DANH MỤC KÝ HIỆU δ : Sai số tương đối σ : Sai số tuyệt đối ε :thừa số chuẩn ε = antilogSlg Slg : Độ lệch quân phương Bq : Becquerel – đơn vị đo phóng xạ DOE : Department of Energy Cơ qua
Trang 1DANH MỤC KÝ HIỆU
δ : Sai số tương đối
σ : Sai số tuyệt đối
ε :thừa số chuẩn ε = antilog(Slg)
Slg : Độ lệch quân phương
Bq : Becquerel – đơn vị đo phóng xạ
DOE : Department of Energy (Cơ quan năng lượng)
EPA : Environmental Protection Agency (Uỷ ban Bảo vệ
Môi trường Mỹ) GBD : Gobal Burden of Disease (Gánh nặng toàn cầu của
bệnh) IAEA : International Atomic Energy Agency (Cơ quan năng
lượng Quốc tế) ICRP : International Commission on Radiological Protection
(Uỷ ban An toàn Bức xạ Quốc tế) KH&CN : Sở Khoa học và Công nghệ
KSANBX : Cục Kiểm soát An toàn Bức xạ
MSK64 : Medvedev Sponheuer Karnik scale (Thang cấp động
đất) NAS : National Academy of Sciences (Học viện Khoa học
Quốc Gia) NCCB : Nghiên cứu cấp Bộ
Rn : Khí phóng xạ Radon
UNSCEAR : United Nations Scientific Committee on the Effects
of Atomic Radiation (Uỷ ban Khoa học Liên Hợp Quốc về những ảnh hưởng của bức xạ nguyên tử) WHO : World Health Oranization (Tổ chức Y tế thế giới) ĐCTV – ĐCCT : Địa chất Thuỷ văn - Địa chất Công trình
Trang 2Hình 1.5 : Chuỗi phóng xạ Radon và Thoron
Hình 3.1 : Những đóng góp của thành phần phóng xạ có trong tự nhiên vào
liều chiếu bức xạ đối với con người (UNSCEAR 2000)
Hình 3.2 : Bản đồ tập trung nồng độ Radon tại Mỹ
Hình 3.3 : Bản đồ tập trung nồng độ Radon tại Gebauden (Đức)
Hình 3.4 : Đường xâm nhập khí Radon trong nhà
Hình 7.1 : Máy Rad7- Thiết bị đo Radon
Hình 7.2 : Máy Radon được kế nối và thực hiện đo
Hình 6.1 : Bản đồ hành chánh thị xã Thủ Dầu Một, Bình Dương (Tỉ lệ
1:100.000)
Hình 6.2 : Bản đồ các đặc điểm địa chất kiến tạo TX TDM (Tỉ lệ 1:100.000)
Hình 8.1 : Bình đồ bố trí tuyến đo 10A đứt gãy Sông Vàm Cỏ Đông, đứt
gãy sông Sài Gòn, đứt gãy Thiện Tân – Bình Sơn
Hình 8.2 : Kết quả đo Radon tuyến 10A
Hình 8.3 : Bình đồ bố trí tuyến đo 11 cắt qua đứt gãy sông Đồng Nai, và
đứt gãy Thiện Tân – Bình Sơn
Hình 8.4 : Kết quả đo Radon tuyến 11
Hình 8.5 : Bình đồ bố trí tuyến 12 cắt qua đứt gãy Lộc Ninh – TP Hố Chí
Minh, sông Sài Gòn, Sông Đồng Nai
Hình 8.6 : Kết quả đo Radon tuyến 12
Hình 8.7 : Bình đồ bố trí tuyến đo 13 cắt qua đứt gãy Vàm Cỏ Đông
Hình 8.8 : Kết quả đo Radon tuyến 13
Hình 8.9 : Bố trí điểm đo trong vùng Thủ Dầu Một – Bình Dương
Hình 8.10 : Kết quả đo Radon trong vùng Thủ Dầu Một – Bình Dương
Trang 4MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 1
PHƯƠNG PHÁP VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 7
CẤU TRÚC CỦA LUẬN VĂN 8
PHẦN 1: LÝ THUYẾT TỔNG QUAN VỀ KHÍ HIẾM RADON 9
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGUYÊN TỐ RADON 10 1.1 Tìm hiểu Radon 10
1.2 Các loại phóng xạ Radon thường gặp 11
1.2.1 Phóng xạ Radon trong không khí 11 1.2.2 Phóng xạ Radon trong nước 12 1.2.3 Phóng xạ Radon từ Gas 13 1.3 Chuỗi phóng xạ Radon 13
1.3.1 222 Rn (Radon) 15 1.3.2 220Rn (Thoron) 16 1.3.3 So sánh 16 CHƯƠNG 2: Ý NGHĨA CỦA RADON ĐỐI VỚI ĐỊA CHẤT VÀ MÔI TRƯỜNG 19 2.1 Ý nghĩa Radon đối với địa chất 19
2.2 Ý nghĩa Radon đối với môi trường 19
CHƯƠNG 3: HIỆN TRẠNG KHẢO SÁT RADON TRÊN THẾ GIỚI VÀ TẠI VIỆT NAM 21 3.1 Hiện trạng khảo sát Radon trên toàn thế giới 21
3.1.1 Hiện trạng khảo sát Radon đối với môi trường 21 3.1.2 Hiện trạng khảo sát Radon đối với địa chất 29 3.2 Hiện trạng khảo sát Radon tại Việt Nam 31
3.2.1 Hiện trạng khảo sát Radon môi trường tại Việt Nam 31 3.2.2 Hiện trạng khảo sát Radon Địa chất tại Việt Nam 34 CHƯƠNG 4: QUY TRÌNH ĐO ĐẠC RADON THỰC NGHIỆM 37 4.1 Công tác thực địa đối với quy trình đo đạc Radon trong địa chất 37
4.1.1 Tổng quan công tác thực địa 37 4.1.2Công tác văn phòng 39 A Công tác văn phòng thực địa 39 B Công tác xử lý văn phòng 39 4.2 Quy trình đo đạc Radon trong môi trường 43
PHẦN II: ỨNG DỤNG PHƯƠNG PHÁP RADON TRONG KHU VỰC TP.HCM VÀ CÁC VÙNG LÂN CẬN 44
CHƯƠNG 5: MỤC TIÊU NHIỆM VỤ TRONG CÔNG TÁC THỰC TIỄN 45 CHƯƠNG 6: ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN CỦA KHU VỰC KHẢO SÁT 46 6.1 Đặc điểm địa hình khu vực khảo sát TP Hồ Chí Minh 46
6.2 Đặc điểm địa chất khu vực khảo sát TP Hồ Chí Minh 47
6.3 Đặc điểm địa hình khảo sát khu vực Thủ Dầu Một – Bình Dương 50
Trang 56.4 Đặc điểm địa chất khảo sát khu vực Thủ Dầu Một – Bình Dương 51
CHƯƠNG 7 : THIẾT BỊ ĐO ĐẠC KHÍ PHÓNG XẠ TỰ NHIÊN GIỚI THIỆU MÁY ĐO RAD7 55
7.1Các thiết bị dùng đo đạc khí phóng xạ Radon 55 7.2 Giới thiệu về máy RAD7- Thiết bị đo Radon 57 7.2.1Nguyên lý hoạt động của máy RAD7 58
7.2.2 Những ưu điểm chính của máy RAD7 59
Trang 6LỜI MỞ ĐẦU
Ô nhiễm môi trường là một trong những yếu tố tồn tại song hành trong quá trình hình thành và phát triển của loài người do nhiều nguyên nhân khác nhau Cho đến nay,
ô nhiễm môi trường đã và đang trở thành vấn đề cấp thiết mang tính toàn cầu bao gồm:
ô nhiễm nguồn nước, ô nhiễm tiếng ồn, khí thải công nghiệp, nạn tràn dầu, ô nhiễm phóng xạ Đó là những vấn nạn có thể gây ra các tai biến, ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống do các hoạt động nhân sinh thuộc phạm vi kiểm soát của con người Ngoài các loại hình ô nhiễm do con người tạo ra, còn có rất nhiều tai biến tự nhiên nằm ngoài tầm kiểm soát của con người, chẳng hạn như: trượt lở đất, động đất, bão lũ, giông sét, sóng thần… và thậm chí còn có những hiểm họa mà con người hoàn toàn chưa hề biết đến Để có thể tồn tại và phát triển trước những yếu tố này, con người chỉ có biện pháp duy nhất là phòng tránh để giảm thiểu thiệt hại, muốn như vậy, cần hiểu rõ quy luật tác động cũng như sự phân bố của các yếu tố này trong khả năng nhận thức của con người
Thời gian gần đây, mức độ nguy hiểm của phóng xạ Radon đã khiến các nhà khoa học phải giật mình sau nhiều năm coi thường Khí Radon có mặt ở khắp mọi nơi
mà chúng ta không hề hay biết sự có mặt của nó nếu không thực hiện việc đo đạc cụ thể Nếu như hầu hết các loại ô nhiễm đều gắn liền với sự chủ động của con người, thì
ô nhiễm khí phóng xạ Radon lại sinh ra bởi tự nhiên, con người không làm chủ được
nó, song có thể xác định các quy luật phân bố của nó bằng các phương pháp nghiên cứu khác nhau nhằm có biện pháp phòng tránh và hạn chế sự thiệt hại do sự ô nhiễm ảnh hưởng tới cuộc sống
Ngoài sự nguy hiểm bởi sự hiện diện của nó, tính chất của khí phóng xạ Radon cũng được các nhà địa chất vận dụng nhằm phát hiện các đứt gãy hoạt động, và dự báo động đất
Nhận thức được tầm nguy hiểm của loại khí này, nhiều quốc gia trên thế giới đã tiến hành việc đo đạc xây dựng bản đồ phân bố hàm lượng hàm lượng Radon ở các mức độ khác nhau nhằm khuyến cáo người dân các biện pháp an toàn và bảo vệ sức khỏe, đồng thời vận dụng nguồn gốc phát sinh của nó, nhiều nhà khoa học cũng đã tiến
Trang 7hành nhiều chương trình quan trắc nhằm nghiên cứu tính chất các đứt gãy và dự báo nguy cơ động đất
Ở Việt Nam, trong những năm gần đây, việc đo vẽ, lập bản đồ phông phóng xạ
tự nhiên cũng bước đầu được quan tâm, tuy nhiên, việc đo vẽ khí Radon vẫn chỉ mới dừng lại ở mức độ nhỏ lẻ và hầu như chủ yếu phục vụ cho các dạng khảo sát địa chất, việc nghiên cứu Radon trong nhà cũng chỉ mới ở bước đầu
Đề tài “ỨNG DỤNG PHƯƠNG PHÁP RADON TRONG KHẢO SÁT ĐỊA CHẤT MÔI TRƯỜNG” được thực hiện với mục đích báo động nguy cơ ô nhiễm môi
trường bới khí phóng xạ Radon, tầm quan trọng của nó và khuyến cáo các biện pháp bảo vệ sức khỏe công đồng cũng như ứng dụng các tính chất Radon trong nghiên cứu địa chất và môi trường phù hợp với đặc điểm và hoàn cảnh Việt Nam
Trang 8MỤC TIÊU VÀ NHIỆM VỤ CỦA LUẬN VĂN
Mục tiêu:
Mục tiêu chính của luận văn là cung cấp các kiến thức cơ bản về các rò rỉ do có
sự hiện diện của Radon trong môi trường sống
Đề xuất việc đo vẽ bản đồ khí phóng xạ Radon cho các tính thành tại Việt Nam
Nhiệm vụ:
Để thực hiện được mục tiêu trên đây, nhiệm vụ chính của luận văn là:
- Nghiên cứu các đặc trưng và tính chất của khí phóng xạ Radon, nghiên cứu, đánh giá hiện trạng khảo sát Radon trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng
- Tham khảo các quy trình khảo sát cùng với các thiết bị đo đạc được ứng dụng hiện nay
- Tiến hành đo đạc thực tế khí phóng xạ Radon trong nghiên cứu đứt gãy hoạt
động trong đề tài “Nghiên cứu xác định đứt gãy trên một số tuyến đo trong khu vực thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh lân cận” nhằm đánh giá các mức độ hoạt động của
các đứt gãy trong khu vực này phục vụ cho công tác khảo sát cấu trúc địa chất.” (Công trình được rhực hiện tháng 02 năm 2009) và trong nghiên cứu môi trường với đề tài
“Đo nồng độ Radon trong đất tại khu vực Thủ Dầu Một – Bình Dương” (công trình
được thực hiện tháng 03 năm 2010)
- Tổng hợp các kết quả, nhận định, đánh giá và đề xuất quy trình đo đạc cùng với các ứng dụng của phương pháp khí phóng xạ Radon trong nghiên cứu địa chất và môi trường…
Trang 9TÍNH KHOA HỌC VÀ TÍNH THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
§ Kết quả của đề tài có thể cung cấp các dữ liệu thực tế thu thập được tại các khu vực khảo sát, đặc biệt là do chính tác giả tham gia tham gia thu thập số liệu và xử lý Đây là các dữ liệu khá quan trọng trong việc đánh giá các yếu tố địa chất và môi trường tại các khu vực có liên quan
§ Luận văn cũng cung cấp các kiến thức cơ bản và tổng quát cho các nhà môi trường, làm cơ sở cho việc xây dựng một quy trình khảo sát khí Radon trong nghiên cứu tai biến địa chất và môi trường
§ Luận văn này cũng có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho các nhà kỹ thuật trong các lĩnh vực có liên quan, làm tài liệu học tập và nghiên cứu cho sinh viên, đồng thời, có thể được sử dụng để phổ biến các kiến thức cơ bản về các nguy cơ do sự hiện diện của khí phóng xạ Radon trong môi trường sống
Trang 10PHƯƠNG PHÁP VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Đề tài đã áp dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
§ Tham khảo cơ sở lý thuyết về phương pháp đo Radon trên thế giới và Việt Nam
§ Thu thập số liệu (tham gia thực địa, công tác văn phòng, xử lý số liệu )
§ Tính toán và áp dụng công cụ: phần mềm Sufer, Mapinfo, Excel… để biểu diễn kết quả thu được
§ Thống kê, so sánh và đối chiếu với các tài liệu Địa Vật Lý khác
§ Phạm vi nghiên cứu: Thành phố Hồ Chí Minh, và các tỉnh lân cận Tập trung vào Thủ Dầu Một – Bình Dương
Trang 11CẤU TRÚC CỦA LUẬN VĂN
Nội dung chính trong luận văn được trình bày trong các phần chính sau:
LỜI MỞ ĐẦU: Một vài nét khắc họa đề tài nghiên cứu
MỤC TIÊU VÀ NHIỆM VỤ CỦA LUẬN VĂN
Chương 1: Tổng quan về khí phóng xạ Radon
Chương 2: Ý nghĩa của Radon đối với Địa chất và Môi trường
Chương 3: Hiện trạng thăm dò Radon trên thế giới và tại Việt Nam
Chương 4: Quy trình đo đạc Radon đối với Địa chất và Môi trường
Phần II: ỨNG DỤNG
Bằng phương pháp Radon đo đạc vào môi trường cụ thể như khu vực TP Hồ Chí Minh và một số vùng lân cận, Thủ Dầu Một – Bình Dương
Chương 5: Mục tiêu và nhiệm vụ
Chương 6: Đặc điểm tự nhiên của khu vực khảo sát
Chương 7: Các thiết bị dùng để đo đạc khí phóng xạ Radon
Chưong 8: Kết quả đã được thực hiện
Lý – Liên Đoàn Bản Đồ Địa Chất Miền Nam và sự cố gắng của bản thân nhưng tác giả nhưng cũng không tránh khỏi những sai sót Tác giả cũng rất mong nhận được sự đóng góp của quý thầy cô, một số người trong ngành, đồng nghiệp và bạn bè để luận văn này hoàn thiện hơn
Trang 12PHẦN 1: LÝ THUYẾT TỔNG QUAN VỀ KHÍ HIẾM
RADON
Trang 13CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGUYÊN TỐ RADON
1.1 Tìm hiểu Radon
Thế giới chúng ta đang sống có chứa nhiều nguyên tố có tính phóng xạ và điều này đã xảy ra ngay từ khi hình thành nên trái đất Có trên 60 hạt nhân phóng xạ được tìm thấy trong tự nhiên Nguồn gốc của các hạt nhân phóng xạ này được chia thành 3 loại chính:
- Các nhân phóng xạ có từ khi hình thành nên trái đất nên gọi là các nhân phóng
xạ nguyên thủy
- Các nhân phóng xạ được hình thành do tương tác của các tia vũ trụ với vật chất của trái đất
- Các nhân phóng xạ được hình thành do con người tạo ra
Các nhân phóng xạ được hình thành do hai nguồn gốc đầu được gọi là các nhân phóng xạ tự nhiên còn các nhân phóng xạ do con người tạo ra được gợi là nhân tạo So với lượng phóng xạ tự nhiên thì lượng phóng xạ do con người tạo ra rất là nhỏ Tuy nhiên, một phần lượng phóng xạ này đã bị phát tán vào môi trường chung quanh chúng
ta Vì vậy, hầu như chúng ta có thể phát hiện các nhân phóng xạ tự nhiên và nhân tạo
có mặt ở khắp mọi nơi trong các môi trường sống như đất, nước và không khí
Nguyên tố khí hiếm Radon có tính phóng xạ tự nhiên được sinh ra từ sự phân rã
phóng xạ của Urani Kí hiệu hóa học là: Rn, được phát hiện vào năm 1899 bởi nhà vật
lý Anh Ernest Rutherford (1871 – 1973) và Ôoen Rn nằm trong nhóm VIII A, chu kỳ
6 trong bảng tuần hoàn các nguyên tố, số thứ tự 86, nguyên tử khối 222,017 có đồng vị bền nhất 222 Rn, chu kì bán rã 3,823 ngày, mật độ 9.73g/L, độ sôi -62oC, nhiệt độ tan chảy -71oC Rn không phải là kim loại mà là một khí hiếm hoặc khí trơ, không liên kết với các nguyên tử vật chất chủ của nó nên có thể thoát khỏi một hợp chất hoá học bất
kỳ nào chứa nó
Trang 14Nó được biết đến như là một loại chất độc ’’tàng hình’’, với một cái tên đặc biệt ‘‘bàn tay ma quỷ’’ thò ra từ dưới đất
Đã có nhiều nghiên cứu chứng minh rằng: sự xuất hiện "nơi ở ma quỷ" hay "căn nhà ung thư" một phần nguyên nhân là ở dưới lòng đất có lượng khí Rn cao Một số nghiên cứu khác chứng minh: Rn có thể trực tiếp thông qua đường hô hấp tích tụ trong phổi, phá hoại tế bào phổi và dẫn đến ung thư
1.2 Các loại phóng xạ Radon thường gặp
1.2.1 Phóng xạ Radon trong không khí
Trang 15
Ở ngoài trời, nồng độ Rn thấp chỉ 10 Bq m-3 Với tập hợp 1020 phân tử không khí chỉ có thể tìm thấy khoảng mười nguyên tử Rn Tuy nhiên, ở trong nhà, nồng độ
Rn có thể rất cao do hiệu ứng bẫy Rn (20 đến 10.000 Bq m-3 hoặc nhiều hơn nữa) Các mức Rn thường thay đổi, tuỳ thuộc vào dòng khí qua nhà và rất cao ở một số nơi là hang, động, hoặc trong một mỏ Uranium dưới lòng đất nơi được thông khí kém
1.2.2 Phóng xạ Radon trong nước
Qua hàng loạt cuộc thử nghiệm các nhà khoa học đã đi đến kết luận có khí phóng xạ Rn trong nước Nước nhiễm phóng xạ thường bắt nguồn từ các giếng sâu có mạch nước ngầm bị nhiễm Rn hoặc do nhiễm chất phóng xạ rò rỉ từ đất qua nền nhà
Độ nhiễm xạ trong nước thường thấp hơn nhiều so với độ nhiễm xạ trong khí quyển Tuy nhiên, quá trình sử dụng nước bị nhiễm phóng xạ Rn trong sinh hoạt có nhiều khả năng làm tăng mức độ nhiễm xạ không khí tại các gia đình Cơ quan bảo vệ môi trường Mỹ (EPA) ước tính khoảng 2-5% phóng xạ Rn trong không khí phát sinh
từ quá trình sử dụng nước của các hộ gia đình Cứ 10.000 pCi/l trong nước thì có 1pCi/l sẽ hòa tan vào khí quyển Giới hạn nhiễm xạ cho phép trong nước là 300 pCi/l
Trang 161.2.3 Phóng xạ Radon từ Gas
Ngoài việc thoát ra từ môi trường tự nhiên khí Rn còn thâm nhập vào không khí
từ việc dò rỉ khi sử dụng bếp gas đun nấu hàng ngày Khí Rn từ Gas nguy hiểm với sự chết hơn chất độc Các bon từ than Do ta không nhận thấy và không thể ngửi hoặc nếm nên chúng là :”nguyên nhân dẫn tới hàng trăm cái chết - hơn cả chất độc từ cacbon monoxide”
Một chuỗi phân rã là một loạt các biến đổi phân biệt khi đó có sự biến đổi một đồng vị này thành một đồng vị khác bằng cách phát ra một hạt nào đó Một nguyên tử urani phân rã phóng xạ, hạt nhân của nó thuộc loại không bền, chuyển thành hạt nhân của nguyên tố khác gọi là hạt nhân con, đồng thời phát ra một lượng phóng xạ dưới dạng hạt Alpha hoặc Beta, hoặc một hay nhiều tia Gamma
Trang 17Urani > Thôri > Rađi > Radon > con cháu Radon
Trang 18Để trở thành 207Pb ổn định hạt nhân 235U cần trải qua mười một lần biến đổi, 232
Th chỉ cần mười lần biến đổi để trở thành 208Pb ổn định, còn hạt nhân 238U phải trải qua mười bốn lần biến đổi mới trở thành 206Pb ổn định
Rn được tạo ra trong các chuỗi phân rã này Có ba đồng vị Rn thường gặp nhất
là : 222Rn là sản phẩm của chuỗi phân rã 238U, có thời gian sống dài nhất: 5,508 ngày, chu kỳ bán rã 3,825 ngày Khả năng phát hiện 222Rn trong không khí trong phòng, ngoài trời và khí đất là rất cao Thứ hai là: 220Rn trong chuỗi phân rã của 232Th có tên gọi là Thoron, có thời gian sống 80,06 giây, chu kỳ bán rã 55,6 giây Thỉnh thoảng có thể bắt gặp Thoron trong không khí và thường gặp hơn trong đất và trong khí đất Và cuối cùng là 219Rn, sản phẩm trong một mắt xích của chuỗi phân rã 235U, có thời gian sống 5,7 giây, chu kỳ bán rã 3,96 giây, và tên gọi là actinon Không bao giờ gặp actinon trong không khí do sự khan hiếm và chu kỳ bán rã ngắn của nó
Ngoài ra, còn có ít nhất là 18 đồng vị Rn có số nguyên tử lượng nằm trong khoảng 202 đến 226 được tạo ra bằng các phản ứng hạt nhân khác nhau Do chu kỳ bán huỷ của 222Rn dài hơn chu kỳ bán huỷ của 220
Rn và 219Rn của nên độ nguy hiểm phóng xạ của khí 222Rn cao hơn rất nhiều và do đó mà 222Rn được đặc biệt quan tâm đến
1.3.1 222 Rn (Radon)
Hạt nhân Rn phân rã theo thứ tự như trong sơ đồ (Hình 1.5) để tạo thành sản
phẩm cuối cuối cùng là 210Pb Với mỗi lần biến đổi các hạt nhân phát ra các bức xạ đặc trưng là các hạt Alpha, các hạt Beta, hoặc tia Gamma hoặc kết hợp của các loại Các máy đo Rn hầu hết được thiết kế để phát hiện các hạt Alpha Một hạt nhân Rn riêng lẻ phân rã trong khoảng tám ngày bằng hai lần thời gian bán rã Khi đó, nó phóng thích một hạt Alpha với năng lượng 5.49 MeV và biến đổi thành 218Po Po là kim loại và có
xu hướng bám vào bề mặt các vật liệu mà chúng tiếp xúc như các hạt bụi trong không khí hoặc một bức tường chắn, hoặc trong bao tử con người Nó có chu kỳ bán rã ngắn 3.05 phút, do đó nó hầu như phân rã hết trong khoảng 6 phút Đời sống trung bình các hạt nhân là 4,4 phút trước khi nó phân rã Giống như Rn, 218Po cũng phát xạ ra một hạt Alpha khi nó phân rã nhưng với một năng lượng là 6Mev, biến đổi thành 214Pb là một chất phóng xạ rắn có chu kỳ bán rã là 26,8 phút và phát xạ ra bức xạ Beta hơn là phát
ra bức xạ Alpha Khi phân rã nó phát ra bức xạ Beta và trở thành 214Bi (Bismuth) là
Trang 19chất phóng xạ rắn có thời gian bán rã 19,8 phút Khi phân rã 214Bi biến đổi thành 214Po
là một chất hơi khác có thời gian bán rã cực ngắn 164 microgiây (0,000164 giây) Chất này phát ra một hạt Alpha có năng lượng 7,69 MeV khi phân rã và biến thành 210Pb có thời gian bán rã là 22,3 năm Vì chu kỳ bán rã dài, nên tham số của chì thường được bỏ qua trong việc đo đạc Rn Điều này ảnh hưởng bất lợi đến phông nền trên một số thiết
bị đo đạc khác nhưng với đối với máy RAD7 thì không 210Pb phân rã Beta thành 210Bi, sản phẩm này nhanh chóng trở thành 210Po sau khi phân rã Beta Chu kỳ bán rã của bismuth là 5 ngày Po có chu kỳ bán rã là 138 ngày và phân rã ra hạt Alpha có năng lượng là 5.3 MeV và trở thành 206Pb bền vững
1.3.2 220 Rn (Thoron)
Sản phẩm phân rã cuối cùng của Thoron là 208Pb Chu kỳ bán rã của Thoron chỉ
có 55,6 giây, phát ra hạt Alpha có năng lượng 6,29 MeV và trở thành 216Po 216Po có chu kỳ bán rã 0,15 giây, phát ra hạt Alpha có năng lượng 6,78 MeV để biến thành
212Pb tồn tại một thời gian dài với chu kỳ bán huỷ là 10,6 giờ Nó biến đổi bởi phân rã Beta và trở thành 212Bi có chu kỳ bán rã là 60,2 phút 212Bi phân chia: với 2/3 biến đổi bởi phân rã Beta trở thành 212Po và 1/3 còn lại biến đổi bởi phân rã Alpha có năng lượng 6,05 MeV thành thallium-208, với chu kỳ bán rã là 3phút, trải qua phân rã Beta trở thành 208Pb
Thoron và Rn rất giống nhau, về tính chất hoá học cả hai đều là khí phóng xạ trơ xảy ra trong tự nhiên từ sự phân rã của các phần tử phóng xạ trong đất và khoáng vật, là phần tử quan trọng của các chuỗi phóng xạ hoặc dãy dài của phân rã phóng xạ Trong khi Rn là kết quả từ sự phân rã của Urani thì Thoron là kết quả từ sự phân rã của Thôri Cả hai thường được tìm thấy trong đất và khoáng sản, đôi khi riêng biệt và đôi khi cùng nhau Chúng có thể khuếch tán ra khỏi vật chất và di chuyển theo một khoảng cách dài trước khi tự chúng phân rã
Trang 20
Hình 1.5: Chuỗi phóng xạ của Radon và Thoron
Các sản phẩm phân rã của chúng đều là họ hàng của polonium, chì, bismuth như Radon trước khi phân rã, do vậy chỉ có một phần rất nhỏ khí Thoron tích tụ Thoron,
Rn và họ hàng tương ứng của chúng có chu kỳ bán rã và năng lượng bức xạ rất khác
Trang 21nhau Rn có chu kỳ bán rã là 4 ngày thì Thoron có chu kỳ bán rã chỉ có 55 giây Vì Thoron có đời sống quá ngắn nên nó không thể di chuyển một khoảng xa tính từ nguồn, tuy nhiên ngay cả với một lượng nhỏ như vậy Thoron vẫn có thể là một mối nguy hiểm vì con cháu của nó bao gồm 212Pb có chu kỳ bán rã 10,6 giờ đủ dài hơn để tích luỹ đến một mức đáng kể trong không khí
Trang 22CHƯƠNG 2: Ý NGHĨA CỦA RADON ĐỐI VỚI ĐỊA CHẤT VÀ MÔI TRƯỜNG 2.1 Ý nghĩa Radon đối với địa chất
Radon là khí trơ về mặt hóa học, khi sinh ra, các nguyên tử Radon không liên kết với các nguyên tử vật chất khác trong các vật chủ thể như vật liệu xây dựng, đất đá
và những khoáng vật khác, nên chúng dễ dàng thoát ra qua các vết rạn và lỗ trống rất nhỏ trong các lớp đất đá, đứt gãy, … rồi khuếch tán vào không khí Dựa trên những nguyên tắc này, việc đo đạc Radon và tìm hiểu nghiên cứu về phóng xạ Radon có thể dùng để xác định sự hiện diện của các đứt gãy cũng như đánh giá mức độ hoạt động của chúng phục vụ cho việc dự báo động đất
Những vùng có mật độ Radon tập trung cao thường là công cụ của địa vật lý cho việc dự đoán các vụ nổ hạt nhân uradium, dự đoán động đất và hoạt động của núi lửa, xác định vùng có đứt gãy Thu thập phân tích mẫu nước tại những khu vực nghiên cứu nồng độ Radon cao bất thường có liên quan có thể khẳng định rằng khu vực nghiên cứu nằm trong vành đai hoạt động địa chấn lớn
2.2 Ý nghĩa Radon đối với môi trường
Có phải Radon là nguyên nhân gây bệnh ung thư phổi? Tại sao việc nghiên cứu
và đo đạc khí Radon trở nên cấp thiết?
Theo các kết quả nghiên cứu đã chứng minh rằng việc hít thở không khí có chứa Rn là nguyên nhân gây bệnh ung thư phổi Khí Rn đe dọa hàng triệu người dân
Mỹ và khắp nơi trên thế giới Kết quả lấy mẫu xác định trong 14.000 căn nhà, 21% số căn nhà có hàm lượng khí Rn cao hơn quy định ở mức độ nhiều ít khác nhau, về vấn
đề này các ngành có liên quan đến bảo hộ môi trường đang nghiên cứu tìm cách đối phó
Khi con người hít phải Rn và các hạt nhân con của nó, một số phân rã phóng xạ xảy ra trong phổi Các hạt Alpha sinh ra sẽ gây tổn hại đến mô phổi và từ đó sẽ dẫn đến ung thư phổi Từ khi bệnh ung thư bắt đầu xuất hiện do phóng xạ, cho đến khi nó phát triển tới mức có thể quan sát được các biểu hiện lâm sàng phải mất một khoảng thời gian trễ nhiều năm Nguy cơ ung thư phổi phát triển do sự chiếu xạ của Rn là rất cao, càng có nhiều Rn trong không khí và khoảng thời gian hít thở trong không khí chứa Rn đó càng dài thì nguy cơ càng lớn
Trang 23Quy trình gây bệnh của Radon trong phổi như thế nào?
Con cháu khí Rn hầu hết là các hạt, chúng (218Po) bay cùng các hạt bụi có kích thước cỡ nanomét và micromét tạo thành các hạt sol khí phóng xạ có kích thước cỡ vào khoảng vài chục micromét Khi hít vào phổi các hạt này bị lưu giữ tại phế nang Tại đây, 218Po phân rã, các hạt Alpha được chứa trong những màng mỏng của phổi, lọt thấm và bôi trơn hơn một milimét vào trong màng phổi và xuyên qua màng phổi Hạt Alpha có năng lượng rất cao do đó có vận tốc lớn sẽ bắn phá nhân tế bào phế nang, gây ra các sai hỏng nhiễm sắc thể, tác động tiêu cực đến cơ chế phân chia tế bào Một phần năng lượng phân rã hạt nhân truyền cho hạt nhân phân rã làm các hạt nhân này bị giật lùi Năng lượng giật lùi của các hạt nhân Rn có thể đủ để phá vỡ các phân tử protein trong tế bào phế nang Po phân rã Alpha với chu kỳ bán huỷ 3,05 phút, đủ cho một vài chu trình thở trong hệ thống hô hấp của người Mặt khác, chúng được hút qua một thể tích phổi rất lớn nên số lượng tế bào phế nang bị bắn phá cũng rất lớn dẫn đến xác suất gây ung thư là rất cao
Theo các đánh giá dịch tễ học, nếu chúng ta sống trong môi trường có nồng độ Radon là 20Bq/m3 thì có khả năng 3 trong số 1000 người sẽ mắc phải căn bệnh ung thư phổi do Radon gây ra Và xác suất này tăng gấp 10 lần nếu kết hợp với việc hút thuốc lá
Trang 24CHƯƠNG 3: HIỆN TRẠNG KHẢO SÁT RADON TRÊN THẾ GIỚI VÀ TẠI
VIỆT NAM
3.1 Hiện trạng khảo sát Radon trên toàn thế giới
3.1.1 Hiện trạng khảo sát Radon đối với môi trường
Theo Uỷ ban An toàn Bức xạ Quốc tế (ICRP), liều lượng giới hạn cho phép được tiếp nhiễm các loại bức xạ trong một năm là 1 mSv; điều đó có nghĩa là trong vòng một năm, mỗi người dân bình thường không nên nhận một liều lượng bức xạ vượt quá 1 mSv Sở dĩ có mức giới hạn cho phép trên là qua tính toán xác suất, Uỷ ban đưa ra kết luận như sau: nếu có một trịệu người bị chiếu xạ bởi một liều phóng xạ có cường độ 1 mSv thì có 40 người có nguy cơ bị ung thư
Hình 3.1 Đóng góp của các thành phần phóng xạ có trong tự nhiên vào liều chiếu
bức xạ đối với con người (UNSCEAR 2000)
Theo tiêu chuẩn của Cơ quan Năng lượng Quốc tế (IAEA), nồng độ khí Radon
cơ thể có thể tiếp xúc trong một năm không quá 2 đến 2,5 pCi
Nhận thức được tầm quan trọng của nguy cơ ảnh hưởng đến sức khỏe cộng đồng, nhiều quốc gia trên thế giới đã có những chương trình hành động hết sức cụ thể Một số điển hình nghiên cứu Radon ở các nước như sau:
- Mỹ: Theo thống kê của cơ quan bảo vệ môi trường Mỹ- EPA, hàng năm tại
nước Mỹ có từ 7.000 đến 30.000 người bị tử vong vì căn bệnh ung thư phổi do khí
Trang 25phóng xạ Radon Nguy cơ gây ung thư phổi sẽ cao hơn đối với người hút thuốc là và sống trong các căn nhà có mức độ tích lũy Radon cao Mức khuyến cáo đối với tiếp xúc Radon trung bình hàng năm trong nhà ở bất kỳ khu vực nào là 4 pCi/L (148Bq/m3) EPA đã khuyến cáo các hộ gia đình nên tiến hành kiểm tra hàm lượng khí Radon trong nhà ở để phòng ngừa và giảm thiểu rủi ro Về mặt quản lý, nhà nước đã xây dựng bản đồ phân vùng Radon trên toàn bộ các tiểu bang nhằm cách báo các nguy
cơ tiềm ẩn tại các khu vực
Hình 3.2 Bản đồ tập trung nồng độ Radon tại Mỹ
- Tại Đức: đo đạc Radon trong nhà được thực hiện đầu tiên vào năm 1978 nhằm
điều tra mức độ, nguồn gốc và các yếu tố ảnh hưởng đến nồng độ Radon Chương trình đã được thực hiện liên tục, và cho đến nay, có khoảng 50.000 tòa nhà đã được kiểm tra khí phóng xạ Radon Các kết quả cho thấy rằng vật liệu xây dựng và cấu trúc của ngôi nhà là hai yếu tố chính dẫn đến sự gia tăng và tích lũy khí Radon trong nhà Một số các nghiên cứu cũng đã đưa ra mối quan hệ nồng độ khí Radon trong đất và hàm hượng khí Radon trong nhà Các ngôi nhà được xây dựng tại các khu vực có khí Radon trong đất từ 10 đến 100kBq/m3, thì nồng độ khí Radon trong nhà cao hơn
Trang 26400Bq/m3 với sác xuất là 0.2%, điều đó cho thấy rằng mối tương quan này không phải
là tuyến tính Từ những khảo sát sơ bộ bước đầu khí Radon trong đất và trong nhà, hiện nay, chính phủ Đức tiếp tục thực hiện việc đo đạc khí Radon ở những vùng có nguy cơ cao nhằm xây dựng bản đồ rủi ro và cảnh báo hướng dẫn an toàn cho cộng đồng đối với khí phóng xạ Radon Kết quả khảo sát trong một đề án quốc tế thực hiện tại Đức cũng cho thấy rằng nồng độ Radon trung bình ở Đức là 49Bq/m3, có 37.700 ca
tử vong do ung thư hàng năm, trong đó có đến 5% ca tử vong do khí phóng xạ Radon
Cơ quan an toàn phóng xạ BFS Liên bang Đức, mới đây cũng đã khuyến cáo người dân trên toàn quốc cần nhận thức sâu sắc về mức độ nguy hiểm của “kẻ sát nhân thầm lặng” này
Hình 3.3 Bản đồ tập trung nồng độ Radon tại Gebauden (Đức)
Trang 27- Tại Thụy sĩ: Văn phòng sức khỏe Liên bang Thụy sĩ đã triển khai chương trình
RAPROS (Radon Program Schweiz) từ năm 1987 đến 1981 để đánh giá các yếu tố có liên quan đến phơi nhiễm Radon tại quốc gia này Kết quả cũng đã cho thấy nồng độ Radon trung bình trong các phòng khách từ 60-70Bq/m3, tương ứng với liều chiếu hiệu dụng 2.2mSv/năm Một số vị trí có nồng độ khí Radon lên đến 1000Bq/m3 Cũng tại quốc gia này, kết quả khảo sát khí Radon trong nhà từ năm 2005 -2007 cho thấy nồng
độ trung bình của khí phóng xạ Radon trong nhà là 78Bq/m3, có đến 8,4% trường hợp nam giới mắc bệnh ung thư gây tử vong do Radon và 8,7% tương ứng với nữ giới
- Nhật Bản: Chương trình quốc gia đo đạc khí Radon từ năm 1985 đến năm 1991
đã tiến hành việc đo đạc 12.600 phòng trong 6.300 căn nhà Kết quả ghi nhận được cho thấy nồng độ Radon trung bình khá thấp, vào khoảng 23Bq/m3 Ngoài chương trình đo đạc trong phòng, Nhật Bản còn tiến hành việc đo đạc khí Radon trong không khí chung quanh, Radon tại các văn phòng làm việc, trường học, nhà máy và bệnh viện Kết quả nghiên cứu năm 2006 cho thấy nồng độ Radon trung bình hành năm tại các vị trí khảo sát là 1,4 – 182Bq/m3
- Ấn Độ : tại nước này, việc đo đạc khí Radon cũng đã được thực hiện tại một số
khu vực có nguy cơ cao như : các vùng dân cư lân cận khu vực khai thác quặng Uranium ở vùng Himachal Pradesh năm 1999 Nồng độ khí phóng xạ Radon trung bình hàng năm ghi nhận đươc tại các khu vực này vào khoảng 20 đến 146Bq/m3 Một
số nghiên cứu khác về khí phóng xạ Radon trong nhà tại các khu vực dân cư cũng đã được tiến hành Kết quả khảo sát tại các nhà cao tầng cho thấy, nồng độ khí phóng xạ Radon có xu hướng giảm theo chiều cao của ngôi nhà Điển hỉnh tại một cao ốc, nồng
độ khí Radon tại tầng trệt là 41Bq/m3 thì ở tầng 19 giảm xuống còn 15Bq/m3
- Hàn Quốc : việc nghiên cứu đo đạc khí Radon trong nhà tại Hàn Quốc đã được
bắt đầu từ năm 1995 Cho đến năm 2003, đã có 2600 ngôi nhà được đo đạc và khảo sát nhằm mục đích đánh giá nồng độ Radon và tính toán liều chiếu trung bình hàng năm để có thể đưa ra các dự báo về sức khỏe cộng đồng
- Ả Rập Saudi: đã tiến hành việc khảo sát khí phóng xạ từ năm 2001, kết quả
trong giai đoạn đầu tiên của một cuộc khảo sát khí Radon trong nhà đã thực hiện việc
đo đạc trong tổng số 1.610 căn nhà phân bố tại 9 thành phố của các tỉnh phía Đông và Tây Ả Rập Mục tiêu của cuộc khảo sát này là để có thể có được dữ liệu về khí nồng
Trang 28độ khí Radon trong nhà đại diện cho 7 thành phố ở các tỉnh phía Đông Khafji, Hafr Batin, Abqaiq, Qatif, Al-Ahsa, Dammam và Khobar và so sánh với hai thành phố ở tỉnh Tây, Madina và Taif Trung bình, công tác khảo sát đã tiến hành đo đạc liều bức
Al-xạ tại 200 căn nhà tại mỗi thành phố trong khoảng thời gian một năm bắt đầu từ tháng
5 năm 2001 đến tháng 5 2002 Tổng số các vị trí đo đạc liều bức xạ là 847, trong đó
có 724 căn nhà ở và 98 trường học Kết quả của cuộc khảo sát tại các thành phố cho thấy nồng độ Radon trung bình là 1,137 - 22 Bq/m3, tương ứng với độ lệch chuẩn của phân phối khí Radon đã được tìm thấy là 18 và 1,92 Để đối sánh kết quả thu nhận được bởi các phương pháp, trong những nhà ở tại thành phố Qatif, nồng độ Radon, được đo bởi một hệ thống thụ động và sau đó xác nhận bởi một hệ thống hoạt động, đã được tìm thấy là 535 + / - 23 và 523 + / - 22 Bq/m3, tương ứng Kết quả của một cuộc khảo sát Radon trong 98 trường học cho thấy tối thiểu, tối đa và nồng độ Radon trung bình là 1, 70 và 19 Bq/m3 tương ứng Nồng độ Radon trung bình cho mỗi thành phố
cũng đã được xác định Các nồng độ Radon trung bình thấp nhất (8 Bq/m3) đã được tìm thấy ở Al-Ahsa trong khi nồng độ trung bình cao nhất (40 Bq/m3) đã được tìm thấy trong Khafji
- Các nước khác: việc đo đạc khí Radon cũng đã được tiến hành ở nhiều quốc gia
khác trên thế giới như: Thái Lan, Pakistan, Trung Quốc, Mexico, Malaysia, Hongkong…Một số nước đã đo dạc Radon trong đất, nước, không khí Rất nhiều nước
đã xây dựng chương trình nghiên cứu khí phóng xạ Radon nhằm đưa ra các biện pháp
cụ thể và hữu hiệu trong việc bảo vệ sức khỏe cộng đồng
- 21 JUNE 2005 | GENEVA (theo báo cáo Tổ chức y tế thế giới WHO) Trong
một nỗ lực giảm tỷ lệ ung thư phổi trên toàn thế giới, Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) đang đưa ra các dự án Radon quốc tế để giúp các nước giảm bớt những rủi ro sức khỏe liên quan với khí Radon Dự án sẽ là chiến lược hiệu quả để giảm thiểu các tác động của Radon lên sức khỏe của con người, thúc đẩy các tùy chọn âm thanh cho chính sách quốc gia và nâng cao nhận thức công chúng và chính trị về hậu quả của việc tiếp xúc với khí Radon Radon là một chất khí phóng xạ tự nhiên mà tỏa ra từ mặt đất vào không khí Khí Radon trong không khí có mặt trên toàn thế giới, nồng độ của nó phụ thuộc vào mật độ Uranium cao của đất Đây là yếu tố nguy cơ thứ hai quan trọng nhất đối với ung thư phổi, gây ra từ 6 đến 15% của tất cả các trường hợp Tuy nhiên, có rất
Trang 29ít công chúng nhận thức được Radon là một mối đe dọa cho sức khỏe con người, mà
có thể được giảm nhẹ với các biện pháp tương đối đơn giản "Radon đặt ra một nguy
cơ sức khỏe một cách dễ dàng suy giản được về dân số trên toàn thế giới, nhưng đã
không đến nay đã nhận được sự chú ý rộng rãi", tiến sĩ Mike Repacholi, điều phối viên của WHO bức xạ và môi trường của đơn vị Y tế "Radon tồn tại xung quanh
chúng ta Radon tồn tại trong nhà của chúng tôi Là nguồn chính của phơi nhiễm với bức xạ ion hóa, và chiếm 50% số lượng người tiếp xúc với các nguồn tự nhiên của bức
xạ ở nhiều nước." Mặc dù phơi nhiễm trung bình với khí Radon thay đổi vô cùng, các
nghiên cứu gần đây đã chỉ ra rằng, khi tiếp xúc với một nồng độ Radon là 100 Bq (becquerel)/m3 người không hút thuốc nguy cơ ung thư phổi theo độ tuổi 75 năm tăng
1 -1000 so với cho người không tiếp xúc Trong số những người hút thuốc và tiếp xúc với nồng độ Radon cùng nguy cơ ung thư phổi là khoảng lớn hơn 25 lần Ở mức độ toàn cầu, hàng chục nghìn người chết hàng năm do ung thư phổi có thể được quy cho Radon Hầu hết các trường hợp ung thư phổi do Radon gây ra xảy ra giữa những người hút thuốc với môi trường phơi nhiễm Radon cũng có thể được tìm thấy trong nước uống, nồng độ phụ thuộc vào nguồn nước, và điều này đôi khi có thể gây nguy hiểm hiện nay Mức độ khí Radon trong nhà cao hơn, và nồng độ Radon cao hơn nhiều có thể tìm thấy ở những nơi như mỏ, hang động và các cơ sở xử lý nước, và một gia tăng nguy cơ ung thư phổi đã được tìm thấy trong các thợ mỏ Uranium Đối với các công dân trung bình, bởi đến nay các tiếp xúc lớn nhất đối với Radon có trong nhà Nồng độ Radon trong nhà của một phụ thuộc vào số lượng phân rã Uranium thành Radon trong
đá gốc nằm bên dưới và đất cũng như các tuyến đường sẵn vào trong nhà và tỷ lệ trao đổi giữa không khí trong nhà và ngoài trời Radon khí đi vào nhà qua các lỗ như vết nứt bê tông tại các nút giao sàn, tường, khoảng trống ở nhà sàn, nhỏ lỗ chân không trong các bức tường rỗng-khối, và hố ga và cống Do đó, mức độ Radon thường cao hơn ở tầng hầm, hầm hoặc các khu vực khác trong cấu trúc tiếp xúc với đất, và nồng
độ khí Radon trong nhà liền kề trực tiếp với nhau có thể rất khác nhau Radon phơi nhiễm trong nhà có thể dễ dàng giảm nhẹ trong khi xây dựng nhà mới, nhưng các tòa nhà hiện tại cũng có thể được bảo vệ khỏi Radon Hầu hết các biện pháp như tăng cường thông gió dưới sàn nhà và các vết nứt kín và những khoảng trống trong sàn nhà yêu cầu thay đổi đơn giản để xây dựng, nhưng cách tiếp cận khác có thể phải được
Trang 30thực hiện ở những vùng có nồng độ Radon cao Nhìn chung, việc giảm phơi nhiễm Radon là một đóng góp quan trọng vào mục tiêu chất lượng không khí trong nhà Dự
án được dự kiến ban đầu để chạy trong ba năm (2005-2007) Như là một bước đầu
tiên, WHO Radon quốc tế Dự án đang thiết lập một mạng lưới toàn cầu của các nhà khoa học Radon, điều chỉnh và các nhà hoạch định chính sách để cộng tác trong dự án Phối hợp sẽ được cung cấp bởi WHO Làm việc nhóm sẽ tập trung vào đánh giá rủi ro, hướng dẫn tiếp xúc, đo lường và giảm nhẹ mức độ khí Radon, điều tra của hiệu quả chi phí và rủi ro thông tin liên lạc WHO hướng dẫn dựa trên tác phẩm này sẽ giúp chính quyền quốc gia để phát triển, thúc đẩy và tăng cường các hoạt động tại quốc gia hoặc cấp khu vực Theo WHO trong quá trình sản xuất của dự án sẽ là công cụ truyền thông trung ương để nâng cao nhận thức công chúng về Radon Radon quốc tế của WHO dự án cũng nhằm tạo ra một cơ sở dữ liệu Radon toàn cầu và cung cấp cải tiến các ước tính toàn cầu của gánh nặng bệnh tật liên quan trên toàn thế giới Radon Nhìn chung, cùng với hoạt động kiểm soát thuốc lá toàn cầu và các sáng kiến về không khí trong nhà lành mạnh, Dự án dự kiến sẽ có một bước tiến quan trọng hướng tới việc giảm nguy cơ ung thư phổi từ rộng
WHO đưa ra sáng kiến để giảm nguy cơ ung thư phổi trên toàn thế giới
Tiếp xúc với khí Radon trong nhà và nơi làm việc là một trong những rủi ro chính của bức xạ ion hóa gây ra hàng chục ngàn người chết vì ung thư phổi mỗi năm trên toàn cầu Để giảm gánh nặng này điều quan trọng là chính quyền quốc gia có phương pháp và công cụ dựa trên bằng chứng khoa học vững chắc và sức khỏe chính sách công âm thanh Công chúng cần phải nhận thức được những rủi ro khí Radon và các phương tiện để giảm thiểu và ngăn chặn này Năm 1996 WHO công bố một báo cáo có chứa một số kết luận và kiến nghị bao gồm sự hiểu biết khoa học về rủi ro khí Radon và sự cần thiết cho các nước phải hành động trong các lĩnh vực quản lý rủi ro
và nguy cơ truyền thông Trường hợp phát hiện gần đây từ kiểm soát các nghiên cứu
về ung thư phổi và tiếp xúc với khí Radon trong nhà đã hoàn thành ở nhiều nước cho phép cải tiến đáng kể trong dự toán rủi ro và để củng cố kiến thức bằng cách tổng hợp
dữ liệu từ những nghiên cứu này Sự thống nhất của những phát hiện từ phân tích gộp lại mới nhất của trường hợp kiểm soát các nghiên cứu từ Châu Âu và Bắc Mỹ cũng như Trung Quốc cung cấp một lý lẽ mạnh mẽ cho một sáng kiến quốc tế nhằm giảm
Trang 31rủi ro khí Radon trong nhà Để hoàn thành các mục tiêu này, WHO đã phát triển một chương trình trên các khía cạnh y tế công cộng tiếp xúc Radon Dự án này được hưởng ưu tiên cao của WHO Sở Y tế và Môi trường Các yếu tố chính của dự án Radon quốc tế bao gồm:
· Phát triển các hướng dẫn dựa trên bằng chứng y tế công cộng cho các nước thành viên xây dựng chính sách và chiến lược vận động bao gồm
cả việc thành lập các mức Radon
· Dự toán của gánh nặng toàn cầu của bệnh (GBD) kết hợp với tiếp xúc với khí Radon, dựa trên việc thiết lập một cơ sở dữ liệu toàn cầu Radon
· Cung cấp hướng dẫn về phương pháp đo Radon và giảm nhẹ
· Phát triển các phương pháp tiếp cận truyền thông nguy cơ Radon
Để đạt được những mục tiêu này WHO đã thành lập một mạng lưới các cơ quan đối tác quan trọng từ hơn 40 quốc gia thành viên Mạng lưới này là cơ sở cho việc WHO thăm dò Radon quốc tế mà dự án đã được đưa ra vào năm 2005 Các nhóm công tác thu thập và phân tích thông tin về nguy cơ Radon, chính sách, giảm nhẹ Radon và phòng chống cũng như truyền thông những nguy cơ của Radon
Trang 32
Hình 3.4: Đường thâm nhập khí Radon trong ngôi nhà
3.1.2 Hiện trạng khảo sát Radon đối với địa chất
Khí Radon là khí tồn tại trên mặt đất mà sự hiện diện và mật độ tập trung của
nó có thể dễ dàng thăm dò được Là một khí trơ, nên chịu ảnh hưởng của điều kiện vật
lý trong môi trường hơn các tiến trình hóa học Bởi vậy, mức độ tập trung Radon chịu
ảnh hưởng mạnh từ điều kiện địa chất và địa vật lý của môi trường
Nguồn gốc của khí Radon từ phân rã phóng xạ của Uranium, Radon là chất khí
không màu không mùi tồn tại khá nhiều trong không khí Sự dịch chuyển của Radon
trong lớp vỏ trái đất chịu ảnh hưởng mạnh của độ ẩm, độ từ thẩm, độ xốp và nhiệt độ
của vết nứt trong đất đá cũng như điều kiện khí tượng của bề mặt Mặc dù những dị
thường nơi tập trung mật độ Radon cao thường được tìm thấy phía bên trên các vết nứt
của các lớp đất đá giống như sự liên quan mật thiết đến các đứt gãy địa chất và các
hoạt động núi lửa
Trang 33Những kết quả thăm dò trên thế giới trong vòng 15 năm đã cung cấp những bằng chứng chỉ ra rằng sự khác biệt đặc trưng của mật độ Radon có liên quan mật thiết đến những sự kiện đặc trưng địa vật lý như: động đất, hoạt động núi lửa (Virk and Singh, 1993; Heiligmann et al , 1997) Bởi vậy, rõ ràng rằng thăm dò những biểu hiện của Radon có thể đạt được những thông tin hữu dụng về nguồn gốc của Radon trong nghiên cứu hoạt động kiến tạo bên trong lớp vỏ Trái Đất Việc nghiên cứu vật phát xạ Radon hiện đang tiến hành bên trong một số vùng đang hoạt động kiến tạo trên Trái Đất như trung tâm Mỹ, Mexico (J.L.Seidel, 1996), Trung Quốc (Linpei, 1994), and Nhật Bản (Igarashi et al., 1995) Những chương trình này được thiết kế và cung cấp thông tin cần thiết để phát triển những hiểu biết đúng đắn về các cơ chế quan sát khác nhau về mức độ tập trung Radon Trước đó một số thông tin bắt nguồn từ những chương trình trên có thể xây dựng một cách xác thực về những hiểu biết to lớn hơn trong hoạt động địa vật lý của Trái Đất, tuy nhiên không có hoạt động kiến tạo nào ảnh hưởng đến sự bắt nguồn của Radon cũng phải được khảo sát một cách lỹ lưỡng và phân tích một cách thấu đáo (King, 1986)
Một số lượng vật liệu đáng kể đã đuợc công bố trong một số tài liệu khoa học nguồn gốc nghiên cứu từ rủi ro mà con người mắc phải từ những vụ nổ Radon (e.g.Neuberger, 1993; and Stidley and Samet, 1993), giống như những công bố của Uỷ Ban Bảo Vệ Môi Trường Mỹ (EPA) US Environmental Protection Agency (EPA), Cơ quan Năng lượng Department of Energy (DOE), Học viện Khoa học Quốc Gia, National Academy of Sciences (NAS) Nghiên cứu nhận thấy lớn nhất là một nghiên cứu Quốc tế tuân theo Viện Ung thư Quốc Gia, được kiểm nghiệm dựa trên dữ liệu của 68.000 thợ mỏ những người tiếp xúc trực tiếp với Radon với mức độ lớn Ngoài
ra, Radon còn tìm thấy trong các vật liệu xây dựng có nguồn gốc như đá granite, trong đất sét, các nguyên vật liệu làm nhà của lấy nguồn gốc từ than đá Hiện nay, trên thế giới, có nhiều nơi có mật độ phóng xạ thiên nhiên cao như Ramsar (Iran), Kerale (Ấn Độ), Guarpapi (Brezil), và Yanjang (Trung Quốc) Nhiều nơi có độ bức xạ lên đến 130 pCi/năm
Những sự kiện gần đây ở Haiti và Chile nhắc nhở chúng ta sức tàn phá khủng khiếp mà một trận động đất có thể tạo ra, đặc biệt khi nó ập đến mà không được cảnh báo trước Trong hàng thế kỉ, người dân sống ở những vùng hoạt động địa chất đã kể
Trang 34lại một số biểu hiện kì lạ xuất hiện ngay trước một cơn địa chấn, bao gồm những hiện tượng thời tiết bất thường, và thậm chí những hành trạng khác thường ở động vật Trong thời gian gần đây hơn, một số nhà khoa học đã đề xuất những dấu hiệu báo trước khác, thí dụ những đợt phát xạ rời rạc của bức xạ điện từ phát ra từ vùng bị đứt gãy Thật không may, không có đề xuất nào trong số này đưa đến một phương pháp khoa học, có sức mạnh để dự báo động đất
Tuy nhiên, nay một nhóm nhà vật lí, đứng đầu là nhà vật lí đạt giải Nobel Georges Charpak, vừa phát triển một detector (máy dò hạt) mới có thể đo một trong những dấu hiệu báo trước động đất dễ đo hơn – họ đề xuất rằng khí Radon được giải phóng khỏi vùng đứt gãy trước khi đất trượt
Trong thập niên qua, một vài nghiên cứu đã kết luận rằng hàm lượng thái quá của khí Radon trong đất hay nước ngầm có thể là dấu hiệu của một cơn địa chấn sắp xảy
ra Người ta tin rằng khí Radon được phóng thích từ các hốc và vết nứt khi lớp vỏ trái đất bị kéo căng ra trước sức trượt đột ngột của một trận động đất Tuy nhiên, để kiểm tra giả thuyết này, các nhà nghiên cứu cần sử dụng đến vài trăm dụng cụ detector dọc theo một vùng đứt gãy Mặc dù một vài dụng cụ thương mại có thể, trên lí thuyết, thực hiện công việc này, nhưng những dụng cụ này quá đắt tiền cho ứng dụng quy mô lớn
3.2 Hiện trạng khảo sát Radon tại Việt Nam
3.2.1 Hiện trạng khảo sát Radon môi trường tại Việt Nam
Con người càng văn minh, nhu cầu về chất lượng cuộc sống càng lớn, càng đa dạng Xã hội càng phát triển, số tiêu chuẩn mới về chất lượng sống của dân chúng xuất hiện càng nhiều và càng được cộng đồng quan tâm, đòi hỏi Theo quy luật đó, trong những năm gần đây, ở nhiều nước phát triển, dân chúng bắt đầu quan tâm đến phông phóng xạ môi trường nơi họ sống, đặc biệt quan tâm đến nồng độ khí Radon trong ngôi nhà họ ở, và xem đó như là một trong những tiêu chuẩn của cuộc sống văn minh
Nhiều người đã biết rằng, quanh mình, khắp mọi nơi, đều có chất phóng xạ, chúng tồn tại ngay từ khi quả đất hình thành, loài người sinh ra, và có ảnh hưởng nhất định đến sức khỏe con người Không ít người đã ngần ngại, lo lắng hay thậm chí từ chối sống ở một vị trí địa lý mà liều chiếu xạ vượt quá nhiều giá trị trung bình của thế giới nói trên, chẳng hạn những vùng gần mỏ Uranium
Trang 35Ở Việt Nam có một số vùng có bức xạ lên đến 4 pCi/năm Đặc biệt, tại huyện Thanh Sơn, Phú Thọ, Cục Kiểm soát và An toàn Bức xạ đã lấy nhiều mẫu đất và đo đạc vào tháng 9 vừa qua, đã khám phá rằng mức phóng xạ là 10,27 mSv/năm, gấp 10 lần mức phóng xạ trung bình mà một người dân bình thường tiếp nhận trong một năm Trước nguy cơ tiếp nhiễm do phóng xạ tự nhiên hay phóng xạ nhân tạo, Việt Nam hiện
có Cục Kiểm soát và An toàn Bức xa (KSATBX) trực thuộc Bộ Khoa học và Công nghệ Còn Pháp lệnh An toàn và Kiểm soát bức xạ đã được ban hành vào năm 1996 Xuyên qua các tai nạn thất thoát gần đây Vào cuối tháng sáu, Cục KSATBX đã gửi công văn cho các Sở KH&CN địa phương yêu cầu kiểm soát nguồn phóng xạ thường gặp trong công tác tháo gỡ mức xả tự động trong công nghệ ciment Tuy nhiên, vì trong thiên nhiên và một số vật liệu xây dựng trong nhà ở có chứa một số bức xạ, như gạch men Đà Nẵng, gạch men nâu, đá granite có hàm lượng thay đổi từ 0,6 đến 1,22 mSv/năm Điều đó có thể gây tác hại cho người sống thường xuyên trong nhà được xây dựng bằng vật liệu trên
Thêm nữa, trong môi trường sống của chúng ta hiện tại, có khoảng 80% bức xạ
tự nhiên do khí Radon từ thiên nhiên góp phần vào Do đó, cần có một liệu pháp nhằm ngăn chặn tối đa sự hiện diện của Radon trong môi trường sống
Ở Hà Nội, theo các kết quả khảo sát bởi nhóm chuyên gia (N Q Long, T T Mai, D.V Thắng, N.T Hậu) của Viện Khoa học và Kỹ thuật Hạt nhân, liều chiếu xạ nói trên cũng xấp xỉ với nhiều nước Như vậy, có thể khẳng định rằng, môi trường phóng xạ tự nhiên ở Hà Nội là bình thường, hay nói cách khác, tiêu chuẩn về môi trường phóng xạ tổng quát ở Thủ đô có thể xem là tốt Tuy vậy liều chiếu xạ tổng cộng nói trên chưa phải là tất cả Đáng quan tâm hơn nữa là một nguyên tố phóng xạ tự nhiên – Radon (ký hiệu Rn) Chính nồng độ Radon mới ảnh hưởng lớn đến sức khoẻ con người Nồng độ Radon trong một căn phòng, một ngôi nhà đã trở thành một trong những tiêu chuẩn sống cần thiết
Trong khuôn khổ dự án nghiên cứu do Sở Khoa học Công nghệ Hà Nội chủ trì, nồng độ khí phóng xạ Radon tại nhiều điểm, ngoài trời và trong nhà khu vực Hà Nội (cũ) cũng đã được khảo sát bởi nhóm nghiên cứu nói trên của Viện Khoa học và Kỹ thuật Hạt nhân Nồng độ khí Radon ngoài trời ở 231 địa điểm khác nhau đã được đo Kết quả xác định được nồng độ Radon trung bình ở Hà Nội là 17 đơn vị Bq/m3 Nơi
Trang 36đo thấp nhất là 4 đơn vị Bq/m3 và nơi đo cao nhất là 58 Bq/m3 Quan trọng nhất là Radon trong nhà ở Nhóm nghiên cứu đã đặt đêtectơ theo dõi Radon ở 40 căn phòng của thành phố Hà Nội trong 3 tháng liên tục, 2 lần vào năm 2007 và 2008 Kết quả cho thấy nồng độ Radon ở nơi thấp nhất đo được là 7,2 Bq/m3, nơi cao nhất là 138 Bq/m3
và trung bình là 38,3 Bq/m3 (Ở các nước trên thế giới và khu vực khoảng 26 Bq/m3) Kết quả khảo sát nồng độ Radon trong nhà (và cả ngoài trời) lần này cao hơn khảo sát trước đây, năm 1996, bởi nhóm đề tài KC.09.18 Sự tăng cao này liên quan đến sự phát triển mật độ nhà, sự xuất hiện nhiều nhà cao tầng và phổ biến hơn trước trong việc dùng phòng lạnh kín Tất cả những yếu tố trên đều tăng lượng Radon từ vật liệu xây dựng phát ra và lưu giữ chúng lâu trong các gian phòng
Dù sao, các số liệu khảo sát Radon ở Hà Nội cũng có thể xem như tương đương với ở các khu dân cư ở các nước trên thế giới và trong khu vực Đông Nam Á, chưa gây điều gì đáng quan ngại cho cộng đồng dân cư Thủ đô Tất nhiên, cũng cần lưu ý đến sự xuất hiện nồng độ Radon tương đối cao (138 Bq/m3) ở một căn phòng Hà Nội, con số đó vượt quá tiêu chuẩn quy định của nước Mỹ Chắc đây chưa phải là trường hợp có độc hại Radon cao duy nhất, vì chỉ mới có một số lượng rất nhỏ, 40 căn phòng
ở Hà Nội được khảo sát Hẳn sẽ còn có nhiều căn phòng, ngôi nhà có nồng độ Radon vượt quá con số 138 Bq/m3 nói trên
Điều này đặt ra nhu cầu tiếp tục khảo sát với một mật độ dày hơn nữa các căn phòng, với các ngôi nhà xây dựng bằng vật liệu khác nhau, kết cấu khác nhau, cao độ khác nhau, vị trí địa lý khác nhau Để từ đó có những kết luận đầy đủ hơn, chuẩn xác hơn Và từ đó rút ra được những kết luận có ý nghĩa, đưa ra những khuyến cáo bổ ích cho cộng đồng dân cư ở Thủ đô Bắt đầu từ Hà Nội và dần dần mở rộng ra các địa phương khác Đồng hành với xu hướng tăng dần từ những tiêu chuẩn sống tối thiểu của một thời kỳ chỉ lo "cơm áo" đến những tiêu chuẩn sống cao hơn của thời đại văn minh của Việt Nam chúng ta
Theo một điều tra đánh giá của các chuyên gia thuộc Liên đoàn Vật lý địa chất
và Hội Địa vật lý Việt Nam trên 54 đô thị trong cả nước về đo nồng độ khí Radon trong không khí ngoài trời và trong nhà ở cho thấy: Tại 761 điểm khảo sát, nồng độ Radon trong không khí dao động từ 1,0 - 37,9 Bq/m3 (trừ các vị trí gần dị thường phóng xạ Radon); trong nhà ở dao động từ 5 - 406 Bq/m3 Trong đó, 13 ngôi nhà có
Trang 37mức nồng độ Radon vượt quá mức giới hạn 150 Bq/m3 Như vậy, theo công bố của thế giới, nồng độ Radon trong không khí ở Việt Nam nằm ở mức trung bình, nhưng nồng độ Radon trong nhà tương đối cao ví dụ như một số điểm của các địa phương:
Hà Nội, Đà Nẵng, Điện Biên, Huế, Đồng Hới, Sầm Sơn (Thanh Hoá) Cũng theo khảo sát này, nguyên nhân chủ yếu là điều kiện nhà ở quá chật chội, nhà thấp và không thông thoáng Còn theo TS Nguyễn Hào Quang - Giám đốc Trung tâm Hỗ trợ kỹ thuật
và Ứng phó sự cố (Cục Kiểm soát và An toàn bức xạ hạt nhân), Radon có thể được xem như là một nguồn phóng xạ tự nhiên có ảnh hưởng lớn nhất đến sức khỏe của con người
Trong đó, nồng độ Radon trong nhà chiếm tới 95% Nồng độ này phụ thuộc nhiều vào kiểu nhà, vật liệu xây dựng, nền địa chất nơi chọn xây dựng nhà ở Những ngôi nhà có mức nồng độ Radon vượt mức giới hạn là loại có kiểu kiến trúc không thông thoáng, xây dựng bằng đá granit, nhà xây dựng trên nền địa chất có cường độ phóng xạ cao như: Trên nền đá magma, trên các dị thường sa khoáng ven biển (ilmenit, titan ), trên các đứt gãy địa chất, hoặc vật liệu xây dựng nhà như gạch, ngói đốt bằng những loại than có hoạt độ phóng xạ cao
3.2.2 Hiện trạng khảo sát Radon Địa chất tại Việt Nam
Trong những năm gần đây, ở ngoài khơi phía nam biển Đông thường xuất hiện những chấn tâm động đất, trong số đó, có hai trận động đất xảy ra ngày 26/8/2002 và 14/9/2002 tại phạm vi Bà Rịa - Vũng Tàu Đặc biệt, vào tối ngày 5/8/2005, một trận động đất đã xảy ra ở ngoài khơi Vũng Tàu, với chấn tâm nằm ở vị trí 7,69 độ vĩ Bắc; 107,09 độ kinh Đông, độ sâu chấn tiêu khoảng 30 km, chấn cấp cực đại Mmax vào khoảng từ 4 đến 5 độ Richter, chấn động cực đại ở chấn tâm đạt cấp 7/12 (theo thang MSK-64) [GEOFON] Trận động đất này đã gây ra chấn động trên đất liền ở các nơi như TP Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Bà Rịa - Vũng Tàu…Càng xa chấn tâm mức độ ảnh hưởng càng giảm xuống Vào trưa hôm sau, trên địa bàn thành phố Vũng Tàu và ngoài khơi vùng biển Bà Riạ - Vũng Tàu lại xảy ra thêm một trận động đất khác có quy mô
và cường độ tương đương với trận động đất diễn ra một ngày trước đó Mới đây nhất
là vào 4/4/2006, người dân một số khu vực thuộc thị xã Vũng Tàu lại cảm nhận được các rung động nhẹ…
Trang 38Tại bán đảo Thanh Đa (quận Bình Thạnh, Tp Hồ Chí Minh), nơi đứt gãy Sông Sài Gòn chạy qua, đã và đang ghi nhận được hiện tượng sạt lở bờ sông Trong giai đoạn từ năm 1989 đến 2003, đã có ít nhất 10 vụ sạt lở bờ sông nghiêm trọng, làm chết
7 người Ngày 8/7/2002, đã xảy ra sạt lở bờ sông dài trên 200 m thuộc địa phận Công
ty Than Miền Nam, làm mất 4000 tấn than Một tuần sau đó, ngày 14/7 xói lở bờ nghiêm trọng lại xảy ra tại số nhà 1002, đường Xô Viết Nghệ Tĩnh, làm sụp một dãy nhà và đất dài 30 m, rộng 6 m [3] Vẫn tại đây, rạng sáng ngày 8/6/2005 lại xảy ra một
vụ sạt lở nữa, ăn sâu vào bờ 15 m Dòng nước sông Sài Gòn đã cuốn trôi toàn bộ hệ thống kè dài 41 m vừa thi công xong cùng với một ngôi nhà thuỷ tạ rộng 28 m2 [Báo điện tử Vnexpress, ngày 8/6/2005]…
Những hiện tượng động đất, sạt lở bờ sông nói trên cần được nghiên cứu từ góc
độ nội sinh, có nguyên nhân là do hoạt động của đứt gãy kiến tạo Đã có rất nhiều công trình khoa học ở trong và ngoài nước đã và đang ứng dụng kỹ thuật đồng vị Radon (hay đơn giản là Radon) để nghiên cứu hoạt động của đứt gãy gây nên động
đất, nứt đất, sạt lở đất [1, 2, 6-16] " Trích tạp chí ĐỊA CHẤT, loạt A, số 295,
7-8/2005) " Trong bài báo " ứng dụng đồng vị Radon nghiên cứu hoạt động đứt gãy của sông Sài Gòn, liên quan đến sạt lở bờ sông và hoạt động địa chấn ngoài khơi phía Nam Việt Nam " đã trình bày kết quả thử nghiệm nghiên cứu hoạt động của đứt
gãy Sông Sài Gòn bằng kỹ thuật đồng vị Radon Một ứng dụng rất thực tế và thực tiễn trong nghiên cứu nền địa chất Việt Nam Và để giải thích cho những hiện tượng nêu trên bài báo trên đã ứng dụng phương pháp đồng vị Radon và đưa ra một số kết luận sau :
Đứt gãy Sông Sài Gòn đang tái hoạt động trong thời kỳ hiện đại
Hiện tượng sạt lở bờ sông Sài Gòn, đặc biệt là khu bán đảo Thanh Đa, có thể liên quan đến sự hoạt động của đứt gãy Sông Sài Gòn chạy sát bán đảo này
Đứt gãy Sông Sài Gòn hoạt động trở lại trong thời kỳ hiện đại có thể là nguyên nhân gây nên một số trận động đất ngoài khơi phía nam Biển Đông xảy ra gần đây, đặc biệt là tại nơi giao cắt của nó với đứt gãy Phan Thiết - Cà Mau, khi chấn tâm của chúng xuất hiện trùng với khu vực này
Trang 39Công trình này là kết quả của đề tài NCCB do Bộ Khoa học và Công nghệ tài trợ
và đạt đựoc kết quả rất khả quan mở ra một chiều hướng mới củng cố cho thăm dò địa chất nói chung và địa vật lý nói chung
Ngoài ra, để điều tra các dạng tai biến địa chất như: trượt lở đất đá, nứt đất, sụt đất, phun tro núi lửa sử dụng tổ hợp các phương pháp địa vật lý như: đo địa chấn khúc xạ, đo sâu điện, đo Radon, đo tổng hoạt độ Alpha, đo hơi thuỷ ngân trong đất Các kết quả bước đầu cho phép dự báo được sự có mặt của các đứt gãy trong vùng đang trong giai đoạn hoạt động Đây là nguyên nhân chủ yếu gây ra sự trượt lở đất đá, sụt đất ở các vùng có các đứt gãy kiến tạo chạy qua Phương pháp Radon cũng là một phương pháp nghiên cứu khoa học đóng góp một độ chính xác khá cao củng cố cho các phương pháp Địa Vật Lý đạt hiệu quả cao nhất
Trích tạp chí địa chất, loạt A, số 301 ngày 7/8/2007 : Từ năm 2003 đến nay, Liên
đoàn Vật lý Địa chất phối hợp với Liên đoàn ĐCTV-ĐCCT Miền Trung đã tiến hành khảo sát, nghiên cứu các hiện tượng tai biến địa chất dọc ven biển Nam Trung Bộ từ Khánh Hoà đến Bình Thuận Ngoài các phương pháp điều tra truyền thống phục vụ điều tra tai biến địa chất như: địa chất - địa mạo, ĐCTV-ĐCCT, địa hoá, viễn thám các phương pháp địa vật lý tỏ ra rất có hiệu quả trong việc điều tra các loại tai biến địa chất kể trên
Nhiệm vụ đặt ra cho các phương pháp địa vật lý là:
- Xác định sự có mặt của các đứt gãy kiến tạo sâu nằm dưới lớp phủ hoặc trong đá gốc và hiện trạng của nó
- Xác định tính chất của các đứt gãy gây sụt lún như: độ sâu, góc dốc, mức độ phá huỷ thông qua các tham số địa vật lý: vận tốc truyền sóng đàn hồi V của các lớp đất
đá, modul biến dạng E, hệ số Poisson, điện trở suất và đánh giá mức độ hoạt động của chúng Và một trong phương pháp các chủ lực để thăm dò là sử dụng phương pháp
đo đồng vị Radon
Ta có thể nhận thấy phương pháp đo Radon cũng đang được thực hiện rộng rãi
và mang một số đặc trưng trong thăm dò địa chất tại Việt Nam Bên cạnh đó cũng đạt được những kết quả khá khả quan trong thăm dò đại chất khu vực
Trang 40CHƯƠNG 4: QUY TRÌNH ĐO ĐẠC RADON THỰC NGHIỆM
4.1 Công tác thực địa đối với quy trình đo đạc Radon trong địa chất
4.1.1 Tổng quan công tác thực địa
Mặc dù yêu cầu của công việc và mục đích thực hiện có thể khác nhau nhưng các bước chuẩn bị cho công tác đo khí phóng xạ Radon vẫn phải được tiến hành một cách đầy đủ và nghiêm túc dựa trên tiêu chuẩn 5919-1 (28/6/2006) của Bộ Tài nguyên Môi trường quy định
Công tác thực địa được chia thành 2 giai đoạn
Giai đoạn 1: Chuẩn bị máy móc, thiết bị
Giai đoạn 2: Quy trình thực hiện đo
Trong giai đoạn 1 cần chú ý các bước sau:
Bước 1: Kiểm định máy
Rad 7 là loại máy chuyên dụng với các thông số chế tạo, nên các thiết bị kiểm định máy đảm bảo chất lượng Khi làm việc giá trị nồng độ khí phóng xạ được đưa ra
ở đơn vị chuẩn là Bq/m3
hoặc pCi/ m3
Bước 2: Kiểm tra máy
Hiệu chỉnh các thông số kỹ thuật như sau:
- Đặt máy in vào vị trí đã định trên mặt máy và bật công tắc nguồn của máy in
- Nối với nguồn điện áp xoay chiều 220V (nếu có) và bật công tắc nguồn điện của máy
- Nếu máy in ra được thông số cài đặt máy trên màn hình có chữ test là máy làm việc bình thường Trong tất cả các trường hợp khác, cần phải xem lại nguồn điện (pin hoặc điện lưới), độ ẩm trong máy
Bước 3: Bảo quản và sử dụng máy
- Bảo quản máy nơi khô ráo, thoáng mát, tránh nơi ẩm ướt, bụi, nhiệt độ cao hoặc quá thấp…Tránh va đập khi vận chuyển và đo đạc
- Khi sử dụng nguồn điện bên ngoài, cần lưu ý chọn điện áp 220V Nếu có sự tăng giảm của nguồn điện phải tắt máy ngay
- Không đo đạc ngoài trời khi thời tiết ẩm ướt trên 95% hoặc những ngày mưa
- Sau khi thực hiện phải lau chùi và say khô máy nếu bị ẩm ướt