1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

thực trạng loét bàn chân và sử dụng giày, dép của bệnh nhân đái tháo đường tại bệnh viện nội tiết trung ương

128 558 8

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 128
Dung lượng 9,65 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chính vì vậy chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Thực trạng loét bàn chân và sử dụng giày, dép của bệnh nhân đái tháo đường tại bệnh viện Nội tiết Trung Ương” với các mục tiêu sau:

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ

TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI

= = = = =  = = = = =

NGUYỄN THỊ LÂM

THùC TR¹NG LOÐT BµN CH¢N Vµ Sö DôNG GIµY, DÐP CñA BÖNH NH¢N §¸I TH¸O §¦êNG

T¹I BÖNH VIÖN NéI TIÕT TRUNG ¦¥NG

LUẬN VĂN THẠC SỸ Y HỌC

HÀ NỘI - 2012

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ

TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI

= = = = =  = = = = =

NGUYỄN THỊ LÂM

THùC TR¹NG LOÐT BµN CH¢N Vµ Sö DôNG GIµY, DÐP CñA BÖNH NH¢N §¸I TH¸O §¦êNG

T¹I BÖNH VIÖN NéI TIÕT TRUNG ¦¥NG

Trang 3

Tôi xin chân thành cảm tạ với tất cả tấm lòng biết ơn sâu sắc tới:

TS Nguyễn Đăng Vững - Người thầy đã trực tiếp dìu dắt, tận tâm hướng dẫn, giúp đỡ, tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi học tập nghiên cứu

và hoàn thành luận văn này

Tôi xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn chân thành tới Phó Giáo sư – Tiến sĩ Phạm Duy Tường cùng các Thầy Cô trong hội đồng bảo vệ Đề cương luận văn tốt nghiệp đã đóng góp cho tôi nhiều ý kiến quý báu để hoàn thành luận văn này

Tôi vô cùng cảm ơn Tiến Sĩ Hoàng Kim Ước - khoa Đái tháo đường, Thạc sĩ Nguyễn Minh Hùng – Trưởng khoa Nội Tiết 2, Thạc sĩ Nguyễn Trần Kiên - Trưởng khoa Chăm sóc bàn chân, Bệnh viện Nội Tiết TƯ đã nhiệt tình giúp đỡ, tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình làm luận văn

Tôi xin gửi lời cảm ơn tới toàn thể các Bác sỹ, Điều dưỡng và Nhân viên khoa chăm sóc bàn chân, khoa nội tiết 2 và khoa đái tháo đường Bệnh viện Nội Tiết TƯ đã giúp đỡ và tạo mọi điều kiện tốt nhất cho tôi trong quá trình thực hiện luận văn

Tôi chân thành cảm ơn các đồng nghiệp tại Bộ môn PHCN – trường Đại học Y Hà Nội đã luôn luôn khích lệ, động viên tôi nỗ lực hơn nữa, tạo thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn này

Và tôi vô cùng biết ơn gia đình, bạn bè những người thân yêu đã luôn ở bên tôi, động viên, khích lệ tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện luận văn để hôm nay tôi có thể ở đây!

Một lần nữa, tôi xin trân trọng cảm ơn

Trang 4

Hà nội ngày 15 tháng 10 năm 2012

Nguyễn Thị Lâm

Trang 5

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan tất cả những số liệu trong đề tài này là hoàn toàn trung thực, khách quan, do bản thân tôi thực hiện Đề tài này chưa từng được công bố trong bất kỳ một công trình nghiên cứu nào.

Tác giả

Nguyễn Thị Lâm

Trang 6

ĐẶT VẤN ĐỀ

“Hãy kiểm soát đái tháo đường ngay từ bây giờ” Đó là một thông điệp nhân ngày “Thế giới phòng chống đái tháo đường năm 2011” nhằm ứng phó với xu hướng gia tăng nhanh chóng bệnh đái tháo đường (ĐTĐ) và tình trạng tuổi mắc ngày càng trẻ hóa ở nước ta Ở Việt Nam, số người mắc bệnh ĐTĐ ngày càng tăng nhanh nhất là ở các đô thị lớn Theo Mai Thế Trạch và cộng

sự (1993), điều tra 5416 người (> 15 tuổi) ở thành phố Hồ Chí Minh thấy tỷ lệ mắc ĐTĐ là 2,52% [14] Năm 2000 tiến hành điều tra trên 2017 người (> 16 tuổi) tại Hà Nội, Tô Văn Hải và cộng sự (CS) thấy tỷ lệ mắc ĐTĐ là 3,6% Tạ Văn Bình và CS (2001), khi điều tra các thành phố lớn là Hà Nội, Hải Phòng, Đà Nẵng và thành phố Hồ Chí Minh thấy rằng tỷ lệ ĐTĐ là 4,9% và tỷ lệ người

có nguy cơ phát triển thành ĐTĐ là 38,5% [6] Năm 2002, bệnh viện Nội tiết Trung Ương tiến hành điều tra trên qui mô toàn quốc thấy tỷ lệ mắc ĐTĐ trên toàn quốc là 2,7%, khu vực thành phố là 4,4%, miền núi và trung du là 2,1%

và ở đồng bằng là 2,7% [5]

Loét bàn chân (LBC) là một biến chứng của ĐTĐ Đó là một biến chứng mãn tính, lâu dài, điều trị tốn kém, là nguyên nhân quan trọng của nhiễm trùng và cắt cụt chi Hậu quả của LBC không những ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe, kinh tế, chất lượng sống của người bệnh và gia đình mà còn ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế toàn xã hội Theo Tổ chức Y

tế thế giới tháng 3 năm 2005, 15% số người bệnh đái tháo đường có bệnh lý

về bàn chân, 20% trong số họ nhập viện hàng năm là do LBC [17] Tỷ lệ tổn thương bàn chân ĐTĐ đã được báo cáo là 4,75% tại Hy Lạp (theo Papanas N., and Maltezos E 2009) [31] Theo Bakkerk và Foster AVA (2005), người ta ước tính rằng cứ 30 giây trôi qua thì có một chi dưới lại bị cắt cụt do bệnh ĐTĐ LBC do ĐTĐ là nguyên nhân hàng đầu của cắt cụt chi không do chấn

Trang 7

thương ở phương Tây Tỷ lệ cắt cụt chi ở bệnh nhân ĐTĐ cao gấp 15 lần so với các đối tượng không bị ĐTĐ [31] Ở Việt Nam, theo nghiên cứu(NC) của Nguyễn Thị Lạc (2011) trên 1156 bệnh nhân bị ĐTĐ ở Sóc Trăng, thấy tỷ lệ LBC là 8,6%, tỷ lệ cắt cụt chi chiếm 3,5% [10] Tại bệnh viện Nội tiết Trung Ương [2004] thấy tỷ lệ LBC trên bệnh nhânđến khám lần đầu tại nhóm đối tượng nghiên cứu là 1,2% [3] Theo dõi từ tháng 6/2004 đến 8/2005 tại bệnh viện Nội tiết Trung Ương thấy 60 bệnh nhân ĐTĐ có LBC nhập viện điều trị, chiếm tỷ lệ 1,9% tổng số bệnh nhân ĐTĐ nhập viện cùng thời gian, trong đó tỷ

lệ cắt cụt chi trong số 60 bệnh nhân đái tháo đường có LBC kể trên là 51% [12]

Do hiểu biết và nhận thức của bệnh nhân ĐTĐ về bệnh ĐTĐ tăng lên cộng thêm điều kiện kinh tế ngày càng phát triển nên nhu cầu được điều trị LBC hiệu quả ngày càng tăng cao Bệnh nhân ĐTĐ ngoài việc kiểm soát tốt đường huyết, chế độ dinh dưỡng và lối sống hợp lý còn cần được chăm sóc bàn chân đúng cách, toàn diện Để chăm sóc bàn chân bệnh nhân ĐTĐ tốt, bệnh nhân cần có giày, dép thích hợp (đặc biệt trên những bệnh nhân ĐTĐ kèm theo mất cảm giác) [21] [22] [23] Ở Việt Nam, việc sử dụng giày, dép

hỗ trợ điều trị LBC còn khá mới đối với cả bệnh nhân ĐTĐ và các bác sĩ điều trị Hiện nay vẫn chưa có nghiên cứu nào về vấn đề này Việc thiết kế sản xuất giày, dép cho bàn chân ĐTĐ chưa có nhiều mặc dù hiệu quả của nó đã

được chứng minh Chính vì vậy chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Thực

trạng loét bàn chân và sử dụng giày, dép của bệnh nhân đái tháo đường tại bệnh viện Nội tiết Trung Ương” với các mục tiêu sau:

1 Mô tả thực trạng loét bàn chân của bệnh nhân đái tháo đường tại Bệnh viện Nội tiết Trung Ương năm 2012 và một số yếu tố liên quan

2 Mô tả việc sử dụng giày, dép của bệnh nhân đái tháo đường tại bệnh viện Nội tiết Trung Ương và một số yếu tố liên quan

Trang 8

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 Bệnh Đái tháo đường và các biến chứng mãn tính.

1.1.1 Định nghĩa bệnh ĐTĐ: là tình trạng tăng đường máu mãn tính đặc

trưng bởi rối loạn Glucid, Lipid, Protid kết hợp với giảm tuyệt đối hoặc tương đối tác dụng của insulin và/hoặc bài tiết insulin

Theo Hiệp hội Đái tháo đường Hoa Kỳ (American Diabetes Association - ADA) – 2011 [17] [18]: một bệnh nhân được coi là ĐTĐ nếu có một trong các đặc điểm sau:

- HbA1c ≥ 6.5%: Glucosylated hemoglobin là tên gọi đại diện cho một

số các hemoglobin khác nhau xuất hiện trong huyết thanh Kết quả của việc gắn glucose hoặc sự chuyển hóa glucose vào hemoglobulin (HbA0), vì vậy có nhiều loại hemoglobulin HbA1a, HbA1b, HbA1c và có tên gọi chung là HbA1

- Hoặc đường máu đói (nhịn ăn tối thiểu 8 giờ) ≥ 7 mmol/l, được làm ít nhất 2 lần vào 2 ngày khác nhau

- Hoặc đường máu 2 giờ sau Nghiệm pháp tăng đường máu (NPTĐM)

≥ 11,1 mmol/l

- Hoặc đường máu bất kỳ ≥ 11, 1 mmol/l và có triệu chứng tăng đường máu cổ điển (đái nhiều, khát nhiều, sụt cân không giải thích được)

1.1.2 Phân loại

Cũng theo ADA [17][18], các thể bệnh của đái tháo đường bao gồm:

(Tiêu chuẩn chẩn đoán ĐTĐ type 1,2 dựa vào tiêu chuẩn của Tổ chức Y

tế thế giới được vận dụng cho phù hợp với điều kiện Việt Nam)

- ĐTĐ type 1:

Được chẩn đoán ĐTĐ trước 40 tuổi (nhất là trước 30 tuổi)

Bệnh nhân thường gầy

Trang 9

Khởi phát đột ngột.

Đường máu thường cao, có chiều hướng nhiễm toan - ceton

Bệnh nhân phải được điều trị bằng Insulin mới kiểm soát được đường máu

- ĐTĐ type 2:

Được chẩn đoán ĐTĐ sau 40 tuổi

Bệnh nhân thường béo

Khởi phát bệnh thường từ từ

Không có chiều hướng nhiễm toan - ceton

Kiểm soát được đường máu bằng chế độ ăn, luyện tập và/ hoặc các thuốc uống hạ đường máu

- ĐTĐ do nguyên nhân khác: ĐTĐ do bệnh tụy nội ngoại tiết (viêm tụy mạn, cắt tụy…), do dùng thuốc (corticoid), do bệnh nội tiết khác (hội chứng Cushing, cường giáp…), hội chứng di truyền kết hợp (hội chứng Down, hội chứng Turner…)

- Tai biến mạch não

- Bệnh mạch máu ngoại biên

1.1.3.3 Biến chứng nhiễm khuẩn

- Nhiễm khuẩn da

- Phổi: viêm phổi, lao phổi

- Nhiễm khuẩn tiết niệu

Trang 10

1.2 Biến chứng loét bàn chân do đái tháo đường

1.2.1 Định nghĩa loét bàn chân

Loét bàn chân (LBC) là hậu quả của bệnh lý thần kinh ngoại biên (do giảm cảm giác, rối loạn thần kinh tự động) và thiếu máu (do xơ vữa mạch của các mạch máu ở chân)

Ở bệnh nhân ĐTĐ, tổn thương mạch máu thường bị hai bên, tổn thương nhiều đoạn và ở xa, liên quan đến các động mạch phía dưới gối [14]

Nhiễm trùng ít khi là một yếu tố đơn độc mà thường gây biến chứng ở người có bệnh lý thần kinh và thiếu máu Nhiễm trùng gây ra những hoại tử

mở rộng, tạo nên vết loét bàn chân

LBC do ĐTĐ có thể chia làm 2 nhóm chính trên lâm sàng

- LBC do bệnh lý thần kinh: trong đó bệnh lý thần kinh chiếm ưu thế, tuần hoàn của bàn chân còn tốt

- LBC do thần kinh- thiếu máu: phối hợp cả bệnh lý thần kinh và thiếu máu, thường mất mạch của bàn chân

Tổn thương do thiếu máu đơn thuần không phối hợp với bệnh lý thần kinh hiếm thấy ở bệnh nhân ĐTĐ [37]

1.2.2 Phân loại LBC

Năm 1970, các tác giả Wagner và Megitte ở bệnh viện Rancho Los Amigos, California đã lập ra bảng phân loại tổn thương loét bàn chân gồm 6 phân độ: độ 0, 1, 2, 3: chủ yếu đánh giá mức độ sâu của tổn thương, độ 4 và

độ 5 đánh giá mức độ lan tỏa của tổn thương và có liên quan đến tổn thương mạch máu nhiều hơn [27]:

- Độ 0: Không loét, nhưng có các yếu tố nguy cơ gây loét như biến dạng chân hoặc chai chân

Trang 11

- Độ 1: loét nông, không thâm nhập các mô ở sâu.

- Độ 2: loét qua tổ chức dưới da, đụng xương, khớp, dây chằng

- Độ 3: viêm gân, viêm xương, áp xe hoặc viêm mô tế bào sâu

- Độ 4: hoại tử ngón chân hoặc phần trước của bàn chân

- Độ 5: hoại tử lan rộng bàn chân

1.2.3 Quá trình dẫn đến LBC do đái tháo đường, cơ chế bệnh sinh của LBC.

Tăng đường huyết là một yếu tố nguy cơ độc lập để các bệnh lý thần kinh và xơ vữa động mạch tiến triển nhanh trong bệnh ĐTĐ, nó đóng vai trò quan trọng dẫn đến LBC Bệnh lý thần kinh dẫn đến giảm nhạy cảm cảm giác

và đôi khi gây biến dạng bàn chân Tổn thương thần kinh cảm giác ngoại vi dẫn đến giảm cảm giác bảo vệ, bàn chân khó kiểm soát nên dễ bị các chấn thương do tăng áp lực, chấn thương cơ học hoặc do nhiệt Nếu cộng thêm

đi giày/ dép không phù hợp hoặc đi chân trần có thể gây loét mãn tính Đồng thời, bệnh lý thần kinh ngoại vi cũng làm thay đổi cấu trúc bàn chân gây mất

ổn định tư thế và điều hợp ảnh hưởng đến cơ sinh học dáng đi Hạn chế tầm vận động và thay đổi cấu trúc chịu lực của bàn chân là hậu quả từ những xáo trộn trên Nhô xương, móng vuốt hoặc ngón chân cái búa, vòm bàn chân cao,

và trật các khớp bàn đốt là những biến dạng thường thấy ở bệnh nhân ĐTĐ Hạn chế tầm vận động ở khớp cổ chân và các khối xương bàn chân là ảnh hưởng đầu tiên của tăng áp lực bàn chân và ngón chân khi đi Quá trình này dẫn đến tăng áp lực dư thừa, chai chân và hình thành mô sẹo Tăng tải bất thường, thường xuyên làm xuất huyết dưới da và gây loét Khi các lớp bảo vệ của da bị phá vỡ, các mô bị tiếp xúc với vi khuẩn xâm nhập thì loét có thể tiến triển để trở thành bội nhiễm Bất kỳ vết loét sâu hoặc mở rộng đều có khuynh hướng gây viêm tủy xương Nhiễm trùng ảnh hưởng đến vỏ xương, xương hoặc tủy xương Viêm tủy xương làm chậm quá trình chữa lành vết thương và

là yếu tố nguy cơ cho tái loét [37]

Trang 12

LBC ở bệnh nhân ĐTĐ là kết quả của nhiều nguyên nhân, chúng có mối quan hệ gắn bó mật thiết với nhau Các nguyên nhân (chấn thương và nhiễm trùng, tổn thương đa dây thần kinh, bệnh lý mạch máu) này có thể phối hợp cùng thời điểm hoặc không Nhiễm trùng làm nặng thêm các vết LBC và cũng

là yếu tố nguy cơ gây cắt cụt chi nhưng ít khi là một yếu tố đơn độc gây nên LBC[20]

Các yếu tố sau đóng góp vào nguy cơ gây LBC ở người bệnh ĐTĐ [2] [17] [20]:

- Tuổi cao

- Giới nam

- Thời gian phát hiện bệnh đái tháo đường trên 10 năm

- Tình trạng kiểm soát đường máu kém

- Tình trạng bệnh lý thần kinh ngoại vi và bệnh lý mạch máu ngoại biên

- Có biến chứng võng mạc

- Tiền sử loét hoặc cắt cụt chân

- Chai chân

- Bằng chứng tăng áp lực lòng bàn chân

Trang 13

Vấp, dị vật, giầy chật

Sơ đồ 1: Cơ chế bệnh sinh của loét bàn chân ở bệnh nhân ĐTĐ

1.2.3.1 Vai trò của bệnh lý thần kinh

Bệnh lý thần kinh thường hay gặp nhất trong các biến chứng (BC) của ĐTĐ và là biến chứng sớm nhất Tỷ lệ của bệnh lý thần kinh rất khác nhau nhưng tăng lên theo thời gian bị bệnh và mức độ nặng của bệnh lý thần kinh tăng lên cùng với tuổi, mức độ kiểm soát đường máu của bệnh nhân [34]

ĐÁI THÁO ĐƯỜNG

Chấn thương BL Thần kinh ngoại vi BL Mạch máu ngoại vi

Giảm

cảm giác

Yếu cơ BC

↑ dòng máu

↑ tiêu xương

↓ mồ hôi nứt da

RLDD Tắc mạch

TT Khớp

Sập vòm BC Biến dạng chân VT lâu lành Hoại tử

LOÉT BÀN CHÂN

Trang 14

Bệnh lý thần kinh ĐTĐ tác động đến thần kinh chủ động (bao gồm thần kinh vận động, thần kinh cảm giác) và thần kinh tự động Đặc điểm của tổn thương thần kinh ĐTĐ là sự mất myelin từng đoạn, có tính chất đối xứng và lan tỏa dẫn đến làm giảm tốc độ dẫn truyền thần kinh, rối loạn tính nhạy cảm cảm giác và thần kinh tự động Nghiên cứu của William R Ledoux thấy biến chứng thần kinh ngoại vi có ở 88,5% bệnh nhân loét chân so với 55,0% bệnh nhân không loét (OR=6,28, độ tin cậy 95%: min: 1,88; max: 21,) [38], nghiên cứu của S.M.Ali, A.Basit và S.Mutaz trên 100 bệnh nhân đái tháo đường loét chân thấy 100% tổn thương loét có nguồn gốc thần kinh trong đó 58% phối hợp nguyên nhân thần kinh và thiếu máu cục bộ [36] Tại Việt Nam, trong nghiên cứu của Bùi Minh Đức (2002), 100% bệnh nhân ĐTĐ bị LBC có triệu chứng của tổn thương thần kinh ngoại vi với các mức độ khác nhau (giảm và/ hoặc mất phản xạ gân gót) [9], tỷ lệ đó là 88,9% ở nghiên cứu của Đặng Thị Mai Trang (2011) [15].

1.2.3.1.1 Rối loạn thần kinh chủ động (cảm giác và vận động):

- Giảm cảm giác bản thể và yếu các cơ nội tại bàn chân dẫn đến sự biến đổi cấu trúc của bàn chân (sập vòm bàn chân, ngón chân hình búa, hình vuốt) làm thay đổi các điểm tỳ đè của bàn chân [21]

- Liệt các cơ bắp chân, đặc biệt là cơ chày sau, ngoài việc làm sập vòm bàn chân, ngón chân cái vẹo trong mà còn làm giảm hấp thu sốc ( lực phản hồi) trong khi di chuyển Biến đổi cấu trúc của bàn chân gây ra tăng áp lực khi đi Các ngón chân biến dạng hình vuốt thú làm cho thì đẩy tới của bàn chân trong dáng đi khó khăn Kết quả là tăng ma sát ở phía bên của khớp bàn đốt ngón cái làm cho vùng da này dễ loét [23] Liệt cơ nội tại bàn chân gây mất cân bằng trong động tác gập, duỗi làm cho ngón chân có dạng như vuốt thú, phần đầu các đốt bàn chân bị nhô ra trước, gây tăng áp lực lớn ở đầu dưới các xương bàn chân [34]

Trang 15

- Giảm nhạy cảm với cảm giác đau, giảm cảm giác bản thể cộng với các biến dạng bàn, ngón chân đã làm tăng áp lực bất thường khi đứng, đi Trọng lượng cơ thể dồn lên phía đầu xương bàn chân làm cho các vị trí này dễ

bị loét [26]

- Giới hạn tầm vận động khớp làm bàn chân có độ cứng khi di chuyển gây ra giảm hấp thụ sốc (phản lực- lực dội) từ đó xảy ra hiện tượng cọ xát giữa giày/ dép và bề mặt da Điều đó làm tăng khả năng LBC [23]

1.2.3.1.2 Rối loạn thần kinh tự động:

- Tổn thương thần kinh tự động làm mở các shunt động – tĩnh mạch, tăng nhiệt độ da, tăng quá trình tiêu xương của xương cổ chân và gây rối loạn

vi tuần hoàn gây phù nề bàn chân – một yếu tố tiên lượng dẫn tới loét cả đối với tổn thương thiếu máu và bệnh lý thần kinh [20] [40] Rối loạn thần kinh

tự động làm tăng dòng máu đến da, nhưng lại làm giảm dòng máu mao mạch

có tác dụng dinh dưỡng cho mô bàn chân, gây hiện tượng thiếu máu vùng xa của bàn chân

- Hậu quả của tổn thương thần kinh tự động là da khô, nứt nẻ Sự tăng nhẹ áp lực và ma sát cũng đủ để gây ra sự hình thành các vết chai Rối loạn thần kinh tự động cũng gây giảm tiết mồ hôi tạo thuận lợi cho sự xuất hiện các vết nứt nhỏ ở da, tạo thành đường vào cho các chủng vi khuẩn bội nhiễm

và là khởi đầu thường gặp của loét sâu gan bàn chân

- Bàn chân Charcot: là hậu quả của bệnh lý thần kinh tự động trong ĐTĐ Sự thay cấu trúc chịu lực ở bàn chân kết hợp với quá trình tiêu xương gây nên biến dạng bàn chân và các dây chằng liên quan, tạo ra các điểm tỳ đè bất thường làm giảm chức năng bàn chân [23]

Trang 16

Sơ đồ 2: Cơ chế gây tổn thương loét bàn chân do bệnh lý thần kinh

1.2.3.2 Vai trò của bệnh lý mạch máu

Tổn thương mạch máu gây tình trạng thiếu máu bàn chân, làm nặng thêm các rối loạn dinh dưỡng của bàn chân Tổn thương này liên quan đến các động mạch của chi dưới Ở người ĐTĐ, các tổn thương này xuất hiện thường sớm hơn, nặng hơn và gặp nhiều hơn ở những người không bị ĐTĐ Bệnh lý mạch máu lớn thường phối hợp với bệnh lý thần kinh Bệnh lý mạch máu ở

Bệnh lý thần kinh

Giảm tiết

mồ hôi

Tác động mạch máu

Chấn thương không đau

Biến đổi xươngTiêu xương

Nhiễm trùng Loét bàn

thường

Biến dạng bàn chân

Teo cơ

Trang 17

người ĐTĐ thường lan tỏa, ở đoạn xa, hay gặp ở các động mạch của cẳng chân [14], nhưng cũng có thể phối hợp với các tổn thương mạch máu gốc chi.Trên những vết LBC ở bệnh ĐTĐ, các kết quả nghiên cứu thường thấy

có sự kết hợp của bệnh lý thần kinh và bệnh lý mạch máu [20] Ở người ĐTĐ tuýp 1, yếu tố thần kinh đóng vai trò chủ yếu gây ra các rối loạn dinh dưỡng bàn chân trong khi đó ở người ĐTĐ tuýp 2 cao tuổi hơn, tổn thương thần kinh

và mạch máu đóng vai trò quan trọng như nhau [40]

1.2.3.3 Vai trò của chấn thương: các chấn thương thường được coi như là

các yếu tố thuận lợi cho sự hình thành LBC trên bệnh nhân ĐTĐ

- Các chấn thương động: do các yếu tố tác động từ bên ngoài như vấp phải các vật cứng gây trầy xước ngón chân hoặc bàn chân, dẫn đến loét hoặc dẫm phải vật nhọn (gai, mảnh thủy tinh, vật sắc cạnh trong giày, dép, hoặc do

đi giày, dép quá chật tạo nên lực ép mạnh tại một điểm trên vùng da ngón chân hoặc bàn chân dẫn đến thiếu máu, hoại tử tại chỗ gây nên loét

- Các chấn thương tĩnh: là hậu quả của bệnh lý thần kinh vận động, cảm giác và tự động, tạo nên sự biến dạng cấu trúc bàn chân với những điểm

tì đè bất thường Các điểm tì đè bất thường đó đóng vai trò các chấn thương tĩnh gây loét bàn chân

- Tác động của thần kinh vận động – cảm giác làm yếu cơ bàn chân

và mất cân bằng trong các động tác co duỗi ngón chân, dẫn đến sập vòm bàn chân Tổn thương thần kinh tự động làm mở các shunt động – tĩnh mạch, gây tăng dòng máu, tăng tiêu xương, tạo nên thương tổn khớp vùng bàn chân, gây biến dạng bàn chân mà điển hình là bàn chân Charcot với các điểm tì đè mới

- Các điểm tì đè mới – mà hay gặp nhất là ở vị trí đầu ngón chân và đầu dưới xương bàn chân rất dễ tạo nên LBC [9]

Trang 18

1.2.3.4 Vai trò của nhiễm trùng

Nhiễm trùng là mối đe dọa nguy hiểm và thường trực đối với bàn chân của người ĐTĐ Nhiễm trùng thường làm vết loét trầm trọng thêm nhưng hiếm khi là nguyên nhân gây ra loét [20] Các vết LBC ở người bệnh ĐTĐ rất nhạy cảm với nhiễm trùng do đường máu cao là môi trường thuận lợi cho nhiễm trùng Mặt khác tình trạng đường máu cao, kéo dài trên bệnh nhân ĐTĐ dẫn tới suy giảm chức năng tự vệ của bạch cầu đa nhân trung tính, giảm tính hóa ứng động và sự tập trung bạch cầu và giảm chức năng miễn dịch tế bào [26] [27] [40]

Rối loạn tuần hoàn và bệnh lý thần kinh là điều kiện thuận lợi LBC người ĐTĐ lan rộng nhanh chóng Những vết thương dù nhỏ, nếu không được theo dõi và chăm sóc có thể tạo nên các nhiễm trùng âm ỉ, sau đó lan rộng vào sâu trong bàn chân Nhiễm trùng mô mềm ở sâu dẫn đến hoại tử chi kết hợp với viêm tủy xương thường dẫn đến cắt cụt chi [15]

1.2.4 Đặc điểm các vị trí LBC và tổn thương xương do đái tháo đường

LBC ở bệnh nhân ĐTĐ thường hay gặp ở mu bàn chân, ngón cái và đầu các ngón chân Boulton, Leutenegger [20] [40] đã nhấn mạnh đến vai trò của thần kinh cảm giác - vận động, dẫn đến sự biến đổi cấu trúc của bàn chân, làm thay đổi các điểm tì đè, tạo nên những điểm tì đè bất thường mà trước hết

là ở các ngón chân, làm cho ngón chân rất dễ bị loét Thêm vào đó, sự giảm nhậy cảm với cảm giác đau và giảm cảm giác bản thể khiến cho bệnh nhân không nhận biết ngón chân của mình bị loét và tiếp tục đi lại làm cho vết loét trở nên ngày càng trầm trọng Ngoài ra, bệnh lý mạch máu ngoại vi làm giảm cấp máu cho bàn chân, đặc biệt là ở ngọn chi (bàn, ngón chân), nên loét ở vị trí đầu ngón chân rất thường gặp trong bệnh lý bàn chân do ĐTĐ

Nghiên cứu của Đặng Thị Mai Trang (2011), trong số các vị trí loét bàn chân thường gặp, loét ở ngón chân chiếm tỷ lệ cao hơn các nhóm khác (28,9%)

Trang 19

Tiếp theo là vị trí loét ở gan bàn chân (17,7%) và gót chân (15,6%) [15] Vị trí tổn thương gặp nhiều nhất trong nghiên cứu Bùi Minh Đức (2002) là đầu các ngón chân (31,5%), tiếp đến là vị trí mu chân, gót chân, kẽ ngón chân cùng chiếm (9,3%) Cũng nghiên cứu này cho thấy tỷ lệ tổn thương xương bàn, ngón chân trên phim XQ ở nhóm có hoại tử là (52,4%) so với nhóm không hoại tử là (18,2%) [9].

1.2.5 Mức độ phổ biến của LBC trên bệnh nhân ĐTĐ.

Trên thế giới, theo tác giả Neil Haw và CS (1998), nghiên cứu tại Oxford thấy tỷ lệ LBC ở bệnh nhân ĐTĐ là 5% [30] Theo một nghiên cứu khác, theo dõi trong 4 năm một nhóm gồm 469 người bệnh ĐTĐ không có tiền sử loét chân từ trước tại Manchester, Young và CS (1994) thấy tỉ lệ mới mắc của LBC là 10,2% [39] Theo Reiber và CS (1999) cho thấy khoảng 15% bệnh nhân ĐTĐ sẽ tiến triển thành LBC trong cuộc đời của họ [34] Nghiên cứu của Levin (1988) ở Mỹ cho thấy 6% tổng số bệnh nhân ĐTĐ vào viện điều trị do bị các vết loét bàn chân [26] Hơn 2% tổng số bệnh nhân ĐTĐ nằm viện điều trị tại bệnh viện có LBC tiến triển.Trong nghiên cứu của Boulton (1988) thấy 1/5 tổng số bệnh nhân nằm viện do loét bàn chân có tiền sử loét chân từ trước [20]

Ở Việt Nam, khi tiến hành nghiên cứu tại tỉnh Sóc Trăng, Nguyễn Thị Lạc (2011) thấy tỷ lệ LBC là 8,6%, bệnh nhân phải cắt cụt chi là 3,5% [10] Bệnh viện Nội tiết Trung Ương (2004) theo dõi thấy tỷ lệ LBC trên BN đến khám lần đầu tại nhóm đối tượng nghiên cứu là 1,2% [3] NC của Nguyễn Thu Quỳnh (2007) tại bệnh viện Nội Tiết TƯ cho biết số BN loét chân đồng thời được phát hiện bị ĐTĐ chiếm tỷ lệ 13,3% tổng số các BN loét chân nhập viện, tỷ lệ BN có tiền sử loét chân và tiền sử cắt cụt chân do loét lần lượt là 11,1% và 5,8% [12]

Trang 20

1.2.6 Tình trạng loét tái phát, cắt cụt chi ở bệnh nhân ĐTĐ.

Khác với người bình thường, vết LBC ở bệnh nhân ĐTĐ rất khó liền vì cung cấp không đủ máu nên vùng tổn thương bị thiếu chất dinh dưỡng và oxy, thiếu các tế bào máu như bạch cầu để chống lại vi khuẩn, các tế bào chết không được dọn dẹp kịp thời Mặt khác, đường máu cao sẽ ức chế các hoạt động của bạch cầu, làm giảm hiệu quả của các phản ứng viêm chống nhiễm khuẩn Do vậy, vết thương rất dễ bị nhiễm trùng lan rộng và khó liền, dẫn đến buộc phải cắt cụt Một lý do khác là các động mạch có thể bị tắc hẹp ở các đoạn cẳng chân hoặc cao hơn nên mặc dù bệnh nhân chỉ có nhiễm trùng khu trú một phần của bàn chân nhưng lại cần cắt cụt cao đến trên khớp gối [2] [17] [18]

Hàng năm có tới 50.000 ca phẫu thuật cắt cụt chi dưới ở bệnh nhân ĐTĐ có LBC, trong đó 24% cắt cụt ngón chân, 6% cắt cụt nửa bàn chân, 39% cắt cụt dưới gối và 21% cắt cụt trên gối [26]

Nguy cơ loét tái phát tăng cao ở những BN đã có tiền sử loét chân hoặc cắt cụt chân do loét Theo Đặng Thị Mai Trang (2011), cho thấy tỷ lệ bệnh nhân có tiền sử loét cũ chiếm tới 46,7% các đối tượng nghiên cứu và 22,2%

trong số họ đã từng bị cắt cụt chi với các mức độ khác nhau [15]

Bệnh nhân ĐTĐ có tiền sử loét và / hoặc cắt cụt chi bị biến dạng bàn chân, có sự tồn tại của bệnh lý động mạch ngoại biên (tình trạng lan tỏa ở đoạn xa), kèm theo giảm cảm giác bảo vệ sẽ làm tăng nguy cơ loét lên 2,8 -

16 lần Nếu kết hợp với một trong hai biến dạng hoặc giảm rung ở vùng mắt

cá chân sẽ làm tăng nguy cơ loét lên đến 32 lần hoặc phẫu thuật cắt bỏ chi lên đến 50-80% [37]

Phần lớn các phẫu thuật cắt bỏ chi dưới trên bệnh nhân ĐTĐ (70 – 90%) là hậu quả do loét trước đó [38] [41] LBC nếu được phát hiện sớm, điều trị kịp thời thì có thể ngăn ngừa được 49-85% các trường hợp bị cắt cụt [24] [31]

Trang 21

Tất cả các nỗ lực trong thời gian dài đã làm giảm tỷ lệ cắt cụt chi ở các nước châu Âu 37-75% trong vòng 10-15 năm [37] Điều trị loét bàn chân ở bệnh nhân ĐTĐ cần có nhiều biện pháp phối hợp để giảm thiểu nhiễm trùng, các vết loét tái phát, loét mới, cắt cụt chi và chi phí điều trị tăng do các biến chứng sau này Bàn chân bệnh nhân ĐTĐ nên được điều trị tích cực, chăm sóc phù hợp để giảm loét, ngăn chặn loét tái phát và giảm tỷ lệ cắt cụt chi.

1.3 Tầm quan trọng của sử dụng giày, dép trong chăm sóc, hỗ trợ điều trị loét bàn chân bệnh nhân ĐTĐ.

1.3.1 Các biện pháp chăm sóc, phòng ngừa tổn thương loét bàn chân và cắt cụt chi đối với bệnh nhân ĐTĐ [7].

- Không hút thuốc lá

- Giữ đường huyết ổn định: 5-7 mmol/l lúc đói

- Điều trị tăng huyết áp nếu có

- Điều trị rối loạn mỡ máu nếu có

- Luôn luôn mang giày dép kể cả trong nhà tránh giẫm phải vật sắc nhọn

- Khi mua giày nên mua vào buổi chiều, vừa cỡ vì lúc đó bàn chân giãn

nở tối đa Nên mua giày buộc dây để tùy chỉnh, mũi giầy rộng tránh lót bằng vật liệu nhựa tổng hợp

- Móng chân cần được cắt cẩn thận, bằng kéo Không cắt móng chân quá ngắn

- Những chỗ chai chân cần được gọt mỏng một cách khéo léo, bôi kem vaselin để ngăn sự dầy trở lại nhanh

- Nếu chân quá khô, ngâm chân vào nước ấm 5- 10 phút/ ngày Sau khi ngâm bôi kem vaselin để làm mềm da

- Để tránh bị bỏng chân không sưởi chân bằng điện, than Nước ngâm kiểm tra đọ ấm bằng tay

- Hàng ngày phải kiểm tra bàn chân trước khi ngủ để phát hiện tổn thương

Trang 22

- Kiểm soát ĐM, HA, chức năng thận; dinh dưỡng đầy đủ

1.3.3 Phân loại giày, dép cho bàn chân ĐTĐ trên thế giới

Ở nước ngoài, các loại giày dép cho người ĐTĐ thường phân thành 2 loại sau:

- Giày chỉnh hình đặt hàng: những đôi giày này được thiết kế, sản xuất bởi chuyên viên dụng cụ chỉnh hình, phục hồi chức năng Nó được thiết

kế phù hợp theo các đặc điểm riêng biệt trên từng bàn chân Chúng được làm

từ các loại vật liệu rất mềm như da mềm với các chi tiết đóng mở linh hoạt Loại giày này còn sử dụng các chi tiết hỗ trợ vòm bàn chân, gót chân hoặc các chi tiết độn Chúng được thiết kế chính xác theo biến dạng và hình dạng riêng của bàn chân người bệnh [13] [23]

- Giày, xăng đan chỉnh hình thông dụng: do một cơ sở, nhà máy sản xuất ra theo những tiêu chuẩn nhất định Giày được tạo theo các cỡ và sử dụng cho bàn chân người ĐTĐ chưa có biến dạng Trên từng bệnh nhân cụ thể sẽ thêm hoặc sửa sang cho phù hợp với tình trạng của họ Lót giầy có thể được chế tạo theo bàn chân người bệnh [13] [23]

* Ngoài ra còn có các loại đế (chất liệu mềm, chân không, đế tùy chỉnh ) được các cơ sở, nhà máy có chuyên môn về dụng cụ chỉnh hình sản xuất để có thể thêm vào trong (một cách phù hợp) các loại giày khác nhau [23]

Trang 23

Yêu cầu đối với giày, dép [16]:

- Bảo vệ được toàn bộ bàn chân, tránh sang chấn từ bên ngoài

- Đủ rộng để chứa tất cả bàn chân (kể cả những phần lồi xương do biến dạng)

- Chất liệu làm giày, dép phải tốt, càng ít mối nối càng tốt để tránh cấn tì vào bàn chân

kẽ, có nghĩa là bạn đã mang giày, dép nhỏ hơn chân

Trang 24

* Giày, dép cần có đủ các tiêu chuẩn sau [16]:

- Vừa vặn bàn chân: sau khi đi bộ khoảng 20 phút, bàn chân thường hơi sưng, do vậy dày tập thể thao nên rộng hơn giày, dép mang hàng ngày

- Đế giày, dép không quá cứng: có thể dùng tay gập lên xuống và xoắn qua lại được

- Đế bằng phẳng, phần gót hơi dày hơn phần mũi

- Giày, dép cần có thêm lớp đệm giữa phần đế và bàn chân (lớp đệm làm bằng những chất liệu thích hợp để hấp phụ những chấn động cho bàn chân)

- Giày, dép càng nhẹ càng tốt

- Giày đặt theo chân

- Tất với miếng đệm làm giảm áp lực

Hình 1.3: Cách lựa chọn giày dép cho người ĐTĐ

Những người có nguy cơ loét bàn chân thấp (là đối tượng chưa có biến chứng thần kinh và không có biến dạng bàn chân) có thể mang giày, dép vừa vặn bàn chân, giày đi bộ hoặc giày thể thao chất lượng tốt vẫn an toàn

Trái lại, đối với người có nguy cơ loét (có biến chứng thần kinh, đã bị mất cảm giác bảo vệ nhưng chưa có biến dạng), ngoài việc mang giày đi bộ thích hợp, cần thêm miếng đệm bên trong giày Kích thước miếng lót phải rộng đủ chứa hết lòng bàn chân

Trang 25

Người có biến dạng bàn chân phải mang giày rộng và sâu lòng; nếu có biến dạng nhiều thì phải mang giày đặt theo bàn chân cụ thể.

1.3.5 Mục đích sử dụng giày, dép hỗ trợ điều trị, chăm sóc LBC ở bệnh nhân ĐTĐ

Ở đây chúng tôi muốn nhấn mạnh đến khía cạnh sử dụng giày, dép cho bệnh nhân ĐTĐ như một cách hỗ trợ trong điều trị LBC nhằm phòng ngừa loét, giảm thiểu thời gian điều trị loét, phòng loét tái phát, chấn thương, nhiễm trùng dẫn đến hoại tử và cắt cụt chi

Khoảng một nửa LBC ở bệnh nhân ĐTĐ xảy ra trên bề mặt của bàn chân Bệnh lý TKNV và tăng áp lực cơ học bàn chân là yếu tố quan trọng gây LBC Giày, dép thường được dùng để ngăn ngừa viêm loét, đặc biệt là đối với bệnh nhân đã có tiền sử LBC trước đó Mục đích của giày, dép là bảo vệ

bề mặt da bàn chân, phân phối lại áp lực trên bề mặt bàn chân để giảm áp lực tại các vị trí có nguy cơ loét hoặc loét tái phát [22] [23]

Giày và đế chỉnh hình là những phương tiện chính bảo vệ bàn chân tăng áp lực trong quá trình đi bộ Một số NC đã cho thấy giày và đế chỉnh hình có thể làm giảm tỷ lệ loét ở bệnh nhân ĐTĐ Hiệp hội đái tháo đường Hoa Kỳ (American Diabetes Association - ADA) khuyến cáo việc sử dụng giày và đế chỉnh hình giúp phân phối lại áp lực trên bàn chân làm giảm tổn thương da và nhập viện trên những bệnh nhân ĐTĐ [29]

Giày và đế chỉnh hình đã được sử dụng rộng rãi để bảo vệ bàn chân, giảm áp lực bàn chân, giảm phá hủy mô liên kết do các chuyển động lặp đi lặp lại (cọ sát) dưới áp lực cao trong khi đi Việc làm giảm áp lực dưới mức bệnh lý có thể giúp ngăn chặn phát triển viêm loét bàn chân ngay cả khi BN duy trì mức độ hoạt động bình thường [25]

1.3.6 Phân loại giày dép thường gặp

Trang 26

1.3.6.1 Giày, xăng đan, đế chỉnh hình: chất lượng tốt, phù hợp cho bàn chân ĐTĐ Giá thành tương đối cao.

- Giày chỉnh hình đặt hàng: những đôi giày này được thiết kế, sản xuất bởi chuyên viên dụng cụ chỉnh hình, phục hồi chức năng Nó được thiết kế phù hợp theo các đặc điểm riêng biệt trên từng bàn chân Chúng được làm từ các loại vật liệu rất mềm như da mềm với các chi tiết đóng mở linh hoạt Loại giày này còn sử dụng các chi tiết hỗ trợ vòm bàn chân, gót chân hoặc các chi tiết độn Chúng được thiêt kế chính xác theo biến dạng và hình dạng riêng của bàn chân người bệnh [13] [22]

Hình 1.4: Giày chỉnh hình đặt hàng

- Giày, xăng đan chỉnh hình thông dụng: do một cơ sở, nhà máy sản xuất ra theo những tiêu chuẩn nhất định Giày được tạo theo các cỡ và sử dụng cho bàn chân người ĐTĐ chưa có biến dạng Trên từng BN cụ thể sẽ thêm hoặc sửa sang cho phù hợp với tình trạng của họ Lót giày có thể được chế tạo theo bàn chân người bệnh [13] [22]

Trang 27

Hình 1.5: Giày, Xăng đan chỉnh hình thông dụng

- Các loại đế (chất liệu mềm, chân không, đế tùy chỉnh ) được các cơ sở, nhà máy có chuyên môn về dụng cụ chỉnh hình sản xuất để có thể thêm vào trong (một cách phù hợp) các loại giày khác nhau [23] [22]

Hình 1.6: các loại đế chỉnh hình 1.3.6.2 Giày, xăng đan, dép bình thường được làm bằng chất liệu da, nhưa, vải tốt (giày da, giày vải, giày thể thao xăng đan da, nhựa mềm…), nó có thể

co giãn, bảo vệ bàn chân mà không gây trầy xước da Giá thành từ trung bình trở lên.

- Giày da mềm: giày được làm bằng chất liệu da mềm, có thể co giãn

Trang 28

- Dép nhựa tổ ong dép lê bằng nhựa: làm bằng nhựa tái sinh, giá thành rẻ.

Trang 29

Hình 1.9: Dép nhựa tổ ong Dép lê bằng nhựa

1.4 Một số nghiên cứu sử dụng giày trong chăm sóc điều trị LBC ở bệnh nhân ĐTĐ trên thế giới

Mặc dù giày cho bàn chân ĐTĐ sử dụng trong điều trị được các chuyên gia bàn chân ĐTĐ ủng hộ mạnh mẽ nhưng những thông tin khoa học liên quan đến hiệu quả của nó rất ít Các NC lâm sàng cho thấy rằng sự phát triển các vết loét mới trên bệnh nhân ĐTĐ có nguy cơ cao có thể được giảm đáng

kể với các loại giày được thiết kế cho bàn chân người ĐTĐ [25]

Năm 1997, Lavery Lawrence A và CS đã tiến hành thử nghiệm 32 bệnh nhân ĐTĐ có LBC (hoặc loét đã được chữa lành) tại Bệnh viện Đại học San Antonio Mục tiêu để so sánh hiệu quả điều trị, sự thoải mái khi sử dụng giữa giày thể thao có và không có lót viscoelastic Kết quả khi đi giày thể thao có lót viscoelastic có sự giảm áp lực rất tốt cho các ngón chân loét, giảm 3,2-18,8% cho loét ngón chân cái và giảm áp lực 42,6-48,4% loét dưới bàn chân và đầu dưới xương bàn chân 1 [25]

Theo Reiber Gayle E và CS (1997), sau 6 tháng thử nghiệm chéo 24 bệnh nhân ĐTĐ nam giới không bị loét chân mang những đôi giày được thiết

kế đặc biệt dựa vào hình dạng bàn chân ĐTĐ Kết quả nghiên cứu trên các khu vực bàn chân có nguy cơ loét cao nhất để xác định mức độ thoải mái, an toàn và tính khả thi của sản xuất giày cho bàn chân ĐTĐ Hơn 150 người quan sát giày trong 1 tháng cho biết lớp da bảo vệ không bị phá vỡ Bệnh

Trang 30

nhân phù hợp với giày dép là 88% Bệnh nhân rất hài lòng với việc mang giày thử nghiệm, thoải mái, vững chắc của cả hai loại lót Tuy nhiên, 75% số bệnh nhân thấy rằng những đôi giày nghiên cứu cảm thấy nặng hơn giày thông thường của họ [35]

Năm 2003, Praet Stephan F E, Louwerens Jan-Willem K đã nghiên cứu trên bệnh nhân ĐTĐ có bệnh lý thần kinh Ba loại giày thiết kế đã được thử nghiệm với bệnh nhân ĐTĐ khi đi bộ Kết quả là khi sử dụng giày kèm theo Rocker (bộ phận cân bằng) áp lực bên dưới gót chân và đầu xương bàn chân

đã giảm từ 35%- 65% Nhìn chung tác động của 1 chiếc đế phụ thuộc vào đặc điểm thiết kế một chiếc giày [32]

NC của Mueller Michael J và CS (2006) trên 20 đối tượng ĐTĐ có bệnh lý TKNV và có tiền sử loét BN được thử nghiệm đi một trong 3 loại giày khác nhau:

- Giày cho bàn chân ĐTĐ

- Giày cho bàn chân ĐTĐ + đệm lót từng phần hoặc toàn phần

- Giày cho bàn chân ĐTĐ + đệm lót từng phần hoặc toàn phần + miếng lót vùng xương bàn chân

Sự khác biệt của các kết quả có ý nghĩa thống kê (p <0,05) Khi đi giày cho bàn chân ĐTĐ áp lực đỉnh bàn chân giảm (16% - 24%) so với giày dép thông thường Với giày cho bàn chân ĐTĐ + đệm lót từng phần hoặc toàn phần, áp lực đỉnh bàn chân giảm 19% - 24% và áp lực toàn phần giảm 16% - 23% so với đi giày cho bàn chân ĐTĐ Việc bổ sung miếng đệm lót vùng xương bàn chân đã làm giảm áp lực đỉnh bàn chân xuống 15% - 20% và áp lực toàn phần giảm 22% - 32% so với đi giày cho bàn chân ĐTĐ + đệm lót từng phần hoặc toàn phần, trong khi áp lực đỉnh bàn chân tăng 30,8% tại trục giữa xương bàn 2 [29]

Trang 31

Năm 2011, Bus Sicco A và CS đã tiến hành NC trên 23 bệnh nhân ĐTĐ

có bệnh lý TKNV (17 nam, 6 phụ nữ) Trong đó 18 BN có tiền sử LBC 1 lần Tất cả BN có ít nhất một bàn chân bị biến dạng (ngón chân vuốt thú, ngón chân cái búa, vẹo ngón cái, bàn chân Charcot, hạn chế tầm vận động, bàn chân bẹt hoặc bàn chân vòm) Giày thiết kế cho bàn chân ĐTĐ hoặc lót đúc vòm trong giày được sản xuất theo tiêu chuẩn Thời gian đi giày thiết kế cho bàn chân ĐTĐ trung bình là 2,3 tháng Kết quả thu được áp lực đỉnh bàn chân giảm 24,3% (p <0,001) so với giày dép thông thường, giảm áp lực toàn phần

là 30,2% (từ 18-50% trên toàn khu vực) Áp lực đỉnh bàn chân cũng giảm theo từng vị trí khác nhau: ngón cái là 33,4% (từ 17,6 - 51,8%), giảm 27,9% ( 17,2- 38,2) khu vực đầu xương bàn chân và giảm 29,7% (17,1- 40,0%) vùng giữa lòng bàn chân (p = 0,23) [22]

Qua một số NC trên thế giới, chúng tôi thấy việc sử dụng giày chỉnh hình hỗ trợ điều trị LBC ở bệnh nhân ĐTĐ đã được sử dụng rộng rãi trên thế giới và hiệu quả của nó đã được chứng minh Dùng giày chỉnh hình cho bàn chân ĐTĐ để giảm áp lực bàn chân là một trong những cách ít tốn kém và thiết thực nhất để ngăn chặn sự phát triển hoặc tái loét bàn chân bệnh nhân ĐTĐ có bệnh lý thần kinh [24]

1.5 Tình hình nghiên cứu chế tạo, sử dụng giày dép dành cho bệnh nhân ĐTĐ tại Việt Nam

Ở Việt Nam, chưa có nghiên cứu về sử dụng giày dép trong chăm sóc bàn chân, hỗ trợ điều trị LBC ở bệnh nhân ĐTĐ

Tại bệnh viện Nội tiết TW trước đây, việc sử dụng giày chỉnh hình và giày dép cho bệnh nhân ĐTĐ vẫn hoàn toàn tự phát Các nhân viên y tế thường xuyên tư vấn cho bệnh nhân nên chọn giày dép để chăm sóc bàn chân tốt hơn và phòng chống LBC, tái loét nhưng chưa phổ biến tiêu chuẩn cụ thể

về giày, dép cho bàn chân ĐTĐ Việc thiết kế và sản xuất các loại giày dép cho bàn chân ĐTĐ nói chung và các bàn chân ĐTĐ có biến dạng nói riêng

Trang 32

đều do các cơ sở sản xuất giày dép mang tính gia truyền đưa ra, chất lượng các sản phẩm đó chưa được kiểm nghiệm Xây dựng bộ tiêu chuẩn cụ thể về chất lượng của giày dép cho bàn chân ĐTĐ là một việc cần thiết tại Việt Nam trong giai đoạn này.

Tháng 12/2011, Đào Vĩnh Sơn (Trung tâm thiết kế và Phát triển sản phẩm – Viện nghiên cứu Da GiÀy) đã nghiên cứu thiết kế, chế tạo giày dép cho bệnh nhân ĐTĐ và đầu năm 2012 đã bắt đầu bán sản phẩm đến bệnh nhân có nhu cầu tại Bệnh viện Nội tiết TW Các sản phẩm này chỉ có một số

ít mẫu mã, hình thức chưa phong phú

Trang 33

Sản phẩm của Viện nghiên cứu Da Giàybày bán cổng Bệnh viện Nội tiết TW

Hình 1.10: Giày Nữ (500.000đ) Hình 1.11: Xăng - đan Nam

(315.000đ)

Hình 1.12: Giày Nam(500.000đ) Hình 1.13: Xăng- đan Nam

(350.000đ)

(đặt hàng: chỉnh vòm trong bàn chân)Ngoài ra còn có một số sản phẩm giày dép cho người ĐTĐ nhập từ nước ngoài được bán ở bên ngoài Bệnh viện Nội tiết, giá thành cao nên rất ít người mua

Trang 34

“Từ hồi em nhập đôi xăng đan này về, chưa bán được cho ai” (Nữ nhân viên bán hàng – cửa hàng ở cổng BV Nội Tiết TW tâm sự)

Một số sản phẩm chăm sóc bàn chân BN ĐTĐ nhập ngoại

bày bán ở cổng Bệnh viện Nội Tiết TW

Hình 1.14: Xăng đan cho người ĐTĐ

Giá: 1.800.000đNguồn gốc: Ấn Độ

Hình 1.15: Tất chống nhiễm khuẩn cho người ĐTĐ (dành cho loét bàn chân)

Giá: 425.000đNguồn gốc: Ấn Độ

Hình 1.16: Tất chống nhiễm khuẩn cho người ĐTĐ (dành đi trong nhà)

Giá: 380.000đNguồn gốc: Ấn Độ

Hình 1.17:Tất chống nhiễm khuẩn cho người ĐTĐ (dành đi ra ngoài tập

thể dục)

Giá: 355.000đNguồn gốc: Ấn Độ

Trang 35

Trên đây là tất cả những sản phẩm cho BN ĐTĐ bán ở cổng Bệnh viện Nội tiết TW

Bệnh nhân ĐTĐ tại Bệnh viện Nội Tiết TW sau khi cắt cụt chi được xuất viện Vấn đề lắp chi giả và các giày chỉnh hình đặt theo chân của Bệnh nhân giúp cân bằng dáng đi và di chuyển thuận lợi, thoải mái chưa được các Bác sĩ

đề cập đến Bệnh nhân sau cắt cụt chi có nhu cầu lắp chân giả và các các giày dép chỉnh hình phù hợp thường do người quen chỉ dẫn đến các cơ sở chỉnh hình để làm các dụng cụ này

1.4 Một số yếu tố ảnh hưởng đến sử dụng giày, dép hỗ trợ chăm sóc, điều trị LBC trên bệnh nhân ĐTĐ tại Việt Nam.

- Bệnh nhân thiếu thông tin về sử dụng giày đép cho bàn chân ĐTĐ

- Hệ thống cung cấp dịch vụ, sản xuất giày dép cho bàn chân ĐTĐ còn hạn chế ở Việt Nam

- Các nguyên vật liệu sản xuất giày dép cho bàn chân ĐTĐ tại nước ta đa phần nhập khẩu từ nước ngoài nên giá thành cao, nguồn cung bị phụ thuộc

- Hầu hết các nhà cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe thiếu thông tin và chưa có hiểu biết toàn diện về giày dép cho bàn chân ĐTĐ nên việc chỉ định giày dép trong hỗ trợ điều trị, chăm sóc bàn chân ĐTĐ nhiều khi chỉ đạt hiệu quả tương đối [25]

- Có thể là do thiếu hướng dẫn có sẵn (dựa trên bằng chứng) nên việc chỉ định giày dép cho bàn chân ĐTĐ thiếu hiệu quả, khó khăn khi thiết kế giày dép phù hợp với bàn chân người ĐTĐ tại Việt Nam Tình trạng này hiện đang làm cho việc cung cấp và đánh giá giày dép cho bàn chân ĐTĐ phần lớn là một quá trình thử và sai, nơi mà các kỹ năng và kinh nghiệm của nhóm nghiên cứu lâm sàng quyết định nhiều đến kết quả điều trị Kết quả điều trị tốt chỉ có thể đạt được với đội ngũ chuyên gia phục hồi chức năng và kỹ thuật viên chỉnh hình có kinh nghiệm [22]

- Hành vi sử dụng giày dép của bệnh nhân ĐTĐ (tại Việt Nam nói chung

và tại bệnh viện Nội tiết TW nói riêng) ngoài tư vấn của nhân viên y tế còn bị tác động của các yếu tố khác như khí hậu nóng ẩm, nghề nghiệp, thói quen đi chân đất, kinh tế khó khăn, nhận thức của người bệnh về bệnh ĐTĐ và tác dụng của giày dép với việc chăm sóc bàn chân… cũng ảnh hưởng đến việc sử

Trang 36

dụng giày dép hỗ trợ chăm sóc và điều trị bàn chân cho bệnh nhân ĐTĐ ở Việt Nam.

Trang 37

CHƯƠNG 2

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Địa điểm nghiên cứu

- Khoa chăm sóc bàn chân, bệnh viện Nội tiết Trung Ương: khoa thường nhận điều trị bệnh nhân ĐTĐ có biến chứng bàn chân

- Khoa đái tháo đường, bệnh viện Nội tiết Trung Ương: bệnh nhân điều trị ở khoa đều là người bệnh ĐTĐ

- Khoa nội tiết 2, bệnh viên Nội tiết Trung Ương: ngoài bệnh nhân ĐTĐ còn có các bệnh nhân mắc dạng bệnh nội tiết khác trong khoa này

2.2 Đối tượng nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu là những bệnh nhân được chẩn đoán xác định (bởi các Bác sĩ chuyên khoa nội tiêt) là đái tháo đường type 1 hoặc type 2, tuổi từ 18 trở lên, đến điều trị nội trú tại khoa chăm sóc bàn chân, khoa đái tháo đường, khoa nội tiết 2 - BV Nội tiết Trung Ương trong thời gian nghiên cứu, không phân biệt giới tính

- Các bệnh nhân loét bàn chân do ĐTĐ nằm điều trị tại 3 khoa trên

- Các bệnh nhân sử dụng giày dép hỗ trợ/giầy dép chỉnh hỉnh

- Các Bác sĩ điều trị tại khoa chăm sóc bàn chân, khoa đái tháo đường, khoa nội tiết 2

- Các điều dưỡng tại 3 khoa trên

2.2.1 Tiêu chuẩn chọn BN

- BN được chẩn đoán xác định là đái tháo đường type 1,2 bởi các bác sĩ điều trị

*Chẩn đoán ĐTĐ: dựa theo ADA – 2011 [17] [18]: một BN được coi

là ĐTĐ nếu có một trong các đặc điểm sau:

Trang 38

+ HbA1c ≥ 6.5%: hàm lượng glycosylated hemoglobin (HbA1 hoặc HbA1c) phản ánh tổng chỉ số đường máu ở một giai đoạn, khoảng thời gian bằng nửa đời sống của hồng cầu.

Glucose máu tăng, hiện tượng glucosyl hóa cũng tăng, trong khi đó đời

sống hồng cầu khoảng 120 ngày, HbA1c huyết tương phản ánh đường máu trung bình của BN trong thời gian 1- 3 tháng trước thời điểm xét nghiệm và chỉ phụ thuộc vào đường máu Đây là xét nghiệm tốt nhất để theo dõi sự kiểm

soát đường máu, đánh giá kiểm soát đường máu tốt hay không trong thời gian vừa qua Trị số bình thường của HbA1c là 6,4% Định lượng HbA1c có giá trị đánh giá kết quả điều trị Giảm HbA1c được coi là chìa khóa để kiểm soát biến chứng ĐTĐ [11]

+ Hoặc ĐM đói (nhịn ăn tối thiểu 8 giờ) ≥ 7 mmol/l, được làm ít nhất 2 lần vào 2 ngày khác nhau

+ Hoặc ĐM 2 giờ sau NPTĐM ≥ 11,1 mmol/l

+ Hoặc ĐM bất kỳ ≥ 11,1 mmol/l và có triệu chứng tăng ĐM cổ điển (đái nhiều, khát nhiều, sụt cân không giải thích được)

- BN có tuổi ≥ 18 tuổi

- BN nằm điều trị nội trú tại 3 khoa sau của bệnh viện trong thời gian từ 01/04/2012 – 1/10/2012: khoa chăm sóc bàn chân, khoa đái tháo đường, khoa nội tiết 2

2.2.2 Tiêu chuẩn loại trừ BN

Trang 39

- BN không có khả năng nghe, khả năng trả lời phỏng vấn.

- Bệnh nhân không đồng ý tham gia nghiên cứu

2.3 Phương pháp nghiên cứu

2.3.1 Thiết kế nghiên cứu: nghiên cứu mô tả cắt ngang, hồi cứu số liệu, kết hợp

nghiên cứu định lượng và nghiên cứu định tính

2.3.2 Cỡ mẫu nghiên cứu

* Cỡ mẫu nghiên cứu định lượng:

Áp dụng công thức tính cỡ mẫu theo một tỷ lệ của nghiên cứu mô tả cắt ngang:

205 )

35 , 0 133 , 0 (

) 133 , 0 1 ( 133 , 0 96 , 1 )

(

) 1 (

2

2 2

2 1

Z n

Trong đó : n là cỡ mẫu tối thiểu cần nghiên cứu

Z = 1,96 với độ tin cậy 95% khi α = 0,05

p = 13,3% [dựa trên nghiên cứu của Nguyễn Thu Quỳnh (2007)

tỷ lệ loét bàn chân được phát hiện bị ĐTĐ là 13,3% tổng số các BN nhập viện [12]

ε = 0,35 (mức độ sai số tương đối)

Như vậy cỡ mẫu tối thiếu cần nghiên cứu là 205 người Làm tròn ta có

cỡ mẫu là 210 người

* Cỡ mẫu trong nghiên cứu định tính:

- Phỏng vấn sâu các bác sĩ điều trị, điều dưỡng tại các khoa chăm sóc bàn chân, khoa nội tiết 2 và khoa đái tháo đường

- Phỏng vấn sâu các bệnh nhân sử dụng giày dép chỉnh hỉnh

Trang 40

2.3.3 Cách chọn mẫu

Chọn mẫu toàn bộ lấy tất cả những bệnh nhân ĐTĐ type 1 và 2 (đủ tiêu chuẩn ở mục 2.2.2) điều trị nội trú tại 3 khoa trên trong thời gian từ 1/4/2012 – 30/9/2012 đồng ý trả lời phỏng vấn

2.3.4 Kỹ thuật thu thập số liệu

2.3.4.1 Phương pháp và công cụ thu thập cho nghiên cứu định lượng

* Phương pháp:

- Phỏng vấn trực tiếp đối tượng nghiên cứu bằng bộ câu hỏi thiết kế sẵn

- Thu thập số liệu: dựa vào chẩn đoán lâm sàng của các bác sĩ từ hồ

sơ bệnh án điều trị nội trú tại 3 khoa: chăm sóc bàn chân, nội tiết 2 và đái tháo đường - Bệnh viện nội tiết Trung Ương

- Việc thu thập thông tin được thực hiện tại nơi điều trị nội trú của đối tượng nghiên cứu

* Công cụ thu thập:

- Bộ câu hỏi thiết kế sẵn để phỏng vấn

Nội dung bộ câu hỏi: về tình hình chung, thu nhập bình quân/ năm, tình hình sử dụng giày dép trong chăm sóc bàn chân, một số yếu tố liên quan được biên soạn rút ngắn cho phù hợp mục tiêu nghiên cứu

- Thu thập các chỉ số đường máu từ hồ sơ, bệnh án điều trị trong khoa

2.3.4.2 Phương pháp và công cụ thu nhập cho NC định tính

- Phỏng vấn sâu: các bác sĩ điều trị, điều dưỡng ở 3 khoa chăm sóc bàn chân, đái tháo đường và nội tiết 2 bằng phiếu hướng dẫn phỏng vấn sâu

- Phỏng vân sâu những người sử dụng giày dép chỉnh hình

Ngày đăng: 10/10/2014, 01:55

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ 1: Cơ chế bệnh sinh của loét bàn chân ở bệnh nhân ĐTĐ - thực trạng loét bàn chân và sử dụng giày, dép của bệnh nhân đái tháo đường tại bệnh viện nội tiết trung ương
Sơ đồ 1 Cơ chế bệnh sinh của loét bàn chân ở bệnh nhân ĐTĐ (Trang 13)
Sơ đồ 2: Cơ chế gây tổn thương loét bàn chân do bệnh lý thần kinh  1.2.3.2. Vai trò của bệnh lý mạch máu - thực trạng loét bàn chân và sử dụng giày, dép của bệnh nhân đái tháo đường tại bệnh viện nội tiết trung ương
Sơ đồ 2 Cơ chế gây tổn thương loét bàn chân do bệnh lý thần kinh 1.2.3.2. Vai trò của bệnh lý mạch máu (Trang 16)
Hình 1.4: Giày chỉnh hình đặt hàng - thực trạng loét bàn chân và sử dụng giày, dép của bệnh nhân đái tháo đường tại bệnh viện nội tiết trung ương
Hình 1.4 Giày chỉnh hình đặt hàng (Trang 26)
Hình 1.9: Dép nhựa tổ ong. Dép lê bằng nhựa - thực trạng loét bàn chân và sử dụng giày, dép của bệnh nhân đái tháo đường tại bệnh viện nội tiết trung ương
Hình 1.9 Dép nhựa tổ ong. Dép lê bằng nhựa (Trang 29)
Bảng 3.1: Phân bố giới tính của các đối tượng NC - thực trạng loét bàn chân và sử dụng giày, dép của bệnh nhân đái tháo đường tại bệnh viện nội tiết trung ương
Bảng 3.1 Phân bố giới tính của các đối tượng NC (Trang 48)
Bảng 3.5: Thể loại bệnh ĐTĐ của đối tượng NC - thực trạng loét bàn chân và sử dụng giày, dép của bệnh nhân đái tháo đường tại bệnh viện nội tiết trung ương
Bảng 3.5 Thể loại bệnh ĐTĐ của đối tượng NC (Trang 51)
Bảng 3.7: Mức độ kiểm soát chỉ số HbA1c của đối tượng NC theo tiêu chuẩn - thực trạng loét bàn chân và sử dụng giày, dép của bệnh nhân đái tháo đường tại bệnh viện nội tiết trung ương
Bảng 3.7 Mức độ kiểm soát chỉ số HbA1c của đối tượng NC theo tiêu chuẩn (Trang 52)
Bảng 3.8: Tỷ lệ loét bàn chân của đối tượng NC - thực trạng loét bàn chân và sử dụng giày, dép của bệnh nhân đái tháo đường tại bệnh viện nội tiết trung ương
Bảng 3.8 Tỷ lệ loét bàn chân của đối tượng NC (Trang 53)
Bảng 3.14: Mối liên quan giữa mức độ kiểm soát đường máu khi đói của đối - thực trạng loét bàn chân và sử dụng giày, dép của bệnh nhân đái tháo đường tại bệnh viện nội tiết trung ương
Bảng 3.14 Mối liên quan giữa mức độ kiểm soát đường máu khi đói của đối (Trang 57)
Bảng 3.19: Mối liên quan giữa việc thực hiện dùng thuốc đúng chỉ định - thực trạng loét bàn chân và sử dụng giày, dép của bệnh nhân đái tháo đường tại bệnh viện nội tiết trung ương
Bảng 3.19 Mối liên quan giữa việc thực hiện dùng thuốc đúng chỉ định (Trang 60)
Bảng 3.21: Loại giày dép đối tượng NC đang sử dụng - thực trạng loét bàn chân và sử dụng giày, dép của bệnh nhân đái tháo đường tại bệnh viện nội tiết trung ương
Bảng 3.21 Loại giày dép đối tượng NC đang sử dụng (Trang 61)
Bảng 3.22: Thời gian đi giày dép/ ngày của đối tượng NC - thực trạng loét bàn chân và sử dụng giày, dép của bệnh nhân đái tháo đường tại bệnh viện nội tiết trung ương
Bảng 3.22 Thời gian đi giày dép/ ngày của đối tượng NC (Trang 62)
Bảng 3.30: Mối liên quan giữa tình trạng tư vấn cách CSBC cho BN ĐTĐ - thực trạng loét bàn chân và sử dụng giày, dép của bệnh nhân đái tháo đường tại bệnh viện nội tiết trung ương
Bảng 3.30 Mối liên quan giữa tình trạng tư vấn cách CSBC cho BN ĐTĐ (Trang 66)
Bảng 3.34: Mối liên quan giữa tình trạng tư vấn chọn giày dép cho BN - thực trạng loét bàn chân và sử dụng giày, dép của bệnh nhân đái tháo đường tại bệnh viện nội tiết trung ương
Bảng 3.34 Mối liên quan giữa tình trạng tư vấn chọn giày dép cho BN (Trang 68)
Sơ đồ 3: Cây vấn đề: tỷ lệ sử dụng giày dép chỉnh hình cho  bàn chân bệnh - thực trạng loét bàn chân và sử dụng giày, dép của bệnh nhân đái tháo đường tại bệnh viện nội tiết trung ương
Sơ đồ 3 Cây vấn đề: tỷ lệ sử dụng giày dép chỉnh hình cho bàn chân bệnh (Trang 96)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w