Tuy nhiên, ở các nghiên cứu trên chỉ mới dừng lại ở mức độ xác định các thông số bẫy và bước đầu xác định được giá trị của các tâm tái hợp khi vật liệu phát quang dựa trên phép đo phổ 3D
Trang 1Mục lục
Danh mục bảng
Danh mục các hình vẽ và đồ thị
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: SƠ LƯỢC LÝ THUYẾT NHIỆT PHÁT QUANG 3
1.1 HIỆN TƯỢNG NHIỆT PHÁT QUANG 3
1.1.1 Định nghĩa 3
1.1.2 Giải thích hiện tượng nhiệt phát quang 3
1.1.3 Các loại khuyết tật 6
1.1.4 Sự hình thành đường cong nhiệt phát quang 8
1.1.5 Tâm bẫy và tâm tái hợp 11
1.1.6 Các sự tái hợp 12
1.1.6.1 Tái hợp vùng – vùng, vùng - tâm và tâm – tâm 12
1.1.6.2 Tái hợp trực tiếp và tái hợp gián tiếp 14
1.1.6.3 Tái hợp phát xạ và tái hợp không phát xạ 15
1.2 CÁC MÔ HÌNH NHIỆT PHÁT QUANG 16
1.2.1 Mô hình đơn giản nhất 16
1.2.2 Mô hình phức tạp hơn 18
1.3 ĐỘNG LỰC HỌC CỦA HIỆN TƯỢNG NHIỆT PHÁT QUANG 19
1.3.1 Mô hình động học bậc một 20
1.3.1.1 Biểu thức của cường độ phát quang 20
1.3.1.2 Sự phụ thuộc của đỉnh động học bậc một vào các thông số 21
Trang 2thông số 25
1.3.3 Mô hình động học bậc tổng quát 26
1.4 CÁC THÔNG SỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN ĐƯỜNG CONG NHIỆT PHÁT QUANG 29
1.4.1 Các thông số ảnh hưởng đến hình dạng đường GC 29
1.4.1.1 Các thông số thực nghiệm 29
1.4.1.2 Các thông số đặc trưng của bẫy 30
Chương 2: CƠ SỞ THỰC NGHIỆM VÀ MÔ HÌNH ĐỀ XUẤT 32
2.1 SƠ LƯỢC CÁCH ĐIỀU CHẾ VẬT LIỆU NHIỆT PHÁT QUANG MgB4O7:Dy 32
2.1.1 Điều chế Dy(NO3)3 33
2.1.2 Quá trình nung nhiệt 34
2.1.3 Quá trình ủ nhiệt 35
2.1.4 Chiếu xạ 35
2.2 PHÉP ĐO ĐỒ THỊ 3D CỦA VẬT LIỆU NHIỆT PHÁT QUANG 36
2.3 KẾT QUẢ THỰC NGHIỆM VÀ MÔ HÌNH ĐỀ XUẤT 38
2.3.1 Đồ thị thực nghiệm của vật liệu MgB4O7:Dy 38
2.3.2 Kết quả thực nghiệm của vật liệu nhiệt phát quang MgB4O7:Dy 40
2.3.3 Mô hình đề xuất của các tâm tái hợp 41
Chương 3: NGÔN NGỮ LẬP TRÌNH LabVIEW 43
Trang 34.1 HÀM PHÂN BỐ GAUSS 47
4.2 LẬP TRÌNH MÔ PHỎNG 48
4.2.1 Vẽ đồ thị cường độ phát quang phụ thuộc vào bước sóng tại một nhiệt độ T nhất định 49
4.2.2 Vẽ đồ thị cường độ phát quang phụ thuộc vào nhiệt độ 52
4.2.3 Xác định các giá trị đầu vào thích hợp 52
4.2.3.1 Các giá trị đầu và phù hợp cho đường I(T) 52
4.2.3.2 Các giá trị đầu vào phù hợp cho đường I(l) 53
4.2.4 Xác định giá trị các tâm tái hợp 55
4.3 MỘT SỐ GIAO DIỆN CỦA CHƯƠNG TRÌNH 56
Chương 5: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 60
5.1 KẾT QUẢ 60
5.2 THẢO LUẬN 62
5.3 KẾT LUẬN 68 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC 1
PHỤ LỤC 2
PHỤ LỤC 3
Trang 41 Bảng 1.1: Sự phụ thuộc của t vào E và T 5
theo các thông số vật lý trong các mô hình động học
31
3 Bảng 2.1: Kết quả xác định vị trí các tâm tái hợp của
vật liệu MgB4O7:Dy
40
Trang 51 Hình 1.1.a: Mô hình một mức bẫy và một tâm tái hợp – quá
trình bắt electron và lỗ trống
4
2 Hình 1.1.b: Mô hình một mức bẫy và một tâm tái hợp – quá
trình tái hợp giữa electron và lỗ trống
4
6 Hình 1.5: Giải thích sự hình thành đường cong nhiệt phát
quang
10
9 Hình 1.8: Các dịch chuyển của các hạt tích điện Trong hình
vẽ các electron được biểu diễn bằng các hình tròn đen, còn
các lỗ trồng bằng các hình tròn trắng
12
10 Hình 1.9: Các tái hợp tâm–tâm không thông qua vùng dẫn
hay vùng hóa trị
13
14 Hình 1.13: Phổ phát xạ của tinh thể Zircon pha tạp Sm ở 25K
và ở nhiệt độ phòng
17
Trang 623 Hình 1.22: Các đường GC bậc hai ứng với các giá trị n0 khác nhau
26
24 Hình 1.23: Các đường cong phát quang bậc tổng quát theo các giá trị b khác nhau
27
30 Hình 2.5: Đồ thị đường viền (countour) của vật liệu
MgB4O7:Dy
39
Trang 736 Hình 4.3: Các đường I(l) mô phỏng của MgB4O7:Dy ở các
nhiệt độ 900C, 1550C và 2680C
55
38 Hình 4.5 Diagram và Front Panel của chương trình con biểu diễn đồ thị của I(l)
42 Hình 5.2 Đặc trưng của phổ 3D mô phỏng của vật liệu MgB4O7:Dy
61
44 Hình 5.4 Đường Contour của phổ mô phỏng 3D của vật liệu MgB4O7:Dy
62
48 Hình 5.8a các hình ảnh đồ thị 3D đo được từ thực nghiệm của vật liệu MgB4O7:Dy
67
49 Hình 5.8b các hình ảnh đồ thị 3D thu được từ mô phỏng của vật liệu MgB4O7:Dy
67
Trang 8MỞ ĐA ÀU
Với các ứng dụng trong việc đo liều bức xạ, định tuổi các cổ vật thì
nhiệt phát quang đã trở thành một lĩnh vực được nhiều nhà khoa học trên
thế giới quan tâm nghiên cứu Ngoài ra, nhiệt phát quang còn là phương
pháp thông dụng trong việc nghiên cứu cấu trúc, sự phân bố các mức bẫy
trong vật liệu Hiện nay trên thế giới nhiệt phát quang được nghiên cứu theo
hai hướng sau đây:
trình công nghệ thích hợp tạo các vật liệu nhiệt phát quang sử dụng
trong đo liều
phát quang thu được từ thực nghiệm bằng cách giải chập đường cong
phát quang
Ở Việt Nam, trong những năm gần nay lĩnh vực nhiệt phát quang thu
hút được nhiều quan tâm của các nhà nghiên cứu Riêng tại Bộ môn Vật lý
Chất Rắn trường Đại học khoa học tự nhiên Tp HCM trong nhiều năm qua
nghiên cứu nhiệt phát quang theo hướng thứ hai là giải chập đường cong
phát quang thu được từ thực nghiệm và đã có nhiều bài báo nghiên cứu về:
MgB4O7:Dy, MgB4O7:Mn, CaSO4:Dy, LiF:Mg Tuy nhiên, ở các nghiên cứu
trên chỉ mới dừng lại ở mức độ xác định các thông số bẫy và bước đầu xác
định được giá trị của các tâm tái hợp khi vật liệu phát quang dựa trên phép
đo phổ 3D nhưng giá trị thu được chỉ mới là các giá trị biểu kiến khi vật liệu
đã phát quang Đồng thời, tại Bộ môn Vật lý Chất Rắn trường Đại học khoa
Trang 93D của vật liệu MgB4O7:Dy, cùng với ưu điểm của MgB4O7:Dy là một vật
liệu có độ nhạy cao và có chỉ số tương đương mô Zeff = 8.4 khá gần với mô
người (Zeff = 7.8), chúng tôi đã quyết định chọn đề tài nghiên cứu là “Xây
dựng mô hình phổ phát xạ của vật liệu nhiệt phát quang MgB4O7 pha
tạp Dy” với nhiệm vụ đặt ra:
1 Xây dựng mô hình nhiệt phát quang dựa trên mô hình gần sát với
thực tế hơn là gồm nhiều bẫy và nhiều tâm tái hợp
2 Dùng phần mềm LabView và hàm phân bố Gauss để mô phỏng đồ thị
3D của vật liệu phát quang MgB4O7 : Dy
3 So sánh giữa mô hình lý thuyết với thực nghiệm để chứng minh tính
đúng đắn của mô hình Đồng thời giúp thực nghiệm hiểu rõ hơn bản chất
của hiện tượng nhiệt phát quang, tránh được những sai số trong quá trình
làm thực nghiệm
4 Xác định các mức tâm tái hợp trong vật liệu
Với các nhiệm vụ trên, luận văn được trình bày làm năm chương:
Chương 1: Sơ lược lý thuyết hiện tượng nhiệt phát quang Chương 2: Cơ sở thực nghiệm và mô hình đề xuất
Chương 3: Ngôn ngữ lập trình LabView Chương 4: Lập trình mô phỏng
Chương 5: Kết quả và thảo luận Tuy rất muốn phát triển đề tài thêm nữa nhưng vì thời gian dành cho
một luận văn Thạc sĩ có hạn nên chúng tôi xin dừng lại với những vấn đề
trình bày trong luận văn Chúng tôi sẽ tiếp tục phát triển hướng nghiên cứu
này trong thời gian tới
Trang 10CHƯƠNG 1
SƠ LƯỢC LÝ THUYẾT NHIỆT PHA ÙT QUA NG
1.1 HIỆN TƯỢNG NHIỆT PHA ÙT QUA NG
1.1.1 Định nghĩa [4], [18]
Nhiệt phát quang (Thermo – Stimulated Luminescence, viết tắt là
TSL hoặc ngắn gọn hơn là Thermo – Luminescence, TL) là hiện tượng một
vật liệu cách điện hay bán dẫn phát ra ánh sáng khi bị nung nóng nếu trước
đó vật liệu đã được chiếu xạ một cách có chủ đích hay tình cờ bởi các tia
bức xạ ion hoá (các tia a, b, g, X…) Khi bị nung nóng, vật liệu phát ra năng
lượng ánh sáng tỉ lệ với năng lượng mà nó đã hấp thụ
Đặc điểm của hiện tượng nhiệt phát quang:
Ø Vật liệu phải là chất điện môi hoặc bán dẫn
Ø Vật liệu phải được chiếu xạ ion hóa trước đó một cách có chủ định
hoặc tình cờ
trở lại Muốn cho vật liệu phát quang trở lại thì phải chiếu xạ lại vật liệu
1.1.2 Giải thích hiện tượng nhiệt phát quang [4]
Vì các vật liệu nhiệt phát quang là điện môi hoặc bán dẫn nên theo lý
Trang 11rằng mẫu chỉ có một bẫy electron T và một tâm tái hợp R nằm trong vùng
cấm Quá trình bắt và tái hợp giữa electron và lỗ trống được trình bày như
trong hình 1.1
Hình 1.1 Mô hình một mức bẫy và một tâm tái hợp
(a) Quá trình bắt electron và lỗ trống (b) Quá trình tái hợp giữa electron và lỗ trống Trong hình :
Eg là độ rộng vùng cấm (Eg = Ec – Ev)
Ec là mức năng lượng của đáy vùng dẫn, thường được qui ước bằng 0
Ev là mức năng lượng của đỉnh vùng hoá trị
T là bẫy electron
R là tâm tái hợp hoặc bẫy lỗ trống Electron được kí hiệu là chấm tròn đen Lỗ trống được kí hiệu là chấm tròn trắng Khi chiếu xạ mẫu bằng tia bức xạ ion hoá, electron sẽ nhảy lên vùng
dẫn và để lại vùng hoá trị một ion dương gọi là lỗ trống Electron chuyển
hn
Ec
T Vùng dẫn
Vùng hóa trị
E { Bức xạ
Ev
Trang 12động tự do trong vùng dẫn, còn lỗ trống chuyển động tự do trong vùng hoá
trị cho đến khi electron bị bắt tại bẫy T, còn lỗ trống bị bắt tại bẫy R (hình
1.1.a)
Gọi E là độ sâu của bẫy được tính từ gốc là mức Ec (đáy vùng dẫn)
Thời gian t mà electron bị bắt tại bẫy phụ thuộc vào độ sâu E và nhiệt độ
của mẫu, được xác định theo công thức A rrhenius sau :
÷ ø
ư ç è
ø
ư ç è
t là thời gian sống của electron tại bẫy (s)
s là hệ số tỉ lệ có thứ nguyên là 1/s do đó được gọi là “tần số thoát” của electron
k là hằng số Boltzmann có giá trị 8.62x10-5 (eV/K)
T là nhiệt độ tuyệt đối của mẫu Bảng 1.1 [26] dưới đây cho ta biết thời gian sống t của electron tại bẫy
phụ thuộc vào độ sâu E của bẫy và nhiệt độ T như thế nào Các số liệu được
tính theo công thức (1.1) với giá trị s được chọn là giá trị điển hình 2.1020 s-1
Bảng 1.1 Sự phụ thuộc của t vào E và T
Trang 131.50 2.2´10 năm 4.9´10 năm 401 năm 7.6 ngày 18 phút
Muốn giải phóng electron thoát khỏi bẫy cần phải cung cấp cho nó
một động năng lớn hơn hoặc bằng E Năng lượng này có thể được cung cấp
dưới dạng năng lượng nhiệt bằng cách chủ động nâng nhiệt độ của mẫu Vì
vật liệu không phải là kim loại nên khi thoát khỏi bẫy và nhảy lên vùng
dẫn, electron sẽ không thể ở lâu mà phải tái hợp với lỗ trống tại tâm tái hợp
R Năng lượng dư thừa trong quá trình tái hợp được bức xạ ra ngoài dưới
dạng một photon ánh sáng (hình 1.1b) theo công thức sau :
Trong đó: h là hằng số Planck, n là tần số ánh sáng, Ec = 0 và ER là
độ sâu của tâm tái hợp
Trong thực nghiệm chúng ta ghi lại cường độ phát quang khi nâng
nhiệt độ của mẫu (thông thường nhiệt độ của mẫu được nâng tuyến tính theo
thời gian) và vẽ đồ thị biểu diễn sự phụ thuộc của cường độ phát quang I
theo nhiệt độ T Đồ thị I(T) gọi là đường cong phát quang (Glow Curve hay
viết tắt là GC) Phép đo đường cong phát quang là phép đo cơ bản nhất
trong nghiên cứu nhiệt phát quang
1.1.3 Các loại khuyết tật [4], [29]
Ở các tinh thể thực bao giờ cũng tồn tại những sai hỏng nào đó (còn
gọi là khuyết tật), chính những sai hỏng này dẫn đến sự xuất hiện các mức
cho phép nằm trong vùng cấm Có nhiều loại khuyết tật nhưng ở đây chỉ đề
cập đến các khuyết tật điểm vì chúng có liên quan đến hiện tượng nhiệt
phát quang
Có hai loại khuyết tật: khuyết tật nội và khuyết tật ngoại
Trang 14v Khuyết tật nội là các chỗ khuyết hay các chỗ chêm các nguyên tử
hoặc ion của vật liệu chủ, bao gồm:
Ø Khuyết tật loại Schottky: các chỗ khuyết tồn tại theo từng cặp
để đảm bảo tính trung hoà điện, nếu chỗ này thiếu điện tích âm thì chỗ khác phải thừa điện tích âm hoặc ngược lại (hình 1.2)
Ø Khuyết tật loại Frenkel: cũng tồn tại theo từng cặp, nếu chỗ
này khuyết nguyên tử hay ion thì chỗ khác phải chêm vào các nguyên tử hay ion cùng điện tích Nhưng các chỗ chêm này nằm không đúng tại các nút mạng mà ở vị trí khác xen vào giữa các nguyên tử hay ion xung quanh đang nằm đúng tại các nút mạng (hình 1.3)
Hình 1.2 – Khuyết tật loại Schottky Hình 1.3 – Khuyết tật loại
Frenkel
v Khuyết tật ngoại là do sự tồn tại của các tạp chất trong mạng, có thể
xảy ra các trường hợp sau đây :
Ø Các nguyên tử hay ion của tạp chất thay thế nguyên tử hay ion
Nút khuyết anion
Nguyên tử (ion) chêm vào
Trang 15Ø Các chỗ chêm của nguyên tử hay ion tạp chất
Ø Ngoài ra còn có thể có các chỗ khuyết đôi
Hình 1.4 tiếp theo sau sẽ trình bày các khuyết tật điểm chính có thể
xuất hiện trong mạng Sự có mặt của các khuyết tật trong mạng này đóng
vai trò là các mức bẫy electron hoặc tâm tái hợp
A : chỗ khuyết
B : chỗ chêm của nguyên tử vật liệu chủ (nền)
C : sự thay thế của tạp chất tại nút mạng
D : chỗ chêm vào của nguyên tử tạp chất
E : chỗ khuyết đôi 1.1.4 Sự hình thành đường cong nhiệt phát quang [4], [29]
Đường cong nhiệt phát quang là đường cong biểu diễn sự thay đổi của
cường độ phát quang theo nhiệt độ, tức là đường cong I(T)
Nếu gọi nh là nồng độ lỗ trống bị bẫy thì
dt
dn t
I( ) = - h (1.3) Trong đó I(t) là cường độ phát quang tại một thời điểm bất kỳ t
Trang 16Trong thực nghiệm người ta nâng nhiệt độ của mẫu tuyến tính theo
thời gian, nên :
t T
T = 0 +b (1.4) Trong đó :
T0 là nhiệt độ ban đầu của mẫu
b là tốc độ nâng nhiệt (0C/s) Trong phép đo đường cong phát quang b có giá trị từ 1 ® 30C/s
Từ (1.4) ta có
dT dt
I( ) = -b h (1.5) Hình 1.5 trình bày sự hình thành đường cong phát quang của mẫu
Trong đó :
Ø Hình 1.5a biểu diễn sự phụ thuộc của xác suất thoát bẫy theo
nhiệt độ Bắt đầu từ một nhiệt độ Ti nào đó thì xác suất thoát bẫy có một giá trị khác không đáng kể và tăng dần theo nhiệt độ Đến nhiệt độ Tf thì xác suất thoát bẫy bằng một, nghĩa là mọi bẫy đều trống
Ø Hình 1.5b trình bày sự phân bố điện tích tại các bẫy Khi nhiệt
độ tăng số điện tích tại bẫy sẽ giảm dần và bằng không khi nhiệt độ là Tf
Ø Hình 1.5c biểu diễn sự phụ thuộc của cường độ phát quang
theo nhiệt độ Cường độ phát quang đạt cực đại tại nhiệt độ Tm
Trang 17Hình 1.6 giới thiệu đường cong phát quang của vật liệu BaB4O7 pha
tạp Ce Ta thấy đường cong ở trong hình là một đường cong phức tạp không
giống đường cong ở hình 1.5c Điều này được lý giải rằng đường cong ở hình
1.5c là mô hình đơn giản chỉ có một bẫy một tâm tái hợp, còn hình 1.6 gồm
nhiều bẫy nhiều tâm tái hợp cùng một lúc Khi đo cường độ phát quang ta
chỉ có thể thu cùng lúc tất cả sự phát quang của mọi đỉnh nên đường cong có
dạng là đường cong tổng hợp của các đỉnh
Mọi điện tích đều thoát khỏi bẫy ở nhiệt độ này
Sự phân bố điện tích tại bẫy
Nhiệt độ tối thiểu
cho phép thoát
khỏi bẫy một cách
Trang 18Hình 1.5 – Giải thích sự hình thành đường cong nhiệt phát quang
Hình 1.6 – Đường cong phát quang của vật liệu BaB4O7 : Ce [5]
1.1.5 Tâm bẫy và tâm tái hợp [1], [4]
Từ công thức (1.1) ta thấy rằng xác suất để một electron hoặc lỗ
trống thoát khỏi bẫy phụ thuộc vào độ sâu năng lượng E của bẫy Vì vậy đối
với tâm có E nhỏ thì xác suất thoát khỏi bẫy là rất lớn, cho nên các tâm này
biểu hiện là bẫy hơn là tâm tái hợp, và ngược lại các tâm có E lớn lại biểu
hiện như là tâm tái hợp Điều đó cho thấy các tâm tái hợp thường được định
xứ ở phía dưới của đường trung tâm vùng cấm, còn các bẫy thường nằm gần
Trang 19Tại một nhiệt độ cho trước tồn tại một mức năng lượng của khuyết tật
mà tại đó hai xác suất dịch chuyển bằng nhau Một mức như vậy có độ sâu
giới hạn là D sẽ là mức giới hạn giữa các tâm bẫy và tâm tái hợp Từ đó nếu
một tâm có mức năng lượng là E < D thì đó là bẫy, nếu E > D thì đó là tâm
tái hợp De và Dh ứng với electron và lỗ trống
Hình 1.7 trình bày các định nghĩa của các bẫy và tâm tái hợp nêu
trên
Hình 1.7 – Các định nghĩa của các bẫy và tâm tái hợp
1.1.6 Các sự tái hợp [1], [4]
Tái hợp là quá trình tương tác của hai điện tích trái dấu để tạo thành
nguyên tử trung hòa điện, kết quả là sau quá trình này cả hai hạt điện tích
sẽ đồng thời bị hủy Phần năng lượng còn lại sau quá trình tái hợp hoặc là sẽ
phát xạ dưới dạng một photon ánh sáng (tái hợp phát quang) hoặc là truyền
cho các phonon của dao động mạng (tái hợp không phát quang) Mọi hiện
tượng phát quang đều bị điều khiển bởi sự tái hợp giữa electron và lỗ trống
1.1.6.1 Tái hợp vùng – vùng, vùng - tâm và tâm – tâm
Hình 1.8 sau đây sẽ giới thiệu các chuyển mức của electron và lỗ
trống
Trang 20Hình 1.8: Các dịch chuyển của các hạt tích điện Trong hình vẽ các
electron được biểu diễn bằng các hình tròn đen, còn các lỗ trồng bằng các
hình tròn trắng
Ø Khi electron dịch chuyển từ vùng dẫn đến tái hợp với lỗ trống nằm ở
vùng hóa trị như dịch chuyển (h) thì tái hợp này được gọi là tái hợp
vùng – vùng Tái hợp vùng – vùng thực chất là sự dịch chuyển giữa
hai mức năng lượng không định xứ
Ø Khi electron dịch chuyển từ vùng dẫn đến tái hợp với lỗ trống nằm ở
tâm tái hợp như dịch chuyển (g) hoặc lỗ trống dịch chuyển từ vùng
hóa trị đến tái hợp với electron tại tâm tái hợp như dịch chuyển (d) thì
tái hợp này được gọi là tái hợp vùng – tâm Tái hợp vùng – tâm là sự
dịch chuyển giữa một vùng và một mức năng lượng định xứ
Ø Loại tái hợp thứ ba là tái hợp tâm – tâm, trong đó các hạt tích điện
không di chuyển thông qua vùng, nay là sự dịch chuyển giữa hai mức
năng lượng định xứ Hình 1.9 trình bày các tái hợp tâm – tâm Sự tái
hợp này có thể xảy ra được là do hiệu ứng xuyên hầm hoặc khi hai
khuyết tật điểm nằm gần nhau trong không gian hoặc sự tái hợp xảy
ra trong phạm vi một nguyên tử
Trang 21Hình 1.9: Các tái hợp tâm–tâm không thông qua vùng dẫn hay vùng hóa trị
1.1.6.2 Tái hợp trực tiếp và tái hợp gián tiếp
Sự tái hợp vùng – vùng có thể xảy ra theo hai cách:
Ø Tái hợp trực tiếp là sự dịch chuyển có xác suất tương đối cao, xảy ra
trong trường hợp cực tiểu của vùng dẫn và cực đại của vùng hóa trị có
cùng vectơ sóng kr
, dịch chuyển có thể xảy ra mà không cần có sự trao đổi mômen xung lượng kr
h Hình 1.10 thể hiện tái hợp vùng – vùng trực tiếp
Trang 22Hình 1.10: Tái hợp vùng – vùng trực tiếp
Ø Tái hợp gián tiếp là sự dịch chuyển có xác suất thấp, xảy ra trong
trường hợp các cực trị năng lượng xuất hiện tại các giá trị kr
khác nhau , để dịch chuyển có thể xảy ra cần có sự trao đổi mômen xung
lượng kr
h Khi đó các electron phải tương tác với các dao động nhiệt của mạng (các phonon) để nhận được vectơ sóng kr1
(Hình 1.11 thể hiện tái hợp vùng – vùng trực tiếp) ứng với cực đại của vùng hóa trị
rồi mới tái hợp được với lỗ trống ở vùng hóa trị
Hình 1.11: Tái hợp vùng – vùng gián tiếp 1.1.6.3 Tái hợp phát xạ và tái hợp không phát xạ
Như ở trên ta đã biết khi một electron tái hợp với lỗ trống, năng lượng
dư thừa trong quá trình tái hợp sẽ phát xạ dưới dạng một photon ánh sáng
(tái hợp phát quangï) hoặc truyền hết cho các phonon (tái hợp không phát
quangï)
Trang 23Xét cụ thể hơn thì sự tái hợp vùng – vùng thường kèm theo sự phát
quang do năng lượng dư thừa lớn nên bức xạ phát ra là một photon và được
gọi là sự tái hợp phát xạ Còn trong tái hợp vùng – tâm, năng lượng tiêu hao
trong tái hợp gián tiếp, nhỏ hơn nhiều so với độ rộng vùng cấm nên có thể
tiêu hao theo cách phát xạ photon hoặc không phát xạ mà truyền cho
phonon, nên tái hợp vùng – tâm có thể phát xạ hoặc không phát xạ
Để xem xét một vật liệu sau khi đã hấp thụ năng lượng ion hóa có
phát quang hay không thì người ta dựa vào xác suất tỷ đối của dịch chuyển
phát xạ và dịch chuyển không phát xạ
Trong phạm vi của luận văn này chúng tôi chỉ quan tâm đến sự tái
hợp có kèm theo phát quang tức tái hợp phát xạ
1.2 CA ÙC MÔ HÌNH NHIỆT PHA ÙT QUA NG [1], [4]
1.2.1 Mô hình đơn giản nhất
Trong mô hình này chỉ có hai mức năng lượng định xứ T và R T là
bẫy electron nằm giữa Ec và De, còn R là tâm tái hợp nằm giữa Ef và Dh
(hình 1.12)
Hình 1.12 – Mô hình đơn giản hai mức của nhiệt phát quang
Các dịch chuyển cho phép :
(hu) phát xạ (hu) hấp thụ
Trang 24(1) : sự ion hóa
(2), (5) : các quá trình bẫy electron và lỗ trống tương ứng (3) : quá trình giải thoát bằng nhiệt
(4) : quá trình phát quang khi tái hợp
Ở trạng thái cân bằng khi vật liệu chưa bị chiếu xạ thì T hoàn toàn
trống, còn R chứa đầy electron Khi vật liệu bị chiếu xạ bằng các ti ion hóa
sẽ tạo ra cặp electron – lỗ trống (dịch chuyển (1)) (hình 1.12) Electron
chuyển động tự do trong vùng dẫn cò lỗ trống chuyển động tự do trong vùng
hoá trị Các điện tích tự do này có thể tham gia và một trong các quá trình
sau :
Ø Chúng tái hợp với nhau để tạo ra sự phát quang phóng xạ
Ø Bị bắt tại các bẫy
Ø Giữ nguyên trạng thái tự do ở vùng dẫn hoặc vùng hoá trị Tuy nhiên
các điện tích tự do không tồn tại lâu trong các vùng này (vì vật liệu là
chất điện môi hoặc bán dẫn) mà phải tái hợp hoặc bị bắt tại các bẫy
Như vậy, để có sự tái hợp thì phải có sự bẫy lỗ trống tại R (dịch
chuyển (5)), sau đó sẽ có sự tái hợp thông qua dịch chuyển (4) (hình 1.12)
Nếu sự tái hợp là phát xạ thì vật liệu sẽ phát sáng
Electron có thể bị bắt tại T (dịch chuyển (2) ở hình 1.12), và sự tái
hợp xảy ra khi electron hấp thụ một năng lượng E đủ lớn để có thể thoát
khỏi bẫy trở về vùng dẫn Như vậy sự phát quang bị trễ một khoảng thời
gian t Nếu chủ động nâng nhiệt độ của mẫu lên cao sao cho kT >> E làm
nâng cao xác suất rời khỏi bẫy của electron thì quá trình phát quang sẽ được
đẩy nhanh
Trang 25Từ đường cong phát quang có thể thu được thông tin về sự phân bố
các mức năng lượng của bẫy trong vật liệu phát quang (E càng lớn thì nhiệt
độ tại đó cường độ phát quang cực đại càng cao) Còn thông tin về tâm tái
hợp ta cần phải đo phổ phát xạ của vật liệu, tức phép đo sự phụ thuộc của
cường độ phát quang theo bước sóng ánh sáng do vật liệu phát xạ I(l) (hình
1.13)
Hình 1.13 – Phổ phát xạ của tinh thể Zircon pha tạp Sm ở 25K và ở nhiệt độ
phòng [18]
Phép đo thu được nhiều thông tin nhất thuộc loại này là phép đo 3D,
tức là phép đo đồng thời sự phụ thuộc của cường độ phát quang theo nhiệt
độ và bước sóng I(T,l) (hình 1.14) Một phương pháp tương tự như đồ thị 3D
là vẽ đồ thị biểu diễn các điểm có cùng cường độ I theo l và T được gọi là
đường contour (đường viền)
Trang 26Hình 1.14 – Phổ 3D của tinh thể Zircon pha tạp Sm [18]
1.2.2 Mô hình phức tạp hơn
Mặc dù mô hình đơn giản nhất với hai mức định xứ có thể giải thích
mọi biểu hiện của hiện tượng nhiệt phát quang, nhưng thực tế trong vật liệu
tồn tại hơn hai mức định xứ Nhiều nghiên cứu thực nghiệm trên các vật liệu
khác nhau chứng tỏ rằng đường cong phát quang có nhiều đỉnh (hình 1.6)
Để lý giải điều này phải thừa nhận có nhiều mức năng lượng định xứ như
trình bày ở hình 1.15
Hình 1.15 – Mô hình nhiều mức của nhiệt phát quang
Trong hình ta thấy có Nj mức bẫy electron và Nhi mức bẫy lỗ trống
Hai mức De và Dh là hai mức năng lượng giới hạn đối với các bẫy electron
và bẫy lỗ trống
Với mô hình bổ sung này chúng ta có thể giải thích được đường cong
nhiệt phát quang có nhiều đỉnh và phổ phát quang trải dài trên các vùng phổ
Trang 27Mô hình lý thuyết mô tả những dịch chuyển của các điện tích giữa
các mức năng lượng gọi là mô hình động học của hiện tượng nhiệt phát
quang
Hiện nay trong nhiệt phát quang có ba mô hình: mô hình động học bậc
một, mô hình động học bậc hai và mô hình động học bậc tổng quát
Thông thường người ta dựa vào hai giả thiết sau để dưa ra các mô hình
động học:
đđộ electron bị bắt tại bẫy (vì vật liệu là bán dẫn hoặc điện môi):
nc << n » nh
tốc đđộ thay đđổi của electron tại bẫy :
Trong đó:
nc: là nồng độ electron nằm trong vùng dẫn
nh: là nồng độ lỗ trống nằm trong vùng hóa trị n: là nồng độ electron bị bắt tại bẫy
1.3.1 Mô hình động học bậc một
1.3.1.1 Biểu thức của cường độ phát quang
Mô hình này được đặt ra với giả thiết bỏ qua sự tái bẫy của electron
khi nhận được năng lượng kích hoạt nhiệt Các electron được giải phóng nhờ
nhiệt năng nhảy lên vùng dẫn, chúng sẽ tái hợp với lỗ trống mà không bị
bắt lại bẫy như khi vật liệu được chiếu xa ion hóa
Trang 28Khi đó cường độ phát quang theo nhiệt độ do nhà nhà bác học Randall
và Wilkins đưa ra là:
ú
ú û
ù ê
ê ë
é
÷ ø
ư ç è
-
ỉ-÷ ø
ư ç è
T
dT kT
E s
kT
E sn
T I
0
' exp
exp exp
T là nhiệt độ tại thời điểm t, tính theo thang nhiệt độ tuyệt đối
b là tốc độ quét nhiệt (0C/s)
no là nồng độ electron bị bắt tại bẫy tại t = 0, đơn vị là m-3
n là nồng độ electron tại thời điểm t, đơn vị là m-3
s là thừa số tần số hay tần số thoát của bẫy (s-1)
k là hằng số Boltzmann có giá trị bằng 8.62x10-5 (eV/K)
E là độ sâu của bẫy tính từ đáy vùng dẫn (eV) Đường cong phát quang của một đỉnh tuân theo động học bậc một
phụ thuộc vào bốn thông số vật lý sau : nồng độ ban đầu n0 (phụ thuộc vào
công nghệ chế tạo, cường độ chiếu xạ lên vật liệu), thừa số tần số s, độ sâu
E của bẫy, tốc độ nâng nhiệt b sử dụng trong thực nghiệm Hình 1.16 giới
thiệu dạng của đường cong phát quang được vẽ ra từ công thức (1.6) với các
thông số sau đây : n0 = 1000 m-3, s = 1x1012 s-1, b = 10C/s, E = 1.3 eV
Trang 29Hình 1.16 – Dạng đường cong phát quang của động học bậc một
Hình dạng của đỉnh động học bậc một là đường cong bất đối xứng:
phần diện tích giới hạn bởi đường cong và trục hoành phía bên phải Tm nhỏ
hơn phần diện tích bên trái Đây là một đặc điểm quan trọng giúp chúng ta
có thể đoán nhận cách định tính đỉnh phát quang có tuân theo động học bậc
một không
1.3.1.2 Sự phụ thuộc của đỉnh động học bậc một vào các thông số
Ø Sự phụ thuộc I(T) và cường độ chiếc xạ n0
Hình 1.17 trình bày các đường GC bậc một ứng với các giá trị n0 khác
nhau
Đồ thị được vẽ với các thông số: E =1.3 eV, s =1012 s-1, b =1.40C/s và các
thông số n0 khác nhau được ghi trên hình
Trang 30Hình 1.17 Các đường GC bậc một ứng với các giá trị n0 khác nhau
Từ hình vẽ ta thấy:
Nhiệt độ Tm tại đó cường độ phát quang đạt cực đại hoàn toàn không
phụ thuộc vào n0
Khi n0 càng lớn, cường độ phát quang càng lớn, diện tích giới hạn giữa
đường cong và trục hoành càng lớn
Ø Sự phụ thuộc I(T) vào độ sâu E của bẫy:
Hình 1.18 trình bày các đường GC bậc một ứng với các giá trị khác
nhau của E được tính theo công thức (1.6) với các giá trị: n0 =150 m-3, s
=1010s-1, b =10C/s
Trang 31Hình 1.18 Các đường GC bậc một ứng với các giá trị E khác nhau
Từ hình vẽ ta nhận xét rằng khi E càng lớn, tức là bẫy càng sâu, vị trí
Tm của đỉnh càng dịch về phía nhiệt độ cao Điều này có nghĩa là electron
bị bắt tại các mức bẫy càng sâu thì càng khó thoát khỏi bẫy, do đó chúng ta
phải cung cấp một năng lượng nhiệt lớn mới có thể giải phóng electron Khi
E tăng thì biên độ phát quang cũng giảm
Ø Sự phụ thuộc I(T) vào tần số thoát s
Hình 1.19 trình bày các đường GC bậc một ứng với các giá trị khác nhau
của s được tính theo công thức (1.6) với các giá trị như sau: n0 =150 m-3, E
=1.4 eV, b =10C/s
Trang 32Hình 1.19 Các đường GC bậc một ứng với các giá trị s khác nhau
Từ hình vẽ ta có các nhận xét sau:
Khi s tăng, vị trí Tm của đỉnh dịch về phía nhiệt độ thấp, còn khi s giảm
vị trí Tm của đỉnh dịch về phía nhiệt độ cao Có nghĩa là khi s lớn khả năng
thoát khỏi bẫy của electron lớn nên ta chỉ cần cung cấp một năng lượng
nhiệt nhỏ cũng đủ giải thoát electron khỏi bẫy Vì thế đỉnh có s lớn xuất
hiện ở vị trí nhiệt độ thấp Ngược lại, đỉnh có s nhỏ xuất hiện ở vị trí nhiệt
độ cao
Ø Sự phụ thuộc I(T) vào tốc độ quét nhiệt b
Hình 1.20 trình bày các đường GC bậc một ứng với các giá trị khác
nhau của b được tính theo công thức (1.6) với các giá trị: E =1.4 eV, s
=1012s-1, n0 =150 m-3
Trang 33Hình 1.20 Các đường GC bậc một ứng với các giá trị b khác nhau
Từ hình 1.20 ta có nhận xét sau: khib càng tăng đỉnh phát quang dịch
về phía nhiệt độ cao Nếu các thí nghiệm được tiến hành ở cácb khác nhau
thì cùng một đỉnh nhưng vị trí cực đại Tm sẽ xuất hiện ở các vị trí khác nhau
Khib lớn, cường độ phát quang và diện tích giới hạn bởi đường cong và trục
hoành cũng lớn
1.3.2 Mô hình động học bậc hai
1.3.2.1 Biểu thức của cường độ phát quang
Mô hình này được đặt ra với hai giả thiết là kể đến cả quá trình tái
bẫy và xác suất tái bẫy bằng xác xuất bẫy
là:
2 0
2 0
0
exp 1
exp )
(
-ú
ú û
ù ê
ê ë
é
÷ ø
ư ç è
+
ỉ-÷ ø
ư ç è
T
dT kT
E N
s n kT
E N
s n T I
Trong đó :
N là nồng độ bẫy
Trang 34s’ = s/N là thừa số nằm trước hàm lũy thừa trong động học bậc hai (m3s-1)
Đường cong của một đỉnh tuân theo động học bậc hai phụ thuộc vào
bốn thông số n0, s’, E, b
Hình 1.21 là dạng đường cong phát quang của một đỉnh tuân theo
động học bậc hai được tính theo công thức (1.7) với các giá trị sau : n0 =
2000 m-3, E = 1.5 eV, s’ = 1x1012 m3s-1, b = 10C/s
Hình 1.21 – Dạng đường cong phát quang động học bậc hai
1.3.2.2 Sự phụ thuộc của đỉnh động học bậc hai vào các thông số
Ø Sự phụ thuộc I(T) và cường độ chiếc xạ n0
Hình 1.22 trình bày sự phụ thuộc của I(T) của đỉnh bậc hai theo các giá
trị n0 khác nhau Các đường cong được tính theo công thức (1.7) với các giá
trị: s’=1011m-3s-1, E =1.2 eV, b =10C/s
Khác với động học bậc một, khi n0 tăng thì vị trí cực đại của đường
cong phát quang dịch về phía nhiệt độ thấp
Trang 35Hình 1.22 Các đường GC bậc hai ứng với các giá trị n0 khác nhau
Ø Sự phụ thuộc I(T) vào độ sâu E của bẫy:
Tương tự như đường cong động học bậc một, khi E càng tăng đỉnh thì
đỉnh càng dịch về phía nhiệt độ cao
Ø Sự phụ thuộc I(T) vào tần số thoát s’
Tương tự như đỉnh tuân theo động học bậc một, đỉnh có s’ lớn xuất
hiện ở vị trí nhiệt độ thấp, đỉnh có s’ nhỏ xuất hiện ở vị trí nhiệt độ cao
Ø Sự phụ thuộc I(T) vào tốc độ quét nhiệt b
Giống như đường cong tuân theo động học bậc một, khi β càng lớn thì
vị trí Tm càng dịch về phía nhiệt độ cao, cường độ phát quang và diện tích
giới hạn bởi đường cong và trục hoành cũng lớn
1.3.3 Mô hình động học bậc tổng quát
Mô hình này đưa ra dựa vào giả thiết là cường độ phát quang của vật
liệu tỉ lệ với n0 nhưng không tuân theo bậc một hay bậc hai mà theo một bậc
b nào đó nằm giữa hai giá trị 1 và 2, trong đó b được gọi là bậc động học
Khi đó cường độ phát quang theo nhiệt độ do May và Partridge [14]
đề ra là:
Trang 361 0
0
exp ) 1 (
"
1 exp
"
) (
-ú
ú û
ù ê
ê ë
é
÷ ø
ư ç è ỉ-
+
-÷ ø
ư ç è
T
dT kT
E b
s kT
E n
s T I
Trong đó s” = s’ n0b-1 là một thông số có tác dụng như là thừa số tần
số “hiệu dụng”, có thứ nguyên là s-1 Mặc dù có thứ nguyên là của tần số
nhưng về mặt vật lý nó không có ý nghĩa như “ tần số thoát” trong động ho ïc
bậc một
Khi cho b ® 1 và b = 2 thì biểu thức động học bậc tổng quát (1.8) sẽ
trở thành các biểu thức (1.6) của động học bậc một và (1.7) của động học
bậc hai Chính vì điều này mà (1.8) được gọi là biểu thức động học bậc tổng
quát
Mô hình động học bậc tổng quát chỉ là sự mở rộng của mô hình động
học bậc hai, và cường độ phát quang phụ thuộc vào năm thông số n0, s”, E,
b, b Khi b ¹ 1 thì mọi sự phụ thuộc của I(T) vào n0, s”, E, b đều giống như
trong động học bậc hai
Hình 1.23 là dạng đường cong phát quang của một đỉnh tuân được
tính theo công thức (1.8) với các giá trị sau : n0 = 2000 m-3, E = 1.5 eV, s’ =
1x1012 m3s-1, b = 10C/s, và các thông số b khác nhau
Trang 37Hình 1.23 Các đường cong phát quang bậc tổng quát theo
các giá trị b khác nhau
Vị trí, cường độ và hình dạng các đỉnh không thay đổi nhiều so với động
học bậc hai khi thay đổi các thông số n0,E, s’’, b nhưng thông số b thay đổi
một cách rõ ràng.Từ hình trên ta thấy :
thay đổi
Ø Khi b tăng thì dạng đường cong bị bè ra
Đường cong nhiệt phát quang thu được thường có nhiều đỉnh Các đỉnh
này không tách rời nhau và có nhiều phần phủ lên nhau tạo thành một
đường cong có hình dạng phức tạp Hình 1.24 giới thiệu đường nhiệt phát
quang của CaSO4:Dy Các chấm tròn đen là dữ liệu thực nghiệm, các đường
đứt nét là các đỉnh đơn dự đoán Đường GC của vật liệu này bao gồm nhiều
đỉnh và có độ phủ lên nhau khá lớn Điều này gây khó khăn cho quá trình
giải chập
Hình 1.24 Đường GC của vật liệu CaSO4:Dy
Trang 38Giải chập đường GC của một vật liệu là phân giải đường GC phức tạp
đó thành nhiều đường GC đơn giản mà mỗi đường GC là một đỉnh đơn tuân
theo một trong các mô hình động học đã trình bày ở trên và tìm ra các thông
số vật lý đặc trưng cho từng bẫy ứng với các đỉnh phát quang đó Có nhiều
phương pháp giải chập khác nhau và đều có đặc điểm chung là xuất phát từ
các phương trình động học
Trước khi đi sâu vào nghiên cứu về vật liệu nhiệt phát quang
MgB4O7:Dy để mô phỏng phổ 3D của nó, chúng ta sẽ tìm hiểu ý nghĩa và
vai trò của các thông số ảnh hưởng hưởng đến dạng đường cong nhiệt phát
quang mà chúng ta sẽ xây dựng đồ thị của nó trong phần mô phỏng
1.4 CA ÙC THÔNG SỐ A ÛNH HƯỞNG ĐẾN ĐƯỜNG CONG NHIỆT
PHA ÙT QUA NG
1.4.1 Các thông số ảnh hưởng đến hình dạng đường GC
Từ các công thức của động học bậc một, bậc hai, bậc tổng quát ta
thấy các đỉnh nhiệt phát quang phụ thuộc vào 5 thông số Đó là n0, b, s
(hoặc s’, s’’ tùy theo bậc động học của bẫy), E, β Các thông số này sẽ quyết
định vị trí, độ lớn cũng như hình dạng của đỉnh nhiệt phát quang
Các thông số này được chia làm hai loại: các thông số thực nghiệm
và các thông số đặc trưng cho bẫy
1.4.1.1 Các thông số thực nghiệm
Các thông số thực nghiệm bao gồm thông số β và n0
Ø Thông số β :
β là tốc độ nâng nhiệt Đây là một thông số hoàn toàn do hệ đo đường
cong phát quang mà ta sử dụng khi làm thí nghiệm qui định và không ảnh
Trang 39hưởng gì đến bản chất vật lý của các bẫy nhiệt phát quang Chúng ta hoàn
toàn biết trước giá trị của β trong thí nghiệm
Ø Thông số n0
n0 là nồng độ electron bị bắt tại các bẫy Thông số này chỉ phụ thuộc
vào công nghệ chế tạo mẫu (nhiệt độ nung, nồng độ pha tạp…) và cường độ
khi tiến hành chiếu xạ mẫu, tức là chỉ phụ thuộc vào điều kiện thí nghiệm
cụ thể Tuy nhiên giá trị n0 này không phải là giá trị n0 mà chúng ta tìm
được khi giải chập Giá trị mà chúng ta tìm được chỉ tỷ lệ với n0 mà thôi
1.4.1.2 Các thông số đặc trưng của bẫy
Các thông số đặc trưng của bẫy bao gồm E , s (s’ hoặc s’’) và b
hoàn
toàn phụ thuộc vào bản chất vật lý của bẫy
Ø Thông số s:
s là một thông số hoàn toàn phụ thuộc vào bản chất của bẫy và có ý
nghĩa là “tần số thoát” của electron khỏi bẫy Tần số này tỷ lệ với tần số
dao động nhiệt của mạng
Thông số s’=s/N ứng với động học bậc hai thì thứ nguyên của nó nói
lên rằng đó không phải là tần số Nó chỉ là một thông số không có ý nghĩa
vật lý rõ ràng Ta chỉ biết rằng nó có liên quan ít nhiều đến tần số thoát của
electron khỏi bẫy
Thông số s’’ ứng với động học bậc tổn g quát
Theo định nghĩa s” = s’ n0b-1 tuy có thứ nguyên là s-1 nhưng vì mô hình
động học tổng quát không dựa vào một giả thiết nào về mặt vật lý mà chỉ
Trang 40dựa vào sự tổng quát hóa từ dạng của động học bậc hai Vì vậy, ta chỉ có thể
xem s’’ như là một thông số bán thực nghiệm
Bảng 1.2 dưới đây sẽ tóm tắt lại các đặc điểm của động học bậc một,
bậc hai và bậc tổng quát
Bảng 1.2 – Sự phụ thuộc của đường cong phát quang theo các thông số vật lý
trong các mô hình động học
Khi n 0 tăng, vị trí đỉnh không thay đổi, cường độ phát quang tăng theo
Khi s (bậc một), s’ (bậc hai), s” (bậc tổng quát) tăng, vị trí đỉnh dịch về phía nhiệt độ thấp
Khi b tăng, vị trí đỉnh dịch về phía nhiệt độ cao, cường độ phát quang tăng theo
b = 1
trí đỉnh dịch về phía nhiệt độ thấp, cường độ phát quang tăng theo
b = 2
Khi b tăng, cường độ phát quang giảm,
vị trí đỉnh không đổi, đường cong bè ra