1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thiết kế quy trình tổng hợp phenobarbita

38 303 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 38
Dung lượng 362,24 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Luận văn, khóa luận tốt nghiệp, báo cáo là sản phẩm kiến thức, là công trình khoa học đầu tay của sinh viên, đúc kết những kiến thức của cả quá trình nghiên cứu và học tập một chuyên đề, chuyên ngành cụ thể. Tổng hợp các đồ án, khóa luận, tiểu luận, chuyên đề và luận văn tốt nghiệp đại học về các chuyên ngành: Kinh tế, Tài Chính Ngân Hàng, Công nghệ thông tin, Khoa học kỹ thuật, Khoa học xã hội, Y dược, Nông Lâm Ngữ... dành cho sinh viên tham khảo. Kho đề tài hay và mới lạ giúp sinh viên chuyên ngành định hướng và lựa chọn cho mình một đề tài phù hợp, thực hiện viết báo cáo luận văn và bảo vệ thành công đồ án của mình.

Trang 1

về ngành kỹ thuật húa học cũng như chuyờn ngành húa dược & húa chấtbảo vệ thực vật, giỳp chỳng em bước đầu tiếp xỳc với cỏch học tậpchuyờn sõu hơn.

Đề tài của chỳng em là tỡm hiểu quy trỡnh tổng hợp phenolbarbital Phenobarbital cú đặc tớnh là thuụ́c ngủ, thuốc an thần và thụi miờn rấtnổi tiếng vào năm 1912, nhưng khụng ai biết nú cũng là một chống cogiật cú hiệu quả cho đến khi Alfred Hauptmann nhận ra khi sử dụng chocỏc bệnh nhõn động kinh của mỡnh.Do tỏc dụng trờn vào thời đúPhenobarbital được cung cấp rộng rói và đợc sản xuất trên qui mô côngnghiệp

Tuy ngày nay do cỏc tỏc dụng phụ ,Phenobarbital khụng đượckhuyến khớch là thuốc ưu tiờn sử dụng,nhưng đụi khi nú vẫn được sửdụng như một thuốc giảm đau hay thuốc ngủ ở bệnh nhõn lo lắng hoặckớch động hoặc những người mẫn cảm với benzodiazepin , và cỏc loạithuốc an thần mới hơn

Khụng thể khụng núi rằng Phenobarbital cú ý nghĩa to lớn trong yhọc và trong ngành cụng nghiệp dược với vai trũ là thuốc cú hiệu quảrộng rói chống co giật đầu tiờn và lõu đời nhất cũn được sử dụng đếnngày nay

Trang 2

phản ứng hóa học xảy ra giữa những thành phần đó.

Sẽ phải tốn rất nhiều thời gian để liệt kê tất cả các sản phẩm chịu ảnhhưởng bởi các kỹ sư hóa học, nhưng biết về những ngành công nghiệp sửdụng các kỹ sư hóa học có thể giúp bạn hiểu được phạm vi công việc củahọ

Người kĩ sư công nghệ hoá có thể làm trong rất nhiều lĩnh vực khácnhau như: nghiên cứu cơ bản và ứng dụng các quá trình hoá học, phát triểnsản phẩm, thiết kế, mô phỏng, hiệu chỉnh các quy trình công nghệ và thiết

bị, thiết kế, mô phỏng, điều hành hoạt động của các nhà máy; công tác ởcác cơ quan chính phủ, nghiên cứu và giảng dạy tại các trường Đại học,các viện nghiên cứu hoặc có thể tham gia vào các lĩnh vực thương mạinhư: kinh doanh, quản lý, marketing, cố vấn, bán hàng…

Trong những ngành công nghiệp,kỹ sư hóa chất dựa vào kiến thức vềtoán học và khoa học, đặc biệt là hóa học, để vượt qua vấn đề kỹ thuật antoàn và kinh tế Và, tất nhiên, họ biêủ diễn và áp dụng các kiến thức đểgiải quyết bất kỳ những thách thức kỹ thuật mà họ gặp phải Đừng mắcphải sai lầm khi nghĩ rằng kỹ sư hóa học làm mọi việc, mặc dù chuyênmôn của họ cũng được áp dụng trong lĩnh vực pháp luật,giáo dục, xuất

Trang 3

bản, tài chính, và y học, cũng như nhiều lĩnh vực khác có yêu cầu đào tạo

kỹ thuật

Ví dụ: các kỹ sư hóa học cải thiện kỹ thuật chế biến thực phẩm, vàphương pháp sản xuất phân bón , để tăng số lượng và chất lượng của thựcphẩm có sẵn Họ cũng tạo nên các sợi tổng hợp làm cho quần áo củachúng ta thoải mái hơn và có khả năng chịu nước, họ phát triển phươngpháp sản xuất đại trà thuốc, làm cho chúng có giá cả phải chăng hơn, họtăng độ an toàn và hiệu quả các của các phương pháp tinh chế sản phẩmdầu mỏ, năng lượng và các nguồn hóa chất, làm tăng sản xuất và hiệu quảchi phí hơn Họ cũng phát triển các giải pháp cho các vấn đề môi trường,chẳng hạn như khắc phục và kiểm soát ô nhiễm,họ phát triển hóa chất,thứ thường được sử dụng để làm tất cả mọi thứ mà ta nhìn thấy xungquanh mình

Kỹ sư hóa học gặp phải những thách thức tương tự mà các chuyên giakhác phải đối mặt,và họ đáp ứng được những thách thức áp dụng kiến thức

kỹ thuật, kỹ năng giao tiếp và làm việc theo nhóm,thực hành kết hợp vànhận thức các thông tin mới nhất hiện có

Lợi ích từ ngành kỹ thuật háo học bao gồm lợi ích kinh tế, sự côngnhận trong ngành công việc và xã hội, và niềm vui có được từ làm việc vớikhoa học tự nhiên để đáp ứng nhu cầu của xã hội

Định hướng :

Theo Sở Lao động Hoa Kỳ, Phòng Lao độngThống kê, kỹ sư hóa họcđược dự kiến sẽ có việc làm tăng trưởng 8 phần trăm trong dự đoán mườinăm từ 2006 đến 2016 Đây là khá nhanh cho tất cả các nghề Mặc dù việclàm tổng thể về ngành công nghiệp hóa học sản xuất dự kiến sẽ giảm, cáccông ty hóa chất sẽ tiếp tục nghiên cứu và phát triển mới hóa chất và hiệuquả quy trình để tăng sản lượng hiện có nhiều hơn nữa

Trong số các ngành công nghiệp sản xuất, dược phẩm có thể cung

Trang 4

tốt nhất cơ hội cho người tìm việc Tuy nhiên, hầu hết tăng trưởng việclàm cho các kỹ sư hóa học là để cung cấp cho ngành như nghiên cứu khoahọc, và dịch vụ kỹ thuật, đặc biệt đối với nghiên cứu về năng lượng vàphát triển lĩnh vực công nghệ sinh học, công nghệ nano,năng lượng sinhhọc và môi trường

1.2 CHUYÊN NGÀNH HÓA DƯỢC & HÓA CHẤT BẢO VỆ

THỰC VẬT:[2]

Hóa dược theo định nghĩa của IUPAC là một ngành khoa học dựa trênnền tảng hóa học để nghiên cứu các vấn đề của các ngành khoa học sinhhọc, y học và dược học Hóa dược bao gồm việc khám phá, phát minh,thiết kế, xác định và tổng hợp các chất có tác dụng hoạt tính sinh học,nghiên cứu sự chuyển hóa, giải thích cơ chế tác động của chúng ở mức độ

phân tử, xây dựng các mối quan hệ giữa cấu trúc và tác dụng sinh học haytác dụng dược lý (gọi là SAR) và mối quan hệ định lượng giữa cấu trúc vàtác dụng sinh học hay tác dụng dược lý (gọi là QSAR)

Vai trò của hoá dược là nghiên cứu cấu trúc phân tử của hợp chất và cảithiện tính chất chữa bệnh của hợp chất đó Đây là sự giao thoa của hoá học(khoa học về vật chất) và dược học (khoa học về hoạt tính của thuốc), liênkết chặt chẽ giữa tính chất dược lý và cấu trúc hóa học Hầu hết các loạithuốc hữu cơ đều được cô lập từ thiên nhiên, một trong những nhiệm vụquan trọng cơ bản của lĩnh vực hóa dược là làm thay đổi cấu trúc hoá họccủa hợp chất theo hướng mong muốn, có thể bằng tổng hợp hữu cơ Cácnghiên cứu về hóa dược bắt đầu ngay sau khi quá trình tổng hợp hữu cơđược hoàn tất : nghĩa là tiến hành xong phần tổng hợp các phân tử mongmuốn, trong khi nhiệm vụ của hóa dược là khảo sát “các” hoạt tính của cácphân tử này Khi nói đến việc khảo sát các phân tử thuốc thì người ta luôn

Trang 5

luôn dùng ở số nhiều, luôn luôn là “các hoạt tính” chứ không bao giờ dừnglại ở số ít “một hoạt tính” nào đó do hóa dược có tính đa ngành rất lớn.Bốn yếu tố quan trọng trong ngành hóa dược là dược lực học, dược độnghọc (PK-ADME), độc tính và tính chất lý-hoá học

Hoá dược với đặc điểm liên ngành của nó đã làm cầu nối kết hợp hóahữu cơ, hoá phân tích, hóa học phức chất, vật lý với sinh lý học và yhọc Là một ngành khoa học có tính cơ bản rất cao trong việc phát hiện,nghiên cứu bản chất của thuốc và các nghiên cứu cơ bản đã và đang pháttriển rất mạnh trong thập kỷ qua Ngày nay với sự hợp tác của các nhàkhoa học trên nhiều lĩnh vực đa và đang tiến hành nghiên cứu và tìm cácloại hợp chất mới có khả năng chống ung thư, HIV-AIDS, virus,… và mở

ra những hi vọng cho các bệnh nhân mắc bệnh hiểm nghèo

-Thực trạng ngành công nghệ hoá dược :

Phải thừa nhận một thực tế là xét về quy mô, ngành công nghiệp hoá dượcnước ta còn tương đối nhỏ bé và nghèo nàn về chủng loại sản phẩm, chưasản xuất được các nguyên liệu chủ yếu nhằm đáp ứng nhu cầu bào chế cácloại thuốc Theo số liệu của ngành dược và Bộ Y tế thì các công ty dượcViệt Nam chủ yếu thực hiện bào chế gia công, còn hầu như các nguyênliệu hoá dược đều phải nhập khẩu từ 80-85% Đội ngũ nghiên cứu hoádược ngày càng mai một và bây giờ mới bắt đầu đào tạo lại.Đây thực sự lànhững thử thách lớn đối với ngành hoá dược Việt nam cả về nguồn nhânlực cũng như hướng nghiên cứu và phát triển, quy hoạch nguồn nguyênliệu, cơ sở vật chất kỹ thuật nhằm phục vụ cho ngành khoa học trọng điểmnày

Trong khi đó, ngành hoá dược trên thế giới đã có lịch sử phát triển lâudài,đạt được những bước tiến dài và nhiều thành tựu to lớn.Trong nhữngnăm gần đây,ngành công nghệ hóa dược đã trở thành ngành khoa học

Trang 6

trọng điểm ở nhiều quốc gia như Mỹ,Anh,Nhật Bản và nhiều nước ở châu

Âu khác,đóng góp to lớn vào nền kinh tế quốc dân và quan trọng hơn cả làngày một nâng cao việc chăm sóc sức khỏe đời sông con người

-Định hướng phát triển:

Theo quy hoạch phát triển ngành công nghiệp hoá dược nước ta, giaiđoạn từ nay đến năm 2015 sẽ tập trung đầu tư những dự án điều tra tổngthể nguồn nguyên liệu tự nhiên; nhà máy sản xuất hoá dược vô cơ và tádược thông thường; nhà máy chiết xuất hoá dược có nguồn gốc thiên nhiên

và bán tổng hợp; nhà máy liên doanh tá dược cao cấp; nhà máy sản xuấtthuốc kháng sinh (giai đoạn 1); nhà máy sản xuất sorbitol…

Giai đoạn 2016-2025 sẽ tập trung vào các loại thuốc kháng sinh;vitamin; thuốc hạ nhiệt giảm đau; thuốc tim mạch, tiểu đường, chống lao,chống sốt rét, mất trí nhớ, điều chỉnh thể trọng; thuốc phòng dịch… Tậptrung vào các dự án đầu tư như mở rộng công suất nhà máy sản xuấtsorbitol lên 20.000 tấn/năm; xây dựng nhà máy sản xuất kháng sinh giaiđoạn 2; đầu tư xây dựng nhà máy sản xuất một số thuốc giảm sốt, giảmđau chống viêm thông dụng như paracetamol, aspirin…; nhà máy sản xuấtvitamin C công suất 1.000 tấn/năm

Phần II THIẾT KẾ QUY TRÌNH TỔNG HỢP PHENOBARBITAL :

2.1 Tổng quan về phenobarbital

2.1.1 Tên:

-Tên chung: phenobarbital

-Tên riêng: Luminal

Eskabarb

Solfoton

Talpheno

Trang 7

-Tên khoa học: 5-etyl-5-phenylpyrimidine-2, 4,6 (1 H, 3 H, 5

-pH: 5,0-6,0 (bão hòa dung dịch)

-Nhập P: 1,47 (thực nghiệm xác định giá trị) 1,36 (tính toán giá trị)

-ion hóa liên tục pK a: 7.4

-Điểm sôi: 138-140 (12 torr) 138-140 (12 Torr)

-Mật độ : 1.352 g/cm3 1,352 g/cm3

2.1.3.Tính chất hóa học:

Trang 8

Phenobarbital tan trong NaOH và các dung dịch kiềm khác tạo muối tan

Dược lý và cơ chế tác dụng: Phenobarbital là thuốc chống co giật thuộc

nhóm các barbiturat Phenobarbital và các barbiturat khác có tác dụng tăng

cường và/ hoặc bắt chước tác dụng ức chế synap của acid gama

aminobutyric (GABA) ở não; điều này cho thấy chúng có những điểm tương đồng với các benzodiazepin Tuy nhiên, các barbiturat khác với các benzodiazepin ở tính chọn lọc kém hơn; với các barbiturat, ngoài tác dụng

ức chế chọn lọc lên synap, chỉ cần tăng liều nhẹ cũng gây ức chế không chọn lọc Phenobarbital và các barbiturat khác làm giảm sử dụng oxygen ởnão trong lúc gây mê, có lẽ chủ yếu thông qua việc ức chế hoạt động của neuron Các tác dụng này là cơ sở của việc sử dụng các barbiturat để đề phòng nhồi máu não khi não bị thiếu máu cục bộ và khi tổn thương sọ não

Các barbiturat ức chế có hồi phục hoạt động của tất cả các mô Tuy vậy, với cùng một nồng độ trong huyết tương hay với các liều tương

đương, không phải tất cả các mô đều bị ảnh hưởng như nhau Hệ thần kinhtrung ương nhạy cảm với các barbiturat hơn rất nhiều; liều thuốc gây ngủ

và an thần chỉ có tác dụng không đáng kể lên cơ xương, cơ tim và cơ trơn Phenobarbital ức chế hệ thần kinh trung ương ở mọi mức độ, từ an thần đến gây mê Thuốc chỉ ức chế tạm thời các đáp ứng đơn synap ở hệ thần kinh trung ương, nhưng sự hồi phục của synap bị chậm lại và có sự giảm

Trang 9

trở kháng sau synap ở một số synap, các đáp ứng đa synap bị ảnh hưởng nhiều hơn; điều này giải thích vì sao tác dụng chống co giật và tác dụng ứcchế của thuốc lại kéo dài

Phenobarbital chủ yếu được dùng để chống co giật, tuy vậy thuốc vẫn còn phần nào được dùng để điều trị hội chứng cai rượu Tác dụng chống

co giật của thuốc tương đối không chọn lọc; thuốc hạn chế cơn động kinh lan tỏa và làm tăng ngưỡng động kinh Thuốc chủ yếu được chỉ định trong cơn động kinh toàn bộ (cơn lớn), và động kinh cục bộ (cục bộ vận động hoặc cảm giác)

Phenobarbital làm giảm nồng độ bilirubin huyết thanh ở trẻ sơ sinh, ở người bệnh tăng bilirubin huyết không liên hợp, không tan huyết bẩm sinh

và ở người bệnh ứ mật trong gan, có thể do cảm ứng glucuronyl

transferase, một enzym liên hợp bilirubin

Thuốc uống được hấp thu chậm ở ống tiêu hóa (80%), thuốc gắn vào protein huyết tương (ở trẻ nhỏ 60%, ở người lớn 50%) và được phân bố khắp các mô, nhất là ở não, do thuốc dễ tan trong mỡ Thể tích phân bố là 0,5 - 1 lít/kg Nồng độ đỉnh trong huyết tương đạt sau khi uống 8 - 12 giờ

ở người lớn, sau 4 giờ ở trẻ em và nồng độ đỉnh trong não đạt sau 10 - 15 giờ Nửa đời của thuốc trong huyết tương dài (2 - 6 ngày) và thay đổi theo tuổi: Trẻ em từ 1 đến 10 tuổi đào thải phenobarbital nhanh hơn nhiều so với người lớn (40 - 50 giờ ở trẻ em; 84 - 160 giờ ở người lớn) còn ở người bệnh bị suy gan hoặc suy thận thì dài hơn rất nhiều Phải sau 15 - 21 ngày mới đạt trạng thái cân bằng động của thuốc Thuốc đặt hậu môn hầu như được hấp thu hoàn toàn ở ruột già

Nếu tiêm tĩnh mạch, tác dụng của thuốc xuất hiện trong vòng 5 phút và đạtmức tối đa trong vòng 30 phút Tiêm bắp thịt, tác dụng xuất hiện chậm

Trang 10

hơn một chút Dùng theo đường tiêm, phenobarbital có tác dụng kéo dài từ

4 đến

6 giờ

Phenobarbital được hydroxyl hóa và liên hợp hóa ở gan Thuốc đào thải chủ yếu theo nước tiểu dưới dạng các chất chuyển hóa không có hoạt tính (70%) và dạng thuốc nguyên vẹn (30%); một phần nhỏ vào mật và đào thải theo phân Phenobarbital là chất cảm ứng cytochrom P450 mạnh nên cóảnh hưởng đến chuyển hóa của các thuốc được chuyển hóa ở gan thông qua cytochrom P450

Phòng co giật do sốt cao tái phát ở trẻ nhỏ

Vàng da sơ sinh, và người bệnh mắc chứng tăng bilirubin huyết không liên hợp bẩm sinh, không tan huyết bẩm sinh và ở người bệnh ứ mật mạn tính trong gan

Chống chỉ định

Người bệnh quá mẫn với phenobarbital

Người bệnh suy hô hấp nặng, có khó thở hoặc tắc nghẽn

Người bệnh rối loạn chuyển hóa porphyrin

Suy gan nặng

Thận trọng

Người bệnh có tiền sử nghiện ma túy, nghiện rượu Người bệnh suy thận Người bệnh cao tuổi

Trang 11

Không được ngừng thuốc đột ngột ở người bệnh mắc động kinh Dùng phenobarbital lâu ngày có thể gây lệ thuộc thuốc

Người mang thai và người cho con bú (xem phần dưới)

Người bệnh bị trầm cảm

-Thời kỳ mang thai

Phenobarbital qua nhau thai Các bà mẹ được điều trị bằng

phenobarbital có nguy cơ đẻ con bị dị tật bẩm sinh cao gấp 2 - 3 lần

so với bình thường Dùng phenobarbital ở người mang thai để điều trị động kinh có nguy cơ gây nhiều dị tật bẩm sinh cho thai nhi (xuấthuyết lúc ra đời, phụ thuộc thuốc) Nguy cơ dị tật bẩm sinh càng cao, nếu thuốc vẫn được dùng mà không cắt được động kinh Trong trường hợp này, cân nhắc giữa lợi và hại, vẫn phải cho tiếp tục dùngthuốc nhưng với liều thấp nhất đến mức có thể để kiểm soát các cơn động kinh Nếu người mẹ không bị động kinh, nhưng có dùng

phenobarbital trong thời kỳ mang thai, nguy cơ về dị tật ít thấy, nhưng tai biến xuất huyết và lệ thuộc thuốc ở trẻ sơ sinh còn là vấn

đề đáng lo ngại Chảy máu ở trẻ sơ sinh cũng giống như chảy máu

do bị thiếu hụt vitamin K và điều trị khỏi bằng vitamin K Ðể đề phòng chảy máu liên quan đến thiếu hụt vitamin K, cần bổ sung vitamin K cho mẹ (tiêm 10 - 20 mg/ngày) trong tháng cuối cùng củathai kỳ và cho trẻ sơ sinh (tiêm 1 - 4 mg/ngày trong 1 tuần) Ở trẻ sơsinh có mẹ đã dùng barbiturat trong suốt ba tháng cuối thai kỳ có thể

có triệu chứng cai thuốc Cần theo dõi chặt chẽ các dấu hiệu suy hô hấp ở trẻ sơ sinh mà mẹ dùng phenobarbital lúc chuyển dạ và nếu cần thì phải điều trị ngay ngộ độc thuốc phenobacbital quá liều Trẻ

đẻ thiếu tháng rất nhạy cảm với tác dụng ức chế của phenobarbital, nên phải rất thận trọng khi dùng thuốc trong trường hợp dự báo đẻ non

-Thời kỳ cho con bú

Trang 12

Phenobarbital được bài tiết vào sữa mẹ Do sự đào thải thuốc ở trẻ

bú mẹ chậm hơn, nên thuốc có thể tích tụ đến mức nồng độ thuốc trong máu trẻ có thể cao hơn ở người mẹ và gây an thần cho trẻ Phải thật thận trọng khi bắt buộc phải dùng phenobarbital cho ngườicho con bú Phải dặn các bà mẹ cho con bú mà uống phenobarbital, nhất là với liều cao, chú ý theo dõi con mình xem có bị tác dụng ức chế của thuốc hay không Cũng nên theo dõi nồng độ phenobarbital

ở trẻ để tránh mức gây độc

Tác dụng không mong muốn (ADR)

Thường gặp, ADR >1/100

Toàn thân: Buồn ngủ

Máu: Có hồng cầu khổng lồ trong máu ngoại vi

Thần kinh: Rung giật nhãn cầu, mất điều hòa động tác, lo hãi, bị kích thích, lú lẫn (ở người bệnh cao tuổi)

Da: Nổi mẩn do dị ứng (hay gặp ở người bệnh trẻ tuổi)

Ít gặp, 1/1000 < ADR < 1/100

Cơ - xương: Còi xương, nhuyễn xương, loạn dưỡng đau cơ (gặp ở trẻ em khoảng 1 năm sau khi điều trị), đau khớp

Chuyển hóa: Rối loạn chuyển hóa porphyrin

Da: Hội chứng Lyell (có thể tử vong)

Nếu tiêm phenobarbital vào tĩnh mạch thì phải tiêm thật chậm (dưới

60 mg/phút) Tiêm quá nhanh có thể gây ức chế hô hấp Cần dành đường tiêm tĩnh mạch cho cấp cứu trạng thái động kinh cấp, chỉ nêntiến hành tại bệnh viện và theo dõi thật chặt chẽ

Trang 13

Khi có bất cứ tác dụng phụ nào phải ngừng dùng phenobarbital ngay

Do tác dụng cảm ứng của phenobarbital lên cytochrom P450, nồng độtrong huyết tương của vitamin D2 và D3 (và cả calci), ở người bệnh được điều trị chống co giật liều cao, dài ngày, có thể bị giảm thấp Người bệnh điều trị bằng phenobarbital phải được bổ sung vitamin

D (ở trẻ em 1200 - 2000 đvqt mỗi ngày) và acid folic để phòng bệnhcòi xương và nhuyễn xương do dùng thuốc chống co giật

Liều lượng và cách dùng

Cách dùng

Phenobarbital có thể uống, tiêm dưới da, tiêm bắp sâu và tiêm tĩnh mạch chậm Ðường tiêm dưới da gây kích ứng mô tại chỗ, không được khuyến cáo Tiêm tĩnh mạch được dành cho điều trị cấp cứu các trạng thái co giật cấp, tuy vậy tác dụng của thuốc cũng bị hạn chế trong các trường hợp này (thuốc được lựa chọn trong trạng thái động kinh là diazepam hoặc lorazepam) Khi tiêm tĩnh mạch, người bệnh phải nằm bệnh viện và được theo dõi chặt chẽ Thuốc phải tiêm chậm vào tĩnh mạch, tốc độ không quá 60 mg/phút

Ðể tiêm dưới da hoặc tiêm bắp, 120 mg bột natri phenobarbital khan được hòa tan trong 1 ml nước cất pha tiêm vô khuẩn Ðể tiêm tĩnh mạch, 120 mg bột natri phenobarbital khan cần được hòa tan trong 3 ml nước cất pha tiêm vô khuẩn

Nếu đã dùng dài ngày, phải giảm liều phenobarbital dần dần để tránh các triệu chứng cai thuốc khi người bệnh đã nghiện Khi chuyển sang dùng thuốc chống co giật khác, phải giảm liều

phenobarbital dần dần trong khoảng 1 tuần, đồng thời bắt đầu dùng thuốc thay thế với liều thấp

Liều lượng

Liều lượng tùy thuộc từng người bệnh Nồng độ phenobarbital huyết

Trang 14

tương 10 microgam/ml gây an thần và nồng độ 40 microgam/ml gâyngủ ở đa số người bệnh Nồng độ phenobarbital huyết tương lớn hơn 50 microgam/ml có thể gây hôn mê và nồng độ vượt quá 80 microgam/ml có khả năng gây tử vong Tổng liều dùng hàng ngày không được vượt quá 600 mg

Ðường uống (tính theo phenobarbital base):

Liều thông thường người lớn:

Chống co giật: 60 - 250 mg mỗi ngày, uống 1 lần hoặc chia thành liều nhỏ

An thần: Ban ngày 30 - 120 mg, chia làm 2 hoặc 3 lần mỗi ngày Gây ngủ: 100 - 320 mg, uống lúc đi ngủ Không được dùng quá 2 tuần điều trị mất ngủ

Chống tăng bilirubin huyết: 30 - 60 mg, 3 lần mỗi ngày

Liều thông thường trẻ em:

Chống co giật: 1 - 6 mg/kg/ngày, uống 1 lần hoặc chia nhỏ liều

An thần: Ban ngày 2 mg/kg, 3 lần mỗi ngày

Trước khi phẫu thuật: 1 - 3 mg/kg

Chống tăng bilirubin - huyết: Sơ sinh: 5 - 10 mg/kg/ngày, trong vài ngày đầu khi mới sinh

Trẻ em tới 12 tuổi: 1 - 4 mg/kg, 3 lần mỗi ngày

Ðường tiêm: (tiêm bắp sâu hoặc tiêm tĩnh mạch)

Liều thông thường người lớn:

Chống co giật: 100 - 320 mg, lặp lại nếu cần cho tới tổng liều 600 mg/24 giờ

Trạng thái động kinh: Tiêm tĩnh mạch 10 - 20 mg/kg, lặp lại nếu cần

An thần: Ban ngày, 30 - 120 mg/ngày, chia làm 2 hoặc 3 lần

Trước khi phẫu thuật: 130 - 200 mg, 60 đến 90 phút trước khi phẫu thuật

Trang 15

Gây ngủ: 100 - 325 mg

Liều thông thường trẻ em:

Chống co giật: Liều ban đầu: 10 - 20 mg/kg, tiêm 1 lần (liều tấn công hoặc liều nạp)

Liều duy trì: 1 - 6 mg/kg/ngày

Trạng thái động kinh: Tiêm tĩnh mạch chậm (10 - 15 phút) 15 - 20 mg/kg

An thần: 1 - 3 mg/kg, 60 - 90 phút trước khi phẫu thuật

Chống tăng bilirubin huyết: 5 - 10 mg/kg/ngày, trong vài ngày đầu sau khi sinh

Ghi chú: Người bệnh cao tuổi và suy nhược có thể bị kích thích, lú lẫn hoặc trầm cảm với liều thông thường Ở những người bệnh này

có thể phải giảm liều

-Phenobarbital có thể làm mất tác dụng của thuốc tránh thai theo đường uống, khi được dùng đồng thời, do làm tăng chuyển hóa ở gan Cần áp dụng biện pháp tránh thai khác; nên chọn biện pháp cơ học

-Phenobarbital và doxycyclin dùng đồng thời: Nửa đời của

doxycyclin ngắn lại, khiến nồng độ doxycyclin trong huyết tương giảm Cần tăng liều doxycyclin hoặc chia uống ngày hai lần

- Phenobarbital và corticoid dùng toàn thân: Phenobarbital làm giảm tác dụng của các corticoid Cần chú ý điều này, đặc biệt ở

Trang 16

người mắc bệnh Addison và người bệnh được ghép tạng

-Phenobarbital và ciclosporin: Nồng độ trong huyết tương và tác dụng của ciclosporin bị giảm khi có mặt phenobarbital Cần tăng liều ciclosporin trong khi điều trị bằng phenobarbital và cần giảm liều ciclosporin khi thôi dùng phenobarbital

-Phenobarbital và hydroquinidin và quinidin: Nồng độ trong huyếttương và tác dụng chống loạn nhịp của quinidin bị giảm Cần theo dõi lâm sàng, điện tim, nồng độ quinidin trong máu Cần điều chỉnh liều quinidin

Phenobarbital và levothyroxin: Người bệnh có tiền sử giảm chức năng giáp có nguy cơ bị suy giáp Phải kiểm tra nồng độ T3 và T4 Phải chỉnh liều levothyroxin trong và sau trị liệu bằng

phenobarbital

-Phenobarbital và acid folic: Nồng độ phenobarbital trong huyết tương giảm có thể làm giảm tác dụng của acid folic Phải điều chỉnhliều phenobarbital khi dùng bổ sung acid folic

-Phenobarbital và theophylin: Nồng độ trong huyết tương và tác dụng của theophylin bị giảm Cần điều chỉnh liều theophylin trong khi điều trị bằng phenobarbital

-Phenobarbital và các thuốc chống trầm cảm ba vòng: Các thuốc chống trầm cảm loại imipramin có thể làm tăng nguy cơ xuất hiện các cơn co giật toàn thân Cần phải tăng liều các thuốc chống động kinh

Phenobarbital và acid valproic: Nồng độ trong huyết tương và tác dụng an thần của phenobarbital tăng lên Cần giảm liều

phenobarbital khi có dấu hiệu tâm thần bị ức chế

-Phenobarbital và các thuốc chống đông dùng đường uống: Tác dụng của thuốc chống đông bị giảm Phải thường xuyên kiểm tra prothrombin huyết Cần điều chỉnh liều thuốc chống đông trong khi

Trang 17

điều trị bằng phenobarbital và trong 8 ngày sau khi ngừng dùng phenobarbital

-Phenobarbital và digitoxin: Tác dụng của digitoxin bị giảm

-Phenobarbital và disopyramid: Tác dụng chống loạn nhịp của disopyramid giảm do nồng độ disopyramid trong huyết tương bị giảm Phải điều chỉnh liều disopyramid

-Phenobarbital và progabid: Nồng độ trong huyết tương của

phenobarbital tăng

-Phenobarbital và carbamazepin: Nồng độ trong huyết tương của carbamazepin giảm dần nhưng không làm giảm tác dụng chống động kinh

-Phenobarbital và các thuốc trầm cảm khác, thuốc kháng H1, benzodiazepin, clonidin, dẫn xuất của morphin, các thuốc an thần kinh, thuốc giải lo : làm tăng tác dụng ức chế hệ thần kinh trung ương

-Phenobarbital và phenytoin: Nồng độ trong huyết tương của phenytoin thay đổi bất thường Các triệu chứng ngộ độc phenytoin

có thể xảy ra khi ngừng dùng phenobarbital Khi đồng thời dùng phenytoin thì nồng độ phenobarbital trong máu có thể tăng lên đến mức ngộ độc

-Phenobarbital và các thuốc chẹn beta (alprenolol, metoprolol, propranolol): Nồng độ trong huyết tương và tác dụng lâm sàng của các thuốc chẹn beta bị giảm

-Phenobarbital và methotrexat: Ðộc tính về huyết học của

methotrexat tăng do dihydrofolat reductase bị ức chế mạnh hơn -Phenobarbital và rượu: Rượu làm tăng tác dụng an thần của

phenobarbital và có thể gây hậu quả nguy hiểm Phải tránh dùng rượu khi sử dụng thuốc

Ðộ ổn định và bảo quản

Trang 18

Dung dịch natri phenobarbital trong nước nói chung không bền vững Thuốc trong polyethylen glycol hoặc propylen glycol thì bền vững hơn

Không được dùng dung dịch để tiêm nếu có tủa

phenobarbital trong máu cao hơn 80 microgam /ml

Khi uống quá liều barbiturat, hệ thần kinh trung ương bị ức chế

từ mức ngủ đến hôn mê sâu rồi tử vong; hô hấp bị ức chế có thể đến mức có nhịp thở Cheyne - Stockes, giảm thông khí trung tâm và tím tái; giảm thân nhiệt rồi sốt, mất phản xạ, tim nhanh, huyết áp tụt, thiểu niệu Ðồng tử thường hơi co nhưng nếu ngộ độc nặng thì lại giãn Người bệnh bị quá liều nặng thường có hội chứng choáng điểnhình: Thở chậm, trụy mạch, ngừng hô hấp, và có thể tử vong Các biến chứng viêm phổi, phù phổi, suy thận có thể gây tử vong Các biến chứng khác như suy tim sung huyết, loạn nhịp tim, nhiễm khuẩn đường tiết niệu cũng có thể xảy ra

Phải điều trị và theo dõi người bệnh tại khoa cấp cứu

Ðiều trị quá liều chủ yếu là điều trị hỗ trợ, nhất là giúp cho đường thở thông và nếu cần thiết thì hô hấp viện trợ và cho thở oxy

Trang 19

Cách điều trị được ưa dùng nhất trong cấp cứu ngộ độc

phenobarbital là dùng nhiều liều than hoạt, đưa vào dạ dày qua ống thông đường mũi Than hoạt làm tăng đào thải thuốc và rút ngắn thời gian hôn mê Không nên rửa dạ dày hoặc hút dạ dày trừ khi chắc chắn là thuốc mới được uống (trong vòng 4 giờ); cần chú ý không để người bệnh hít vào phổi các chất chứa trong dạ dày Nếu người bệnh có chức năng thận bình thường thì có thể gây lợi niệu vàkiềm hóa nước tiểu để làm tăng đào thải phenobarbital qua thận Nếu người bệnh bị ngộ độc nặng, vô niệu hay bị sốc thì nên thẩm phân phúc mạc hay lọc máu thận nhân tạo

Thông tin qui chế

Phenobarbital có trong danh mục thuốc thiết yếu Việt Nam ban hành lần thứ tư năm 1999

Thuốc hướng tâm thần

2.1.5.Tiêu chuẩn dược điển:[4]

B Phổ hồng ngoại (Phụ lục 3.2) của chế phẩm phải phù hợp với phổhồngngoại của phenobarbital chuẩn

Ngày đăng: 09/10/2014, 21:09

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: hiệu suất tổng hợp Phenobarbital(%) - Thiết kế quy trình tổng hợp phenobarbita
Bảng 1 hiệu suất tổng hợp Phenobarbital(%) (Trang 29)
Bảng 2: . Rf-Giá trị tiêu chuẩn và tổng hợp Phenobarbital (từ phương - Thiết kế quy trình tổng hợp phenobarbita
Bảng 2 . Rf-Giá trị tiêu chuẩn và tổng hợp Phenobarbital (từ phương (Trang 30)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w