1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

So khớp chuỗi ảnh mặt người trên dữ liệu video lớn

75 588 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 75
Dung lượng 3,93 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Luận văn đã chỉ ra rằng vector trung bình có thể xấp xỉ thành phần chính thứ nhất của dữ liệu, do đó chỉ cần sử dụng một vector biểu diễn vẫn có đạt được kết quả tương đương với các thuậ

Trang 1

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

PGS TS LÊ HOÀI BẮC

TS LÊ ĐÌNH DUY

Thành phố Hồ Chí Minh - 2011

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin gửi lời biết ơn tới PGS TS Lê Hoài Bắc, Thầy đã tận tính hướng dẫn, định hướng, đồng thời chính Thầy là người đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi có thể hoàn thành luận văn này

Tôi xin chân thành biết ơn TS Lê Đình Duy và GS Shin’ichi Satoh ở viện tin học quốc gia Nhật Bản đã giúp đỡ, chỉ bảo, hướng dẫn tôi không chỉ về kiến thức chuyên môn mà còn về kĩ năng nghiên cứu trong suốt quá trình thực hiện luận văn tại viện tin học quốc gia Nhật Bản

Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn tới các anh Ngô Đức Thành, Cáp Phạm Đình Thăng, Hoàng Văn Hiệp đã đóng góp, thảo luận, góp ý cho luận văn này Những đóng góp nhiệt tình của mọi người đã hỗ trợ rất nhiều cho tôi trong quá trình thực hiện luận văn

Con xin cảm ơn ba mẹ, đấng sinh thành, nuôi dưỡng, dạy dỗ con để con có được ngày hôm nay Mặc dù không tham gia trực tiếp vào quá trình làm luận văn nhưng

sự động viên, cảm thông, giúp đỡ về tinh thần của ba mẹ đã giúp con có thể vượt qua khó khăn, vững tin để hoàn thành luận văn này

Xin cảm ơn tất cả!

Người thực hiện

Vũ Thanh Hưng

Trang 3

MỤC LỤC

MỤC LỤC 3 

Danh mục các kí hiệu và chữ viết tắt 5 

Danh mục các bảng 6 

Danh mục hình vẽ, đồ thị 7 

Tóm tắt luận văn 8 

Chương 1  Tổng quan 10 

1.1  Giới thiệu 10 

1.1.1  Định nghĩa face track (chuỗi ảnh) 11 

1.1.2  Định nghĩa bài toán 11 

1.1.3  Các bước xử lý chính 13 

1.1.4  Những thách thức 14 

1.2  Đóng góp của luận văn 17 

1.3  Cấu trúc luận văn 17 

Chương 2  Các công trình nghiên cứu liên quan 19 

2.1  Hướng tiếp cận rút trích face track 19 

2.2  Hướng tiếp cận biểu diễn ảnh mặt người 20 

2.2.1  Local Binary Pattern (LBP) 21 

2.2.2  Scale Invariant Feature Transform (SIFT) 23 

2.2.3  Bộ lọc Gabor 25 

2.2.4  Eigenfaces 27 

2.2.5  Linear Discriminant Analysis (LDA) 28 

2.3  Hướng tiếp cận so khớp face track 30 

Trang 4

2.3.1  Phương pháp dựa trên tập điểm 30 

2.3.2  Phương pháp dựa trên phân bố xác suất 32 

2.3.3  Phương pháp dựa trên bao 33 

2.3.4  Phương pháp không gian con 35 

2.4  Các công trình liên quan trong Khoa 38 

Chương 3  Hệ thống tìm kiếm nhân vật dựa trên face track 40 

3.1  Rút trích face track 40 

3.2  Biểu diễn ảnh mặt người 41 

3.3  Biểu diễn face track và so khớp 42 

Chương 4  Kết quả thực nghiệm và phân tích 47 

4.1  Cơ sở dữ liệu face track 47 

4.2  Đánh giá 47 

4.2.1  Đánh giá độ chính xác 47 

4.2.2  Đánh giá tốc độ 51 

4.3  Thực nghiệm 51 

4.3.1  Lựa chọn tham số cho các thuật toán 51 

4.3.2  Kết quả độ chính xác 53 

4.3.3  Kết quả tốc độ 58 

Chương 5  Kết luận và hướng phát triển 60 

5.1  Kết luận 60 

5.2  Hướng phát triển 61 

Tài liệu tham khảo 62 

Phụ lục A: Chi tiết danh mục các công trình 66 

Trang 5

Danh mục các kí hiệu và chữ viết tắt

AP Average Precision

CMSM Constrained Mutual Subspace Method

HIK Histogram Intersection Kernel

KLT Kanade-Lucas-Tomasi

LBP Local Binary Pattern

LDA Linear Discriminant Analysis

MAP Mean Average Precision

MSM Mutual Subspace Method

PCA Principle Component Analysis

SIFT Scale Invariant Feature Transform

Trang 6

Danh mục các bảng

Bảng 4-1: Tính toán giá trị Precision(r) × rel(r) trong ví dụ Hình 4.1 .49 Bảng 4-2: Thực nghiệm chọn ngưỡng T cho phương pháp MSM .52 Bảng 4-3: Thực nghiệm chọn số chiều không gian con ràng buộc cho CMSM 52 Bảng 4-4: Độ chính xác (MAP) của các thuật toán 53 Bảng 4-5: Tác dụng của bước chuẩn hóa .55 Bảng 4-6: Thời gian thực thi và độ phức tạp tính toán của các phương pháp 59 

Trang 7

Danh mục hình vẽ, đồ thị

Hình 1-1: Ví dụ về face track Mỗi face track ứng với một người 11 

Hình 1-2: Bài toán so khớp face track .13 

Hình 1-3: Hệ thống tìm kiếm nhân vật trong video dựa trên face track 14 

Hình 1-4: Các yếu tố chính ảnh hưởng tới bài toán so khớp face track .15 

Hình 2-1: Gom nhóm face track dựa trên theo theo vết vùng đồng biến affine 20 

Hình 2-2: Rút trích đặc trưng cho mỗi ảnh trong face track .21 

Hình 2-3: Toán tử LBP được áp tại một điểm trong ảnh 22 

Hình 2-4: Rút trích LBP cho ảnh mặt người .23 

Hình 2-5: Tính toán bộ mô tả (descriptor) cho SIFT với lưới 2 x 2 24 

Hình 2-6: Bộ lọc Gabor có tính chất của một bộ lọc cạnh 26 

Hình 2-7: Tập 40 bộ lọc Gabor ứng với 5 scale và 8 hướng .26 

Hình 2-8: Mặt riêng .28 

Hình 2-9: Ví dụ về chọn mặt phẳng chiếu trong LDA .29 

Hình 2-10: Khoảng cách giữa hai face track trong thuật toán min-min 31 

Hình 2-11: Phương pháp k-Faces với k = 3 .32 

Hình 2-12: Mô hình face track bằng GMM 33 

Hình 2-13: Phương pháp MSM .36 

Hình 2-14: Phương pháp CMSM .38 

Hình 3-1: Liên kết các vùng mặt được dò với face track 41 

Hình 3-2: Vector trung bình xấp xỉ cho vector riêng thứ nhất .44 

Hình 3-3: Tính toán khoảng cách cosin trước (a) và sau (b) khi chuẩn hóa 46 

Hình 4-1: Tính toán giá trị AP cho mỗi truy vấn .50 

Hình 4-2: Đồ thị thực nghiệm chọn ngưỡng T cho phương pháp MSM 52 

Hình 4-3: Đồ thị chọn số chiều không gian con ràng buộc cho CMSM .53 

Hình 4-4: mean-cos xấp xỉ phương pháp không gian con 55 

Hình 4-5: Một trường hợp không tốt của mean-cos .56 

Trang 8

Hình 4-6: k-Faces có độ chính xác thấp hơn các phương pháp khác .57 

Tóm tắt luận văn

Hiện nay, có rất nhiều video được quay hàng ngày khiến cho dữ liệu video trên thế giới càng ngày càng đồ sộ Với khối lượng video lớn và hỗn tạp như trên, việc đánh chỉ mục video (video indexing) là một bước quan trọng giúp cho quản lý, tìm kiếm, thống kê dữ liệu trên video một cách hiệu quả, nhanh chóng và dễ dàng hơn Một trong những đối tượng xuất hiện thường xuyên nhất trong các đoạn video là mặt người nên việc đánh chỉ mục cho mặt người luôn được các nhóm trên thế giới

ưu tiên nghiên cứu Một khi việc đánh chỉ mục video cho đối tượng mặt người được giải quyết sẽ dẫn tới hàng loạt những ứng dụng lớn trong thực tế như: tìm kiếm nhân vật trong các đoạn video, thống kế những sự kiện những nhân vật có ảnh hưởng trong giai đoạn nhất định, v.v…Luận văn này tập trung vào ứng dụng tìm kiếm nhân vật trong video vì đây là ứng dụng phổ biến hiện nay Đối với ứng dụng này có hai hướng tiếp cận chính là hướng tiếp cận sử dụng một ảnh khuôn mặt (single face) để đại diện cho mỗi nhân vật và hướng tiếp cận sử dụng chuỗi ảnh (face track) Cả hai hướng tiếp cận này đều phải đương đầu với những thách thức chung của bài toán tìm kiếm nhân vật trong video như: sự thay đổi liên tục của tư thế đầu, biến đổi nét mặt, ảnh hưởng của các điều kiện chiếu sáng, sự che khuất do các đối tượng khác và nhiễu từ môi trường Tuy nhiên, hướng tiếp cận sử dụng face track có lợi thế hơn hướng tiếp cận dùng ảnh đơn vì dùng nhiều ảnh để biểu diễn nên có khả năng bao phủ được vùng rộng hơn những biến đổi của mặt người Chính

vì lợi thế trên mà luận văn đã chọn hướng tiếp cận dùng face track cho bài toán tìm kiếm nhân vật trong video Một vấn đề đối với hướng tiếp cận này là do dùng nhiều ảnh để biểu diễn, khiến cho các thuật toán so khớp dùng face track phải xử lý với khối lượng dữ liệu lớn Trong khi đó, những thuật toán hiện tại vẫn chưa có khả năng cân bằng giữa độ chính xác và tốc độ: một số thuật toán có khả năng cho kết quả tốt cần nhiều thao tác tính toán phức tạp dẫn tới tốc độ xử lý chậm, không thích hợp khi xử lý với khối lượng dữ liệu lớn; một số thuật toán khác có thể đạt tốc độ

Trang 9

nhanh nhờ những tính toán đơn giản lại phải đánh đổi độ chính xác Chính vì sự thiếu đi những thuật toán có khả năng đảm bảo cả độ chính xác và tốc độ xứ lý nên luận văn đã tiến hành đánh giá một số thuật toán tiên tiến hiện nay (k-Faces, min-min, MSM, CMSM v.v…), tìm hiểu nguyên nhân và đề ra một thuật toán mới (gọi

là mean-cos) có thể đạt được độ chính xác tương đương với các thuật toán trên nhưng vẫn đảm bảo tốc độ tính toán Thuật toán đề xuất sử dụng vector trung bình

để biểu diễn cho mỗi face track và sử dụng khoảng cách cosine để tính toán độ khác biệt giữa các face track Luận văn đã chỉ ra rằng vector trung bình có thể xấp xỉ thành phần chính thứ nhất của dữ liệu, do đó chỉ cần sử dụng một vector biểu diễn vẫn có đạt được kết quả tương đương với các thuật toán khác, trong khi đó sử dụng khoảng cách cosine – được sử dụng thành công trong các phương pháp không gian con như MSM, CMSM – giúp cho đạt kết quả tốt trong giai đoạn so khớp Việc chỉ cần sử dụng một vector để biểu diễn face track đã giúp thuật toán được đề xuất có lợi thế lớn về tốc độ tính toán so với các hướng tiếp cận khác Đánh giá đã được thực hiện trên cơ sở dữ liệu 1510 face track rút trích từ 370 giờ video TRECVID

Độ chính xác của các thuật toán được so sánh dựa trên độ đo MAP (Mean Average Precision), trong khi đó tốc độ của các thuật toán được đánh giá dựa trên cả thời gian thực thi và trên lý thuyết dùng độ phức tạp thuật toán O Kết quả cho thấy thuật toán mean-cos có độ chính xác vượt qua k-Faces, min-min, MSM và có thể so sánh với CMSM trong khi đó tốc độ của mean-cos chỉ thua k-Faces Kết quả này chứng

tỏ rằng thuật toán mà luận văn đề xuất có khả năng đạt tốc độ truy vấn nhanh trên

cơ sở dữ liệu lớn trong khi vẫn đảm bảo được độ chính xác, điều mà các thuật toán hiện tại chỉ có thể đảm bảo được một trong hai yếu tố trên

Trang 10

Chương 1 Tổng quan

1.1 Giới thiệu

Trong những thông tin video thường tìm kiếm, mặt người là một trong những đối tượng được quan tâm nhiều nhất Đó là vì phần lớn những đoạn video do con người thu thập có mục đích là ghi lại những hoạt động, những sự kiện trong đời sống hàng ngày của con người nên tần xuất xuất hiện của con người trong những đoạn video này là rất cao Điều này cũng ngầm định rằng trong video, mặt người là đối tượng xuất hiện thường xuyên nhất Việc tìm kiếm đối tượng mặt người trong video cho ta nhiều ứng dụng quan trọng, chẳng hạn như chúng ta có thể tìm kiếm những đoạn video liên quan đến George Bush thông qua việc tìm kiếm những đoạn video có chứa mặt của Bush hoặc chúng ta có thể tìm kiếm sự những sự kiện nổi bật nhất thường được nhắc tới trong năm 2011 dựa trên nhận xét rằng: thông thường mỗi sự kiện thường gắn với một nhân vật cụ thể, từ đó việc tìm kiếm có thể thực hiện dựa trên tần suất xuất hiện của nhân vật đó Trong các ứng dụng trên thì tìm kiếm nhân vật trong video là ứng dụng rất phổ biến trong thực tế và là một bài toán đáng để quan tâm nghiên cứu

Những nghiên cứu về bài toán tìm kiếm nhân vật trong video có thể chia thành hai nhánh chính: hướng tiếp cận dựa trên ảnh đơn và hướng tiếp cận dựa trên face track (chuỗi ảnh) Trong đó, hướng tiếp cận dựa trên face track có một lợi điểm là

có khả năng bao quát những biến đổi lớn của khuôn mặt, những thay đổi do ảnh hưởng bên ngoài (như chiếu sáng, che khuất) Chính lợi điểm này khiến cho hướng tiếp cận dựa trên face track gần đây nhận được sự quan tâm của nhiều nhóm nghiên cứu Cũng chính vì lý do trên mà luận văn này chọn hướng tiếp cận dựa trên face track làm hướng giải quyết cho bài toán Trong phần tiếp theo của Chương 1, luận văn sẽ trình bày những khái niệm cơ bản của bài toán tìm kiếm nhân vật trong video nói chung và hướng tiếp cận dùng face track nói riêng

Trang 11

1.1.1 Định nghĩa face track (chuỗi ảnh)

Face track (hay chuỗi ảnh) là khái niệm cơ bản nhất trong hướng tiếp cận dựa trên face track Thực chất, mỗi face track là chuỗi nhiều ảnh mặt người của cùng

một người Nói cách khác, face track là một tập hợp ảnh mặt của cùng một người

có quan tâm tới thứ tự thời gian [10] Số lượng các ảnh trong một face track là

không giới hạn, phụ thuộc vào thời gian xuất hiện của người đó trong video và hiệu quả của giai đoạn rút trích face track Do mỗi face track là chuỗi ảnh mặt người theo thời gian nên mỗi face track thể hiện được cả những chuyển động của đầu, những thay đổi trên nét mặt cũng như những thay đổi từ bên ngoài như điều kiện chiếu

sáng, che khuất v.v… Hình 1-1 là một số ví dụ về face track với số lượng ảnh cho

mỗi face track là khác nhau, có thể thấy trong mỗi face track, nét mặt và tư thế đầu của các nhân vật biến đổi rất nhiều Chính vì thế mà mỗi face track không chỉ đơn giản lưu trữ ảnh mặt của một người mà còn cho biết những biến đổi trạng thái của người đó, điều này khiến cho việc dùng face track có khả năng xử lý tốt hơn với những biến đổi phong phú của mặt người

Hình 1-1: Ví dụ về face track Mỗi face track ứng với một người

1.1.2 Phát biểu bài toán

Trong bài toán tìm kiếm nhân vật trong video, quá trình tìm kiếm không được thực hiện trực tiếp trên dữ liệu video thô mà phải qua bước xử lý để loại bỏ những thông tin dư thừa và tổ chức lại thông tin Video sẽ qua một bước tiền xử lý để rút trích thành những đối tượng video, sau đó quá trình tìm kiếm sẽ được thực hiện trên

Trang 12

những đối tượng video này Những đối tượng video này có thể là những khung hình, video shot hoặc những face track Do luận văn tập trung vào bài toán tìm kiếm nhân vật với hướng tiếp cận dùng face track nên đối tượng video được sử dụng là face track Như vậy quá trình tìm kiếm sẽ được thực hiện trên đối tượng face track,

có thể được mô tả như sau:

Cho trước một cơ sở dữ liệu gồm N face track, mỗi face track F i chỉ thuộc về

một người Một hàm khoảng cách dis(F i , F j ) để đánh giá độ khác biệt giữa hai face

track F i , F j trong đó hai face track F i và F j là trùng nhau khi dis(F i , F j ) = 0 Với một

face track truy vấn G và một hàm khoảng cách, cần tính toán độ khác biệt giữa mỗi face track F i và face track truy vấn G để trả về một danh sách xếp hạng

Như vậy, đầu ra của hệ thống tìm kiếm nhân vật trong video là danh sách xếp

hạng S Danh sách xếp hạng thực chất là một danh sách những face track trong cơ

sở dữ liệu được sắp xếp theo thứ tự độ khác biệt tăng dần, theo nghĩa chúng ta mong muốn những face track thuộc về cùng một người với face track truy vấn sẽ xuất hiện đầu tiên trong danh sách Những hệ thống tìm kiếm tốt phải trả về face

track của người đó tại những vị trí đầu của danh sách càng nhiều càng tốt Hình 1-2

mô tả một cơ sở dữ liệu gồm N face track và một face track truy vấn thuộc về người

A, danh sách xếp hạng được xem là tốt nếu nó chứa những face track của người A

ngay đầu danh sách

Trang 13

Hình 1-2 : Bài toán so khớp face track

1.1.3 Các bước xử lý chính

Một hệ thống tìm kiếm nhân vật trong video thường gồm ba mô-đun chính:

ƒ Rút trích face track: thành phần này có nhiệm vụ rút trích ảnh mặt

người trong các video và tổ chức lại thành các face track Đầu vào của mô-đun này là một video nguyên bản và đầu ra sẽ là những face track trong video đó

ƒ Biểu diễn ảnh mặt người: Sau giai đoạn rút trích mỗi face track chỉ đơn

giản là một chuỗi các ảnh, mô-đun này có nhiệm vụ biểu diễn mỗi ảnh mặt người trong face track thành những vector đặc trưng

ƒ Biểu diễn face track và so khớp: Dựa trên những vector đặc trưng đã

được rút trích cho mỗi ảnh từ bước trước, các face track sẽ được biểu diễn thành những dạng thích hợp sao cho các face track phân biệt với nhau nhiều nhất Việc biểu diễn này được thực hiện cho cả face track truy

vấn G và mỗi face track trong cơ sở dữ liệu Để so khớp, vector biểu

diễn face track truy vấn G sẽ lần lượt được tính toán sự sai biệt so với

Trang 14

mỗi vector biểu diễn face track trong cơ sở dữ liệu thông qua độ đo sự sai biệt để trả về danh sách xếp hạng cho người dùng Mô-đun này

nhận vào vector biểu diễn face track truy vấn G, các face track trong cơ

sở dữ liệu và trả về một danh sách xếp hạng

Hình 1-3: Hệ thống tìm kiếm nhân vật trong video dựa trên face track

Hình 1-3 mô tả các mô-đun của hệ thống tìm kiếm nhân vật trong video dựa

trên face track Mô hình được mô tả trên đây chỉ là mô hình tổng quát và chung nhất Trong thực tế, tùy thuộc vào yêu cầu của bài toán cụ thể cũng như ứng dụng thực tế mà các hệ thống tìm kiếm có thể có thêm hoặc bỏ qua một số bước nào đó

1.1.4 Những thách thức

Mặc dù bài toán tìm kiếm nhân vật dựa trên face track đã được nghiên cứu nhiều trong những năm vừa qua, tuy nhiên đây vẫn là bài toán thách thức do những biến đổi của mặt người và điều kiện thu video ảnh hưởng tới kết quả tìm kiếm Những nhân tố này không chỉ tác động một cách độc lập mà còn có thể đồng thời cùng ảnh hưởng làm cho ảnh mặt người bị biến đổi rất lớn Những nhân tố ảnh hưởng chính đến bài toán so khớp face track gồm:

Trang 15

ƒ Tư thế đầu người

Do chuyển động của cổ và góc quay camear nên mặt người có thể được nhìn thấy tại những góc khác nhau Kết quả so khớp thường chỉ tốt đối với ảnh chính diện, khi đầu nhân vật bị nghiêng (sang trái, phải hoặc đang ngước lên, cúi xuống) thì kết quả so khớp sẽ bị ảnh hưởng Nguyên nhân là do khi mặt không ở tư thế nhìn chính diện, việc lấy đặc trưng mặt người sẽ trở nên khó khăn và không chính xác, hơn thế nữa một số bộ phận của mặt sẽ bị che khuất hoặc nhìn không rõ, do đó ảnh hưởng đến quá trình so khớp

ƒ Nét mặt

Khi nhân vật ở những trạng thái cảm xúc khác nhau hoặc đang thực hiện công việc nhất định thì biểu hiện của nét mặt sẽ khác nhau Khi vui, mắt người sẽ mở to hơn trong khi đó khi buồn, mí mắt đóng lại Một người khi ở trạng thái nói liên tục

sẽ dẫn tới sự thay đổi không ngừng về hình dạng của miệng, không những thế thỉnh thoảng mắt sẽ nhắm lại Sự thay đổi của nét mặt là một trong những trở ngại lớn nhất do đây là những thay đổi diễn ra khá thường xuyên, ở những bộ phận khá nhỏ trên mặt như mắt, miệng nên khó phát hiện

Hình 1-4: Các yếu tố chính ảnh hưởng tới bài toán so khớp face track

Trang 16

ƒ Chiếu sáng

Ánh sáng là nhân tố luôn tồn tại trong quá trình thu thập video Với những điều kiện ánh sáng khác nhau, ảnh thu thập được sẽ có độ sáng tối khác nhau Nếu ta thu video trong môi trường trong nhà, ít ánh sáng thì ảnh mặt người sẽ trở nên tối hơn

so với khi quay trong môi trường ngoài trời có nhiều ánh sáng Đối với những đoạn video quay trong môi trường thực tế (video tin tức, phóng sự, giám sát v.v…) thường ánh sáng không được kiểm soát bởi con người, do đó đây là yếu tố có thể

ảnh hưởng rất lớn đến hệ thống tìm kiếm nhân vật trên video Hình 1-4 cho thấy

ánh sáng ảnh hưởng đến mức độ sáng tối của nhân vật Geogre Bush trong ảnh

ƒ Che khuất

Hiện tượng che khuất diễn ra khi có một đối tượng khác nằm phía trước nhân vật, che đi một phần mặt của nhân vật Hiện tượng che khuất không chỉ khiến cho camera chỉ có thể thu được một phần mặt người mà đối tượng xuất hiện trong ảnh

có thể ảnh hưởng tới kết quả của hệ thống truy tìm do không thể phân biệt được vùng nào là mặt người và vùng nào là của đối tượng Những đối tượng gây ra hiện tượng che khuất có thể là micro, một người đứng trước hoặc do phát thanh viên vừa ghi hình vừa di chuyển ngang qua một vật nào đó (cột điện, cánh cửa, v.v…)

ƒ Nhiễu

Một số yếu tố khác ảnh hưởng tới ảnh mặt người là nhiễu Nhiễu có thể do thiết

bị thu gây ra, do đối tượng chuyển động quá nhanh hoặc do các hiệu ứng khi biên tập video (các hiệu ứng chuyển cảnh)

Hình 1-4 cho thấy một số ví dụ về ảnh hưởng của các yếu tố trên đối với ảnh

mặt người trong video Có thể thấy những yếu tố này ảnh hưởng rất lớn đến ảnh mặt người Vì vậy, nếu chỉ sử dụng một ảnh để biểu diễn cho một người thì sẽ không thể nào bao phủ được những biến đổi này Mặc dù việc sử dụng face track cũng chỉ có thể bao phủ phần nào những biến đổi trên, tuy nhiên đây có vẻ là hướng tiếp cận hợp lý và đang được quan tâm nghiên cứu gần đây

Trang 17

1.2 Đóng góp của luận văn

Luận văn đã đề xuất một thuật so khớp face track cho bài toán tìm kiếm nhân vật trong video Khác với đa số các thuật toán so khớp dựa trên face track khác chỉ có thể thỏa mãn một trong hai yếu tố độ chính xác hoặc tốc độ Thuật toán được đề xuất có khả năng cân bằng được hai yếu tố này Điều này rất quan trọng đối với những hệ thống tìm kiếm người trên video trước sự bùng nổ của dữ liệu video khiến cho yêu cầu về một thuật toán so khớp nhanh và hiệu quả trên dữ liệu video lớn là cần thiết

Thuật toán đã được so sánh với các phương pháp so khớp tiên tiến (min-min [3,

4, 5], k-Faces [9], MSM [7] và CMSM [8]) cả về độ chính xác và tốc độ dựa trên cách thức đánh giá tin cậy và được sử dụng rộng rãi trong cộng đồng Độ chính xác của các thuật toán đã được so sánh dựa trên độ đo MAP (Mean Average Precision) thường dùng trong lĩnh vực truy vấn thông tin và phân loại đối tượng, trong khi đó tốc độ được so sánh không chỉ dựa trên kết quả thực nghiệm mà còn bằng lý thuyết dựa trên tính toán độ phức tạp của thuật toán Kết quả đánh giá cho thấy, thuật toán được đề xuất có thể thực hiện so khớp trên dữ liệu face track lớn một cách nhanh chóng trong khi đó vẫn đạt được độ chính xác tương đương với các thuật toán khác

1.3 Cấu trúc luận văn

Bố cục luận văn gồm 5 chương như sau:

Chương 1: Giới thiệu tổng quan (định nghĩa, các ứng dụng, các thành phần hệ thống, thách thức) về bài toán tìm kiếm nhân vật trên video dựa trên face track và trình bày những đóng góp chính của luận văn

Chương 2: Giới thiệu cách hướng tiếp cận chính cho hệ thống tim kiếm người trong video dựa trên face track Trong phần này các hướng tiếp cận để xây dựng các mô-đun (rút trích face track, biểu diễn ảnh mặt người, biểu diễn face track và so khớp) của hệ thống sẽ được giới thiệu

Chương 3: Mô tả các bước trong hệ thống tìm kiếm nhân vật trong luận văn

Trang 18

Chương 4: Trình bày quá trình thực nghiệm trên thuật toán được đề xuất Những phân tích, đánh giá và so sánh với những thuật toán khác cũng được trình bày trong phần này

Chương 5: Đưa ra kết luận từ nghiên cứu và những hướng nghiên cứu mở rộng trong tương lai

Trang 19

Chương 2 Các công trình nghiên cứu liên quan

Do một hệ thống tìm kiếm nhân vật trên video dựa trên face track gồm 3 thành phần chính là: rút trích face track từ video, biểu diễn ảnh mặt người, biểu diễn face track và so khớp nên hệ thống tìm kiếm sẽ được xây dựng dựa trên việc kết hợp những thành phần này lại với nhau Với mỗi thành phần riêng lẻ lại có nhiều hướng tiếp cận khác nhau để xây dựng, những hướng tiếp cận này không chỉ được giới thiệu riêng cho bài toán tìm kiếm nhân vật trong video mà còn có thể xuất hiện trong những lĩnh vực khác Chẳng hạn việc xây dựng mô-đun biểu diễn ảnh mặt người có thể sử dụng các kĩ thuật biểu diễn ảnh mặt người trong những bài toán nhận dạng mặt người, nhận dạng đối tượng hoặc phân loại ảnh Vì vậy luận văn trình bày những những hướng tiếp cận cho toàn hệ thống tìm kiếm nhân vật dựa trên những hướng tiếp cận được dùng để giải quyết từng mô-đun

2.1 Hướng tiếp cận rút trích face track

Trong hệ thống tìm kiếm nhân vật dựa trên face track, một trong những bước quan trọng đầu tiên là làm thế nào để rút trích các face track trong những đoạn video Có một số hướng tiếp cận đã được đề xuất để thực hiện việc này Sivic và cộng sự [5] rút trích face track bằng cách sử dụng thuật toán Adaboost để dò tìm khuôn mặt người tại mỗi khung hình Tiếp đó, những vùng ảnh dò ra được xem là

của cùng một người bằng cách theo vết những vùng đồng biến affine (Hình 2-1)

Phương pháp này có thể đạt được kết quả tốt, tuy nhiên việc sử dụng bộ dò vùng đồng biến là rất phức tạp và tốn chi phí Everingham và cộng sự [3] cũng dùng bộ

dò mặt người Adaboost để tìm ra những vùng mặt người trong mỗi khung hình video, tuy nhiên khác với phương pháp trong [5]-sử dụng cách theo vết các vùng đồng biến affine để liên kết các vùng mặt lại với nhau, các tác giả trong [3] lại dùng

bộ theo vết Kanade-Lucas-Tomasi (KLT) để theo vết các điểm quan tâm (interest point) trong mỗi khung hình Hai vùng mặt tại hai khung hình liên tiếp được xem là

Trang 20

của cùng một người nếu số điểm theo vết chung đi qua hai vùng mặt liên tiếp lớn hơn số điểm không chung thì hai vùng mặt được xem là thuộc một face track của cùng một người Tuy nhiên, bộ dò KLT lại thường bị ảnh hưởng bởi sự thay đổi của ánh sáng, che khuất và lỗi của bộ dò mặt người, do đó có thể khiến cho việc theo vết các điểm quan tâm bị ngắt quãng và dẫn tới các face track có thể bị phân mảnh Điều này có thể khắc phúc bằng cách dùng phương pháp được đề nghị bởi Ngo và cộng sự [10], các tác giả trong [10] cũng dùng bộ dò KLT như trong [3] nhưng khác với [3] những điểm quan tâm chỉ được theo vết trong các vùng ảnh mặt người thay

vì trong một shot và tính toán lại mỗi khung hình Phương pháp này đã cho thấy cho thấy hiệu quả hơn phương pháp của Everingham và cộng sự trong [10]

Hình 2-1: Gom nhóm face track dựa trên theo theo vết vùng đồng biến affine

2.2 Hướng tiếp cận biểu diễn ảnh mặt người

Các face track sau khi được rút trích chỉ đơn giản là chuỗi những ảnh mặt người Quá trình biểu diễn ảnh mặt người được thực hiện cho mỗi ảnh trong face track

Mỗi ảnh sẽ được rút trích đặc trưng và biểu diễn dưới dạng vector (Hình 2-2) Việc

này nhằm mục đích rút trích ra những thông tin thật sự quan trọng, mô tả những nét đặc trưng nhất cho ảnh mặt người, nhờ đó giúp quá trình so khớp hiệu quả và chính xác hơn Có nhiều phương pháp rút trích đặc trưng khác nhau, phần lớn trong số

Trang 21

chúng là những kĩ thuật được sử dụng cho bài toán nhận dạng mặt người Ở đây luận văn chỉ giới thiệu một số đặc trưng mặt người được sử dụng rộng rãi và cho kết quả tốt bao gồm: bộ lọc Gabor, đặc trưng SIFT, đặc trưng LBP, phương pháp biểu diễn bằng Eigenfaces, phương pháp dựa trên LDA

Hình 2-2: Rút trích đặc trưng cho mỗi ảnh trong face track

2.2.1 Local Binary Pattern (LBP)

Mẫu nhị phân cục bộ (Local Binary Pattern-LBP) được đề xuất bởi Ojala [21] năm 1994 là đặc trưng dùng cho bài toán phân loại vân (texture) Tuy nhiên, khi áp dụng cho bài toán nhận dạng mặt người, nó trở nên phổ biến và tiếp tục được nghiên cứu, mở rộng [16, 20] LBP không những là một đặc trưng tốt biểu diễn mặt người mà còn tính toán rất hiệu quả so với các loại đặc trưng khác Kí hiệu

mô tả toán tử LBP gồm P điểm lân cận nằm trên đường tròn bán kính R

Toán tử LBP sẽ được áp dụng lên mỗi điểm trong ảnh, giá trị cường độ sáng của

những điểm lân cận sẽ được so sánh với điểm đó Nếu độ khác biệt này lớn hơn

hoặc bằng 0 thì sẽ nhận giá trị 1, ngược lại nhân giá trị 0 Kết quả của toán tử LBP tại một điểm sẽ là một chuỗi bit 0, 1 Mỗi chuỗi này sẽ tương ứng với một số nguyên duy nhất nằm trong đoạn từ 0 đến :

Trang 22

Hình 2-3 cho thấy một ví dụ toán tử với P = 8 Hình 2-3.1 là cường độ

pixel tại điểm đang xét và các điểm lân cận, Hình 2-3.2 hiệu số được tính toán tại mỗi điểm lân cận so với điểm đang xét, Hình 2-3.3 là giá trị nhị phân tương ứng

Mỗi giá trị nhị phân này sẽ được chuyển thành một giá trị số nguyên duy nhất (còn

gọi là một mẫu) như Hình 2-3.4

Hình 2-3: Toán tử LBP được áp tại một điểm trong ảnh (Nguồn [20])

Một biến thế khác của LBP là mẫu đồng nhất (uniform pattern) được giới thiệu trong [20] Mẫu đồng nhất xem xét số lần dịch chuyển từ 0-1 hoặc 1-0 trong chuỗi bít (xoay vòng), những chuỗi bit nào có số lần dịch chuyển bé hơn hoặc bằng 2 sẽ được xem như cùng một mẫu gọi là mẫu đồng nhất Do đó, với chuỗi 8 bit thì sẽ có

59 mẫu (khác với LBP thông thường sẽ có 28 mẫu)

Trang 23

Để rút trích đặc trưng LBP cho ảnh mặt người, ảnh sẽ được chia thành lưới Tại mỗi vùng nhỏ trong ảnh, một histogram sẽ được xây dựng bằng cách áp

toán tử LBP tại mỗi pixel trong ô Đặc trưng LBP cho ảnh có được bằng cách nối

các histogram này lại với nhau (Hình 2-4)

Hình 2-4: Rút trích LBP cho ảnh mặt người (Nguồn [20])

2.2.2 Scale Invariant Feature Transform (SIFT)

Một đặc trưng khác gần đây cũng được áp dụng cho biểu diễn mặt người là phép biến đổi đặc trưng bất biến tỉ lệ (Scale Invariant Feature Transform - SIFT) SIFT được đề nghị bởi Lowe [22] cho bài toán so khớp đối tượng trong ảnh (object matching) Từ khi được giới thiệu, đặc trưng SIFT đã được thử nghiệm cho hầu hết các bài toán hiện có trong lĩnh vực thị giác máy tính Có thể nói đây là một trong những đặc trưng ảnh nổi tiếng và sử dụng rộng rãi nhất trong cả lĩnh vực thị giác máy tính tới thời điểm hiện tại SIFT bao gồm hai giai đoạn chính: giai đoạn tìm kiếm các điểm quan tâm (interest point) – giai đoạn này được thực hiện bởi bộ dò tìm (detector) và giai đoạn mô tả điểm quan tâm được thực hiện bởi bộ mô tả (descriptor) Trong thuật toán SIFT được mô tả bởi Lowe, bộ dò tìm được dùng là

bộ dò DoG (Difference of Gaussian) Các điểm quan tâm (x, y, s) được trả về từ bộ

dò thông thường là những góc cạnh hoặc những điểm có sự chênh lệch sáng tối nhiều, các tham số x, y mô tả tọa độ và s mô tả tỉ lệ của điểm quan tâm Những

Trang 24

điểm nay sau đó sẽ được mô tả bởi bộ mô tả qua hai bước chính: tính toán hướng chính và mô tả điểm quan tâm

Mô tả:

ƒ Vùng ảnh sẽ được chuẩn hóa theo tỉ lệ và hướng chính

ƒ Độ lớn gradient và hướng sẽ được đánh trọng số dựa trên hàm Gaussian

ƒ Vùng ảnh được chia thành thành vùng con và tính toán histogram

hướng 8 khoảng cho mỗi vùng con Histogram hướng của mỗi vùng con sẽ được nối lại với nhau để tạo thành đặc trưng chiều

Hình 2-5: Tính toán bộ mô tả (descriptor) cho SIFT với lưới 2×2 (Nguồn [22])

Giai đoạn mô tả vùng được thể hiện trong Hình 2-5, vùng được chia thành vùng

con (ở đây ) Gradient sẽ được đánh trọng số dựa theo hàm Gaussian

Trang 25

-được mô tả bằng đường tròn màu xanh (hình trái); histogram hướng sẽ -được lấy theo mỗi vùng (hình phải) và được nối lại với nhau để tạo thành đặc trưng SIFT Đặc trưng SIFT khi sử dụng mô tả mặt người đều có bước mô tả các điểm quan tâm giống như trong [22] Các hướng tiếp cận khác nhau ở cách lựa chọn những điểm trên khuôn mặt để biễu diễn đặc trưng SIFT Rosenberger và Brun [15] cũng dùng bộ dò DoG để chọn những điểm quan tâm Nhược điểm lớn nhất của cách dùng bộ dò tìm là số lượng điểm quan tâm trả về thường nhiều, thêm nữa có thể chứa nhiều vị trí không thật sự quan trọng nên một số tác giả đã chọn sẵn những vị trí quan trọng trên khuôn mặt để mô tả như: mũi, khóe miệng, giữa miệng, hốc mắt v.v… như Sivic và cộng sự trong [5] Với cách làm này, Sivic sử dụng ít điểm quan tâm hơn nhưng sẽ thu được kết quả tốt hơn do chỉ những điểm quan trọng nhất đã được sử dụng để mô tả cho mặt người

2.2.3 Bộ lọc Gabor

Bộ lọc Gabor là một trong những phương pháp tiêu biểu cho hướng sử dụng bộ lọc Ý tưởng chính của hướng sử dụng bộ lọc là thiết kế nhiều bộ lọc với những tính chất khác nhau và xem xét phản hồi của ảnh khi cho tiếp xúc với mỗi bộ lọc Tập kết quả trả về này có thể cho ta thấy tính chất của ảnh Một trong những bộ lọc được dùng thành công để biểu diễn ảnh mặt người là bộ lọc Gabor [17, 18, 19, 23] Một

bộ lọc Gabor hai chiều có scale và hướng v được định nghĩa trong [17, 19] như

sau:

Trong đó z = (x, y) là vị trí áp bộ lọc, là vector sóng với

là tần số tối đa và f là yếu tố khoảng cách giữa các

kernel trong miền tần số Như vậy chúng ta có thể thấy bộ lọc Gabor là tích của hàm sin hai chiều với hàm Gaussian, hay nói cách khác đây là hàm sin được đánh trọng

Trang 26

số bởi hàm Gaussian Điều này khiến cho bộ lọc Gabor có tính chất của một bộ lọc

cạnh (Hình 2-6)

Hình 2-6: Bộ lọc Gabor có tính chất của một bộ lọc cạnh: ảnh gốc (hình trái) và

ảnh sau khi qua bộ lọc Gabor (hình phải) (Nguồn matlabserver )

Điều chỉnh giá trị và v khác nhau ta sẽ tạo ra những bộ lọc khác nhau Hình

2-7 cho ta thấy một tập hợp gồm 40 bộ lọc Gabor tương ứng với 5 scale và 8 hướng, mỗi bộ lọc ứng với một scale và hướng nhất định Các bộ lọc này có được bằng cách thay các giá trị , v khác nhau vào phương trình trên Lấy tích chập mỗi bộ lọc

với ảnh sẽ cho thấy tính chất của ảnh với hướng và scale tương ứng Cách đơn giản nhất để biểu diễn ảnh mặt người dùng bộ lọc Gabor là lấy tích chập của ảnh với mỗi

bộ lọc và nối các ảnh kết quả này với nhau để tạo thành vector đặc trưng mô tả cho ảnh

Hình 2-7: Tập 40 bộ lọc Gabor ứng với 5 scale và 8 hướng (Nguồn [19])

Trang 27

2.2.4 Eigenfaces

Phương pháp mặt riêng (Eigenfaces) dựa trên việc phân tích thành phần chính (Principle Component Analysis - PCA), được phát triển bởi Sirovich và Kirby (1987) sau đó được dùng trong [27, 28] Ý tưởng chính của phương pháp mặt riêng

là dữ liệu có thể phân bố theo rất nhiều chiều trong không gian, tuy nhiên chỉ biến đổi nhiều nhất theo một số hướng chính Do đó thay vì phải lưu giữ tất cả thông tin phân bố dữ liệu vừa tốn kém lại tốn chi phí xử lý, chúng ta chỉ cần lưu lại những hướng chính nhất của dữ liệu Số lượng những hướng chính này chỉ chiếm một phần nhỏ nhưng lại mô tả được hầu hết những đặc điểm chính về phân bố của dữ liệu, do

đó việc giữ lại chỉ những hướng chính này cũng có thể cho phép đạt được kết quả tương đương với toàn bộ dữ liệu Cho trước cơ sở dữ liệu gồm M ảnh mặt người

Quá trình tính toán các mặt riêng được mô tả như sau:

ƒ Tính toán ảnh mặt trung bình:

ƒ Trừ mỗi ảnh mặt bởi giá trị trung bình này

ƒ Tính toán ma trận :

ƒ Tính toán vector riêng và trị riêng của ma trận C Các vector riêng này

cũng chính là các mặt riêng trong phương pháp mặt riêng

ƒ Chọn K mặt riêng ứng với K trị riêng lớn nhất

Với một ảnh mặt người bất kì , quá trình rút trích vector để biểu diễn được

thực hiện bằng cách trừ cho vector trung bình và chiếu lên tập K mặt riêng để

Trang 28

thu được các thành phần của vector biểu diễn cho , với được tính như sau:

Giá trị trọng số cũng cho thấy đóng góp của mỗi mặt riêng đối với ảnh đưa

vào Cách sử dụng mặt riêng có lợi thế hơn phương pháp khác là khá đơn giản và

cần ít bộ nhớ để biểu diễn một ảnh Hình 2-8 là một số mặt riêng sau quá trình rút

trích

Hình 2-8: Mặt riêng( Nguồn )

2.2.5 Linear Discriminant Analysis (LDA)

Phân tách tuyến tính (Linear Discriminant Analysis - LDA) là phương pháp dùng cho bài toán phân lớp Trong bài toán phân lớp, mỗi lớp có thể được biểu diễn thành những tập điểm trong không gian, mục đính của việc phân lớp là tìm cách phân tách tập điểm của các lớp với nhau Để giải quyết vấn đề này, LDA tìm một mặt phẳng sao cho khi chiếu dữ liệu lên đó sẽ tối đa khoảng cách giữa các lớp và

cực tiểu khoảng cách giữa các điểm dữ liệu trong một lớp Hình 2-9 cho ví dụ về

Trang 29

chọn mặt phẳng chiếu trong phương pháp LDA, mặt phẳng chiếu không tốt sẽ khó phân tách được hai lớp (hình trái) và chọn mặt phẳng chiếu tốt giúp cho việc phân tách tốt hơn (hình phải)

Hình 2-9: Ví dụ về chọn mặt phẳng chiếu trong LDA ( Nguồn )

Quá trình tìm kiếm mặt phẳng chiếu phân tách của LDA có thể được mô hình như sau Cho trước tập điểm trong đó có điểm thuộc lớp

điểm thuộc lớp ( ) Mặt phẳng chiếu P sẽ được mô tả bởi bộ trọng số

w, khi đó tập điểm sau khi được chiếu lên mặt phẳng P sẽ là:

Trung bình các lớp trước và sau khi chiếu trên mặt phẳng P là:

Khoảng cách giữa hai lớp sẽ được định nghĩa là khoảng cách giữa hai điểm trung bình trong khi đó khoảng cách trong một lớp được tính bằng phương sai phân bố của lớp đó

Trang 30

Để tìm được mặt phẳng tối đa phân bố giữa các lớp và tối thiểu phân bố trong một

lớp, LDA tìm mặt phẳng tối ưu w* cực tiểu hóa hàm đánh giá:

Ảnh x đưa vào sẽ được biểu diễn bằng cách chiếu x lên mặt phẳng chiếu P* và

dùng vector chiếu y để biễu diễn cho ảnh x:

Một số cải tiến của LDA có thể tìm thấy trong [27, 28, 29] Cả phương pháp mặt riêng và LDA đều là đặc trưng toàn cục (rút trích đặc trưng trên toàn ảnh) Những đặc trưng toàn cục có nhược điểm là xem mọi vùng trong ảnh đều có vai trò là như nhau Tuy nhiên trong thực tế, trên mặt người có những vùng rất quan trọng, giúp ích rất nhiều cho quá trình nhận dạng (như mắt, mũi, miệng v.v…) hơn so với các vùng khác (như gò má, trán v.v…) Tương tự mặt riêng, việc tính toán LDA tương đối đơn giản

2.3 Hướng tiếp cận so khớp face track

Sau giai đoạn biểu diễn mỗi ảnh trong face track thành một vector, một face track lúc này không chỉ đơn giản là tập những ảnh mặt người mà sẽ là tập những vector đặc trưng với mỗi vector đặc trưng cho một ảnh Biểu diễn mỗi face track sẽ được tính toán thông qua các vector này Các cách biểu diễn face track khác nhau phần lớn dựa trên quan niệm của các tác giả về face track Phần tiếp theo của luận văn sẽ giới thiệu một số quan niệm trong việc biểu diễn face track

2.3.1 Phương pháp dựa trên tập điểm

Đây là ý tưởng đơn giản nhất Mỗi vector biễu diễn ảnh mặt người sẽ là một

điểm trong không gian Khi đó mỗi face track là tập hợp N điểm Việc biểu diễn face track sẽ là quá trình chọn những điểm để đại diện cho tập hợp N điểm đó

Phương pháp min-min [3, 4, 5] đơn giản chọn tất cả các điểm để biểu diễn face

Trang 31

track, khi đó khoảng cách giữa hai tập hợp là khoảng cách của hai điểm gần nhau nhất trong hai face track:

ở đây , là hai face track d(x, y) là hàm tính khoảng cách giữa hai điểm

(khoảng cách ở đây có thể là khoảng cách Euclidean, L1, HIK v.v….) Hình 2-10

cho thấy ví dụ hai face track (xanh và đỏ), khoảng cách giữa hai face track này là khoảng cách giữa hai điểm gần nhau nhất trong hai face track, điểm A thuộc face track 1 và điểm B thuộc face track 2

Hình 2-10: Khoảng cách giữa hai face track trong thuật toán min-min

Một phương pháp khác cũng sử dụng tất cả các điểm để biểu diễn face track là phương pháp avg-min, tuy nhiên khác với min-min, khoảng cách giữa hai face track được tính là trung bình khoảng cách giữa các cặp điểm giữa hai face track

Mặc dù phương pháp chọn tất cả các điểm để biểu diễn face track như min-min, avg-min có thể cho kết quả cao, nhưng do phải tính toán trên toàn bộ face track nên

Trang 32

nhưng phương pháp này đòi hỏi chi phí tính toán rất lớn Một số phương pháp giải quyết điều này bằng cách chỉ chọn một số điểm để đại diện cho cả tập hợp Phương pháp k-Faces [9] chia chuỗi ảnh thành k đoạn, trong mỗi đoạn, sẽ chọn ra một ảnh chính giữa để đại diện cho đoạn đó, vector trung bình của những ảnh đại diện cho

mỗi đoạn sẽ được sử dụng để biễu diễn cho face track (Hình 2-11) Như vậy mỗi

face track sẽ được đại diện bởi một điểm duy nhất Khi đó, khoảng cách giữa hai face track đơn giản là khoảng cách giữa hai điểm trong không gian Trong trường hợp k bằng số lượng ảnh có trong face track, phương pháp này tương đương với việc lấy vector trung bình để đại diện cho face track Theo [9], phương pháp này đạt kết quả tốt nhất khi k = 5 Ưu điểm lớn nhất của phương pháp này là khả năng so khớp rất nhanh so với các phương pháp khác

Hình 2-11: Phương pháp k-Faces với k = 3 (Nguồn [9])

2.3.2 Phương pháp dựa trên phân bố xác suất

Các phương pháp biểu diễn dựa trên phân bố xác suất lại tìm cách biểu diễn tập các điểm trong face track thành một phân bố xác suất và tính toán khoảng cách giữa các face track dựa trên tính toán khoảng cách giữa các phân bố xác suất Phân bố của các điểm trong face track có thể được mô hình hóa bằng phân bố Gaussian [1],

Trang 33

Guassian Mixture Model (GMM) [29] hay mô hình xác suất dựa trên Bayes [30]

Hình 2-11 cho thấy ví dụ mô hình face track dựa vào xác suất Các chấm xanh nước

biển biểu diễn các điểm trong face track, trong khi đó, vòng tròn biểu diễn tâm của các phân bố Gaussian trong mô hình GMM

Hình 2-12: Mô hình face track bằng GMM (Nguồn [29])

Hàm khoảng cách thường được dùng để tính độ khác biệt giữa hai phân bố xác suất là hàm phân kì Kullback-Leibler (Kullback-Leibler divergence) [1, 29, 30] Khoảng cách này được định nghĩa như sau:

trong đó , lần lượt là hai phân bố xác suất biểu diễn hai face track

2.3.3 Phương pháp dựa trên bao

Hakan Cevikalp và Bill Triggs đã sử dụng một hướng tiếp cập khá mới trong [2] Trong bài báo của mình, các tác giả đưa ra hai cách biểu diễn face track dùng bao affine (affine hull) và bao lồi (convex hull) Bao affine chính là không gian con affine nhỏ nhất có chứa tất cả các điểm trong face track và được định nghĩa về mặt hình thức như sau:

Trang 34

trong đó là điểm k trong face track thứ i, là số lượng điểm trong face track i

và N là số lượng face track Nếu chọn một điểm bất kì trong bao affine làm gốc

thì bao affine có thể được phát biểu lại dưới dạng:

trong đó, là các cơ sở trực giao của bao affine và có thể dễ dàng tìm được bằng

phép SVD (Singular Value Decomposition)

Khoảng cách giữa hai face track , là khoảng cách giữa hai bao affine và

được định nghĩa là khoảng cách giữa hai điểm gần nhau nhất thuộc hai bao affine

quá trình tìm lời giải tối ưu , cho phương trình trên tương đương với vấn đề tối

ưu bình phương tối tiểu

Các tác giả trong [2] cùng giới thiệu cách sử dụng bao lồi để biểu diễn face track Bao lồi được biểu diễn bằng cách thêm ràng buộc vào biểu thức bao affine như sau:

Trong đó và là biên trên và biên dưới của các hệ số Cả hai

cách biểu diễn dựa trên bao affine và bao lồi đều có thể được kernel hóa để giải trong trường hợp không tuyến tính Điểm nổi bật của hướng tiếp cận này là khả năng cho kết quả cao thậm chí cả khi có các điểm cá biệt trong face track

Trang 35

2.3.4 Phương pháp không gian con

Các tác giả trong [6, 7, 8] lại phát triển phương pháp so khớp ảnh mặt người dựa trên không gian con Mỗi face track sẽ được biểu diễn bởi một không gian con mở rộng từ những điểm trong face track đó Một trong những phương pháp tiêu biểu cho hướng tiếp cận này là phương pháp không gian con chung (Mutual Subspace Method – MSM) được đề xuất bởi Yamaguchi trong [7] Cho một cơ sở dữ liệu

gồm N face tracks, mỗi face track gồm mặt người được biễu diễn bởi các

• Tính toán ma trận cho mỗi face track :

• Tính toán vector riêng và trị riêng của

• Chọn K vector riêng ứng với K trị riêng lớn nhất dựa trên đánh giá sau:

đánh giá này cho thấy, chúng ta sẽ chọn K vector riêng ứng với K trị riêng nhỏ nhất sao cho tổng các trị riêng này chiếm tới T tổng tất cả các trị riêng Nói cách khác,

chúng ta chỉ chọn những vector riêng đóng vai trò quan trọng nhất để biểu diễn

không gian con cho face track Giá trị ngưỡng T nằm trong khoảng từ [0, 1], khi

T=1 chúng ta sẽ chọn hết tất cả các vector riêng Những vector riêng được chọn sẽ

được dùng làm vector cơ sở trực giao cho không gian con biểu diễn cho face

track

Trong giai đoạn so khớp, khoảng cách giữa face track truy vấn G (được biểu

diễn bằng không gian con ) và mỗi face track (được biểu diễn bằng không gian

con ) trong cơ sở dữ liệu được tính toán thông qua khoảng cách giữa hai không

Trang 36

gian con Khoảng cách này được định nghĩa trong [7] là giá trị bình phương cosine của góc chính tắc (canonical angle) nhỏ nhất Hay nói đơn giản, giá trị này là góc nhỏ nhất giữa hai điểm nằm trên hai không gian con:

Tuy nhiên việc tìm dựa trên công thức trên là quá phức tạp, do đó có

thể được tình toán thông qua việc tìm trị riêng của ma trận X:

ở đây đây lần lượt là vector cơ sở của và , là chiều của không gian

con lớn hơn Bình phương cosine của góc chính tắc nhỏ nhất chính là giá trị riêng

lớn nhất của X Hình 2-13 biểu diễn các face track và góc giữa các face track

trong phương pháp MSM

Hình 2-13: Phương pháp MSM

Một mở rộng của MSM là phương pháp không gian con chung ràng buộc (Constrained Mutual Subspace Method - CMSM) [8] được đề xuất bởi Kazuhiro Fukui CMSM cũng tìm một không gian con để biểu diễn cho mỗi face track

nhưng khác với MSM, CMSM tìm thêm một không gian con Q có chiều

Trang 37

( ) (gọi là không gian con ràng buộc – constrained subspace) và chiếu vào

trong không gian này để tạo ra không gian con Khi đó, các face track sẽ được

biểu diễn bởi các không gian con thay vì như trong phương pháp MSM Quá

trình so khớp trong CMSM hoàn toàn tương tự như trong MSM với khoảng cách bình phương cosine của góc chính tắc được sử dụng Để tính toán không gian con ràng buộc, CMSM thực hiện như sau:

• Tính toán ma trận tổng các không gian con của tất cả các face track:

• Tìm vector riêng và trị riêng của ma trận H

• Chọn vector riêng ứng với trị riêng nhỏ nhất làm cơ sở cho không gian

ràng buộc Q

Hình 2-14 cho thấy quá trình biểu diễn face track và tính khoảng cách góc của

phương pháp CMSM Ý tưởng của việc sử dụng không gian con ràng buộc khá giống với ý tưởng của phương pháp LDA ở điểm chiếu các không gian con vào không gian con ràng buộc sẽ làm tăng độ phân biệt giữa các không gian con và giúp tính toán khoảng cách được tốt hơn Tuy nhiên, CMSM sẽ cần thêm chi phí cho việc tính toán không gian con ràng buộc và chiếu các không gian con vào không gian này

Ngày đăng: 09/10/2014, 21:35

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1] G. Shakhnarovich, J. W. Fisher, and T. Darrell (2002) “Face recognition from long-term observations,” European Conference on Computer Vision (ECCV) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Face recognition from long-term observations
[2] H. Cevikalp and B. Triggs (2010), “Face recognition based on image sets,” IEEE Conf. on Computer Vision and Pattern Recognition (CVPR) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Face recognition based on image sets
Tác giả: H. Cevikalp and B. Triggs
Năm: 2010
[3] M. Everingham, J. Sivic, and A. Zisserman (2006), ““Hello! My name is... Buffy” – automatic naming of characters in TV video,” British Machine Vision Conference (BMVC) Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Hello! My name is... "Buffy” – automatic naming of characters in TV video
Tác giả: M. Everingham, J. Sivic, and A. Zisserman
Năm: 2006
[4] A. Hadid, and M. Pietikọinen (2004), “From still image to videobased face recognition: An experimental analysis,” IEEE Intl. Conf. on Automatic Face and Gesture Recognition (FG) Sách, tạp chí
Tiêu đề: From still image to videobased face recognition: An experimental analysis
Tác giả: A. Hadid, and M. Pietikọinen
Năm: 2004
[5] J. Sivic, M. Everingham, and A. Zisserman (2005), “Person spotting: Video shot retrieval for face sets,” ACM Intl. Conf. on Image and Video Retrieval (CIVR) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Person spotting: Video shot retrieval for face sets
Tác giả: J. Sivic, M. Everingham, and A. Zisserman
Năm: 2005
[6] W. Fan and D. Y. Yeung (2006), “Locally linear models on face appearance manifolds with application to dualsubspace based classification,” IEEE Conf.on Computer Vision and Pattern Recognition (CVPR) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Locally linear models on face appearance manifolds with application to dualsubspace based classification
Tác giả: W. Fan and D. Y. Yeung
Năm: 2006
[7] O. Yamaguchi, K. Fukui, and K. Maeda (1998), “Face recognition using temporal image sequence,” IEEE Intl. Conf. on Automatic Face and Gesture Recognition (FG) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Face recognition using temporal image sequence
Tác giả: O. Yamaguchi, K. Fukui, and K. Maeda
Năm: 1998
[8] Kazuhiro Fukui and Osamu Yamaguchi (2003), “Face recognition using multi-viewpoint patterns for robot vision,” International Symposium of Robotics Research (ISRR) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Face recognition using multi-viewpoint patterns for robot vision
Tác giả: Kazuhiro Fukui and Osamu Yamaguchi
Năm: 2003
[9] Thao Ngoc Nguyen, Thanh Duc Ngo, Duy-Dinh Le, Shin’ichi Satoh, Bac Hoai Le, and Duc Anh Duong (2010), “An efficient method for face retrieval Sách, tạp chí
Tiêu đề: [9] Thao Ngoc Nguyen, Thanh Duc Ngo, Duy-Dinh Le, Shin’ichi Satoh, Bac Hoai Le, and Duc Anh Duong (2010), “An efficient method for face retrieval
Tác giả: Thao Ngoc Nguyen, Thanh Duc Ngo, Duy-Dinh Le, Shin’ichi Satoh, Bac Hoai Le, and Duc Anh Duong
Năm: 2010
[10] T. Ngo, D.-D. Le, S. Satoh and D. Duong (2008), “Robust face tracking finding in video using tracked points,” Proc. Intl. Conf. on Signal-Image Technology and Internet-Based Systems Sách, tạp chí
Tiêu đề: Robust face tracking finding in video using tracked points
Tác giả: T. Ngo, D.-D. Le, S. Satoh and D. Duong
Năm: 2008
[11] A. F. Smeaton, P. Over, and W. Kraaij (2006), “Evaluation campaigns and trecvid,” ACM Intl. Conf. on Multimedia Information Retrieval (MIR) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Evaluation campaigns and trecvid
Tác giả: A. F. Smeaton, P. Over, and W. Kraaij
Năm: 2006
[12] M. Everingham, L. Van Gool, C. K. I.Williams, J.Winn, and A. Zisserman (2010), “The pascal visual object classes (voc) challenge,” International Journal of Computer Vision (IJCV) Sách, tạp chí
Tiêu đề: The pascal visual object classes (voc) challenge
Tác giả: M. Everingham, L. Van Gool, C. K. I.Williams, J.Winn, and A. Zisserman
Năm: 2010
[13] P. Dreuw, P. Steingrube, H. Hanselmann, H. Ney (2009), “Surf-face: Face recognition under viewpoint consistency constraints”, British Machine Vision Conference (BMVC) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Surf-face: Face recognition under viewpoint consistency constraints
Tác giả: P. Dreuw, P. Steingrube, H. Hanselmann, H. Ney
Năm: 2009
[14] A.S Mian, M.Bennamoun, R. Owen (2007), “An Efficient Multimodal 2D-3D Hybrid Approach to Automatic Face Recognition”, IEEE Trans. on Pattern Analysis and Machine Intelligence (PAMI) Sách, tạp chí
Tiêu đề: An Efficient Multimodal 2D-3D Hybrid Approach to Automatic Face Recognition
Tác giả: A.S Mian, M.Bennamoun, R. Owen
Năm: 2007
[15] C. Rosenberger, L. Brun (2008), “Similarity-based matching for face authentication,” Intl. Conf. on Pattern Recognition (ICPR) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Similarity-based matching for face authentication
Tác giả: C. Rosenberger, L. Brun
Năm: 2008
[16] C. Shan, S. Gong and P. W. McOwan (2009), “Facial expression recognition based on Local Binary Patterns: A comprehensive study,” Image and Vision Computing, Vol. 27, Issue 6, pp. 803-816 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Facial expression recognition based on Local Binary Patterns: A comprehensive study
Tác giả: C. Shan, S. Gong and P. W. McOwan
Năm: 2009
[17] M. Yang, L. Zhang (2010), “Gabor feature based sparse representation for face recognition with gabor occlusion dictionary,” European Conference on Computer Vision (ECCV) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Gabor feature based sparse representation for face recognition with gabor occlusion dictionary
Tác giả: M. Yang, L. Zhang
Năm: 2010
[18] D. R. Kisku, H. Mehrotra, P. G. and J. K. Sing (2010), “Robust Multi-camera View Face Recognition”, IEEE Conf. on Computer Vision and Pattern Recognition (CVPR) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Robust Multi-camera View Face Recognition
Tác giả: D. R. Kisku, H. Mehrotra, P. G. and J. K. Sing
Năm: 2010
[19] Y. Su, S. Shan, X. Chen, W. Gao (2009), “Hierarchical Ensemble of Global and Local Classifiers for Face Recognition,” IEEE Trans. on Image Processing, Vol. 18, No. 8 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hierarchical Ensemble of Global and Local Classifiers for Face Recognition
Tác giả: Y. Su, S. Shan, X. Chen, W. Gao
Năm: 2009
[20] T. Ojala, M. Pietikọinen, and T. Mọenpọọ (2002), “Multiresolution gray-scale and rotation invariant texture classification with local binary patterns,” IEEE Trans. on Pattern Analysis and Machine Intelligence (PAMI) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Multiresolution gray-scale and rotation invariant texture classification with local binary patterns
Tác giả: T. Ojala, M. Pietikọinen, and T. Mọenpọọ
Năm: 2002

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1-1: Ví dụ về face track. Mỗi face track ứng với một người. - So khớp chuỗi ảnh mặt người trên dữ liệu video lớn
Hình 1 1: Ví dụ về face track. Mỗi face track ứng với một người (Trang 11)
Hình 1-2 : Bài toán so khớp face track. - So khớp chuỗi ảnh mặt người trên dữ liệu video lớn
Hình 1 2 : Bài toán so khớp face track (Trang 13)
Hình 1-3: Hệ thống tìm kiếm nhân vật trong video dựa trên face track. - So khớp chuỗi ảnh mặt người trên dữ liệu video lớn
Hình 1 3: Hệ thống tìm kiếm nhân vật trong video dựa trên face track (Trang 14)
Hình 1-4: Các yếu tố chính ảnh hưởng tới bài toán so khớp face track. - So khớp chuỗi ảnh mặt người trên dữ liệu video lớn
Hình 1 4: Các yếu tố chính ảnh hưởng tới bài toán so khớp face track (Trang 15)
Hình 2-1: Gom nhóm face track dựa trên theo theo vết vùng đồng biến affine. - So khớp chuỗi ảnh mặt người trên dữ liệu video lớn
Hình 2 1: Gom nhóm face track dựa trên theo theo vết vùng đồng biến affine (Trang 20)
Hình 2-2: Rút trích đặc trưng cho mỗi ảnh trong face track. - So khớp chuỗi ảnh mặt người trên dữ liệu video lớn
Hình 2 2: Rút trích đặc trưng cho mỗi ảnh trong face track (Trang 21)
Hình 2-3 cho thấy một ví dụ toán tử    với P = 8. Hình 2-3.1 là cường độ - So khớp chuỗi ảnh mặt người trên dữ liệu video lớn
Hình 2 3 cho thấy một ví dụ toán tử với P = 8. Hình 2-3.1 là cường độ (Trang 22)
Hình 2-4: Rút trích LBP cho ảnh mặt người (Nguồn [20]). - So khớp chuỗi ảnh mặt người trên dữ liệu video lớn
Hình 2 4: Rút trích LBP cho ảnh mặt người (Nguồn [20]) (Trang 23)
Hình 2-5: Tính toán bộ mô tả (descriptor) cho SIFT với lưới 2×2 (Nguồn [22]). - So khớp chuỗi ảnh mặt người trên dữ liệu video lớn
Hình 2 5: Tính toán bộ mô tả (descriptor) cho SIFT với lưới 2×2 (Nguồn [22]) (Trang 24)
Hình 2-7: Tập 40 bộ lọc Gabor ứng với 5 scale và 8 hướng (Nguồn [19]). - So khớp chuỗi ảnh mặt người trên dữ liệu video lớn
Hình 2 7: Tập 40 bộ lọc Gabor ứng với 5 scale và 8 hướng (Nguồn [19]) (Trang 26)
Hình 2-6: Bộ lọc Gabor có tính chất của một bộ lọc cạnh: ảnh gốc (hình trái) và - So khớp chuỗi ảnh mặt người trên dữ liệu video lớn
Hình 2 6: Bộ lọc Gabor có tính chất của một bộ lọc cạnh: ảnh gốc (hình trái) và (Trang 26)
Hình 2-8: Mặt riêng(Nguồn). - So khớp chuỗi ảnh mặt người trên dữ liệu video lớn
Hình 2 8: Mặt riêng(Nguồn) (Trang 28)
Hình 2-9: Ví dụ về chọn mặt phẳng chiếu trong LDA (Nguồn). - So khớp chuỗi ảnh mặt người trên dữ liệu video lớn
Hình 2 9: Ví dụ về chọn mặt phẳng chiếu trong LDA (Nguồn) (Trang 29)
Hình 2-10: Khoảng cách giữa hai face track trong thuật toán min-min. - So khớp chuỗi ảnh mặt người trên dữ liệu video lớn
Hình 2 10: Khoảng cách giữa hai face track trong thuật toán min-min (Trang 31)
Hình 2-11: Phương pháp k-Faces với k = 3 (Nguồn [9]). - So khớp chuỗi ảnh mặt người trên dữ liệu video lớn
Hình 2 11: Phương pháp k-Faces với k = 3 (Nguồn [9]) (Trang 32)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w