Authentication Center Border GateWay Broadcast Multicast Service centerBase station controller Base transceiver station Cellular digital packet data Comtnon interface format Core network
Trang 1HỌC VIỆN KỸ THUẬT QUÂN SỰ
BÙI ĐỨC THIỆN KHOA 15
HỆ ĐÀO TẠO CHÍNH QUY (VĂN BẰNG 2)
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
CHUYÊN NGÀNH ĐIỆN TỬ VIỄN THÔNG
TRUYỀN HÌNH DI ĐỘNG TRÊN MẠNG 3G
NĂM 2013
Trang 2HỌC VIỆN KỸ THUẬT QUÂN SỰ
BÙI ĐỨC THIỆN KHOA 15
HỆ ĐÀO TẠO CHÍNH QUY (VĂN BẰNG 2)
Trang 3BỘ QUỐC PHÒNG CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ
NGHĨA VIỆT NAM
HỌC VIỆN KỸ THUẬT QUÂN SỰ Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
KHOA VÔ TUYẾN ĐIỆN TỬ
Phê chuẩn Độ mật:
Ngày tháng năm 2013 Số:
CHỦ NHIỆM KHOA NHIỆM VỤ ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP Họ và tên: Bùi Đức Thiện Lớp: Điện tử viễn thông Khóa: 15 Ngành: Điện-Điện.tử Chuyên ngành:Điện tử viễn thông 1 Tên đề tài: Nghiên cứu truyền hình di động trên mạng 3G
2 Các số liệu ban đầu: - Theo Quyết định phân công đề tài Bài tập tốt nghiệp
3 Các nội dung bản thuyết minh:
Tổng quan về các công nghệ truyền hình di động
Khả năng của mạng thông tin di động 3G WCDMA
Nghiên cứu triển khai truyền hình di động trên mạng 3G WCDMA
4 Số lượng, nội dung các bản vẽ (ghi rõ loại, kích thước và cách thực hiện các bản vẽ) và các sản phẩm cụ thể (nếu có):
Trang 4
5 Cá bộ hướng dẫn (ghi rõ họ tên, cấp bậc, chức vụ, đơn vị, hướng dẫn toàn bộ hay từng phần): TS Trần Văn Khẩn hướng dẫn toàn bộ
Ngày giao: / / Ngày hoàn thành: / /
Hà nội, ngày tháng năm2013
Chủ nhiệm bộ môn Cán bộ hướng dẫn
(Ký, ghi rõ họ tên, học hàm, học vị)
TS Trần Văn Khẩn
Học viên thực hiện
Đã hoàn thành và nộp đồ án ngày tháng năm 2013 (Ký và ghi rõ họ tên)
Trang 5Authentication Center Border GateWay Broadcast Multicast Service center
Base station controller Base transceiver station Cellular digital packet data Comtnon interface format Core network
Coded OFDM Circuit switched Call session control function
Digital video broadcasting handhelds
Dự án hợp tác thế hệ thứ ba
Mã hoá âm thanh bậc cao
Hệ thống điện thoại di động tiên tiến
Đa tốc độ thích ứng
Uỷ ban hệ thống truyền hình di động tiên tiến
Trung tâm nhận thực Cổng biên giới Trung tâm dịch vụ broadcast/multicast
Bộ điều khiển trạm gốc Trạm thu phát gốc
Hệ thống dữ liệu gói số tổ ong Định dạng giao diện chung Mạng lõi
Mã hoá OFDM Chuyển mạch kênh Chức năng điều khiển phiên cuộc gọi
Phát thanh truyền hình video số cho máy cầm tay
EDGE Enhanced data for global
evolution
Tăng cường tốc độ dữ liệu cho
sự tiến hoá của GSM
EIR Equipment identity register Bộ ghi nhận dạng thiết bị
ETSI European Telecommimication Viện tiêu chuẩn viễn thông
Trang 6Standards Institute Châu Âu
FACH Forward access channel Kênh truy nhập đường lên
FEC Forward error correction Sửa lỗi trước
FOMA Freedom of Mobile Multimedia
GGSN Gateway GPRS support node Nút hỗ trợ cổng GPRS
GMM GPRS mobility management Quản lý di động GPRS
GPRS General packet radio Service Dịch vụ vô tuyến gói chung
GSM Global System for Mobile
HLR Home location register Bộ ghi định vị thường trú
HSPDA High-speed downlink packet
access
Truy nhập gói đường xuốngtốc độ cao
HTML Hypertext Markup Language Ngôn ngữ đánh dấu siêu văn bản
HTTP Hypertext Transfer Protocol Giao thức truyền file siêu văn bản 1
IMEI International mobile
equipment identifier
Nhận dạng thiết bị di độngquốc tế
IMS IP multimedia subsystem Hệ thống con đa phương tiện IP
IMSI International mobile subscriber
identifier
Nhận dạng thuê bao di độngquốc tế
ISDB Integrated services digital
broadcasting
Các dịch vụ tích hợp phátthanh số
LTE Long-term evolution Giai đoạn phát triển dài hạn
MBMS Multimedia broadcast multicast
Service
Dịch vụ đa phương tiện phátquảng bá multicast
MMS Multimedia messaging Service Dịch vụ tin nhắn đa phương tiện
MRF Multimedia resource funtion Chức năng tài nguyên đa phương tiện
MSC Mobile switching center Trung tâm chuyển mạch di động
NMTS Nordic Mobile Telephơne
Trang 7NTSC National Television Standards
OFDM Orthogonal frequency division
PDC Personal Digital Cellular Hệ thống tổ ong số cá nhân
PLMN Public Land Mobile Network Mạng di động mặt đất công cộng
QCIF Quarter common interface format một phần tư CIF
RNC Radio network controller Bộ điều khiển mạng vô tuyến
RS coding Reed-Solomon code Mã hoá reed-solomon 1
RTP Real-time transport protocol Giao thức truyền tải thời gian thực
SVG Scalable vector graphics Vector đồ hoạ thay đổi
SIM Subscriber identity module Module nhận dạng thuê bao j
SIP Session initiation protocol Giao thức khởi đầu phiên
SMS short message Service Dịch vụ bản tin ngắn
T-DMB Terrestrial digital multimedia
UDP User datagram protocol Giao thức datagram người sử dụng
UICC Universal integrated tircuit card Card mạng tích hợp thông
minh
Trang 8Telecommunication System vạn năn (WCDMA)
USIM UMTS subscriber identity
VLR Visitor location register Bộ ghi định vị tạm trú
WAP Wideless application protocol Giao thức ứng dụng không dây
WCDMA Wideband code division
LỜI NÓI ĐẦU
CHƯƠNG 1:TỔNG QUAN VỀ CÁC CÔNG NGHỆ TRUYỀN HÌNH DI
ĐỘNG……… 3 1.1 Tồng quan về truyền hình di động………3
1.1.1 Khái niệm về Truyền hình di động……… 3 1.1.2 Phân biệt Truyền hình di động khác với truyền hình vệ tinh hoặctruyền
hình mặt đất thông thường……… 3
1.1.3 Đặc điểm của truyền hình di động là gì ?
1.1.4 Các tiêu chuẩn đối với truyền hình di động
1.1.5 Các tài nguyên để phát truyền hình di động
1.2 Các công nghệ mới được sử dụng cho truyền hình di động
1.2.1 Các công nghệ mới được sử dụng cho Mobile TV
Trang 92.2.3 Kiến trúc 3G WCDMA UMTS R3
2.2.4 Kiến trúc 3G WCDMA UMTS R4
2.2.5 Kiến trúc 3G WCDMA UMTS R5
2.2.6 3GPP Phiên bản 6 và các hướng nghiên cứu cho các phiên bản 7 và 8
2.3 Khả năng của mạng tế bào trong việc truyền tải truyền hình di động mạng
Trang 11LỜI NÓI ĐẦU
Ngày nay, sự phát triển như vũ bão của các công nghệ kỹ thuật nhanh chóng được ứng dụng trong tất cả các lĩnh vực trong cuộc sống Trong lĩnh vực viễn thông, các công nghệ kỹ thuật cao ngoài việc nâng cấp, tạo ra các mạng viễn thông
có tốc độ dữ liệu cao, các công nghệ kỹ thuật cao còn giúp tạo ra các thế hệ máy di động với nhiều tính năng tiên tiến với giá thành rẻ, phù hợp với nhu cầu người sử dụng Các máy di động thế hệ mới này ngoài các chức năng truyền thống của một máy điện thoại di động, các máy di động còn có thể thực hiện các ứng dụng đa phương tiện công nghệ cao, và một trong số các ứng dụng đa phương tiện đó là truyền hình di động.
Truyền hình di động là một khái niệm hiện thực rất mới Ứng dụng đa phương tiện này không chỉ có sức hấp dẫn với người sử dụng mà nó cũng thu hút sự quan tâm lớn của các nhà khai thác khác nhau Các nhà khai thác phát thanh truyền hình truyền thống trên thế giới qua nghiên cứu đã đưa ra và sử dụng một
số công nghệ truyền hình di động như DVB-H, T-DMB, v v Các nhà khai thác mạng di động cũng đang mong chờ, với sự phát triển của các mạng di động lên các mạng 3G với tốc độ truyền dữ liệu cao sẽ cho phép họ thực hiện triển khai các ứng dụng đa phương tiện, trong đó có truyền hình di động để phục vụ cho nhu cầu của người sử dụng.
Với niềm đam mê về ứng dụng đa phương tiện truyền hình di động, em đã quyết
định lựa chọn đề tài đồ án tốt nghiệp là “Nghiên cứu truyền hình di động trên
mạng 3G ” Đồ án được trình bày trong 3 chương với các nội dung cụ thể:
Chương I: Tổng quan về các công nghệ truyền hình di động: Giới thiệu
sơ lược về truyền hình di động và các công nghệ truyền hình di động hiện tại trên thế giới, các ưu nhược điểm của từng công nghệ và hiệu quả khi áp dụng, triển khai thực tế.
Trang 12 Chương II: Nghiên cứu khả năng của mạng thông tin di động 3G WCDMA: Đưa ra một cách nhìn tổng quan về sự tiến hoá của mạng 3G WCDMA từ mạng 2G GSM, khả năng truyền dữ liệu của mạng 3G WCDMA và hướng phát triển tiếp theo của mạng.
Chương III: Nghiên cứu triển khai truyền hình di động trên mạng 3G WCDMA: Nghiên cứu các kỹ thuật, các giải pháp đưa ra để có thể triển khai truyền hình di động nói riêng và các ứng dụng đa phương tiện khác nói chung tới người sử dụng trên mạng 3G WCDMA, các dịch vụ truyền hình và đa phương
tiện đã được đưa vào cung cấp cho người dùng.
Do lĩnh vực của đề tài này tương đối rộng, và bản thân kiến thức còn có nhiều hạn chế nên đồ án không tránh khói nhiều sai sót
Em mong được sự góp ý và chỉ bảo của các thầy cô và các bạn sinh viên để nội dung đồ án được hoàn thiện và phong phú hơn
Trang 13CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN VỀ CÁC CỒNG NGHỆ TRUYỀN HÌNH DI ĐỘNG
1.1 Tồng quan về truyền hình di động
1.1.1 Khái niệm về Truyền hình di động
Truyền hình di động là truyền các chương trình truyền hình hoặc video cho
một loạt thiết bị vô tuyến từ các điện thoại có khả năng truyền hình di động tới các
PDA và các thiết bị đa phương tiện vô tuyến Các chương trình có thể được phát
theo phương thức quảng bá đến mọi người xem trong vùng phủ sóng hoặc là phát
riêng (unicast) tới khách hàng có nhu cầu Chúng cũng có thể là truyền multicast
đến một nhóm người sử dụng Sự phát quảng bá có thể là qua môi trường mặt đất
như truyền hình số và tương tự được phát đến các gia đình của chúng ta, hoặc
chúng có thể được phát trực tiếp qua các vệ tinh đến các máy di động Sự phát đó
cũng có thể được phát qua Intemet/ Web
1.1.2 Phân biệt Truyền hình di động khác với truyền hình vệ tinh hoặc
truyền hình mặt đất thông thường
Các điện thoại di động thiết lập một thế giới khác nhau hoàn toàn Các điện
thoại có các màn hình rất nhỏ so với truyền hình tiêu chuẩn nhưng chúng có sự
hạn chế về công suất tiêu thụ cũng là sự duy trì pin và duy trì thời gian nói
chuyện là hết sức quan trọng Mọi thiết bị trong một ô được thiết kế với các tính
chất để có thể giữ gìn năng lượng Các bộ xử lý trong các ô, dù rất mạnh so với
các máy tính trong một vài năm trước, không thể đóng lại để chạy các nhiệm vụ
mã hoá và giải mã, hoặc trao đổi khuôn dạng và tốc độ khung Các điện thoại di
động được nối qua mạng tế bào 3G có thể hỗ trợ tốc độ dữ lệu cao cho cho đa
phương tiện nhưng không được thiết kế để xử lý 4-5Mbps cần thiết đối với
truyền hình di động có độ nét chuẩn Do đó, mặc dù có các điện thoại tế bào mà
có thể nhận được truyền hình thông thường nhưng chúng thực sự không lý
tưởng cho sử dụng như vậy.
Trang 14Truyền hình di động là một công nghệ mà đã được thiết kế đặc biệt để phù
hợp với thế giới di động- thế giới với băng thông và nguồn cung cấp bị giới hạn,
các màn hình nhỏ, và ngoài ra còn thêm vào các tính chất mới như tương tác qua
mạng tế bào Có ưu điểm có kích thước màn hình nhỏ, số lượng điểm ảnh cần
thiết được giảm xuống bằng một phần tư của truyền hình có độ nét chuẩn Ngày
nay truyền hình số được dựa vào chủ yếu là nén MPEG-2 bởi vì đó công nghệ
nén khả dụng nhất trong những năm 1990 khi truyền hình được phát qua vệ tinh và
cáp dùng chung Truyền hình di động sử dụng các thuật toán nén hiệu quả hơn như
là MPEG-4 hoặc Window-Media để nén hình ảnh và audio Nén audio hiệu quả đối
với thoại đã được xác nhận trong mạng di động và các công nghệ này được thực
hiện cho thế giới truyền hình di động cùng với sử dụng mã hóa audio ở đa tốc độ
thích ứng, QCELP, hoặc mã hóa audio tiên tiến dựa vào MPEG-2 hoặc MPEG-4
Trong mạng thế hệ thứ ba (3G), được đặc trưng bởi nhu cầu sử dụng băng thông
hiệu quả để cung cấp cho hàng ngàn khách hàng trong một vùng tế bào, các khuôn
dạng tệp dựa trên các tiêu chuẩn công nghiệp như 3GPP được dùng chung Để
giảm băng thông hơn nữa và dựa vào các điều kiện truyền dẫn, các mạng tế bào
cũng có thể giảm tốc độ khung hoặc làm cho các khung có số lượng byte thấp hơn
trên một khung
Tuy nhiên, giảm tốc độ bit cần thiết để vận chuyển video không chỉ là đặc
trưng của các dịch vụ truyền hình di động Công nghệ quảng bá đã được thay
đổi đặc biệt cho phép bộ thu có thể tiết kiệm nguồn Chẳng hạn DVB- H sử
dụng kỹ thuật gọi là cắt thời gian, kỹ thuật này cho phép bộ thu cắt nguồn bộ
điều hưởng (tuner) tới 80% thời gian mà không bị ngắt trình diễn video Sự
truyền cũng kết hợp các tính chất để khắc phục tốt sự thu nhận tín
hiệu không mong muốn trong các môi trường di động nhờ sửa lỗi FEC
mạnh Các môi trường di động có đặc trưng khách hàng di chuyển với tốc độ
cao, như là trên xe ô tô hoặc trên tàu Truyền dẫn mặt đất tiêu chuẩn dựa vào ủy
Trang 15ban hệ thống truyền hình tiên tiến (ATSC) hoặc các tiêu chuẩn DVB- T không
thích hợp với môi trường do sự dịch chuyển tần số Doppler, vì vậy mà 8000
sóng mang được sử dụng cho điều chế ghép kênh phân chia theo tần số trực giao
ở nhiều tần số khác với dự định Để thực hiện được, nhiều các kỹ thuật điều chế
đặc biệt như là COFDM với các sóng mang 4K được sử dụng Truyền hình di
động đã sinh ra bộ các tiêu chuẩn của chính nó cho các vận chuyển mặt đất, vệ
tinh, và mạng tế bào 3G.
1.1.3 Đặc điểm của truyền hình di động
Truyền hình di động được thiết kế để các máy điện thoại tổ ong nhận được,
về cơ bản các máy điện thoại này là các có hệ điều hành của nó (chẳng hạn
Windows Mobile) và các gói phần mềm ứng dụng (ví dụ các trình duyệt, chương
trình thư tín) Máy di động hỗ trợ gói phần mềm đồ họa và hoạt ảnh như là Java
hoặc Flash Macromedia, Player hay Real player hoặc Windows Media Các
nhà khai thác đã nhận thức được các khả năng này và do đó đã thiết kế các
nội dung có lợi thế của các thiết bị mà nội dung sẽ được trình diễn trên đó
Nội dung mói này sẵn sàng cho truyền hình di động có ưu thế của sự hoà trộn
mạnh các chuỗi hoạt ảnh, đồ họa và phim phong phú Các nội dung này được
trình diễn tự nhiên hoặc là qua các phần mềm Client trên các điện thoại di động
Ưu điểm đó là băng thông được sử dụng để phân phát một file hoạt ảnh flash là
một phần nhỏ so với độ dài của phim có cùng thời gian Điều này có nghĩa là
các điện thoại di động, với tất cả sự giới hạn của chúng, vẫn có thể hiển thị
nội dung rất lôi cuốn và trình diễn các chương trình đơn giản như là thời tiết
và tin tức Chúng có thể được sử dụng để tạo ra các dịch vụ mới hoàn toàn
như là chat hoặc mail Các dịch vụ mới được vận chuyển với nhạc phim và
các hoạt ảnh Các phần mềm hoạt ảnh như là Java hoặc Flash thực hiện cho
PC không phù hợp cho môi trường di động bị giới hạn cơ bản được giảm bớt
từ thế giới vi tính là không lý tưởng thích hợp với môi trường ràng buộc của
các máy di động Điều này dẫn tới nhu cầu cần có các tiêu chuẩn chung để
Trang 16kiến tạo và vận chuyển nội dung phù hợp cho các máy di động.
Trang 171.1.4 Các tiêu chuẩn đối với truyền hình di động
Xem truyền hình di động có vẻ như là đơn giản Rốt cuộc nó phải cung cấp
các bức ảnh giống như đang được quảng bá Nhưng ẩn dưới sự đơn giản ấy là rất
nhiều công nghệ và tiêu chuẩn đã được phát triển trong một thời gian để hoàn
thành truyền hình với màn hình nhỏ 2” Những người say mê audio được nghiên
cứu xử lý với 30 loại khuôn dạng file âm thanh phạm vi từ các dạng.war đơn
giản tới các dạng.mpg, Real, QuickTime, Windows Media 9 và các khuôn dạng
fĩle khác Video cũng không ít hơn 25 khuôn dạng khác nhau, từ không nén tới
MPEG-4/ AVC Hơn nữa, video có thể trình diễn với một dải rồng của các độ
phân giải, kích thước khung và các tốc độ.
Đây là một công việc to lớn cho ngành công nghiệp để gặp nhau và thống
nhất các tiêu chuẩn mà sẽ được sử dụng làm nền tảng chung để phân phối các
dịch vụ truyền hình di động Các tiêu chuẩn có hơi khác nhau dựa vào công
nghệ nhưng sự mở rộng quy ước mà đạt được trong một khung thời gian ngắn
bằng một thập kỷ phản ánh chu trình công nghệ và sản phẩm mới Vô số các
nhóm được yêu cầu làm việc cùng với nhau, từ các nhà thiết kế và nhà sản xuất
chip tới các nhà thiết kế hệ điều hành và phần mềm ứng dụng, các nhà thiết kế
và sản xuất máy cầm tay, các nhà phát triển phần mềm, công đồng truyền hình
quảng bá, các nhà khai thác di động 3G, và nhà khai thác quảng bá truyền hình
vệ tinh, cùng hàng trăm cổ động liên quan Nó cũng liên quan tới công nghiệp
sản xuất nội dung để thiết kế nội dung audio và vi deo cho di động, các nhà công
nghiệp quảng bá và di động chuẩn bị các hệ thống truyền dẫn để xử lý truyền
hình di động và nhiều cái khác.
1.1.5 Các tài nguyên để phát truyền hình di động
Điện thoại di động là một thiết bị đa năng Nó được kết nối tới các mạng di
động tế bào đồng thời nhận FM quảng bá qua bộ dò sóng FM hoặc kết nối đến
mạng LAN vô tuyến qua Wi-Fi Phát truyền hình di động có thể tương tự với đa
chế độ qua mạng 3G, các mở rộng quảng bá của 3G như MBMS hoặc MCBS,
Trang 18hoặc các mạng quảng bá mặt đất và vệ tinh Trong tất cả thể loại này, một tài
nguyên chung cần thiết là phổ tần số Sự phát triển nhanh chóng của truyền hình
di động, động lực và quy mô của nó đã không được các nhà công nghiệp lường
trước được, mặc dù không phải tất cả đều đồng ý với tuyên bố này Vì vậy mà
công nghệ truyền hình di động đã loại bỏ được sự xáo trộn để tim ra cách thấy
được phổ tần của nó và phát truyền hình di động Ở Anh và Mỹ phổ tần quảng
bá truyền hình truyền thống UHF và VHF cũng được sử dụng cho cả truyền số, do
đó cần có nội dung đồng thời trong cả hai chế độ Ở Anh, BT Movio phải dùng đến
phổ phát thanh quảng bá số để phát truyền hình di động sử dụng tiêu chuẩn được
gọi là DAB-IP Ở Hàn Quốc phổ tần DAB cho các dịch vụ vệ tinh được sử dụng để
phát các dịch vụ dưới dạng vệ tinh quảng bá đa phương tiện số- DMB-S DVB-H
là một tiêu chuẩn được thiết kế rộng rãi để sử dụng cho các mạng DVB-T hiện tại
cũng cung cấp các dịch vụ DVB-H và sử dụng cùng phổ tần
Tài nguyên về phổ tần thực sự cần thiết cho các quốc gia có phổ tần UHF
đang được đánh dấu (dự phòng) cho các dịch vụ như vậy Ở Mỹ, nơi các hệ thống
ATSC không cho phép "ride on" truyền dẫn di động, phổ tần UHF còn lại dành cho
truyền dẫn số và phổ tần được đấu giá Modeo, nhà khai thác DVB-H đã mạo hiểm
lắp đặt mạng mới toàn bộ dựa vào DVB-H sử dụng dải băng L tại 1670 Mhz Nhà
khai thác HiWire có phổ trong dải tần 700MHz là bắt đầu khởi động các dịch vụ
DVB-H sử dụng khe phổ tần này Mỹ (cùng với Hàn Quốc và Ấn Độ) cũng là
người nắm giữ các công nghệ CDMA mà Qualcomm phát minh ra Qualcomm đã
công bố một công nghệ quảng bá cho truyền hình di động được gọi là Media FLO,
công nghệ này khả dụng cho tất cả các nhà khai thác để cung cấp truyền hình di
động theo hình thức quảng bá Nhiều quốc gia khác đang thiết lập sử dụng công
nghệ tương tự Ở Hàn Quốc, chính phủ cũng đã cho phép sử dụng phổ VHF cho
các dịch vụ truyền hình di động và T-DMB đã được khởi động cho cung cấp các
dịch vụ truyền hình di động Ở Nhật, sử dụng quảng bá ISDB-T để cung cấp dịch
vụ truyền hình di động
Sự cạnh tra nh của nhiều công nghệ trong cung cấp truyền hình di động đã
Trang 19dẫn tới có rất nhiều tiêu chuẩn trong nghành công nghiệp này Hiện nay nhiều nỗ
lực tìm kiếm phổ tần và tài nguyên cho truyền hình di động trên phạm vi toàn cầu
và khu vực hướng tới hội tụ các tiêu chuẩn này trong tương lai
1.2 Các công nghệ sử dụng
1.2.1 Các công nghệ mới được sử dụng cho Mobile TV
Tháng 10 năm 2003, Vodafone KK của nhật bản đã giới thiệu máy di động
có thể bắt được tín hiệu truyền hình tương tự Đó là loại V601N của NEC Chiếc
điện thoại di động này có thể được dùng để nhận tín hiệu tương tự quảng bá
NTSG từ các trạm địa phương Trong năm 2004, Vodafone KK tiếp tục mở rộng
phát triển loại điện thoại này với sự xuất hiện điện thoại di động của SHARP với
loại V402SH và V602SH V402SH có màn hình LCD QVGA với 320x260 pixel
có khả năng trình diễn 30 khung trong một giây Ví dụ với tốc độ khung của
chương trình truyền hình bình thường Bộ phận thu của các máy di động cũng
được thiết kế cho việc tiếp nhận NTSC Các máy cũng có bộ phận thu FM để
nhận các tín hiệu phát thanh FM V602SH là một loại điện thoại 3G Loại điện
thoại này có khả năng nhận các tín hiệu phát thanh truyền hình analog từ các
trạm địa phương Các máy cầm tay loại này còn có thể nhận được tín hiệu quảng
bá PAL Các PC pocket sử dụng hệ điều hành Window mobile OS và bộ điều
chỉnh thu SDIO dành cho việc thu nhận tín hiệu của PAL và NTSC Nếu các
máy di động có thể nhận được tín hiệu tương tự vô tuyến quả đất từ các trạm
phát thanh quảng bá, cũng như với trạm FM, tại sao chúng ta cần các công nghệ
mới cho mobile TV?
Trang 20Hình 1.1 Các máy điện thoại di động với bộ thu truyền hình tương tự
Truyền hình được truyền qua các mạng vô tuyến quả đất là một công nghệ
được thiết lập tốt với hàng tá các kênh được phát đi ở các thành phố chính Phát
thanh truyền hình tương tự vẫn tồn tại cho đến ngày nay ở nhiều nước khác nhau
với các định dạng PAL, NTSC và SECAM, song song với truyền hình số và
không hi vọng loại bỏ ngay lập tức (ở châu Âu là trước năm 2012) Nếu chúng ta
có thể nhận được các đường truyền vô truyến khi sử dụng máy cầm tay di động,
câu trả lời được tìm kiếm một cách tự nhiên là cần một công nghệ mới, một loại
chip mới, w Các câu trả lời đó là cách tạo ra các chức năng của máy di động và
chức năng nhận tín hiệu truyền hình quảng bá
Bộ thu tín hiệu tương tự của truyền hình cho máy cầm tay di động có một
antenna, được thiết kế cho băng tần VHF (từ kênh 2 đến 13) và băng tần UHF
(kênh 14-83) và như vậy cần cung cấp các bước sóng từ 35cm đến 5m Điều này
bao hàm cả điện thoại sử dụng tai nghe không dây như các antenna thực tế với
dải băng FM/ VHF Nhìn chung, sóng khoẻ là yêu cầu cho việc tiếp nhận
chương trình phát thanh truyền hình của tín hiệu phát thanh truyền hình tương
tự Việc tiếp nhận này có thể thay đổi theo vị trí Gần các toà nhà, máy điện thoại
phải được nối với một Socket RF được kết nối với một antenna ngoài Chất lượng việc
tiếp nhận cũng phụ thuộc vào hướng và thời tiết khi máy di động di chuyển
Trang 21Việc truyền dẫn thực chất được thiết kế cho người dùng ở tại chỗ thu nhận hơn
là cho sự tiếp nhận khi di chuyển vì hiệu ứng fading co truyền dẫn sẽ tăng cao.
1.2.2 Chuyển mã TV sang màn hình di động
Việc truyền dẫn được thực hiện theo chuẩn về định dạng analog Phía giải
mã (theo khối điều chỉnh tuner của máy) tạo ra tín hiệu được giải mã ở 720x480
(NTSC) và 720x576 (PAL), điều này cần chuyển đổi sang định dạng
QCIF(176xl44) hay QVGA (320x240) Việc chuyển mã này cần khả năng xử lý
của chip tế bào và việc tạo một rãnh trên nguồn pin.
1.2.3 Nguồn pin cho máy cầm tay di động
Các công nghệ truyền dẫn TV bình thường được thiết kế cho một máy thu
wall-socket-connected cái mà sự hạn chế về năng lượng là không thành vấn đề
Sử dụng nút điều chỉnh máy thu hình truyền thống và nút giải mã theo kiểu
analog sẽ hạn chế người sử dụng điện thoại trong khoảng thời gian từ 1 dến 2
giờ thậm chí với cả loại nguồn pin mới tiên tiến, đó là do công nghệ hiện tại của
bộ chỉnh kênh tuner Ví dụ, trong năm 2006, bộ chỉnh kênh Sony BTF-ZJ401
vẫn cần 800mW, nhờ sự tiến bộ đó đã hạ xuống hợp lý còn 200mW Cũng với
tốc độ khung của việc truyền dẫn NTSC là 30fps, do đặc trưng của màn ảnh đã
loại bỏ các vạch vệt tin trên màn hình của máy di động, để được điều đó cần có
hệ số khởi tạo mong muốn là 50fps.
1.2.4 Môi trường di động và bất động
Điện thoại di động được hiểu theo nghĩa là sử dụng khi di chuyển, điều đó
có nghĩa là được sử dụng trong ô tô hay trên tàu hoả đang chạy, những nơi
chuyển động lên tới 200km/h hoặc hơn nữa Thậm chí với các loại antenna
bên trong tiên tiến Sự lưu động có nghĩa làm mờ ảnh do hiệu ứng doppler
và fading do truyền dẫn trong việc tiếp nhận tín hiệu TV tương tự.
Thực tế là ta sử dụng việc truyền dẫn TV bằng sóng quả đất, truyền tương
tự hoặc là số Sử dụng sự truyền dẫn này chỉ có nghĩa với các màn ảnh rộng và
vốn không có hiệu quả nếu hiển thị trên các thiết bị di động, cái bị hạn chế bởi
Trang 22kích thước màn ảnh, độ phân giải, và nguồn tiêu thụ Các máy cầm tay cũng có
một yêu cầu là có thể sử dụng được trong môi trường di động mà tốc độ có thể
lên tới 200km/h hay cao hơn Xa hơn nữa, người sử dụng di động có thể chuyển
các máy phát truyền hình địa phương sang vùng tiếp cận Công nghệ mobile TV
cần sự hỗ trợ tiếp nhận kéo dài trong vùng rộng lớn.
1.2.5 Yêu cầu của dịch vụ truyền hình di động
Các yêu cầu với bất kỳ công nghệ nào có thể hỗ trợ cho việc truyền dẫn
mobile TV bao gồm:
• Việc truyền dẫn phải theo các ý tưởng định dạng phù hợp với thiết bị
nhận mobile TV Ví dụ như QCIF,CIF hay QVGA với hiệu suất mã hoá cao.
• Công nghệ tiêu thụ điện thấp.
• Sự tiếp nhận ổn khi lưu động
• Chất lượng hình ảnh rõ nét dù tín hiệu bị tổn thất nhiều do fading và các
hiệu ứng đa đường.
• Tốc độ chuyển động có thể lên tới 250km/h hoặc hơn.
• Có khả năng nhận được tín hiệu trên một vùng rộng lớn trong khi di
chuyển.
Không một công nghệ nào đã và đang sử dụng , dù là truyền hình tương tự
hay truyền hình số (Digital Video Broadcast for Television (DVB-T) or ATSC)
có khả năng cung cấp các đặc tính này mà không có sự nâng cao nhất định dưới
dạng sửa chữa lỗi linh hoạt, nén tốt hơn, và các công nghệ nguồn lưu tiên tiến và
các đặc tính hỗ trợ việc di chuyển và đi lòng vòng Đây là sự tiến hoá của các
công nghệ được thiết kế đặc biệt cho truyền hình di động.
Sự tiến hóa của các công nghệ còn phụ thuộc vào các nhà cung cấp dịch vụ
và các nhà khai thác trong các lĩnh vực riêng lẻ của dịch vụ di động, các dịch vụ
phát thanh, và không dây băng rộng Mỗi thành phần này kích thích mở rộng
phạm vi các mạng hiện hữu của nó bao gồm cả truyền hình di động như một
dịch vụ bổ sung Ví dụ, các nhà khai thác di động bắt đầu triển khai Mobile TV
Trang 23dựa trên các mạng 3G, trong khi đó các nhà phát thanh lại triển khai thử nghiệm
TV cầm tay dựa trên các công nghệ dành cho thiết bị cầm tay được khởi nguồn
từ các mạng truyền hình phát thanh vô tuyến quả đất DVB- T Một số nhà khai
thác khác sử dụng phát thanh tiếng nói số (DAB) và kích thích mở rộng các dịch
vụ DAB để phát triển tiến lên tiêu chuẩn DMB (digital multimedia broadcast)
dựa trên cả về tinh và các phương pháp truyền sóng quả đất DAB- IP là một
dạng mở rộng khác của công nghệ DAB nhằm cung cấp phát thanh truyền hình
dựa trên DAB.
1.3 Các công nghệ truyền hình di động
1.3.1 Tồng quan về các công nghệ truyền hình di động
Đã có một số công nghệ được sử dụng để cung cấp các dịch vụ Mobile TV
hiện nay Đây chỉ là một phần vì có rất nhiều các nhóm nhà khai thác khác nhau
như các nhà khai thác di động, các nhà khai thác phát thanh truyền hình truyền
thống, và các nhà khai thác không dây băng tần rộng đang tìm kiếm tác dụng các
mạng của họ để có thể phát Mobile TV được như các dịch vụ đa phương tiện
Các nhà khai thác di động có các mạng bao phủ diện rộng ở hầu hết các nơi có
người trên thế giới Đó là một thuận lợi để họ tiếp tục phát triển các mạng đó để
cung cấp các dịch vụ Mobile TV Cũng ở thời điểm này, các nhà khai thác phát
thanh truyền hình, những người có truyền thống kinh doanh về phát thanh truyền
hình cũng đang mở rộng, phát triển các mạng phát thanh vô tuyến quả đất của họ
để có sự mở rộng tương đương, bởi vậy có thể suy ra, Mobile TV được triển
khai dựa trên phát thanh vô tuyến quả đất đang thúc đẩy các mạng hiện tại phát
triển, như DVB-H hay ISDB-T Tất nhiên cũng có một số nhà khai thác chọn
mạng trên mặt đất với cách bố trí, cấu trúc hoàn toàn mới hay các mạng vệ tinh
cho dịch vụ Mobile TV Các nhà khai thác băng rộng cũng không ngừng gia tăng
các đề xuất về các dịch vụ TV dựa trên nền IP, họ có các mạng và các công nghệ
để cung cấp internet băng rộng, cùng với đó là Mobile TV Bởi vậy ta có thể
thấy Mobile TV đang được đề xuất sử dụng một số công nghệ Các công nghệ
Trang 24đa phương tiện này đựơc phân loại theo hình 1.2.
Hình 1.2 Các công nghệ truyền hình di động
Chúng ta có thể phân chia các dịch vụ Mobile TV theo ba hướng chính:
theo các mạng 3G, theo các mạng phát thanh vô tuyến quả đất và vệ tinh, và
cuối cùng là theo các mạng không dây băng tần rộng Ở cấu trúc 3G, các dịch vụ
được phân thành hai lớp với kiểu dịch vụ broadcast và kiểu dịch vụ unicast Tất
cả các công nghệ này vẫn tiếp tục không ngừng phát triển vì sự phát triển của
các dịch vụ Mobile TV, cái đang là khởi đầu của các dịch vụ sống của chúng
Chúng ta sẽ xem xét một số công nghệ truyền hình di động tiêu biểu, đã đạt
được những kết quả nhất định khi đưa vào khai thác.
Trang 251.3.2 Truyền hình di động sử dụng nền tảng mạng 3G
a Mob i TV
Hình 1.3 Truyền hình di động dựa trên nên mạng 3G
MobiTV có lẽ một ví dụ tốt nhất về dịch vụ truyền hình di động dựa trên
mạng 3G (Hình 1.3).
MobiTV cung cấp hơn 50 kênh trực tiếp phổ thông từ các nhà cung cấp
dịch vụ-quảng bá, bao gồm CNN, CNBC, ABC News, Fox News, ESPN, Kênh
thời tiết và Discovery và với hàng loạt kênh khác nữa đang tiếp tục được bổ
sung vào danh sách MobiTV cung cấp dịch vụ này qua một số nhà khai thác ở
nhiều nước sử dụng mạng 3G Chúng bao gồm:
United States-Sprint, Cingular, Midwest Wireless, Alltel, Cellular,
South, Verizon
Mexico-Telcel;
Trang 26Khái niệm về cung cấp các dịch vụ truyền hình di động với nội dung đa
dạng đã dần khẳng định là rất được ưa chuộng Từ áp dụng thành công đầu tiên
với việc tạo luồng các Clip ngắn hoặc luồng các chương trình ghi lại đã tiến tói
một dịch vụ luồng video do các nhà khai thác viễn thông di động cung cấp qua
mạng UMTS hoặc 3G của họ.
ITU đã chấp nhận các mạng 3G dựa trên cơ sở nền tảng IMT-2000 hoạt
động xung quanh hai công nghệ lõi UMTS và CDMA 2000 Con đường phát
triển công nghệ UMTS (WCDMA) dành riêng cho các quốc gia sử dụng mạng
GSM (trong đó có Việt Nam) và các tần số 3G trong UMTS đã được phân bổ
cho phổ tần UMTS Còn cơ sở nền tảng CDMA2000 được thiết kế phù hợp cho
mạng CDMA One Các mạng 3G được dựa trên sử dụng băng thông rộng (Ví
dụ: 5MHz trong WCDMA-3G) cho một sóng mang WCDMA Đa truy nhập
phân chia theo mã sử dụng băng thông rộng cho phép vận chuyển video, âm
thanh và các dịch vụ dữ liệu qua mạng Cơ sở nền tảng 3G đang được sử dụng
cho các ứng dụng truyền hình di động nhờ có được băng thông rộng cho 3G hay
các dịch vụ của UMTS Cơ sở nền tảng 3G đang khai thác ở Châu Ầu, Mỹ, Hàn
Quốc, và Nhật Bản và triển khai mạnh nhất cũng như các thử nghiệm dịch vụ
3G nằm ở các khu vực trên Tuy nhiên mạng 3G hay UMTS không phải là tối ưu
cho vận chuyển dữ liệu kiểu video cho một số lượng lớn người dùng đồng thời
Sử dụng truyền tải “trong băng” một số lượng phiên truyền unicast thường bị
giới hạn ở 6 luồng 256K và cũng giới hạn số lượng người sử dụng trong 1 tế bào
cho video unicast.
Sử dụng cơ sở nền tảng 2,5G được đặc trung bởi các clip ngắn, tin tức, các
Trang 27đầu đề, hoặc nội dung nội bộ xem được trên các thiết bị 3G Các dịch vụ này
khác biệt với các kênh truyền hình trực tiếp- kênh do các mạng quảng bá mặt đất
hoặc vệ tinh cung cấp Đó là do các mạng 3G sử dụng cùng băng thông thoại
cho vận chuyển video tốt bằng các công nghệ vận chuyển 3G như MBMS
MBMS là công nghệ quảng bá trong băng của di động.
Các công nghệ khác sử dụng phổ tần ngoài của băng tần UMTS Vì sở hữu
phổ tần hữu hạn, băng thông 3G trở nên đắt đỏ Dung lượng đang được tăng lên
nhờ đưa ra các kỹ thuật mới như HSDPA và các công nghệ 3G LTE (Long-Term
Evolution) mà 3GPP đang triển khai Khi sử dụng các công nghệ này và sử dụng
mã hoá các tín hiệu video theo tiêu chuẩn 3GPP có thể sử dụng tới 10-12 kênh
multicast trong băng 5MHz.
b Mạng 3G cho truyền hình di động
Các mạng 3G cung cấp nội dung video và TV theo luồng Tuy nhiên, kiểu
vận chuyển này tạo ra một lưu lượng đáng kể và có thể mạng nhanh chóng bị
quá tải Nhận thấy rằng truyền hình di động sẽ được sử dựng nhiều hơn rất nhiều
so với thời điểm kết thúc các tiêu chuẩn 3G, các nhà khai thác đang yêu cầu mở
rộng tiêu chuẩn 3G bao gồm cả MBMS (phổ tần cho dữ liệu trong băng) và
HSDPA (phổ tần mở rộng cho dữ liệu).
MBMS dự tính sử dụng một kênh phát quảng bá trong mỗi ô hơn là sử
dụng kết nối điểm- điểm riêng biệt cho từng máy di động.
Công nghệ MBMS có nghĩa là xác định một số vấn đề nảy sinh đối với các
tần số và các tài nguyên phổ tần trái ngược lại với công nghệ HSDPA Ví dụ về
các dịch vụ MBMS:
0 2 thử nghiệm trong băng UHF (độc lập với 3G)
Dịch vụ TDtv của IPWireless dùng một phần phổ tần của 3G
(WCDMA) cho truyền tải dữ liệu.
c Truyền hình di động sử dụng 3G HSDPA
HSDPA là sự phát triển của công nghệ 3G cho truyền tải dữ liệu tốc độ cao
Trang 28hỗ trợ tốt cho dịch vụ video HSDPA có thể mở rộng tốc độ bít lên đến l0Mb/s
hoặc thậm chí cao hơn (đường xuống) trong các mạng 3G với độ rộng băng là
5MHz Sở dĩ đạt được như vậy là do sử dụng các kỹ thuật lớp vật lý mới như
điều chế thích ứng và mã hóa, lập lịch đóng gói nhanh và chọn ô nhanh Trung
bình một người dùng có thể kỳ vọng tốc độ tải xuống 550-1000 kb/s Các tốc độ
này có thể vận chuyển được video chất lượng DVD cho các màn hình nhỏ của
truyền hình di động.
Vào giữa năm 2006, có tới 52 mạng HSDPA đã đi vào hoạt động tại 35
quốc gia và 120 mạng đã có những bước tiến dài trong kế hoạch Cingular
Wireless ở Mỹ đã có kế hoạch triển khai HSDPA ở hầu hết các thành phố của
Mỹ vào cuối năm 2006.
Các công nghệ như HSDPA không cố định mà luôn được cải tiến Các nhà
khai thác có mạng HSDPA hay có kế hoạch triển khai bao gồm:
Trang 29Phát quảng bá đa phương tiện và dịch vụ multicast là một công nghệ mới,
công nghệ này được thiết kế để khắc phục giới hạn của mạng 3G, cụ thể là để
vận chuyển các kênh trực tiếp cho người xem Mạng MBMS dùng hình thức
multicast để quảng bá nội đung tốt hơn là sử dụng chỉ một phiên unicast cho
từng cặp Hình thức unicast vốn đã bị hạn chế bởi dung lượng của các tài
nguyên tần số mạng di động Multicast như vậy đặc biệt có tác dụng cho các sự
kiện đặc biệt như thể thao hoặc hoà nhạc, trong khi hàng ừiệu khách hàng có thể
muốn truy nhập sự kiện đồng thời MBMS đã được Erisson trình diễn thành
công ở Stockholm.
1.3.3 Công nghệ DVB-H
Tháng 11/2004, Viện tiêu chuẩn viễn thông Châu âu (ETSI) đã công bố tiêu
chuẩn để chuyển tải nội dung đa phương tiện đến các thiết bị cầm tay, tiêu chuẩn
DVB-H.
Tiêu chuẩn DVB-H có thể chia sẻ các bộ hợp kênh quảng bá với tiêu chuẩn
DVB-T; DVB-H có tần số vô tuyến RF tương thích với DVB-T và có thể chia sẻ
cùng môi trường vô tuyến.
DVB-H sử dụng kỹ thuật lát cắt thời gian (Time Slice) để tiết kiệm công
suất trung bình của thiết bị đầu cuối và có thể chuyển giao tần số (kỹ thuật này
là bắt buộc cho truyền hình di động DVB-H) DVB-H sử dụng kỹ thuật sửa lỗi
trước cho dữ liệu đa giao thức MPE- FEC để cải thiện tỷ số C/N và Doppler
Trang 30trong các kênh di động cũng như cải thiện được dung sai nhiễu xung, cho phép
máy thu đương đầu với những tình huống thu khó.
Các kỹ thuật Time slice và MPE-FEC được thực hiện ở lớp liên kết nên
không ảnh hưởng đến lớp vật lý của DVB-T, nó tương thích hoàn toàn với lớp
vật lý của DVB-T đang tồn tại (DVB-T, DVB-S & DVB-C).
Time Slice và MPE-FEC có thể sử dụng cùng một bộ hợp kênh với các
dịch vụ không có Time Slice và MPE-FEC DVB truyền thống có thể tiếp tục
thu nhận các dịch vụ không có Time Slice và MPE-FEC.
DVB-H sử dụng thêm chế độ 4K (DVB-T chỉ có chế độ 2K, 8K) để cân
bằng khả năng di động và kích cỡ tế bào mạng SFN Chế độ 4K là chế độ trung
gian giữa chế độ 2K và 8K Việc thêm chế độ 4K có ảnh hưởng đến lớp vật lý, tuy
nhiên không làm tăng độ cồng kềnh của thiết bị (chỉ cần thêm cổng lôgic và bộ
nhớ) Phổ của chế độ 4K tương tự 2K và 8K nên không cần thay đổi bộ lọc phát
Máy phát DVB-H sẽ bao gồm các tham số hệ thống DVB-T và một số
mạch lôgic điều khiển trang thiết bị và nó hoàn toàn tương thích với các khối
khác của hệ thống.
Tuy nhiên đối với máy thu chế độ 2k, 8k không thể thu được tín hiệu chế
độ 4k, điều này không hạn chế khắt khe đối với bất kỳ mạng DVB-H mới sử
dụng chế độ 4k vì mục đích chính là cho dịch vụ mới và loại mới của thiết bị
xách tay, cầm tay Chỉ có hạn chế trong trường hợp nhu cầu dung lượng tăng
phải chia sẻ bộ hợp kênh giữa dịch vụ DVB-T và dịch vụ DVB-H.
Trang 31Hình 1.4 Hệ thống DVB-H
Khi DVB-H đưa vào trong mạng DVB-T đang tồn tại, tốc độ bít cho các
dịch vụ IP có thể được giành riêng nhờ bộ hợp kênh hoặc sử dụng điều chế phân
cấp Nếu không có đủ băng thông cho DVB-H, yêu cầu phải thiết lập mạng
DVB-H riêng.
Trong trường hợp chia sẻ băng thông giữa dòng truyền tải MPEC-2 với
dịch vụ DVB-H, thì bộ điều chế DVB-T phải điều chỉnh sao cho có thể nhận tín
hiệu DVB-H (ít nhất có một dòng truyền tải sử dụng Time Slice).
DVB-H phù hợp cho các kênh có độ rộng băng thông là 5, 6, 7 và 8 MHz,
hoạt động trên các băng tần III, IV, V và băng L.
Băng UHF là phù hợp với mô hình phủ sóng tế bào, băng UHF nằm ngay dưới
băng tần dành cho GSM Tuy nhiên, phải xem xét đến khả năng can nhiễu của truyền
hình di động khi sử dụng kênh tần số gần với băng tần thu của GSM 900MHz và
CDMA 800MHz Hơn nữa, với công suất tín hiệu truyền hình quá lớn có thể gây ra
cản trở cho các máy thu GSM, CDMA, trừ khi bộ lọc RF được sử dụng
Tại nhiều nước trên thế giới, đặc biệt ở Châu Âu do mật độ sử dụng băng
Trang 32UHF quá cao, nên một vài nước đã xem xét ấn định 2 hoặc 3 kênh UHF cho
dịch vụ truyền hình di động Hai kênh này họ sử dụng mạng đơn tần để phủ
sóng Mặc dù mạng đơn tần có cấu hình mạng khá phức tạp, nhưng bù lại hiệu
quả sử dụng phổ tần số rất cao và họ đã sử dụng với hai hoặc 3 mạng đơn tần để
phủ gối lên nhau.
Băng VHF có ưu điểm về đặc điểm truyền sóng hơn băng UHF Nhưng nó
lại không phù hợp với mô hình phủ sóng tế bào bởi vì anten của nó khá lớn khi
đặt tại các trạm Gốc (Base stations).
Đối với băng L có đặc điểm truyền sóng suy giảm hơn so với băng tần
UHF, VHF Tuy nhiên, do băng tần UHF, VHF đã sử dụng với mật độ cao nên ở
một số nước đã sử dụng băng L cho dịch vụ truyền hình di động thương mại tiêu
chuẩn DVB-H Với băng tần này có thể ảnh hưởng đến vùng lân cận băng tần
cao của GSM, CDMA và UMTS
1.3.4 Công nghệ T-ĐMB
Tháng 12/2002, Hàn Quốc đã công bố tiêu chuẩn truyền hình số đa phương
tiện T-DMB Công bố này đã được các nhà quảng bá và các nhà sản xuất thiết bị
tán thành mạnh mẽ Tiêu chuẩn T-DMB đã được hiệp hội công nghệ viễn thông
TTA đồng ý thông qua Mùa thu năm 2003, Hàn Quốc đã cho phát thử nghiệm
trên kênh 12 (204-210MHz) (kênh này chia làm 3 khối) tại Seoul Kết quả thử
nghiệm cường độ trường cho thấy rằng hệ thống T-DMB cung cấp thành công
thu truyền hình di dộng và có thể thu tốt tại tốc độ chuyển động 100km/h Mức
cường độ trường tối thiểu để thu tín hiệu DMB là 48-54 dBµV/m.
Sau khi luật về phát thanh truyền hình DMB được Chính phủ Hàn Quốc
thông qua vào tháng 8/2004, DMB bắt đầu phát triển mạnh Dịch vụ phát thanh
truyền hình đa phương tiện có hai loại: S-DMB (DMB vệ tinh) và T- DMB
(DMB mặt đất).
T-DMB đã đáp ứng yêu cầu của người sử dựng trên các phương tiện như
máy cầm tay, máy tính xách tay và máy thu trên ô tô.
Trang 33Theo kết quả điều tra của Hiệp hội báo chí và viễn thông KSJCS thì tỷ lệ
xem TV trong nhà là 86.2% và xem nơi công cộng, thiết bị thu di động, cầm
tay khoảng 13.8% Bên cạnh đó, tâm lý của người Hàn Quốc thích dùng công
nghệ cao và mới cũng sẽ giúp cho việc phát triển DMB Thêm vào đó, các dịch
vụ DMB được đánh giá là thích hợp nhất để truyền các thông báo khẩn vì người
dùng có thể nhận tín hiệu từ bất cứ lúc nào và bất cứ ở đâu qua máy thu cá nhân.
1.3.5 Truyền hình số di động MediaFLO
Kỹ thuật FLO do Qualcomm phát triển sử dụng kỹ thuật gói dữ liệu, được
thiết kế đặc biệt cho việc phân phối hiệu quả và kinh tế chương trình đa phương
tiện tới hàng triệu thuê bao không dây, đồng thời kỹ thuật này thực sự làm giảm
giá phân phối nội dung, cho phép người dùng nhận các kênh trên cùng các thiết
bị cầm tay di động mà họ sử dụng các dịch vụ thoại và dữ liệu tế bào truyền
thống FLO thực hiện tốt cho di động và hiệu quả phổ tần với công suất tiêu thụ
nhỏ nhất FLO dựa trên dòng chương trình sử dụng 30khung/ls cung cấp chương
trình 14 kênh phát thanh quốc gia thời gian thực và 5 kênh chương trình truyền
hình địa phương với thời gian thực (chương trình thời gian thực hỗ trợ các sự
kiện nóng hổi như thể thao) trên một kênh tần số 6MHz và có thể cung cấp 50
kênh chương trình quốc gia và 15 chương trình địa phương thời gian không thực
(nội dung đã được ghi lại), mỗi kênh cung cấp 20 phút nội dung trong một
ngày, người dùng có thể truy cập vào các chương trình thời gian không thực
theo một bản hướng dẫn (bao gồm ca nhạc, thời tiết, tin tức tổng hợp )
Ngoài các kênh chương trình truyền hình còn có thêm một số lượng lớn các
kênh dữ liệu thông qua giao thức mạng, bao gồm thông tin cập nhật về giao
thông, tài chính, thời tiết
- Kiến trúc hệ thống FLO bao gồm 4 hệ thống nhỏ: Trung tâm điều hành
mạng (NOC) (gồm trung tâm điều hành mạng quốc gia và 1 hoặc nhiều trung
tâm điều hành mạng địa phương); các máy phát FLO; mạng 3G và các thiết bị
đầu cuối máy cầm tay FLO NOC có chức năng tính cước, cơ sở hạ tầng quản lý
Trang 34nội dung cho mạng.
- FLO sử dụng kỹ thuật điều chế OFDM, số sóng mang con 4K, thông tin
được điều chế trên mỗi sóng mang con là QPSK, 16QAM Các tín hiệu được tổ
chức thành các siêu khung, mỗi siêu khung gồm 4 khung, mỗi siêu khung gồm
200 symbols/lMHz.
-Về kênh tần số, FLO sử dụng các kênh tần số có độ rộng kênh 5, 6, 7,
8MHz Với kênh 6MHz, FLO có thể cung cấp tốc độ lên đến 11,2Mb/s tương
ứng với vài chục kênh chương trình phát sóng đồng thời.
-Về băng tần số FLO có thể sử dụng đoạn băng tần từ 450MHz-2GHz Tuy
nhiên đoạn băng tần trên suy hao rất lớn nên thông thường sử dụng băng IV, V.
Ở Mỹ, FCC đã cấp phép đoạn tần số 698-746MHz, với khối 6MHz cho
nghiệp vụ quảng bá, di động, cố định, với công suất phát tối đa 50Kw, độ cao
anten phát 300m Với các thông số độ cao anten thu khoảng lm, hệ số nhiễu
8dB, tỷ số tín hiệu trên nhiễu SNR:16dB; anten thu bao gồm cả suy hao cầm tay
khoảng: -5,4dBi; với tần số trung tâm 716MHz, tính theo mô hình truyền sóng
Okamura Hata khu vực ngoại ô thì vùng phủ sóng khoảng 1937km2
Ở Mỹ đang phát triển FLO với kênh tần 6MHz, với tần số thấp hơn
700MHz; các vị trí có độ cao anten phát trung bình khoảng 100m.
1.3.6 Các công nghệ truyền hình di động khác
a Tiêu chuẩn ATSC cho phát truyền hình quảng bá mặt đất
Tiêu chuẩn ATSC sử dụng lược đồ điều chế khác gọi là 8 mức dải biên sót
lại (8VSB) Tốc độ dữ liệu 19,29Mb/s có thể thích ứng với băng thông 5,38MHz
bao gồm mã hóa RS 187/207 ATSC là “tiêu chuẩn ô”, nó định rõ các thành phần
hợp thành của phát quảng bá luồng.
• Mã hóa âm thanh - nén âm thanh Dolby AC-3 (tiêu chuẩn độc quyền được
dùng dưới bản quyền ATSC A/53)ệ
• Video - nén video MPEG-2 (ITU H222).
• Luồng truyền tải MPEG (ETSI TR 101 890).
Trang 35• Dịch vụ chương trình và giao thức thông tin PSIP (ATSC A/65).
• Môi trường phần mền ứng dụng dữ liệu cơ sở (ATSC A/100), Java (JVM)
và chuẩn HTML.
• Chuẩn phát quảng bá dữ liệu - TCP (ATSC A/90) và chuẩn MPEG (ETSI
TRI 01 890).
Các mạng 8VSB không phù hợp với mạng với các mạng đơn tần số không
bằng tốc độ thu Thực tế hạn chế về sự thu trên các phương tiện giao thông đang
di chuyển chỉ nhỏ hơn 50km/h.
Do sự thiếu tương thích của tiêu chuẩn ATSC cho sự cải tiến truyền tải TV
di động, nhiều nước sử dụng công nghệ này có khuynh hướng tiến tới dùng các
công nghệ thay thế khác Một ví dụ là công nghệ MediaFLO (được nâng cấp bởi
Qualcomm), đó có nền tảng quản lý giao diện không gian CDMA trong khe
băng thông 6MHz Hệ thống sử dụng tần số 700MHz ở Mỹ với tháp vô tuyến
được cung cấp tín hiệu nguồn qua vệ tinh Hàn Quốc, nước này cũng sử dụng
ATSC đã di chuyển tới công nghệ DMB và Nhật Bản tiến tới DMB - S, ISDB - T
Một trong những ưu điểm của DVB - T đó là có thể chia sẻ chung cơ sở hạ tầng
với DVB - H Tuy nhiên, mặc dù thực tế thấy rằng ưu điểm ghép thêm phát
quáng bá đa phương tiện di động vào mạng truyền tải mặt đất sẵn có là không
thể đối với ATSC nhưng các công ty vẫn thực hiện việc cài đặt thêm DVB-H, ví
dụ Crown Castle ở Mỹ Mạng mới có cơ sở sử dụng trên băng L và độc lập với
mạng truyền dẫn ATSC trong nước Mỹ
b Công nghệ ISDB-T
Truyền hình di động sử dụng ISDB-T phát quảng bá mặt đất đang được
cung cấp ở Nhật Bản ISDB-T có nghĩa là phát quảng bá số dịch tích hợp và là
một tiêu chuẩn riêng.
Mạng ISDB-T sử dụng một phần của băng thông mặt đất số (1/13), nó
được gọi là một đoạn Hiện tại các dịch vụ này đang được cung cấp dưới cái tên
OneSeg, phản ánh kết quả việc sử dụng một đoạn băng thông mặt đất.
Trang 36Phát quảng bá số mặt đất (DTTB) bắt đầu ở Nhật vào tháng 12 năm 2003
và bắt đầu quá trình thay thế dần truyền tải tương tự theo khuôn dạng NTSC
Phổ tần quảng bá bao gồm các kênh 6MHz và vì thế bỏ trống truyền tải tương
tự, chúng được sử dụng cho các dịch vụ DTTB Đa số của phát quảng bá trên
DTTB bây giờ là HDTV.
Dịch vụ truyền hình di động sử dụng ISDB-T ở Nhật bắt đầu vào năm 2006
sử dụng 1/13 trong một kênh 5,6MHz Tham số mã hoá âm thanh và video cho
ISDB-T là:
Video-mã hoá sử dụng H.264 MPEG-4/AVC L1.2 tại độ phân giải
QVGA (320x240) 15fps;
Âm thanh-MPEG-2 AAC với tốc độ lấy mẫu 24.48kHz.
Một phân đoạn có băng thông 5,6/13 = 0,43MHz, hay 430kHz, có thể hỗ
trợ 312kb/s với điều chế QPSK và tỉ lệ mã ½ (đưa ra khoảng bảo vệ 1/8)
312kb/s dữ liệu có thể truyền video chuẩn được mã hoá ở tốc độ 180kb/s và âm
thanh ở 48kb/s, dữ liệu Internet và thông tin luồng chương trình ở 80kb/s Một
đoạn riêng lẻ có thể mang một kênh video và dữ liệu đi cùng với thông tin
chương trình (Hình 1.5).
Hình 1.5 Dịch vụ ISDB-T ở Nhật Bản
Trang 371.3.7 So sánh các công nghệ truyền hình di động
Bất kỳ sự so sánh nào của các công nghệ dịch vụ truyền hình di động là
một công việc khó khăn vì các công nghệ hiện nay được cung cấp dịch vụ dựa
trên nhiều ràng buộc như sự sẵn sàng phổ tần Các đặc điểm của các dịch vụ
dựa trên unicast và các đặc điểm của các dịch vụ dựa trên multicast và
broadcast là hoàn toàn khác nhau Tiêu biểu các tham số sau đây quan trọng
trong đánh giá công nghệ:
Sự ổn định của truyền dẫn và chất lượng dịch vụ kỳ vọng trong nhà
và ngoài trời.
Tiết kiệm nguồn
Thời gian chuyển kênh.
Các thông số của máy cầm tay hỗ trợ dịch vụ.
Hiệu quả sử dụng phổ tần.
Chi phí khai thác dịch vụ.
Các thông số như chất lượng, cước và đặc trưng thu, sự phụ thuộc
vào mạng cơ sở (như 3G).
Các yêu cầu của khách hàng như khả năng phủ sóng, khả năng
chuyển vùng, các kiểu máy cầm tay và khả năng sử dụng dịch vụ.
Bảng 1.1 So sánh tổng quan các công nghệ dịch vụ truyền hình di động.
Phân lớp Quảng bá Quảng bá Quảng bá Quảng bá Quảng bá
Giao diện vô tuyến DVBT,
COFDM CDMA
TDAB,COFDM
UTRAWCDMA
độc quyền, CDMA
Tổ chức tiêu chuẩn
hoá DVB Qualcomm
ETSI, DAB Forum 3GPP ETSI
Dung lượng tải 9Mbps/kênh
8MHz
1 Mbps/kênh 1,5MHz
384kbps trong kênh 5MHz
6Mbps in kênh 25MHz
Trang 38Công nghệ tiết
kiệm nguồn Cắt thời gian
CDMA Qualcomm, chọn mã CDMA
Giải ghép kênh, chuyển đổi Fourier chọn lọc
Chọn mã Chọn mã
Các băng tần khai
thác UHF, L- Band
700 MHz (Mỹ), UHF, L- Band
VHF,UHF IMTS 2000
S-Band (Hàn quốc), IMTS (Châu Âu)
Thời gian chuyển
kênh trung bình ~5 giây ~1,5 giây ~1,5 giây ~1,5 giây ~5 giây
Thời gian xem với
Các dịch vụ truyền hình di động có thể vận chuyển dòng video với chất
lượng chấp nhận được ở tốc độ 300Kbps, tương đương với tiêu dùng tài nguyên
cho 10 cuộc thoại trên mạng Vì vậy khi một khách hàng thiết lập phiên dòng thì
mở đầu sử dụng băng thông bị tính cước Cước này nằm trong khoảng
0,l-0,2USD/phút Một khách hàng xem trung bình 15 phút truyền hình di động một
ngày thì sẽ tiêu mất ít nhất 45USD/1 tháng cho 450 phút xem TV Đúng là các
nhà khai thác 3G đang tính cước dựa trên cước thuê bao tháng hơn là tính sử
dụng nhưng những nỗ lực này của họ là để quảng cáo Các dịch vụ MBMS sẽ là
bắt buộc đối với các dịch vụ 3G Truyền hình quảng bá không phải là ứng dụng
tốt nhất đối với các mạng 3G, đặc biệt khi có các sự kiện quan trọng được phát
quảng bá cho hàng triệu người xem.
Mặt khác, các mạng di động có thuận lợi rất lớn Đầu tiên, các mạng
cung cấp vùng phủ sóng của quốc gia rộng và các vùng địa lý trên thế giới Vì
vậy các khách hàng gần như nằm trong một vùng phủ sóng dịch vụ Thứ hai,
Trang 39bản chất unicast của dịch vụ cung cấp hỗ trợ tốt hơn đối với các dịch vụ video
theo yêu cầu Các máy cầm tay đã có các anten cần thiết và các bộ điều
hưởng cho dịch vụ di động và không bị ảnh hưởng tới các anten bổ sung và
các bộ điều hưởng cho các băng tần khác nhau Mức liên kết và phủ sóng rất
cao trong mạng di động Sự tương tác cũng cao với việc sử dụng đường hồi
tiếp di động Các công nghệ MBMS và MCBCS khắc phục các giới hạn của
dịch vụ unicast cho nhiều khách hàng.
Trang 40KẾT LUẬN CHƯƠNG I1
Lĩnh vực truyền hình di động cùng với đa phương tiện di động sẽ là một
lĩnh vực tăng trưởng mạnh trong tương lai gần, cũng như các mạng 3G tiếp tục
tục phát triển và tăng trưởng hơn nữa và sổ lượng khách hàng tăng lên nhanh
chóng đạt tới một lượng nhất định thì sẽ làm giảm mạnh giả thành của máy cầm
tay và dịch vụ.
Chúng ta cũng thấy được sự thay đổi liên tục của nhiều công nghệ đã triển
khai vì nhiều vấn đề khác nhau như phân bổ băng tần, cấp phép và phát triển các
tiêu chuẩn tiếp tục hướng tới các giải pháp chấp nhận được và hoà hợp toàn cầu
Các mạng đang khai thác có thể vận chuyển không chỉ dịch vụ truyền hình
di động mà trong sự phát triển không ngừng có thể vận chuyển cả các dịch vụ
đa phương tiện với nội dung phong phú hơn và nhiều hoạt ảnh hơn.
Mỗi công nghệ truyền hình di động đều có những ưu điểm, những
hạn chế cùng với những thuận lợi và khó khăn khác nhau Mạng
3G nói chung và mạng 3G WCDMA nói riêng có những ưu điểm và
những thuận lợi lớn như về cơ sở hạ tầng mạng, hỗ trợ truyền
dẫn unicast cho dịch vụ tốt đối với các dịch vụ theo yêu cầu,
mức liên kết và phủ sóng rất cao trong mạng di động, có thuận
lợi về máy cầm tay của người sử dụng, công nghệ MBMS khắc phục
tốt các hạn chế của dịch vụ unicast Các ưu điểm và thuận lợi
trên của mạng 3G WCDMA hứa hẹn cho việc triển khai dịch vụ
truyền hình di động và các dịch vụ đa phương tiện trên nền
mạng này đạt được nhiều thành công