1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

nghiên cứu ảnh hưởng của dầu đậu tương trong khẩu phần đến năng suất sinh sản của lợn nái nuôi con, sinh trưởng của lợn con giai đoạn bú sữa và sau cai sữa trong điều kiện mùa hè

93 440 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 93
Dung lượng 797,49 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LỜI CẢM ƠN Sau một thời gian tham gia học tập tại trường, đồng thời tiến hành đề tài: “Nghiên cứu ảnh hưởng của dầu đậu tương trong khẩu phần đến năng suất sinh sản của lợn nái nuôi con

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

ĐỖ THỊ HÀ

NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA DẦU ĐẬU TƯƠNG

TRONG KHẨU PHẦN ĐẾN NĂNG SUẤT SINH SẢN CỦA LỢN NÁI NUÔI CON, SINH TRƯỞNG CỦA LỢN CON GIAI ĐOẠN BÚ SỮA

VÀ SAU CAI SỮA TRONG ĐIỀU KIỆN MÙA HÈ

LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP

THÁI NGUYÊN - 2011

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

ĐỖ THỊ HÀ

NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA DẦU ĐẬU TƯƠNG

TRONG KHẨU PHẦN ĐẾN NĂNG SUẤT SINH SẢN CỦA LỢN NÁI NUÔI CON, SINH TRƯỞNG CỦA LỢN CON GIAI ĐOẠN BÚ SỮA

VÀ SAU CAI SỮA TRONG ĐIỀU KIỆN MÙA HÈ

Chuyên ngành: Chăn nuôi thú y

THÁI NGUYÊN - 2011

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả trong luận văn là trung thực và chƣa đƣợc công bố trong bất kỳ công trình nào khác Mọi sự giúp đỡ trong việc thực hiện đề tài đã đƣợc cám

ơn và các thông tin trích dẫn đều chỉ rõ nguồn gốc

Tác giả

Đỗ Thị Hà

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Sau một thời gian tham gia học tập tại trường, đồng thời tiến hành đề tài:

“Nghiên cứu ảnh hưởng của dầu đậu tương trong khẩu phần đến năng suất sinh sản của lợn nái nuôi con, sinh trưởng của lợn con giai đoạn bú sữa và sau cai sữa trong điều kiện mùa hè”, đến nay tôi đã hoàn thành luận

Nhân dịp này tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc về sự giúp đỡ quý báu

đó đã giúp tôi hoàn thành chương trình học tập thuận lợi Đặc biệt, tôi xin cảm

ơn thầy giáo TS Phạm Sỹ Tiệp, Thầy giáo PGS.TS Trần Huê Viên đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo giúp tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài để hoàn thành bản luận văn này

Một lần nữa tôi xin trân trọng bày tỏ lòng biết ơn và lời cảm ơn chân thành tới Ban giám hiệu nhà trường, Ban chủ nhiệm khoa Sau Đại học, Ban chủ nhiệm khoa Chăn nuôi Thú y, thầy giáo hướng dẫn và toàn thể các thầy

cô giáo, bạn bè, gia đình giúp tôi hoàn thành bản luận văn này

Thái Nguyên, tháng 9 năm 2011

Tác giả

Đỗ Thị Hà

Trang 5

MỤC LỤC

Trang

MỞ ĐẦU 1

1 Đặt vấn đề 1

2 Mục tiêu của đề tài 2

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3

1.1 CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI 3

1.1.1 Đặc điểm sinh trưởng và tiêu hóa của lợn con 3

1.1.1.1 Đặc điểm sinh trưởng 3

1.1.1.2 Sự sinh trưởng của lợn, các nhân tố ảnh hưởng 5

1.1.1.3 Đặc điểm tiêu hóa của lợn con 16

1.1.1.4 Hệ vi sinh vật đường tiêu hóa lợn 19

1.1.2 Khả năng đồng hóa và trao đổi chất của lợn con 23

1.1.3 Đặc điểm về điều tiết thân nhiệt và miễn dịch 24

1.1.4 Sự phát triển các thành phần của cơ thể lợn con 26

1.1.5 Khả năng tiết sữa của lợn mẹ 27

1.1.6 Nhu cầu dinh dưỡng của lợn con 30

1.1.7 Vấn đề tập cho lợn con ăn sớm và cai sữa sớm lợn con 36

1.2 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước 38

1.2.1 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài 38

1.2.2 Tình hình nghiên cứu trong nước 40

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 41

2.1 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU 41

2.2 THỜI GIAN VÀ ĐỊA ĐIỂM NGHIÊN CỨU 41

2.2.1 Thời gian nghiên cứu 41

2.2.2 Địa điểm nghiên cứu 41

Trang 6

2.3 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 41

2.4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 42

2.4.1 Thí nghiệm 1: 42

2.4.2 Thí nghiệm 2: 44

2.5 PHƯƠNG PHÁP XỬ LÝ SỐ LIỆU 46

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 47

3.1 Ảnh hưởng của dầu đậu tương trong khẩu phần thức ăn đến khả năng sinh sản của lợn nái nuôi con giống ngoại (Yorkshire) và lai F1(Yorkshire x Móng Cái) trong điều kiện mùa hè 47

3.1.1 Ảnh hưởng của dầu đậu tương trong khẩu phần đến khả năng thu nhận thức ăn, hàm lượng mỡ sữa của lợn nái 47

3.1.2 Ảnh hưởng của dầu đậu tương trong khẩu phần đến đến khả năng sinh trưởng của lợn con giai đoạn bú sữa 49

3.1.3 Ảnh hưởng của dầu đậu tương trong khẩu phần thức ăn đến thời gian động dục trở lại của lợn nái nuôi con 53

3.6.4 Ảnh hưởng của dầu đậu tương trong khẩu phần thức ăn đến sự hao mòn cơ thể của lợn nái nuôi con giống ngoại và nái lai F1 (Y x MC) 55

3.1.5 Ảnh hưởng của dầu đậu tương trong khẩu phần thức ăn của lợn nái nuôi con đến tỷ lệ nhiễm bệnh tiêu chảy ở lợn con bú sữa 58

3.1.6 Chi phí thức ăn cho 1kg lợn con cai sữa 28 ngày tuổi 61

3.2 Ảnh hưởng của hỗn hợp dầu đậu tương và dầu cá (tỉ lệ 5:1) trong khẩu phần thức ăn đến khả năng sinh trưởng và tỷ lệ nuôi sống của lợn con sau cai sữa giống ngoại (Yorkshire) và lai 3/4 máu ngoại [Yorkshire x (Yorkshire x Móng Cái)] trong điều kiện mùa hè 64

3.2.1 Ảnh hưởng của hỗn hợp dầu đậu tương và dầu cá (tỉ lệ 5:1) trong khẩu phần thức ăn đến khả năng sinh trưởng và tỷ lệ nuôi sống của lợn con sau cai sữa giống ngoại (Y) 64

Trang 7

3.2.2 Ảnh hưởng của hỗn hợp dầu đậu tương và dầu cá (tỉ lệ 5:1) trong khẩu

phần thức ăn đến khả năng sinh trưởng và tỷ lệ nuôi sống của lợn con sau

cai sữa lai 3/4 máu ngoại [Y x (Y x MC)] 66

KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 70

1 KẾT LUẬN 70

2 ĐỀ NGHỊ 71

TÀI LIỆU THAM KHẢO 72

I TÀI LIỆU TIẾNG VIỆT 72

II TÀI LIỆU TIẾNG NƯỚC NGOÀI 76

Trang 9

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1: Thành phần protein huyết thanh ở lợn con 24

Bảng 2.2: Thành phần của cơ thể lợn con từ sơ sinh đến 10 tuần tuổi 27

Bảng 2.3: Năng lượng tiêu hóa trong một ngày đêm của lợn con bú sữa 30

Bảng 2.4: Nhu cầu các chất khoáng cho lợn 34

Bảng 2.5: Nhu cầu nước cho lợn 35

Bảng 3.1: Ảnh hưởng của dầu đậu tương trong khẩu phần đến khả thu nhận thức ăn, hàm lượng mỡ sữa của lợn nái nuôi con giống ngoại 47

Bảng 3.2: Ảnh hưởng của dầu đậu tương trong khẩu phần đến khả thu nhận thức ăn, hàm lượng mỡ sữa của lợn nái nuôi con F1 48

Bảng 3.3: Ảnh hưởng của dầu đậu tương trong khẩu phần TA lợn nái ngoại đến khả năng sinh trưởng của lợn con giai đoạn bú sữa 50

Bảng 3.4: Ảnh hưởng của dầu đậu tương trong khẩu phần TA lợn nái lai F1 đến khả năng sinh trưởng của lợn con giai đoạn bú sữa 51

Bảng 3.5: Ảnh hưởng của dầu đậu tương trong khẩu phần thức ăn đến thời gian động dục trở lại của lợn nái nuôi con giống ngoại (Y) 53

Bảng 3.6: Ảnh hưởng của dầu đậu tương trong khẩu phần thức ăn đến thời gian động dục trở lại của lợn nái nuôi con giống ngoại (Y x MC) 54 Bảng 3.7: Ảnh hưởng của dầu đậu tương trong khẩu phần thức ăn đến sự hao mòn cơ thể của lợn nái nuôi con giống ngoại 56

Bảng 3.8: Ảnh hưởng của dầu đậu tương trong khẩu phần thức ăn đến sự hao mòn cơ thể của lợn nái nuôi con lai F1 (Y x MC) 57

Bảng 3.9: Ảnh hưởng của dầu đậu tương trong khẩu phần thức ăn của lợn nái nuôi con giống ngoại đến tình hình nhiễm bệnh đường ruột của lợn con bú sữa 58

Trang 10

Bảng 3.10: Ảnh hưởng của dầu đậu tương trong khẩu phần thức ăn của lợn

nái nuôi con giống ngoại đến tình hình nhiễm bệnh đường ruột của lợn con bú sữa 60 Bảng 3.11: Chi phí thức ăn cho 1 kg lợn con cai sữa giống ngoại 61 Bảng 3.12: Chi phí thức ăn cho 1 kg lợn con cai sữa giống lai 62 Bảng 3.13: Ảnh hưởng của hỗn hợp dầu đậu tương và dầu cá(tỉ lệ 5:1) trong

khẩu phần thức ăn đến khả năng sinh trưởng và tỷ lệ nuôi sống của lợn con sau cai sữa giống ngoại (Y) 64 Bảng 3.14: Ảnh hưởng của hỗn hợp dầu đậu tương và dầu cá(tỉ lệ 5:1) trong

khẩu phần thức ăn đến khả năng sinh trưởngvà tỷ lệ nuôi sống của lợn con sau cai sữa lai 3/4 máu ngoại [Y x (Y x MC)] 67

Trang 11

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 1: Biểu đồ ảnh hưởng của bổ sung chất béo đến khả năng thu nhận thức

ăn của lợn mẹ 49 Hình 2: Biểu đồ ảnh hưởng của bổ sung chất béo đến khối lượng cai sữa/ổ của

lợn con 52 Hình 3: Biểu đồ ảnh hưởng của bổ sung chất béo đến tăng khối lượng/ngày

của lợn con 52 Hình 4: Biểu đồ ảnh hưởng của bổ sung chất béo đến tỷ lệ nuôi sống của lợn

con bú sữa 53 Hình 5: Biểu đồ ảnh hưởng của bổ sung chất béo đến thời gian động

dục trở lại 55 Hình 6: Biểu đồ ảnh hưởng của bổ sung chất béo đến sự hao mòn của

nái nuôi con 58 Hình 7: Biểu đồ ảnh hưởng của bổ sung chất béo đến tỷ lệ tiêu chảy của lợn con 61 Hình 8: Biểu đồ ảnh hưởng của bổ sung chất béo đến chi phí thức ăn/kg lợn

con cai sữa 63 Hình 9: Biểu đồ ảnh hưởng của bổ sung chất béo đến tăng trọng của lợn sau

cai sữa 65 Hình 10: Biểu đồ ảnh hưởng của bổ sung chất béo đến chi phí thức ăn/kg tăng

P của lợn sau cai sữa 68

Trang 12

MỞ ĐẦU

1 Đặt vấn đề

Stress là trạng thái mất cân bằng nội môi của cơ thể, là một trạng thái sinh lý không bình thường xảy ra do tác động của các yếu tố bất lợi trong và ngoài cơ thể Các yếu tố này gọi là tác nhân stress Khi điều kiện ngoại cảnh thay đổi, có tác nhân stress mà cơ thể không duy trì được trạng thái cân bằng nội môi, thì con vật sẽ lâm vào trạng thái stress và phải trải qua quá trình stress để thích nghi Khi bị stress gia súc phải trải qua quá trình huy động năng lượng để chống lại tác nhân stress, duy trì cân bằng nội môi Khi tác nhân stress vượt quá giới hạn chịu đựng, sự duy trì cân bằng nội môi gặp khó khăn, con vật lâm vào trạng thái stress nặng và có thể bị chết

Nhiệt độ môi trường và cùng với nó là độ ẩm là yếu tố chính gây nên stress cho gia súc (Kadzere và cs, 2000) Khi bị stress nhiệt mùa hè, gia súc phải huy động năng lượng tiềm tàng trong cơ thể, đây là năng lượng cho tăng trọng, sinh sản và tiết sữa Do đó, trong điều kiện stress khả năng sản xuất của gia súc giảm và gây thiệt hại cho chăn nuôi Bên cạnh đó, stress nhiệt ảnh hư-ởng trực tiếp đến cả lượng thức ăn ăn vào và lượng nhiệt sản xuất ra trong quá trình trao đổi chất

Việc nghiên cứu bổ sung chất béo (dầu, mỡ động, thực vật) cho lợn nái chửa, nái nuôi con, lợn con theo mẹ và lợn con sau cai sữa trong điều kiện thời tiết quá nóng(>30oC) hoặc quá lạnh (<12o

C) - các giới hạn cận trên và cận dưới của stress nhiệt là rất cần thiết và được các nhà chăn nuôi lợn công nghiệp trên thế giới hết sức quan tâm Các công trình NC khoa học đã cho thấy, men Lipaza trong cơ thể gia súc non có hoạt tính thấp, nên chưa có khả năng tự tổng hợp được một số loại axít béo, đặc biệt là các axit béo không no như axit Linoleic, axit Liolenic, palmitoneic là những axit béo rất quan trọng trong việc hoà tan các vitamin A, D, E, K giúp cho quá trình hấp thu các

Trang 13

vitamin này trở nên dẽ dàng hơn Đối với lợn con theo mẹ và sau cai sữa, các axit béo trên được lấy từ thức ăn và sữa mẹ Theo Weiler, Fitzpatrick-Wong (2002) và Harmon (2003), trong khẩu phần của lợn con đều phải bổ sung chất béo để tăng tính ngon miệng, tăng năng lượng cho khẩu phần và tận dụng khả năng kháng khuẩn của chất béo để giảm tiêu chảy cho lợn con Bổ sung chất béo (dầu đậu tương, dầu cá) vào thức ăn cho lợn con là cách duy nhất để đạt được ME cao hơn giá trị 3500 Kcal là mức năng lượng cần thiết khi lợn con buộc phải đối phó với các tác nhân stress nhiệt trong mùa hè

Việc bổ sung chất béo vào khẩu phần thức ăn cho lợn nái chửa, nái nuôi con

và lợn con trong điều kiện mùa hè là hết sức cần thiết Tuy nhiên, để bổ sung chất béo có hiệu quả cần có những nghiên cứu để tìm ra tỷ lệ bổ sung thích hợp cho từng loại lợn Xuất phát từ thực tế trên, chúng tôi triển khai đề tài:

“Nghiên cứu ảnh hưởng của dầu đậu tương trong khẩu phần đến năng suất sinh sản của lợn nái nuôi con, sinh trưởng của lợn con giai đoạn bú sữa và sau cai sữa trong điều kiện mùa hè”

2 Mục tiêu của đề tài

- Xác định tỷ lệ thích hợp của dầu đậu tương bổ sung vào khẩu phần ăn cho lợn nái nuôi con, lợn con bú sữa và sau cai sữa trong điều kiện mùa hè

- Ứng dụng góp phần nâng cao năng suất sinh sản của lợn nái nuôi con, khả năng sinh trưởng của lợn con giai đoạn bú sữa và sau cai sữa trong điều kiện mùa hè

Trang 14

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI

1.1.1 Đặc điểm sinh trưởng và tiêu hóa của lợn con

1.1.1.1 Đặc điểm sinh trưởng

* Khái niệm về sinh trưởng

Sinh trưởng là sự tăng khối lượng và kích thước của cơ thể do các tế bào trong cơ thể tăng về số lượng và kích thước

Theo Trần Đình Miên, Nguyễn Kim Đường, 1978 [15], thì sinh trưởng

là quá trình tích lũy chất hữu cơ do đồng hóa và dị hóa, thể hiện bằng sự tăng chiều cao, chiều dài, bề ngang, khối lượng của các bộ phận và toàn bộ cơ thể con vật trên cơ sở tính di truyền của đời trước Sinh trưởng chính là sự tích lũy dần các chất, chủ yếu là Protein mà tốc độ và khối lượng tích lũy các chất

do tốc độ hoạt động của các gen điều khiển sự sinh trưởng

Sinh trưởng được xem như là quá trình tổng hợp protein nên người ta thường lấy việc tăng khối lượng làm chỉ tiêu đánh giá quá trình sinh trưởng

Sự tăng trưởng chính là việc các tế bào của mô cơ có sự tăng thêm về số lượng, khối lượng các chiều Sự sinh trưởng của con vật được tính từ lúc trứng thụ tinh cho đến khi cơ thể trưởng thành và được chia làm 2 giai đoạn: Giai đoạn bào thai và giai đoạn ngoài bào thai Các đặc tính của các bộ phận hình thành quá trình sinh trưởng tuy là một sự tiếp tục, thừa hưởng các đặc tính di truyền của bố

mẹ, nhưng mức độ mạnh hay yếu là do tác động của môi trường Nghiên cứu về sinh trưởng cần phải đề cập đến vấn đề phát dục, đây là một quá trình biến đổi về chất, tức là tăng thêm và hoàn chỉnh tính chất chức năng của các bộ phận cơ thể, phát dục của cơ thể con vật là quá trình phức tạp trải qua nhiều giai đoạn bắt đầu

từ khi thụ tinh cho đến khi trưởng thành

Trang 15

* Quá trình sinh trưởng phát dục ở lợn

Quá trình này được tuân theo các quy luật sau:

- Quy luật sinh trưởng phát dục không đồng đều: Quy luật này thể hiện

ở cường độ sinh trưởng và tốc độ sinh trưởng thay đổi theo tuổi

- Quy luật sinh trưởng phát dục theo giai đoạn: Quy luật này được chia làm 2 giai đoạn đó là giai đoạn trong thai và giai đoạn ngoài thai

+ Giai đoạn trong thai của lợn bao gồm:

Thời kỳ phôi thai: Từ 1 - 22 ngày

Thời kỳ tiền thai: Từ 23 - 39 ngày

Thời kỳ thai nhi: Từ 40 - đẻ

+ Giai đoạn ngoài thai (ngoài cơ thể mẹ): Được chia thành các thời kỳ: thời kỳ bú sữa, thời kỳ thành thục, thời kỳ trưởng thành và thời kỳ già cỗi Trong các thời kỳ trên thì thời kỳ bú sữa được coi là quan trọng hơn cả

Thời kỳ bú sữa thường là 60 ngày, nguồn dinh dưỡng là sữa mẹ, thức

ăn nhân tạo phải phù hợp với khả năng tiêu hóa của lợn con Sau khi tách mẹ những ngày đầu, thì thức ăn nhân tạo phải đảm bảo sao cho lợn con tăng trọng đều mỗi ngày như khi vẫn bú mẹ Có như vậy, lợn con đưa vào nuôi thịt hay nuôi hậu bị không bị chậm lớn Đây là điều kiện để cai sữa sớm cho lợn con

có kết quả (Nguyễn Thiện và cs, 1996 [32])

* Đặc điểm sinh trưởng và phát triển của lợn con

Theo quy luật chung thì trong thời kỳ bào thai phát triển tốt sẽ ảnh hưởng tốt đến sự phát triển về sau, khả năng phát triển của lợn con nhanh hơn

so với một số gia súc khác (khi cai sữa ở 2 tháng tuổi khối lượng gấp10 - 12 lần so với sơ sinh, trong khi đó bê nghé chỉ tăng 3 - 4 lần)

Qua các thí nghiệm và qua thực tế sản xuất cho thấy so với khối lượng

sơ sinh, thì sau 10 ngày tuổi lợn con tăng gấp 2 lần, sau 30 ngày tuổi tăng gấp

4 lần, sau 60 ngày tuổi tăng gấp 10 lần trở lên

Trang 16

Quá trình sinh trưởng của lợn con từ khi sơ sinh đến khi cai sữa phải gặp thời kì khủng hoảng lúc 3 tuần tuổi Nhiều tài liệu nghiên cứu của các nước trên thế giới và tài liệu nghiên cứu được trên giống lợn nuôi ở Việt Nam chứng minh được rõ rệt và chính xác thời kỳ này

1.1.1.2 Sự sinh trưởng của lợn, các nhân tố ảnh hưởng

* Các chỉ tiêu đánh giá sự sinh trưởng

+ Tốc độ sinh trưởng

Theo Trần Văn Phùng và cs, (2004) [22]: Tốc độ sinh trưởng là chỉ tiêu kinh tế quan trọng hàng đầu trong chăn nuôi lợn thịt Tốc độ sinh trưởng nhanh sẽ góp phần giảm tiêu tốn thức ăn trên 1kg tăng khối lượng, tỷ lệ thịt nạc trong thịt xẻ, giảm chi phí trong chăn nuôi… Khả năng sinh trưởng được tính theo gam/ngày hay kg/tháng Tốc độ sinh trưởng của các giống lợn khác nhau là khác nhau Các giống lợn nội có khả năng tăng khối lượng thấp hơn lợn lai và lợn ngoại

Trong phạm vi ứng dụng để đánh giá tốc độ sinh trưởng ta thường dùng các chỉ tiêu sau đây:

- Sinh trưởng tích lũy: Là khối lượng cơ thể, kích thước các chiều đo

tăng lên sau một thời gian sinh trưởng Đồ thị sinh trưởng tích lũy có dạng hình chữ S

- Sinh trưởng tuyệt đối: Là khối lượng, kích thước của cơ thể gia súc

tăng lên trong một đơn vị thời gian Đối với lợn, đơn vị thời gian thường là ngày Sinh trưởng tuyệt đối cho biết mỗi con lợn, mỗi ngày tăng được bao nhiêu gam Giá trị sinh trưởng tuyệt đối càng cao thì hiệu quả kinh tế càng lớn Đồ thị sinh trưởng tuyệt đối có dạng hình quả chuông úp

- Sinh trưởng tương đối: Là tỷ lệ % của khối lượng cơ thể, thể tích hay kích

thước các chiểu đo tăng lên của lần khảo sát sau so với lần khảo sát trước

Trang 17

* Những yếu tố ảnh hưởng đến sự sinh trưởng của lợn

+ Ảnh hưởng của yếu tố di truyền (loài, giống, cá thể)

- Cơ sở của sự di truyền

Sinh trưởng là tính trạng số lượng, sự di truyền của các tính trạng này tuân theo qui luật của Mendel Tính trạng số lượng được thể hiện qua các chỉ tiêu như: Số con/lứa, khả năng tăng trọng, phẩm chất phần thân thịt có giá trị…

Đó là những tính trạng do nhiều đôi gen qui định và chịu sự tác động của ngoại cảnh với nhiều mức độ khác nhau (Nguyễn Thiện và cộng sự, 1998) [33]

Giá trị kiểu hình của một tính trạng được kí hiệu là P (phenotype) Giá trị kiểu gen được kí hiệu là G (Genotype) và sai lệch môi trường được kí hiệu là E (Enviroment) Mối quan hệ này được biểu thị bằng công thức: P = G + E

Giá trị kiểu gen (G) của giá trị số lượng do nhiều gen có hiệu ứng nhỏ (minorgene) cấu tạo thành Các gen này có hiệu ứng riêng biệt của từng gen thì rất nhỏ, nhưng tập hợp nhiều gen nhỏ sẽ ảnh hưởng rất rõ rệt tới tính trạng nghiên cứu, hiện tượng này gọi là hiệu ứng đa gen (Polygen) Các minorgen tác động lên tính trạng theo 3 phương thức: cộng gộp và át gen Vì vậy giá trị kiểu gen hoạt động thể hiện qua công thức:

Trang 18

Lasley (1974) cho biết những tính trạng có hệ số di truyền từ 0,12 - 0,3

là những tính trạng có hệ số di truyền thấp Những tính trạng có hệ số di truyền bằng 0,4 - 0,5 là những tình trạng có hệ số di truyền trung bình Những tính trạng có hệ số di truyền > 0,5 là những tính trạng có hệ số di truyền cao

và cho hệ quả chọn lọc cao: Còn những tính trạng có hệ số di truyền thấp sẽ cho ưu thế lai cao (Trích theo Nguyễn Thiện và cs, 1998) [33]

Từ kết quả phân tích trên cho thấy, các tính trạng về năng suất ở lợn cũng như các vật nuôi khác là kết quả tác động giữa các yếu tố di truyền và các yếu tố môi trường

Theo Trần văn Phùng và cs (2004) [22] cho biết: Yếu tố di truyền là một trong những yếu tố có ý nghĩa quan trọng nhất ảnh hưởng đến sinh trưởng phát dục của lợn Quá trình sinh trưởng phát dục của lợn tuân theo các quy luật sinh học, nhưng chịu ảnh hưởng của các giống lợn khác nhau Do ảnh hưởng của các tuyến nội tiết và hệ thống thần kinh mà hình thành nên sự khác nhau giữa các giống lợn nguyên thủy và các giống lợn đã được cải tiến cũng như giữa các giống lợn thành thục sớm và giống lợn thành thục muộn

Sự khác nhau này không những chỉ khác nhau về các trúc tổng thể của cơ thể

mà còn khác nhau ở sự hình thành nên các tế bào, các bộ phận của cơ thể và

đã hình thành nên các giống lợn có hướng sản xuất khác nhau như: Giống lợn hướng nạc, hướng mỡ

Tính trạng số lượng (sinh trưởng, cho lông, cho thịt, trứng, sản lượng sữa, sinh sản…) những tính trạng ở đó có sự sai khác giữa các cá thể là sự sai khác nhau về mức độ hơn là sự sai khác nhau về chủng loại Darwin đã chỉ rõ

sự sai khác này chính là nguyên liệu cho quá trình chọn lọc tự nhiên và chọn lọc nhân tạo, sự nghiên cứu các tính trạng này phụ thuộc vào sự đo lường như: Khối lượng cơ thể, tốc độ tăng trọng, sản lượng trứng, kích thước và chiều đo…(Trần Đình Miên và cs, 1975) [16]

Trang 19

- Ảnh hưởng của quá trình trao đổi chất

Quá trình trao đổi chất xảy ra dưới sự điều khiển của các hormone Hormone tham gia vào tất cả các quá trình trao đổi chất của tế bào và giữ cân bằng các chất trong máu Trong thời kì đầu tiên của quá trình sống, kể cả khi chưa có sự hoạt động của tuyến giáp đã có sự tham gia của tuyến ức trong điều khiển quá trình sinh trưởng Về sau điều khiển quá trình sinh trưởng có

sự tham gia của tuyến yên Hormon của thùy trước tuyến yên STH (somatotropin hormone) là loại hormon rất cần thiết cho sinh trưởng của cơ thể Theo tác giả Hoàng Toàn Thắng và cs (2006) [30]: STH có tác dụng sinh

lý chủ yếu kích thích sự sinh trưởng của cơ thể bằng cách làm tăng sự tổng hợp protein và kích thích sụn liên hợp phát triển, tăng tạo xương (nhất là các xương dài) Khi thiếu hoặc thừa loại hormon này sẽ dẫn đến cơ thể quá nhỏ bé (nanismus) hoặc quá to (gigantismus) Vào thời kỳ thành thục về tính, các hormon sinh dục như hormon của dịch hoàn và buồng trứng (androgen và oestrogen) tham gia vào quá trình điều khiển hoạt động sinh dục của cơ thể và hình thành nên các đặc tính sinh dục thứ cấp Hormon sinh dục của con cái tạo ra từ buồng trứng cũng có tác động đáng kể đến sinh trưởng của lợn Ngoài ra các loại hormon của các tuyến như tuyến tụy và tuyến thượng thận cũng tham gia điều tiết sự phát triển của bộ xương và cơ

- Ảnh hưởng của giống

Giống luôn là yếu tố hàng đầu ảnh hưởng đến năng suất chăn nuôi Các giống gia súc khác nhau có khả năng tăng trọng, tiêu tốn thức ăn khác nhau, khả năng này phụ thuộc vào quá trình sinh trưởng của con vật Quá trình tích lũy các chất mà chủ yếu là protein, tốc độ và phương thức sinh tổng hợp ptotein phụ thuộc vào hoạt động của hệ thống gen điều khiển sự sinh trưởng của cơ thể

Trang 20

Theo nhiều kết quả nghiên cứu cho thấy: Mức độ tăng khối lượng hàng ngày của lợn nội rất thấp Đối với lợn Ỉ đực và lợn cái hậu bị từ sơ sinh đến 8 tháng tuổi tăng trọng lần lượt là 104 g và 173 g/ngày, lợn Móng Cái là 179 g

và 197 g/ngày

Các giống lợn ngoại thuần và lợn lai có khả năng tăng trọng cao hơn Đối với lợn Landrace bình quân 5 tháng tăng trọng 621,59 g/ngày với lợn lai 3/4 và 7/8 lần lượt là 522,5 - 525,39 g/ngày (Phùng Thị vân và cs) [37] Bên cạnh đó phương thức chăn nuôi cũng ảnh hưởng nhiều đến khả năng tăng trọng mặc dù trong cùng một giống

Nguyễn Thiện và cs (2005) [34] cho rằng: Giống cũng là một yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến sinh trưởng, phát dục, năng suất và phẩm chất thịt Thông thường các giống lợn nội cho năng suất thấp hơn so với những giống lợn ngoại nhập nội Lợn Ỉ, Móng Cái nuôi 10 tháng tuổi trung bình đạt khoảng 60kg Trong khi đó các giống lợn ngoại (Landrace, Yorkshire…) nuôi tại việt

tỷ lệ nạc sẽ cao hơn và ngược lại nếu chúng ta cho lợn ăn khẩu phần có nhiều bột đường hoặc nhiều chất béo thì tỷ lệ mỡ trong thịt sẽ tăng lên

Trong các chất dinh dưỡng cơ bản thì năng lượng, protein, khoáng và vitamin có vai trò nổi bật

Trang 21

- Nhu cầu về năng lượng

Nhu cầu về năng lượng đối với lợn thường được biểu thị bằng năng lượng trao đổi (ME, kcal/kg) Lợn con cần năng lượng trước tiên đáp ứng nhu cầu duy trì của cơ thể, sau đó là cần năng lượng cho sinh trưởng Lợn con so với các lứa tuổi khác có cường độ trao đổi chất và nhu cầu về năng lượng cao Trong quá trình phát triển của bào thai, dinh dưỡng của mẹ được truyền cho thai nhờ hệ tuần hoàn của nhau thai Khi rời khỏi cơ thể mẹ, nguồn dinh dưỡng đó mất đi một cách đột ngột, đặc biệt là nguồn năng lượng Chính vì vậy trong vòng 30 phút đầu tiên khi đẻ, thân nhiệt của lợn con giảm xuống một cách đột ngột Sau khi đẻ xong, trong vòng một giờ nếu lợn con được bú sữa đầu thì sau 18 - 24 giờ thân nhiệt lợn con mới đạt mức trung bình Ở giai đoạn bú sữa, mức năng lượng cần bổ sung cho lợn con dựa vào lượng sữa của lợn mẹ cung cấp được cho lợn con Ở hai tuần tuổi đầu lợn con hầu như đã được cung cấp đầy đủ năng lượng từ sữa mẹ Từ tuần tuổi thứ ba cần bổ sung thêm thức ăn mới đáp ứng được nhu cầu ngày càng tăng của lợn con, do lượng sữa của lợn mẹ ở 21 ngày tuổi giảm dần Giai đoạn lợn sau cai sữa, hàm lượng năng lượng trong thức ăn cho lợn con cần khá cao Theo Tiêu chuẩn VN - TCVN 1547 - 1994, mức năng lượng trao đổi trong 1kg thức ăn hỗn hợp cho lợn con giai đoạn sau cai sữa cần 3200 kcal/kg

- Nhu cầu về protein và acid amin

Theo Trần Cừ, Nguyễn Khắc Khôi (1985) [3]: Protein là nhóm chất hữu

cơ có phân tử lượng cao và có chứa nitơ Protein đảm nhiệm nhiều chức năng quan trọng và là nguồn nguyên liệu cấu tạo nên tế bào Quá trình sinh trưởng của lợn là quá trình tăng lên của khối lượng protein, hàm lượng protein trong

cơ thể rất cao Các cơ quan bộ phận khác nhau có hàm lượng protein không giống nhau Protein có nhiều nhất trong cơ từ 30 - 35% so với tổng lượng protein trong cơ thể

Trang 22

Lợn con bú sữa có tốc dộ phát triển nhanh về hệ cơ và khả năng tích lũy protein lớn, do đó đòi hỏi về số lượng và chất lượng protein cao Nếu trong khẩu phần thiếu protein thì sinh trưởng của lợn con sẽ giảm hoặc ngừng, khả năng sống kém Nhu cầu protein trong thức ăn bổ sung cho lợn là 16 - 18% Axit amin là thành phần cấu tạo cơ bản của protein Theo Từ Quang Hiển, Phan Đình Thắm (1995) [7] vai trò của axit amin trong cơ thể rất đa dạng, nó là thành phần chủ yếu của protein, nhu cầu protein của cơ thể chính

là nhu cầu về axit amin Cơ thể con vật chỉ có thể tổng hợp nên protein của

nó theo mức cân đối các axit amin trong thức ăn, nhưng axit amin nào nằm ngoài cân đối sẽ bị oxi hóa cho năng lượng Do vậy, nếu cung cấp axit amin theo tỷ lệ cân đối sẽ nâng cao hiệu quả lợi dụng protein, tiết kiệm được protein thức ăn

Một thí nghiệm của Metz nghiên cứu trên lợn sinh trưởng cho biết, với yêu cầu tăng trọng 585 g/con/ngày, nếu khẩu phần cân bằng các axit amin thì protein thô cần 11 - 12%, nhưng nếu khẩu phần mất cân đối axit amin thì cần

20 - 22% protein thô

Yêu cầu về protein thô và protein tiêu hóa trong thức ăn hỗn hợp cho lợn con (Tính theo % khô trong không khí, Tiêu chuẩn Nhật Bản, 1993) khuyến cáo, đối với lợn con 1 - 5 kg là 24 và 22% ; đối với lợn 5 - 10 kg là 22

và 20% ; đối với lợn 10 - 30 kg yêu cầu là 18 và 16% (Trích theo Trần Văn Phùng và cs 2004) [22]

Cùng trích theo Trần Văn Phùng và cs (2004) [22], nhu cầu dinh dưỡng hàng ngày cho lợn (Tiêu chuẩn Nhật Bản, 1993) nhu cầu protein thô và protein tiêu hóa là 53 và 47 g/ngày (đối với lợn 1- 5 kg); 84 và 76 g/ngày (đối với lợn 5 - 50kg); 190 và 166 g/ngày (đối với lợn 10 - 30 kg)

Trong các loại thức ăn hàm lượng các loại protein rất khác nhau Một số loại giàu protein động vật như cá, bột cá, bột thịt, bột máu, tôm, cua, trứng sữa… Một số loại protein thực vật như các loại đậu, đỗ và sản phẩm phụ của nó

Trang 23

- Nhu cầu về khoáng chất

Theo Từ Quang Hiển (2003) [6] gia súc non cần được cung cấp đầy đủ khoáng chất để phát triển bộ xương và đảm bảo cho các quá trình xảy ra trong

cơ thể Nếu tính theo mức tăng trọng thì khoáng chất chiếm 3 - 4% khối lượng

cơ thể tăng Nếu so với bộ xương thì khoáng chất chiếm 26% khối lượng xương tăng

Khả năng sử dụng khoáng chất trong thức ăn của gia súc non tốt hơn gia súc trưởng thành Quá trình trao đổi khoáng mà chủ yếu là trao đổi canxi

và photpho xảy ra mạnh mẽ ở gia súc non Khi gia súc còn non khả năng tích lũy canxi, photpho cao Tuổi càng tăng, khả năng tích lũy giảm Nhìn chung, gia súc non yêu cầu canxi lớn hơn photpho, càng lớn và trưởng thành nhu cầu canxi giảm, nhu cầu photpho tăng lên Để đảm bảo cho quá trình tiêu hóa hấp thụ và sử dụng canxi, photpho được tốt, tránh được hiện tượng còi xương Ở gia súc non cần chú ý cung cấp đầy đủ, cân đối canxi, photpho (đối với gia súc non tỷ lệ Ca/P là 1,5 - 2/1)

- Nhu cầu về vitamin (VTM)

Vitamin là nhóm vi chất dinh dưỡng đóng vai trò xúc tác trao đổi chất Trong các loại vitamin, lợn con rất cần vitamin A và D Vitamin A và D cần thiết cho sinh trưởng lợn con, phát triển bình thường và nhiều chức năng sinh

lý quan trọng khác Thiếu vitamin A và D có thể gây thiếu máu làm cho lợn con còi cọc

Theo Từ Quang Hiển, Phan Đình Thắm (1995) [7] cho biết: Tiêu chuẩn của Tây Đức (DLG) cho kết quả tốt hơn cả gồm vitamin A = 2000 UI/kg thức

ăn, vitamin D = 2500 UI, vitamin E = 10 - 15 mg

- Nhiệt độ và ẩm độ môi trường, ánh sáng

∙ Nhiệt độ

Nhiệt độ môi trường không chỉ ảnh hưởng đến tình trạng sức khỏe mà còn ảnh hưởng đến sinh trưởng phát triển của cơ thể Nếu nhiệt độ môi trường

Trang 24

không thích hợp thì sẽ không thể đảm bảo quá trình trao đổi chất diễn ra bình thường cũng như cân bằng nhiệt của cơ thể lợn Việc đảm bảo nhiệt độ chuồng nuôi thích hợp cho các loại lợn khác nhau phải căn cứ vào khả năng điều tiết thân nhiệt của chúng

Theo Nguyễn Thiện và cs, 1998 [33] thân nhiệt và điều tiết thân nhiệt của lợn con sơ sinh luôn luôn là mối quan tâm nghiên cứu của các nhà chăn nuôi trên thế giới Lợn con mới sinh khả năng điều tiết thân nhiệt kém do nhiều nguyên nhân:

- Hệ thần kinh điều khiển sự cân bằng nhiệt chưa phát triển đầy đủ

- Lớp mỡ dưới da chưa phát triển, lượng mỡ và glycogen trong cơ thể lợn con còn thấp, da mỏng, lông thưa làm cho khả năng chống lạnh càng kém

- Diện tích bề mặt của cơ thể của lợn con so với khối lượng của cơ thể chênh lệch lớn làm cho khả năng mất nhiệt của cơ thể càng lớn

- Ở giai đoạn này do hoạt động của hệ tuần hoàn rất mạnh, nhịp tim lợn con rất nhanh: 200 lần/phút so với lợn trưởng thành chỉ 60 - 80 lần/phút Lưu thông máu cũng cao 150ml máu/phút/kg khối lượng cơ thể trong khi lợn trưởng thành chỉ đạt 30 - 40ml Đây là yếu tố điều tiết thân nhiệt rất quan trọng

Lợn con sẽ bị hạ thân nhiệt nếu được nuôi trong chuồng có nhiệt độ thấp Nếu nhiệt độ chuồng nuôi là 180

C thì thân nhiệt của lợn con sẽ bị hạ xuống 20

C so với ban đầu Nếu nhiệt độ chuồng nuôi là 00C thì lợn con sẽ bị

hạ 40C so với ban đầu Lợn con 6 ngày tuổi bị lạnh, sau đó đưa vào phòng ấm thì thân nhiệt lợn con vẫn tiếp tục giảm xuống 4 phút nữa

Khi nhiệt độ chuồng thấp, lợn sẽ thất thoát nhiệt rất nhiều, (đối với lợn con, tổng lượng nhiệt mất đi trong môi trường có nhiệt độ 210

C lớn hơn 2/3 lần so với môi trường 300

C) vì lẽ đó ở lợn con và lợn nuôi thịt sẽ giảm khả năng tăng khối lượng và tăng lượng tiêu tốn thức ăn cho một kg tăng khối lượng Nhìn chung, khi lợn càng lớn, càng trưởng thành thì cơ quan điều tiết

Trang 25

thân nhiệt càng hoàn thiện, lớp mỡ dưới da càng dày và nhu cầu về nhiệt độ môi trường càng giảm xuống

∙ Ẩm độ

Nhiệt độ chuồng nuôi có liên quan mật thiết với ẩm độ không khí, ẩm

độ không khí thích hợp cho lợn ở vào khoảng 70% Ẩm độ không khí cao bất lợi cho cả lợn lớn và lợn con, đặc biệt khi nhiệt độ môi trường quá cao hoặc quá thấp Đối với lợn con bú sữa, ẩm độ cao luôn là yếu tố gây suy giảm sức khỏe dẫn đến dễ mắc các bệnh đường hô hấp và đường tiêu hóa Trong môi trường ẩm độ cao (80%), vi khuẩn có điều kiện sinh sôi nảy nở rất nhanh Nghiên cứu của E Thompson (1998) cho thấy, ẩm độ không khí 40% thì vi trùng có thể bị chết nhanh gấp 10 lần so với ẩm độ 80% Do đó giữ chuồng nuôi luôn khô ráo là một yêu cầu rất quan trọng trong các công tác phòng bệnh cho lợn

∙ Ánh sáng: Ánh sáng có ảnh hưởng rõ rệt tới sinh trưởng và phát triển

của lợn Khi không đủ ánh sáng sẽ làm ảnh hưởng đến quá trình trao đổi chất của lợn, đặc biệt quá trình trao đổi khoáng Đối với lợn con từ sơ sinh đến 70 ngày nếu không đủ ánh sáng thì tốc độ tăng khối lượng sẽ giảm từ 9,5 - 12% tiêu tốn thức ăn giảm 8 - 9% so với lợn con được vận động dưới ánh sáng mặt trời Do vậy cần thiết kế chuồng nuôi đảm bảo đủ ánh sáng theo nhu cầu của các loại lợn, đặc biệt đối với lợn con và lợn sinh sản

Trang 26

* Sinh trưởng của lợn con cai sữa

* Khối lượng sơ sinh/ổ

Là chỉ tiêu kinh tế kĩ thuật quan trọng, nói lên trình độ kỹ thuật chăn nuôi, đặc điểm của giống và khả năng nuôi thai của lợn nái Khối lượng sơ sinh/ổ là khối lượng được cân sau khi lợn con đẻ ra cắt rốn, lau khô và chưa cho bú sữa đầu Khối lượng sơ sinh/ổ là khối lượng của tất cả lợn con sinh ra còn sống và được phát dục hoàn toàn, khối lượng sơ sinh/ổ cao thì tốt, lợn sẽ tăng trọng nhanh ở các giai đoạn phát triển sau (Nguyễn Thiện và cs, 1998) [33]

Các giống lợn khác nhau cho khối lượng sơ sinh khác nhau Các giống lợn nội (Móng Cái): 0,5 - 0,7 kg/con, lợn Ỉ 0,45 kg/con Lợn ngoại Yorkshire nuôi tại Việt Nam 1,24 kg/con, lợn Duroc 1,2 - 1,5 kg/con (Trần Văn Phùng

và cs, 2004) [22]

Ngoài ra khối lượng sơ sinh có liên quan và tỷ lệ thuận với khối lượng của lợn nái Vì thế trong giai đoạn lợn nái có chửa và nhất là thời gian 20 ngày trước khi đẻ cần chăm sóc nuôi dưỡng cho lợn nái tốt, thức ăn đầy đủ các chất dinh dưỡng như: Protein, vitamin, khoáng để cho thai phát triển tốt Khi khối lượng lợn con sơ sinh cao thì lợn có khả năng sinh trưởng, phát triển nhanh, khối lượng con cai sữa sẽ cao và khối lượng xuất chuồng lớn

* Khối lượng cai sữa/ổ

Trong chăn nuôi lợn con từ khi sơ sinh đến khi cai sữa có một ý nghĩa rất quan trọng vì đó chính là cơ sở vật chất để phát triển đàn lợn nái sinh sản

và nâng cao năng suất chăn nuôi Khối lượng toàn ổ khi cai sữa ảnh hưởng rất lớn tới khối lượng xuất chuồng

Khối lượng cai sữa/ổ của các giống lợn khác nhau cho khối lượng không giống nhau Lợn Móng Cái có khối lượng cai sữa/ổ lúc 2 tháng tuổi là 58,20 - 60,88kg; lợn (Đại Bạch x Móng Cái) có khối lượng 60 ngày/ổ là 61,80

kg (Nguyễn Thiện và cs, 1998) [33]

Trang 27

Khối lượng cai sữa của lợn con cao hay thấp, sức khỏe tốt hay xấu, sinh trưởng phát dục nhanh hay chậm, đều có ảnh hưởng trực tiếp tới đàn giống và khả năng nuôi thịt của lợn sau này Nuôi dưỡng tốt lợn non còn là

cơ sở thuận lợi cho công tác chọn giống, chọn phối, là cơ sở tốt để con vật có thể di truyền khả năng sinh sản cho đời sau

Khối lượng cai sữa có liên quan chặt chẽ tới khối lượng sơ sinh, làm nền tảng và điểm xuất phát cho khối lượng xuất chuồng Vì vậy để có khối lượng cai sữa/ổ cao ta phải chăm sóc, nuôi dưỡng tốt lợn có chửa và lợn con

bú sữa, đặc biệt là bổ sung thức ăn sớm cho lợn con, giúp cho lợn con sinh trưởng phát triển mạnh, giảm sự hao mòn của lợn mẹ, đồng thời làm giảm tỷ

lệ lợn con mắc bệnh và chết xuống mức thấp nhất

* Mối quan hệ giữa khối lượng cai sữa và sinh trưởng sau cai sữa

Các nhà chăn nuôi biết rằng nếu khối lượng sơ sinh tỷ lệ thuận với khối lượng cai sữa, lợn có khối lượng cai sữa lớn sẽ lớn nhanh hơn lợn có khối lượng cai sữa nhỏ, khối lượng cai sữa sẽ ảnh hưởng đến năng suất sau cai sữa Chính vì vậy, nếu khối lượng cai sữa chênh lệch thì khi lợn lớn lên khối lượng chênh lệch sẽ cao

1.1.1.3 Đặc điểm tiêu hóa của lợn con

* Sự phát triển của cơ quan tiêu hóa lợn con

Cơ quan tiêu hóa của lợn con phát triển theo tuổi Theo Knasnhixky,

1951 [52] cho biết : Cơ quan tiêu hóa của lợn con phát triển nhanh hơn các cơ quan khác Khi còn trong bào thai bộ máy tiêu hóa đã hình thành đầy đủ, song dung tích còn bé

Lúc 1 ngày tuổi dạ dày nặng 4 - 5 gam, có thể chứa 25 - 49 gam sữa Ruột non nặng 40 - 50 gam, dài 3,5 - 4m, có thể chứa được 100 - 110 gam sữa

Sau đẻ 10 ngày, khối lượng dạ dày tăng lên gấp 3 lần vào khoảng 15 gam, dung tích ruột non tăng gấp 2 lần, ruột già phát triển mạnh

Trang 28

Thời gian bú sữa, cơ quan tiêu hóa phát triển nhanh, dạ dày tăng 50 -

60 lần, chiều dài của ruột tăng 4 - 5 lần, dung tích tăng 40 - 50 lần

Sự gia tăng của bộ máy tiêu hóa có liên quan đấn khả năng tiêu hóa Xellulo và th c ăn bổ sung

* Đặc điểm sinh lý tiêu hóa của lợn con

- Đặc điểm chung

Khi lợn còn nhỏ các cơ quan chưa thành thục về chức năng, đặc biệt là

hệ thần kinh cho nên chúng phản ứng chậm chạp với các yếu tố tác động Do vậy cơ quan tiêu hóa rất dễ bị bệnh rối loạn tiêu hóa

Ở lợn con giai đoạn không có axit clohyđric trong dạ dày, nhờ vậy mới tạo được khả năng thẩm thấu các kháng thể có trong sữa đầu của lợn mẹ Trong giai đoạn này dịch vị không có hoạt tính phân giải protein mà chỉ làm vón sữa đầu và sữa huyết thanh chứa albumin và globulin được chuyển xuống ruột và thẩm thấu vào máu

Giai đoạn 14 -16 ngày tuổi thì thiếu axit clohyđric ở dạ dày không còn

là trạng thái sinh lý bình thường nữa Do vậy cần cho lợn con tập ăn sớm, cai sữa sớm rút ngắn được giai đoạn thiếu axit clohyđric, hoạt hóa hoạt động tiết dịch tạo khả năng xây dựng nhanh chóng các đáp ứng miễn dịch của chúng

Khi phát triển bình thường, trong đường ruột của gia súc có nhiều loại

vi khuẩn nhất là vi khuẩn axit lactic, vi khuẩn bifidium và một số cầu khuẩn đường ruột đối kháng mạnh với vi khuẩn phó thương hàn, với proteusvulgaris và các vi khuẩn thối rữa Cơ chế đối kháng này sinh ra là nhờ hoạt tính của axit lactic

đã có tác dụng ngăn chặn sự hoạt động của nhiều loại vi khuẩn có hại

Ở lợn con mới sinh hệ vi sinh vật đường ruột chưa phát triển, chưa đủ

số lượng vi khuẩn có lợi, chưa đủ khả năng kháng lại vi khuẩn gây bệnh cho nên dễ bị mắc bệnh đường tiêu hóa Đây chính là một đặc điểm quan trọng,

do vậy ta chủ động có các biện pháp phòng bệnh cho lợn con mới sinh bằng

Trang 29

cách bổ sung các chế phẩm sinh học có lợi vào đường ruột để sớm tạo ra sự cân bằng hệ vi sinh vật đường ruột làm giảm các bệnh đường tiêu hóa

Theo Trần Cừ, 1972 [2] thì hệ vi sinh vật đường ruột ở lợn con phát triển rất kém so với bê nghé, vì vậy lợn con hay mắc bệnh đường ruột hơn bê nghé, nên việc phòng bệnh cần chú trọng đặc biệt hơn bê nghé

- Đặc điểm tiêu hóa ở dạ dày lợn con:

Theo Từ Quang Hiển và Phan Đình Thắm, 1995 [7] thì lợn con dưới 1tháng tuổi trong dịch vị không có axit clohyđric tự do, nguyên nhân do lượng axit tiết ra ít và nhanh chóng liên kết với miễn dịch, hiện tượng này gọi

là hypoclohyđric và là đặc điểm quan trọng trong tiêu hóa dạ dày lợn con Do thiếu HCl tự do trong dịch vị nên vi sinh vật có hại phát triển gây bệnh trong

dạ dày và đường ruột của lợn con

Thiếu HCl cho nên men pepxin không hoạt động hoặc có hoạt động nhưng rất yếu kém

Tác dụng tiêu hóa lúc này thuộc về men kimozin Men này tăng dần lên

từ sơ sinh đến 1 tháng tuổi sau đó giảm xuống vì lúc này men pepxin đã có khả năng hoạt động và tiết ra tăng dần lên

- Đặc điểm sinh lý tiêu hóa ở ruột

Theo Kvasnhixky, 1951 [52] lợn con 20 - 30 ngày tuổi, dịch tụy phân tiết trong 1 ngày đêm là 150 - 300 ml Sự phân tiết dịch tụy tăng theo lứa tuổi:

Ở 40 ngày tuổi là 460 ml, 3 tháng tuổi là 3,5 lít và từ 7 tháng tuổi là 10 lít Sự biến đổi khả năng phân tiết dịch tụy theo tuổi trái với sự biến đổi theo tuổi của dịch vị trong thời kì thiếu HCl, hoạt tính của dịch tụy rất cao bù lại khả năng tiêu hóa kém của dạ dày

Nhiều tài liệu cho thấy tác dụng của dịch ruột ở lợn con mới đẻ rất cao trong việc tiêu hóa các chất lactose, protein và mỡ sữa

Trang 30

Dịch mật cũng có tác dụng quan trọng vì trong sữa lợn mẹ có nhiều lipit, dịch mật xúc tiến quá trình tiêu hóa lipit và tăng cường nhu động ruột

1.1.1.4 Hệ vi sinh vật đường tiêu hóa lợn

* Hoạt động của hệ vi sinh vật đường tiêu hóa lợn

Ở dạ dày và ruột của động vật mới sinh ra chưa có vi khuẩn, sau đó vài giờ mới thấy một vài loại vi khuẩn và từ đó chúng bắt đầu sinh sản dần Hàng ngày một số loại vi khuẩn khác theo thức ăn vào ruột, sống và sinh sôi nảy nở

ở đó, chúng có thể bị biến đổi ít nhiều nhưng căn bản vẫn sống cho đến khi con vật chết Thành phần số lượng và chất lượng của hệ vi sinh vật thay đổi tùy theo loại thức ăn, nếu thức ăn chứa nhiều gluxit thì vi khuẩn tạo axit trong ruột rất phát triển Vi sinh vật theo thức ăn vào ruột sẽ chịu một tác động rất lớn, một phần chết đi, một phần thích nghi với điều kiện mới và sinh sản rất nhanh Có thể chia vi sinh vật thành 2 loại “vi sinh vật tùy tiện” thay đổi tùy theo điều kiện thức ăn và loại “vi sinh vật bắt buộc” loại này thích nghi ngay được với môi trường đường ruột và dạ dày trở thành loại định cư vĩnh viễn

Hệ vi sinh vật bắt buộc bao gồm: Streptococcus, lactic, lactobacterium acid ophilum, trực khuẩn lactic, E.coli (trực khuẩn ruột già), trực khuẩn đường ruột, mặc dù môi trường có độ ẩm chất dinh dưỡng thuận tiện cho vi sinh vật phát triển nhưng sự sinh sản của chúng vẫn có giới hạn vì trong đường ruột và trong dạ dày có những chất đặc biệt nên kìm hãm sự phát triển của vi khuẩn đường ruột và vi khuẩn gây thối như mật, dịch vị của dạ dày trong tá tràng, tác động đối kháng của các loại vi khuẩn khác nhau Phan Thanh Phượng và cs,1997 [23] cho rằng có thể khống chế bệnh ỉa phân trắng lợn con bằng chế phẩm vi sinh vật

- Hệ vi sinh vật của dạ dày: Vi sinh vật có trong dạ dày tương đối ít do tác động diệt khuẩn của dịch vị trong dạ dày, nó gồm những vi khuẩn làm nên men (Oidium lactic, Saccharomyces minor), trực khuẩn lactic (lactobacillus beljerincke …) Ngoài ra trực khuẩn phó thường hàn đi qua dạ dày xuống ruột

Trang 31

- Hệ vi sinh vật của ruột non: Ruột non chiếm 2/3 - 2/5 chiều dài ruột nhưng lượng vi khuẩn lại rất ít Khi dịch vị dạ dày vào ruột non vẫn còn tác động sát khuẩn, ngoài ra dịch ruột còn do niêm mạc bài tiết ra cũng có tác động sát khuẩn ….Ở ruột non có chứa một số ít vi khuẩn có trong dạ dày xuống Trong ruột non chủ yếu có vi khuẩn E.coli, cầu khuẩn, trực khuẩn hiếu khí, yếm khí, có nha bào, Aerobacter aerogenes Ở gia súc non có thêm Streptococus lactic, trực khuẩn lactic Latobacterium bulgarim, từ hồi tràng số lượng vi khuẩn bắt đầu tăng lên

- Hệ vi sinh vật của ruột già: Số lượng vi khuẩn trong ruột già cao lên nhiều so với ruột non Hệ vi sinh vật chủ yếu là E.coli, cầu khuẩn ruột eaterococcus, trực khuẩn có nha bào, ở gai súc trưởng thành E.coli chiếm 75% trở lên Trong ruột già của động vật cùng với hệ sinh vật hoại sinh còn thấy các loại vi khuẩn gây bệnh nhưng chưa thể hiện bằng triệu chứng lâm sàng: Vi khuẩn phó thương hàn, vi khuẩn Brucella, uốn ván…(Nguyễn Vĩnh Phước, 1980 [24])

- Trong đường ruột của gia súc, hệ sinh vật luôn ổn định, đảm bảo trạng thái cân bằng cho hoạt động của đường ruột Khi hệ vi sinh vật đường ruột được cân bằng thì những vi sinh vật có lợi phần lớn là vi khuẩn lactic sẽ phát triển mạnh, vi khuẩn này chiếm 90% hoạt động hữu ích cho đường ruột (Đào Trọng Đạt và cs, 1995 [4]) Nếu sự cân bằng bị phá vỡ thì những vi khuẩn có hại cạnh tranh phát triển gây rối loạn đường tiêu hóa, gây tiêu chảy (nhất là ở lợn con theo mẹ), loại vi khuẩn thường gặp là E.coli, Salmonelle…

* Tác động qua lại của các vi sinh vật đường tiêu hóa

Nhiều công trình nghiên cứu của Metchnikotf và nhiều tác giả khác đầu thế kỷ này cho rằng, quần thể vi sinh vật tiêu hóa của súc vật rất phong phú trong trạng thái cân bằng của cơ thể và những loại vi sinh vật chính trong quần thể đó dược xác định như sau:

Trang 32

- Nhóm hệ phổ chính : > 90%, phần lớn là những vi khuẩn kỵ khí bắt buộc, phần lớn là Bificlobacterium lactobacillus sản sinh axit lactic, Bacteriodaceae, Eubacterium sản sinh ra axit béo bay hơi

- Nhóm hệ phổ vệ tinh : < 1% vi khuẩn kỵ khí không bắt buộc: E.coli, Enterococcus

- Nhóm hệ phổ còn lại (< 0,01%): Clostridium, Proteus, Pseudomonas Staphylococcus, nấm men thuộc chi Candida cũng như vi khuẩn gây bệnh tùy tiện và không gây bệnh khác

Sự cân bằng của quần thể vi sinh vật đóng góp nhiều cho động vật chủ, tất cả những rối loạn của sự điều tiết sinh học đó xảy ra vào những giai đoạn chăn nuôi nhất định, thường biểu hiện thành tai biến bệnh học hay là mắc bệnh Sự cân bằng của hệ vi sinh vật đường tiêu hóa phụ thuộc mối quan hệ giữa 4 yếu tố :

- Động vật chủ với môi trường sống của chúng

- Dạ dày, ruột với các cơ quan phụ của chúng

- Thức ăn, nước uống, các sản phẩm tiêu hóa và phân của vật chủ

- Hệ sinh thái vi sinh vật tại chỗ tạo nên hệ sinh thái tiêu hóa Trong hệ sinh thái này luôn có sự tác động qua lại phức tạp của các yếu tố trên và có ảnh hưởng lẫn nhau

Khi cơ thể gặp những tác động tấn công khác, sai sót về chế độ dinh dưỡng, mọi sự mất cân bằng đột ngột về dinh dưỡng hay sai sót trong dùng thuốc điều trị nhất là kháng sinh hoặc trong trường hợp bệnh mà các đáp ứng miễn dịch bị thay đổi thì hệ vi sinh vật trong đường tiêu hóa bị mất cân đối gây ra rối loạn tiêu hóa Nếu nội tại vi sinh vật bị phá vỡ, khả năng kháng nhiễm

bị yếu hoặc mất hoàn toàn thì các vi sinh vật sẽ sinh độc lực và gây bệnh

Vì vậy sự tác động qua lại giữa hệ vi sinh vật đối kháng hay hiệp đồng cuối cùng sẽ tạo nên sự bền vững, cũng có thể loại bỏ được chủng khác,

Trang 33

không kể thứ tự ra sao ngăn cản được một cách đơn giản sự phát triển của bất

kỳ chủng vi khuẩn nào vào tiếp theo Hiệu quả của hàng rào vi sinh vật cũng

có tác động tới những vi khuẩn không gây bệnh khi chúng được đưa vào đường tiêu hóa với khối lượng lớn qua thức ăn (Đào Trọng Đạt và cs, 1995 [4])

* Vai trò của vi sinh vật trong tiêu hóa của lợn

Trong đường ruột và dạ dày thường xảy ra hoạt động của vi sinh vật phức tạp liên quan đến sự phân giải của các chất dinh dưỡng Các chất hydratcacbon của thức ăn dưới sự tác động của vi khuẩn lên men axit lactic sẽ

bị phân giải tạo thành axit lactic, axit axetic, propionic (và một số axit béo khác và khí CO2, NH4, H2S) Sự hoạt động của vi khuẩn xelluloz theo thức

ăn và sự hoạt dộng của vi khuẩn xellulo bị yếu dần khi thức ăn được chuyển sang ruột non, tá tràng và phần đầu của ruột già Chất tinh bột được phân giải

là do các vi khuẩn bài tiết men amilaza chúng có vai trò quan trọng trong việc phân giải chất hữu cơ, sử dụng một phần để tổng hợp protit cần thiết cho cấu tạo cơ thể của chúng Rất nhiều loại vi khuẩn đường ruột có khả năng đồng hóa amoniac và các axit amin để làm tăng sinh khối vi sinh vật trong đường tiêu hóa

Ngoài ra một số vi khuẩn đường ruột có khả năng tạo thành vitamin nhóm B như Bacillus subtilis, Bac.vulgaris, Bac.coli

Các loại vitamin được tổng hợp sẽ vào môi trường xung quanh hoặc được giữ lại trong cơ thể vi khuẩn Ngoài ra vi khuẩn còn tổng hợp được vitamin B5 (a.nicotinic)

Trong quá trình phát triển bình thường, ở đường ruột của gia súc có nhiều loại vi khuẩn nhất là vi khuẩn sinh ra axit lactic và một số cầu khuẩn đường ruột đối kháng mạnh với vi khuẩn phó thương hàn, với proteus vulgaris và các vi khuẩn sinh thối rữa Có sự đối kháng này là nhờ hoạt tính của axit lactic đã có tác động ngăn chặn sự hoạt động của nhiều loại vi khuẩn

Trang 34

gây bệnh và gây thối rữa Nhiều thực nghiệm còn xác nhận rằng nhiều loại vi khuẩn đường ruột đã sinh ra các chất kháng sinh ức chế được sự phát triển của

vi trùng gây bệnh

1.1.2 Khả năng đồng hóa và trao đổi chất của lợn con

Do sinh trưởng phát dục nhanh nên khả năng đồng hóa, trao đổi vật chất của lợn con rất mạnh Chúng ta đã biết rằng ở lợn con 20 ngày tuổi mỗi ngày tích lũy được 9 - 10 gr protit /1kg khối lượng cơ thể, đến lúc trưởng thành chỉ tích lũy được 0,3 - 0,4gr protit /1kg khối lượng cơ thể Qua đó ta biết rằng khả năng tích lũy Nitơ (N) của lợn con rất lớn Sức hấp thụ có liên quan với quá trình hình thành biểu mô tế bào ruột của lợn con

Ở những ngày đầu mới đẻ xảy ra quá trình hấp thu Immunoglobulin và những tiểu phần protein khác của sữa mẹ, cũng như sữa bò bằng con đường vận chuyển chọn lọc, còn lại những tiểu phẩn protein chưa tiêu hóa và lipit nhũ hóa được hấp thụ bằng ẩm bào là chủ yếu

Nhờ đó mà Immunoglobulin sau khi đẻ đã tăng lên trong máu (từ 3,5

-4, 6 - 7%) Những tiểu phần protein sữa tuần hoàn trong máu không gây nguy hiểm với lợn con vì trong thời gian này lợn con chưa hình thành kháng thể bản thân và protein không phải là kháng nguyên

Sự hình thành miễn dịch của lợn con xuất hiện sau 1 tháng tuổi Đến thời gian này khả năng thẩm thấu qua màng ruột của chất đại phân tử hầu như

bị ngừng hoàn toàn Quá trình đồng hóa xảy ra ở nồng độ tương đối thấp, nồng độ đường hòa tan trong nước thay đổi nhiều sau khi ăn

Khả năng đồng hóa trao đổi chất của lợn con còn phụ thuộc rất lớn vào các loại thức ăn Các loại thức ăn khác nhau ảnh hưởng không giống nhau đến

sự tiết dịch tiêu hóa Khi cho ăn thức ăn nhiều nước làm giảm khả năng tiết nước bọt, nếu pha loãng thức ăn theo tỷ lệ 1 : 3 nghĩa là thức ăn gần loãng thì nước bọt hầu như không tiết (Trần Cừ và Nguyễn Khắc Khôi,1985) [3]

Trang 35

Lợn cũng như các động vật khác có sự sinh nhiệt và tỏa nhiệt của cơ thể Hai quá trình này luôn luôn biến đổi do mối quan hệ giữa cá thể và môi trường Cơ thể lợn luôn duy trì một sự cân bẳng nhiệt với môi trường sống ở một nhiệt độ thấp hơn nhiệt độ cơ thể chẳng hạn: Lợn con có thể chống lạnh bằng cách nâng cao hơn sự chuyển hóa cơ bản và tăng sinh nhiệt Nhưng quá trình này không thể kéo dài được Cơ thể lợn có thành phần của lipit, nhưng lipit này tiêu hao rất nhanh nên dễ nhanh chóng mất nhiệt và bị lạnh, khi nguồn nhiệt năng tăng bị giảm đi

Forttner, 1968 [43] đã nghiên cứu các thành phần protein huyết thanh ở lợn 2 - 3 tuần và 7 tuần tuổi cho kết quả sau (bảng 2.1)

Bảng 2.1: Thành phần protein huyết thanh ở lợn con

Các thành phần protein 2-3 tuần tuổi 7 tuần tuổi

1.1.3 Đặc điểm về điều tiết thân nhiệt và miễn dịch

* Đặc điểm về điều tiết thân nhiệt

Theo Nguyễn Thiện và cs, 1998 [33] thân nhiệt và điều tiết thân nhiệt của lợn con sơ sinh, bú sữa luôn luôn là mối quan tâm nghiên cứu của các nhà

Trang 36

chăn nuôi ở các vùng ôn đới và nhiệt đới khác nhau trên thế giới Lợn con mới sinh khả năng điều tiết thân nhiệt rất kém do nhiều nguyên nhân

- Hệ thần kinh điều khiển sự cân bằng nhiệt chưa phát triển đầy đủ Trung khu điều tiết nhiệt nằm ở vỏ đại não nhưng não lại phát triển chậm cả ở giai đoạn trong thai và ngoài thai

- Lớp mỡ dưới da chưa phát triển, lượng mỡ và glycogen trong cơ thể lợn con còn thấp, da mỏng, lông thưa làm cho khả năng chống lạnh càng kém

- Diện tích bề mặt của cơ thể lợn con so với khối lượng của cơ thể chênh lệch lớn làm cho khả năng mất nhiệt của cơ thể càng lớn

- Ở giai đoạn này do hoạt động của hệ tuần hoàn rất mạnh Nhịp tim lợn con rất nhanh: 200 lần/phút, so với lợn lớn chỉ 60 - 80 lần/phút Lưu thông máu cũng cao 150ml máu/phút/1kg trọng lượng cơ thể trong khi lợn trưởng thành chỉ đạt 30 - 40ml Đây là yếu tố điều tiết thân nhiệt rất quan trọng

Lợn con dưới 3 tuần tuổi khả năng điều tiết thân nhiệt rất kém, nhất là tuần đầu sau khi đẻ Lợn con sẽ bị hạ thân nhiệt nếu được nuôi trong chuồng

có nhiệt độ thấp, nếu nhiệt độ chuồng nuôi là 180C thì thân nhiệt lợn con sẽ hạ xuống 20

C so với ban đầu, nếu nhiệt độ chuồng nuôi là 00C thì thân nhiệt của lợn con sẽ bị hạ xuống là 40C so với ban đầu Lợn con 6 ngày tuổi bị lạnh sau

đó đưa vào phòng ấm thì thân nhiệt lợn con vẫn tiếp tục giảm xuống 4 phút nữa Nếu lợn con đã 20 ngày tuổi thì hiện tượng trên không xảy ra Khối lượng sơ sinh lớn hay nhỏ đều không ảnh hưởng tới sự tăng giảm thân nhiệt của lợn con Lợn con có khối lượng sơ sinh lớn, mà nuôi trong chuồng có nhiệt độ thấp thì vẫn giảm thân nhiệt so với lợn có khối lượng sơ sinh thấp mà nuôi trong chuồng có nhiệt độ cao hơn Những dẫn chứng đều cho thấy lợn con sơ sinh trong vòng 3 tuần lễ đầu, khả năng điều tiết thân nhiệt kém Do vậy chúng phải được sưởi ấm ở thời kỳ sơ sinh đến 3 tuần đầu Sau 3 tuần lễ,

cơ quan điều tiết thân nhiệt của lợn đã tương đối được ổn định, thân nhiệt của lợn đã lên đến 390

C - 39,50C

Trang 37

* Đặc điểm về miễn dịch

Theo Nguyễn Thiện và cs, 1998 [33], khả năng miễn dịch của lợn con trước 21 ngày tuổi là sự miễn dịch hoan toàn thụ động, phụ thuộc vào lượng kháng thể có trong sữa đầu của lợn mẹ Trong máu lợn con mới sinh hầu như chưa có kháng thể Lượng γ - Globulin trong máu chỉ có 1,3 mg Sau khi bú sữa đầu 24h, lượng γ - Globulin tăng lên 20,3 mg/100ml máu Sữa đầu của lợn có hàm lượng protein cao từ 12 - 16% trong đó hàm lượng γ - Globulin chiếm 34 - 45% Phân tử γ - Globulin có khả năng thẩm thấu qua thành ruột lợn trong 24h sau khi đẻ nhờ trong sữa đầu có men antitrypsin làm mất hoạt lực của men trypsin tuyến tụy và khoảng cách giữa các tế bào vách ruột của lợn con khá rộng Sau 24 giờ lượng antitrypsin giảm, khoảng cách giữa các tế bào vách ruột lợn con hẹp lại cho nên lượng hấp thu γ - Globulin kém đi Đến

3 tuần tuổi hàm lượng γ - Globulin chỉ đạt 24 mg/100ml máu Trong khi máu của lợn trưởng thành γ - Globulin có khoảng 65 mg/100ml máu Sau 3 tuần lễ lợn con mới có khả năng tự tổng hợp γ - glubuline Do đó lợn con uống sữa đầu là vô cùng quan trọng để tăng sức đề kháng Lợn con không được bú sữa đầu sẽ chậm lớn, dễ mắc bệnh dịch, tỷ lệ chết cao

1.1.4 Sự phát triển các thành phần của cơ thể lợn con

Thành phần của cơ thể biến đổi theo tuổi :

- Thí nghiệm của Wood cho ta thấy rằng muốn sản xuất được 1 pound

lipit cần có 4268 Kcal và muốn sản xuất được 1 pound protit chỉ cần 2633 Kcal Do đó lợn muốn tăng trưởng được 1kg khối lượng cơ thể thì tiêu tốn ít thức ăn hơn lợn lớn

Trang 38

Đến 35 ngày tuổi lượng nước trong cơ thể chỉ còn 69,7%, protit 14,2%,

mỡ chiếm 13,0%, khoáng 3,4 %

Đến 55 ngày tuổi lượng nước trong cơ thể chỉ còn 63,9%, protit 12,3%,

mỡ chiếm 20,3, khoáng 2,3 %

Lượng nước trong cơ thể giảm dần theo chiều tăng của từng tuần tuổi

Bảng 2.2: Thành phần của cơ thể lợn con từ sơ sinh đến 10 tuần tuổi

Qua số liệu ở bảng ta thấy :

- Hàm lượng nước của cơ thể lợn con giảm theo tuổi

- Hàm lượng lipit tăng nhanh từ mới sơ sinh đến 3 tuần tuổi

- Hàm lượng protit cũng tăng theo tuổi với những tỷ lệ nhất định

- Hàm lượng khoáng biến đổi liên quan đến quá trình tạo xương

- Hàm lượng khoáng trong cơ thể lợn con vào sữa mẹ biểu thị đặc điểm quá trình trao đổi khoáng

1.1.5 Khả năng tiết sữa của lợn mẹ

Khả năng tiết sữa của lợn mẹ là chỉ tiêu nói lên đặc điểm của giống Giống khác nhau thì khả năng tiết sữa cũng khác nhau

Ngày nay người ta dùng phương pháp lấy khối lượng toàn ổ lúc 21 ngày tuổi hoặc 45 ngày tuổi tùy theo thời gian cai sữa, làm chỉ tiêu đo khả năng tiết sữa của lợn mẹ

Trang 39

Đường cong tiết sữa của lợn, thông thường đạt cao nhất vào khoảng 21 ngày sau khi đẻ, sau đó giảm dần

Để lợi dụng khả năng tiết sữa của lợn mẹ người ta thường cho cai sữa sớm vào sau ngày 21, hoặc ngày thứ 28, hoặc ngày thứ 42… tùy theo trình độ chăn nuôi của từng cơ sở (Nguyễn Thiện và cs, 1996 [32])

Theo Trịnh Văn Thịnh, 1982 [36] và cùng nhiều tác giả khác cho rằng thức ăn đầu tiên của lợn con là sữa đầu Sữa đầu có màu trong hơi vàng và đặc biệt tiết ra 2 - 3 ngày đầu sau khi đẻ Trong sữa đầu các thành phần hóa học đều đậm đặc hơn sữa thường : Lượng protein gấp 3 lần sữa thường (17 -

18 % so với 5 - 6%) Trên 50% protein của sữa đầu là glubuline, đặc biệt là γ

- glubuline Hàm lượng γ - glubuline giảm rất nhanh, sau 12 giờ đã giảm đi 3/4, glubuline là thành phần quan trọng trong việc chống đỡ bệnh tật của lợn con sơ sinh

- Theo Trần Cừ và cs, 1985 [3] cho rằng lượng sữa lợn mẹ có liên quan chặt chẽ với sự phát triển của tuyến vú trong thời kỳ chửa cũng như sau khi đẻ một thời gian Trong thời kỳ chửa sự phát triển của tuyến vú chịu tác động của các hormon các tuyến nội tiết, tuyến sinh dục, tuyến yên, tuyến thượng thận Sau khi đẻ nó phụ thuộc vào số lượng con

Qua nhiều thí nghiệm nghiên cứu thấy rằng: Lượng sữa mẹ thay đổi tùy theo mức độ dinh dưỡng, giống lợn, số lượng con…

Trong kỳ tiết sữa (60 ngày) lượng sữa qua các tuần tuổi có khác nhau Lượng sữa nhiều nhất là ở tuần tuổi thứ 2 và 3

Lợn nái có thể tiết chừng 300 lít sữa (60 ngày) trong thời kỳ tiết sữa lợn con có thể cho bú được chừng 30kg sữa, bình quân mỗi ngày là 550 gam,và mỗi lần bú là 20 - 25 gr

Sữa lợn mẹ có chất lượng cao, chứa đầy đủ các chất dinh dưỡng cần thiết, là loại thức ăn lý tưởng của lợn con

Trang 40

- Trong thành phần protein của sữa đầu có 11,29% protein huyết thanh

và 5% cazein

- Protein huyết thanh có preanbumin (protein đặc hiệu của sữa) 13,17

%, anbumin 11,48%, α - globulin 2,74 %, β - globulin 11,29%, γ: 45,29%, γ - glubulin thực hiện chức năng miễn dịch

Thành phần lipit trong sữa lợn rất giống lipit tích lũy trong cơ thể Điều

đó chứng tỏ lipit trong cơ thể lợn được dùng để tạo thành mỡ sữa ở tuyến vú của lợn

Do mức độ dinh dưỡng (nhiệt lượng thu vào) trong thời kỳ chửa và tiết sữa cơ thể ảnh hưởng đến hàm lượng lipit trong sữa

Hàm lượng các chất khoáng trong sữa ít biến đổi tuy có khuynh hướng hơi tăng vào cuối thời kỳ tiết sữa (chủ yếu là canxi và photopho) hàm lượng khoáng toàn phần trong sữa lợn là 7 - 9 g/kg sữa

Trong sữa đầu và sữa thường của lợn mẹ có chứa nhiều vitamin (trong sữa đầu chứa nhiều trong VTM: A, D, C, B1, B2, PP, B6, B12, Biotin, axit pantotenic)

- Theo Từ Quang Hiển và cs, 1995 [7] : Khả năng tiết sữa của lợn mẹ giảm rõ rệt sau 3 tuần tiết sữa nuôi con Đồng thời hàm lượng các chất khoáng, đặc biệt là Fe, Ca còn rất ít, không đáp ứng đủ nhu cầu dinh dưỡng của lợn con Lúc này mâu thuẫn giữa khả năng cung cấp sữa của lợn mẹ và nhu cầu dinh dưỡng của lợn con nảy sinh Đó cũng là lúc ta cần bổ sung thức

ăn sớm cho lợn con (ngoài sữa)

- Theo Từ Quang Hiển và cs, 1995 [7] : Nhất thiết lợn con sơ sinh phải được bú sữa đầu giúp cho lợn con có sức đề kháng chống bệnh Trong sữa đầu có albumin, PP, và globulin cao hơn sữa thường đây là chất chủ yếu giúp cho lợn con có sức đề kháng Vì thế cần chú ý cho lợn con sơ sinh bú sữa trong 3 ngày đầu, bảo đảm được toàn bộ số con trong ổ được bú hết lượng sữa đầu của lợn mẹ

Ngày đăng: 10/10/2014, 02:12

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đỗ Trung Cứ, Nguyễn Quang Tuyên (2000), “Sử dụng chế phẩm EM phòng bệnh tiêu chảy ở lợn con trước và sau cai sữa”, Hội chăn nuôi Việt Nam (số 1) tr 19 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Sử dụng chế phẩm EM phòng bệnh tiêu chảy ở lợn con trước và sau cai sữa”
Tác giả: Đỗ Trung Cứ, Nguyễn Quang Tuyên
Năm: 2000
2. Trần Cừ (1972), Cơ sở sinh lý của nuôi dưỡng lợn con, NXB KHKT - Hà Nội, Tr. 16 - 18 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở sinh lý của nuôi dưỡng lợn con
Tác giả: Trần Cừ
Nhà XB: NXB KHKT - Hà Nội
Năm: 1972
3. Trần Cừ, Nguyễn Khắc Khôi (1985), “Cơ sơ sinh học và biện pháp nâng cao năng suất của lợn”, NXB Nông nghiệp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Cơ sơ sinh học và biện pháp nâng cao năng suất của lợn”
Tác giả: Trần Cừ, Nguyễn Khắc Khôi
Nhà XB: NXB Nông nghiệp Hà Nội
Năm: 1985
4. GS.PTS. Đào Trọng Đạt - PGS. TS. Phan Thanh Phƣợng - PTS. Lê Ngọc Mỹ, Bệnh đường tiêu hóa ở lợn, NXB nông nghiệp Hà Nội, 1995. Tr 25 - 28, 39, 52, 112, 125, 148, 149, 158, 161, 162, 170, 172, 176, 189, 221, 229, 233 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh đường tiêu hóa ở lợn
Nhà XB: NXB nông nghiệp Hà Nội
5. Vũ Duy Giảng, Nguyễn Thị Lương Hồng, Tôn Thất Sơn (1997), “Dinh dưỡng và thức ăn gia súc”, NXB Nông nghiệp Hà Nội trang 184,198 Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), “Dinh dưỡng và thức ăn gia súc”
Tác giả: Vũ Duy Giảng, Nguyễn Thị Lương Hồng, Tôn Thất Sơn
Nhà XB: NXB Nông nghiệp Hà Nội trang 184
Năm: 1997
6. Từ Quang Hiển (2003), Giáo trình chăn nuôi lợn, Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình chăn nuôi lợn
Tác giả: Từ Quang Hiển
Năm: 2003
7. Từ Quang Hiển, Phan Đình Thắm (1995), “Nhu cầu một số vitamin của lợn con”, Giáo trình thức ăn và dinh dưỡng cho gia súc (Sau Đại học),Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhu cầu một số vitamin của lợn con”, "Giáo trình thức ăn và dinh dưỡng cho gia súc (Sau Đại học)
Tác giả: Từ Quang Hiển, Phan Đình Thắm
Năm: 1995
8. Từ Quang Hiển, Phan Đình Thắm, Ngôn Thị Hoán (2001), “Giáo trình thức ăn và dinh dưỡng cho gia súc”, NXB nông nghiệp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Giáo trình thức ăn và dinh dưỡng cho gia súc”
Tác giả: Từ Quang Hiển, Phan Đình Thắm, Ngôn Thị Hoán
Nhà XB: NXB nông nghiệp Hà Nội
Năm: 2001
9. Cao Thị Hoa (1999) Nghiên cứu ứng dụng chế phẩm EM trong chăn nuôi lợn con theo mẹ tại Thái Nguyên, Luận văn Đại học trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu ứng dụng chế phẩm EM trong chăn nuôi lợn con theo mẹ tại Thái Nguyên
10. Joed.Hancock (1996), “Hướng dẫn về dinh dưỡng của lợn” Chăn nuôi lợn hướng nạc và gà công nghiệp, Trường Đại học bang Kansas, Hội chăn nuôi Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn về dinh dưỡng của lợn” "Chăn nuôi lợn hướng nạc và gà công nghiệp
Tác giả: Joed.Hancock
Năm: 1996
11. Khootenghuat (1995), Những bệnh tiêu hóa và hô hấp ở lợn, hội thảo khoa học Hà Nội 10- 11/3, 1995 cục thú y, tr 2- 13 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những bệnh tiêu hóa và hô hấp ở lợn, hội thảo khoa học Hà Nội 10- 11/3
Tác giả: Khootenghuat
Năm: 1995
13. Nguyễn Thị Liên, Nguyễn Quang Tuyên (2000), Giáo trình vi sinh vật học chăn nuôi, NXB Nông nghiệp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình vi sinh vật học chăn nuôi
Tác giả: Nguyễn Thị Liên, Nguyễn Quang Tuyên
Nhà XB: NXB Nông nghiệp Hà Nội
Năm: 2000
14. Phạm Thị Hiền Lương, Phan Đình Thắm (2008), Giáo trình tổ chức học, phôi thai học, NXB Nông nghiệp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình tổ chức học, phôi thai học
Tác giả: Phạm Thị Hiền Lương, Phan Đình Thắm
Nhà XB: NXB Nông nghiệp Hà Nội
Năm: 2008
15. Trần Đình Miên, Nguyễn Kim Đường (1978), Chọn giống và nhân giốn gia súc, Giáo trình cho các trường đại học, NXB Nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chọn giống và nhân giốn gia súc
Tác giả: Trần Đình Miên, Nguyễn Kim Đường
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 1978
16. Trần Đình Miên, Nguyễn Hải Quân, Vũ Kích Trực (1975), “Giáo trình chọn giống và nhân giống gia súc”, NXB Nông nghiệp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Giáo trình chọn giống và nhân giống gia súc”
Tác giả: Trần Đình Miên, Nguyễn Hải Quân, Vũ Kích Trực
Nhà XB: NXB Nông nghiệp Hà Nội
Năm: 1975
17. Hồ Văn Nam, Trương Quang, Nguyễn Thị Đào Nguyên, Chu Đức Thắng, Phạm Ngọc Thạch, Phùng Quốc Chướng, Báo cáo viêm ruột lợn con.Đề tài cấp bộ 1996 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo viêm ruột lợn con
18. Nguyễn Thị nga, Quý Khiêm, Lê Thị Thu Hiền, Lưu Xuân Phúc, Nguyễn Mạnh Hùng, Đỗ Thị Nhung, Phạm Thị Hường (2008), Báo cáo khoa học công nghệ, viện chăn nuôi, tr 196-203 Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Báo cáo khoa học công nghệ, viện chăn nuôi
Tác giả: Nguyễn Thị nga, Quý Khiêm, Lê Thị Thu Hiền, Lưu Xuân Phúc, Nguyễn Mạnh Hùng, Đỗ Thị Nhung, Phạm Thị Hường
Năm: 2008
19. Phạm Duy Phẩm (2006), Xác định hiệu quả của việc bổ sung chế phẩm axit hữu cơ ultracid Lacdry và Adimix Butyrate trong thức ăn cho lợn con sau cau sữa tới 60 ngày tuổi, Báo cáo Hội nghị Khoa học Viện Chăn nuôi Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xác định hiệu quả của việc bổ sung chế phẩm axit hữu cơ ultracid Lacdry và Adimix Butyrate trong thức ăn cho lợn con sau cau sữa tới 60 ngày tuổi
Tác giả: Phạm Duy Phẩm
Năm: 2006
20. Cù Hữu Phú, Nguyễn Ngọc Thiện, Vũ Bình Minh, Đỗ Ngọc Thúy, Kết quả phân lập vi khuẩn E.coli và Salmonella ở lợn mắc bệnh tiêu chảy, xác định một số đặc tính sinh hóa của các chủng vi khuẩn phân lập được và biện pháp phòng trị, Kết quả nghiên cứu khoa học kĩ thuật thú y, 1999, NXB nông nghiệp, tr 172-173 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết quả phân lập vi khuẩn E.coli và Salmonella ở lợn mắc bệnh tiêu chảy, xác định một số đặc tính sinh hóa của các chủng vi khuẩn phân lập được và biện pháp phòng trị
Nhà XB: NXB nông nghiệp
21. Trần Văn Phùng, Chăn thavy Phomy (2009), Nghiên cứu ảnh hưởng của enzyme protease và amylase tới tỷ lệ tiêu hóa và sinh trưởng của lợn con sau cai sữa, Luận văn Cao học chuyên ngành Chăn nuôi Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu ảnh hưởng của enzyme protease và amylase tới tỷ lệ tiêu hóa và sinh trưởng của lợn con sau cai sữa
Tác giả: Trần Văn Phùng, Chăn thavy Phomy
Năm: 2009

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.4: Nhu cầu các chất khoáng cho lợn  Thể trọng - nghiên cứu ảnh hưởng của dầu đậu tương trong khẩu phần đến năng suất sinh sản của lợn nái nuôi con, sinh trưởng của lợn con giai đoạn bú sữa và sau cai sữa trong điều kiện mùa hè
Bảng 2.4 Nhu cầu các chất khoáng cho lợn Thể trọng (Trang 45)
Bảng 2.5: Nhu cầu nước cho lợn - nghiên cứu ảnh hưởng của dầu đậu tương trong khẩu phần đến năng suất sinh sản của lợn nái nuôi con, sinh trưởng của lợn con giai đoạn bú sữa và sau cai sữa trong điều kiện mùa hè
Bảng 2.5 Nhu cầu nước cho lợn (Trang 46)
Sơ đồ bố trí TN nhƣ sau: - nghiên cứu ảnh hưởng của dầu đậu tương trong khẩu phần đến năng suất sinh sản của lợn nái nuôi con, sinh trưởng của lợn con giai đoạn bú sữa và sau cai sữa trong điều kiện mùa hè
Sơ đồ b ố trí TN nhƣ sau: (Trang 53)
Sơ đồ bố trí TN như sau: - nghiên cứu ảnh hưởng của dầu đậu tương trong khẩu phần đến năng suất sinh sản của lợn nái nuôi con, sinh trưởng của lợn con giai đoạn bú sữa và sau cai sữa trong điều kiện mùa hè
Sơ đồ b ố trí TN như sau: (Trang 55)
Bảng 3.1: Ảnh hưởng của dầu đậu tương trong khẩu phần đến khả thu nhận thức ăn, hàm lƣợng mỡ sữa của lợn nái nuôi con giống ngoại - nghiên cứu ảnh hưởng của dầu đậu tương trong khẩu phần đến năng suất sinh sản của lợn nái nuôi con, sinh trưởng của lợn con giai đoạn bú sữa và sau cai sữa trong điều kiện mùa hè
Bảng 3.1 Ảnh hưởng của dầu đậu tương trong khẩu phần đến khả thu nhận thức ăn, hàm lƣợng mỡ sữa của lợn nái nuôi con giống ngoại (Trang 58)
Hình 1: Biểu đồ ảnh hưởng của bổ sung chất béo đến khả năng thu nhận  thức ăn của lợn mẹ - nghiên cứu ảnh hưởng của dầu đậu tương trong khẩu phần đến năng suất sinh sản của lợn nái nuôi con, sinh trưởng của lợn con giai đoạn bú sữa và sau cai sữa trong điều kiện mùa hè
Hình 1 Biểu đồ ảnh hưởng của bổ sung chất béo đến khả năng thu nhận thức ăn của lợn mẹ (Trang 60)
Bảng 3.3: Ảnh hưởng của dầu đậu tương trong khẩu phần TA lợn nái  ngoại đến khả năng sinh trưởng của lợn con giai đoạn bú sữa - nghiên cứu ảnh hưởng của dầu đậu tương trong khẩu phần đến năng suất sinh sản của lợn nái nuôi con, sinh trưởng của lợn con giai đoạn bú sữa và sau cai sữa trong điều kiện mùa hè
Bảng 3.3 Ảnh hưởng của dầu đậu tương trong khẩu phần TA lợn nái ngoại đến khả năng sinh trưởng của lợn con giai đoạn bú sữa (Trang 61)
Hình 2: Biểu đồ ảnh hưởng của bổ sung chất béo đến khối lượng   cai sữa/ổ của lợn con - nghiên cứu ảnh hưởng của dầu đậu tương trong khẩu phần đến năng suất sinh sản của lợn nái nuôi con, sinh trưởng của lợn con giai đoạn bú sữa và sau cai sữa trong điều kiện mùa hè
Hình 2 Biểu đồ ảnh hưởng của bổ sung chất béo đến khối lượng cai sữa/ổ của lợn con (Trang 63)
Hình 3: Biểu đồ ảnh hưởng của bổ sung chất béo đến tăng khối  lượng/ngày của lợn con - nghiên cứu ảnh hưởng của dầu đậu tương trong khẩu phần đến năng suất sinh sản của lợn nái nuôi con, sinh trưởng của lợn con giai đoạn bú sữa và sau cai sữa trong điều kiện mùa hè
Hình 3 Biểu đồ ảnh hưởng của bổ sung chất béo đến tăng khối lượng/ngày của lợn con (Trang 63)
Hình 4: Biểu đồ ảnh hưởng của bổ sung chất béo đến tỷ lệ nuôi sống của  lợn con bú sữa - nghiên cứu ảnh hưởng của dầu đậu tương trong khẩu phần đến năng suất sinh sản của lợn nái nuôi con, sinh trưởng của lợn con giai đoạn bú sữa và sau cai sữa trong điều kiện mùa hè
Hình 4 Biểu đồ ảnh hưởng của bổ sung chất béo đến tỷ lệ nuôi sống của lợn con bú sữa (Trang 64)
Bảng 3.5: Ảnh hưởng của dầu đậu tương trong khẩu phần thức ăn đến  thời gian động dục trở lại của lợn nái nuôi con giống ngoại (Y) - nghiên cứu ảnh hưởng của dầu đậu tương trong khẩu phần đến năng suất sinh sản của lợn nái nuôi con, sinh trưởng của lợn con giai đoạn bú sữa và sau cai sữa trong điều kiện mùa hè
Bảng 3.5 Ảnh hưởng của dầu đậu tương trong khẩu phần thức ăn đến thời gian động dục trở lại của lợn nái nuôi con giống ngoại (Y) (Trang 64)
Bảng 3.6: Ảnh hưởng của dầu đậu tương trong khẩu phần thức ăn đến  thời gian động dục trở lại của lợn nái nuôi con giống lai (Y x MC) - nghiên cứu ảnh hưởng của dầu đậu tương trong khẩu phần đến năng suất sinh sản của lợn nái nuôi con, sinh trưởng của lợn con giai đoạn bú sữa và sau cai sữa trong điều kiện mùa hè
Bảng 3.6 Ảnh hưởng của dầu đậu tương trong khẩu phần thức ăn đến thời gian động dục trở lại của lợn nái nuôi con giống lai (Y x MC) (Trang 65)
Hình 5: Biểu đồ ảnh hưởng của bổ sung chất béo   đến thời gian động dục trở lại - nghiên cứu ảnh hưởng của dầu đậu tương trong khẩu phần đến năng suất sinh sản của lợn nái nuôi con, sinh trưởng của lợn con giai đoạn bú sữa và sau cai sữa trong điều kiện mùa hè
Hình 5 Biểu đồ ảnh hưởng của bổ sung chất béo đến thời gian động dục trở lại (Trang 66)
Bảng 3.7: Ảnh hưởng của dầu đậu tương trong khẩu phần thức ăn đến sự  hao mòn cơ thể của lợn nái nuôi con giống ngoại - nghiên cứu ảnh hưởng của dầu đậu tương trong khẩu phần đến năng suất sinh sản của lợn nái nuôi con, sinh trưởng của lợn con giai đoạn bú sữa và sau cai sữa trong điều kiện mùa hè
Bảng 3.7 Ảnh hưởng của dầu đậu tương trong khẩu phần thức ăn đến sự hao mòn cơ thể của lợn nái nuôi con giống ngoại (Trang 67)
Bảng 3.8: Ảnh hưởng của dầu đậu tương trong khẩu phần thức ăn đến sự  hao mòn cơ thể của lợn nái nuôi con lai F1 (Y x MC) - nghiên cứu ảnh hưởng của dầu đậu tương trong khẩu phần đến năng suất sinh sản của lợn nái nuôi con, sinh trưởng của lợn con giai đoạn bú sữa và sau cai sữa trong điều kiện mùa hè
Bảng 3.8 Ảnh hưởng của dầu đậu tương trong khẩu phần thức ăn đến sự hao mòn cơ thể của lợn nái nuôi con lai F1 (Y x MC) (Trang 68)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm