1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

nghiên cứu giá trị du lịch của thăng long tứ trấn phục vụ loại hình du lịch tâm linh trên địa bàn hà nội

61 750 3
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 61
Dung lượng 1,73 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục tiêu : Tìm hiểu và đưa ra những đánh giá về những giá trị quý báu và hiện trạng du lịch của Thăng Long Tứ Trấn, từ đó nhấn mạnh khả năng phục vụ du lịch tâm linh trên địa bàn Hà Nội

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO Trường Đại Học Dân Lập Đông Đô

GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN: PGS – TS NGUYỄN THỊ HẢI

Sinh Viên Thực Hiện : PHẠM ĐẠI PHÚC

Khóa : K15VH1 (2009 – 2013)

Chuyên Ngành : Văn Hóa Du Lịch

HÀ NỘI, 2013

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Dưới sự dẫn dắt chỉ bảo tận tình của thầy cô trong khoa Du Lịch –TrườngĐại Học Dân Lập Đông Đô, trong suốt 4 năm học vừa qua em đã tiếp thu đượcrất nhiều kiến thức bổ ích, những vốn sống thực tế quý báu trong hành trangbước vào đời

Đặc biệt, trong năm học cuối cùng của quãng đời sinh viên này đối với em

là một kỉ niệm đẹp mãi không quên, các thầy cô đã dậy bảo em trong những nămvừa qua, để giờ đây em vận dụng những kiến thức đã học, để em hoàn thànhkhóa luận tốt nghiệp

Em xin gửi lời cảm ơn chân thành tới Cô giáo, Phó Giáo Sư – Tiến SĩNguyễn Thị Hải – Người đã tận tình chỉ bảo giúp đỡ em trong thời gian hướngdẫn tìm hiểu đề tài và hoàn thành bài khóa luận

Em xin cảm ơn Thầy giáo, Tiến Sĩ Vũ Đình Thụy – Trưởng Khoa Du Lịch

và các thầy cô giáo trong Khoa Du lịch đã giúp đỡ em nhiều trong những nămhọc vừa qua

Em xin gửi lời cảm ơn đền những người thân trong gia đình, bạn bè đã cổ

vũ động viên tinh thần giúp em hoàn thành bài khóa luận này

Mặc dù em đã cố gắng nhiều những không tránh được những thiếu sóttrong quá trình làm khóa luận, do thời gian có hạn và kiến thức kinh nghiệm còn

ít, nên khóa luận còn nhiều thiếu sót Em rất mong có được những ý kiến đónggóp chỉ bảo của thầy cô giáo để quá trình học tập nghiên cứu tiếp theo của emtiến bộ nhiều hơn

Một lần nữa em xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, ngày 18 tháng 04 năm 2013

Sinh viên thực hiện: Phạm Đại Phúc

Trang 3

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2.M ục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài 2

3 Đối tượng nghiên cứu 2

4 Phạm vi nghiên cứu 3

5 Phương pháp nghiên cứu 3

6 Kết cấu của đề tài 4

Chương 1: Cơ sở lý luận về du lịch tâm linh 5

1.1 Các khái niệm liên quan 5

1.1.1 Khái niệm văn hóa 5

1.1.2 Khái niệm tâm linh 6

1.1.3 Khái niệm Văn hóa tâm linh 6

1.1.4 Khái niệm du lịch tâm linh 7

1.2 Đặc điểm Văn hóa tâm linh ở Việt Nam 8

1.3 Giá trị văn hóa tâm linh đối với du lịch 10

1.4 Các đối tượng gắn với giá trị văn hóa tâm linh 12

1.4.1 Đền 12

1.4.2 Chùa 15

1.4.3 Phủ 16

1.4.4 Đình 16

1.4.5 Am 17

1.4.6 Nghè 18

1.4.7 Điếm 18

1.4.8 Quán 18

1.4.9 Miếu 18

1.4.10 Đàn 19

Trang 4

Chương 2: Giá trị văn hóa tâm linh của Thăng Long Tứ Trấn và thực trạng

khai thác phục vụ du lịch 20

2.1 Giới thiệu khái quát Thăng Long Tứ Trấn 20

2.2 Các giá trị văn hóa tâm linh của Thăng Long Tứ Trấn 21

2.2.1 Đền Bạch Mã 21

2.2.2 Đền Quán Thánh 27

2.2.3 Đền Kim Liên 31

2.2.4 Đền Voi Phục 36

2.3 Thực trạng khai thác phục vụ du lịch ở Thăng Long Tứ Trấn 40

2.3.1 Các tổ chức quản lí Thăng Long Tứ Trấn 40

2.3.2 Các hoạt động dịch vụ văn hóa tâm linh tại Thăng Long Tứ Trấn 42

2.3.3 Đối tượng Khách du lịch Thăng Long Tứ Trấn 43

2.3.4 Một số chương trình tour du lịch tham quan Thăng Long Tứ Trấn 44

2.3.5 Những ưu điểm và nhược điểm 47

Chương 3: Một số giải pháp phát huy giá trị của Thăng Long Tứ Trấn phục vụ du lịch 48

3.1 Giải pháp về tổ chức và quản lí 48

3.2 Nâng cao chất lượng, đa dạng hóa sản phẩm du lịch 48

3.3 Giải pháp về nguồn nhân lực 49

3.4 Giải pháp về cảnh quan 50

3.5 Giải pháp về tăng cường tuyên truyền, quảng bá và hoạt động nghiên cứu 50

3.6 Giải pháp nâng cao nhận thức người dân 51

KẾT LUẬN 53

TÀI LIỆU THAM KHẢO 55 PHỤ LỤC

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài.

Ngày nay trên thế giới, du lịch đã trở thành một nhu cầu không thể thiếu, mộthiện tượng phổ biến trong nền kinh tế xã hội và phát triển với tốc độ ngày càngnhanh Hoạt động du lịch đã thu hút lực lượng lao động, tạo ra nhiều việc làmtrong ngành du lịch, góp phần lớn vào việc phát triển nền kinh tế đất nước Do vậynhiều quốc gia trên thế giới đã chú trọng đến việc phát triển ngành du lịch trởthành một ngành mũi nhọn, một ngành công nghiệp thực thụ

Ở nước ta hiện nay cũng đang có sự chuyển biến lớn về kinh tế, từng bước pháttriển về cơ sở hạ tầng, thúc đẩy ngành du lịch tiền lên, nhờ đó mà số du khách quốc

tế và nội địa tăng lên nhanh chóng trong những năm gần đây Do số lượng dukhách đông đảo, thành phần du khách khác nhau nên cũng có nhiều loại hình dulịch khác nhau được thực hiện: du lịch văn hóa, du lịch mua sắm, du lịch sinh thái,

du lịch mạo hiểm, du lịch dưỡng sinh, du lịch về nguồn,… Trong những năm gầnđây, một loại hình du lịch khá thu hút khách, đó là du lịch Văn hoá Tâm Linh –thăm quan tìm hiểu về những nét đẹp văn hóa tâm linh

Mới gần đây xuất hiện một tập sách đồ sộ có nhan đề là ‘‘Tích hợp đa văn hóađông tây cho một chiến lược giáo dục tương lai’’, tác giả Nguyễn Hoàng Phương,NXB Giáo dục, Hà Nội, 1995 có đề cập khá nhiều đến vấn đề tâm linh, và có đưa

ra nhận xét: ‘Tâm linh là nghi lễ ma thuật của các tộc người nguyên thủy.Tâm linh

là bói toán, tiên tri ở thời cổ đại.Tâm linh là tôn giáo, thần học ở thời trung cổ.Ởthời cận hiện đại, tâm linh là ngoại cảm, tâm linh là sự hài hòa vũ trụ, biểu hiệnở‘‘ý thức con người là một tiểu vũ trụ’’tâm linh là chủ nghĩa duy linh Đặc biệt là

sự khẳng định chắc chắn của tác giả: ‘‘Các hiện tượng tâm linh sẽ trở thành khoahọc thống soái của các thế kỉ sau, cũng như khoa học vật lí là đế vương của thế kỉnày’’(Tích hợp đa văn hóa Đông – Tây cho một chiến lược giáo dục tương lai,Nguyễn Hoàng Phương, nxb Giáo dục, Hà Nội – 1995, trang 727)

Trang 6

Như vậy, vấn đề tâm linh đang được nhiều người quan tâm chú ý tới, do đótrong khoảng thời gian những năm gần đây các chương trình tour du lịch vănhóa tâm linh ngày càng phát triển mạnh Hà nội là thủ đô của Việt Nam, cóhang ngàn di tích văn hóa, lịch sử hấp dẫn, là nguồn tài nguyên lớn cho ngành

du lịch phát triển

Thăng Long Tứ Trấn – bốn ngôi đền Trấn Yểm bốn Phương Đông Tây NamBắc trên long mạch lớn Hà Nội, đã có từ lâu đời, là đối tượng thu hút sự quan tâmcủa nhiều nhà nghiên cứu lịch sử, văn hóa, kiến trúc Làm thế nào để thu hútlượng khách du lịch trong và ngoài nước đến với Thăng Long Tứ Trấn, lam thếnào để bảo tồn và phát huy những nét đẹp văn hóa của dân tộc Đó đang là nhữngcâu hỏi đặt ra cho ngành du lịch nói chung và cho địa điểm du lịch Thăng Long

Tứ Trấn nói riêng Đó cũng là lí do mà em chọn đề tài “Nghiên cứu giá trị du lịchcủa Thăng Long Tứ Trấn phục vụ loại hình du lịch tâm linh trên địa bàn Hà Nội’’

2.M ục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài.

Mục tiêu : Tìm hiểu và đưa ra những đánh giá về những giá trị quý báu và

hiện trạng du lịch của Thăng Long Tứ Trấn, từ đó nhấn mạnh khả năng phục vụ

du lịch tâm linh trên địa bàn Hà Nội, đồng thời đề xuất một số giải pháp nhằm thuhút khách đến với những di tích văn hóa tâm linh ngày càng nhiều

Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài : Nghiên cứu khả năng khai thác tài nguyên

du lịch văn hóa tâm linh tại 4 Đền thờ, Đền Bạch Mã, Đền Quán Thánh, Đền KimLiên, Đền Voi Phục Đề tài cũng sẽ trở thành một tài liệu phục vụ cho việc nghiêncứu tìm hiểu về Thăng Long Tứ Trấn, góp phần giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc

3 Đối tượng nghiên cứu.

Giá trị văn hóa tâm linh của Thăng Long Tứ Trấn phục vụ du lịch tâm linh vềcác di tích lịch sử văn hóa tâm linh ‘‘Thăng Long Tứ Trấn’’: Thăng Long TứTrấn gồm có bốn ngôi đền thờ lớn trấn giữ bốn Phương Đông Tây Nam Bắc của

Hà Nội:

Trang 7

Trấn Bắc: Đền Quán Thánh nằm ở ngã tư đường Thanh Niên và Quán Thánh.Trấn Nam: Đền Kim Liên nằm trên đường Kim Liên mới, phường Đống Đa

Trấn Đông: Đền Bạch Mã: số nhà 76 phố Hàng Buồm, quận Hoàn Kiếm

Trấn Tây: Đền Voi Phục tọa lạc bên hồ Thủ Lệ, nay thuộc phường Cầu Giấy, Quận

Ba Đình

4 Phạm vi nghiên cứu.

Khóa luận tập trung nghiên cứu dựa trên giá trị tâm linh những nguồn tài liệukhác nhau nhằm tiếp cận với Thăng Long Tứ Trấn dưới góc độ một sinh viên dulịch để hiểu rõ hơn những tiềm năng vốn có, từ đó đề ra một số giải pháp tiếp tụcphát triển hơn nữa tiềm năng đó nhằm thu hút ngày càng đông đúc lượng khách

du lịch đến với Thăng Long Tứ Trấn, thực trạng du lịch và phương hướng thúcđẩy du lịch tại Thăng Long Tứ Trấn trên phạm vi một bài khóa luận tốt nghiệp

5 Phương pháp nghiên cứu.

Để thực hiện được nhiệm vụ của đề tài, có một số phương pháp chủ yếusau đây:

Phương pháp khảo sát, điều tra thực địa: Phương phát này có ý nghĩa vô cùng

quan trọng trong việc đánh giá một cách khách quan về tài nguyên du lịch ,việckhảo sát giúp em có cái nhìn thực tế và tổng quát hơn về tài nguyên du lịch màtrước đó em vốn chỉ biết qua sách vở ,báo chí ,mặt khác nó giúp người nghiên cứu

có thể khẳng định được tính chính xác của thông tin

Phương pháp thống kê: Tổ chức sử lý các số liệu ,thu thập số liệu về đối tượng

nghiên cứu

Phương pháp tra cứu, thu thập tài liệu: Đây là phương pháp có tính hệ thống cao ,

mang lại hiệu quả nhất định cho người thực hiện ,phương pháp này ta phải thu thậpthông tin chính xác nhất, cần thiết nhất phù hợp với mục đích và yêu cầu của bài

Trang 8

6 Kết cấu của đề tài.

Khóa luận ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, phục lục có 3chương chính như sau:

Chương 1: Cơ sở lý luận về du lịch tâm linh

Chương 2: Giá trị văn hóa tâm linh của Thăng Long Tứ Trấn và thực trạng khaithác phục vụ du lịch

Chương 3: Một số giải pháp phát huy giá trị của Thăng Long Tứ Trấn phục vụ

du lịch

Trang 9

Chương 1: Cơ sở lý luận về du lịch tâm linh.

1.1 Các khái niệm liên quan.

1.1.1 Khái niệm văn hóa.

Hiện nay có tới hơn 300 định nghĩa về văn hóa.Trong đó quen thuộc thường

hay nhắc đến đó là khái niệm văn hóa của Taylor – nhà dân tộc người Anh nêu ranăm 1871: “Văn hóa là những tổng thể phức hợp bao gồm các kiến thức, tínngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, luật lệ, phong tục và tất cả những khả năng và thóiquen con người đạt được với tư cách là thành viên trong xã hội”.Hoặc theoPaulmush: “Văn hóa là toàn bộ những hình ảnh đã nắm bắt được soi sáng vàchuyển dịch các hình ảnh ấy vào trong tập quán cá nhân và tập thể” Theo Các Pốp– nhà văn Liên Xô trước đây: “Văn hóa là toàn bộ những của cải vật chất và tinhthần, kết quả của những hoạt động có tính chất xã hội và lịch sử của loài người(…) Văn hóa là một hiện tượng nhiều mặt phức tạp liên quan đến nền sản xuất vàchế độ kinh tế của đời sống xã hội – văn hóa biểu hiện trong một mặt của đời sống

xã hội”

Mới đây nhân dịp phát động thập kỉ thế giới phát triển văn hóa (1988 – 1997),

tổ chức văn hóa thế giới Unessco đã công bố định nghĩa mới về văn hóa: “Văn hóa

là tổng thể các hệ thống giá trị, bao gồm các mặt tình cảm, tri thức, vật chất, tinhthần của xã hội Nó không thuần túy bó hẹp trong các sáng tác nghệ thuật mà baogồm cả phương thức sống, những quyền con người cơ bản, truyền thống, tínngưỡng”

Những khái niệm văn hóa trên tuy chưa trực tiếp nhắc đến chữ tâm linh nhưng

đã nhắc đến tín ngưỡng, tôn giáo, phong tục tập quán, truyền thống, những chữ gắnliền với tâm linh, với niềm tin thiêng liêng Niềm tin thiêng liêng về những vị thần

hộ mệnh đã hình thành tín ngưỡng thờ thần ở làng xóm, gia đình Niềm tin về biểutượng mẹ đã hình thành tín ngưỡng thờ mẫu ở nước ta.Phật giáo, Đạo giáo, Gia Tôgiáo được duy trì đến ngày nay là có niềm tin thiêng liêng của tín đồ các tôn giáo

Trang 10

đó Tín ngưỡng là tục thờ cúng tổ tiên của người Việt là niềm tin vào tổ tiên thiêngliêng có thể phù hộ cho con cháu được duy trì.

1.1.2 Khái niệm tâm linh.

“Tâm linh là cái thiêng liêng cao cả trong cuộc sống đời thường, là niềm tinthiêng liêng trong cuộc sống tín ngưỡng tôn giáo Cái thiêng liêng cao cả, niềm tinthiêng liêng ấy được đọng lại ở biểu tượng, hình ảnh, ý niệm.”

Tâm linh là những cái trừu tượng, thiêng liêng, thanh khiết, giá trị tâm linh bắtnguồn từ những cái thiêng liêng Tâm linh là cái nền vững chắc, là hằng số, và vĩnhcửu trong nhiều mối quan hệ con người

Một số ý kiến nhận định, tâm linh là khái niệm chỉ những hiện tượng liên quanđến thế giới linh hồn của con người khi chết, gắn liền với những biểu tượng huyền

bí, dị thường và đậm màu sắc mê tín

Có một số ý kiến cho rằng, tâm linh hay văn hóa tâm linh là một phạm trù đặcbiệt, bao hàm những giá trị tinh thần phong phú, cao siêu của con người, cao hơnkhái niệm đời sống tinh thần Một nhà nghiên cứu nhận định: “Trong tâm linh đãhội tụ đủ: Lòng vị tha, Đạo đức, Tinh thần, Ý chí, Linh hồn v.v”…, cho rằng tâmlinh là sự tồn tại siêu hình của con người…

Tâm linh chính là biểu tượng trong đời sống tinh thần của con người với tất cả

sự phong phú, phức tạp của nó Không nên đơn giản hóa tâm linh là mê tín dịđoan, song cũng không nên “thần bí hóa”, “ghê gớm hóa” khái niệm tâm linh, gáncho nó những đặc tính cao siêu, phi thường, coi đó là cứu cánh của nhân loại, củakhoa học

1.1.3 Khái niệm Văn hóa tâm linh.

Văn hóa tâm linh là văn hóa biểu hiện ở những giá trị thiêng liêng trong cuộcsống đời thường và biểu hiện niềm tin trong cuộc sống tín ngưỡng tôn giáo

Như vậy khi nói đến văn hóa tâm linh, nội dung quan trọng phải đề cập đến làniềm tin, là cái thiêng liêng cao cả

Trang 11

Tất cả những biểu hiện liên quan tới đời sống tâm linh con người sẽ tạo nên vănhóa tâm linh Cũng như tất cả mọi hiện tượng trong cuộc sống, văn hóa tâm linh cónhững mặt tích cực và tiêu cực, vì vậy cần phải có một cái nhìn hiện chứng, kháchquan để có cách ững xử hợp lý, phát huy được mặt tích cực và hạn chế những ảnhhưởng của nó đối với đời sống cộng đồng.

1.1.4 Khái niệm du lịch tâm linh.

Du lịch tâm linh là gì ? du lịch tâm linh là kết hợp việc “đi cho biết đó biết đây”với “tín ngưỡng” Đó là hai nhu cầu cần thiết trong đời sống con người, nhằm mang lại nét đẹp cho cuộc sống đi đôi với sự thăng hoa trong tâm hồn

1) Đi cho biết đó biết đây chính là mục đích của du lịch nhằm mở mang kiến thức

về thiên nhiên và con người nơi mình đến Du lịch còn là một liệu pháp xả stress rất hiệu quả Ngày nay, đời sống con người quá nhiều tất bật, quá nhiều bận rộn lo toan, quá nhiều cạnh tranh trên mọi mặt đời sống v.v… khiến cho con người luôn phải chịu nhiều sức ép từ cuộc sống Du lịch chính là cứu tinh mang đến cho con người những giờ phút thong dong, tạm quên những phiền toái đời thường để tận hưởng cái đẹp của cuộc sống

2) Tín ngưỡng: nói đến tâm linh tức là nói đến tín ngưỡng Tín ngưỡng gồm có tín ngưỡng tôn giáo và tín ngưỡng dân gian

Từ tín ngưỡng tôn giáo, người ta tổ chức những lễ hội tôn giáo như : lễ hội Chùa Hương (Hà Tây), lễ hội Quán Thế Âm (Đà Nẵng), lễ hội Ponagar (Nha Trang), lễ hội Đôl ta của người Khơ Me các tỉnh miền Tây Nam Bộ v.v…

Từ tín ngưỡng dân gian, chúng ta thấy có các lễ hội Thánh Gióng (Hà Nội), lễ hội

Tế Cá Ông (Bình Thuận), lễ hội vía Bà Tây Ninh, lễ hội vía Bà núi Sam (Châu Đốc) v.v

Như vậy, qua danh từ du lịch tâm linh, chúng ta thấy có hai vế trong cụm từ này :

- Vế thứ I: Du lịch

- Vế thứ II: Tín ngưỡng

Trang 12

Phân tách cụm từ này, chúng ta thấy giữa hai nhu cầu du lịch và nhu cầu tín

ngưỡng tác động một cách ngang bằng nhau Có khi nhu cầu tâm linh là động cơ chính, có khi nhu cầu du lịch là động cơ chính Tuy nhiên kết quả hưởng thụ của khách du lịch tâm linh luôn luôn là cùng một mức độ mặc dù đi với động cơ nào.Nếu điểm qua tất cả các lễ hội trong cả nước và các danh lam thắng cảnh thu hút khách du lịch hiện nay thì chúng ta thấy tỉ lệ du lịch tâm linh trong tổng thể nền du lịch của nước ta là không nhỏ, nếu không muốn nói du lịch tâm linh chiếm một tỷ trọng ngang bằng với các loại hình du lịch khác cộng lại

1.2 Đặc điểm Văn hóa tâm linh ở Việt Nam.

Văn hóa tâm linh có những biểu hiện vô cùng phong phú, đa dạng trong đờisống của người Việt, ăn sâu vào mọi mặt đời sống: tâm linh trong đời sống cánhân, trong đời sống gia đình, trong cộng đồng làng xã, tâm linh với Tổ quốc giangsơn đất nước, tâm linh trong hoạt động kinh tế, chính trị, văn hóa xã hội…

Phổ biến là phong tục thờ cúng tổ tiên, ông bà, cha mẹ, người thân trong mỗigia dình Còn lại là hiện tượng thờ cúng thần thánh, tiên phật, những thế lực siêunhiên, các anh hung dân tộc Ở phạm vi cộng đồng là tục thờ cúng thành hoàng,các vị thần, các vị tổ sư, các vị anh hung đã có công với nước, các danh nhân vănhóa…

Hoạt động văn hóa tâm linh được biểu hiện phần lớn trong lĩnh vực tôn giáo

Do ảnh hưởng của các tôn giáo, người Việt tổ chức xây đền chùa, miếu mạo, nhàthờ, giáo đường… và thực hành các nghi lễ cầu cúng Cũng thông qua tôn giáo màcon người thể hiện rõ ràng hơn niềm tin vào các đấng siêu nhiên tối cao

Các không gian linh thiêng phục vụ cho hoạt động tâm linh là: ngôi đình làng,ngôi đền, nghè, điện, điếm, miếu, phù, chùa tháp, quán, am, nhà thờ Những côngtrình, hiện vật liên quan đến văn hóa tâm linh đều đã trở thành những di sản vănhóa, lịch sử quý giá, nhiều công trình văn hóa tâm linh được xây dựng ở những địa

Trang 13

điểm có phong cảnh thiên nhiên đẹp đẽ, kì thú đã trở thành những điểm du lịch hấpdẫn…

Các công trình phục vụ cho văn hóa tâm linh đều là cài sản chung của cộngđồng, được cả cộng đồng chăm lo, tu bổ, giữ gìn và bảo vệ, trao quyền cho nhau từthế hệ này sang thế hệ khác

Đặc điểm các nghi thức, nghi lễ thờ cúng ở các di tích văn hóa tâm linh bao giờcũng mang yếu tố “Thiêng”: Thời gian thiêng, không gian thiêng, ngôn ngữ, văn tựthiêng Nghi lễ là những nghi thức, cách thức mà con người dâng lễ vật lên cúngthần linh, nhằm “hữu thể hóa”, “hiện thực hóa” cái thiêng liêng vốn vô hình, tạo ra

sự giao thoa giữa Người – Thần, Đời – Đạo,… tạo ra sự cộng cảm, mênh môngtrong đời sống văn hóa cộng đồng

Nhiều lễ hội văn hóa tâm linh trở thành những nét bản sắc văn hóa vùng miền,dân tộc độc đáo

Thế giới văn hóa tâm linh của người Việt được xây dựng theo mô hình

“dương sao, âm vậy – trần sao, âm vậy” Vì vậy, nên coi đây là quan niệm xuấtphát để tìm hiểu về mô hình thế giới tâm linh của người Việt Vì quan niệm “trầnsao âm vậy” nên mới có những tục lê như chia của cho người chết, chon theongười chết tiền bạc, các đồ dùng, rồi nghi lễ đốt vàng mã cũng là một cách để “tiếptế” cho người chết Có gia đình trước mỗi bữa ăn con cháu đều cất lời mời bàngoại mới mất về ăn cơm

Hình thành từ xã hội nguyên thủy, người Việt có tín ngưỡng bách thần “thầncây đa, ma cây gạo”, gán cho các thế lực siêu nhiên, các sự kiện chưa giải thíchđược là các vị thần Thế giới thần linh bao gồm thần Sông, thần Núi, thần Biển,thần Lửa, thần Sấm Sét… và còn có cả thần Bếp, thần Tài, thần Nhaanduyeen…Nhân gian có người xấu người tốt nên các vị thần cũng có thần Thiện và thần Ác,

có thánh thần luôn giúp người và cũng có ma quỷ chuyên hại người

Trang 14

Do ảnh hưởng của xã hội phong kiến, thế giới tâm linh cũng được hình dungthoe một mô hình tổ chức tương tự: trên có Ngọc Hoàng Thượng Đế, có các vịthần bề tôi với các cơ quan chuyên trách, giữa có thế giới người trần mắt thịt

và dưới đất có Diêm Vương phụ trách việc xét xử những linh hồn của conngười trần gian

Một đặc điểm khá nổi bật trong văn hóa tâm linh Việt Nam, đó là tính “vô tôngiáo”, hoặc tín ngưỡng đa thần, đã đưa nhiều thần linh khác nhau vào thờ trongcùng một nơi Trong đền, chùa, cùng lúc thờ thần, phật, thánh mẫu,… thể hiện tính

đa giáo đồng nguyên

Người Việt cho rằng người xấu sau khi chết sẽ được xét xử, ai tốt sẽ được lênThiên đường hay cõi tiên, được đầu thai, có kiếp sau sung sướng, ai xấu sẽ bị trừngphạt, kiếp sau phải chịu khổ Và linh hồn của tiền nhân, của tổ tiên luôn bên cạnhcon cháu, chứng giám, độ trì cho con cháu

Văn hóa tâm linh có những mặt tích cực không thể phủ nhận trong đời sốngcộng đồng Đó là sợi dây kết nối cộng đồng, lưu giữ truyền thống, giáo dục lòngnhân ái, vị tha, ý thức hướng thượng, hướng thiện Các tôn giáo khác nhau về giáo

lý song đều gặp nhau ở tinh thần nhân ái, khoan dung, triết lý nhân bản

Văn hóa tâm linh là chỗ dựa về mặt tinh thần, xoa dịu những đau thương mấtmát cho tâm hồn Có thể hình dung yếu tố tâm linh tạo nên chiều sâu, sức sống conền văn hóa cộng đồng, dân tộc

1.3 Giá trị văn hóa tâm linh đối với du lịch.

Với các công trình kiến trúc thuộc loại hình kiến trúc nghệ thuật phục vụ tôngiáo tín ngưỡng của người dân thì ở đó chứa đựng giá trị tâm linh tinh thần rất lớn

Sự tồn tại của nó gắn liền với sự tồn tại của linh thiêng – một huộc tính vốn có,không thể thiếu trong hoạt động tâm linh của con người Nó thỏa mãn cho nhu cầutôn giáo của một bộ phận lớn các tầng lớp nhân dân, củng cố niềm tin tưởng hi

Trang 15

vọng ở tương lai tốt đẹp, đồng thời góp phần khơi dậy và củng cố tính thiện ở mỗicon người

Hệ thống các di tích lịch sử văn hóa tâm linh là tài sản của nhân dân Việt Nam,

là sản phẩm sáng tạo, thành quả lao động dựng xây, giữ gìn và bảo vệ của bao thế

hệ người Việt Nam qua các thời kì lịch sử Nó phản ánh và mang dấu ấn của lịch

sử trên cả hai mặt tích cực và tiêu cực trên nhiều bình diện

Hệ thống di tích lịch sử văn hóa tâm linh là những biểu hiện của nền văn hóa vàvăn minh dân tộc, nó là sản phẩm nhưng cũng là hệ quả của quá trình vận độngphát triển trong cơ tầng xã hội và và giao thoa ánh xạ văn hóa giữa các quốc gia,dân tộc trong khu vực và trên thế giới

Hệ thống di tích lịch sử văn hóa tâm linh còn là nơi lưu giữ, trưng bày, phô diễnnhững hình ảnh về đất nước và con người Việt Nam, là nơi kết tinh các giá trị lịch

sử – văn hóa – xã hội, là cơ sở, tiền đề cho việc nghiên cứu tìm hiểu về đất nướccon người Việt Nam trong tiến trình lịch sử

Với những vai trò như trên, việc đưa các di tích văn hóa tâm linh trở thành sảnphẩm du lịch là điều cần thiết Trong sự phát triển du lịch của đất nước, các di tíchlịch sử văn hóa tâm linh trở thành một trong những “điểm chốt”để xây dựng cáctuyến du lịch văn hóa, mở rộng các tour du lịch văn hóa đặc sắc tới các vùng quêhương khác của đất nước, nối rộng và mở thêm hiểu biết cho nhân dân các địaphương, đồng thời khai thác các thế mạnh của các vùng miền trong tổng thể pháttriển kinh tế xã hội quốc gia

Đưa du khách tới thăm các di tích lịch sử văn hóa tâm linh, đối với một số đốitượng khách còn là dịp tạo điều kiện cho họ tiếp xúc với các sự kiện, nhân vật lịch

sử được lưu giữ, tôn thờ tại các điểm di tích Bằng các hoạt động tôn giáo tínngưỡng của mình tại các tuyến điểm di tích,du khách được thỏa mãn nhu cầu tâmlinh tinh thần chính đáng của mình, phù hợp với hệ thống pháp luật nước CộngHòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam quy định: “Người Việt Nam có quyền tự do tínngưỡng và tự do tín ngưỡng” Đây cũng là một thế mạnh đáng kể mà hệ thống di

Trang 16

tích lịch sử văn hóa tâm linh đem đến cho du lịch, giúp tang thêm nguồn thu từ dukhách với nhiều đối tượng khách khác nhau, không phụ thuộc vào giới tính, lứatuổi, chủng tộc, quốc tịch hay nghề nghiệp, địa vị – vị trị trong xã hội, ý thức hệ tưtưởng, tâm lí tình cảm.

Đưa du khách đến với các di tích lịch sử văn hóa tâm linh chính là hình thứcphát triển du lịch bền vững Xét dưới góc độ vật thể, muốn phát triển du lịch bềnvững thì các điểm tham quan du lịch phải tồn tại bền vững lâu dài Dưới góc độnày, hệ thống di tích lịch sử văn hóa tâm linh chính là những công trình bền vữngnhất trong các loại hình kiến trúc trên tất cả các giác độ

Về hoạt động du lịch, dịch vụ ở Việt Nam, trong khi chúng ta chưa xây dựngđược một cách đồng bộ hệ thống cơ sở hạ tầng phục vụ cho du lịch, chưa có nhiềucác khu du lịch mới, hiện đại thì ngành du lịch đang triệt để khai thác giá trị nhiềumặt từ hệ thống di tích để thu lợi từ hoạt động kinh doanh lữ hành Việc đó dướigóc độ nào đó có thể tạm thời gọi người làm du lịch là “ tay không bắt giặc, mài sử

ra tiền ”, tạo ra kết quả kinh doanh du lịch, một ngành kinh tế mũi nhọn, nghànhkinh tế trọng điểm có tính tổng hợp, đa dạng

1.4 Các đối tượng gắn với giá trị văn hóa tâm linh.

1.4.1 Đền

Theo từ điển Tiếng Việt, Đền là nơi thờ Thần Thánh hoặc những Nhân Vật lịch

sử được tôn sùng như Thần Thánh

Đền một loại hình di tích khá phổ biến ở Việt Nam, có mặt ở khắp mọi nơi trêncác miền đất nước với niên đại và khởi đại khác nha u Có lẽ việc thờ cúngtrong những ngôi Đền của người Việt chính là những biểu hiện rõ nét trong cách:

“Ứng xử văn hóa” của con người với tiền nhân của mình

Đối tượng được thờ cúng trong Đền có thể là:

- Thờ tổ tiên và những biểu tượng về tổ tiên của dân tộc như Đền HÙNG thờVua Hùng (Phú Thọ), Đền Cuông (Nghệ An) thờ An Dương Vương

Trang 17

- Thờ những anh hùng văn hóa trong đời sống văn hóa tâm linh – tinh thầncủa các cộng đồng dân cư, những đối tượng siêu thực đã được nhân cách hóa mangnhững biểu tượng cho ước vọng nhân dân về các lĩnh vực khác nhau: chiến thắngngoại xâm (Đền Gióng – Sóc Sơn, Hà Nội), chiến thắng thiên tai (Đền Và – SơnTây, Hà Nội), ước vọng về tình yêu (Đền Đa Hòa – Khoái Châu, Hưng Yên).

- Thờ những anh hùng dân tộc, danh nhân văn hóa kiệt xuất mà cuộc đời và sựnghiệp của họ gắn bó mật thiết với lịch sử dân tộc: Đền thờ Bác Hồ ở các tỉnh Nam

Bộ, Đền Thờ Nguyễn Trãi ở Hải Dương

- Thờ những danh nhân, danh tướng mà cuộc đời sự nghiệp họ gắn chặt vớimột giai đoạn lịch sử của đất nước, hay có công khai phá, xây dựng, bảo vệ mộtvùng đất… để rồi họ đi vào đời sống tinh thần của các thế hệ cư dân sau đó Đó lànhững con người: “sinh tướng tử vi thần” như Đức Thánh Trần ở đền Kiếp Bạc(Chí Linh, Hải Dương), Nguyễn Công Trứ (Kim Sơn, Ninh Bình)…

- Thờ những anh hùng liệt sỹ đã hi sinh vì độc lập tự do của Tổ quốc

- Thờ những đối tượng siêu hình có thể là nhân thần, tự nhiên thần,… mà tínhdanh sự nghiệp,công trạng không rõ nhưng từ lâu đã đi vào đời sống cộng đồng cưdân bản địa, được người dân thờ phụng với mong muốn sẽ mang lại phúc lành,những điều tốt đẹp cho họ

Những vị thần tương đối danh tiếng thường thờ ở các Đền lớn, quy mô của Đềnthường lớn hơn các công trình như Nghè, Miếu Nhìn chung, các di tích thuộc loạihình Đền thường là những di tích mà ở đó đối tượng được thờ là Thần, Thánh haynhững nhân vật đã được thần thánh hóa

Đôi khi với tính chất như vậy nên Đền thờ thường là dạng kiến trúc nửa Đềnthờ, nửa cung điện Ở các di tích này,hai bên phía trước của Đền thường có bia

“Hạ Mã” Xuống Ngựa Khi qua đó mọi người đều phải: “khuynh cái, Hạ Mã” –nghiêng tàn, lọng, bỏ mũ nón, xuống Ngựa để thể hiện và bày tỏ sự tôn kính đốivới vị Thần được thờ trong di tích

Trang 18

Cửa ra vào các đền thờ được gọi là Nghinh môn với cấu trúc 3 Cửa hoặc 5 cửa

ra vào như thông thường ở các loại di tích khác

Hệ thống cổng cũng được xây dựng và trang trí với hình tượng các linh vật.Trên sân, phía trước thường có tượng Voi, Ngựa với tư cách là những công cụ củaThánh Thần Trên sân, phía trước nhà tiền tế thường có bố trí nhang án lộ thiên đểcho các tín đồ lễ Thần từ xa, bởi vì ở một đền thờ không phải bất kì tín đồ nàocũng có thể được vào trong hậu cung để chiêm bái Thần

Trong các Đền thờ,đối tượng thờ cúng có thể là Nhiên Thần, Nhân Thần, nhữnganh hùng dân tộc hoặc anh hùng văn hóa đã từng có công trạng với dân với nướccùng các bộ tướng của ngài Đền thờ là nơi thâm nghiêm trong tâm thức người dânnên đối tượng thờ cúng thường đặt trong hậu cung, cung cấm thâm nghiêm, cókhoảng cách nhất định với người dân Đối tượng được thờ cúng được thể hiện quahình thức tượng tròn chân dung hay mô phỏng về đối tượng đó bằng tâm thức dângian Ở nhiều công trình di tích, tượng tròn có thể được thay thế bằng thần vị, ngaithờ với mũ áo của Thần Tất cả đều được được đặt trong cung cấm

Trong nội tự các ngôi Đền thường bài trí hệ thống đồ thờ, nghi trượng trangnghiêm như lỗ bộ, bát bửu các Ngai, Kiệu và Chuông Trống, Khánh,… để tônvinh ngôi vị của Thần

Về cấu trúc bình đồ, hầu hết các Đền thờ có kết cấu kiến trúc tập trung Cáccông trình kiến trúc bộ phận thường được bố trí hướng tâm với hạt nhân là cungcấm nơi Thánh – Thần ngự với bình đồ một mặt phẳng Với bình đồ nhiều cấp độkhác nhau có thể xuất hiện các ngôi Đền thượng– trung – hạ được liên kết với nhautrong mối liên hoàn thống nhất cao

Có thể nói, với bất kì loại hình di tích nào cũng chứa đựng lịch sử nhưng ở loạihình di tích Đền thờ, giá trị lịch sử có vẻ như ngưng đọng hơn, kết tinh trong từngđường nét, hình khối, sắc màu của các công trình kiến trúc và hệ thống di vật trong

đó Hệ thống Đền thờ tuy chỉ được xếp vào loại hình di tích gắn với tín ngưỡngdân gian truyền thống nhưng lại là loại hình di tích quan trọng nhất trong hệ thống

Trang 19

các di tích gắn với tín ngưỡng dân gian truyền thống Việt Cũng như nhiều loạihình di tích khác, loại hình di tích Đền thờ ngày càng khẳng định vai trò,vị trí củaĐền thờ trong đời sống xã hội, đặc biệt là trong hoạt động du lịch bởi những giá trịlịch sử, nghệ thuật, tâm linh, tinh thần mà nó hàm chứa.

là Bảo Tháp, người Việt đọc chệch là âm thành Chùa”

Chùa là công trình kiến trúc làm nơi thờ Phật và các tong đồ than tín của ngài.Trong Chùa thường có hệ thống Tháp Phật Giáo để giữ gìn Xá Lỵ Phật và các bậc

tu hành (Xá Lỵ là một phần di hài Đức Phật thu được sau khi hỏa táng như xương,rang, tro…)

Trước khi ngôi đình làng xuất hiện ở nông thôn làng xã thì hầu như nông thônViệt Nam không có công trình công cộng nào trừ ngôi Chùa Chính vì vậy mà cóthể vào khoảng thế kỉ XV trở về trước thì ngôi Chùa kiêm luôn chức năng của ngôiĐình Nhiều nơi ngôi Chùa đã được sử dụng như một trung tâm hành chính của địaphương: họp hành…

Chùa đã từng là trường học dành cho các tăng sĩ và cư dân bản địa Đây vừa

là nơi truyền thụ giáo lý Phật giáo, vừa là nơi truyền thụ tri thức nhân văn chonhân dân

Chùa còn là nơi cư trú, học tập, tu luyện của những người có hoàn cảnh và điềukiện đặc biệt trong xã hội như: (Trẻ mồ côi, người khuyết tật…)

Trong một số trường hợp ngôi Chùa còn kiêm luôn chức năng như là một bệnhviện Trong khuôn viên nội tự, người ta trồng rất nhiều cây thuốc để chữa trị cho

Trang 20

những người ốm đau Ngôi Chùa trở thành nơi an dưỡng nghỉ ngơi hoặc luyện tập

để nâng cao sức khỏe, trí lực cho một bộ phận tu hành và dân bản địa

Đối tượng thờ cúng trong Chùa: Phật, Mẫu, Thánh, Thần

1.4.3 Phủ

Ngoại trừ là nơi ở, sinh hoạt và làm việc của các chúa dưới thời kì phong kiếnnhư Phủ chúa Trịnh, Phủ chúa Nguyễn hoặc là phủ đệ của các ông hoàng, bà(công) chúa còn là để chỉ nơi dành cho việc thờ Mẫu, có thể đó là Mẫu Thiên, MẫuĐịa, Mẫu Thoải (Thủy) hoặc phổ quát là Mẫu Liễu Hạnh Những công trình di tíchnổi tiếng như Phủ Dầy (Nam Định), Phủ Tây Hồ (Hà Nội) …

Tín ngưỡng Thờ Mẫu ra đời khi con người có ý thức về giá trị của sự sinh sôinảy nở Mà tư duy của cư dân nông nghiệp thường biện lý từ những cái cụ thể, nêngiá trị về sự sinh sôi nảy nở không có gì khác ngoài người Mẹ cụ thể mang nặng đẻđau sinh sôi nguồn nhân lực Những gì sinh sôi nuôi sống, che chở, bảo vệ conngười chiến thắng thiên tai và thú dữ ấy chính là Mẹ Và khởi nguồn của tínngưỡng thờ mẫu gắn với con người Việt khi còn cư trú ở núi rừng, với hình ảnhđầu tiên là Mẫu Thượng Ngàn, Mẫu Sơn Lâm, rồi dần dần lan tỏa xuống đồngbằng – Mẫu Thoải

1.4.4 Đình

Đình làng là công trình kiến trúc công cộng của làng xã, dùng làm nơi diễn racác hoạt động chính trị tinh thần văn hóa xã hội của nhân dân ở nông thôn làng xãdưới thời phong kiến

Trong từ điển Tiếng Việt: “Đình làng là nơi thờ Thành Hoàng và họp việc làng” Ngôi Đình làng là công trình công cộng của làng xã, có nhiều chức năng khácnhau phục vụ cộng đồng cư dân, tựu chung lại có 4 chức năng cơ bản:

– Đình làng là trung tâm hành chính ở địa phương Dưới thời phong kiến ngôi,

là trụ sở làm việc của chính quyền địa phương, nơi các quan chức,hào lý ở làng xã

Trang 21

triển khai các chính sách đôn đốc và duy trì các hoạt động hành chính, các hoạtđộng liên quan đến đời sống chính trị, quân sự, văn hóa, xã hội của địa phương.– Đình làng là trung tâm tôn giáo – tín ngưỡng ở làng xã: Là nơi thờ cúngThành Hoàng của làng, vị thần bản mệnh, bảo trợ của làng xã Ngoài ra còn là nơithờ các vị Hậu Thần, những Tiền Hiền, Hậu Hiền,… là những người có công vớilàng xã trong việc kiến thiết, xây dựng,tu sửa các công trình công cộng của làng

xã Nơi đây thường niên, định kì hay đột xuất diễn ra các nghi thức tôn giáo tínngưỡng liên quan đến đời sống tâm linh, tinh thần của người dân làng xã

– Đình làng là trung tâm văn hóa xã hội ở địa phương, làng xã: Nơi diễn racác hoạt động văn hóa xã hội ở thôn quê như các lễ hội truyền thống, nơi diễn racác hình thức diễn xướng dân gian, các hoạt động trình diễn, biểu diễn nghệ thuậtnhư hát chèo, hát quan họ, hát nhà tơ, hát xoan, hát đúm, rối nước, cá hoạt độngvăn hóa thể thao thi tài, diễn xướng Với các cá nhân, ngôi Đình làng còn là nơigặp gỡ, trao đổi kinh nghiệm làm ăn với nhau

– Đình làng là trung tâm văn hóa ẩm thực ở làng xã Đình làng nơi diễn ra lễ

tế Thần Hoàng Làng với những lễ vật được chuẩn bị chu đáo, nơi tổ chức thi nấu

cỗ, chế biến những đồ ăn thức uống chọn ra những món ăn ngon nhất, những đồuống tốt nhất dâng lên Thánh Thần, thể hiện sự tôn trọng của người dân và cầumong sự giúp đỡ của Thánh Thần Đình làng còn là nơi diễn ra các hoạt động ănuống cộng cảm giữa các thành viên trong làng xã tùy theo vai vế, vị trí của họtrong xã hội

1.4.5 Am

Là Chùa nhỏ, Miếu nhỏ nơi thờ các nhân vật lịch sử hay văn hóa hoặc thờcúng cộng đồng sinh linh (am cô hồn, am công đồng…) Theo từ điển Phật học,Chùa nhỏ gọi là am Thường am là nơi thờ Phật đồng thời là nơi tu hành củangười xuất gia

Trang 22

Am còn là những ngôi nhà nhỏ hẻo lãnh, tĩnh mịch của người ở ẩn thời xưa Đó

có thể là cá bậc thiền Sư hay Đạo Sĩ

Trang 23

1.4.6 Nghè

Là kiến trúc sớm được dựng lên để thờ Thần ở những đơn vị nhỏ hơn làng Ví

dụ như làng Lim ở Bắc Ninh có Nghè ở giáp Đoài, Nghè giáo Đông, Nghè hai giápNam Bắc ở sau Đình làng Lim

Sau này khi thi cử Nho học phát triển, thời Nguyễn, những Ông thi đỗ từ Tiến

Sĩ trở lên, dân làng phải dựng Đình nghi để Ông về ở, lâu dần gọi thành ĐìnhNghè Ông Nghè có quyền chiếm ruộng bất cứ nào trong Tổng, vì thế xưa kia cócâu: ‘‘chưa đỗ Ông Nghè đã đe Hàng Tổng’’ Khi Ông Nghè qua đời, nếu đượctôn làm Thần thì cũng được thờ trong Nghè

1.4.7 Điếm

Là kiến trúc được dựng lên ở đơn vị nhỏ hơn làng, xóm,giáp, ngõ để thờ thầnthổ công, thổ địa trong xóm ngõ Hàng năm ở Điếm, xóm, ngõ cũng có lệ cúngThần, tổ chức ăn uống, vui văn nghệ

1.4.8 Quán

Gắn liền với Đạo giáo Xuất phát từ xa xưa bên Trung Quốc có các nghĩaQuán, những kiến trúc sơ sài dựng lên bên đường, trong đó để sẵn những đồ ăn,nước uống Những hiệp sĩ đi làm việc nghĩa, đến bữa cứ việc vào quán ăn uốngvừa đủ, không phải trả tiền Dần về sau, nghĩa quán trở thành những nơi hoạt độngthờ cúng của đạo quán Hiện nay ở Hà Nội và một số tỉnh đồng bằng xung quanhcũng còn ít di tích đạo quán

1.4.9 Miếu

Có 3 dạng Miếu:

Miếu thờ Thần Cây,Thần Đá, Thần Núi, Thần Sông, Thần Giếng

Miếu thờ Tổ nghành nghề, văn chỉ, Văn Miếu thờ Khổng Tử – người lập ra Nhogiáo, thờ các thầy dạy nho học Võ Miếu thờ Quan Võ, Y Miếu thờ Tuệ Tĩnh, HảiThượng Lãn Ông, những vị đứng đầu y học cổ truyền nước ta

Trang 24

Tôn Miếu, Miếu Thờ Tổ Tiên Nhà Vua: Thế Miếu, Thái Miếu.Thời phong kiếnMiếu còn là biểu tượng về tổ quốc, gọi là Tôn Miếu.

1.4.10 Đàn

Đàn thường không có sẵn kiến trúc, có thể cần thiết người ta dùng cho cuộc cầucúng nào đó Còn thường thì Đàn được xây đắp sẵn nền ở một nơi cố định, khi tế lễngười ta mới dựng tạm kiến trúc

Ở kinh đô có Đàn Nam Giao, cũng gọi là viên khâu (gò tròn) gồm ba lớp bệ từ

to đến nhỏ chồng lên nhau, nơi hàng năm nhà Vua đến tế Trời

Đàn xã tắc, cũng gọi là Đàn phương trạch (hồ vuông) gồm hai lớp bệ hìnhvuông, nơi hàng năm, ngày xuân Vua đến tế Thần Xá Tắc (Thần Đất, Thần Lúa)

Ở các tỉnh lị thời Nguyễn thường đắp Đàn Tiên Nông, nơi quan đầu tỉnh hàngnăm đến tế Thần Sông, Thần Núi

Trang 25

Chương 2: Giá trị văn hóa tâm linh của Thăng Long Tứ Trấn và thực trạng

khai thác phục vụ du lịch.

2.1 Giới thiệu khái quát Thăng Long Tứ Trấn.

Tứ trấn của Thăng Long – Hà Nội là nơi thờ bốn vị thần đã được phong sắc qua

các thời kì, trải qua bao thăng trầm của lịch sử nhưng vẫn tồn tại bền vững trong ýniệm tốt đẹp của người dân Tứ trấn là một trong những kiến trúc văn hóa, đượctôn tạo để chào đón Hà Nội 1.000 năm tuổi

Thời kì đất nước còn sơ khai, có nhiều hiện tượng thiên nhiên lạ mà con ngườikhông thể giải thích Do đó con người có suy nghĩ là nhờ các vị thần trấn giữ, đểcuộc sống của người dân được bình yên, xã hội được phát triển Hà Nội là trungtâm, là trái tim của cả đất nước, do đó việc trấn giữ được coi trọng bằng việc nhờcậy bốn vị thần, trấn giữ bốn phương

Bốn ngôi đền trấn ngự ở bốn phương Đó là phương thức sáng tạo không gianthiêng, là quy hoạch của thành Thăng Long xưa, đóng vai trò quan trọng trong việcbảo vệ Linh khí của Thủ đô nghìn năm văn hiến Tứ trấn tạo ra sức mạnh huyềndiệu, thần quyền, hỗ trợ cho thế quyền, để uy lực của Thủ đô ngày càng vữngmạnh, đất nước ngày càng yên vui

Tứ trấn gồm: Đền Bạch Mã (phương Đông), thờ thần Long Đỗ, vị thần bảo hộkinh thành Thăng Long, đền Voi Phục (phương Tây), thờ thần Linh Lang ĐạiVương, đền Quán Thánh (phương Bắc), thờ Huyền Thiên Trấn Vũ, đền Kim Liên(phương Nam), thờ thần Cao Sơn

Phía Đông tượng trưng cho màu hồng, thể hiện khả năng phát triển, do đó trấnphía Đông nhằm bảo vệ 36 phố phường Hà Nội, giúp cho việc phát triển côngthương, dịch vụ của kinh thành Trấn phía Tây nhằm bảo vệ uy lực quân sự Trấnphía Bắc nhằm chống ngoại xâm, sự xâm nhập của các thế lực thù địch và trấn

Trang 26

phía Nam bảo vệ sự bình yên của Hà thành Bốn ngôi đền trấn giữ bốn vị trí huyếtmạch trên mảnh đất Thăng Long.

Nói như Tiến sĩ Nguyễn Doãn Tuân, Ban quản lí danh thắng Hà Nội: ‘‘Tứ trấngiống như bốn vì sao sáng, không chỉ bảo vệ thế mạnh quân sự mà còn góp phầnphát triển kinh tế, giữ gìn thuần phong mỹ tục và sự hào hoa phong nhã của người

Bức hoành phi treo trên cao toàn tiền thế với bốn chữ ‘‘Đông trấn chính từ’’

đã nói rõ đây là đền trấn phía Đông trong Thăng Long tứ trấn linh diệu của kinh

đô xưa Đền thờ ‘‘Long Đỗ thần quân Quảng Lợi Bạch Mã đại vương’’, tức thầnLong Đỗ

Thần Long Đỗ họ Tô tên Lịch, xuất hiện ở thế kỉ IV, là người đứng đầu Làng –

Hà Nội gốc, nổi tiếng nhân dức, hiếu thuận, được mọi người mến phục, tôn sùng

Do đấy Làng và cả dòng sông nước chảy quang Làng cũng được mang tên là TôLịch, truyền đến ngày nay

Vì làng Tô Lịch dựa vào núi Long Đỗ (còn được gọi là núi Nùng Sơn – NúiNùng, nay là khu vực Điện Kính Thiên, nằm trong Hoàng Thành Thăng Long)nên cũng có tên là ‘‘Hương Long Đỗ’’ Và Tô Lịch, người đứng đầu HươngLong Đỗ khi về cõi vĩnh hằng được thờ làm thần làng, vì thế cũng được gọi làthần Long Đỗ

Trong thời đại Bức thuộc và chống Bắc thuộc, thần Long Đỗ – Tô Lịch đãnhiều làn hiển linh làm khiếp vía kẻ đô hộ ngoại bang

Trang 27

Năm 545, Đức Lý Nam Việt Đế xây tòa thành đầu tiên trên đất Hà Nội cổ,chống quân xâm lược nhà Lương, ở ngay chỗ dòng sông mang tên của thần nên sử

cũ chép đấy là tòa ‘‘Tô Lịch Giang Thành’’

Năm 823, quan đô hộ nhà Đường là Lý Nguyên Gia, khi xây tòa La Thành vàođúng chỗ cũ của ‘‘Hương Long Đỗ’’, biết đây là nơi ở của người đứng đầu ‘‘Làng

Tô Lịch’’ ngày xưa nên đã phải làm lễ phong Thần là ‘‘Thành Hoàng’’

Năm 866, quan cai trị nhà Đường là Cao Biền, thấy Thần hiển linh ở cửa Đôngthành Đại La, sau cuộc đấu pháp thuật bị thất bại đã phải xây đền thờ, tôn pongthần làm ‘‘Đỗ phủ Thành Hoàng thần quân’’ Khi đó Cao Biền đắp thành Đại La

và chôn đồng, sắt để trấn yểm long mạch nước ta, thần đã làm mưa, gió, sấm, chớpđánh bật và làm nát vụn bùa của Cao Biền, khiến y phải lập đền thờ để mong đượcbình yên, lại thấy vượng khí nước Nam không thể mất nên vội cuốn gói về Bắc

Sự tích thần thì sách Lĩnh Nam trích quái chép rằng: ‘‘Đời Đường, Cao Biềnđóng ở nước ta, đắp thêm La Thành Vừa xây xong, một buổi sáng Biền dạo xemphía ngoài cửa đông thành Bỗng trời nổi mưa to gió lớn, mây ngũ sắc từ dưới đấtdâng lên, ánh sáng lóe mắt Một dị nhân mặc áo màu sặc sỡ, trang sức trông kỳ vĩ,cưỡi Rồng đỏ, lơ lửng trong mây, khí thế ngùn ngụt, bay lên lượn xuống hồi lâumới tan Biền kinh ngạc cho là ma quỷ Đêm ấy y mộng thấy thần nhân đếnnói: Ông đừng có bụng ngờ, ta không phải là yêu khí Ta chính là Long Đỗ Vươngchính khí thần Vì muốn xem thành mà hiện ra đó thôi

Biền tỉnh dậy, than rằng: Ta không khuất phục được người phương xa chăng

mà đến nỗi để cho ngoại quỷ dòm ngó, điều đó không hay của mình ru!

Có người khuyên lập đàn, dùng sắt đúc tượng để yểm, Biền y theo Vừa đọcthần chú, trời bỗng mịt mù, mưa gió giật đùng đùng, tượng sắt nát vụn Biền sợhãi, y muốn về phương Bắc Người đời thấy lạ, bèn lập đền thờ ở phía đông kinhthành gọi là đền Long Đỗ Về sau Lý Thái Tổ dời đô ra đây, xây thành, lạimộng thấy thần tới chúc mừng Vua nói: Người có thể chắc sẽ được hương lửatrăm năm chăng? Đáp: Mong thánh thượng được trường thọ vạn năm, thần đâu

Trang 28

há chỉ hưởng trăm năm lửa Vua tỉnh dậy, sai cúng tế, phong làm Thăng Longthành hoàng đại vương.

Vào thời Đức Lý Thái Tổ định đô Thăng Long đầu thế kỉ XI, thần lại hiển linhthành Ngựa Trắng – là biểu tượng của mặt trời – từ ngôi đền thờ ‘‘Đô phủ ThànhHoàng’’ quân hiện ra, giúp nhà Vua hoàn công xây thành Khi vua Lý Thái Tổxây thành Thăng Long, xây xong lại đổ, bèn cho người đến đền Bạch Mã cầu thầnthì có một con Ngựa trắng từ trong đền đi ra, chạy một vòng tròn khép kín ngượcchiều quay của kim đồng hồ, sau đó vào đền biến mất Nhà vua đã theo viết chânngựa mà xây thành, sau khi xây xong bèn cho sửa sang lại đền và sắc phong thần là

‘‘Quảng Lợi Bạch Mã tối linh thượng đẳng thần’’ và ‘‘Quốc đô Thăng LongThành Hoàng Đại Vương’’ gọi tên ngôi đền thờ thần là Đền Bạch Mã (Bạch Mãlinh Từ – Đền Thiêng Ngựa Trắng)

Sách Thăng Long cổ tích khảo lại chép chuyện ‘‘Đền Bạch Mã’’ Như sau: LýThái Tổ đắp thành mấy tháng không xong Một đêm nằm mộng thấy con ngựatrắng nói tiếng người: Mạch đất Long Biên rất thiêng, nay đắp thành, mạch sẽtắc… nên cho đào một cái cừ thông sang sông Thiên Phù và sông Tô Lịch để mạchlưu thông, nếu không chỉ phí công Tỉnh dậy Vua bèn làm như lời Ngựa trắng.Thành xây được, khi hoàn tất có con Ngựa Trắng hiện cạnh thành Quân sĩ đuổi đi,Ngựa chạy đến đền Long Đỗ thì mất dấu Vua cho đó là hiện thân thần Long Đỗ vàphong là Bạch Mã đại vương

Câu chuyện cho thấy thần Long Đỗ tượng trưng cho vượng khí của nước nam,lấn át tà khí phương Bắc, đặc biệt Cao Biền vốn là một pháp sư cao tay mà cũngphải bái phục đầu hàng Đồng thời thần Long Đỗ lại còn là thần Ngựa trắng, giúpcho vua Lý xây dựng được thành Thăng Long

Thực ra Ngựa trắng – Bạch Mã – vốn giữ một vị trí quan trọng trong tư duyngười thời cổ Ngựa được coi là ánh sáng Hơn thế nữa ngựa màu trắng (Bạch Mã)càng có tính thiêng và tính biểu tượng cao Ngựa trắng xán lạn, là hình ảnh của cáiđẹp toàn bích, biểu trưng của sự uy nghi, oai vệ Ngựa trắng Bạch Mã đã chỉ ra cho

Trang 29

Vua Lý khắc phục các trở ngại khi xây thành Thăng Long có thể hiểu Thần đã đemánh sáng hào quang của chính nghĩa, của đại nghĩa dân tộc mà rọi soi vào nhữngmưu mô và thủ đoạn hắc ám của những kẻ phá hoại, vạch trần diện mạo của chúng,

do đó mà công việc xây kinh đô mới thành công Thần Bạch Mã – Ngựa Trắngkhác nào vầng thái dương đem lại sinh khí cho đất nước, cho kinh đô mới Từ đónhân dân coi Long Đỗ – Bạch Mã là Thần Trấn giữ phía Đông

Ngày ấy, quanh đền Bạch Mã dân mở phố chợ trên bến dưới thuyền buôn bánđông vui Đây là cửa sông Tô Lịch nhận nước Sông Hồng và là nơi giao lưu hànghóa của kinh thành Thăng Long với các vùng miền và nước ngoài

Thế kỉ XIII, các vua nhà Trần gia phong ban tặng Thần các mỹ tự: Bảo Quốc,Trấn Linh, Định Bang Như vậy chức vị đầy đủ của Thần phải là: ‘‘Bảo Quốc TrấnLinh Định Bang Quốc Đô Thăng Long Thành Hoàng Đại Vương’’

Đền Bạch Mã ngày nay mở ra trên phố Hàng Buồm đông vui, với nhiều hạngmục trang nghiêm đồ sộ, được quy hoạch trong một không gian thiêng liêng, khépkín Đền đã qua nhiều lần trùng tu, tôn tạo, đặc biệt là trong các dịp kỉ niệm 990năm và 1000 năm Thăng Long – Hà Nội, tuy nhiên nhiều giá trị kiến trúc – nghệthuật của thế kỉ XI

Trải qua các triều đại, ngôi đền còn được trùng tu nhiều lần sau đó Đây là mộtngôi đền lớn quy mô bề thế còn lưu giữ được những nét kiến trúc đặc sắc thời Lý,Trần, Nguyễn

Đền có kiến trúc đẹp mang đậm phong cách kiến trúc nghệ thuật cổ, rất đadạng, phong phú và hấp hẫn thông qua các hoa văn họa tiết chạm trổ tinh xảo tạicác bộ vì, cột, kèo, xà ngang được làm bằng gỗ quý và các chân đá kê hình lụcgiác, hình tròn

Đền còn lưu giữ được 15 tấm bia đá cổ ghi lại việc sửa đền, quy định tuổi lênlão, thể hiện đóng góp, tập tục ăn uống, việc chúa Trịnh cho phép được miễn sưudịch tiền thuế để trông nom, chăm sóc đền Ngoài ra đền còn được nhiều sắc phong

Trang 30

của các triều vua từ thời Lê, Tây Sơn đến triều Nguyễn, cùng nhiều hiện vật, đồthờ tự quý hiếm khác Đền đã được nhà nước xếp hạng di tích lịch sử cấp quốc gianăm 1986.

Văn bia hiện còn cho biết, đền Bạch mã được tu bổ lớn vào đời Lê Chính Hòa(1680– 1705), đến năm Minh Mệnh thứ 20 (1839) lại được tu bổ thêm: sửa lạiđền, dựng riêng văn chỉ, xây Phương Đình, quy mô ngày càng rộng rãi, cảnh quantôn nghiêm, nổi tiếng ở chốn đất thiêng

Hiện tại ngôi đền có quy mô kiến trúc lớn, quay theo hướng Nam gồm có nghimôn, phương đình, đại bái, thiêu hương, cung cấm và nhà hội đồng ở phía sau.Các mục hạng này được bố trí theo chiều dọc, trong một không gian kép kín Kiếntrúc đền còn lưu lại hiện nay chủ yếu mang phong cách thời Nguyễn (thế kỉ XIX) Nổi bật trong kết cấu kiến trúc của đền là toàn bộ khung nhà gỗ với hệ thốngcột gỗ lim lớn, các bộ đỡ mái được lam kiểu ‘‘giá nghiêng chồng rường cong nhị’’ đặc biệt là ‘‘hệ củng 3 phương’’ tại nhà phương đình vừa có tác dụng chịu lực, vừa

là tác phẩm nghệ thuật và sử dụng để treo đèn trong các ngày lễ hội và kết cấu

‘‘vòm vỏ cua’’ đỡ mái hiên của nhà thiêu hương Trên các cốn gỗ, xà lách, xàngang, các vì chồng rường đều có nhiều mảng trang trí với các đề tài phong phú

Từ phương đình vào, các đơn nguyên kiến trúc được nối với nhau bởi các vòm cua

ra một không gian nội thất chung rộng rãi, kiến trúc ở đây đã học được lối ‘‘trùngthiềm điệp ốc’’ của Huế và Hội An, cả một số trang trí như đèn lồng hình hoa Sencũng vậy

Đền Bạch Mã được xây dựng sớm nhất trong hệ thống Tứ Trấn, qua thời gianluôn được tu bổ sửa chữa Ở thời Trần, quân Nguyên xâm lược và đốt phá ThăngLong nhưng lửa không cháy đến Đền Thời Lê Trung Hưng đền được trùng tu vàdân địa phương được triều đình nhận làm dân tạo lệ được miễn các nghĩa vụ vụ vớinhà nước để tập trung chăm sóc di tích Bộ mặt kiến trúc chính của đền nay làthuộc thời Nguyễn, quy mô có thu hẹp song từ nghi môn đến giải vũ và nhà

Ngày đăng: 10/10/2014, 01:31

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Dương Văn Sáu – Di tích lịch sử văn hóa và danh lam thắng Việt Nam – NXB Đại Học Quốc Gia Hà Nội – 2007 – 414 trang Khác
2. Doãn Doan Trinh – Hà Nội Địa Chỉ Du Lịch Văn Hóa – NXB Văn Hóa Thông Tin – 203 – 371 trang Khác
3. Mai Thục – Tinh hoa Hà Nội – NXB Văn Hóa Thông Tin – 2006 – 690trang Khác
4. Nguyễn Đăng Duy – Văn Hóa Tâm Linh – NXB Văn Hóa Thông Tin – 2009 – 301 trang Khác
5. Nguyễn Đăng Duy – Văn Hóa Tâm Linh – NXB Văn Hóa Thông Tin – 2009 – 301 trang Khác
6. Nguyễn Hoàng Phương – Tích hợp đa văn hóa đông tây cho một chiến lược giáo dục tương lai – NXB Giáo dục Hà Nội – 1995 – 727 trang Khác
7. Phạm Văn Khoái – Hán Nôm dành cho du lịch – NXB Đại Học Quốc Gia Hà Nội – 2007 – 373 trang Khác
8. Trương Thìn, Đại Đức Thích Nghiêm Minh – Lên Chùa Lễ Phật – NXB – Hà Nội – 2009 – 126 trang Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w