Trên cơ sở kế thừa các công trình đã được nghiên cứu trước đây, đề tài “Đặc điểm địa chất, thạch học và môi trường thành tạo cacbonat vùng Tây Nam Bình Long, tỉnh Bình Phước” được thực h
Trang 1– ² —
TRẦN TẤN PHÁT
ĐẶC ĐIỂM ĐỊA CHẤT, THẠCH HỌC, VÀ MÔI TRƯỜNG THÀNH TẠO CACBONAT VÙNG TÂY
NAM, BÌNH LONG, TỈNH BÌNH PHƯỚC
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC ĐỊA CHẤT
CHUYÊN NGÀNH : ĐỊA CHẤT HỌC MÃ SỐ : 60.44.55
HƯỚNG DẪN KHOA HỌC : PGS.TS NGUYỄN THỊ NGỌC
LAN
TP Hồ Chí Minh Năm 2010
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Tác giả xin bày tỏ lòng kính trọng, biết ơn sâu sắc chân thành đến P GS -TS
N gu yễn Th ị N gọc La n , Trưởng Bộ môn Trầm tích Trường ĐH Khoa học Tự nhiên, đã hết lòng quan tâm, giúp đỡ và hướng dẫn tôi trong suốt thời gian học tập và thực hiện luận văn này
Tác giả cũng xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc và chân thành đối với:
- Th.S Trần Phú Hưng, Trưởng Khoa Địa chất
- PGS-TS Huỳnh Trung, PGS-TS Huỳnh Ngọc Sang, PGS-TS Vũ Quang Bính, PGS-TS Vũ Chí Hiếu, và Quý Thầy cô khoa Địa Chất trường Đại học Khoa học Tự nhiên đã tận tình dạy dỗ trong suốt thời gian học ở Đại học và Cao học
- Lãnh đạo Liên đoàn Bản đồ Địa chất Miền Nam
- Quý Thầy cô giảng dạy môn Toán và Tin học, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên
- Quý Thầy cô giảng dạy môn Triết học trường Đại học Khoa học Xã Hội và Nhân văn
- Quý Thầy cô giảng dạy môn phương pháp giảng dạy Đại học, Trung tâm NCCTPPD&HĐH, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên
- Ths Ngô Trần Thiện Quý, Ths Đinh Quang Sang, Ths Nguyễn Kim Hoàng, Ths Bùi Thị Luận, Ths Trần Đại Thắng, Ths Trương Chí Cường, Cô Trần Thị Hoàng Hà
- Các anh chị học viên lớp Cao học khóa 15, 16, 17
Sau cùng, tác giả xin bày tỏ lòng ghi ơn sâu sắc đến Ba, Mẹ và các anh chị em là nguồn động viên và chỗ dựa quí báo cho bản thân niềm tin và nghị lực để học tập và hoàn thành luận văn này.
Trang 3LỜI MỞ ĐẦU
I TÍNH CẦN THIẾT CỦA ĐỀ TÀI:
Nước ta đang trên đà phát triển kinh tế – xã hội, xây dựng cơ sở hạ tầng, đẩy mạnh khu công nghiệp, nhu cầu sản xuất xi măng ngày càng cấp thiết, hiện nay việc nghiên cứu chi tiết và rộng rãi trên toàn lãnh thổ nước ta nhằm mục đích định hướng trong công tác tìm kiếm thăm dò đá vôi với lượng sản xuất đáp ứng nhu cầu của thị trường trong nước Nếu tiếp tục phát triển thêm các khu vực, cơ sở mới có khả năng dẫn đến dự trữ dùng cho tương lai Hơn nữa khu vực phía Nam ngoài tỉnh Kiên Giang – Hà Tiên là một địa phương xuất hiện đá vôi với trữ lượng lớn, thì khu vực tỉnh Tây Ninh, tỉnh Bình Phước công tác thăm dò mỏ và lập báo cáo nghiên cứu khả thi dự án nhà máy xi măng ở Tây Ninh, Bình Phước đang rất phát triển
Trên cơ sở kế thừa các công trình đã được nghiên cứu trước đây, đề tài
“Đặc điểm địa chất, thạch học và môi trường thành tạo cacbonat vùng Tây Nam Bình Long, tỉnh Bình Phước” được thực hiện nhằm nghiên cứu chi tiết
hơn về đặc điểm địa chất, thạch học, thạch luận và khoáng sản liên quan, góp phần làm sáng tỏ điều kiện môi trường thành tạo đá vôi khu vực nghiên cứu Điều này có ý nghĩa đối với việc nghiên cứu, đo vẽ bản đồ, tìm kiếm, thăm dò, làm rõ thêm cấu trúc và chất lượng của các loại đá vôi của khu vực Bình Long – Bình Phước
II MỤC TIÊU:
Mục tiêu của đề tài nhằm làm sáng tỏ đặc điểm địa chất, thạch học, môi trường thành tạo đá vôi vùng khảo sát và đưa ra các nhận định về môi trường khu vực
Trang 4III NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU:
- Thu thập, phân tích, nhận xét và tổng hợp các tài liệu về địa lý, địa chất, địa tầng, địa mạo, kiến tạo và các bản đồ hiện có
- Khảo sát mô tả lấy mẫu ngoài thực địa
- Tìm hiểu thành phần thạch học, mức độ biến đổi
- Phân tích các thành phần hóa học, chỉ tiêu cần thiết đưa ra các ứng dụng cụ thể
IV PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:
- Phương pháp khảo sát thực địa: Lấy mẫu thạch học và mô tả
- Phương pháp thạch học: Phân tích và nghiên cứu thành phần khoáng vật, kiến trúc, cấu tạo của các đá là cơ sở để phân chia chi tiết địa tầng thạch học và các biến đổi thứ sinh của đá vôi khu vực
- Phương pháp cổ sinh vật: Nhờ vào hóa thạch để định tuổi cho đá vôi, từ đó xác định và làm rõ môi trường thành tạo
- Phương pháp phân tích hóa carbonat: Xác định thành phần hóa học (CaO, MgO, …) của đá
- Phương pháp tin học: Dùng phần mềm mapinfo để thành lập và chỉnh sữa một số bản đồ, dùng phần mềm autocad để vẽ mô hình lỗ khoan, mô hình môi trường thành tạo, dùng phần mềm photoshop để xử lý ảnh thạch học
- Phương pháp tổng hợp tài liệu, số liệu viết báo cáo
Trang 5V CƠ SỞ TÀI LIỆU:
- Đề tài được viết dựa trên cơ sở tài liệu về báo cáo kết quả thăm dò mỏ đá vôi khu vực huyện Bình Long tỉnh Bình Phước
- Các tài liệu địa chất và khoáng sản về đá vôi tỉnh Bình Phước
- Tham khảo và sử dụng các số liệu của các tác giả Nguyễn Thị Ngọc Lan, Vũ Chí Hiếu, Ngô Trần Thiện Quý, … và nhiều tài liệu thuộc các công trình nghiên cứu đã được công bố hoặc chưa công bố của các tác giả trong và ngoài nước, đặc biệt là các công trình của Bộ Xây dựng, Tổng công ty xi măng Việt Nam, công ty xi măng Hà Tiên 1 của tác giả Nguyễn Đức Huy, Nguyễn Đăng Sơn và nnk, Tác giả xin chân thành cảm ơn tất cả các tác giả của các công trình có liên quan
VI Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN:
- Về mặt khoa học: Làm sáng tỏ đặc điểm địa chất, thạch học, đặc điểm biến đổi và cấu trúc địa chất của mỏ đá vôi khu vực Từ đó tái lập môi trường thành tạo đá vôi của vùng nghiên cứu và qua đó, ta có thể so sánh, đối chiếu với các thành tạo đá vôi trong các vùng lân cận
- Về mặt thực tiễn: Trên cơ sở ý nghĩa khoa học làm tiền đề giúp các nhà thăm dò, khai thác xác định vị trí đá vôi chất lượng cao, đẩy mạnh đánh giá khai thác trữ lượng và chất lượng của mỏ, tránh khai thác tràn lan
Trang 6MỤC LỤC
Lời mở đầu 1
PHA ÀN A : NHỮNG VA ÁN ĐỀ CHUNG 4
CHƯƠNG I : ĐA ËC ĐIỂM ĐỊA LÝ TỰ NHIÊN, K INH TẾ, XA Õ HỘI – NHA ÂN VA ÊN 5
I Đặc điểm địa lý tự nhiên 5
II Đặc điểm kinh tế – xã hội và nhân văn 9
CHƯƠNG II : LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU ĐỊA CHA ÁT 14
A Giai đoạn trước 1975 14
B Giai đoạn sau 1975 14
CHƯƠNG III : ĐA ËC ĐIỂM ĐỊA CHA ÁT K HU VỰC 17
III 1 Địa tầng 19
III 2 Các thành tạo magma xâm nhập và phun trào không phân tầng 23
III 3 Kiến tạo 24
III 4 Khoáng sản 26
PHA ÀN B : CHUYÊN ĐỀ 27
Trang 7NA M BÌNH LONG, BÌNH PHƯỚC 28
IV 1 Địa chất 28
IV 2 Địa tầng 32
CHƯƠNG V: ĐA ËC ĐIỂM THA ÏCH HỌC ĐA Ù VÔI VÙNG TA ÂY NA M BÌNH LONG, BÌNH PHƯỚC 39
V 1 Tính chất vật lý 39
V 2 Thành phần hóa học 39
V 3 Thành phần khoáng vật – thạch học 42
V 3 1 Đá bùn vôi màu xám tro đến xám đen 43
V 3 2 Đá vôi xám trắng 49
V 3 3 Đá vôi xám trắng, phớt xanh hay phớt hồng 54 V 3 4 Đá tuffic và đá có chứa tuff 60
V 3 5 Cát kết 66
V 3 6 Đá vôi bị biến đổi hoa hóa 73
CHƯƠNG VI: MÔI TR ƯỜNG THA ØNH TA ÏO ĐA Ù VÔI TR ONG K HU VỰC 76
K ẾT LUA ÄN 85
TA ØI LIỆU THA M K HA ÛO 87
PHA ÀN C : PHỤ LỤC 90
Phụ lục 1 – Mô tả lát mỏng dưới kính hiển vi phân cực 91
Trang 8Phụ lục 3 – Mô hình lỗ khoan khu vực 134
BA ÛNG BIỂU, HÌNH A ÛNH, MÔ HÌNH
* BA ÛNG BIỂU :
Bảng 1 1 Diện tích, dân số và mật độ dân số ước tính năm 2007 phân theo
Trang 9đá vôi 39
Bảng 5 2 Bảng phân loại đá vôi của Dunham (1962) 42
* HÌNH A ÛNH : Hình số 1 Mudstone Nền là bùn vôi mịn hạt Hiện tượng dolomit hóa hạt nhỏ hình thoi, có kiến trúc stylolit 44
Hình số 2 Mudstone Nền bùn vôi mịn hạt Vi sinh vật Foraminifera 44
Hình số 3 Mudstone Sinh vật Huệ biển nằm trên nền bùn vôi 45
Hình số 4 Mudstone San hô Waagenophyllum San hô bị silic hóa 45
Hình số 5 Mudstone Lát cắt ngang của Paleofusulina trên nền bùn vôi nhiều hữu cơ 46
Hình số 6 Mudstone Sinh vật Foraminifera va Bryozoa 46
Hình số 7 Mudstone Gastropoda lát cắt dọc (không qua giữa trục) Xi măng dolomit hóa Một phần sinh vật gastropoda bị dolomit hóa 47
Hình số 8 Mudstone Trùng lỗ Colaniella và Huệ biển thấy được rõ hình dạng và một số rong trên nền xi măng bùn vôi (micrit) 47
Hình số 9 Mudstone Mảnh vỡ Brachiopoda, Rong Mizzia velebitana và cỏ biển nằm trên nền bùn vôi mịn hạt 48
Hình số 10 Mudstone Nền bùn vôi mịn hạt Sinh vật Brachiopoda 48
Hình số 11 Wackestone Sinh vật Huệ biển trên nền bùn vôi mịn hạt chứa nhiều chất hữu cơ 49
Hình số 12 Wackestone Gastropoda nằm trên nền bùn vôi mịn hạt 50
Trang 10Hình số 15 Wackestone Mảnh vụn sinh vật đa dạng nằm trên nền bùn vôi
mịn hạt 51 Hình số 16 Wackstone Sinh vật Rotalia và rong nằm trên nền bùn vôi mịn
hạt 52 Hình số 17: Wackestone Mảnh vụn sinh vật (Rong, Gastropoda, … ) nằm
trên nền bùn vôi mịn hạt 52 Hình số 18: Wackestone Mảnh vỏ Trùng lỗ Colaniella cùng với các mảnh
vụn Foraminifera và một số sinh vật khác Tất cả được xi măng calcit cao Mg micrit gắn kết lại thành đá 53 Hình số 19: Wackestone Cốt bộ Huệ biển bị calcit hóa 53 Hình số 20 Packstone Sinh vật Nankinella và Foraminifera nằm trong rong
Mizzia Phần bìa tản của rong đá bị hòa tan và thay bằng calcit hạt mịn 54 Hình số 21: Packstone Rong Gymnocodium và rong Mizzia nằm trên nền
bùn vôi bị silic hóa ở dạng thạch anh 55 Hình số 22: Packstone Rong Mizzia và sinh vật Brachiopoda được xi măng
bùn vôi gắn kết thành đá Nền bị silic hóa ở dạng thạch anh 55 Hình số 23: Packstone San hô Waagenophyllum và Huệ biển nằm trên nền
bị dolomit hóa 56 Hình số 24: Packstone Sinh vật Brachiopoda lớn chứa Brachiopoda nhỏ ở
bên trong cốt bộ sinh vật của nó 56
Trang 11trám đầy bằng các sinh vật khác (Brachiopoda, mảnh vụn rong, … ) và vật liệu bùn vôi 57 Hình số 26: Packstone San hô bị dolomit hóa trên nền bùn vôi mịn hạt 57 Hình số 27: Packstone San hô Waagenophyllum và sinh vật Foraminifera
nằm trên nền bùn vôi mịn hạt 58 Hình số 28: Packstone Sinh vật Foraminifera với đường tích tụ calcit nổi
lên, nằm trên nền bùn vôi mịn hạt 58 Hình số 29 Đá tuffic Tro bụi núi lửa 60 Hình số 30: Đá tuffic Mảnh vụn tro bụi núi lửa, thạch anh dạng vũng vịnh
Mạch calcit đi lên theo khe nứt, trám vào mảnh thạch anh 61 Hình số 31: Đá tuffic Mảnh vụn tro bụi núi lửa, thạch anh dạng vũng vịnh
Mạch calcit đi lên theo khe nứt, trám vào mảnh thạch anh 61 Hình số 32: Đá tuffic Tinh thể thạch anh kết tinh trước bị ảnh hưởng về sau
bởi xi măng tro bụi núi lửa 62 Hình số 33: Đá tuffic Tinh thể thạch anh kết tinh trước bị ảnh hưởng về sau
bởi xi măng tro bụi núi lửa 62 Hình số 34: Đá tuffic Nền là tro bụi núi lửa với dạng que thủy tinh shard 63 Hình số 35: Đá tuffic Nền là tro bụi núi lửa với dạng que thủy tinh shard 63 Hình số 36: Đá tuffic Thạch anh dạng vũng vịnh là thành phần vụn bị calcit
thay thế về sau Mảnh đá andesit 64 Hình số 37: Đá tuffic Thạch anh dạng vũng vịnh là thành phần vụn bị calcit
thay thế về sau Mảnh đá andesit 64
Trang 12dạng chữ cổ Tro bụi núi lửa vừa là mảnh vụn đá, vừa là xi măng gắn kết các hạt thạch anh 65 Hình số 39: Đá có chứa tuff Thạch anh dạng vũng vịnh, dạng răng cưa,
dạng chữ cổ Tro bụi núi lửa vừa là mảnh vụn đá, vừa là xi măng gắn kết các hạt thạch anh 65 Hình số 40 Cát kết dạng arkos có chứa tuff Thạch anh bị thay thế bởi nền
tro bụi núi lửa, dạng răng cưa, vũng vịnh 66 Hình số 41: Cát kết arkos xi măng tro bụi núi lửa Thạch anh bị calcit thay
thế về sau Thành phần plagiocla và fenpat chiếm khá cao trong đá 67 Hình số 42: Cát kết arkos xi măng tro bụi núi lửa Thạch anh bị calcit thay
thế về sau Thành phần plagiocla và fenpat chiếm khá cao trong đá 67 Hình số 43: Cát kết arkos xi măng tro bụi núi lửa Thạch anh bị calcit thay
thế về sau Mảnh đá andesit là thành phần vụn nằm trong đá 68 Hình số 44: Cát kết arkos xi măng tro bụi núi lửa Thạch anh bị calcit thay
thế về sau Mảnh đá andesit là thành phần vụn nằm trong đá 68 Hình số 45: Cát kết arkos xi măng tro bụi núi lửa Mảnh vụn đá andesit, thạch anh, fenpat được xi măng calcit thay thế về sau gắn kết tạo thành đá 69 Hình số 46: Cát kết arkos xi măng tro bụi núi lửa Mảnh vụn đá andesit, thạch anh, fenpat được xi măng calcit thay thế về sau gắn kết tạo thành đá 69 Hình số 47 Cát kết thạch anh xi măng silic Thạch anh chiếm khá cao trong
đá Cấp độ hạt mịn 70
Trang 13calcit Khoáng vật nội lập là muscovit 71 Hình số 49: Cát kết thạch anh xi măng silic Xi măng silic bị thay thế bởi
calcit Khoáng vật nội lập là muscovit 71 Hình số 50: Cát kết thạch anh xi măng silic Xi măng silic bị thay thế bởi
calcit Mạch calcit cắt ngang qua đá 72 Hình số 51: Cát kết thạch anh xi măng silic Xi măng silic bị thay thế bởi
calcit Mạch calcit cắt ngang qua đá 72 Hình số 52 Đá vôi bị biến đổi hoa hóa Calcit khá phổ biến, 2 cát khai rõ,
góc cát khai 500 Xi măng bùn vôi bị silic hóa tạo ra calcedoin và thạch anh 73 Hình số 53 Đá vôi bị biến đổi hoa hóa Calcit khá phổ biến, 2 cát khai rõ
Xi măng bùn vôi bị silic hóa tạo ra calcedoin 74 Hình số 54 Đá vôi bị biến đổi hoa hóa Calcit khá phổ biến, 2 cát khai rõ
Xi măng bùn vôi bị silic hóa tạo ra calcedoin 74 Hình số 55 Đá vôi bị biến đổi hoa hóa Calcit khá phổ biến, 2 cát khai rõ, góc cát khai 500 Hiện tượng silic hóa xảy ra trong đá vôi hiện diện ở dạng Q 75 Hình số 56 Đá vôi bị biến đổi hoa hóa Calcit khá phổ biến, 2 cát khai rõ, góc cát khai 500 Hiện tượng silic hóa xảy ra trong đá vôi hiện diện ở dạng
Q 75 Hình 6 A : Phần xi măng gắn kết đã bị thay thế bằng dolomit rất tự hình chứng tỏ nguồn gốc calcit cao Mg của xi măng 78 Hình 6 B: Bên trong Rong đã bị thay thế bằng calcit cao Mg 78 Hình 6 C: Xi măng silic 79
Trang 14Hình 6 E: Khoáng calcit biến đổi mạnh đến mức mất đi hình dạng sinh vật
ban đầu của nó 81
* MÔ HÌNH : Mô hình 5 1 Mô hình các lỗ khoan khu vực nghiên cứu 59
Mô hình 6 1 Bối cảnh kiến tạo phun trào núi lửa 79
Mô hình 6 2 Bối cảnh kiến tạo phun trào núi lửa 82
Mô hình 6 3 Vật liệu trầm tích cơ học 84
Mô hình 6 4 Các tích tụ trầm tích đá vôi 84
Trang 15CHƯƠNG I : ĐẶC ĐIỂM ĐỊA LÝ TỰ NHIÊN, KINH
TẾ, XÃ HỘI – NHÂN VĂN
I ĐẶC ĐIỂM ĐỊA LÝ TỰ NHIÊN :
I 1 VỊ TRÍ ĐỊA LÝ :
Bình Phước là một tỉnh miền núi ở phía Tây của vùng Đông Nam Bộ, phía Đông giáp tỉnh Lâm Đồng và Đồng Nai, phía Tây giáp tỉnh Tây Ninh và Campuchia, phía Nam giáp tỉnh Bình Dương, phía Bắc giáp tỉnh Đắc Nông và Campuchia Ngày 20/02/2003, Chính phủ ban hành Nghị định số 17/2003/NĐ –
CP về việc thành lập các huyện Chơn Thành, Bù Đốp, thuộc tỉnh Bình Phước Như vậy, hiện nay tỉnh Bình Phước có 8 huyện, thị xã với tổng diện tích tự nhiên là 6.874,62 km2 (2007)
Trang 16(Bản đồ hành chánh khu vực)
Trang 17Huyện Bình Long là huyện miền núi biên giới phía Tây Bắc của tỉnh Bình Phước Vị trí địa lý được xác định bởi tọa độ sau:
- Vĩ độ Bắc: 110 28’49’’ – 110 47’20’’
- Kinh độ Đông: 1060 25’10’’ – 1060 46’55’’
Về ranh giới:
- Phía Đông giáp huyện Phước Long
- Phía Tây giáp tỉnh Tây Ninh
- Phía Nam giáp với huyện Chơn Thành và một phần ranh giới phía Tây Nam giáp tỉnh Tây Ninh
- Phía Bắc giáp huyện Lộc Ninh
Huyện Bình Long có tổng diện tích tự nhiên là 756,12 km2, chiếm 12,6% diện tích tự nhiên toàn tỉnh,trong đó đất rừng chiếm 68.714 ha, còn lại là đất nông nghiệp với phần lớn là đất đỏ bazan có độ phì nhiêu cao, phù hợp các loại cây trồng có thu nhập cao như: cà phê, điều, hồ tiêu, cao su
Ranh giới huyện Bình Long được hình thành bởi 12 xã và 1 thị trấn, bao gồm: Thị trấn An Lộc và các xã Thanh Lương, Thanh Phú, An Khương, Thanh
An, Tân Hưng, Tân Lợi, Phước An, Thanh Bình, An Phú, Minh Đức, Đồng Nơ, Tân Khai
Từ ngày 11 tháng 8 năm 2009, huyện Bình Long được tách thành thị xã Bình Long và huyện Hớn Quản
Trang 18I 2 ĐỊA HÌNH:
Huyện Bình Long có địa hình cao từ phía Bắc, thấp dần về phía Nam Khu vực thăm dò có địa hình đồi thấp với độ cao thay đổi từ 40 – 60 m, độ dốc địa hình khoảng 20 – 50 Dải đồi kéo dài theo phương kinh tuyến, rộng từ 1,5 – 2 km2; diện tích tham dò phân bố chủ yếu trên dải đồi này Phía Đông diện tích thăm dò có một suối nhỏ, chỉ có nhiều nước trong mùa mưa Bề mặt địa hình thuộc dạng xâm thực bóc mòn, được cấu tạo bởi các thành tạo sét, bột lẫn cát sạn laterit với chiều dày trung bình từ 7 – 18 m Phần lớn bề mặt địa hình là rừng tái sinh Thực vật chủ yếu là cây thân gỗ họ dầu, cây tạp, tre gai khá rậm rạp
I 3 KHÍ HẬU:
Khí hậu tỉnh Bình Phước mang đặc điểm khí hậu nhiệt đới gió mùa phân biệt rõ rệt Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10, mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau
– Lượng mưa: trung bình hàng năm (từ 1978 đến 2000) là 2.151,1 mm, tuy vậy trong những năm gần đây lượng mưa hàng năm cao hơn nhiều (lượng mưa năm 1997 đạt tới 2.926,7 mm) Lượng mưa trong mùa mưa chiếm khoảng 85% lượng mưa cả năm Lượng mưa cao nhất trong năm vào các tháng giữa và cuối mùa mưa Tuy nhiên trong những năm gần đây, ngay trong những tháng đầu mùa mưa (trong các tháng 5, 6, 7 năm 2000) lượng mưa đạt từ 404,3 – 516,9 mm Lượng mưa thấp nhất vào các tháng 11, 12, 1, 2, 3
Trang 19– Nhiệt độ trung bình hàng năm (từ 1978 đến 2000) là 270C Nhiệt độ trung bình cao nhất vào các tháng của giai đoạn kết thúc mùa khô vào đầu mùa mưa (tháng 4, 5), đạt 28 – 290C Nhiệt độ trong ngày cao nhất trong giai đoạn này đạt tới 38,40C Nhiệt độ trung bình thấp nhất vào các tháng giữa mùa mưa (tháng 12, 1), xuống 24,8 – 25,20C Nhiệt độ trong ngày thấp nhất trong giai đoạn này xuống tới 120C
– Độ ẩm trung bình hàng năm (từ 1978 đến 2000) 77,8% Trong các tháng mùa mưa độ ẩm cao nhất, đạt 78 – 84% Trong các tháng mùa khô độ ẩm thấp, dao động trong khoảng 66 – 77%
– Hướng gió: khu vực chịu ảnh hưởng 2 hướng gió chính theo mùa: trong mùa mưa hướng gió tây nam là chủ yếu, trong mùa khô hướng gió đông nam là chủ yếu
– Lượng bốc hơi: tổng lượng bốc hơi trung bình hàng năm đạt 1.209 mm, trong đó tháng thấp nhất (tháng 9) đạt 67 mm và tháng cao nhất (tháng 3) đạt 179 mm
II ĐẶC ĐIỂM KINH TẾ – XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN:
II 1 DÂN CƯ:
Vùng nghiên cứu thuộc khu vực Tây Nam, huyện Bình Long nói chung có mật độ dân số rất thưa Điểm dân cư gần nhất cách khu vực thăm dò khoảng vài km về phía Đông sau đó dọc theo quốc lộ 13 về phía Bắc và Nam mật độ dân số tăng dần và tập trung cao nhất ở thị trấn An Lộc (huyện Bình Long) và thị trấn Lộc Ninh (huyện Lộc Ninh) Dân số trung bình năm 2007 là: 147.670 người, trong đó dân tộc chiếm khoảng 18% dân số toàn huyện Dân cư ở đây
Trang 20chủ yếu là người KhMe, Stiêng, Nùng, Mnông, Hoa, Mường, người Kinh có ít và mới định cư trong thời gian gần đây Nhìn chung trình độ dân trí thấp, nghề nghiệp chính của người dân ở khu vực nghiên cứu là canh tác nông nghiệp Ở dọc Quốc lộ 13 và các thị trấn Lộc Ninh và An Lộc ngoài canh tác nông nghiệp còn có nhiều hộ làm nghề buôn bán dịch vụ hoặc làm công nhân nông trường hay cơ sở sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp qui mô nhỏ Các cơ sở hạ tầng (điện, trường học, bưu điện) phục vụ dân sinh thường tập trung ở các khu vực gần các thị trấn, nơi có mật độ dân số cao hơn Riêng tại điểm dân cư nằm
ở phía Đông khu vực thăm dò và vùng nghiên cứu trong thời gian gần đây (2002) một số công trình phục vụ dân sinh như làng định cư, bệnh xá, trường học cho đồng bào dân tộc ít người mới được xây dựng (Quân khu 7 hỗ trợ vốn và trực tiếp xây dựng) Ngoài điểm dân cư như đã nói ở trên, ở sát phía Đông diện tích nghiên cứu còn có khu di tích căn cứ cách mạng Miền
Bảng 1 1 Diện tích, dân số và mật độ dân số ước tính năm 2007 phân
theo huyện, thị xã
Huyện Diện tích (km 2 ) Dân số trung bình (người) Mật độ dân số (người/km 2 )
Trang 21II 2 KINH TẾ:
Tỉnh Bình Phước mới được tách ra từ tỉnh Sông Bé (01/01/1997) với mặt bằng kinh tế xã hội tương đối thấp, đặc biệt là các vùng miền núi giáp biên giới như Bình Long, Lộc Ninh, xã Lộc Thành Cho đến nay cơ cấu kinh tế trên địa bàn của tỉnh Bình Phước nói chung đã có chuyển dịch tiến bộ nhưng quá trình diễn biến còn chậm, đặc biệt ở khu vực nghiên cứu và các vùng kề cận Ở các vùng này người dân sống bằng nghề canh tác nông nghiệp là chủ yếu (ở các xã) một số ít hộ dân sống bằng nghề buôn bán nhỏ (dọc theo trục đường giao thông)
Nền kinh tế của huyện Bình Long chủ yếu dựa vào nông nghiệp Ở Bình Long cũng phát triển các loại cây công nghiệp như cao su, cà phê, tiêu, điều và các loại cây ăn quả lâu năm Bình Long là vùng đất phì nhiêu, đất ở đây chủ yếu là đất đỏ bazan
Ở các thị trấn và vùng lân cận (Bình Long, Lộc Ninh) dịch vụ buôn bán nhỏ phát triển hơn, tuy nhiên kể cả các nơi này cũng chỉ có một số cơ sở tiểu thủ công nghiệp quy mô nhỏ (làm nước đá, sản xuất vật liệu xây dựng) và một số cơ sở chế biến nông sản Người dân Bình Long có mức sống trung bình thuộc loại thấp ở Việt Nam Điều này đã dẫn đến sự di cư vì lý do kinh tế của một bộ phận người dân ở đây sang vùng khác
II 3 CƠ SỞ HẠ TẦNG
II 3 1 GIAO THÔNG:
Mạng lưới giao thông trong khu vực nghiên cứu nói riêng và vùng Bình Long – Lộc Ninh nói chung khá phát triển Có QL 13 đi qua trung tâm huyện
Trang 22Bình Long, huyện Lộc Ninh và nối liền với Campuchia thông qua cửa khẩu Hoa Lư và sắp tới có đường sắt xuyên Á đi qua, đây chính là lợi thế trong phát triển KT – XH trong tương lai với các nước
Từ khu mỏ được thăm dò đi về phía Đông có đường trải nhựa 15 km nối với Quốc lộ 13 đến thị trấn Lộc Ninh, An Lộc Từ khu vực mỏ đi về phía Tây Nam là đường ra biên giới Việt Nam Campuchia Ngoài ra đã có đường vành đai biên giới chạy từ mỏ qua Tây Ninh Đây là điều kiện rất thuận lợi cho công tác khai thác mỏ và vận chuyển sản phẩm của nhà máy xi măng về các nơi tiêu thụ trên địa Bình Phước, Đắc Lắc, Tây Ninh
II 3 2 HỆ THỐNG CẤP ĐIỆN:
Trên địa bàn tỉnh Bình Phước có nhà máy thủy điện Thác Mơ, có đường dây 500 KV đi qua và có hệ thống các đường dây trung thế, hạ thế đến các thị trấn và đi qua các khu vực dự kiến xây dựng các khu công nghiệp như tuyến 110KV Lộc Thành – An Phú – Lộc Ninh chạy theo Quốc lộ 13 rất gần khu vực thăm dò và vị trí dự kiến xây dựng nhà máy xi măng (cách nhà máy 0,868 km theo phương án 1 và 5,245 km theo phương án 2) Đây là điều kiện rất thuận lợi cho việc xây dựng và vận hành nhà máy xi măng Bình Phước
Cùng với việc đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng và các dự án phát triển công nông nghiệp của tỉnh, việc triển khai dự án xây dựng nhà máy xi măng Bình Phước sẽ góp phần tích cực để khu vực Lộc Ninh, Bình Long và các vùng lân cận có điều kiện trở thành vùng có kinh tế phát triển và đời sống văn hóa xã hội được nâng cao
Trang 23II 3 3 HỆ THỐNG CẤP NƯỚC THUỶ LỢI:
Nguồn nước mặt: có hệ thống sông suối tương đối nhiều với mật độ 0,7 – 0,8 km/km2, bao gồm sông Sài gòn, Sông Bé, sông Đồng Nai, sông Măng và nhiều suối lớn Ngoài ra còn có một số hồ, đập như hồ Suối Lam, hồ Suối Cam, đập nước thuỷ điện Thác Mơ (dung tích 1,47 tỷ m3), đập thuỷ điện Cần Đơn, đập thuỷ điện Sork Phú Miêng, v.v…
Nguồn nước ngầm: các vùng thấp dọc theo các con sông và suối, nhất là phía Tây Nam tỉnh, nguồn nước khá phong phú có thể khai thác phục vụ phát triển kinh tế – xã hội:
– Tầng chứa nước Bazan (QI - II) phân bố trên quy mô hơn 4000 km2, lưu lượng nước tương đối khá 0,5 – 16 l/s, tuy nhiên do biến động lớn về tính thấm nên tỷ lệ khoan khai thác thành công không cao
– Tầng chứa nước Pleixtocen (QI - III), đây là tầng chứa nước có trữ lượng lớn, chất lượng nước tốt, phân bố vùng huyện Bình Long và nam Đồng Phú Tầng chứa nước Plioxen (N2) lưu lượng 5 – 15 l/s, chất lượng nước tốt
– Ngoài ra còn có tầng chứa nước Mezozoi (MZ) phân bố ở vùng đồi thấp (từ 100 – 250 m)
Trang 24CHƯƠNG II : LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU ĐỊA CHẤT
Nằm trong phần thượng nguồn sông Sài Gòn, có lộ đá vôi nên khu vực Tà Thiết (tỉnh Bình Phước) được nhiều nhà địa chất quan tâm nghiên cứu
A GIAI ĐOẠN TRƯỚC 1975 :
Năm 1937, trong Bản đồ địa chất Việt Nam – Lào – Campuchia tỷ lệ 1:500.000 tờ Sài Gòn do E Saurin chủ biên, đá vôi Tà Thiết đã được ghi nhận và mô tả khá chi tiết Tuổi của chúng được xếp vào Carbon – Permi (C – P) Năm 1970, Trần Kim Thạch đã tìm được nhiều vết lộ đá vôi mới khi nghiên cứu ở khu vực Tà Thiết
B GIAI ĐOẠN SAU 1975 :
Năm 1977 - 1978, trong quá trình đo vẽ bản đồ địa chất Miền Nam Việt Nam 1: 500.000 (do Nguyễn Xuân Bao và Trần Đức Lương chủ biên), Bùi Phú Mỹ và Đoàn Cao Xạ có phát hiện được các điểm lộ đá vôi ở dọc sông Sài Gòn trong khu vực Tà Thiết và khu vực Chà Và – Tây Ninh, thiết lập hệ tầng Tà Thiết tuổi Permi muộn gồm 2 phần : Phần dưới là các trầm tích lục nguyên có chứa vôi, phần trên chủ yếu là đá vôi
Năm 1979, Nguyễn Văn Liêm đã so sánh : đá vôi chứa Paleofusulin ở Tây Ninh – Sông Bé và đá vôi ở Trường Hưng (Trung Quốc) là phần trẻ nhất của Permi Cũng trong thời gian này, Giang Sửu (Hội nghị khoa học địa chất – 10/1979) cũng đã đánh giá triển vọng và chất lượng của đá vôi ở các khu vực này (làm xi măng, làm vôi, )
Trang 25Năm 1985, trong "Báo cáo biên hội bản đồ địa chất tỉnh Sông Bé và Tây Ninh tỷ lệ 1: 100.000", Hoàng Ngọc Kỷ đã tổng hợp các tài liệu địa chất đã• nghiên cứu từ trước và làm sáng tỏ thêm đặc điểm cấu trúc mỏ đá vôi Tà Thiết
Trong quá trình đo vẽ địa chất 1: 200.000 (1980 – 1990), Đoàn địa chất
204 còn phát hiện đá vôi Thanh Lương lộ ra gần cửa suối Cần Lê
Năm 1992, Xí nghiệp Khảo sát Xây dựng số 4 đã•tìm kiếm tỷ mỉ đá vôi mỏ Tà Thiết – Lộc Ninh – Bình Phước Kết quả đã•khoanh định được diện phân bố đá vôi tại mỏ, sơ bộ xác định chất lượng đá vôi và trữ lượng ở cấp P1 là 280 triệu tấn
Năm 1997 – 1999, Liên hiệp Khoa học sản xuất Địa chất Nam Bộ đã tiến hành thăm dò đánh giá chất lượng, trữ lượng của mỏ đá vôi Thanh Lương theo yêu cầu của Ban quản lý dự án Nhà máy Xi măng Tà Thiết – Bình Phước Kết quả thăm dò đã đánh giá được chất lượng, trữ lượng đá vôi tại mỏ Thanh Lương ở cấp B + C1 + C2 là trên 154 triệu tấn, trong đó cấp B + C1 là 87 triệu tấn
Trong quá trình hiệu đính bản đồ địa chất 1:200.000 (1992 – 1996) hệ tầng Tà Thiết được thay đổi : Phần lục nguyên bên dưới được tách thành hệ tầng Tà Nốt, phần đá vôi bên trên xếp vào hệ tầng Tà Thiết cùng tuổi Permi muộn
Trong quá trình đo vẽ lập bản đồ địa chất và tìm kiếm khoáng sản tỷ lệ 1:50.000 (1997 – 2001) Đề án Lộc Ninh đã khảo sát chi tiết hóa khu vực thăm
Trang 26dò, phát hiện ra nhiều điểm lộ đá vôi dọc sông Sài Gòn trong khu vực Tà Thiết và đã xếp các đá vôi ở khu vực này vào hệ tầng Tà Vát tuổi Permi
Năm 2001, trong các tháng 7, 8, 9, Công ty Xi măng Hà Tiên 1 đã•tiến hành một số công tác trắc địa, địa chất thủy văn để chuẩn bị cho công tác thăm dò mỏ và lập báo cáo nghiên cứu khả thi dự án nhà máy xi măng Bình Phước Những công trình nghiên cứu, đo vẽ bản đồ, tìm kiếm, thăm dò này đã•làm rõ thêm cấu trúc và chất lượng các loại đá vôi của hệ tầng Tà Thiết Các kết quả này giúp cho việc lựa chọn diện tích thăm dò, xác định hệ phương pháp nghiên cứu, xác định vị trí các tuyến khoan, phương pháp lấy mẫu, Ngoài việc nghiên cứu như đã•nêu trên, đã•từ lâu đá vôi Tà Thiết, Thanh Lương đã được khai thác quy mô nhỏ phục vụ cho các mục đích khác nhau Quân khu 7 (1975 – 1985), Công ty Xây dựng Bình Long (1987 – 1988) đã khai thác đá vôi chủ yếu phục vụ cho sản xuất vôi làm phân bón và xi măng cấp thấp Khối lượng khai thác khoảng vài ngàn tấn/năm
Trang 27CHƯƠNG III: ĐẶC ĐIỂM ĐỊA CHẤT KHU VỰC
Khu vực thăm dò đá vôi Bình Long và phụ cận phân bố chủ yếu các trầm tích lục nguyên – carbonat Permi muộn thuộc hệ tầng Tà Nốt và hệ tầng Tà Vát; phủ bất chỉnh hợp bên trên là các thành tạo lục nguyên nghèo carbonat hệ tầng Sông Sài Gòn tuổi Trias sớm Trầm tích Kainozoi gồm sét, sét bột bị laterit hóa hệ tầng Bà Miêu tuổi Pliocen và các trầm tích Đệ Tứ tạo thành lớp phủ không đều Các thành tạo magma xâm nhập và phun trào không phân tầng có diện lộ rất hạn chế
Trang 28(Bản đồ địa chất vùng – nhóm tờ Lộc Ninh)
Trang 29III 1 ĐỊA TẦNG:
Các thành tạo trầm tích và trầm tích phun trào có mặt trong phạm vi tỉnh Bình Phước được xếp vào những phân vị địa tầng có tuổi từ Pecmi muộn đến Đệ tứ như sau:
1 Hệ tầng Tà Thiết (P3tt) : Hệ tầng Tà Nốt (P3 tn) và Hệ tầng Tà
Vát (P3 tv)
2 Hệ tầng Sông Sài Gòn (T1 sg)
3 Hệ tầng Long Bình (J3-K1 lb)
4 Hệ tầng Bà Miêu (N2 bm)
5 Hệ tầng Xuân Lộc (βQ12xl)
6 Trầm tích sông Pleistocen sớm – Hệ tầng Đất Cuốc (aQ11đc)
7 Các trầm tích sông, sông đầm lầy, trầm tích sông – biển Holocen
8 Trầm tích deluvi Đệ tứ không phân chia
Dưới đây tác giả liệt kê một số địa tầng quan trọng trong khu vực nghiên cứu:
III 1 1 HỆ PERMI, THỐNG THƯỢNG – HỆ TẦNG TÀ NỐT (P 3
tn):
Hệ tầng Tà Nốt được Nguyễn Xuân Bao và nnk thành lập (trong công trình "Bản đồ địa chất và khoáng sản Việt Nam tỷ lệ 1:200.000 loạt tờ
Trang 30Đồng bằng Nam Bộ", Nguyễn Ngọc Hoa và nnk, 1996) Hệ tầng Tà Nốt bao gồm các trầm tích lục nguyên ở phần thấp của mặt cắt loạt Tà Thiết Mặt cắt chuẩn quan sát được dọc thượng nguồn sông Sài Gòn, gần phum Tà Nốt Thành phần gồm: cuội kết, cát kết, bột kết và đá phiến sét Chiều dày chung
300 m
Trong khu vực nghiên cứu, chúng lộ ra ở phía Tây, thành phần gồm cuội kết, cát kết, phiến sét, bột kết xen ít sét than; bên trên chuyển tiếp sang trầm tích carbonat hệ tầng Tà Vát
III 1 2 HỆ PERMI, THỐNG THƯỢNG – HỆ TẦNG TÀ VÁT (P 3
tv):
Hệ tầng Tà Vát trên diện tích nghiên cứu trước đây được xếp vào hệ tầng Tà Thiết do Bùi Phú Mỹ thành lập năm 1984 Hệ tầng Tà Vát bao gồm các trầm tích carbonat ở phần cao của mặt cắt loạt Tà Thiết (theo Vũ Khúc và nnk là hệ tầng Hớn Quản, theo Ma Công Cọ và nnk là hệ tầng Tà Vát) Trong quá trình đo vẽ lập bản đồ địa chất và tìm kiếm khoáng sản tỷ lệ 1: 50.000 (1997 – 2001) Đề án Lộc Ninh đã khảo sát chi tiết hóa khu vực thăm dò, phát hiện ra nhiều điểm lộ đá vôi dọc sông Sài Gòn trong khu vực Tà Thiết và đã xếp các đá vôi ở khu vực này vào hệ tầng Tà Vát tuổi Permi Mặt cắt chuẩn quan sát được ở gần cầu Tà Thiết, Bình Phước, thành phần gồm: a) Đá vôi hạt nhỏ, sét vôi, 50 – 80 m; b) Đá vôi hạt vừa, xám hồng, 8 – 10 m; c) Đá vôi xám sẫm, 40 – 60 m; Chiều dày chung khoảng 150 m (theo Ma Công Cọ và nnk)
Trong khu vực nghiên cứu, hệ tầng Tà Vát lộ hạn chế dọc theo các suối nhỏ (mặt cắt ở suối Prek Krea còn gọi là Prek Tram Kal) và được phát hiện trong các lỗ khoan thăm dò Thành phần chủ yếu là đá vôi màu xám, xám
Trang 31đen, xám sáng có sắc hồng, phân lớp dày hoặc không rõ phân lớp, xen kẹp các lớp đá phiến sét, sét vôi, vôi sét, sét bột kết, chứa các hóa thạch Permi muộn
Paleofusilina prisca, Reichelina sp (theo Vũ Khúc và nnk), chiều dày khoảng
200 m Trong khu vực Tà Thiết, các trầm tích hệ tầng Tà Nốt và Tà Vát có thế nằm đơn nghiêng, cắm về đông, đông – đông nam, đông – đông bắc với góc dốc từ 20 – 250 đến 350 – 450
Hệ tầng Tà Vát nằm chuyển tiếp bên trên hệ tầng Tà Nốt và bị các thành tạo lục nguyên nghèo carbonat hệ tầng Sông Sài Gòn (T1 sg) phủ bất
chỉnh hợp Về tuổi, hệ tầng Tà Vát cùng tuổi Permi muộn, nhưng sau hệ tầng Tà Nốt
Trầm tích carbonat hệ tầng Tà Vát là đối tượng thăm dò đá vôi xi măng
III 1 3 HỆ TRIAS, THỐNG HẠ – HỆ TẦNG SÔNG SÀI GÒN (T 1
ssg):
Hệ tầng Sông Sài Gòn được Bùi Phú Mỹ và Vũ Khúc thành lập năm
1980 Hệ tầng Sông Sài Gòn bao gồm các trầm tích lục nguyên, lục nguyên nghèo carbonat Mặt cắt chuẩn quan sát được ở dọc sông Tông Lê Chàm, từ cầu Tà Thiết tới nông trường Tống Lê Chân, thành phần gồm: a) Sét vôi, bột kết vôi, lớp kẹp cát kết chứa vôi, dày 200 m; b) Bột kết, lớp kẹp cát kết, cát kết vôi và sét vôi, dày 300 m; c) Cát kết, bột kết, lớp kẹp sét kết, dày 300 m Chiều dày chung khoảng 800 m (theo Vũ Khúc và nnk)
Trong khu vực nghiên cứu, hệ tầng Sông Sài Gòn lộ hạn chế dọc theo các suối nhỏ (dọc theo suối Prek Krea) và được phát hiện trong các lỗ
Trang 32khoan TT5, TT7, TT8, TT11 (theo Ma Công Cọ và nnk), chủ yếu chúng phân bố tập trung ở diện tích phía Đông suối Prek Krea Chúng thường bị phủ bởi các thành tạo trầm tích Neogen - Đệ Tứ Thành phần gồm: sét bột kết, xen ít
sét vôi, bột kết, sét kết Hoá thạch: Claraia stachi, Metotoceras phumvi,
Ophiceras cf commune, Eumorphotis maequicostata tuổi Trias sớm Chiều
dày (theo tài liệu khoan) > 120 m
Hệ tầng nằm phủ bất chỉnh hợp trên hệ tầng Tà Vát và bị phủ bởi các trầm tích Kainozoi
Trầm tích lục nguyên hệ tầng Sông Sài Gòn khi bị phong hoá có tính chất và thành phần phù hợp tiêu chuẩn nguyên liệu sét xi măng
III 1 4 HỆ NEOGEN, THỐNG PLIOCEN – HỆ TẦNG BÀ MIÊU (N 2 bm):
Hệ tầng Bà Miêu được Lê Đức An và nnk thành lập năm 1981 Mặt cắt chuẩn quan sát được ở Bà Miêu, Biên Hòa, thành phần gồm : a) Cát kết đa khoáng, dày 37 – 45 m; b) Cát kết đa khoáng với các lớp mỏng bột kết, dày 60 – 70 m; c) Cát kết, bột kết, sét kết, dày 27 – 33 m; Chiều dày chung khoảng
100 – 150 m (theo Trương Quốc Dân và nnk)
Trong khu vực nghiên cứu, hệ tầng Bà Miêu có diện phân bố rộng khắp Thành phần gồm chủ yếu là sét, sét bột chứa cát, sạn, phần trên bị laterit hóa Chúng phủ bất chỉnh hợp trên các thành tạo trước Kainozoi, chiều dày thay đổi do bóc mòn, chiều dày chung khoảng trên 20 m Trong các bản đồ địa chất tỷ lệ 1:200.000 (Nguyễn Ngọc Hoa, 1996) và 1:50.000 (Ma Công Cọ, 2001) chúng được xếp vào hệ tầng Bà Miêu, tuổi Pliocen
Trang 33Trầm tích sét, sét bột hệ tầng Bà Miêu có thể sử dụng làm sét xi măng; phần bị laterit hóa có thể làm nguyên liệu sản xuất xi măng
III 1 5 Hệ Đệ Tứ, thống Holocen:
a Trầm tích deluvi (dQ):
Phân bố dọc hai bên bờ các dòng chảy trong vùng Đây là các sản phẩm lăn, trôi được tích tụ trên bề mặt sườn có thành phần chủ yếu là cát, sạn, sỏi lẫn cuội, tảng laterit Chiều dày mỏng, trung bình từ 1 – 2 m
b Trầm tích sông (aQ IV ):
Bao gồm các trầm tích sông phân bố dọc các suối nhỏ trong khu vực Thành phần gồm cát, bột, sét lẫn sạn sỏi laterit và ít mảnh đá cát bột kết Chiều dày thay đổi từ 2 – 3 m, đôi khi lên tới 5 m
III 2 CÁC THÀNH TẠO MAGMA XÂM NHẬP VÀ PHUN TRÀO KHÔNG PHÂN TẦNG :
Các thành tạo magma xâm nhập và phun trào không phân tầng bao gồm các đá thuộc thành tạo núi lửa không phân tầng và các đai mạch phân bố trong các lỗ khoan ở phía Tây diện tích thăm dò Bao gồm andesit và phun trào trung tính bị biến đổi có diện phân bố rất hạn chế, mới được phát hiện trong các lỗ khoan thuộc phạm vi diện tích thăm dò
Các đá phun trào có màu xám đen, xám sẫm, phớt lục, hạt mịn, cấu tạo khối đặc sít Dưới kính hiển vi chúng có kiến trúc tàn dư andesit, cấu tạo dòng chảy Chúng xuyên cắt các đá phiến sét vôi, đá vôi hệ tầng Tà Vát
Trang 34Các đá mạch diabas mới được phát hiện trong các lỗ khoan thuộc phạm
vi diện tích thăm dò cùng với các đá andesit, các đá phun trào trung tính bị biến đổi Chúng có màu xám đen, xám sẫm, phớt lục, hạt mịn, cấu tạo khối đặc sít Dưới kính hiển vi chúng có kiến trúc ophit biến dư, cấu tạo dòng chảy Chúng xuyên cắt các đá phiến sét vôi, đá vôi hệ tầng Tà Vát
III 3 KIẾN TẠO :
III 3 1 TẦNG CẤU TRÚC :
Theo các tài liệu đo vẽ bản đồ địa chất tỷ lệ 1: 200.000 và 1: 50.000 các thành tạo địa chất trong khu vực Tà Thiết và vùng phụ cận được xếp vào 3 tầng cấu trúc :
– Tầng cấu trúc dưới (tầng cấu trúc Paleozoi Thượng – Mesozoi Hạ):
Cấu thành bởi các thành tạo Permi muộn, Trias sớm bao gồm các trầm tích lục nguyên hệ tầng Tà Nốt, trầm tích carbonat hệ tầng Tà Vát, các trầm tích lục nguyên – carbonat hệ tầng Sông Sài Gòn Trên bình diện rộng, các đá của các hệ tầng này bị uốn nếp khá mạnh, trục nếp uốn kéo dài theo phương Đông Bắc – Tây Nam Tuy nhiên trong khu vực thăm dò chỉ gặp một cánh của nếp uốn, có thế nằm đơn nghiêng, cắm về Đông, Đông – Đông Nam, Đông – Đông Bắc với góc dốc từ 200 – 250 đến 350 – 450 Tầng cấu trúc này bị xuyên cắt, chồng gối bởi các yếu tố của tầng cấu trúc Mesozoi Thượng và bị phủ bất chỉnh hợp bởi tầng cấu trúc Kainozoi và bị các đứt gãy tuổi Mesozoi – Kainozoi làm dập vỡ và dịch chuyển theo các phương khác nhau
– Tầng cấu trúc giữa (tầng cấu trúc Mesozoi Thượng) : cấu thành bởi
các thành tạo Jura muộn – Creta sớm và Paleogen bao gồm các đá thuộc thành
Trang 35tạo núi lửa không phân tầng, thành phần trung tính và các đai mạch thành phần diabas Các thành tạo của tầng cấu trúc giữa có diện phân bố rất hạn chế, chủ yếu trong các đới dập vỡ, đứt gãy kiến tạo phát triển trên nền các đá của tầng cấu trúc dưới (các trầm tích lục nguyên hệ tầng Tà Nốt, trầm tích carbonat hệ tầng Tà Vát)
– Tầng cấu trúc trên (tầng cấu trúc Kainozoi) : cấu thành bởi các trầm
tích Kainozoi gồm hệ tầng Bà Miêu và trầm tích Đệ Tứ Chúng tạo thành lớp phủ, chiếm phần cao của các dải đồi trong khu vực Chiều dày thay đổi theo địa hình, từ vài mét đến trên 20 m
III 3 2 ĐỨT GÃY:
Khu vực Tà Thiết và vùng phụ cận có nhiều đứt gãy, chủ yếu do hoạt động kiến tạo trong giai đoạn Mesozoi – Kainozoi Các đứt gãy có phương kéo dài á kinh tuyến, Tây Bắc – Đông Nam và phương Đông Bắc – Tây Nam Ở phần diện tích đã được cấp giấy phép thăm dò đã xác định được các đứt gãy thuộc các hệ thống như đã nêu trên : các đứt gãy phương Tây Bắc – Đông Nam với bản chất thuận – ngang trái là nguyên nhân gây dịch chuyển mạnh các tập đá vôi theo phương Tây Bắc – Đông Nam Hệ đứt gãy phương Đông Bắc – Tây Nam có bản chất trượt bằng phải Các đứt gãy phương á kinh tuyến gồm có 2 loại : loại đứt gãy phương á kinh tuyến có bản chất nghịch chờm (cánh Tây sụt xuống, cánh Đông chờm lên), có góc cắm dốc 450 – 600; loại đứt gãy phương á kinh tuyến thuộc kiểu đứt gãy thuận, cắm về đông với góc cắm rất dốc (700 – 800), biên độ dịch chuyển thẳng đứng ở hai bên đứt gãy khá lớn (>
80 m)
Trang 36Các đứt gãy thuộc các hệ thống nêu trên đã làm dập vỡ và dịch chuyển các tập đá theo các phương khác nhau Hoạt động đứt gãy đã làm phức tạp bình đồ cấu trúc khu vực thăm dò, là nguyên nhân tạo thành các khối nâng dạng địa lũy, tạo điều kiện cho các tập đá vôi xuất lộ trên bề mặt địa hình Hoạt động đứt gãy và các hệ thống khe nứt đi kèm tạo điều kiện lưu giữ, vận chuyển nước ngầm có thể là nguyên nhân hình thành các hệ thống các hang hố karst trong các thành tạo đá vôi trong khu vực
III 4 KHOÁNG SẢN :
Tài nguyên khoáng sản được phân bố rải rác chủ yếu vùng phía Tây và một ít ở trung tâm Đã phát hiện được 91 mỏ, điểm quặng, điểm khoáng hoá với 20 loại khoáng sản có tiềm năng triển vọng khác nhau thuộc 4 nhóm : nguyên liệu phân bón, kim loại, phi kim loại, đá quý và bán quý Trong đó nguyên vật liệu xây dựng (đá, cát, sét, laterit, puzơlan) kaolin, đá vôi, … là loại khoáng sản có triển vọng và quan trọng nhất của tỉnh
Cụ thể: Có 4 mỏ quặng bauxít trên bề mặt diện tích 13.400 ha; 6 điểm khoáng hoá; 26 mỏ đá xây dựng; 3 mỏ cát, cuội, sỏi; 11 mỏ sét gạch ngói; 15 điểm mỏ laterit và vật liệu san lấp; 5 mỏ kaolin; 2 mỏ đá vôi xi măng có quy mô lớn; 2 mỏ sét ximăng và laterit; 6 mỏ puzơlan; 2 mỏ laterit; 2 mỏ đá quý và
4 mỏ bán đá quý
Hiện nay tỉnh mới chỉ khai thác một số mỏ như đá vôi, đá xây dựng, cát sỏi, sét gạch ngói đáp ứng một phần cho sản xuất tiêu dùng, xây dựng trong tỉnh, còn lại các mỏ khác đang tiến hành thăm dò để có cơ sở đầu tư khai thác
Trang 37CHƯƠNG IV : ĐẶC ĐIỂM ĐỊA CHẤT MỎ ĐÁ VÔI VÙNG
TÂY NAM BÌNH LONG, BÌNH PHƯỚC
IV 1 ĐỊA CHẤT:
Mỏ đá vôi khu vực xã Minh Đức, vùng Tây Nam Bình Long là một mỏ có cấu trúc phức tạp Khoáng sản chính là đá vôi, phần lớn bị phủ dưới lớp phủ dày từ 6 m đến 25 m, trung bình 12,9 m Chiều dày đất phủ có xu hướng tăng dần từ Đông sang Tây Do đất phủ được cấu tạo bởi các lớp laterit, sét, sét pha có tính chất cơ lý khác nhau, phần lớn thuộc nhóm đất mềm yếu nên góc dốc an toàn của bờ moong thấp, làm khối lượng đất phủ cần bóc lớn, ảnh hưởng trực tiếp đến công tác khai thác sau này
Đá vôi – nguyên liệu chính để sản xuất xi măng có chất lượng không ổn định, được xếp vào 3 loại quặng có chất lượng khác nhau tương ứng với 3 tập của hệ tầng Tà Vát Chúng có xu hướng phân bố theo các dải kéo dài theo phương á kinh tuyến do đó việc khai thác đòi hỏi phải đồng thời khai thác cả 3 loại quặng trên để có phương pháp phối liệu thích hợp nhằm ổn định chất lượng xi măng
Ngoài ra, mức độ phát triển karst cũng như các hệ thống đứt gãy kiến tạo, các đới dập vỡ trong diện tích thăm dò cũng ảnh hưởng rất lớn đến điều kiện khai thác sau này Với 8 bậc hang đã thống kê có mặt trong mỏ, hoạt động karst phát triển khá phổ biến (hệ số karst là 14%) là một yếu tố rất bất lợi cho công tác khai thác sau này Mặt khác, khi khai thác trong các đới dập vỡ, đứt gãy thì khả năng phát triển các hiện tượng trượt lở bờ moong khai thác tăng cao, nhất là khi hướng của bờ moong khai thác trùng với hướng cắm của
Trang 38đứt gãy, khe nứt Như vậy, cấu trúc địa chất mỏ ảnh hưởng rất lớn đến điều kiện khai thác mỏ sau này
Trang 39(Bản đồ địa chất mỏ tỉ lệ nhỏ)
Trang 40Chuù thích