đời 

Trang 20

            n         -  Số pha phát triển của loài 

             n 

6- Tỷ lệ nở trung bình của trứng %: =  - x 100 

N

Trang 21

PHẦN III :KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU  

3.1 Kết quả nghiên cứu thành phần sâu hại và thiên địch trên lạc ở

hà nội và các vùng lân cận

3.1.1 Thành phần loài gây hại trên cây Lạc tại khu điều tra thực địa Côn trùng gây hại luôn tồn tại trong tự nhiên, xét về mặt sinh thái thì các loài  côn  trùng  đều  đóng  vai  trò  quan  trọng  trong  việc  duy  trì  cân  bằng  sinh thái.  Các loài côn  trùng hại lạc vụ  nào cũng có và có khác nhau chỉ là  ở số lượng và mật độ các loài gây hại. Tùy thuộc vào các điều kiện sinh thái mà số lượng  và  mật  độ  các  loài  gây  hại  có  thể  tăng  lên  hay  giảm  đi.  Vào  các  giai đoạn phát triển khác nhau của cây lạc thì cây lạc sẽ bị phá hoại bởi các loài côn trùng khác nhau. Chúng gây hại chủ yếu trên bộ phận thân và lá của cây lạc. Qua quá trình điều tra tại các khu điều tra thực địa, chúng tôi đã ghi nhận được các kết quả về các loài côn trùng hại lạc như sau. 

Bảng 1: Thành phần loài côn trùng hại lạc

gây hại 

Mức độ gây hại 

Trang 23

Hypomeses squarmosces

Trang 24

Phân chia quá trình  phát triển của cây lạc theo 3 giai đoạn: giai đoạn 1 

từ khi cây lạc mới mọc cho đến khi cây lạc được từ 5 – 7 lá, giai đoạn 2 từ khi cây lạc được 5 – 7 lá cho tới khi cây lạc ra hoa, giai đoạn 3 từ khi cây lạc ra hoa đến khi thu hoạch. Mỗi giai đoạn phát triển của cây lạc chịu sự phá họa của các  loài  côn  trùng  khác nhau.  Qua điều  tra,  chúng tôi đã ghi  nhận được một số điều như sau: 

 Giai đoạn 1: Từ khi cây lạc mới mọc cho đến khi cây lạc được 5 – 

7 lá. 

     Trong giai đoạn này thời tiết vẫn còn lạnh (20°C) và độ ẩm trong không khí tương đối cao(90%). Giai đoạn này của cây lạc vẫn còn non, số lượng các loài côn trùng gây hại cho cây lạc xuất hiện rất ít. Qua điều tra thực địa chúng  tôi  bắt  gặp  được  sự  xuất  hiện  của  các  loài  sâu  xám,  sâu  khoang. Trong đó,ở ruộng lạc tại khu điều tra Vĩnh Quỳnh thì bắt gặp sự xuất hiện với mật độ khá cao của loài sâu xám. Ở đây các lối trồng lạc được bao phủ một  lớp  nilon  mỏng,  chính  vì  vậy  đã  tạo  điều  kiện  thuận  lợi  cho  các  loài sâu sống dưới đất có điều kiện vô cùng thuận lợi để phát triển. Giúp chúng tránh  được  kẻ  thù  tứ  phía  trên  cao,  đồng  thời  cũng  giữ  được  nhiệt  độ;  độ 

ẩm  tạo  điều  kiện  thích  hợp  cho  chúng  phát  triển.  Ngoài  ra  thức  ăn  chính của sâu xám là lá lạc vân còn non. Vì vậy loài sâu xám cso điều kiện thuân lợi để phát triển. Loài chiếm ưu thế trong giai đoạn này là loài sâu xám.  

  Ở  các  khu  điều  tra  Khuyến  Lương  –  Hoàng  Mai  –  Hà  Nội  và  Ninh  Sở  - Thường Tín – Hà Nội thì loài sâu xám bắt gặp muộn hơn và mật độ của chúng 

ở đó cũng thấp hơn. Tại 2 khu điều tra đó, do bà con nông dân sử dụng các loài thuốc trừ sâu, thuốc diệt cỏ nên làm cho số lượng loài sâu xám giảm đi đáng kể. 

 Giai đoạn 2: Từ khi cây lạc được từ 5 – 7 lá đến khi cây lạc ra hoa. Bước vào giai đoạn phát triển này của cây lạc, chúng tôi bắt gặp sự xuất 

Trang 25

Nổi bật trong giai đoạn này vẫn là sự phát triển về số lượng của loài sâu xám. Quá trình điều tra đã ghi nhận được tại khu điều tra Vĩnh Quỳnh mật độ của loài sâu xám lúc cao điểm lên tời 37 con/100 cây. Chính các yếu tố như: thức ăn của sâu xám còn non và nhiều, nhiệt độ, độ ẩm phù hợp đã tạo điều kiện cho loài sâu xám phát triển. Ở 2 khu điều tra tra Khuyến Lương – Hoàng Mai – Hà Nội và Ninh Sở - Thường Tín – Hà Nội mật độ của loài sâu xám cũng tăng lên, nhưng vẫn thấp hơn so với khu Vĩnh Quỳnh – Thanh Trì – Hà Nội.  Mật  độ  sâu  xám  ở  2  khu  này  khi  đạt  cao  điểm  cũng  chỉ  là  20  con/100 cây. Loài sâu xám vẫn là loài sâu chiếm ưu thế trong giai đoạn phát triển này của cây lạc. 

Ngoài sự xuất hiện của sâu xám, chúng tôi còn bắt gặp sự xuất hiện của loài sâu khoang. Sâu khoang được xem là một trong những loài phổ biến và phá hoại nghiêm trọng trên lạc. Sâu xuất hiện khi cây lạc được khoảng 15 – 

20 ngày. Ấu trùng của sâu khoang có 6 tuổi, chiều dài thân của tuổi 1 từ 1 – 2 

mm,  khi  đẫy  sức  thì  chiều  dài  của  ấu  trùng  sâu  khoang  có  thể  dài  tới  40  – 50mm. Trên  dọc thân  của ấu  trùng  có  các  vệt trắng kéo dài  từ đầu đến  cuối hậu môn. Đỉnh đầu của ấu trùng có chữ V in màu trắng. Giai đoạn nhộng của sâu khoang kéo dài trung bình 10 ngày, nhộng có màu cánh gián chiều dài từ 

15 – 20mm và đốt cuối cùng có 2 mấu. Trưởng thành của sâu khoang có màu xám nâu, cánh trước màu nâu vàng với các đường hình phức tạp. Giữa cánh, 

từ mép trước đến mép sau có một vân ngang rộng màu trắng xám. Trên cánh trước có nhiều vân cắt dọc tạo thành các ô nhỏ. Cánh sau màu xám bạc, phản quang. Chiều dài thân từ 16 – 21mm, sải cánh 35 – 40 mm. Trưởng thành đẻ trứng thành các ổ dưới đám lá. Trứng có màu trắng hình bán cầu, đường kính 0,5mm, sau chuyển sang màu xám tro. Sâu non khi nở sống quanh ổ trứng và 

Trang 26

và  phân  tán  vào  các  bộ phận  của  cây  để  gây  hại.  Sâu  non  đẫy  sức  dài  37  – 43mm, toàn bộ thân hoặc màu xanh xám đậm có các lông cứng mọc thưa thớt. Nhộng  sâu  xanh  có  màu  nâu  bong,  có  chiều  dài  18  –  20  mm,  khi  mới  vào nhộng  có  màu  xanh, sau  một  thời  gian  phát  triển thì  có  màu  nâu và  khi  sắp hóa vũ thì có màu nâu cánh gián.Vòng đời của sâu xanh từ 30 – 40 ngày có khi khi kéo dài tới 80 ngày. Điều kiện sinh thái thích hợp cho sâu xanh phát triển ở nhiệt độ 22 – 28°C và ẩm độ khoảng 70%.  

Ngày đăng: 10/10/2014, 17:42

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Vũ Quang Côn, Khuất Đăng Long và Đặng Thị Dung, 1996. Kế quả nghiên cứu bước đầu về thành phần sinh học, sinh thái của các loại ký sinh trên đậu tương ở phía bắc Việt Nam.  Tạp  chí  bảo  vệ  thực  vật  số  149,  5/1996, tr ( 36 - 40 ). Nxb Nông Nghiệp.  Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kế quả nghiên cứu bước đầu về thành phần sinh học, sinh thái của các loại ký sinh trên đậu tương ở phía bắc Việt Nam
Tác giả: Vũ Quang Côn, Khuất Đăng Long, Đặng Thị Dung
Nhà XB: Nxb Nông Nghiệp
Năm: 1996
4. Đặng Thị Dung và cộng sự.  1997.  Một số đặc điểm hình thái và sinh học của ong Temelucla. Sp nội ký sinh sâu non quấn lá đậu tương. Tạp  chí bảo vệ thực vật số 155 - 5/1997  Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số đặc điểm hình thái và sinh học của ong Temelucla. Sp nội ký sinh sâu non quấn lá đậu tương
5. Đường Hồng Dật  ,  2004  .  Tổng hợp bảo vệ cây IPM  .  Nxb  Lao  Động & Xã Hội  Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổng hợp bảo vệ cây IPM
Nhà XB: Nxb  Lao Động & Xã Hội 
6. Ngô Thế Dân và nnk, 2000. kỹ thuật đạt năng suất cao ở Việt Nam. Nxb Nông Nghiệp.  Sách, tạp chí
Tiêu đề: kỹ thuật đạt năng suất cao ở Việt Nam
Nhà XB: Nxb Nông Nghiệp. 
8. Lê Xuân Huệ, 2000. Động vật trí Việt Nam tập III. Nxb Khoa Học & Kỹ Thuật.  Sách, tạp chí
Tiêu đề: Động vật trí Việt Nam tập III
Nhà XB: Nxb Khoa Học & Kỹ Thuật. 
10. Trần Minh Hợi & Nguyễn Xuân Đặng ,2008. Đa dạng sinh học và bảo tồn nguồn gen sinh vật tại vườn quốc gia Xuân Sơn - Phú Thọ.  Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đa dạng sinh học và bảo tồn nguồn gen sinh vật tại vườn quốc gia Xuân Sơn - Phú Thọ
Tác giả: Trần Minh Hợi, Nguyễn Xuân Đặng
Năm: 2008
11. Trần Quang Hùng  ,  1995  .Thuốc bảo vệ thực vật  .  Nxb  Nông  Nghiệp.  Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thuốc bảo vệ thực vật
Nhà XB: Nxb  Nông Nghiệp. 
12. Nguyễn Đức Khánh và Đặng Thị Dung,  2003.  Tình hình sâu hại lạc vụ xuân năm 2002 tại Thạch Hà - Hà Tĩnh. Tạp chí sinh học số I - 6/2003.tr ( 6 - 10 ). Nxb Khoa Học và Kỹ Thuật.  Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tình hình sâu hại lạc vụ xuân năm 2002 tại Thạch Hà - Hà Tĩnh. Tạp chí sinh học số I - 6/2003. "tr ( 6 - 10 )
Nhà XB: Nxb Khoa Học và Kỹ Thuật. 
13. Lê Văn Khoa và cộng sự, 2003. Khoa Học môi trường. Nxb Giáo  Dục.  Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khoa Học môi trường
Nhà XB: Nxb Giáo Dục. 
14. Trần Kiên, 2000. Sinh thái học và môi trường. Nxb Giáo Dục.  Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sinh thái học và môi trường
Nhà XB: Nxb Giáo Dục. 
15. Lưu Tham Mưu và Đặng Đức Cương,  2000.  Động vật trí Việt Nam tập VII. Nxb Khoa Học & Kỹ Thuật.  Sách, tạp chí
Tiêu đề: Động vật trí Việt Nam tập VII
Nhà XB: Nxb Khoa Học & Kỹ Thuật. 
16. Trần Văn Nhân và cộng sự, 2008. Sinh thái học môi trường. Nxb  Giáo Dục.  Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sinh thái học môi trường
Nhà XB: Nxb Giáo Dục. 
17. Phạm Văn Lầm, 1996. Góp phần nghiên cứu về thiên địch của sâu hại ngô.Tạp chí bảo vệ thực vật số 149, 5/1996,  tr  (  41  -  45  ).  Nxb  Nông  Nghiệp.  Sách, tạp chí
Tiêu đề: Góp phần nghiên cứu về thiên địch của sâu hại ngô.Tạp chí bảo vệ thực vật số 149, 5/1996
Nhà XB: Nxb  Nông Nghiệp. 
18. Nguyễn Thị Li, 2000. Phương pháp nghiên cứu bảo vệ thực vật tập III, tr ( 39 - 48 ). Nxb Nông Nghiệp.  Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp nghiên cứu bảo vệ thực vật tập III, tr ( 39 - 48 )
Nhà XB: Nxb Nông Nghiệp. 
19. Vũ Trung Tạng, 2001. Cơ sở sinh thái học. Nxb Giáo Dục.  Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở sinh thái học
Nhà XB: Nxb Giáo Dục. 
21. Nguyễn Viết Tùng, 2006. Giáo trình côn trùng học đại cương. Nxb  Nông Nghiệp.  Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình côn trùng học đại cương
Nhà XB: Nxb Nông Nghiệp. 
22. Nguyễn Xuân Thành  ,1996.  Sâu hại bông, đay và thiên địch của chúng ở Việt Nam . Nxb nông nghiệp  Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sâu hại bông, đay và thiên địch của chúng ở Việt Nam
Nhà XB: Nxb nông nghiệp 
23. Nguyễn Xuân Thành ,1997 .Nông dược bảo quản và sử dụng tr(3- 25) .Nxb nông nghiệp .  Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nông dược bảo quản và sử dụng tr(3-25)
Nhà XB: Nxb nông nghiệp . 
24. Nguyễn Xuân Thành ,2000 . Biện pháp sử dụng nông dược an toàn và hiệu quả tr(5-34).Nxb nông nghiệp .  Sách, tạp chí
Tiêu đề: Biện pháp sử dụng nông dược an toàn và hiệu quả
Tác giả: Nguyễn Xuân Thành
Nhà XB: Nxb nông nghiệp
Năm: 2000
25. Nguyễn Xuân Thành  ,2006. Sâu hại rau họ thập tự và biện pháp phòng trừ. Nxb Nông Nghiệp.  Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sâu hại rau họ thập tự và biện pháp phòng trừ
Nhà XB: Nxb Nông Nghiệp. 

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: Thành phần loài côn trùng hại lạc. - điều tra, nghiên cứu sự đa dạng về thành phần loài côn trùng và đặc điểm sinh học sinh thái của sâu xám agrotis ypsilon trên cây lạc tại vùng ngoại thành hà nội vụ xuân hè 2012
Bảng 1 Thành phần loài côn trùng hại lạc (Trang 21)
Hình 3: Ấu trùng sâu khoang. - điều tra, nghiên cứu sự đa dạng về thành phần loài côn trùng và đặc điểm sinh học sinh thái của sâu xám agrotis ypsilon trên cây lạc tại vùng ngoại thành hà nội vụ xuân hè 2012
Hình 3 Ấu trùng sâu khoang (Trang 26)
Bảng 2: Thành phần thiên địch trên cây lạc. - điều tra, nghiên cứu sự đa dạng về thành phần loài côn trùng và đặc điểm sinh học sinh thái của sâu xám agrotis ypsilon trên cây lạc tại vùng ngoại thành hà nội vụ xuân hè 2012
Bảng 2 Thành phần thiên địch trên cây lạc (Trang 29)
Bảng 3: Kích thước từng pha phát dục của sâu xám. - điều tra, nghiên cứu sự đa dạng về thành phần loài côn trùng và đặc điểm sinh học sinh thái của sâu xám agrotis ypsilon trên cây lạc tại vùng ngoại thành hà nội vụ xuân hè 2012
Bảng 3 Kích thước từng pha phát dục của sâu xám (Trang 35)
Bảng 4: Thời gian sống của trưởng thành sâu xám  ( trong điều kiện t◦ = 25◦C và W= 85% )  Trưởng thành - điều tra, nghiên cứu sự đa dạng về thành phần loài côn trùng và đặc điểm sinh học sinh thái của sâu xám agrotis ypsilon trên cây lạc tại vùng ngoại thành hà nội vụ xuân hè 2012
Bảng 4 Thời gian sống của trưởng thành sâu xám ( trong điều kiện t◦ = 25◦C và W= 85% ) Trưởng thành (Trang 37)
Bảng 5: Số lượng trứng trung bình của 1 cặp trưởng thành sâu xám. - điều tra, nghiên cứu sự đa dạng về thành phần loài côn trùng và đặc điểm sinh học sinh thái của sâu xám agrotis ypsilon trên cây lạc tại vùng ngoại thành hà nội vụ xuân hè 2012
Bảng 5 Số lượng trứng trung bình của 1 cặp trưởng thành sâu xám (Trang 38)
Bảng 6 : Thời gian phát dục của pha trứng sâu xám  Số - điều tra, nghiên cứu sự đa dạng về thành phần loài côn trùng và đặc điểm sinh học sinh thái của sâu xám agrotis ypsilon trên cây lạc tại vùng ngoại thành hà nội vụ xuân hè 2012
Bảng 6 Thời gian phát dục của pha trứng sâu xám Số (Trang 39)
Hình 8: Ấu trùng sâu xám - điều tra, nghiên cứu sự đa dạng về thành phần loài côn trùng và đặc điểm sinh học sinh thái của sâu xám agrotis ypsilon trên cây lạc tại vùng ngoại thành hà nội vụ xuân hè 2012
Hình 8 Ấu trùng sâu xám (Trang 40)
Bảng 7: Thời gian phát dục và tỉ lệ sống của pha ấu trùng. - điều tra, nghiên cứu sự đa dạng về thành phần loài côn trùng và đặc điểm sinh học sinh thái của sâu xám agrotis ypsilon trên cây lạc tại vùng ngoại thành hà nội vụ xuân hè 2012
Bảng 7 Thời gian phát dục và tỉ lệ sống của pha ấu trùng (Trang 41)
Bảng 8: Thời gian phát dục của pha nhộng sâu xám - điều tra, nghiên cứu sự đa dạng về thành phần loài côn trùng và đặc điểm sinh học sinh thái của sâu xám agrotis ypsilon trên cây lạc tại vùng ngoại thành hà nội vụ xuân hè 2012
Bảng 8 Thời gian phát dục của pha nhộng sâu xám (Trang 43)
Bảng mật độ trung bình của sâu xám trong các buổi điều tra. - điều tra, nghiên cứu sự đa dạng về thành phần loài côn trùng và đặc điểm sinh học sinh thái của sâu xám agrotis ypsilon trên cây lạc tại vùng ngoại thành hà nội vụ xuân hè 2012
Bảng m ật độ trung bình của sâu xám trong các buổi điều tra (Trang 43)
BẢNG THỜI TIẾT CÁC NGÀY ĐIỀU TRA - điều tra, nghiên cứu sự đa dạng về thành phần loài côn trùng và đặc điểm sinh học sinh thái của sâu xám agrotis ypsilon trên cây lạc tại vùng ngoại thành hà nội vụ xuân hè 2012
BẢNG THỜI TIẾT CÁC NGÀY ĐIỀU TRA (Trang 52)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w