1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

đặc điểm dịch tễ học và mối liên quan giữa một số yếu tố sinh thái học và bệnh sốt xuất huyết tại hà nội trong hai năm 2008 và 2009

67 520 3
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 67
Dung lượng 271,34 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Định nghĩa ca bệnh giám sát ca bệnh lâm sàng: Người sống hoặc đến từ vùng có ổ dịch hoặc lưu hành SXHD trongvòng 14 ngày có biểu hiện sốt cao đột ngột, liên tục từ 2 – 7 ngày và có

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ

TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI

Vµ 2009

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN Y KHOA

Khóa 2009 - 1013

Trang 2

HÀ NỘI – 2013

Trang 3

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ

TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI

Vµ 2009

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN Y KHOA

Khóa 2009 - 1013

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC Ths.Đỗ Thanh Toàn

Trang 4

HÀ NỘI – 2013

Trang 5

LỜI CẢM ƠN

Với tấm lòng kính trọng và sự biết ơn sâu sắc em xin gửi lời cảm ơn chân

thành nhất tới: Ths Đỗ Thanh Toàn – giảng viên bộ môn Thống kê – Tin

họcTrường Đại học Y Hà Nội Là người đã trực tiếp hướng dẫn, chỉ bảo tận tình và tạo mọi điều kiện tốt nhất giúp em hoàn thành khóa luận tốt nghiệp.

Sự tận tâm và kiến thức uyên bác của cô là tấm gương sáng cho em noi theo trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu.

Em cũng xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới các thầy cô trong Bộ môn Thống

kê tin học, Ban giám hiệu, Phòng đào tạo và Viện đào tạo Y học Dự phòng và

Y tế công cộngTrường Đại học Y Hà Nội đã tận tình dạy dỗ em và tạo điều kiện cho em hoàn thành tốt khóa luận này.

Em xin cảm ơn các anh chị thuộc Trung tâm Y tế Dự phòng Hà Nội, Sở Y

tế Hà Nộiđã giúp đỡ, truyền đạt nhiều kinh ngiệm quý báu đồng thời tạo điều kiện thuận lợi để em thực hiện được khóa luận này.

Cuối cùng, em xin gửi lời cám ơn chân thành và kính trọng nhất đến những người thân trong gia đình Những người đã luôn chăm sóc,lo lắng, tạo mọi điều kiện mỗi khi em gặp khó khăn để em có được ngày hôm nay

Khóa luận này chắc chắn còn nhiều thiếu sót, kính mong sự chỉ dẫn và góp ý của các thầy cô, bạn bè để nghiên cứu này được hoàn thiện hơn.

Hà Nội, ngày 24/5/2013

Đỗ Thị Thu Hà

Trang 6

LỜI CAM ĐOAN

Em xin cam đoan khóa luận này được tiến hành dựa trên sự cho phép củaTrung tâm Y tế Dự phòng Hà Nội, Trung tâm khí tượng và thủy văn Hà Nội

và Tổng cục thống kê dân số Các số liệu, kết quả trong khóa luận hoàn toàn trung thực và chưa từng được công bố trong bất kì nghiên cứu nào khác

Sinh viên

Đỗ Thị Thu Hà

Trang 7

Hàng năm trên thế giới ước tính có khoảng 500.000 ca bệnhSD/SXHD, ít nhất 2,5% trong số đó dẫn tới tử vong, trẻ em là đối tượng bịnhiễm nhiều nhất Kể từ vụ dịch SD đầu tiên được y văn ghi nhận là vào năm

1780 tại Philadenphia, Hoa Kỳ thì đến năm 1970 đã có 9 quốc gia ghi nhậndịch SD/SXHD, năm 1995 gấp hơn 4 lần con số này và cho đến nay là 100nước [2],[3] Bệnh lưu hành rộng rãi ở vùng nhiệt đới, chủ yếu ở Đông NamÁ và Tây Thái Bình Dương Sự lan rộng nhanh chóng của dịch SD/SXHD

Trang 8

trên thế giới trong những năm qua đã cho thấy sự nguy hiểm và hậu quả trầmtrọng mà bệnh đem lại.

Việt Nam là một nước có khí hậu nóng ẩm, mưa nhiều, đây là điều kiệnthuận lợi cho dịch phát triển Theo thống kê của Tổ chức Y tế Thế giới thì ởViệt Nam từ năm 1963 đến năm 1988 có số người mắc và chết lớn nhất so vớicác nước trong khu vực Đông Nam Á và Tây Thái Bình Dương, tính trungbình hàng năm có 50.000 - 100.000 người mắc SD/SXHD Bệnh SD/SXHDlưu hành rộng rãi ở vùng châu thổ sông Hồng, sông Cửu Long và duyên hảimiền Trung Bệnh không chỉ xuất hiện ở đô thị mà cả vùng nông thôn, nơi cómuỗi véc tơ sinh sống [4], [5]

Hà Nội là trung tâm kinh tế, văn hóa, xã hội của đất nước Cùng với sựphát triển kinh tế và đô thị hóa đã khiến cho Hà Nội gặp phải nhiều vấn đềnhư mật độ dân cư đông đúc, môi trường ô nhiễm, thiếu nước sinh hoạt…Những yếu tố này giúp cho muỗi, bọ gậy phát triển, lây truyền và gây dịch

Từ năm 1992 đến nay SD/SXHD luôn là bệnh nguy hiể̉m hàng đầu trong cácbệnh truyền nhiễm ở Hà Nội với số mắc cao và gây thiệt hại về kinh tế cũngnhư sức khỏe của người dân, năm 1998 vụ dịch SXHD lớn xảy ra tại Hà Nộivới số mắc/chết là 3.382/4, tại 100% quận, huyện (12/12) và 61% xã,phường(141/228), tỷ lệ mắc trên 100.000 dân là 135, gấp 1,5 lần so với giai đoạn 10năm trước Qua số liệu thống kê cho thấy giai đoạn 1999-2003 số mắc SXHD

có xu hướng giảm nhiều, nhưng giai đoạn 2004-2009 tỷ lệ mắc lại có xuhướng gia tăng Năm 2006, số mắc SXHD là 2.485 trường hợp,gấp 3,8 lần sovới 2005, chiếm 52,45% số mắc của khu vực miền Bắc Đặc biệt năm 2009dịch SXHD bùng nổ với số mắc/tử vong là 16.094/4,tỷ lệ mắc trên 100.000dân là 245,9 gấp 1,9 lần tỷ lệ mắc so với năm có dịch lớn gần nhất(năm 1998)[6]

Trang 9

Hiện nay chúng ta chưa có vacxin hiệu quả để phòng bệnh cũng nhưchưa có thuốc điều trị đặc hiệu, biện pháp duy nhất để phòng chốngSD/SXHD là phòng chống vecto Để góp phần ngăn chặn dịch SD/SXHDphát triển đồng thời cung cấp thêm tài liệu cho công tác phòng chống bệnh

dịch chúng tôi tiến hành đề tài: “ Đặc điểm dịch tễ học và mối liên quan giữa một số yếu tố sinh thái học và bệnh sốt xuất huyết tại Hà Nội trong hai năm 2008 và 2009”

Trang 10

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 ĐẶC ĐIỂM DỊCH TỄ HỌC BỆNH SD/SXHD

1.1.1 Định nghĩa

Sốt xuất huyết Dengue là một bệnh truyền nhiễm gây dịch do virusDengue gây nên Virus truyền từ người bệnh sang người lành do muỗi đốt.Muỗi Aedes aegypti là côn trùng trung gian truyền bệnh chủ yếu Đặc điểmcủa sốt xuất huyết Dengue là sốt, xuất huyết và thoát huyết tương, có thể dẫnđến sốc và giảm thể tích tuần hoàn và rối loạn đông máu, nếu không đượcchẩn đoán sớm và xử trí kịp thời dễ dẫn đến tử vong

Định nghĩa ca bệnh giám sát (ca bệnh lâm sàng):

Người sống hoặc đến từ vùng có ổ dịch hoặc lưu hành SXHD trongvòng 14 ngày có biểu hiện sốt cao đột ngột, liên tục từ 2 – 7 ngày và có ít nhất

2 trong các dấu hiệu sau:

- Biểu hiện xuất huyết có thể ở nhiều mức độ khác nhau như: nghiệmpháp dây thắt dương tính, chấm/mảng xuất hiện ở dưới da, chảy máu chânrăng hoặc chảy máu cam

- Nhức đầu, chán ăn, buồn nôn, nôn

- Da xung huyết, phát ban

- Đau cơ, đau khớp, nhức hai hố mắt

Trang 11

virus type huyết thanh đó Mặc dù cả 4 type huyết thanh có kháng nguyênchung là đặc hiệu nhóm, song chỉ tạo ra việc bảo vệ chéo được 1 vài thángsau khi nhiễm trùng với bất kỳ type huyết thanh nào[7] Tại Việt Nam có sựlưu hành của cả 4 type virus dengue tuy nhiên phổ biến hơn cả là type 2.

1.1.3 Đặc điểm lâm sàng của SXHD:

Sốt Dengue đặc hiệu bởi các triệu chứng và dấu hiệu sau đây: nhứcđầu, đau ở sau nhãn cầu, đau cơ, đau khớp,ban đỏ ngoài da, các biểu hiện xuấthuyết và giảm bạch cầu, mặc dù các đặc điểm lâm sàng còn phụ thuộc vàotuổi bệnh nhân Sốt xuất huyết Dengue điển hình đặc hiệu bởi sốt cao, hoặcbệnh sử có sốt cấp tính, xuất huyết, gan có thể to và rối loạn tuần hoàn

Về lâm sàng, sốt xuất huyết Dengue phân giảm tiểu cầu vừa phải hoặc

rõ rệt, xảy ra đồng thời với tình trạng máu bị cô đặc Hội chứng sốt Dengueđược xem là hội chứng bao gồm các đặc điểm của sốt xuất huyết Dengue đikèm với suy tuần hoàn, biểu hiện bởi mạch nhanh, kẹt huyết áp động mạchhoặc tụt huyết áp, chân tay lạnh, da nhớp nháp mồ hôi và tình trạng lo lắngbồn chồn Mặc dù WHO đã có hướng dẫn về định nghĩa trường hợp bệnh vàphân loại hiện nay, vì có các vấn đề về độ chính xác, khả năng có thể áp dụnglại nhiều lần và dễ sử dụng của hệ thống này [8]

1.1.4 Xét nghiệm:

 Xét nghiệm nhanh

- Tìm kháng nguyên NS1 trong 5 ngày đầu của bệnh

- Tìm kháng thể IgM từ ngày thứ 5 trở đi

 Xét nghiệm ELISA

- Tìm kháng thể IgM: xét nghiệm từ ngày thứ 5 của bệnh

- Tìm kháng thể IgG: lấy máu 2 lần cách nhau 1 tuần tìm động lựckháng thể (gấp 4 lần)

Trang 12

 Xét nghiệm PCR, phân lập virus

- Lấy máu trong giai đoạn sốt (thực hiện ở các cơ sở xét nghiệm cóđiều kiện) [9]

2 lần độ lệch chuẩn (số dự tính trung bình bình thường là số mắc trung bìnhtrong khoảng 5 năm gần nhất, trong đó có một năm có dịch lớn, nhưng số mắcnăm có dịch lớn không đưa vào tính số trung bình) Cùng thời gian và địađiểm đó, phát hiện có bọ gậy (lăng quăng) hoặc muỗi truyền bệnh (Aedesaegypti hoặc Aedes albopictus) [10]

 Nguồn truyền nhiễm và khối cảm thụ

Tất cả mọi người đều có khả năng mắc bệnh SXHD và người là vậtchủ duy nhất với sự nhiễm đa dạng, từ nhiễm thể ẩn không triệu chứng đến cóbiểu hiện lâm sàng nhẹ hoặc tình trạng xuất huyết nặng, sốc và tử vong [10]

Sau khi nhiễm với typ Dengue nào thì có miễn dịch lâu dài với typDengue đó nhưng chỉ bảo vệ được một phần và tạm thời với ba typ còn lại Sau

Trang 13

thời kỳ ủ bệnh (thường kéo dài từ 3 đến 14 ngày), bệnh khởi phát đột ngột vớisốt cao kèm theo các triệu chứng không đặc hiệu như đau đầu, đau hốc mắt,mỏi cơ khớp, mệt mỏi phát ban Sau đó các dấu hiệu sốt huyết như: dấu hiệudây thắt dương tính, chấm mảng sốt huyết, chảy máu chân răng, chảy máu cam,kinh nguyệt kéo dài hoặc xuất hiện sớm…Giai đoạn sốt cấp tính có thể kéo dài

từ 2 đến 7 ngày Khả năng truyền vi rút sang người lành được thực hiện khimuỗi hút máu bệnh nhân ở giai đoạn virus huyết ( từ 6 đến 18 giờ trước đếnkhoảng 5 ngày sau khi bệnh khởi phát) Như vậy bệnh nhân đã trở thành nguồnlây ngay trước thời kỳ sốt cho đến giai đoạn sốt, trung bình từ 6 đến 7 ngày.Bên cạnh bệnh nhân, những người nhiễm virus nhưng không có biểu hiện lâmsàng cũng là một nguồn gây bệnh đáng chú ý [7], [11], [12]

 Đường lây truyền

Bệnh không lây truyền trực tiếp từ người sang người, mà do muỗi đốt

từ người bệnh rồi truyền virus sang người lành qua vết đốt Ở khu vực ĐôngNam Á muỗi Ades aegypti (Ae Aegypti) là vectơ chính trong các vụ dịchSXHD Muỗi Aedes albopictus (Ae Albopictus ) được xác định là véc tơ thứhai, nhưng cũng là nguồn duy trì virus quan trọng [13] Tại Việt Nam, Aedesaegypti và Aedes albopictus là hai loài muỗi truyền bệnh SD/SXHD, trong đóquan trọng nhất là Aedes aegypti

Muỗi Aedes phân bố khắp mọi nơi từ nông thôn đến thành thị, đồngbằng, ven biển đến miền núi Chúng thường sinh sống ở nơi bùn lầy, nướcđọng trong nhà hay ở lùm cây ngọn cỏ Nguồn bệnh của bệnh SD/SXHD làngười bệnh và các động vật linh trưởng như vượn, hắc tinh tinh [10]

 Tính cảm nhiễm và miễn dịch

Tất cả những người chưa có miễn dịch đặc hiệu đều có thể mắc bệnh từtrẻ sơ sinh cho đến người lớn Sau khi khỏi bệnh, bệnh nhân sẽ được miễn

Trang 14

dịch bảo vệ suốt đời với type virus huyết thanh gây bệnh nhưng không đượcmiễn dịch bảo vệ chéo với các type virus khác Nếu bị mặc bệnh lần hai vớitype virus khác, có thể bệnh nhân sẽ bị nặng hơn và dễ xuất hiện sốc Dengue.

 Giám sát và phòng chống dịch

Đến nay, bệnh SD/SXHD chưa có thuốc điều trị đặc hiệu và chưa cóvacxin phòng bệnh nên để phòng chống SD/SXHD thì diệt vectơ đặc biệt làdiệt bọ gậy ( lăng quăng ) với sự tham gia tích cực của cộng đồng là biệnpháp hiệu quả nhất Chính vì vậy, việc giám sát cũng như tuyên truyền chocộng đồng cùng tham gia là rất cần thiết

- Giám sát chủ động

Mục đích của hệ thống giám sát chủ động là giúp cán bộ y tế theo dõi sựlây truyền Dengue ở một cộng đồng, có thể chỉ ra vào bất kỳ thời điểm nào nơixảy ra dịch, typ virus đang lưu hành, bệnh cảnh lâm sàng Để thực hiện đượcđiều đó cần phải có hệ thống giám sát chủ động và phối hợp tốt với chẩn đoántrong phòng thí nghiệm Hệ thống giám sát chủ động phải có ít nhất 3 thànhphần, chú trọng vào các giai đoạn trước và giữa, các chu kỳ dịch bao gồm mạnglưới cơ sở y tế, phòng khám trọng điễm, hệ thống cảnh báo dịch Cả 3 thànhphần giám sát cần có sự hỗ trợ chẩn đoán của phòng xét nghiệm [7], [10]

Trang 15

Giám sát véc tơ

- Mục đích của việc giám sát véc tơ

 Xác định nguồn sinh sản của muỗi truyền bệnh ở trong và xung quanhnhà để có thể làm giảm nguồn bằng sự tham gia của cộng đồng thông quagiáo dục sức khỏe

 Xác định vùng có nguy cơ cao, sự phân bố của vectơ và số bệnh nhânSXHD trên bản đồ

 Xác định sự biến động theo mùa để cảnh giác và chú trọng phòngchống đặc biệt trong thời kỳ vectơ phát triển mạnh

 Dự báo việc SXHD dựa vào các chỉ số của vectơ và các thông tindịch tễ học Từ đó mà các hoạt động phòng chống có thể được tiến hành đúnglúc để ngăn ngừa vụ dịch lớn xảy ra

 Nhận biết sự thay đổi rõ rệt về mật độ, phân bố, tính nhạy cảm củavéc tơ với hóa chất diệt côn trùng và khả năng truyền bệnh để xây dựng chiếnlược phòng chống kịp thời, hiệu quả.[7]

Hiện tại ở Việt Nam, việc giám sát véc tơ bao gồm giám sát muỗitrưởng thành, giám sát bọ gậy/ lăng quăng

- Giám sát muỗi trưởng thành

Giám sát muỗi trưởng thành bằng phương pháp soi bắt muỗi đậu nghỉtrong nhà bằng ống tuýt hoặc máy hút cầm tay Người điều tra chia thànhnhóm, mỗi nhóm hai người soi bắt muỗi đậu nghỉ trên quần áo, chăn màn, cácđồ vật trong nhà vào buổi sáng, mỗi nhà soi bắt 15 phút Số nhà điều tra chomỗi điểm là 30 nhà, điều tra 1 lần/tháng

Những chỉ số sử dụng để theo dõi muỗi Ae aegypti và Ae albopictus(tính theo loài) như sau:

- Chỉ sổ mật độ (CSMĐ) muỗi là số muỗi cái trung bình trong một giađình điều tra

Trang 16

Giám sát ổ bọ gậy nguồn: Phương pháp này dựa vào kết quả đếm toàn

bộ số lượng bọ gậy muỗi Aedes trong các chủng loại DCCN khác nhau để xácđịnh nguồn phát sinh muỗi Aedes chủ yếu của từng địa phương theo mùatrong năm hoặc từng giai đoạn để điều chỉnh, bổ sung các biện pháp tuyêntruyền và phòng chống vectơ hợp lý

Xác định ổ bọ gậy nguồn sẽ tiến hành theo đơn vị tỉnh, điều tra trongnhững xã điểm 2 lần/năm Mỗi lần điều tra 100 nhà (phân bổ trong các xã,phường trọng điểm)

Có 4 chỉ số được sử dụng để theo dõi bọ gậy của muỗi Aedes aegypti

và Aedes albopictus như sau:

- Chỉ số nhà có bọ gậy (CSNBG) là tỷ lệ phần trăm nhà có bọ gậy Aedes

CSNBG (%) = x 100

- Chỉ số dụng cụ chứa nước có bọ gậy (CSDCBG) là tỷ lệ phần trămdụng cụ chứa nươc có bọ gậy Aedes

CSDCBG (%) = x 100

Trang 17

- Chỉ số Breteau (BI) là số DCCN có bọ gậy Aedes trong 100 nhà điềutra Tối thiểu điều tra 30 nhà, vì vậy BI được tính như sau:

BI (%) = x 100

- Chỉ số mật độ bọ gậy (CSMĐBG) là số lượng bọ gậy trung bình cho 1nhà điều tra Chỉ số CSMĐBG chỉ sử dụng khi điều tra ổ bọ gậy nguồn

CSMĐBG (con/nhà) = Trong quá trình giám sát véc tơ (muỗi, bọ gậy) nếu chỉ số mật độ muỗicao (≥ 1 con/nhà) hoặc chỉ số Breteau (BI)≥ 50 là yếu tố nguy cơ cao

Riêng khu vực miền Bắc chỉ số mật độ muỗi cao (≥0.5 con/nhà) hoặcchỉ số BI≥ 20 là yếu tố nguy cơ cao [9]

 Biện pháp môi trường

Năm 1980, WHO đã đưa ra ba hình thức quản lý môi trường về phòngchống vectơ bằng phương pháp sinh học:

- Thay đổi môi trường: Loại bỏ lâu dài nơi sinh sống của vectơ

- Cải tạo môi trường: Đó là thay đổi tạm thời nơi sinh sống của vectơ,bao gồm quản lý DCCN thiết yếu và không thiết yếu, cũng như loại bỏ ổ sinhsản tự nhiên của muỗi

- Thay đổi điều kiện ở hoặc hành vi của con người, làm giảm khả năngtiếp xúc của vectơ với con người [7]

 Biện pháp sinh học

Ở Việt Nam nghiên cứu cá diệt bọ gậy được tiến hành và áp dụng cóhiệu quả tốt trong phòng chống SXHD từ nhiều năm nay Khả năng ăn bọ gậycủa loài cá rất rõ ràng, tuy nhiên cá chỉ được thả vào các DCCN có kích thướclớn Các DCCN có kích thước nhỏ không thể áp dụng biện pháp này được Vìvậy biện pháp thả cá luôn phải phối hợp với biện pháp làm giảm nguồn sinh

Trang 18

sản của muỗi thông qua việc quản lý môi trường ( loại bỏ phế liệu, phế thải,thau rửa DCCN có kích thước nhỏ) và giáo dục y tế, nhằm giảm tối đa mật độquẩn thể muỗi truyền bệnh SXHD [14].

 Biện pháp hóa học

Biện pháp này nhằm diệt muỗi nhiễm virus trong các vụ dịch hoặc diệt

bọ gậy như sử dụng hạt Temephos thả vào DCCN, phun không gian hoặcphun tồn lưu hóa chất Tuy vậy, ngày nay người ta biết rõ lợi ích và tác hạicủa hóa chất diệt côn trùng đến sức khỏe, môi trường và sự kháng thuốc nênđã tìm cách giảm và tránh lạm dụng hóa chất Song diệt ngay đàn muỗi nhiễmvirus trong các vụ dịch SXHD chưa có biện pháp hiệu quả hơn biện phápphun không gian hóa chất diệt côn trùng [7]

 Huy động cộng đồng

Tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức cho người dân về bệnhSD/SXHD, cho thấy rõ vai trò của họ trong việc làm giảm nguồn lây truyền,bảo vệ bản thân cũng như người xung quanh Kêu gọi, thuyết phục các công

ty thương mại, du lịch tài trợ tham gia vào việc cải thiện môi trường

Phổ biến về các biện pháp đơn giản loại trừ nơi sinh sản của vectơ ởnhà cũng như trường học cho các bậc phụ huynh và học sinh Tổ chức cáccuộc thi tìm hiểu về SD/SXHD và các biện pháp phòng chống

Trang 19

1.2 CÁC NGHIÊN CỨU TRÊN THẾ GIỚI VÀ Ở VIỆT NAM VỀ BỆNH SD/SXHD

và tỷ lệ mắc SD/SXHD Kết quả cho thấy SD/SXHD xảy ra khi nhiệt độ trungbình đã tăng lên mức bình thường như tìm thấy trong năm 1998 khi có hiệntượng El-Nino Nó cũng xảy ra khi lượng mưa tương đối thấp hơn và độ ẩmcao hơn so với trung bình Ngoài ra, tác giả cũng chỉ ra khu vực xây dựng vàkhu vực nông nghiệp là những vùng có nguy cơ cao mắc SD/SXHD [15]

Một nghiên cứu mô tả hồi cứu liên quan đến các yếu tố khí hậu và bệnhSD/SXHD tại Monteria, Colombia trong vòng 5 năm (2003-2008) đã cho thấymối quan hệ chặt chẽ và nhất quán giữa nhiệt độ, lượng mưa, độ ẩm tương đốiảnh hưởng đến truyền bệnh SD/SXHD Phân tích đơn biếncủaca sốt xuấthuyếtkhông bị ảnh hưởngđáng kểbởi các yếu tố thời tiết Trong đó, chỉ có17% sự biến đổi của số ca bệnh SD/SXHD được giải thích bởi sự biến đổi của

độ ẩm tương đối, 18,3% sự biến đổi của số ca bệnh được giải thích bởi sựbiến đổi của lượng mưa và 1,8% sự biến đổi của số ca bệnh được giải thíchbởi sự biến đổi của nhiệt độ Nhóm tác giả cũng chỉ ra rằng hiện tượng El-Nina và El- Nino không ảnh hưởng đến các trường hợp SD/SXHD [16]

Trang 20

Nghiên cứu về côn trùng trên tỷ lệ muỗi Aedes aegypti trưởng thành vàchưa trưởng thành cùng với mối liên quan đến các yếu tố sinh thái đã đượcthực hiện trong một khu vực lưu hành bệnh SD/SXHD của Jalore, Rajasthan1992-1993 Kết quả trong nghiên cứu chỉ ra rằng: mùa vụ xuất hiện của cácbệnh nhân sốt xuất huyết trong một khoảng thời gian cụ thể trong năm có liênquan đến mật độ vectơ tương đối cao và sự hiện diện của muỗi bị nhiễm bệnh

là do có nhiệt độ, độ ẩm và độ pH thích hợp [17]

Một nghiên cứu hồi cứu khác về SD/SXHD tại Brazil chỉ ra rằng dịchbệnh xảy ra thường trong những tháng nóng nhất mà không cần có sự khácbiệt về khu vực địa lý Nhóm tác giả quan sát 2 cụm trong cả nước về sốlượng thông báo trường hợp mắc bệnh Trong đó cụm đầu tiên chiếm khoảng86% tổng tất cả các thông báo là khu vực Đông Bắc và Đông Nam, cụm cònlại là miền Nam, Bắc và Trung tâm Tây khu vực Kết quả của nghiên cứu chothấy các chỉ số vectơ có liên quan tới quy mô dân số và không có bằng chứngtích cực giữa dịch bệnh SD/SXHD và các chỉ số vectơ [18]

1.2.2 Tại Việt Nam

Trong một nghiên cứu tại tỉnh Nam Hà (nay là tỉnh Nam Định và HàNam) từ năm 1991 đến năm 2000 đã cho thấy số người mắc SD/SXHD ởvùng ven biển cao gấp 5,13 lần so với tại đồng bằng, khu vực nông thôn tỷ lệmắc cao hơn thành thị 1,4 lần (sự khác nhau có ý nghĩa thống kê) SD/SXHDở Nam Hà mang tính chất mùa rõ rệt, dịch bắt đầu từ tháng 4 đến tháng 11,đỉnh cao vào các tháng 8, 9, 10, cao nhất là tháng 9 chiếm tỷ lệ 41,9% so vớicác tháng trong năm Không thấy dịch xuất hiện từ tháng 12 đến tháng 3 Kếtquả điều tra vectơ SD/SXHD trong nghiên cứu cũng cho thấy chỉ số vectơtăng cao từ tháng 5 đến tháng 10 (mùa mưa), đỉnh mắc vào từ tháng 5 đếntháng 8 Đây cũng là những tháng có số ca mắc SD/SXHD tăng cao [19]

Trang 21

Một nghiên cứu mô tả hồi cứu về “ Một số đặc điểm dịch tễ học và kếtquả xét nghiệm vụ dịch SXH tỉnh Khánh Hòa năm 2005” của nhóm tác giảNguyễn Văn Hải, Trần Thị Tuyết Mai, Dương Đình Lưu, Đặng Thanh Xuân,Lương Thị Trong : cho thấy số người mắc SXH chủ yếu là dưới 15 tuổi(77,2%), trên 15 tuổi chiếm 22,9%, nhóm tuổi chiếm tỷ lệ cao nhất là 6-10tuổi(32,5%) Dịch SD/SXHD xảy ra nhiều nhất ở các vùng ven biển 54,6%,đồng bằng 30,3%, các phường hoàn toàn nằm trong vùng nội thị chiếm tỷ lệthấp 15,1%, phân bố dịch theo thành thị (36,3%) và nông thôn (63,7%).Nghiên cứu này cũng cho thấy muỗi truyền bệnh phát triển thuận lợi trongđiều kiện thời tiết nhiệt độ tăng cao và mưa nhiều từ tháng 8 đến tháng 11, số

ca mắc SD/SXHD tăng cao vào thời điểm đó Trong các thông báo dịch năm

2005 tại Khánh Hòa, các chỉ số điều tra côn trùng ở nơi có dịch đều cao hơnmức cho phép Nhóm tác giả nhận định việc chủ động loại bỏ các ổ bọ gậynguồn để phòng chống dịch là cần thiết [20]

Nghiên cứu “SD/SXHD tại thành phố Hà Nội, 2003” của Thẩm ChíDũng, Nguyễn Nhật Cảm cho thấy nam giới (60,6%) có nguy cơ mắcSD/SXHD cao hơn nữ giới (39,4%), chủ yếu ở nhóm tuổi từ 15 đến 25(91,58%) Bệnh SD/SXHD xảy ra ở hầu hết các quận, huyện của Hà Nội, tậptrung ở các quận, huyện: Hai Bà Trưng (25,2%), Thanh Xuân (22,1%), ThanhTrì (20,6%) và Đống Đa (18,6%) Nghiên cứu chỉ ra rằng năm 2003 dịchSD/SXHD xuất hiện tản phát quanh năm ở Hà Nội, khởi điểm vào tháng 9 vàđạt đỉnh dịch vào tháng 11 Số ca mắc thay đổi theo mùa, liên quan tới điềukiện khí hậu như nhiệt độ, độ ẩm và lượng mưa Một yếu tố quan trọng ảnhhưởng tới việc bùng phát dịch năm 2003 là do tình trạng nắng nóng kéo dàigây thiếu nước trầm trọng Người dân phải tích nước trong nhà để sử dụngbằng các dụng cụ chứa tạo điều kiện cho muỗi đẻ trứng và phát triển [21]

Trang 22

Một nghiên cứu tìm hiểu mối liên quan giữa các yếu tố sinh thái vàbệnh SXH đã được tiến hành tại tỉnh Đăk Lăk từ năm 2004 đến năm 2008.Kết quả trong nghiên cứu này cho thấy từ tháng 7 đến tháng 10 số ca bệnhtăng cao, chiếm 72% các trường hợp được báo cáo trong suốt thời gian nghiêncứu Nhóm tác giả chỉ ra rằng tỷ lệ mắc sốt xuất huyết liên quan đáng kể vớicác yếu tố sau: chỉ số hộ gia đình (HI) tăng 5% (RR: 1,66; 95% CI: 1,62-1,70), chỉ số thùng chứa (CI) tăng 5% (RR: 1,78, 95% CI: 1,73-1,83) hoặc chỉ

số Breteau (BI) tăng 5% (RR: 1,57; 95%CI: 1,53-1,60) Nguy cơ sốt xuấthuyết cũng tăng cao khi nhiệt độ tăng 20C (RR: 1.39; 95%CI: 1,25-1,55), độẩm tăng 5% (RR: 1,59; 95%CI: 1,51-1,67) hoặc lượng mưa tăng 50mm (RR:1,13, 95%CI: 1,21-1,74) Nguy cơ sốt xuất huyết tỷ lệ nghịch với số giờ nắng,

số ca mắc SXH thấp khi số giờ nắng thêm 50 giờ (RR: 0,76; 95% CI: 0,79) Nghiên cứu đưa ra kết luận nguy cơ mắc SXH tăng lên trong các thángmùa mưa khi lượng mưa, nhiệt độ, độ ẩm tăng lên hàng tháng cùng với tăng

0,73-số lượng vectơ được chỉ ra bởi các chỉ 0,73-số HI, CI, BI Hiện tượng biến đổi khíhậu có thể sẽ gia tăng gánh nặng của việc nhiễm SXH tại Việt Nam [22]

Trang 23

CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 ĐẶC ĐIỂM NGHIÊN CỨU:

Các quận huyện của Thành phố Hà Nội trước năm 2008 khi chưa sátnhập với Hà Tây: 9 quận nội thành và 5 huyện ngoại thành Chúng tôi quyếtđịnh chọn Hà Nội cũ vì đã có hệ thống giám sát tại Trung tâm Y tế Dự phòng

Hà Nội tương đối tốt

Bản đồ 1: Bản đồ địa lý Hà Nội(cũ)

Trang 24

2.2 THỜI GIAN VÀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

- Thời gian nghiên cứu:

Thời gian tiến hành nghiên cứu:Từ ngày 15/9/2012 đến ngày 15/06/2013Thời gian của bộ số liệu sử dụng: Từ tháng 1/2008 đến tháng 12/2009

- Đối tượng nghiên cứu:

Đối tượng nghiên cứu là tất cả những bệnh nhân được chẩn đoánSD/SXHD theo định nghĩa ca bệnh ở tất cả các cơ sở y tế tại thành phố Hà Nội

Số liệu dân số Hà Nội được thu thập từ số liệu của Tổng cục Thống Kêdân số theo các năm từ năm 2008 đến năm 2009

Số liệu các ca bệnh, số liệu côn trùng học được lấy từ trung tâm Y Tế DựPhòng Hà Nội

Số liệu thời tiết: Thu thập từ số liệu của Trạm Khí tượng Hà Nội theotháng của 3 yếu tố: nhiệt độ trung bình, độ ẩm, lượng mưa trong thời gian từtháng 1/2008 đến tháng 12/2009

2.3 THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU

Phương pháp nghiên cứu ngang hồi cứu có phân tích

2.4 CÁC BIẾN SỐ, CHỈ SỐ NGHIÊN CỨU

Trang 25

Tuổi Tuổi dương lịch tính theo năm

Bộ cơ sở dữ liệu của Trung tâm Y tế

Dự phòng

Hà Nội có sẵn

Phân bố ca

bệnh theo

địa dư

Dân số chuẩn Dân số của Hà Nội trong năm 2008 và 2009Tỷ lệ

mắc/100.

000 dân

Tổng số ca mắc

x 100.000 Tổng số dân

Phân bố

ca mắc theo địa dư

Tỷ lệ ca mắc tính theo quận, huyện Tỷ lệ ca mắc theo nội, ngoại thành

Phân bố

ca mắc theo thời gian

Tỷ lệ ca mắc theo tháng Phân bố ca mắc theo yếu tố thời tiết

Số muỗi cái bắt được

(con/nhà)

Số nhà điều tra

Bộ cơ sở dữ liệu của Trung tâm Y tế

Dự phòng

Hà Nội có sẵn

Chỉ số nhà có muỗi

Số nhà có bọ gậy Aedes

x 100

Số nhà điều tra

Chỉ số Breteau (BI)

Số DCCN có bọ gậy Aedes

x 100

Số nhà điều tra

Trang 26

2.5 PHÂN TÍCH SỐ LIỆU

- Stata: Phân tích số liệu trên phần mềm stata 10

- Mô tả tỉ lệ mới mắc các ca bệnh SXH theo các yếu tố dịch tễ học nhưgiới, tuổi, nghề nghiệp, các yếu tố thời gian như theo tháng, theo mùa

- Phân tích mối tương quan giữa các yếu tố thời tiết, các chỉ số giám sátvectơ với tỷ lệ mắc SD/SXHD áp dụng mô hình hồi quy poisson

- Excel và Word: Số liệu sau khi phân tích được trình bày dưới dạngbảng, biểu, đồ thị của phần mềm Excel và Word

- Vẽ bản đồ bằng phần mềm ArcGIS

2.6 SAI SỐ VÀ CÁCH KHẮC PHỤC

- Sai số

Sai số quá trình phân loại, thiếu thông tin

Sai số trong quá trình nhập liệu, xử lý số liệu

- Cách khắc phục

Chọn những phiếu đầy đủ thông tin theo các tiêu chuẩn

Số liệu được nhập hai lần với hai người nhập khác nhau

2.7 ĐẠO ĐỨC NGHIÊN CỨU

Nghiên cứu không tiến hành trực tiếp với người bệnh mà chỉ thông quacác hồ sơ sẵn có 2 năm tại các trạm y tế phường trên địa bàn Hà Nội

Nghiên cứu đã được thông báo cho cơ quan cung cấp số liệu về mụcđích, nội dung và quá trình nghiên cứu

Nghiên cứu chỉ nhằm mục đích điều tra tình hình dịch bệnh, không ảnhhưởng đến sức khỏe cũng như kinh tế của người dân

Các thông tin thu thập chỉ phục vụ cho mục đích nghiên cứu

Các thông tin cá nhân như họ tên, địa chỉ chi tiết không được sử dụngcho phân tích cũng như đưa vào các báo cáo

Trang 27

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1 MÔ TẢ ĐẶC ĐIỂM DỊCH TỄ HỌC CỦA BỆNH SXH TẠI HÀ NỘI NĂM 2008-2009

3.1.1 Phân bố ca bệnh theo giới

Nhận xét: Năm 2009, Hà Nội có tỷ lệ mắc SD/SXHD trên 100.000 dân

là 217,95 cao gấp 5,67 lần so với năm 2008

Trong cả 2 năm 2008 và 2009, tỷ lệ mắc bệnh ở nam đều cao hơn nữ.Năm 2008, tỷ lệ mắc trên 100.000 dân ở nam là 20,02 cao hơn ở nữ là 18,42.Trong khi năm 2009, tỷ lệ này là 113,76/100.000 dân cao hơn đáng kể so vớinữ là 104,19/100.000 dân

Trang 28

3.1.2 Phân bố ca bệnh theo tuổi

- Phân bố ca bệnh theo tuổi trong năm 2008

Sự phân bố ca bệnh SD/SXHD theo nhóm tuổi được chia thành khu vưcnội thành và ngoại thành Hà Nội được thể hiện trong các biểu đồ sau:

Biểu đồ 3.2: Tỷ lệ mắc SD/SXHD trên 100.000 dân theo tuổi và theo khu

vưc nội, ngoại thành Hà Nội năm 2008

Biểu đồ 3.2 cho thấy có sự chênh lệch tỷ mắc bệnh rất cao giữa 2 khuvực nội và ngoại thành của Hà Nội trong năm 2008 Khu vực nội thành có tỷ

lệ mắc trên 100.000 dân là 34,25 cao gấp 8,17 lần so với khu vực ngoại thành

là 4,19

Trong khu vực nội thành Hà Nội, nhóm tuổi từ 16 đến 24 và từ 25 đến

35 tuổi là 2 nhóm tuổi có tỷ lệ mắc cao nhất, lần lượt là 13,43/100.000 dân và9,19/100.000 dân Tỷ lệ mắc thấp nhất là nhóm tuổi 56+ (1,49/100.000 dân),thấp hơn 9 lần so với nhóm tuổi từ 16 đến 24 Nhóm tuổi từ 0 đến 15 cũng cótỷ lệ mắc khá thấp là 4,19

Trang 29

Tương tự, khu vực ngoại thành Hà Nội cũng có tỷ lệ mắc SD/SXHDtrên 100.000 dân cao nhất ở nhóm tuổi 16 đến 24 (1,36) và 25 – 35 (1,27),thấp nhất ở nhóm tuổi từ 56+ (0,3).

- Phân bố các ca bệnh theo tuổi trong năm 2009

Sự chênh lệch giữa các nhóm tuổi của 2 khu vực Hà Nội năm 2009cũng rất rõ ràng:

2,01

t0-15 t16-24 t25-35 t36-55 t56+

Biểu đồ 3.3: Tỷ lệ mắc SD/SXHD trên 100.000 dân theo tuổi và theo khu

vực nội, ngoại thành Hà Nội năm 2009

Năm 2009, khu vực nội thành có tỷ lệ mắc bệnh trên 100.000 dân là180,21 cao gấp 4,78 lần so với khu vực ngoại thành là 37,74

Tỷ lệ mắc SD/SXHD cao nhất ở nhóm tuổi 16 đến 24trong cả 2 khu vực,khu vực nội thành là 67,76/100.000 dân cao hơn 8,99 lần nhóm tuổi có tỷ lệthấp nhất là nhóm tuổi 56+, khu vực ngoại thành là 11,97/100.000 dân caohơn 5,96 lần nhóm tuổi 56+

Nhóm tuổi từ 25 đến 35 cũng có tỷ lệ mắc trên 100.000 dân cao, nộithành là 50,28 và ngoại thành là 11,64

Trang 30

Ở khu vực nội thành, nhóm tuổi từ 0 – 15 có tỷ lệ mắc khá cao27,45/100.000 dân trong khi ở khu vực ngoại thành thì nhóm tuổi này lại có tỷ

lệ khá thấp so với các nhóm tuổi khác là 3,95/100.000 dân

3.1.3 Phân bố ca bệnh theo nghề nghiệp

Biểu đồ 3.4: Phân bố ca bệnh theo nghề nghiệp của Hà Nội năm 2008-2009

Nhìn chung số người mắc bệnh tập trung vào nhóm nghề nghiệp họcsinh, sinh viên với 812 ca bệnh năm 2008 và tăng đột biến vào năm 2009 với

4449 ca bệnh Tiếp theo là nhóm cán bộ, nhân viên văn phòng với 444 cabệnh năm 2008 và 1594 ca bệnh năm 2009

Năm 2009, nhóm lao động tự do cũng có số lượng ca bệnh khá cao(1565 ca bệnh) và năm 2008 là 217 ca bệnh Nhóm nghề nghiệp có số ca bệnhthấp nhất là công nhân năm 2008 là 118, năm 2009 là 602

Ngoài những nhóm nghề nghiệp trên còn nhiều nghề nghiệp khác như:nông dân, nội trợ…có số ca bệnh thấp hơn các nhóm khác

Trang 31

3.1.4 Phân bố ca bệnh theo địa dư

Bản đồ 2: Tỷ lệ mắc SD/SXHD trên 100.000 dân tại Hà Nội năm 2008-2009

Trang 32

Bản đồ 2 cho thấy số người mắc bệnh SD/SXHD tập trung đông ở cácquận Đống Đa, Hai Bà Trưng, Hoàng Mai, Thanh Xuân, Hoàn Kiếm Đây lànhững quận nội thành Hà Nội và cũng là những quận tập trung đông dân cư Năm 2008, Thanh Xuân là quận có tỷ lệ mắc cao nhất với 7,28/100.000dân , tiếp theo là Hai Bà Trưng (6,32/100.000 dân) Đông Anh là huyện có tỷ

lệ mắc trên 100.000 dân thấp nhất với 0,27

Năm 2009, Hai Bà Trưng là quận có tỷ lệ mắc trên 100.000 dân cao nhấtvới 42,61, tiếp theo là Đống Đa với 41,1và thấp nhất là Sóc Sơn với 1,16

Biểu đồ 3.5: Biểu đồ tỷ lệ hiện mắc SD/SXHD trên 100.000 dân theo tháng

của Hà Nội năm 2008-2009

Từ tháng 1 đến tháng 4 là những tháng có số người mắc bệnh thấp Số

ca bệnh tăng dần vào tháng 5, tháng 6 và tăng cao từ tháng 7 đến tháng 11 Năm 2008, số người mắc bệnh cao nhất vào tháng 11 với tỷ lệ mắc trên

100000 dân là 14.12 cao gấp 54,3 lần so với tháng 2, là tháng có tỷ lệ mắc thấpnhất (0.26) Năm 2009, tháng 9 và tháng 10 là những tháng có tỷ lệ mắcSD/SXHD cao nhất với số mắc tương ứng là 57,29 và 57,32 /100000 dân, cao gấphơn 301,5 lần so với tháng 2 là tháng có tỷ lệ mắc thấp nhất (0.19/100.000 dân)

Trang 33

3.1.6 Phân bố ca bệnh theo tháng và các hiện tượng thời tiết

Nhiệt độ(0C) Lượng mưa(mm) Độ ẩm tương đối Số ca bệnh

Biểu đồ 3.6: Biểu đồ phân bố ca bệnh theo điều kiện thời tiết theo tháng

của Hà Nội năm 2008-2009

Số ca bệnh mắc SD/SXHD từ tháng 1 đến tháng 4 không có sự chênh

lệch nhiều và tương đối thấp Tương ứng những tháng này có nhiệt độ, lượng

mưa thấp Sau đó số ca bệnh tăng dần từ tháng 5 đến tháng 7, thời điểm có

lượng mưa và nhiệt độ cao nhất trong năm Những tháng tiếp theo đó từ tháng

8 đến tháng 11 số ca mắc SD/SXHD tăng mạnh và đỉnh mắc là vào tháng 10

với 4.263 ca bệnh Những tháng này nhiệt độ, lượng mưa có giảm nhưng ít và

vẫn ở mức tương đối cao

Độ ẩm tương đối ở các tháng trong năm không có sự khác biệt rõ rệt và

tương đối cao, cao nhất vào tháng 3(82,2), tháng 8(80,4), thấp nhất vào tháng

11(71,1)

Ngày đăng: 10/10/2014, 00:38

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 3.4 cho thấy có mối liên quan giữa chỉ số nhà có bọ gậy và yếu tố thời tiết và mối liên quan này có ý nghĩa thống kê (p<0,001) - đặc điểm dịch tễ học và mối liên quan giữa một số yếu tố sinh thái học và bệnh sốt xuất huyết tại hà nội trong hai năm 2008 và 2009
Bảng 3.4 cho thấy có mối liên quan giữa chỉ số nhà có bọ gậy và yếu tố thời tiết và mối liên quan này có ý nghĩa thống kê (p<0,001) (Trang 38)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w