Tuy nhiên, về mặt quản lý hiện nay vẫn còn một số vấn đề bất cập và thiếu tính thống nhất, trong đó phải kể đến công tác cấp phép xả thải và quản lý nguồn thải trên địa bàn thành phố nói
Trang 1Lời Cảm ơn
Trong thời gian thực hiện luận văn tốt nghiệp, Tơi luơn nhận được sự giúp đỡ tận tình của quý Thầy cơ, gia đình, đồng nghiệp và bạn bè Với những tình cảm chân thành nhất của mình, Tơi xin
gửi lời biết ơn sâu sắc đến Thầy Nguyễn Đinh Tuấn
đã quan tâm hướng dẫn, cũng như đĩng gĩp ý kiến chuyên mơn giúp Tơi hồn thành luận văn tốt nghiệp này
Tơi cũng xin gởi lời tri ơn đến quý Thầy Cơ đã
giảng dạy, các thầy cơ trong khoa Mơi trường - Trường Đại học Khoa học Tự nhiên đã giúp cho
Tơi cĩ những kiến thức và kinh nghiệm quý báu trong suốt khĩa học
Xin cảm ơn gia đình, bạn bè, đồng nghiệp và lãnh đạo nơi Tơi đang cơng tác đã động viên và giúp
đỡ Tơi trong suốt thời gian qua
Nguyễn Thị Tú Uyên
Trang 2Với vai trò đặc biệt quan trọng của sông Sài Gòn, thời gian qua đã có rất nhiều
đề tài nghiên cứu khoa học, các hội thảo, hội nghị được tổ chức để bảo vệ và cải thiện chất lượng của con sông này Tuy nhiên, về mặt quản lý hiện nay vẫn còn một
số vấn đề bất cập và thiếu tính thống nhất, trong đó phải kể đến công tác cấp phép
xả thải và quản lý nguồn thải trên địa bàn thành phố nói chung và đối với lưu vực
sông Sài Gòn riêng Do đó, đề tài “Nghiên cứu phân loại vùng tiếp nhận nước thải công nghiệp của sông Sài Gòn trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh” là
công việc cần thiết với mục tiêu:
Bảo vệ chất lượng nước sông Sài Gòn phục vụ cho mục tiêu cấp nước
và các hoạt động sử dụng nguồn nước này
Phân loại vùng tiếp nhận nước thải công nghiệp phù hợp phục vụ công tác cấp phép xả thải, quản lý nguồn thải của các cơ quan chức năng Kết quả của luận văn được thực hiện chủ yếu trên cơ sở kết hợp ứng dụng các thông tư, quy định, quy chuẩn pháp luật hiện hành của Việt Nam với phương pháp tính toán khả năng tự làm sạch một số khu vực điển hình của sông Sài Gòn địa bàn thành phố Hồ Chí Minh, đồng thời thừa kế các nghiên cứu có liên quan trước đây
để đưa ra kết quả phân loại vùng tiếp nhận nước thải công nghiệp như mục tiêu ban đầu đề ra
Trang 3ABSTRACT
One of the greatest urban centres, heading of commercial activities, services, cultural arts and scientific research in the country, Ho Chi Minh City is located in the Saigon river downstream with playing the important role in providing drinking water for millions of people; Citizen of city are facing with environmental pollution increasingly complicated, especially the scarcity and water pollution
Actually, It is the important river that, recently, there was a lot of scientific research, workshops, conferences are organized to protect and improve the quality
of this river However, in terms of management are still some issues inadequacies and lack consistency, including the permit to discharge wastewater and waste water
management Thus, subject “Research classify areas receiving industrial waste water of the Saigon river in Ho Chi Minh city” is needed to targets:
Protect the Saigon River water quality for water supply goals and activities to use this water source
Classify areas receiving the industrial waste water supports the wastewater discharge permit, wastewater management by the authorities
The results of the thesis were based on inherit recent research and application
of current circular letter and the standards of Vietnam, methodology purification to give the results of classification of industrial waste water reception
self-as the original targets
Trang 4MỤC LỤC
1. Chương 1 – MỞ ĐẦU 1
1.1 ĐẶT VẤN ĐỀ 1
1.2. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 2
1.3 PHẠM VI VÀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU 2
1.4 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 2
1.5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3
1.6 Ý NGHĨA CỦA ĐỀ TÀI 4
2. Chương 2 – TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 5
2.1. TỔNG QUAN VỀ QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN NƯỚC 5
2.1.1 Quy hoạch và quản lý tài nguyên nước 5
2.1.1.1 Quy hoạch và quản lý nguồn nước 5
2.1.1.2 Quản lý tổng hợp tài nguyên nước 6
2.1.2. Các nghiên cứu và giải pháp quản lý nguồn nước trên thế giới 7
2.1.2.1. Nghiên cứu chỉ số chất lượng nước phục vụ quản lý nguồn nước 7
2.1.2.2. Giải pháp điển hình về quản lý lưu vực sông tại Cộng hoà Pháp 9
2.1.2.3. Giải pháp điển hình về quản lý nguồn nước tại Trung Quốc 11
2.1.2.4. Đánh giá phân loại vùng chất lượng nước mặt phục vụ công tác quản lý và sử dụng hiệu quả 12
2.1.2.5. Chính sách quản lý hiệu quả và tiết kiệm nguồn nước tại các nước 14
2.1.2.6. Áp dụng công cụ kinh tế phục vụ quản lý nguồn nước 15
2.2. TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU TRONG NƯỚC 18
2.2.1. Quản lý nguồn nước 18
2.2.2. Nghiên cứu quản lý nguồn nước trên địa bàn thành phố 20
2.2.2.1. Phân vùng lãnh thổ phục vụ qui hoạch môi trường 20
Trang 52.2.2.3. Nghiên cứu phân vùng theo chỉ số chất lượng nước 21
2.2.2.4. Nghiên cứu giải pháp bảo đảm an toàn cấp nước 21
2.2.2.5. Các nghiên cứu, báo cáo khác liên quan đến sông Sài Gòn 22
2.3. PHÂN LOẠI CHẤT LƯỢNG NƯỚC MẶT 23
2.3.1. Tiêu chí phân loại chất lượng nước mặt của Mỹ 23
2.3.2. Tiêu chí phân loại chất lượng nước mặt Thái Lan 24
2.3.3 Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước mặt 25
2.4. TIÊU CHUẨN NƯỚC THẢI CÔNG NGHIỆP 25
3 Chương 3 – TÌNH HÌNH XẢ THẢI, CẤP PHÉP XẢ THẢI VÀ CHẤT LƯỢNG NƯỚC SÔNG SÀI GÒN TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 28
3.1. CÁC NGUỒN XẢ THẢI RA LƯU VỰC SÔNG SÀI GÒN TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HỐ CHÍ MINH 30
3.1.1. Các nguồn thải từ hoạt động công nghiệp 31
3.1.1.1. Nguồn thải từ các khu chế xuất (KCX) và khu công nghiệp (KCN) 31
3.1.1.2. Nguồn thải từ các cơ sở sản xuất ngoài khu chế xuất và khu công nghiệp 40
3.1.2. Nguồn thải từ sinh hoạt 41
3.1.3. Các nguồn thải khác 43
3.2. TÌNH TRẠNG XẢ THẢI RA KHU VỰC CẤP NƯỚC 44
3.3. TÌNH HÌNH CẤP PHÉP XẢ THẢI TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ 49
3.3.1. Cơ sở pháp lý 49
3.3.2. Tình trạng cấp phép xả thải trên địa bàn thành phố 49
3.3.3. Những khó khăn và tồn tại trong công tác cấp phép xả thải trên địa bàn thành phố 50
3.3.3.1. Những tồn tại cấp phép hiện nay 50
3.3.3.2. Những hạn chế khác 51
3.3.3.3. Tình hình đánh giá hiện trạng chất lượng nước mặt 52
Trang 63.3.3.4. Phối hợp giám sát quản lý giữa các tỉnh thành trên lưu vực 52
3.4. HIỆN TRẠNG CHẤT LƯỢNG NƯỚC SÔNG SÀI GÒN VÀ KÊNH RẠCH ĐỔ TRỰC TIẾP RA SÔNG SÀI GÒN 53
3.4.1. Chất lượng nước sông Sài Gòn và các kênh rạch đổ ra sông Sài Gòn trên địa bàn thành phố 53
3.4.2. Đánh giá chất lượng nước sông Sài Gòn trên địa bàn thành phố theo chỉ số chất lượng nước 56
3.4.3. Đánh giá hiện trạng chất lượng nước sông Sài Gòn trên địa bàn thành phố theo chỉ số sinh học về độ đa dạng 60
3.4.4. Đánh giá phân loại mức độ ô nhiễm sông Sài Gòn 62
4 Chương 4 – PHÂN LOẠI VÙNG TIẾP NHẬN NƯỚC THẢI CÔNG NGHIỆP CỦA SÔNG SÀI GÒN TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ 64
4.1. CƠ SỞ TÍNH TOÁN 64
4.1.1. Khả năng tiếp nhận nước thải của nguồn nước 64
4.1.1.1. Căn cứ thực hiện 64
4.1.1.2. Trình tự đánh giá 65
4.1.2. Đánh giá khả năng tự làm sạch của nguồn nước 67
4.1.2.1. Các khái niệm và định nghĩa cơ bản khả năng tự làm sạch trong môi trường nước 67
4.1.2.2. Cơ chế quá trình tự làm sạch 68
4.1.2.3. Xác định hệ số tự làm sạch 69
4.1.2.4. Phương pháp xác định hệ số tốc độ khử oxy 71
4.1.2.5. Xác định hệ số thấm khí 72
4.1.2.6. Kết luận về hướng sử dụng các công thức thực nghiệm 74
4.1.2.7. Nồng độ tối đa 75
4.2. ỨNG DỤNG CƠ SỞ TÍNH TOÁN CHO KHU VỰC CẤP NƯỚC TRÊN SÔNG SÀI GÒN 77
4.2.1. Khả năng tiếp nhận nước thải của khu vực hạ nguồn trạm cấp nước trên sông Sài Gòn 77
Trang 74.2.1.1. Đánh giá khả năng tiếp nhận nước thải rạch Bà Bếp của sông Sài Gòn.
79
4.2.1.2. Khả năng tiếp nhận nước thải khu công nghiệp Tân Thới Hiệp và rạch Bà Hồng của sông Sài Gòn 81
4.2.1.3. Khả năng tiếp nhận nước thải khu công nghiệp Tân Bình và kênh Tham Lương đối với sông Sài Gòn 83
4.2.2. Đánh giá khả năng tự làm sạch khu vực hạ nguồn trạm cấp nước trên sông Sài Gòn 87
4.2.2.1. Khả năng tự làm sạch 87
4.2.2.2. Nồng độ tối đa 91
4.2.3. Khoảng cách an toàn bảo vệ khu vực hạn nguồn trạm cấp nước 94
4.3. PHÂN LOẠI VÙNG TIẾP NHẬN NƯỚC THẢI CÔNG NGHIỆP CỦA SÔNG SÀI GÒN TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ 96
4.4. ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP 101
5 Chương 5 – KẾT LUẬN – KIẾN NGHỊ 107
5.1. KẾT LUẬN 107
5.2 KIẾN NGHỊ 108
1
Trang 8DANH SÁCH CÁC TỪ VIẾT TẮT
BOD5 Nhu cầu oxy sinh hoá
BTNM Bộ Tài nguyên và Môi trường
BVMT Bảo vệ môi trường
COD Nhu cầu oxy hoá học
DO Lượng oxy hoà tan trong nước
MPN/100ml Số lượng cá thể có thế đếm được trong 100ml dung dịch
pH Biểu thị tính axit/bazơ dung dịch
Q Lưu lượng
QLMT Quản lý môi trường
TNMT Tài nguyên môi trường
TCVN Tiêu chuẩn Việt Nam
TSS Tổng chất rắn lơ lửng
TNMT Tài nguyên môi trường
Trang 9DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1 Phân loại chất lượng nước sông năm 2003 13
Bảng 2.2 Tiêu chuẩn nước mặt (sông/hồ) của Mỹ 22
Bảng 2.3 Tiêu chí phân loại chất lượng nước mặt tại Thái Lan 24
Bảng 2.4 So sánh tiêu chuẩn nước thải công nghiệp 26
Bảng 3.1 Phân bố các khu công nghiệp và khu chế xuất trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh có nguồn thải ra sông Sài Gòn 31
Bảng 3.2 Nồng độ các chất ô nhiễm trong nước thải các khu chế xuất và khu công nghiệp ra sông Sài Gòn năm 2007 35
Bảng 3.3 Nồng độ các chất ô nhiễm trong nước thải các khu chế xuất và khu công nghiệp ra sông Sài Gòn năm 2008 36
Bảng 3.4 Tải lượng các chất ô nhiễm từ các khu công nghiệp trên địa bàn thành phố thải ra sông Sài Gòn năm 2007 38
Bảng 3.5 Tải lượng các chất ô nhiễm từ các khu công nghiệp trên địa bàn thành phố thải ra sông Sài Gòn năm 2008 39
Bảng 3.6 So sánh tải lượng chất ô nhiễm từ khu dân cư trên địa bàn thành phố và các lưu vực khác đổ vào sông Sài Gòn năm 2007, 2008 42
Bảng 3.7 Tổng tải lượng các chất ô nhiễm đổ vào lưu vực sông Sài Gòn khu vực cấp nước 47
Bảng 3.8 Thống kê số lượng các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất được cấp phép và gia hạn xả thải từ năm 2006 – 2009 50
Bảng 3.9 Kết quả quan trắc năm 2008 tại các trạm trên sông Sài Gòn và các sông, kênh rạch khác trên địa bàn thành phố 54
Trang 10Bảng 3.10 Phân loại chất lượng nguồn nước mặt theo chỉ số chất lượng nước 57
Bảng 3.11 Kết quả phân loại chất lượng nước S.Sài Gòn theo chỉ số chất lượng 59
Bảng 3.12 Thang điểm đánh giá chất lượng nước theo chỉ số sinh học về độ đa dạng 60
Bảng 3.13 Tổng hợp đánh giá hiện trạng chất lượng nước sông Sài Gòn 63
Bảng 4.1 Hệ số khả năng tự làm sạch theo điều kiện thuỷ văn của sông hồ 70
Bảng 4.2 Thang đánh giá khả năng tự làm sạch theo PGS TS Lê Trình 71
Bảng 4.3 Xác định hệ số k1 theo Davis và Cornwell 71
Bảng 4.4 Các công thức tính hệ số thấm khí 73
Bảng 4.5 Giá trị hệ số k1 và k2 theo nhiệt độ 74
Bảng 4.6 Thống kê các điều kiện áp dụng tính hệ số k2 theo tài liệu mô hình hoá Môi trường 74
Bảng 4.7 Kết quả tính toán khả năng tiếp nhận nước thải rạch Bà Bếp của sông Sài Gòn (tại khu vực trạm Phú Cường) 80
Bảng 4.8 Kết quả tính toán khả năng tiếp nhận nước thải khu công nghiệp Tân Thới Hiệp của rạch Bà Hồng theo nồng độ thực tế 81
Bảng 4.9 Kết quả tính toán khả năng tiếp nhận nước thải khu công nghiệp Tân Thới Hiệp của rạch Bà Hồng theo tiêu chuẩn QCVN 24: 2009/BTNMT 82
Bảng 4.10 Kết quả tính toán khả năng tiếp nhận nước thải rạch Bà Hồng của sông Sài Gòn 83
Bảng 4.11 Kết quả tính toán khả năng tiếp nhận nước thải khu công nghiệp Tân Bình của kênh Tham Lương theo nồng độ thực tế 84
Bảng 4.12 Kết quả tính toán khả năng tiếp nhận nước thải khu công nghiệp Tân Bình của kênh Tham Lương theo QCVN 24: 2009/BTNMT 84
Trang 11Bảng 4.13 Kết quả tính toán khả năng tiếp nhận nước thải kênh Tham Lương của sông Sài Gòn (khu vực trạm Bình Phước) 86 Bảng 4.14 So sánh khả năng tự làm sạch theo các công thức ứng dụng phổ biến và gần với điều kiện của đối tượng nghiên cứu 88 Bảng 4.15 Kết quả tính toán độ thiếu hụt DO cực đại 92 Bảng 4.16 Khoảng cách quy định bảo vệ nguồn nước theo quy chuẩn của Bộ Xây dựng Việt Nam 93 Bảng 4.17 Kết quả tính toán nồng độ BOD5 tối đa cho phép của rạch Tra thải vào Sông Sài Gòn để duy trì chất lượng nước sông ở điều kiện cho phép 94 Bảng 4.18 Vận tốc dòng chảy cực đại của sông Sài Gòn năm 2006-2008 95 Bảng 4.19 Tổng hợp các yếu tố xét phân loại vùng tiếp nhận nước thải 98 Bảng 4.20 Phân loại vùng tiếp nhận nước thải công nghiệp của sông Sài Gòn trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh theo QCVN 24: 2009/BTNMT 101
Trang 12DANH MỤC HÌNH
Hình 3.1 Toàn cảnh lưu vực sông Sài Gòn và các lưu vực lân cận… 28
Hình 3.2 Phân bố lưu lượng nước thải theo lưu vực (2005) 31
Hình 3.3 Phân bố tải lượng BOD5 theo lưu vực (2005) 31
Hình 3.4 Bản đồ vị trí các khu chế xuất và khu công nghiệp thải nước thải ra sông Sài Gòn trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh 33
Hình 3.5 Hệ thống các kênh rạch thải ra khu vực trạm bơm Hoà Phú 48
Hình 3.6 Thống kê các nguồn thải ra gần khu vực cấp nước.………… … 57
Hình 3.7 Đánh giá mức độ ô nhiễm tháng mùa khô năm 2008 theo chỉ số chất lượng nước 58
Hình 3.8 Đánh giá mức độ ô nhiễm mùa mưa năm 2007 theo chỉ số chất lượng nước 58
Hình 3.9 Mức độ ô nhiễm theo chỉ số sinh học về độ đa dạng 61
Hình 4.1 Đường cong suy giảm oxy 77
Hình 4.2 Sơ đồ đánh giá khả năng tiếp nhận nước thải của nguồn nước 78
Hình 4.3 So sánh khả năng tự làm sạch tại trạm Phú Cường theo các phương pháp tính 89
Hình 4.4 Vùng tiếp nhận nước thải công nghiệp của sông Sài Gòn theo QCVN 24: 2009/BTNMT 100
Hình 4.5 Bản đồ phân loại vùng tiếp nhận nước thải công nghiệp ra sông Sài Gòn trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh 103
Trang 13Theo thống kê, mỗi ngày có đến hai triệu tấn chất thải đi vào các nguồn nước, trong đó 70% các chất thải công nghiệp tại những quốc gia đang phát triển được xả thẳng vào nguồn nước mà không qua xử lý Lượng chất ô nhiễm tích lũy qua thời gian sẽ gây ra những bệnh tật cho con người và gây hại cho hệ sinh thái, và hậu quả
là mỗi năm có gần 2 triệu trẻ em trên thế giới chết vì thiếu nước sạch và khoảng 1,1
tỷ người trên thế giới không có nước sạch để dùng Những con số này sẽ không ngừng gia tăng, những hậu quả cũng ngày càng trở nên nghiêm trọng hơn nếu chúng ta không có những giải pháp thật sự kịp thời, hiệu quả cho từng khu vực và vùng lãnh thổ
Không nằm ngoại lệ, tình trạng khan hiếm và ô nhiễm nguồn nước ngọt ở Việt Nam những năm gần đây cũng đang ở mức báo động, đặc biệt là ở các đô thị lớn như thành phố Hồ Chí Minh được biết đến như một trung tâm kinh tế phát triển nhất nước nằm ở hạ lưu sông Sài Gòn, nơi có vai trò quan trọng trong việc cung cấp nguồn nước sinh hoạt cho hàng triệu người dân thành phố Tuy nhiên, theo báo cáo của GS.TS Lâm Minh Triết tại hội thảo “Bảo vệ môi trường nước sông Sài Gòn phục vụ an toàn cấp nước trên lưu vực sông” tháng 12/2007 cho thấy chưa bao giờ
Trang 14sông Sài Gòn được quan tâm nhiều như hiện nay, bởi những diễn biến ngày càng xấu về chất lượng nước đang đe dọa nghiêm trọng đến đời sống xã hội và trước hết
là đe dọa trực tiếp đến nhu cầu cấp nước cho thành phố Trong khi đó, về mặt quản
lý hiện nay vẫn còn nhiều vấn đề bất cập, trong đó phải kể đến công tác cấp phép xả thải và quản lý nguồn thải trên địa bàn thành phố và lưu vực sông Sài Gòn
Do đó, đề tài Nghiên cứu phân loại vùng tiếp nhận nước thải công nghiệp của sông Sài Gòn trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh là công việc cần thiết
nhằm tạo cơ sở cho công tác quản lý, cấp phép xả thải và bảo vệ nguồn nước con sông này
1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
Bảo vệ chất lượng nước sông Sài Gòn, đặc biệt là những khu vực phục vụ cho mục tiêu cấp nước nhằm đảm bảo sức khoẻ cho người dân và các hoạt động sử dụng nguồn nước này
Phân loại vùng tiếp nhận nước thải công nghiệp phù hợp theo tiêu chuẩn và
chất lượng nước cho từng khu vực phục vụ công tác cấp phép xả thải, quản lý nguồn thải của các cơ quan chức năng thành phố
1.3 PHẠM VI VÀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
Đề tài này nghiên cứu và áp dụng cho khu vực hạ lưu sông Sài Gòn thuộc địa bàn thành phố Hồ Chí Minh tính từ ngã ba sông Thị Tính và sông Sài Gòn đến ngã
ba sông Sài Gòn và sông Đồng Nai, trong đó tập trung vào khu vực phục vụ cho mục tiêu cấp nước với nguồn nước thải chính từ hoạt động sản xuất công nghiệp 1.4 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
Hiện nay so với các nguồn thải sinh hoạt, nguồn thải từ hoạt động chăn nuôi và các nguồn thải khác, thì nguồn thải công nghiệp là một trong những nguồn có mức độ gây ô nhiễm rất cao và có nhu cầu tăng dần trong những năm tới, việc xử lý các nguồn thải này đạt tiêu chuẩn trước khi xả thải ra môi trường thuộc về trách nhiệm
Trang 15nước thải tập trung chủ yếu do thành phố đầu tư, tuy nhiên vấn đề này hiện nay vẫn
là bài toán khó Do đó, để giảm thiểu khả năng gây ô nhiễm cho sông Sài Gòn thì cần từng bước giảm thiểu mức độ ô nhiễm của từng nguồn thải, từ đó có thể thấy phân loại vùng tiếp nhận đối với nước thải công nghiệp là hoàn toàn hợp lý góp Để đạt được mục tiêu trên, các nội dung chính mà đề tài nghiên cứu bao gồm:
- Hiện trạng chất lượng môi trường nước mặt sông Sài Gòn và một số sông, kênh rạch đổ ra sông Sài Gòn trong phạm vi nghiên cứu
- Tình hình sử dụng nguồn nước mặt của sông Sài Gòn
- Các thông tin và dữ liệu thuỷ văn, thuỷ lực của sông Sài Gòn và các lưu vực
đổ ra sông này trên địa bàn thành phố
- Các thông tin, dữ liệu về nguồn thải, trong đó tập trung vào hoạt động công nghiệp, qua đó đánh giá tình hình xả thải, mức độ nguy hại và tính toán tải lượng theo khu vực
- Tình hình cấp phép xả thải trên địa bàn thành phố: Cơ sở pháp lý, số lượng doanh nghiệp được cấp phép từ 2006 đến nay và những hạn chế, khó khăn trong công tác cấp phép xả thải hiện nay
- Các văn bản pháp lý hiện hành phục vụ công tác quản lý nguồn nước mặt
- Các phương pháp phù hợp với điều kiện để phân loại vùng tiếp nhận nước thải công nghiệp của sông Sài Gòn
- Các vấn đề tồn tại và các giải pháp phục vụ công tác quản lý nguồn nước
1.5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Để nghiên cứu phân loại vùng tiếp nhận nước thải công nghiệp của sông Sài Gòn trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh, tác giả đã sử dụng các phương pháp như sau:
a Phương pháp thu thập tài liệu
Nhằm mục tiêu cập nhật và kế thừa các kết quả nghiên cứu, các số liệu đo đạc, thuỷ văn, chất lượng nước sông Sài Gòn phục vụ cho việc thực hiện đề tài
Trang 16b Phương pháp khảo sát thực địa
Khảo sát thực tế một số khu vực trên địa bàn Huyện Hóc Môn, Củ Chi và quận 12 – khu vực gần trạm bơm nước thô Hoà Phú - về tình trạng xả thải ra các kênh rạch đổ trực tiếp ra sông Sài Gòn
c Phương pháp tính toán và đánh giá
Tính toán tải lượng các chất ô nhiễm trong nước thải sinh hoạt, nước thải công nghiệp thải ra các kênh rạch đổ trực tiếp ra sông Sài Gòn
Phương pháp hỗ trợ việc đánh giá chất lượng nước
Phương pháp đánh giá khả năng tiếp nhận nước thải của nguồn nước (theo thông tư 02/2009/TT-BTNMT của Bộ Tài nguyên và Môi trường)
Phương pháp đánh giá khả năng tự làm sạch: Phương pháp này căn cứ vào các yếu tố động lực học và các yếu tố lý hoá để xác định hệ số thấm khí và hệ số phân hủy BOD5
1.6 Ý NGHĨA CỦA ĐỀ TÀI
Ý nghĩa khoa học: Xây dựng cơ sở khoa học cho việc phân loại vùng tiếp nhận nước thải nhằm giảm thiểu những rủi ro và cải thiện chất lượng nước mặt, đặc biệt
là chất lượng nước sông Sài Gòn trên địa bàn Tp.HCM
Ý nghĩa thực tiễn:
- Phục vụ công tác đánh giá hiện trạng chất lượng nước mặt;
- Phục vụ cho công tác kiểm soát và quản lý nước thải công nghiệp;
- Phục vụ công tác cấp phép xả thải và nghiệm thu hệ xử lý nước thải của Thành phố Hồ Chí Minh
Trang 172 Chương 2 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
2.1 TỔNG QUAN VỀ QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN NƯỚC
2.1.1 Quy hoạch và quản lý tài nguyên nước
2.1.1.1 Quy hoạch và quản lý nguồn nước
Theo Giáo trình Quy hoạch và quản lý nguồn nước, Nhà xuất bản Nông nghiệp
2005 của GS.TS Hà Văn Khối [5] về Quy hoạch và quản lý nguồn nước:
Quy hoạch nguồn nước là sự hoạch định chiến lược sử dụng nước một cách hợp lý của một quốc gia, trên một vùng lãnh thổ hoặc một lưu vực sông, bao gồm chiến lược đầu tư phát triển nguồn nước và phương thức quản lý nguồn nước nhằm
đáp ứng các yêu cầu về nước và đảm bảo sự phát triển bền vững
Quản lý nguồn nước: là sự xác định phương thức quản lý nguồn nước trên một vùng, một lãnh thổ hoặc một hệ thống sông một cách hiệu quả và đảm bảo yêu cầu
về sự phát triển bền vững cho vùng hoặc lưu vực sông nhằm kiểm soát các hoạt động khai thác nguồn nước và những hoạt động dân sinh kinh tế có tác động tích cực và tiêu cực đến cân bằng sinh thái và suy thoái nguồn nước trên một vùng lãnh thổ hoặc lưu vực sông Phương thức quản lý các hoạt động khai thác nguồn nước và
các hoạt động dân sinh kinh tế trên một lưu vực sông gọi là Quản lý lưu vực sông
Quy hoạch và quản lý nguồn nước là lĩnh vực khoa học phức tạp Trong thời đại hiện nay, việc khai thác nguồn nước liên quan không những đảm bảo sự đầu tư
có hiệu quả mà còn phải đảm bảo sự phát triển bền vững Nguồn nước trên hành tinh ngày càng cạn kiệt so với sự phát triển dân số và mức độ yêu cầu ngày càng cao của các ngành dùng nước cả về số lượng và chất lượng Chính vì vậy trong các quy hoạch khai thác nguồn nước thường tồn tại các mâu thuẫn: mâu thuẫn giữa các
Trang 18ngành dùng nước, mâu thuẫn giữa khai thác và bảo vệ môi trường, mâu thuẫn sử dụng nước với đảm bảo phát triển bền vững Nếu trước đây, theo quan điểm truyền thống, khai thác nguồn nước phải đảm bảo tối ưu về mặt đầu tư, thì ngày nay vấn đề phân tích kinh tế chỉ là một loại tiêu chuẩn đánh giá dự án quy hoạch Khi phải đảm bảo sự phát triển bền vững trong quá trình phát triển nguồn nước thì vấn đề đặt ra không phải tìm phương án tối ưu mà cần phải tìm phương án hợp lý nhất – là phương án tối ưu kinh tế và thoả mãn các yêu cầu phát triển bền vững
Nhiệm vụ của các quy hoạch sử dụng nước là sự thiết lập một cân bằng hợp lý với hệ thống nguồn nước theo các tiêu chuẩn đã được quy định bởi các mục đích khai thác và quản lý nguồn nước
Một quy hoạch hệ thống nguồn nước được gọi là hợp lý nếu thoả mãn yêu cầu khai thác nguồn nước được đánh giá bởi “hệ thống chỉ tiêu đánh giá” với các tiêu chí sau:
- Sử dụng nguồn nước hiệu quả nhất và hợp lý nhất
- Hiệu quả đầu tư cao, các phương án quy hoạch tối ưu nhất
- Đáp ứng yêu cầu bảo vệ môi trường và sự phát triển bền vững tài nguyên
nước
2.1.1.2 Quản lý tổng hợp tài nguyên nước
Tổ chức Hợp tác về Nguồn Nước toàn cầu (GWP) định nghĩa về Quản lí tổng hợp tài nguyên nước như sau: “Quản lý tổng hợp tài nguyên nước (IWRM) là một quá trình xúc tiến việc phối hợp quản lý và phát triển các nguồn nước, đất đai và các nguồn lực liên quan nhằm tối ưu hóa hiệu quả kinh tế và phúc lợi xã hội một cách cân bằng mà không phương hại đến tính bền vững của các hệ thống sinh thái
trọng yếu” (GWP, 2000) (http://waterwiki.net/index.php/IWRM)
Trang 19Cơ sở khái niệm về IWRM cho thấy các mục đích sử dụng có sự phụ thuộc lẫn nhau rất lớn Điển hình như nhu cầu về tưới tiêu và sử dụng trong hoạt động công nghiệp cao cũng đồng nghĩa với lượng nước sạch cho sinh hoạt và cho các ngành công nghiệp bị giảm đi; nước thải ô nhiễm từ các thành phố và khu vực công nghiệp làm nhiễm bẩn các dòng sông và đe dọa các hệ sinh thái; hoặc nếu lượng nước giữ lại trên sông để bảo vệ nghề cá và các hệ sinh thái thì nước để tưới tiêu cho mùa màng sẽ ít đi Có rất nhiều ví dụ như vậy để minh họa cho một thực tế là việc sử dụng không có kế hoạch nguồn nước đang khan hiếm sẽ gây lãng phí và mất tính bền vững
Quản lý tổng hợp tài nguyên nước là một phương pháp đa ngành (GWP, 2000) Phương pháp này được phát triển nhằm thay thế phương pháp đơn ngành
truyền thống trước đây về nguồn nước và quản lý nguồn nước mà hệ lụy của nó là các dịch vụ nghèo nàn và việc sử dụng tài nguyên nước không bền vững Quản lý tổng hợp tài nguyên nước dựa trên nhận thức rằng tài nguyên nước là một thành tố không thể thiếu được cho hệ sinh thái, là tài nguyên thiên nhiên và là hàng hóa mang giá trị kinh tế cũng như xã hội (UNDP)
2.1.2 Các nghiên cứu và giải pháp quản lý nguồn nước trên thế giới
2.1.2.1 Nghiên cứu chỉ số chất lượng nước phục vụ quản lý nguồn nước
Trong đánh giá chất lượng nước, việc thống kê và phân loại chất lượng nước gặp nhiều khó khăn và phức tạp Trong khi đó, để khai thác và sử dụng nguồn nước, việc phân loại nguồn nước là rất quan trọng và cần thiết Việc sử dụng các chỉ số chất lượng nước (WQI – Water quality index) là hướng đang được nhiều nước và chuyên gia phân tích, đánh giá chất lượng nước sử dụng
Chỉ số chất lượng nước là một phương tiện có khả năng tập hợp một lượng lớn các số liệu, thông tin về chất lượng nước, đơn giản hóa các số liệu chất lượng nước,
để cung cấp thông tin dưới dạng dễ hiểu, dễ sử dụng cho các cơ quan quản lý tài nguyên nước, môi trường và công chúng Trong công tác quy hoạch quản lý tài
Trang 20nguyên nước, việc phân vùng chất lượng nước trên diện rộng là một yêu cầu hết sức quan trọng và là một công cụ hữu hiệu để đáp ứng nhiệm vụ này
Theo Viện quy hoạch thủy lợi Miền Nam (Ths Phạm Gia Hiền - Giám đốc Trung tâm Chất lượng nước-Môi trường) cho biết trên thế giới hiện nay có nhiều dạng WQI đang được sử dụng, trong đó đáng chú ý là:
- Chỉ số chất lượng nước của Canada viết tắt là WQI-CCME (The Canadian Council of Ministers of the Environment- CCME, 2001) được xây dựng dựa trên rất nhiều số liệu khác nhau sử dụng một quy trình thống kê với tối thiểu 4 thông số và 3 hệ số chính WQI-CCME là một công thức có tính định lượng cao, tuy nhiên trong WQI-CCME, vai trò của các thông số chất lượng nước trong WQI được coi như nhau, mặc dù trong thực tế các thành phần chất lượng nước có vai trò khác nhau đối với nguồn nước
- Chỉ số chất lượng nước của Quỹ Vệ sinh Quốc gia Mỹ WQI-NSF (National Sanitation Foundation-NSF) là một trong các bộ chỉ số chất lượng nước được dùng phổ biến, chỉ số này được xây dựng bằng cách sử dụng kỹ thuật Delphi của tập đoàn Rand, thu nhận và tổng hợp ý kiến của một số đông các chuyên gia khắp nước Mỹ để lựa chọn các thông số chất lượng nước, sau đó xác lập phần trọng lượng đóng góp của từng thông số (vai trò quan trọng của thông số - wi) và tiến hành xây dựng các đồ thị chuyển đổi từ các giá trị đo được của thông số sang chỉ số phụ (qi) Tuy nhiên các giá trị trọng số (wi) hoặc giản đồ tính chỉ số phụ (qi) trong WQI-NSF chỉ thích hợp với điều kiện chất lượng nước của Mỹ Do vậy, cần có các WQI phù hợp với điều kiện hệ thống sông ngòi của Việt Nam nói chung và thành phố Hồ Chí Minh nói riêng
Trang 21Tuy nhiên chỉ số chất lượng nước chỉ dừng lại ở góc độ phân loại chất lượng nước dựa trên hiện trạng, kết quả phân loại có thể bị sai lệch trong trường hợp số lượng các thông số được chọn không phù hợp về tính đại diện và số lượng thông số được chọn
2.1.2.2 Giải pháp điển hình về quản lý lưu vực sông tại Cộng hoà Pháp
Pháp là một trong những quốc gia có rất nhiều kinh nghiệm trong lĩnh vực quản lý tài nguyên nước Năm 1964, Cộng hoà Pháp đã ban hành Luật Tài nguyên nước, sau được bổ sung và điều chỉnh vào năm 1983, 1992 và 2006 Hệ thống pháp luật quản lý tài nguyên của nước này ngày càng được hoàn thiện đi vào chiều sâu theo hướng tăng cường quản lý về mặt số lượng và chất lượng trên toàn lãnh thổ nước Pháp
Luật Tài nguyên nước năm 1964 đã đưa ra mô hình quản lý tài nguyên nước theo 3 cấp:
- Cấp trung ương: Bộ sinh thái chụi trách nhiệm phát triển và quy hoạch bền vững, điều hành thực hiện các chương trình, kế hoạch quản lý tài nguyên nước quốc gia Ngoài ra còn có Hội đồng quốc gia về tài nguyên nước để tư vấn và nghiên cứu xây dựng Luật Tài nguyên nước cho Chính phủ và Bộ Sinh thái Hội đồng quốc gia có 79 thành viên đại diện cho các Bộ, ngành và do Bộ trưởng Bộ Sinh thái, Phát triển và quy hoạch bền vững quyết định, trong đó có 6 chủ tịch Uỷ ban lưu vực sông trên toàn thể lãnh thổ nước Pháp
- Cấp vùng: Quản lý tài nguyên nước được tổ chức theo lưu vực sông, với
6 lưu vực sông lớn: Senie-Normandie, Artois-Picardie, Rhin-Meuse, Loire-Bretagne, Adour-Garone và Rhone-Mediterranee Mỗi lưu vực có
Uỷ ban lưu vực sông và cơ quan lưu vực, là mô hình quản lý gắn kết giữa chính phủ, chính quyền địa phương với cộng đồng dân cư và các doanh nghiệp, trong đó đặc biệt coi trọng vai trò của người dân và doanh
Trang 22nghiệp trong việc tham gia vào công tác quản lý cũng như giải quyết các vấn đề về nguồn nước và xử lý ô nhiễm nguồn nước
Uỷ ban lưu vực sông được hình thành trên cơ sở bầu chọn các đại diện từ Chính phủ, chính quyền các địa phương trên lưu vực, đại diện các tổ chức nghề nghiệp và người sử dụng nước, theo cơ cấu 20% thành viên đại diện cho các Bộ ngành liên quan trong bộ máy Chính phủ, 40% đại diện cho chính quyền địa phương, 40% đại diện cho các tổ chức nghề nghiệp và người sử dụng nước Các thành viên trong Uỷ ban sẽ bầu chọn Chủ tịch Uỷ ban lưu vực theo nhiệm kỳ 3 năm Số lượng thành viên phụ thuộc vào độ lớn của diện tích lưu vực Điển hình như lưu vực sông Senie-Normandie có 118 thành viên, sông Loire-Bretagne có 135 thành viên Uỷ ban lưu vực sông có chức năng phê duyệt các đề án, dự
án về quản lý và quy hoạch phát triển bền vững tài nguyên nước trong lưu vực và quyết định mức phí nước mà người sử dụng phải chi trả hàng năm
Cơ quan lưu vực sông là cơ quan tổ chức thực hiện các quyết định của Uỷ ban lưu vực sông, có chức năng nhiệm vụ quản lý chung
về số lượng, chất lượng nước và hệ sinh thái trên lưu vực, cũng như quy hoạch phát triển lưu vực, trình Uỷ ban lưu vực phê duyệt,
đề nghị mức phí thu hàng năm, xét hồ sơ đầu tư xây dựng các công trình về tài nguyên nước trên lưu vực sông của các địa phương, doanh nghiệp, nghiệp đoàn và người sử dụng nước; thanh tra việc thực hiện pháp luật về tài nguyên nước và các văn bản dưới luật về nước; thu phí gây ô nhiễm, thuế tài nguyên nước đạt trung bình trên 02 tỷ euro/năm
Trang 23- Cấp địa phương: việc quản lý tài nguyên nước thuộc chính quyền địa phương theo đó chính quyền các cấp có trách nhiệm đầu tư xây dựng các công trình cấp nước, thoát nước, bảo vệ môi trường phục vụ nhân dân
2.1.2.3 Giải pháp điển hình về quản lý nguồn nước tại Trung Quốc
Chương trình “Quy hoạch chiến lược tái sử dụng và xử lý nước thải đô thị tại Trung Quốc” - tác giả Siyu Zeng, Jining Chen, Ping Fu thuộc Viện Khoa học và Kỹ thuật Môi trường, Đại học Tsinghua, Bắc Kinh, Trung quốc - là một giải pháp để tránh cạn kiệt nguồn nước tại Trung Quốc với mục tiêu phân vùng các khu vực ưu tiên theo từng cấp độ để có chính sách quản lý và hỗ trợ phát triển phù hợp đối với
việc tái sử dụng nước thải đô thị cụ thể (http://www.springerlink.com)
Từ sự khác biệt rất lớn về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội giữa các vùng miền trên lãnh thổ Trung Quốc nên rất khó áp dụng cùng một khuôn khổ chính sách cho tất cả các khu vực này Theo nghiên cứu, Trung Quốc đã được chia thành 342 khu vực nghiên cứu và từng vùng có một quy mô tương ứng với quy mô của một thành phố trên cơ sở:
- Thứ nhất, đánh giá sự cần thiết và khả thi để phát triển khu vực tái sử dụng nước thải đô thị với một hệ thống tiêu chí chính và phụ Phương pháp định giá và định lượng cho mỗi chỉ số đã được đưa ra Tất cả các khu vực nghiên cứu được cho điểm theo một hệ thống chỉ số
- Thứ hai, tất cả các vùng đã được sắp xếp thành năm loại khu phát triển chiến lược như: ưu tiên phát triển; nhà nước hỗ trợ Phát triển; tự phát triển; chờ yêu tiên phát triển; không bắt buộc phát triển
Trang 242.1.2.4 Đánh giá phân loại vùng chất lượng nước mặt phục vụ công tác quản lý và
sử dụng hiệu quả
a Đánh giá phân loại chất lượng nước mặt tại Scotland
Scotland là nước có mạng lưới sông suối rộng lớn với sự đa dạng sinh học và
có giá trị kinh tế cần được bảo tồn Để thực hiện tốt nhiệm vụ này, Cục bảo vệ môi trường Scotland (SEPA) đã xây dựng một mạng lưới giám sát rộng rãi được thiết kế
để ghi nhận chất lượng của tất cả các vùng nước quan trọng Vì vậy, để thuận lợi cho việc giám sát chất lượng người ta ấn định độ dài sông, lưu vực các sông, suối phải lớn hơn 10km2, trừ trường hợp chúng là nguồn chính của một con sông lớn hơn, hay chúng đang bị ô nhiễm nghiêm trọng Tổng chiều dài các con sông có diện tích lưu vực 10 km2 trở lên là 24,404 km đang được SEPA nỗ lực tập trung chú ý Năm
2003, sau quá trình phân loại có khoảng 800km các con sông có chất lượng kém hoặc bị ô nhiễm nghiêm trọng, hơn 2.400 km có chất lượng khá tốt theo như phân loại từ bảng 2.1 Những đoạn sông chưa được phân loại chủ yếu tập trung ở những vùng cao và nông thôn
Tiêu chí phân loại
Mạng lưới phân loại được chia thành những đoạn sông tại những ngã ba và khu vực có nguy cơ bị ô nhiễm cao Mỗi đoạn được chọn ra một điểm quan trắc dựa trên những khảo sát hóa, lý, sinh và cảnh quan Chất lượng hay 'loại' của đoạn sông được tính dựa trên kết quả quan trắc
Năm 1996, SEPA đặt mục tiêu cải thiện chất lượng nước trước năm 2000 và
đã cắt giảm được 263.4km sông bị ô nhiễm nghiêm trọng Năm 2006, nhằm giảm độ dài của các con sông bị xếp vào loại xấu hoặc bị ô nhiễm nghiêm trọng (351km), Scotland đã lên kế hoạch và chương trình đầu tư để nâng cấp các công trình xử lý nước thải và các hệ thống thu gom nước thải không đạt yêu cầu
Trang 25Bảng 2.1 Phân loại chất lượng nước sông năm 2003
Phương pháp đánh giá chất lượng nước mặt
Mỗi đoạn sông chọn ra một điểm quan trắc, dựa trên khảo sát tính lý, hóa, sinh
và cảnh quan Để đánh giá kết quả về tính hoá lý cần phân tích tối thiểu trên 12 mẫu trong vòng 3 năm liên tiếp, ngoại trừ trong một số trường hợp chất lượng nước thay đổi nghiêm trọng trong một năm Trong trường hợp này, tối thiểu là 12 mẫu trong vòng một năm kể từ khi sự thay đổi diễn ra Bình thường, số lượng mẫu phân tích là
6 hoặc 12 mẫu/năm, phụ thuộc theo từng yêu cầu
Việc đánh giá vấn đề sinh học dựa trên dữ liệu thu thập từ khảo sát và phân tích các loài động vật không xương sống ít nhất là hai lần/năm Một số khu vực chất lượng nước còn tốt thì việc đánh giá về mặt sinh học chỉ cần 3 năm/lần, trừ khi phát hiện vấn đề thay đổi chất lượng nước đối với những con sông có khả năng làm sạch bình thường thì ngay lập tức được tiến hành điều tra và có kế hoạch phục hồi
Việc đánh giá cảnh quan dựa trên dữ liệu từ ít nhất 3 cuộc khảo sát trong 1 năm về tình hình rác thải và công trình tại những khu vực nhằm ghi nhận thông
Trang 26tin, hỗ trợ cho công tác đánh giá, xác định nguyên nhân… trong suốt thời gian giám sát và lấy mẫu
Kết quả phân loại chất lượng tính từ loại có kết quả phân tích mẫu có chất lượng xấu nhất ở cả 4 hình thức: hoá lý, sinh, cảnh quan và độc chất đối với điểm quan trắc Tuy nhiên, hiện nay khu vực giữa các đoạn sông được đánh giá được gọi
là khu vực trung gian vẫn còn chưa được quan tâm nhiều
b Cơ sở phân vùng chất lượng nước tại Michigan - Mỹ
Cơ sở phân vùng để bảo vệ chất lượng nước cần lưu ý các vấn đề sau:
- Bảo vệ nguồn nước và phát triển tăng trưởng kinh tế đi đôi với chương trình quy hoạch sử dụng đất
- Không ưu đãi cho các hoạt động gần khu vực bảo tồn thiên nhiên, các khu vực cần bảo vệ vùng đầu nguồn
- Thận trọng và chú ý đến công tác quản lý tài nguyên nước thích hợp giúp cho các thành phố đạt được mức độ phát triển bền vững, kết hợp tăng trưởng kinh tế và xã hội đi đôi với bảo vệ tài nguyên thiên nhiên
- Cải thiện kỹ thuật quản lý và các tiêu chuẩn thiết kế liên quan đến nguồn thải và nguồn tiếp nhận
- Tiếp tục nâng cao ý thức người dân: theo khảo sát cho thấy cư dân, chủ doanh nghiệp và các nhà quy hoạch địa phương không phải luôn luôn ý thức được những hành động cá nhân của họ có thể tác động đến môi trường tự nhiên, môi trường xung quanh
2.1.2.5 Chính sách quản lý hiệu quả và tiết kiệm nguồn nước tại các nước
Tại Hà Lan, chính quyền đã dùng nhiều công cụ để tác động đến việc quản lý nguồn nước thông qua việc nâng cao nhận thức cộng đồng và công cụ kinh tế để quản lý nước như: các chương trình vận động người dân sử dụng tiết kiệm nước; áp dụng các quy định chặt chẽ về việc quản lý tài nguyên, đưa ra các chương trình quản
Trang 27lý nguồn nước lâu dài qua việc sử dụng và luân chuyển nước hợp lý như: không sử dụng nước vượt quá nguồn cung cấp nước tự nhiên; sử dụng nước sao cho khi nước thải ra có thể gây ảnh hưởng đến môi trường ở mức thấp nhất; duy trì các điều kiện
tự nhiên của nguồn nước
Tại Úc, do hạn chế về nguồn cấp nước nên chính phủ Úc đưa ra các chương trình sử dụng nước tiết kiệm nhưng hiệu quả Tuỳ theo từng thời điểm mà chính phủ đưa ra mức hạn chế sử dụng nước khá chi li, như chia thời gian cố định trong ngày
để tưới cây, bơm nước, không dùng nước máy để rửa xe, gắn vòi hoa sen tiết kiệm nước, thiết kế bồn cầu có nút tiết kiệm nước, gia đình nào sử dụng vượt quá định mức 800 lít nước/ngày sẽ được thẩm định và tìm giải pháp tiết kiệm nước Ngoài ra chính phủ định giá nước cho các hoạt động sản xuất sử dụng nhiều nước như nông nghiệp, công nghiệp… Giá nước được tính theo trữ lượng và chi phí quản lý nên không có đơn giá cố định mà tuỳ thuộc vào từng thời điểm Việc định giá này là một biện pháp để quản lý và sử dụng nước một cách hợp lý và hiệu quả Đây là mô hình
có thể áp dụng cho nhiều nước khác
2.1.2.6 Áp dụng công cụ kinh tế phục vụ quản lý nguồn nước
Việc áp dụng các công cụ kinh tế phục vụ quản lý là giải pháp được nhiều quốc gia trên thế giới áp dụng, vừa hạn chế được lượng nước sử dụng vừa tạo được nguồn thu cho việc xử lý nước thải và đưa vào tái sử dụng, đồng thời nâng cao được nhận thức và trách nhiệm của người sử dụng trong việc bảo vệ nguồn nước
a Chính sách tài chính trong việc quản lý nguồn nước tại Pháp
Chính phủ Pháp áp dụng chính sách tài chính trong việc quản lý nước theo nguyên tác “người sử dụng nước và người gây ô nhiễm phải trả tiền”, theo đó giá nước cung cấp đã được tính cả chi phí xử lý ô nhiễm sau khi thải ra Giá thành của một mét khối nước bao gồm các chi phí sau:
- Giá cơ bản để sản xuất một mét khối nước sạch, giá này do đơn vị sản xuất nước sạch quyết định trên cơ sở giá thành sản xuất
Trang 28- Chi phí đầu tư cho việc thoát nước, xử lý nước thải sau khi sử dụng, giá này do đơn vị thoát nước quy định trên cơ sở chi phí đầu tư
- Thuế tài nguyên nước do Nhà nước quy định (Bộ Tài chính)
Phí ô nhiễm nguồn nước do Uỷ ban từng vùng lưu vực sông quy định hàng năm căn cứ trên mức độ ô nhiễm tính trên cơ sở số lượng dân cư, mật độ khu công nghiệp, làng nghề…và thay đổi tuỳ theo mức độ ô nhiễm của từng lưu vực sông, nên lưu vực nào càng ô nhiễm thì giá nước càng cao Giá nước ở Cộng hoà Pháp được tính đầy đủ cả 4 khoản chi phí trên nhằm có đủ nguồn kinh phí để xử lý ô nhiễm cung cấp nước sạch cho người dân
Cơ quan lưu vực sông được Nhà nước giao cho thu phí ô nhiễm, thuế tài nguyên nước và được sử dụng số kinh phí này để chi phí cho việc quản lý, xử lý ô nhiễm, hỗ trợ các địa phương xây dựng các công trình công cộng
b Áp dụng công cụ kinh tế trong quản lý tài nguyên nước tại Singapore
Chính phủ Singapore đưa ra nhiều kế hoạch để khuyến khích người dân sử dụng tiết kiệm nước như áp dụng giá nước theo lượng sử dụng, xoá bỏ sự khác biệt
về giá nước trong sinh hoạt và công nghiệp Từ năm 2000, giá thống nhất cho một mét khối nước là 1.17đô Singapaore Nếu sử dụng trên 40m3 thì mức giá tăng lên 1.4 đô Singapore Ngoài cách tính luỹ tiến, nước này còn áp dụng 2 loại phí và thuế đánh trên lượng nước tiêu thụ: thuế bảo vệ nguồn nước và phí sử dụng nước giúp chính phủ trang trải phí xử lý, xây dựng, bảo trì hệ thống xử lý nước thải, đồng thời tạo áp lực người dân sử dụng nước hiệu quả và tiết kiệm hơn
Việc tính đúng và tính đủ giá thành cũng như áp dụng các sắc thuế đã làm giảm đáng kể lượng nước tiêu thụ tại đảo quốc này đối với hộ gia đình cũng như toàn nền kinh tế
Trang 29Như vậy:
- Để có thể quản lý tổng hợp nguồn nước một cách hiệu quả và hợp lý từ các giải pháp quản lý tài nguyên nước của các nước trên thế giới cho thấy cần có sự tổ chức thực hiện một cách đồng bộ về các mặt: pháp lý, kinh tế, kỹ thuật, điểu tra thống kê và đặc biệt phải nâng cao nhận thức cộng đồng và doanh nghiệp
- Bên cạnh đó, để có thể tìm biện pháp khắc phục tình trạng này đối với nguồn nước trên thế giới, cần phải có những biện pháp kết hợp và yếu tố con người trong đó Trước tiên phải xác định nguồn gây ô nhiễm nguồn nước và đánh giá mức độ ô nhiễm; tiếp đó phải kiểm soát và ngăn ngừa tác động qua lại giữa cả ba nguồn không khí, đất và nước
- Kinh nghiệm cho thấy biện pháp tái sử dụng nguồn nước thải giúp mang lại những kết quả cho việc sử dụng nước Ngoài ra còn có những cách thức giúp giảm thiểu và ngăn chặn tình trạng gây ô nhiễm theo nguyên tắc "Tác nhân gây ô nhiễm phải giải quyết hậu quả cho việc làm đó", buộc những cơ sở, cá nhân bị xác định là nguồn ô nhiễm phải chi trả cho hoạt động giảm thiểu ô nhiễm Cách làm này buộc nguồn gây ô nhiễm gánh chịu chi phí xử lý từ đó khiến họ phải nghĩ đến các sáng kiến giải quyết nguồn ô nhiễm họ gây nên
- Một nguyên tắc tiếp theo nữa là "công khai danh tính" nguồn gây ô nhiễm Biện pháp này có thể ngăn chặn những hành vi gây ô nhiễm
nguồn nước trong tương lai (trích thông tin Tuần lễ Thế giới nước với chủ đề: "Đối phó với những thay đổi toàn cầu: Thách thức về chất lượng nước- Phòng ngừa, Sử dụng khôn ngoan và Giảm thiểu")
Trang 302.2 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU TRONG NƯỚC
2.2.1 Quản lý nguồn nước
Để phục vụ cho việc quản lý tài nguyên nước thống nhất trên cả nước, những năm gần đây, Chính phủ không ngừng ban hành, bổ sung các văn bản pháp luật về Tài nguyên nước
Hiện nay, Luật Tài nguyên nước cũng đưa ra việc lập Ban quản lý lưu vực sông để thống nhất việc quản lý sông giữa các địa phương, tuy nhiên vẫn còn nhiều hạn chế trong việc phối hợp và triển khai thực hiện Nghị định số 149/2004/ND-CP ngày 27/7/2004 của Chính phủ về việc “Quy định việc cấp phép thăm dò, khai thác,
sử dụng tài nguyên nước, xả nước thải vào nguồn nước”
Về mặt nghiên cứu khoa học kỹ thuật, thời gian qua nhà nước ta luôn quan tâm đẩy mạnh các chương trình nghiên cứu giải pháp về kỹ thuật và quản lý nguồn nước mặt của nhiều sông, lưu vực trên tất cả các vùng miền cả nước như:
- Ngày 19 Tháng 03 năm 2010 UBND tỉnh Đồng Nai ra quyết định số
16/2010/QĐ-UBND về việc “Phân vùng môi trường tiếp nhận nước thải và khí thải công nghiệp trên địa bàn tỉnh Đồng Nai” để áp dụng
các tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia về môi trường trên cơ sở xác định và tính toán lưu lượng các nguồn xả nước thải, khí thải công nghiệp
- Năm 2007, trước tình hình ô nhiễm sông Đồng Nai trong thời gian qua, Thủ tướng Chính Phủ phê duyệt "Đề án bảo vệ môi trường lưu vực hệ thống sông Đồng Nai” (Quyết định 187/2007/QĐ-TTg) và thành lập Ủy ban Bảo vệ môi trường lưu vực hệ thống sông Đồng Nai (Quyết định số 157/2008/QĐ-TTg) gồm các tỉnh, thành: Đồng Nai, Bình Dương, Bình Phước, Bà Rịa – Vũng Tàu, Long An, Tây Ninh, Lâm Đồng, Đắc Lắc, Đắc Nông, Ninh Thuận, Bình Thuận, Tp.HCM Trong đó, Đề án bảo vệ môi trường lưu vực sông Đồng Nai trên địa bàn tỉnh Bình Dương giai
Trang 31cơ sở sản xuất gây ô nhiễm; hoàn thiện và nâng cao hệ thống quan trắc
và cơ sở dữ liệu tài nguyên môi trường để thao dõi diễn biến và chất lượng tài nguyên môi trường trên địa bàn tỉnh; tăng tỷ lệ che phủ rừng từ 56,5% (2010) – 65% (2020); hoàn thành các công trình, dự án thoát nước
và xử lý nước thải cho các khu công nghiệp, khu đô thị…(Sở TNMT Đồng Nai)
- Từ 2006, TS Tô Trung Nghĩa, Viện trưởng Viện Quy hoạch Thuỷ lợi đã chủ trì thực hiện đề tài nghiên cứu cấp Bộ ”Nghiên cứu cơ sở khoa học
và giải pháp công nghệ để phát triển bền vững lưu vực sông Hồng” góp
phần giải quyết vấn đề trên (http://rrbo.org.vn)
- Nghiên cứu xây dựng tiêu chuẩn nước thải của một số ngành công nghiệp dựa trên đánh giá độc tính, 2005 Sở Khoa học và Công nghệ TP HCM
- Xây dựng mô hình GIS cho giám sát tự động chất lượng và mực nước của vùng lũ đồng bằng sông Mê Kông, Bộ KHCN
- Đề tài “Quản lý tổng hợp lưu vực và sử dụng hợp lý tài nguyên nước hệ thống sông Đồng Nai”, chủ nhiệm đề tài PGS.TS Đỗ Tiến Lanh Viện Khoa học Thủy lợi miền Nam, Bộ NN&PTNT và ”Nghiên cứu đánh giá tác động của các công trình trên dòng chính và giải pháp quản lý, sử dụng hiệu quả tài nguyên nước mặt lưu vực sông Hương” Chủ nhiệm đề tài PGS.TS Nguyễn Quang Trung Viện Khoa học thủy lợi Việt Nam, Bộ NN&PTNT Đề tài sử dụng 4 mô hình NAM, MIKE BASIN, MIKE 11
và MIKE 21 để đánh giá các tác động của các công trình trên dòng chính sông Hương đến vùng hạ lưu đề xuất các giải pháp sử dụng hiệu quả tài
nguyên nước mặt ( http://kc08.vpct.gov.vn )
- Năm 2004, dự án hợp tác quốc tế xây dựng chương trình “Quản lý tổng hợp lưu vực sông Hương” có thể được xem là một trong những dự án có
Trang 32tầm chiến lược nhất trong việc gìn giữ và bảo vệ dòng sông thơ mộng
này (http://www.capnuochue.com.vn)
2.2.2 Nghiên cứu quản lý nguồn nước trên địa bàn thành phố
Từ những năm 2000 trở lại đây có rất nhiều dự án và đề tài nghiên cứu đề cập đến sông Sài Gòn trên địa bàn thành phố về nhiều vấn đề môi trường theo các hướng tiếp cận khác nhau, điều đó một lần nữa góp phần khẳng định một cách mạnh mẽ tầm quan trọng của con sông này Sau đây là một số nghiên cứu và đề tài có liên quan
2.2.2.1 Phân vùng lãnh thổ phục vụ qui hoạch môi trường
Theo Đề tài Quy hoạch môi trường thành phố Hồ Chí Minh do GS.TS Lâm Minh Triết Làm chủ nhiệm có đề cập đến Phân vùng lãnh thổ phục vụ qui hoạch môi trường, khái niệm mang tính vĩ mô phục vụ quy hoạch tổng thể
Phân vùng là việc phân chia lãnh thổ thành các đơn vị tương đối đồng nhất theo các tiêu chí hoặc các mục tiêu nhất định nào đó nhằm đơn giản hóa việc nghiên cứu, hay quản lý có hiệu quả hơn theo đặc thù riêng của từng đơn vị lãnh thổ trong vùng Hay nói cách khác, phân vùng môi trường là phân vùng sinh thái – kinh tế, nghĩa là kết hợp các yếu tố về sinh thái và khả năng, mục tiêu phát triển kinh tế xã hội trong cùng một không gian Mỗi vùng môi trường có tiềm lực về tài nguyên và năng lực môi trường khác nhau nên có tiềm năng đối với một số hướng phát triển kinh tế, cũng như đòi hỏi các yêu cầu riêng biệt trong quản lý, khai thác và bảo vệ môi trường, hệ sinh thái
Để thực hiện việc phân vùng môi trường, cần căn cứ vào các yếu tố sau:
- Tính liên tục của các yếu tố địa hình
- Đặc điểm môi trường từng vùng gồm các yếu tố địa lý và sinh thái
- Hiện trạng và xu thế biến đổi tài nguyên, chất lượng môi trường
- Hiện trạng sử dụng đất của địa phương
Trang 33- Phân vùng các hệ sinh thái
- Ranh giới hành chính
2.2.2.2 Nghiên cứu xác định tổng tải lượng
Đề tài “Nghiên cứu xác định tổng tải lượng tối đa ngày phục vụ xây dựng hạn mức xả thải trên sông Sài Gòn” của sở Khoa học và Công nghệ do TS Nguyễn Kỳ Phùng và PGS.TS Nguyễn Phước Dân và nhóm nghiên cứu cùng thực hiện vào tháng 6/2009 đã tập trung đánh giá hiện trạng môi trường nước mặt sông Sài Gòn, tính toán và dự báo tải lượng, lưu lượng thải vào sông, xây dựng mô hình tính toán
và dự báo chất lượng nước, xây dựng mô hình tổng hợp xác định tải lượng tối đa cho phép thải ra sông
2.2.2.3 Nghiên cứu phân vùng theo chỉ số chất lượng nước
Đề tài “Nghiên cứu phân vùng chất lượng nước theo các chỉ số chất lượng và đánh giá khả năng sử dụng sử dụng nguồn nước sông, kênh rạch trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh” của PGS.TS Lê Trình-Phân viện Công nghệ mới và Bảo vệ môi trường Báo cáo đưa ra kết quả phân vùng chất nước dựa theo chỉ số chất lượng nước (WQI), đánh giá mức độ phù hợp của các vùng nước đối với từng mục tiêu khác nhau
Ở Việt Nam, đã dựa theo mô hình của Hoa Kỳ và Ấn Độ cải tiến thành những
mô hình phù hợp với đặc điểm chất lượng nước của thành phố Trong tài liệu của GS.TS Lê Trình có đề cập đến mô hình áp dụng cho sông Sài Gòn – Đồng Nai như:
Mô hình WQIB – HCM được cải tiến từ mô hình của Ấn Độ; Mô hình HCM – WQI
và NSF-WQI/HCM và mô hình (HCM-WQI6TS) của TS Tôn Thất Lãng với 6 thông số phù hợp cho trường hợp đánh giá ô nhiễm sông rạch thành phố được cải tiến từ mô hình của Hoa Kỳ
2.2.2.4 Nghiên cứu giải pháp bảo đảm an toàn cấp nước
Báo có tổng hợp đề tài “Nghiên cứu đề xuất các giải pháp tổng thể và khả thi bảo vệ nguồn nước sông Sài Gòn đảm bảo an toàn nước cấp cho thành phố, 2008”
Trang 34do GS.TS Lâm Minh Triết làm chủ nhiệm đề tài với mục tiêu: làm rõ hiện trạng và diễn biến ô nhiễm sông Sài Gòn với các chỉ tiêu đặc trưng ảnh hưởng đến nhà máy nước Tân Hiệp; xác định nguyên nhân gây ô nhiễm đặc biệt là ô nhiễm kim loại nặng và để xuất các giải pháp phục vụ an toàn mục đích cấp nước
2.2.2.5 Các nghiên cứu, báo cáo khác liên quan đến sông Sài Gòn
Chuyên đề “Khu hệ thuỷ sinh vật lưu vực sông Sài Gòn” do Viện Sinh học nhiệt đới thực hiện thuộc đề tài “Xây dựng chương trình và tiến hành quan trắc môi trường lưu vực Sài Gòn – Đồng Nai” năm 2005 do Viện Tài nguyên và Môi trường
là đơn vị chủ trì Chuyên đề sử dụng chỉ số sinh học với thực vật và động vật nổi và động vật đáy làm căn cứ để tính chỉ số đa dạng Shannon – Wienner, qua đó đánh giá
mức độ ô nhiễm của khu vực lấy mẫu
Báo cáo của một nhóm các nhà khoa học thuộc Khoa Môi Trường-Trường đại học Bách Khoa và Khoa Kỹ thuật đô thị - Trường Đại học Tokyo “Đánh giá ô nhiễm đặc thù trên sông Sài Gòn và đề xuất các giải pháp khai thác sử dụng nước hiệu quả” Báo cáo cho thấy diễn biến chất lượng nước ngày càng có xu hướng xấu
đi với các chỉ tiêu Mn, Coliform tăng cao; đề tài đánh giá nguyên nhân ảnh hưởng đến chất lượng nước và đề xuất giải pháp cải thiện tình hình trên
Báo cáo “Tầm quan trọng của sông Sài Gòn trong phát triển bền vững kinh tế -
xã hội của các tỉnh trên lưu vực sông” của GS.TS Lâm Minh Triết –Viện nước và Công nghệ môi trường và báo cáo “Các giải pháp cấp bách bảo vệ chất lượng nước sông Sài Gòn“ do Chi cục Bảo vệ môi trường – Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố Hồ Chí Minh thực hiện vào tháng 3/2008 đã đánh giá chi tiết về chất lượng nước sông Sài Gòn, xác định nguồn gây ô nhiễm và các giải pháp phục vụ công tác quản lý
Kết luận: Qua các đề tài, tài liệu nghiên cứu trong nước về vấn đề bảo vệ nguồn
nước sông Sài Gòn cho thấy các nghiên cứu đề cập chủ yếu đến tình trạng suy thoái chất lượng nước, các nguồn gây ô nhiễm sông Sài Gòn, xây dựng các mô hình tính
Trang 35toán tổng tải lượng của sông, qua đó đề xuất các giải pháp quản lý trong ngắn hạn
và dài hạn
2.3 PHÂN LOẠI CHẤT LƯỢNG NƯỚC MẶT
2.3.1 Tiêu chí phân loại chất lượng nước mặt của Mỹ
Để phục vụ cho việc quản lý và bảo vệ nguồn nước, Mỹ đã phân loại chất lượng nước thành 6 loại theo mục đích sử dụng và chỉ tiêu quan trắc như bảng dưới đây:
Bảng 2.2 Tiêu chuẩn nước mặt (sông/hồ) của Mỹ
Loại Mục đích sử dụng nước
Chỉ tiêu
pH BOD mg/l
TSS mg/l
DO mg/l
Coliform MNP/100ml
AA
Nước cấp loại 1, bảo tồn môi
trường tự nhiên và dùng cho
các nhu cầu sử dụng còn lại
8.5 ≤ 1 ≤ 25 ≥ 7.5 ≤ 50
6.5-B
Nước cấp loại 3, nguồn nước
dự trù cho loại 2 và dùng cho
mục đích loại C-E
8.5 ≤ 3 ≤ 25 ≥ 5 ≤ 5.000
6.5-C Nguồn nước dự trù cho loại 3 và nước thải công nghiệp loại 1 6.5-8.5 ≤ 5 ≤ 50 ≥ 5
-D Nước thải công nghiệp loại 2,
nước thải nông nghiệp
Trang 36 Điểm lấy mẫu cho nông nghiệp, pH sẽ dao động trong khoảng 6.0 – 7.5
và DO ≥ 5 mg/l
Nước cấp loại 1: Nước được làm sạch bằng phương pháp xử lý đơn giản
Nước cấp loại 2: Nước được làm sạch bằng phương pháp xử lý đặc trưng
Nước cấp loại 3: Nước được bằng phương pháp phức tạp hơn
Nước thải công nghiệp loại 1, loại 2 và loại 3 sẽ tuỳ theo ngành nghề mức độ nguy hại cho môi trường mà có các phương pháp xử lý phù hợp
2.3.2 Tiêu chí phân loại chất lượng nước mặt Thái Lan
Để phục vụ cho việc quản lý và bảo vệ nguồn nước, Thái Lan đã phân loại chất lượng nước thành 5 loại theo các mục tiêu và điều kiện sử dụng như bảng dưới đây:
Bảng 2.3 Tiêu chí phân loại chất lượng nước mặt tại Thái Lan
Phân
loại Theo mục tiêu, điều kiện và lợi ích sử dụng
Loại 1 (1) Bảo tồn, không cần thiết phải qua quá trình xử lý nước, để quá trình
tự làm sạch nước diễn ra một cách tự nhiên
(2) Bảo tồn hệ sinh thái để các sinh vật có thể sinh sản tự nhiên
Loại 2 (1) Tiêu thụ/sinh hoạt với quá trình xử lý nước đơn giản;
(2) Bảo tồn thuỷ sinh;
(3) Thuỷ sản;
(4) Vui chơi giải trí
Loại 3 (1) Tiêu thụ/sinh hoạt, nhưng đi phải qua một quá trình xử lý nước
Trang 372.3.3 Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước mặt
Tại Việt Nam, Quy chuẩn chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước mặt số 08:2008/BTNMT phục vụ cho các mục đích sử dụng nước khác nhau (phụ lục1):
- A1: Sử dụng tốt cho mục đích cấp nước sinh hoạt và các mục đích khác như loại A2, B1 và B2
- A2: Dùng cho mục đích cấp nước sinh hoạt nhưng phải áp dụng công nghệ xử lý phù hợp; bảo tồn động thực vật thủy sinh, hoặc các mục đích
sử dụng như loại B1 và B2
- B1: Dùng cho mục đích tưới tiêu thủy lợi hoặc các mục đích sử dụng khác có yêu cầu chất lượng nước tương tự hoặc các mục đích sử dụng như loại B2
- B2: Giao thông thuỷ và các mục đích khác với yêu cầu nước chất lượng thấp
Kết luận: Như vậy, so với Mỹ và Thái Lan, quy định chất lượng nước mặt của Việt Nam có điểm chung là chia ra từng loại ứng với từng mục đích sử dụng khác nhau Tuy nhiên, Mỹ và Thái Lan chia chi tiết thành nhiều loại hơn Về các giá trị cho phép, quy định Việt Nam đa phần nghiêm ngặt hơn so với Mỹ và Thái
2.4 TIÊU CHUẨN NƯỚC THẢI CÔNG NGHIỆP
Tiêu chuẩn nước thải công nghiệp Việt Nam hiện hành là Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về nước thải công nghiệp QCVN 24:2009/BTNMT được ban hành theo Thông tư số 25/2009/TT-BTNMT ngày 16/11/2009 của Bộ Tài nguyên và Môi trường Tiêu chuẩn này thay thế cho tiêu chuẩn TCVN 5945:2005 Tuy nhiên so sánh về mặt giá trị giới hạn cho phép đối với nước thải công nghiệp ở cột A và B giữa hai văn bản này thì có sự thay đổi không đáng kể
Trang 38So sánh tiêu chuẩn nước thải công nghiệp của Việt Nam với tiêu chuẩn nước
thải công nghiệp của các nước để có cái nhìn tổng quan về tiêu chuẩn cấp phép
nước thải công nghiệp
Bảng 2.4 So sánh tiêu chuẩn nước thải công nghiệp
Quốc gia
Việt Nam (QCVN 24:
2009/BTNMT)
Ấn
Độ
Thái Lan
Nhật
Trang 39So với tiêu chuẩn nước thải công nghiệp của các nước Thái, Ấn Độ và Nhật, tiêu chuẩn nước thải của Việt Nam cũng nằm ở mức nghiêm ngặt, tuy nhiên trong
đó có nhiều chỉ tiêu có giá trị cho phép tương đồng với các nước nói trên
- So với Thái Lan: Hầu hết nhóm kim loại nặng theo tiêu chuẩn của Thái đều có biên độ cho phép rất lớn, giá trị giới hạn của QCVN 24: 2009/BTNMT đều thấp hơn biên độ này nên tính nghiêm ngặt cao hơn
- So với Ấn Độ: Hầu hết giá trị tương ứng với loại A và B theo QCVN 24: 2009/BTNMT cũng đều thấp hơn rất nhiều so với tiêu chuẩn của Ấn Độ,
có nghĩa giới hạn cho phép xả thải của nước ta nghiêm ngặt hơn
- So với Nhật: Tiêu chuẩn nước thải công nghiệp của Nhật cũng rất nghiêm ngặt, đa phần các giá trị của Nhật tương đồng với giới hạn cho phép của Việt Nam, ngoại trừ chỉ tiêu như BOD, Cu, Fe, Mn, Cd có giá trị nhỏ hơn hoặc bằng với loại A và TSS, Pb, Ni có giá trị nhỏ hơn loại B theo QCVN 24: 2009/BTNMT
Trang 403 Chương 3
TÌNH HÌNH XẢ THẢI, CẤP PHÉP XẢ THẢI
VÀ CHẤT LƯỢNG NƯỚC SÔNG SÀI GÒN
TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Sông Sài Gòn dài 256 km, diện tích lưu vực trên 5.000 km² Đoạn đầu nguồn
có hồ thủy lợi Dầu Tiếng, thuộc tỉnh Tây Ninh, chảy qua Bình Dương và đổ vào sông Đồng Nai ở mũi Đèn Đỏ huyện Nhà Bè nhập chung thành sông Nhà Bè Ra tới mũi Nhà Bè lại tách làm hai nhánh là Lòng Tàu và Soài Rạp chảy ra biển Đông
Hình 3.1 Toàn cảnh lưu vực sông Sài Gòn và các lưu vực lân cận