1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

nghiên cứu nhu cầu điều trị nắn chỉnh răng hàm và đánh giá hiệu quả điều trị thói quen xấu ở trẻ từ 12 đến 15 tuổi tại thành phố thủ dầu một - bình dương

86 684 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 86
Dung lượng 19,16 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Để giảiquyết vấn đề này chúng ta cần phải có các nghiên cứu điều tra về tỷ lệ lệch lạc khớpcắn và nhu cầu cần hỗ trợ điều trị chỉnh nha trong cộng đồng dân cư của chúng ta,từ đó xác định

Trang 1

TRẦN TUẤN ANH

NGHI£N CøU NHU CÇU §IÒU TRÞ N¾N CHØNH R¡NG HµM

Vµ §¸NH GI¸ HIÖU QU¶ §IÒU TRÞ THãI QUEN XÊU ë TRÎ

Tõ 12 §ÕN 15 TUæI T¹I THµNH PHè THñ DÇU MéT

Trang 2

TRẦN TUẤN ANH

NGHI£N CøU NHU CÇU §IÒU TRÞ N¾N CHØNH R¡NG HµM

Vµ §¸NH GI¸ HIÖU QU¶ §IÒU TRÞ THãI QUEN XÊU ë TRÎ

Tõ 12 §ÕN 15 TUæI T¹I THµNH PHè THñ DÇU MéT

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

1 GS.TS LÊ GIA VINH

2 TS NGUYÊN THỊ THU PHƯƠNG

HÀ NỘI - 2013

Trang 3

PHẦN I: BÀI LUẬN VỀ DỰ ĐỊNH NGHIÊN CỨU

Họ và tên thí sinh: TRẦN TUẤN ANH

Cơ quan công tác: Trường Cao Đẳng Y Tế Tỉnh Bình Dương

Chuyên ngành dự tuyển: RĂNG HÀM MẶT Mã số: 62720601

Tên đề tài: NGHIÊN CỨU NHU CẦU ĐIỀU TRỊ NẮN CHỈNH RĂNG HÀM

VÀ ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ ĐIỀU TRỊ THÓI QUEN XẤU Ở TRẺ TỪ 12 ĐẾN 15 TUỔI TẠI THÀNH PHỐTHỦ DẦU MỘT - BÌNH DƯƠNG

1 Lý do lựa chọn đề tài, lĩnh vực nghiên cứu.

Tình trạng lệch lạc răng hàm là một trong những căn bệnh phổ biến nhất của trẻ

em ở nước ta và trên toàn thế giới Lệch lạc răng hàm không chỉ ảnh hưởng tới tâm

lý, chức năng, thẩm mỹ mà còn tạo điều kiện cho các bệnh răng miệng khác pháttriển Bên cạnh đó, mối quan tâm của cộng đồng và thậm chí của cả giới chuyênmôn đối với các lệch lạc răng hàm mặt thường chưa tương xứng Xác định tìnhtrạng lệch lạc khớp cắn của trẻ em ở lứa tuổi 12 sẽ góp phần không nhỏ vào côngtác phòng bệnh và điều trị răng miệng cho trẻ em, giúp trẻ có được khuôn mặt đẹp,hàm răng khỏe mạnh Sự phát triển của sọ mặt ở tuổi 15 gần như đã hoàn chỉnh Từ

12 đến 15 tuổi là tuổi mà trẻ đang dần dần thích ứng với khớp cắn hình thành giữacác cung răng và cũng là thời kỳ can thiệp nắn chỉnh răng hàm có hiệu quả nhất.Một khớp cắn như thế nào được gọi là lý tưởng hay không lý tưởng? Việc các nhàkhoa học đưa ra một số tiêu chí nhằm xác định mức độ thẩm mỹ và nhu cầu điều trịchỉnh nha cho người dân được áp dụng một cách phổ biến cứng nhắc dựa trên cáctiêu chuẩn của người Châu Âu để xác định mức độ thẩm mỹ và nhu cầu điều trị

Trang 4

riêng, liệu các tiêu chuẩn đó có phù hợp với đa số dân chúng hay không? Để giảiquyết vấn đề này chúng ta cần phải có các nghiên cứu điều tra về tỷ lệ lệch lạc khớpcắn và nhu cầu cần hỗ trợ điều trị chỉnh nha trong cộng đồng dân cư của chúng ta,

từ đó xác định sự phù hợp hay chưa phù hợp giữa các mức độ thẩm mỹ và nhu cầuđiều trị nắn chỉnh khớp cắn trên người Châu Âu và cộng đồng dân cư của chúng ta

sẽ góp phần không nhỏ vào việc nâng cao trình độ chuyên môn trong công tácphòng bệnh, tư vấn và điều trị răng miệng cho người dân, đem đến cho cộng đồngdân cư có được khuôn mặt đẹp, hàm răng khỏe mạnh Bên cạnh đó chúng tôi tiếnhành can thiệp điều trị ở nhóm đối tượng có lệch lạc khớp cắn do ảnh hưởng củathói quen đẩy lưỡi Và cũng chính vì những lý do đó chúng tôi đã tiến hành nghiêncứu đề tài này với 03 mục tiêu sau:

1 Mô tả tình trạng lệch lạc khớp cắn và xác định nhu cầu điều trị nắn chỉnh khớp cắn ở trẻ em lứa tuổi 12-15 tuổi tại thành phố Thủ Dầu Một, Bình Dương.

2 Đối chiếu nhu cầu điều trị nắn chỉnh răng hàm theo tiêu chuẩn của IOTN với nhu cầu nắn chỉnh thực tế ở cộng đồng thông qua ảnh kỹ thuật số và video clip.

3 Đánh giá hiệu quả phương pháp điều trị thói quen đẩy lưỡi ảnh hưởng đến tình trạng lệch lạc khớp cắn bằng khí cụ tái giáo dục chức năng lưỡi với viên ngọc trai nhân tạo.

Trang 5

tiếp xúc với nền khoa học kỹ thuật tiên tiến nhiều hơn, nhu cầu làm đẹp cũng được chútrọng Với những bước tiến xa trong khoa học kỹ thuật hiện đại, nghành Răng HàmMặt ngày một phát triển hơn, trong đó, chỉnh hình răng miệng ngày càng được quantâm bởi vai trò hết sức quan trọng của nó trong thẩm mỹ khuôn mặt và nụ cười Trên thế giới cũng đã có nhiều nghiên cứu đưa ra những tiêu chuẩn về mức độthẩm mỹ cũng như các chỉ số nhu cầu điều trị chỉnh hình cho người dân Nhưngchúng ta không thể lấy tiêu chuẩn hình thái chung chung của dân tộc này áp dụngcho dân tộc khác.

Với mong muốn tiếp cận với nhiều thành tựu mới trong lĩnh vực chỉnh hìnhrăng miệng Hơn thế nữa, mong muốn của tôi là tìm ra những tiêu chuẩn về mức độthẩm mỹ cũng như các chỉ số nhu cầu điều trị nắn chỉnh răng hàm đặc trưng riêngngười Việt Nam chúng ta, từ đó làm tiền đề cho công tác phòng ngừa và điều trịlệch lạc khớp cắn người dân Việt nam nói chung và trẻ em Việt nam nói riêng trongtương lai, từ đó góp phần tạo nên tiếng nói riêng cho dân tộc chúng ta

Mặc khác khi đi học nghiên cứu sinh tôi sẽ có cơ hội tiếp xúc và học hỏi vớinhiều Thầy, Cô tại Viện Đào Tạo Răng Hàm Mặt – Đại Học Y Hà Nội Đây là nơitập trung những chuyên gia Răng Hàm Mặt đầu ngành Chính môi trường này sẽgiúp tôi trưởng thành và có khả năng nghiên cứu độc lập

3 Lý do lựa chọn cơ sở đào tạo.

Viện Đào Tạo Răng Hàm Mặt – Đại Học Y Dược Hà Nội là nơi đào tạo hàngđầu về chuyên ngành Răng Hàm Mặt ở Việt Nam Tôi hy vọng rằng, sau khi đượchọc nghiên cứu sinh ở đây, sau khi tốt nghiệp tôi sẽ cố gắng phát triển chuyênnghành này ở tỉnh Bình Dương nói chung và tại Trường Cao Đẳng Y Tế Bìnhdương nói riêng

4 Những dự định và kế hoạch để đạt được những mục tiêu mong muốn.

Trong quá trình làm nghiên cứu, tôi sẽ thường xuyên có kế hoạch cụ thể, quản

lý tốt thời gian để thực hiện đúng tiến độ của đề tài một cách có hiệu quả, đồng thời

Trang 6

Thường xuyên có mặt trong những giai đoạn thu thập số liệu, làm nghiên cứu tại ViệnĐào Tạo Răng Hàm Mặt – ĐH Y Hà Nội.

5 Kinh nghiệm.

Hiện tại, tôi là giảng viên đã có thâm niên giảng dạy tại bộ môn Răng HàmMặt, tham gia những đề tài trong lĩnh vực Răng Hàm Mặt Tham gia ở cấp độ đề tàicấp cơ sở, cấp tỉnh Ngoài ra, được tham gia các khóa đào tạo ngắn hạn về chuyênmôn trong nước và ở nước ngoài Thường xuyên tham gia các buổi hội thảo chuyênnghành nhằm cập nhật những kiến thức mới

6 Dự kiến việc làm và các dự kiến tiếp theo sau khi tốt nghiệp

Sau khi tốt nghiệp Nghiên cứu sinh ở Viện Đào Tạo Răng Hàm Mặt – ĐạiHọc Y Hà Nội, tôi sẽ tiếp tục đầu tư và mở rộng phạm vi nghiên cứu ở tỉnh BìnhDương, đặc biệt tập trung trên đối tượng trẻ em có nhu cầu nắn chỉnh răng hàm cao,nhằm làm giảm đi phần nào tình trạng lệch lạc răng hàm trong cộng đồng Bên cạnh

đó, với nhiệm vụ là một giảng viên, tôi luôn cố gắng cập nhật kiến thức để dìu dắtcác lớp sinh viên như các thầy đã từng dìu dắt chúng tôi Tôi hy vọng sẽ cùng vớicác em sinh viên nghiên cứu thực hiện tiếp các đề tài trong lĩnh vực răng hàm mặt

7 Tôi mong muốn người hướng dẫn nghiên cứu sinh của tôi là:

GVHD 1: GS.TS LÊ GIA VINH

GVHD 2: TS NGUYỄN THỊ THU PHƯƠNG

Trang 7

ClI Khớp cắn loại 1

ClII Khớp cắn loại 2

ClIII Khớp cắn loại 3

IOTN Chỉ số nhu cầu điều trị nắn chỉnh răng

(Indexes of orthodontic Treatment need)

AC Yếu tố thẩm mỹ (Aesthetic component) DHC Yếu tố sức khỏe răng miệng

(Dental health component) ACE Đánh giá yếu tố thẩm mỹ

(Aesthetic component evaluation) WHO Tổ chức y tế thế giới

(World Health Organization) DAI

N,n

XHD

Chỉ số thẩm mỹ răng (Dental aesthetic indexes).

Số lượng.

Xương hàm dưới.

Trang 8

Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3

1.1 Sự hình thành và phát triển khớp cắn 3

1.1.1 Sự hình hành thành khớp cắn 3

1.1.2 Cung răng và khớp cắn lý tưởng 3

1.1.3 Khớp cắn lý tưởng theo quan niệm của Andrews 5

1.1.4 Phân loại lệch lạc khớp cắn theo Angle 6

1.1.5 Phân loại bởi viện tiêu chuẩn Anh 8

1.2 Tiêu chuẩn của của một nụ cười đẹp 9

1.3 Điểm qua tình hình nghiên cứu lệch lạc khớp cắn trên thế giới và trong nước 11

1.4 Chỉ số nhu cầu điều trị nắn chỉnh 11

1.5 Các kết quả nghiên cứu chỉ số nhu cầu điều trị nắn chỉnh trong và ngoài nước 13

1.5.1 Nghiên cứu về chỉ số thẩm mỹ nha khoa (DAI) 14

1.5.2 Nghiên cứu, đánh giá mức độ phù hợp giữa các chỉ số mức độ thẩm mỹ (AC) và nhu cầu điều trị nắn chỉnh (IOTN) của các tác giả trong và ngoài nước 15

1.6 Sự thay đổi của khớp cắn 16

1.7 Các nguyên nhân gây sai khớp cắn 16

1.7.1 Ảnh hưởng của môi trường 16

1.7.2 Sai khớp cắn do ảnh hưởng di truyền 27

1.7.3 Nguyên nhân đặc biệt 28

Chương 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 30

2.1 Đối tượng nghiên cứu 30

2.2 Phương pháp nghiên cứu 31

2.3 Các bước tiến hành nghiên cứu 32

2.3.1 Lập danh sách đối tượng nghiên cứu 32

2.3.2 Thành lập nhóm nghiên cứu 32

2.3.3 Tập huấn nhóm nghiên cứu 33

2.3.4 Khám và sàng lọc học sinh 34

2.3.5 Chụp ảnh chuẩn hóa và quay video clip 34

Trang 9

2.3.8 Lập danh sách người dân cần phỏng vấn điều tra 38

2.3.9 Tiến hành phỏng vấn lấy ý kiến người dân 38

2.3.10 So sánh nhu cầu điều trị nắn chỉnh theo tiêu chuẩn (IOTN) và nhu cầu từ cộng đồng 39

2.3.11 Vật liệu và trang thiết bị nghiên cứu 39

2.4 Các dấu chứng lâm sàng để xác định các thói quen đẩy lưỡi ảnh hưởng đến lệch lạc răng hàm 41

2.4.1 Lập danh sách đối tượng cần can thiệp điều trị thói quen quen xấu 42

2.4.2 Quy trình tiến hành can thiệp bằng khí cụ tái giáo dục chức năng lưỡi: 42

2.4.3 Đánh giá hiệu quả điều trị thói quen đẩy lưỡi bằng khí cụ tái giáo dục chức năng 44

2.5 Sai số và các biện pháp khắc phục sai số 45

2.5.1 Sai số 45

2.5.2 Sai số trong quá trình chụp ảnh và quay 45

2.5.3 Xử lý số liệu 46

2.6 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 46

2.7 Đạo đức trong nghiên cứu 46

Chương 3: DỰ KIẾN KẾT QUẢ 47

3.1 Đặc điểm chung của mẫu nghiên cứu 47

3.1.1 Tình trạng lệch lạc khớp cắn của mẫu nghiên cứu 47

3.2 Nhu cầu điều trị nắn chỉnh từ cộng đồng – so sánh với chỉ số IOTN 52

3.3 Thói quen đẩy lưỡi 53

Chương 4: DỰ KIẾN BÀN LUẬN 55

DỰ KIẾN KẾT LUẬN 56

KẾ HOẠCH THỰC HIỆN 62 TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 10

Bảng 3.2: Phân bố các loại khớp cắn theo giới 47 Bảng 3.3: Phân bố các loại khớp cắn theo tuổi 48 Bảng 3.4: Phân bố nhu cầu điều trị nắn chỉnh răng hàm (IOTN) ở khớp

cắn loại I theo giới 48 Bảng 3.5: Phân bố nhu cầu điều trị nắn chỉnh răng hàm (IOTN) ở khớp

cắn loại I theo tuổi 49 Bảng 3.6: Phân bố nhu cầu điều trị nắn chỉnh răng hàm (IOTN) ở khớp

cắn loại II theo giới 49 Bảng 3.7: Phân bố nhu cầu điều trị nắn chỉnh răng hàm (IOTN) ở khớp

cắn loại II theo tuổi 50 Bảng 3.8: Phân bố nhu cầu điều trị nắn chỉnh răng hàm (IOTN) ở khớp

cắn loại III theo giới 50 Bảng 3.9: Phân bố nhu cầu điều trị nắn chỉnh răng hàm (IOTN) ở khớp

cắn loại III theo tuổi 51 Bảng 3.10: Phân bố nhu cầu điều trị nắn chỉnh răng hàm (IOTN) ở khớp

cắn theo các tiêu chuẩn 51 Bảng 3.11: Phân bố nhu cầu điều trị IOTN theo giới 52 Bảng 3.12: Phân bố nhu cầu điều trị IOTN theo tuổi 52 Bảng 3.13: Phân bố nhu cầu điều trị nắn chỉnh răng hàm ở khớp cắn

theo các tiêu chuẩn dưới đánh giá từ cộng đồng 52 Bảng 3.14: So sánh nhu cầu điều trị nắn chỉnh răng hàm theo IOTN với

nhu cầu nắn chỉnh từ cộng đồng 53 Bảng 3.15: Mối liên quan giữa thói quen đẩy lưỡi đến tình trạng lệch lạc

khớp cắn theo phân loại Angle 53 Bảng 3.16: Phân bố các biểu hiện lâm sàng của thói quen đẩy lưỡi ảnh

hưởng đến khớp cắ trước khi điều trị 54

Bảng 3.17: Phân bố các biểu hiện lâm sàng của thói quen đẩy lưỡi ảnh hưởng

đến khớp cắn sau khi điều trị 54

Trang 11

Hình 1.1: đường cong Spee 5

Hình 1.2: Phân loại lệch lạc khớp cắn theo Angle 6

Hình 1.3: Lệch lạc Khớp cắn loại I 6

Hình 1.4: Tiểu loại I 7

Hình 1.5: Tiểu loại II 7

Hình 1.6: Loại A 7

Hình 1.7: Loại B 7

Hình 1.8: Loại C 8

Hình 1.9: Lệch lạc khớp cắn loại III 8

Hình 1.10: Viện tiêu chuẩn Anh 9

Hình 1.11 Tỷ lệ chiều dài và rộng của răng cửa 9

Hình 1.12 Tỷ lệ chiều dài và rộng của răng cửa 10

Hình 1.13 Các cấu trúc liên quan nên vuông góc với đường giữa 10

Hình 1.14: Thói quen mút tay và lệch lạc khớp cắn 19

Hình 1.15: Khí cụ Hawley với tấm chắn 19

Hình 1.16: Tấm chặn môi 21

Hình 1.17: Hình ảnh lệch lạc khớp cắn do thói quen đẩy lưỡi 23

Hình 1.18: Tấm chắn lưỡi cổ điển 24

Hình 1.19: Tấm chắn lưỡi tháo lắp 24

Hình 1.20: Tấm chắn lưỡi tháo lắp với đinh ba 24

Hình 1.21: Tấm chắn lưỡi cố định 24

Hình 1.22: Tấm chắn lưỡi cố định với đinh ba 25

Hình 1.23: Khí cụ tái giáo dục chức năng với viên ngọc trai 26

Hình 1.24: Khí cụ tái giáo dục chức năng với viên bi 26

Hình 2.1: Độ cắn chìa trước trên 36

Hình 2.2: Độ cắn chìa trước dưới 36

Hình 2.3: Độ cắn hở vùng răng trước 36

Hình 2.4: Liên quan răng hàm theo chiều trước sau 37

Trang 12

Hình 2.7: Bộ dụng cụ lấy dấu, đỗ mẫu, đo đạc 39

Hình 2.8: Máy rung thạch cao SJK 40

Hình 2.9: Máy trộn Alginate tự động ALGIMAX II-GX 300 40

Hình 2.10: Máy ảnh Nikon D90 40

Hình 2.11: Máy quay kỹ thuật số SONY XR260 41

Hình 2.12: Chân đế máy quay kỹ thuật số SONY VCT-80AV 41

Hình 2.13: Vật liệu làm khí cụ tái giáo dục chức năng lưỡi 42

Hình 2.14: Tách kẽ răng 16, 26 44

Hình 2.15: Đặt khâu trên răng 16, 26 và chuẩn bị lấy dấu Alginate 44

Hình 2.16: Lấy dấu Alginate 44

Hình 2.17: Mẫu thạch cao với 2 chiếc khâu trên răng 16,26 44

Hình 2.18: Khí cụ tái giáo dục chức năng lưỡi với viên ngọc trai nhân tạo. 44

Trang 13

ĐẶT VẤN ĐỀ

Xã hội đang ngày một phát triển, mức sống của người dân ngày càng đượcnâng cao, vì thế một vẻ đẹp hoàn thiện đang trở thành mối quan tâm hàng đầu củacon người Nụ cười với hàm răng đều đặn sẽ giúp con người trở nên hấp dẫn, tự tinhơn trong giao tiếp, bên cạnh đó còn tạo nên thẩm mỹ cho khuôn mặt Điều trịchỉnh nha là một trong những biện pháp mang lại nhiều lợi ích về sức khỏe răngmiệng song song đó, chỉnh hình răng mặt cũng đang là một trong những nhu cầu tấtyếu của xã hội và là một hướng phát triển đầy triển vọng của ngành Răng Hàm Mặt Lệch lạc khớp cắn không chỉ ảnh hưởng tới tâm lý, chức năng, thẩm mỹ màcòn tạo điều kiện cho các bệnh răng miệng khác phát triển Xác định tình trạng lệch lạckhớp cắn của trẻ em ở lứa tuổi 12 sẽ góp phần không nhỏ vào công tác phòng bệnh vàđiều trị răng miệng cho trẻ em để có được khuôn mặt đẹp, hàm răng khỏe mạnh Từ 12đến 15 tuổi là tuổi mà trẻ đang dần dần thích ứng với khớp cắn hình thành giữa các

cung răng và cũng là thời kỳ can thiệp nắn chỉnh răng hàm có hiệu quả nhất [1], bên

cạnh đó sự phát triển của sọ mặt ở tuổi 15 gần như đã hoàn chỉnh Do đó mà việc điềutra phân tích tình trạng lệch lạc khớp cắn là việc rất cần thiết cho công tác phòng bệnh,giúp ta xác định nhu cầu điều trị nắn chỉnh răng của cộng đồng

Tình trạng lệch lạc răng hàm của trẻ em Việt Nam có tỷ lệ khá cao Theo LêThị Nhàn [2], tỷ lệ lệch lạc răng hàm chiếm 60% tổng số bệnh nhân tới nắn chỉnhrăng tại bệnh viện Răng Hàm Mặt Hà Nội năm 1978 Theo điều tra của Nguyễn VănCát [3] và các cộng tác viên Bệnh Viện Răng Hàm Mặt Hà Nội năm 1984-1985, tỷ

lệ người có lệch lạc Răng hàm chiếm 44,84% ở miền Bắc, 90% ở một số trường HàNội và theo thống kê của Hà Minh Thu (1996) [4], tỷ lệ lệch lạc răng hàm là 96,1%trong số 1000 bệnh nhân lứa tuổi 6-25 tại bệnh viện Răng Hàm Mặt

Còn riêng tại tỉnh Bình Dương mà cụ thể là thành phố Thủ Dầu Một thì tìnhtrạng lệch lạc khớp cắn và nhu cầu điều trị nắn chỉnh hiện vẫn chưa được quan tâm.Vấn đề được nhận định là do nguồn nhân lực cho công tác điều trị và dự phòng lệchlạc khớp cắn cho trẻ em đang thiếu một cách trầm trọng Do đó, tình trạng lệch lạckhớp cắn răng hàm của trẻ em hiện nay tại thành phố Thủ Dầu Một – Bình Dươnghiện nay cao hay thấp? Mức độ quan tâm của phụ huynh về vần đề này đến con em họ

Trang 14

ra sao? Và công tác dự phòng và điều trị được triển khai như thế nào và kết quả đạtđược ra sao? Xuất phát từ những lý do đó đã thôi thúc chúng tôi thực hiện nghiên cứunày trên trẻ em lứa tuổi 12-15 tại thành phố Thủ Dầu Một tỉnh Bình Dương.

Nhưng một vấn đề nữa đã được đặt ra là một khớp cắn như thế nào được gọi là

lý tưởng và khớp cắn như thế nào mới cần can thiệp điều trị? Việc các nhà khoa họcđưa ra một số tiêu chí nhằm xác định mức độ thẩm mỹ và nhu cầu điều trị chỉnh nhacho người dân được áp dụng một cách phổ biến cứng nhắc dựa trên các tiêu chuẩncủa người Châu Âu để xác định mức độ thẩm mỹ và nhu cầu điều trị chỉnh nhachung chung cho mọi người Như vậy đối với người Việt Nam nói chung và ngườidân hiện đang sinh sống tại thành phố Thủ Dầu Một tỉnh Bình Dương nói riêng, liệucác tiêu chuẩn đó có phù hợp với đa số dân chúng hay không? Để giải quyết vấn đềnày chúng ta cần phải có các nghiên cứu điều tra về tỷ lệ lệch lạc khớp cắn, nguyênnhân và nhu cầu điều trị chỉnh nha của cộng đồng dân cư, từ đó xác định sự phù hợphay chưa phù hợp giữa nhu cầu điều trị nắn chỉnh khớp cắn trên người Châu Âu vàcộng đồng dân cư của chúng ta sẽ góp phần không nhỏ vào việc nâng cao trình độchuyên môn trong công tác phòng bệnh, tư vấn và điều trị răng miệng cho ngườidân, đem đến cho cộng đồng dân cư có được khuôn mặt đẹp, hàm răng khỏe mạnh.Bên cạnh đó chúng tôi tiến hành can thiệp điều trị ở nhóm đối tượng có lệch lạckhớp cắn do ảnh hưởng của thói quen đẩy lưỡi Từ đó, chúng tôi đã tiến hànhnghiên cứu đề tài này với mục tiêu sau:

1 Mô tả tình trạng lệch lạc khớp cắn và xác định nhu cầu điều trị nắn chỉnh khớp cắn ở trẻ em lứa tuổi 12-15 tuổi tại thành phố Thủ Dầu Một, Bình Dương.

2 Đối chiếu nhu cầu điều trị nắn chỉnh răng hàm theo tiêu chuẩn của IOTN với nhu cầu nắn chỉnh thực tế ở cộng đồng thông qua ảnh kỹ thuật

số và video clip.

3 Đánh giá hiệu quả phương pháp điều trị thói quen đẩy lưỡi ảnh hưởng đến tình trạng lệch lạc khớp cắn bằng khí cụ tái giáo dục chức năng lưỡi với viên ngọc trai nhân tạo.

Trang 15

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 Sự hình thành và phát triển khớp cắn

1.1.1 Sự hình hành thành khớp cắn

Quá trình hình thành và phát triển bộ răng sữa là giai đoạn đầu tiên đóng vaitrò quan trọng trong sự hình thành, phát triển và hoạt động của toàn bộ hệ thốngnhai sau này Khớp cắn sơ khởi của bộ răng sữa bắt đầu khi răng hàm sữa thứ nhấtmọc Trước đó, mặc dù các răng cửa giữa và răng cửa bên sữa đã mọc đầu tiênnhưng nó không đóng vai trò ăn khớp nhau để nhai mà chủ yếu là để cắn và xé thức

ăn Sự ăn khớp hoàn chỉnh của răng hàm sữa thứ nhất là một sự kiện quan trọngtrong sự xác lập khớp cắn của bộ răng sữa vì đây là lần đầu tiên chiều cao khớp cắn

và sự lồng múi của các răng được thực hiện

Khoảng 3 tuổi, khớp cắn của bộ răng sữa được thiết lập hoàn chỉnh Khớp cắnnày sẽ duy trì và phát tiển liên tục cho đến khoảng 5 tuổi Ở thời điểm này các răngvĩnh viễn bắt đầu mọc Khoảng thời gian từ 3-5 tuổi là giai đoạn có ý nghĩa quantrọng đối vối sự mọc và phát tiển của các răng vĩnh viễn thay thế

1.1.2 Cung răng và khớp cắn lý tưởng

1.1.2.1 Quan niệm hàm răng hài hòa lý tưởng

Về mặt hình thái học được biểu hiện thông qua tỷ lệ các tầng mặt cân đối, hàihòa giữa kích thước rộng, dài theo ba chiều không gian Răng cân đối hài hòa vớinhau, với cung hàm và mặt

Về chức năng: đạt hiệu suất ăn nhai, nói, thở cao nhất, đảm bảo chức năng khihoạt động và khi tĩnh luôn cân bằng

Về thẩm mỹ: đảm bảo thẩm mỹ cao

1.1.2.2 Khớp cắn lý tưởng

Một khớp cắn lý tưởng thực tế rất hiếm gặp, đòi hỏi răng được cấu tạo và pháttriển hoàn hảo trong môi trường hoàn toàn tốt (cơ, dây chằng, khớp thái dương

Trang 16

hàm ) Ngoài ra răng còn cần phải có khả năng tự đổi mới liên tục để có thể chốnglại sự hao mòn cơ năng.

Một khớp cắn lý tưởng khi “răng đều, các múi răng ăn khớp”

1.1.2.3 Tiêu chuẩn sự hài hòa giữa răng- hàm

- Chiều ngang:

Cung răng trên trùm ra ngoài cung răng dưới sao cho núm ngoài răng trêntrùm ra ngoài núm ngoài răng dưới Đỉnh núm ngoài răng dưới tiếp xúc với rãnhgiữa hai núm của răng hàm nhỏ và răng lớn trên Hai phanh môi trên và dưới thẳnghàng và ở giữa mặt trước của khớp cắn

- Chiều đứng:

Răng hàm trên tiếp xúc vừa khít với răng hàm dưới ở vùng răng hàm nhỏ vàrăng hàm lớn Rìa cắn răng cửa hàm trên vừa chạm rìa cắn răng cửa dưới hoặc trùmsâu 1-2mm

Trang 17

- Mặt phẳng trán giao mày (mặt phẳng Irard) qua điểm ụ trán-giao mày vàthẳng góc với mặt phẳng tai ổ mắt và mặt phẳng dọc giữa.

* Cung răng

Răng cùng số ở vị trí cân xứng hai bên đường nối giữa hàm trên đối với cungrăng trên và ở vị trí cân xứng hai bên đường nối phanh lưỡi và phanh môi dưới đốivới hàm dưới

1.1.3 Khớp cắn lý tưởng theo quan niệm của Andrews

Gồm 6 đặc tính và nó là mục tiêu của điều trị Chỉnh hình răng mặt [6]

1.1.3.1 Tương quan ở vùng răng hàm:

 Gờ bên xa múi ngoài răng 6 hàm trên tiếp xúc gờ bên gần múi ngoài gầnrăng 7 hàm dưới

 Múi ngoài gần răng 6 hàm trên tiếp xúc rãnh ngoài gần răng 6 hàm dưới

 Múi trong gần răng 6 hàm trên khớp với trũng giữa răng 6 hàm dưới

1.1.3.2 Độ nghiêng gần – xa của thân răng: bình thường có góc độ dương và độ

nghiêng này thay đổi theo từng răng [6]

1.1.3.3 Độ nghiêng ngoài – trong của thân răng: tương quan này ảnh hưởng đến độ

cắn phủ [6]

1.1.3.4 Không có răng xoay

1.1.3.5 Không có khe hở giữa các răng

1.1.3.6 Đường cong SPEE phẳng hoặc cong ít: không sâu quá 1.5 mm

Mục đích của điều trị chỉnh hình răng mặt là tạo ra 1 khớp cắn tối ưu có thểđạt được ở mỗi học sinh và tiêu chuẩn khớp cắn thực sự cho mỗi học sinh chỉ có thểxác định sau khi quá trình điều trị và duy trì đã được hoàn tất [7], [8], [9]

Hình 1.1: đường cong Spee [10]

Trang 18

1.1.4 Phân loại lệch lạc khớp cắn theo Angle

Năm 1899 Edward H Angle phân loại lệch lạc khớp cắn của răng vĩnh viễnnhờ răng hàm lớn thứ nhất hàm trên Theo ông, nó là chìa khóa khớp cắn Đây làrăng vĩnh viễn được thành lập và mọc sớm nhất Nó cũng là răng vĩnh viễn to nhấtcủa cung hàm trên, có vị trí tương đối cố định so với nền sọ, khi mọc không bị cảntrở bởi các chân răng sữa và còn được hướng dẫn mọc đúng vị trí nhờ vào hệ răngsữa [11]

Angle phân loại lệch lạc khớp cắn thành 3 loại như sau [10]

Hình 1.2: Phân loại lệch lạc khớp cắn theo Angle [10]

1.1.4.1 Lệch lạc khớp cắn loại I

Răng hàm lớn vĩnh viễn thứ nhất hàm trên và răng hàm lớn vĩnh viễn thứ nhấthàm dưới có tương quan cắn khớp bình thường, nghĩa là múi ngoài gần răng hàmlớn vĩnh viễn thứ nhất hàm trên tiếp xúc với rãnh ngoài gần răng hàm lớn vĩnh viễnthứ nhất hàm dưới, nhưng đường cắn khớp không đúng do các răng mọc sai vị trí,răng xoay hay do những nguyên nhân khác

Hình 1.3: Lệch lạc Khớp cắn loại I [12]

Trang 19

1.1.4.2 Lệch lạc khớp cắn loại II

- Lệch lạc khớp cắn loại này có múi ngoài gần răng hàm lớn vĩnh viễn thứnhất hàm trên ở về phía gần so với rãnh ngoài gần răng hàm lớn vĩnh viễn thứ nhấthàm dưới Lệch lạc khớp cắn loại II chia ra làm hai tiểu loại:

+ Tiểu loại I: Cung răng hàm trên hẹp, hình chữ V, nhô ra trước với các răng cửa trên

nghiêng về phía môi, độ cắn chìa tăng, môi dưới thường chạm mặt trong các răng cửa trên.

Hình 1.4: Tiểu loại I [12] Hình 1.5: Tiểu loại II [12]

+ Tiểu loại II: Các răng cửa giữa hàm trên nghiêng về phía trong nhiều Độ

Trang 20

trên nghiêng ra ngoài.

Hình 1.9: Lệch lạc khớp cắn loại III [5]

1.1.5 Phân loại bởi viện tiêu chuẩn Anh

Angle đã phân loại lệch lạc khớp cắn chủ yếu dựa trên quan hệ của răng hàmlớn vĩnh viễn thứ nhất hàm trên và răng hàm lớn vĩnh viễn thứ nhất hàm dưới và ítnhắc đến quan hệ của các răng cửa hơn Vì vậy năm 1983 viện tiêu chuẩn Anh đãđưa ra phân loại khớp cắn vùng răng cửa dựa vào mối quan hệ trong mặt phẳngtrước-sau của gờ cắn răng cửa giữa hàm dưới với gót răng cửa giữa hàm trên [15]

Trang 21

Hình 1.10: Viện tiêu chuẩn Anh [16]

1.1.5.1 Lệch lạc khớp cắn loại I

Rìa cắn răng cửa hàm dưới tiếp xúc với gót răng cửa trên hay cắn khớp ởkhoảng giữa mặt trong của răng cửa trên Sự cắn khớp các răng ở loại này gọi làkhớp cắn bình thường, độ cắn chìa đo từ rìa cắn răng cửa giữa hàm trên đến rìa cắnrăng cửa giữa hàm dưới có giá trị bình thường là 2-3mm

1.2 Tiêu chuẩn của của một nụ cười đẹp

Nụ cười đẹp là tài sản quý giá không thể thiếu trên một khuôn mặt đẹp Khinhìn vào một nụ cười nào đó, đôi môi có thể được coi như một khung hình Trongkhung hình có những chiếc răng xinh xắn hiện ra trong khi cười Vậy, ta nhìn nhậnthế nào là một nụ cười đẹp? Theo Goldstein (1998) [17] một nụ cười đẹp cần phảihội tụ những tiêu chuẩn cơ bản sau:

Hình 1.11 Tỷ lệ chiều dài và rộng của răng cửa [18].

Trang 22

- Tỷ lệ chiều dài và chiều rộng của 2 răng cửa trên nên khoảng 75%-80%, lýtưởng nhất là 77%.

Hình 1.12 Tỷ lệ chiều dài và rộng của răng cửa [19]

- Sáu răng phía trước (13-12-11-21-22-23) cũng cần có một tỷ lệ nhất định0:6:1:1.6:1:0 (trong nha khoa, một số nhóm răng về mặt lý thuyết tương ứng vớinhau trong tỷ lệ này, ta gọi đó là tỷ lệ vàng).[20],[21]

Hình 1.13 Các cấu trúc liên quan nên vuông góc với đường giữa

hoặc song song với đôi mắt [17]

- Đường giữa và cung hàm: đường giữa 2 răng cửa nên ở giữa khuôn mặt Cáccấu trúc liên quan nên vuông góc với đường giữa hoặc song song với đôi mắt

- Hình dạng của cung hàm nên tạo được vòng cung khi cười

- Vị trí của môi trên trong khi mỉm cười không quá cao để lộ nhiều nướu, cũngkhông quá thấp để bộc lộ hơn một nửa của răng hàm trên Lý tưởng nhất là khôngthấp hơn ¼ răng hàm trên

- Các điểm tiếp xúc dần dần tiến về nướu nhiều hơn khi tiến vào nhữngrăng trong

- Đối xứng nướu: các nướu răng sẽ đối xứng qua đường giữa Khi mỉm cườikhông bộc lộ quá 3mm mô nướu

- Bờ cạnh cắn các răng trước chạm với đường viền môi

- Khoảng cách từ mặt ngoài răng tiền cối thứ 2 đến khóe mép là nhỏ nhất

Trang 23

1.3 Điểm qua tình hình nghiên cứu lệch lạc khớp cắn trên thế giới và trong nước

Nghiên cứu của USPHS (Division Of Health Statistic of U.S Public HealthService) [22] với hai nhóm tuổi: 6-11 tuổi và 12-17 tuổi, tiến hành đo 8000 mẫu vớimỗi nhóm tuổi Dùng phương pháp đo mẫu và chỉ số TPI để đánh giá khớp cắn, sắpxếp răng và các vấn đề khác của khớp cắn Kết quả: 6-11 tuổi = 75% khớp cắn sai,12-17 tuổi = 75% khớp cắn sai

Nghiên cứu của bộ môn răng trẻ em và nắn chỉnh răng trường đại học nhaNairobi, Kenya 1996 với tên: “Mức độ phổ biến của khớp cắn sai ở trẻ em lứa tuổi13-15 ở Nairobi Kenya” tiến hành trên 468 trẻ em nam và 451 trẻ em nữ

Kết quả: 72% có khớp cắn sai Trong đó: 93% khớp cắn trung bình, 19% khấpkhểnh răng, 19% xoay răng, 10% khớp cắn chéo phía sau, 8% khớp cắn hở Không

có sự khác biệt giữa nam và nữ

Năm 1998, NHANES III (The third National Health and NutritionExamination Survey) đã nghiên cứu “ Tần suất sai khớp cắn và nhu cầu điều trị ởMỹ” đã đưa ra kết quả: Tỷ lệ không đều vùng răng cửa xảy ra với số lượng lớn ởcác chủng tộc, dân tộc, khoảng 35% người lớn có sắp xếp răng tốt ở hàm dưới, 15%khớp cắn sai có ảnh hưởng nặng tới chức năng, 20% có sự lệch hướng từ quan hệcắn lý tưởng ClII, ClIII phố biến ở Mexico và Mỹ Khớp cắn sâu, hở: ít thấy 57%-59% dân của mỗi dân tộc có vài phần trăm cần điều trị nắn chỉnh

Nghiên cứu của Nguyễn Văn Cát và cộng sự 1984-1985 [3] cho kết quả:44,84% dân số ở miền Bắc có tỷ lệ lệch lạc răng hàm 90% học sinh ở một sốtrường Hà Nội có lệch lạc răng hàm Theo con số thống kê của Lê Thị Nhàn (1978)60% tổng số học sinh tới nắn chỉnh răng tại khoa Răng Hàm Mặt Hà Nội có lệch lạcrăng hàm Hà Minh Thu thống kê trên 1000 học sinh (tại bệnh viện Răng Hàm Mặt)(1996) lứa tuổi 6-26 cho kết quả 96,1% có lệch lạc răng hàm

1.4 Chỉ số nhu cầu điều trị nắn chỉnh

Có nhiều chỉ số được sử dụng để đánh giá nhu cầu điều trị nắn chỉnh: Chỉ sốkhớp cắn của Summers [23], chỉ số đánh giá trở ngại của lệch lạc khớp cắnSalzmann [24], chỉ số nhu cầu điều trị nắn chỉnh của Thụy Sỹ từ 1966 Chỉ số nhu

Trang 24

cầu điều trị nắn chỉnh của Thụy Sỹ chỉ ra mức độ cần điều trị của học sinh là nhiềuhay ít, được đánh giá theo cách xác định mức độ nghiêm trọng của lệch lạc khớpcắn để chia nhu cầu điều trị nắn chỉnh ra thành 5 mức độ:

Mức độ 1: Không có nhu cầu điều trị nắn chỉnh

Lệch lạc khớp cắn rất ít, chen chúc chưa đến 1mm

Mức độ 2: Ít có nhu cầu điều trị nắn chỉnh

a Độ cắn chìa 3,5 - 6mm, và hai môi chạm được nhau ở tư thế nghỉ

b Có khớp cắn chéo vùng răng trước dưới 1mm

c Sự khác biệt của cắn chéo răng trước hoặc sau dưới 1mm giữa vị trí tiếp xúclùi sau và lồng múi tối đa

d Có răng dịch chuyển sai vị trí từ trên 1 đến 2mm

e Cắn hở phía trước hoặc phía sau từ trên 1 đến 2mm

f Khớp cắn sâu lớn hơn hoặc bằng 3,5mm và răng cửa dưới không chạm lợihàm trên

Mức độ 3: Có nhu cầu điều trị nắn chỉnh trung bình.

a Độ cắn chìa từ trên 3,5 - 6mm, hai môi không chạm nhau

b Cắn khớp chéo răng trước từ trên 1 đến 3,5mm

c Khớp cắn chéo phía trước hoặc sau từ trên 1 đến 2mm giữa vị trí tiếp xúc luisau và vị trí lồng múi tối đa

d Các răng chen chúc từ trên 2 đến 4mm

e Cắn hở phía trước hoặc phía sau từ trên 2 đến 4mm

f Khớp cắn sâu hoàn toàn, răng cửa hàm dưới chạm vào lợi hàm trên hoặcvòm miệng nhưng không gây tổn thương

Mức độ 4: Nhu cầu điều trị nắn chỉnh lớn

a Thiếu ít răng cần phải điều trị phục hình tiền chỉnh nha hoặc chỉnh nha để tạokhoảng trống (1 răng /1 cung răng)

b Độ cắn chìa tăng lớn hơn 6mm nhưng nhỏ hơn hoặc bằng 9mm

c Cắn khớp chéo phía trước hơn 3,5mm nhưng không ảnh hưởng tới chức năng

ăn nhai và phát âm

d Cắn khớp chéo phía trước lớn hơn 1mm và nhỏ hơn 3,5mm gây khó khăntrong việc ăn nhai và phát âm

Trang 25

e Khớp cắn chéo phía trước hoặc phía sau lớn hơn 2mm giữa vị trí tiếp xúc luisau và vị trí lồng múi tối đa.

f Khớp cắn chéo không có sự tiếp xúc cắn khớp chức năng ở một hoặc cả haimúi ngoài

g Các răng chen chúc nhiều, lớn hơn 4 mm

h Khớp cắn hở ở phía trước hoặc phía bên lớn hơn 4mm

i Khớp cắn sâu hoàn toàn, tổn thương lợi và vòm miệng

j Răng mọc một phần, bị cản trở mọc bởi răng bên cạnh Có răng thừa

Mức độ 5: Có nhu cầu điều trị nắn chỉnh nhiều nhất.

a Cản trở mọc răng (trừ răng hàm lớn thứ ba) do răng chen chúc, có răng thừa,còn răng sữa, và các nguyên nhân bệnh lý khác

b Thiếu nhiều răng, có chỉ định làm phục hình (hơn 1 răng/1 cung răng) cần cóphục hình tiền chỉnh nha

c Độ cắn chìa tăng lớn hơn 9mm

d Cắn khớp chéo phía trước lớn hơn 3,5mm gây khó khăn trong việc ăn nhai

và nói

e Khe hở môi - vòm miệng và các bất thường về sọ mặt khác

f Có răng sữa ngầm

1.5 Các kết quả nghiên cứu chỉ số nhu cầu điều trị nắn chỉnh trong và ngoài nước

Các kết quả nghiên cứu của Mandall [25] ở trẻ em 14-15 tuổi trườngManchester cho thấy 48% không cần điều trị, 34% nhu cầu điều trị trung bình và18% nhu cầu điều trị rất nhiều

Trong khi J Indian Soc Pedod prev Dent-March 2007 nghiên cứu trên nhómtrẻ em Châu Á và Caucasian cho thấy yếu tố sức khỏe nha khoa với 18, 41% cần vàrất cần điều trị, khá gần với kết quả của Mandall [25], nhưng nhóm có nhu cầu điềutrị (bao gồm mức độ 3,4,5) là 44,2% - nhiều hơn một phần ba của dân số và vẫn còn

ít hơn so với kết quả các nghiên cứu khác Liên quan về mặt giới tính với nhu cầuđiều trị chỉnh hình răng mặt cũng được nhiều nghiên cứu đề cập tới

Trang 26

Năm 1999, Burden và cộng sự [26] nhận thấy nhu cầu điều trị nắn chỉnh ởnam giới cao hơn nữ một cách rõ rệt, phù hợp với những phát hiện của J Indian SocPedod prev Dent-March 2007 - con trai có nhu cầu điều trị lớn hơn (p = 0,001)

Trong khi đó, nghiên cứu của Mandall và cộng sự [25] cũng như Ucuncu[27] cho thấy không có sự khác biệt đáng kể giữa con trai và con gái về khíacạnh này

Nghiên cứu của Wang G, HaggU, Linh J [28] năm 1999 “Nhu cầu điều trịnắn chỉnh răng hàm của trẻ em Trung Quốc tại Hồng Kông” mẫu nghiên cứugồm 765 trẻ em lứa tuổi 12, dùng chỉ số IOTN đánh giá nhu cầu điều trị nắnchỉnh răng hàm cho kết quả: 12% mức độ 1(không cần can thiệp); 18% mức độ 2(nhu cầu điều trị ít); 33% mức độ 3 (nhu cầu điều trị trung bình); 33% mức độ 4(cần thiết điều trị) và 4% mức độ 5 (rất cần điều trị) 2/3 số trẻ em không hàilong với bộ răng của mình nhưng chỉ có 40% trẻ em muốn điều trị nắn chỉnhrăng hàm

Nghiên cứu của Abdullah MS, Rock WP năm 2001 [29] “ Đánh giá nhu cầuđiều trị nắn chỉnh răng hàm của 5112 trẻ em Malaysia dùng chỉ số IOTN và chỉ sốDAI”, cho kết quả như sau: tỷ lệ trẻ em phải điều trị sức khỏe răng miệng ở mức 4-

5 là 47,9% và 22% phải điều trị thẩm mỹ răng ở mức 8-10 và chỉ số DAI là 24,1%cần điều trị Kết hợp cả 2 chỉ số có 30% trẻ em cần phải can thiệp điều trị nắn chỉnhrăng hàm

1.5.1 Nghiên cứu về chỉ số thẩm mỹ nha khoa (DAI)

Theo nghiên cứu của Esa [14] và cộng sự năm 2001 “Dịch tễ học của sai khớpcắn và nhu cầu điều trị của học sinh 12-13 tuổi”, trong đó có 747 nữ và 772 nam.Kết quả là, 62,6% không cần điều trị chỉnh nha, chỉ có 7% có khuyết tật sai khớpcắn bắt buộc phải điều trị Sai khớp cắn định rõ trong nghiên cứu này có ý nghĩathống kê về giới và nơi ở của đối tượng Mức độ DAI trung bình không có ý nghĩakhác nhau giữa trẻ em Malaysia, Trung Quốc và Ấn Độ Mức độ DAI và tỷ lệ nhucầu nắn chỉnh có ý nghĩa phù hợp với bề ngoài và chức năng xã hội (p<0,01).Nghiên cứu của Baca-Garcia [30] và cộng sự năm 2004 “Sai khớp cắn và nhu cầuđiều trị nắn chỉnh ở một nhóm thiếu niên Tay Ban Nha sử dụng chỉ số thẩm mỹ

Trang 27

răng” Mẫu nghiên cứu 744 học sinh ở thành thị và nông thôn phía nam Tây BanNha tuổi 14-20 và không được điều trị chỉnh nha Kết quả: mức độ DAI trung bình

là 25,6% Phân bố 4 mức độ DAI: không có bất thường hoặc sai khớp cắn 58,6%;sai khớp cắn rõ 20,3%; sai khớp cắn trầm trọng 11,2%; sai khớp cắn rất trầm trọng9,9% Mức độ DAI trung bình không có ý nghĩa thống kê khác nhau giữa các giới

và vùng ở nhưng có khác về mức độ xã hội ( p<0,05)

Ở Việt Nam, tác giả Nguyễn Khang [31] năm 2002 “ Nghiên cứu cơ cấu vàbiện pháp can thiệp một số bệnh răng miệng trong quân đội” Nghiên cứu chỉ sốDAI cho 1564 đối tượng quân dân có kết quả DAI<25 có 90,65%; DAI 26-30 có7,27%; DAI 31-35 có 2,08% và DAI>36 không có trường hợp nào chiếm 0%

1.5.2 Nghiên cứu, đánh giá mức độ phù hợp giữa các chỉ số mức độ thẩm mỹ (AC) và nhu cầu điều trị nắn chỉnh (IOTN) của các tác giả trong và ngoài nước

Theo nghiên cứu Anneli M Johansson and Marie Follin (2005) [30] “Đánhgiá mức độ thẩm mỹ (AC) dựa vào các chỉ số nhu cầu điều trị nắn chỉnh rănghàm (IOTN) của các bác sĩ chỉnh nha tại Thụy Điển” đã đưa ra kết qua nhưsau: các bác sỹ chỉnh hình răng mặt Thụy Điển đưa ra kết quả không trùngkhớp với bảng xếp hạng của 10 bức ảnh trong AC của IOTN của Brook andShaw (1989) Xếp hạng của họ là 1, 2, 3, 4, 6, 5, 7, 9, 8, 10 Do vậy mức độthẩm mỹ phải được hạ xuống, có nghĩa là nhiều người được coi là cần điều trị.Ranh giới phân chia giữa không cần phải điều trị và nhu cầu điều trị nên được

rõ ràng hơn

Một nghiên cứu của C.Dhanni, M.Saify, B.Goutham, S.Kulkarni [32] về

“Mối liên hệ giữa tình hình kinh tế xã hội đến tình hình và nhu cầu điều trị chỉnhhình răng” – (2008) trên một nhóm dân cư tuổi từ 13-25 tại Udaipur, Rajasthan, Ấn

độ, cho thấy: quy chuẩn để đánh giá nhu cầu điều trị và nhu cầu tự nhận thức để

điều trị chỉnh hình răng phổ biến hơn ở tầng lớp có điều kiện kinh tế cao hơn so vớitầng lớp có điều kiện kinh tế thấp Do đó tác giả đi đến kết luận: tình trạng kinh tếxã hội ảnh hưởng nhiều đến chuẩn mực đo lường mức độ thẩm mỹ và nhu cầu chỉnhnha của người dân

Trang 28

1.6 Sự thay đổi của khớp cắn

Mặt phẳng tận cùng giữa răng hàm sữa thứ hai hàm trên và răng hàm sữa thứhai hàm dưới có ảnh hưởng đến vị trí và loại khớp cắn khi mọc răng hàm lớn thứnhất vĩnh viễn

Khi răng dịch chuyển trước và sau (trong quá trình nhai) có thể gây nên mònmặt tiếp xúc và mòn khớp cắn dẫn đến làm giảm độ rộng của răng chiều trước sau.Kết quả làm giảm chu vi cung hàm 5-10mm hoặc hơn sau khi hoàn chỉnh mọc răngvĩnh viễn ở tuổi thiếu niên Khấp khểnh nhẹ của răng cửa dưới có xu hướng tăngnếu giai đoạn đầu răng sắp xếp tốt, hoặc khấp khếnh nhẹ ban đầu sẽ trở nên xấuhơn Sự thay đổi này xuất hiện sớm ở tuổi 17-18 hoặc muộn hơn ở tuổi 20 Ở trẻ

em khi hai hàm cắn lại thì tất cả răng hàm trên (ngoại trừ răng hàm sữa thứ hai)đều cắn khớp với hai răng đối diện ở hàm dưới Ở răng hàm dưới cũng vậy trừrăng cửa dưới

1.7 Các nguyên nhân gây sai khớp cắn

Nguyên nhân lệch lạc răng đã được chia thành 3 nhóm sau đây:

 Yếu tố môi trường

 Yếu tố di truyền

 Các nguyên nhân khác

1.7.1 Ảnh hưởng của môi trường

1.7.1.1 Các ảnh hưởng của chức năng đến sự phát triển cấu trúc xương mặt.

Ảnh hưởng của sự cân bằng trên bộ răng được biểu rõ hơn khi quan sát ảnhhưởng của những loại áp lực khác nhau Do sự đáp ứng sinh học, thời gian tác dụngcủa lực quan trọng hơn cường độ lực

Khi đặt một lực nhai mạnh trên răng, dây chằng nha chu vốn thấm đầy dịch sẽhoạt động như một “lò xo” chống sốc, giữ răng trong một chốc lát trong khi xương

ổ răng uốn cong và răng bị dịch chuyển một đoạn ngắn cùng với xương Nếu lựcnhai mạnh kéo dài hơn vài giây, sẽ cảm thấy đau, và do đó lực nhai sẽ ngừng lạinhanh chóng Loại lực mạnh, ngắt quãng từng cơn sẽ không có ảnh hưởng trên vị trílâu dài của răng

Trang 29

Nghiên cứu năm 1907 của Angle [10] khẳng định phương pháp chế biến thựcphẩm hiện đại làm cho con người thay đổi chế độ ăn từ ăn cứng sang ăn mềm có thể

là nguyên nhân lệch lạc khớp cắn Butler’s Field [33] nghiên cứu về hình thái, đặcđiểm mọc răng, số lượng răng của răng người cổ đại thấy: do phải sử dụng răng đểnhai nghiền các thực phẩm thô nhiều nên người cổ đại thường mọc đủ răng khôn,kích thước của nhóm răng trước và răng sau lớn hơn và ít gặp tình trạng mọc rănglệch lạc hơn so với răng của người hiện đại

1.7.1.2 Các ảnh hưởng do thói quen xấu tuổi học đường ảnh hưởng đến lệch lạc khớp cắn

Thói quen mút ngón tay [34], [35]:

Khớp cắn ban đầu của trẻ trước khi có thói quen xấu quan trọng trong chẩnđoán để xác định những lệch lạc gây ra bởi thói quen xấu hay có sự tham gia củayếu tố di truyền Rakosi đã nghiên cứu trên 693 trẻ em có thói quen mút ngón tay vàthấy rằng khoảng 60% trẻ đã dừng thói quen xấu này trước 2 tuổi và phần lớn trongnhóm trẻ này có khớp cắn bình thường, trong khi đó 413 trẻ kéo dài thói quen xấunày qua 4 tuổi đều có lệch lạc khớp cắn và từ đó ông ta đưa ra kết luận rằng mútngón tay kéo dài là nguyên nhân gây ra lệch lạc khớp cắn ở những trẻ em này.Graber cũng có kết luận tương tự là mút ngón tay được coi như là hiện tượng bìnhthường ở trẻ em dưới 2 tuổi và lệch lạc răng miệng vĩnh viễn sẽ xảy ra khi mà trẻkéo dài thói quen xấu này qua 4 tuổi Những nghiên cứu về tỉ lệ thói quen xấu này ởtrẻ em cho thấy xuất hiện nhiều nhất ở trẻ 6 – 7 tháng tuổi và giảm tới 0 ở trẻ 14tuổi Mút ngón tay cho dù chỉ xuất hiện một thời gian ngắn ở trẻ nhỏ cũng đều ảnhhưởng đến sự phát triển của răng, xương ổ răng, Theo Graber lệch lạc vĩnh viễn sẽxảy ra khi trẻ qua 4 tuổi do mút ngón tay không chỉ trực tiếp gây ra lệch lạc răng

mà nó cũng làm tăng thêm những rối loạn chức năng của hệ thống cơ quanh miệng,đặc biệt là cơ cằm và gây ra hoạt động bù trừ dẫn đến đẩy lưỡi, và tác động lâu dàicác hoạt động mất cân bằng của hệ thống cơ lên răng và xương ổ răng liên quan gây

ra những biến dạng ngay cả khi các thói quen xấu đó đã chấm dứt

Trang 30

Tác động của mút ngón tay bao gồm tác động trực tiếp và tác động gián tiếp:

- Tác động trực tiếp:

+ Đẩy răng cửa trên ra phía ngoài

+ Đẩy răng cửa dưới vào trong

+ Khớp cắn hở

+ Hạn chế sự phát triển theo chiều đứng của các răng trước, các răng hàm mọcthụ động do có khoảng trống lâu ngày dẫn tới thay đổi hướng phát triển của XHDlên trên và ra sau quá mức tạo khớp cắn hở do xương

+ Hàm trên bị hẹp dẫn tới khớp cắn chéo phía sau 1 hoặc 2 bên

- Tác động gián tiếp:

+ Tăng trương lực cơ môi dưới

+ Nuốt đẩy lưỡi, dẫn tới làm tăng khớp cắn hở do mút ngón tay gây ra

+ Mức độ lệch lạc răng miệng do mút ngón tay gây ra còn phụ thuộc vào vị tríđặt ngón tay do lực đòn bẩy của ngón tay chống lại răng và xương ổ răng, và cònphụ thuộc vào sự phát triển của cơ môi, mức độ thường xuyên cũng như sự kéo dàicủa thói quen xấu này

Hầu như trẻ em có thói quen mút ngón tay kéo dài đều đưa đến sai khớp cắn.Mút ngón tay trong thời kỳ răng sữa không có ảnh hưởng lâu dài đến hàm răng,nhưng nếu kéo dài sang thời kỳ răng vĩnh viễn bắt đầu mọc dẫn đến sai khớp cắnvới các biểu hiện:

- Răng cửa trên thưa và nghiêng về phía môi

- Răng cửa dưới nghiêng về phía lưỡi

- Cắn hở vùng răng trước, hẹp cung răng trên (cung răng hình chữ V)

Răng di chuyển ít; nhiều phụ thuộc vào thời gian tác động của thói quen, nếutrẻ mút ngón tay với áp lực mạnh nhưng không liên tục và thời gian không đủ lớn

để các răng di chuyển ít [20] Ngược lại, trẻ mút ngón tay nhẹ nhàng nhưng kéo dàihơn 6giờ/ngày, đặc biệt là những trẻ mút ngón tay suốt đêm thì sẽ bị sai khớp cắntrầm trọng, mút ngón tay có thể gây sai khớp cắn nếu thói quen này kéo dài đến thời

kỳ răng hỗn hợp và nếu thói quen kéo dài sau khi răng cửa vĩnh viễn đã mọc lên

cần phải điều trị chỉnh hình để giải quyết vấn đề sai vị trí của răng [36], [37], [38]

Trang 31

Hình 1.14: Thói quen mút tay và lệch lạc khớp cắn [39].

Điều trị can thiệp Phần lớn trẻ 4 – 5 tuổi tự bỏ thói quen mút tay, nếu trẻ

không bỏ được thói quen xấu này thì:

- Nha sỹ nói chuyện trực tiếp với những trẻ lớn, trẻ sẽ dần dần từ bỏ thói quenxấu này

- Dùng biện pháp “nhắc nhở” cùng với những lời giải thích:

+ Một miếng băng keo không thấm nước dán ở ngón tay trẻ thường mút sẽgiúp nhắc nhở trẻ

+ Dùng một băng đàn hồi quấn quanh khuỷu tay để ngăn đưa tay vào miệng(chỉ cần băng đàn hồi qua đêm) Trong 6 – 8 tuần là đủ Nhưng cần giải thích chotrẻ rằng đó không phải là hình phạt mà chỉ giúp trẻ bỏ thói quen xấu

- Khí cụ tháo lắp:

+ Một tấm khẩu cái đơn giản, thụ động, không chức năng sẽ có tác dụng nhắcnhở trẻ bỏ dần thói quen

+ Khí cụ Hawley có dây cung môi vừa để chỉnh lại các răng trước trên bị đẩy

ra trước cũng như đóng khớp các khoảng trống nếu muốn

Hình 1.15: Khí cụ Hawley với tấm chắn [40]

Trang 32

Thói quen mút môi: [34], [39], [41]

Mút môi dưới có thể là nguyên nhân chính trực tiếp gây ra lệch lạc răng, hàmhoặc là hậu quả do hoạt động bù trừ của cơ khi có lệch lạc làm tăng thêm lệch lạcvốn có Thói quen xấu mút môi dưới có thể được coi là thứ phát trong trường hợphọc sinh có lệch lạc khớp cắn loại II Angle tiểu loại 1 hoặc có độ cắn chìa lớn, hoạtđộng của cơ môi lúc này là hoạt động thích nghi hoặc bù trừ khi môi trên và dướikhó khăn trong việc đóng kín trong lúc nuốt, do đó trẻ sẽ phải cố đưa môi dưới lên

để đóng kín miệng Nhưng việc đóng kín được thực hiện dễ dàng hơn đối với trẻkhi chúng đẩy môi dưới vào mặt trong của răng cửa trên, điều này làm tăng thêm độcắn chìa do tạo lực đẩy răng cửa trên ra phía trước đồng thời tạo áp lực quá mức vềphía lưỡi ở phần trước của XHD Khi lệch lạc tăng lên, hoạt động của cơ tăng theotạo vòng xoắn bệnh lý làm lệch lạc ngày càng tăng, thói quen xấu này thường dẫnđến tăng hoạt động và tăng trương lực của cơ cằm dẫn đến cản trở sự phát triển củaxương ổ răng vùng răng cửa dưới nơi tiếp xúc trực tiếp với cơ và do đó ảnh hưởng

cả các răng cửa dưới Mút môi dưới là thói quen thường gặp, biểu hiện lâm sàngthường gặp là:

- Làm tăng độ cắn chùm

- Rãnh môi cằm hằn rõ, tăng hoạt động cơ cằm, trên lâm sàng thấy nhiều nếpnhăn ở vùng cằm khi học sinh nuốt

- Viền môi đỏ có thể phì đại nhiều ở tư thế nghỉ

- Dấu các răng cửa trên môi dưới; ở một số học sinh có thể thấy xuất hiện cáctổn thương mạn tính do virus tại những vùng môi bị sang chấn hoặc kích thích

- Tăng trương lực cơ cằm

- Cắn hở vùng răng trước, răng cửa dưới nghiêng phía lưỡi, răng cửa trên chenchúc và nghiêng về phía môi

- Thói quen mút môi dưới làm tăng độ cắn chìa

Can thiệp Loại bỏ thói quen xấu này bằng cách:

- Chỉnh hình làm giảm cắn chìa đến mức có thể chấp nhận được

- Tấm chặn môi được mang ban đêm và 2 – 3 giờ vào ban ngày khi trẻ ở

Trang 33

Hình 1.16: Tấm chặn môi [42]

Thói quen thở miệng: Thật ra là thở “Mũi – Miệng” vì hiếm gặp thở miệng

đơn thuần, dù là thuật ngữ nào thì thói quen này cũng vẫn cần phải bàn luận Thởmiệng được coi là thói quen xấu khi đường thở không còn bị tắc nghẽn nhưng việcthở vẫn tiếp tục được thực hiện chủ yếu qua miệng, để xác định một người nào đóthở qua miệng nhiều hơn là qua mũi, cần thiết phải có dụng cụ để đo lượng thôngkhí qua miệng và qua mũi cùng một lúc, nếu lớn hơn 1/2 thì có thể khẳng định làngười này có hiện tượng thở miệng

Nguyên nhân:

+ Đường mũi bị cản trở: Vẹo vách ngăn, dị ứng

+ Thói quen dù đường mũi không bị cản trở

+ Cấu tạo giải phẫu: Trẻ thở bằng mũi nhưng do môi trên quá ngắn nên miệngvẫn hở khi trẻ thở mũi

Lâm sàng:

- Khuôn mặt dài, hẹp

- Răng cửa hàm trên nhô ra trước

- Khi miệng hở: Môi dưới nằm sau răng cửa hàm trên

- Có sự bất cân xướng giữa cơ lưỡi và cơ thổi, cơ vòng miệng, cung hàm trênhình chữ V, vòm khẩu cao

- Mô lợi ở cung răng phía trước hàm trên thường bị kích thích và viêm

Can thiệp Khi đã loại trừ các trở ngại đường mũi mà trẻ vẫn tiếp tục cũng cứ

thở miệng, điều trị bằng cách: Dùng tấm chặn môi là một vật cản cứng thụ độngđược đặt vào miệng, tựa lên răng và niêm mạc, cho trẻ mang vào ban đêm Tấm

Trang 34

chặn môi có khoảng 3 lỗ nhỏ ở phía trước, các lỗ này được thu hẹp từ từ khi bệnhnhân đã quen với khí cụ để kích thích bệnh nhân thở bằng mũi [43], [44].

Thói quen đẩy lưỡi:

Khái niệm đẩy lưỡi không có nghĩa là lưỡi tạo một lực đẩy ra phía trước mà chỉngụ ý rằng lưỡi nằm quá về phía trước và ở giữa các răng cửa hàm trên và răng cửahàm dưới, có nhiều tác giả phân loại đẩy lưỡi theo các cách khác nhau:

+ James và Townsend mô tả các loại đẩy lưỡi khác nhau dựa trên những biếndạng do nó gây ra để giúp cho việc điều trị do các tác giả cho rằng nguyên nhân gâyđẩy lưỡi không thể xác định được

+ Tulley lại cho rằng đẩy lưỡi là thói quen nội sinh hoặc hành vi thích nghi,việc phân loại dựa vào hình thái học của mặt hoặc hoạt động nuốt

+ Theo Proffit và Mason, đẩy lưỡi có khả năng là một sự thích nghi đối vớikhớp cắn hở, và việc điều trị mục đích là để thay đổi kiểu nuốt không được chỉ định

Sự di chuyển răng trong trường hợp này không phải là do đẩy lưỡi mà vị trí đặt lưỡimới đóng vai trò quan trọng là nguyên nhân của khớp cắn hở Quan điểm củaProffit và Mason phù hợp với thuyết cân bằng Hơn nữa, các tác giả này gợi ý rằngviệc điều trị vị trí của của lưỡi có hiệu quả nhất khi phối hợp với điều trị chỉnh nha,điều trị về phát âm và điều trị chức năng cơ có thể phối hợp với điều trị chỉnh nhakhi cần thiết

+ Theo Bahr và Holt, dựa trên đặc điểm lâm sàng khớp cắn hở phân chia hoạtđộng đẩy lưỡi làm 4 loại sau:

Đẩy lưỡi là hiện tượng bình thường khi nó không gây biến dạng, mặc dù cóbất thường về mặt chức năng

Đẩy lưỡi làm biến dạng vùng cửa gây ra khớp cắn hở đôi khi kèm theo hẹphàm 2 bên và khớp cắn chéo phía sau Moyers gọi đây là khớp cắn hở đơn giản

Đẩy lưỡi gây ra khớp cắn hở phía sau, hoạt động đẩy lưỡi bên có thể tạo rakhớp cắn sâu chức năng, khớp cắn hở phía sau, một vài trường hợp khớp cắn loại IIAngle tiểu loại 2 thấy ở loại này

Trang 35

Đẩy lưỡi phối hợp gây ra khớp cắn hở cả phía trước và phía sau Moyers gọiđây là khớp cắn hở phức tạp, khó điều trị hơn các loại khác.

Chức năng và vị trí lưỡi bất thường có thể là nguyên nhân của sai khớp cắn,nhưng cũng có thể là sự đáp ứng của lưỡi đối với sai khớp cắn có từ trước, lưỡi cóthể nằm về trước, sang hai bên, vừa sang bên Tùy theo vị trí của lưỡi mà ta có cáckiểu sai khớp cắn:

- Cắn hở vùng răng trước: do vị trí lưỡi nằm về trước và đẩy lưỡi ra trướckhi nuốt

- Cắn hở vùng răng sau và cắn sâu: do vị trí nghỉ của lưỡi nằm về phía sau vàtràn lên mặt nhai vùng răng sau, làm lún các răng sau

- Cắn đối đầu vùng răng trước và khớp cắn múi – múi vựng răng sau do vị trí

lưỡi nằm cả vùng răng trước và răng sau [45] [46]

Hình 1.17: Hình ảnh lệch lạc khớp cắn do thói quen đẩy lưỡi

Để can thiệp điều chỉnh thói quen đẩy lưỡi, cần dùng những khí cụ tái giáodục chức năng

- Chỉ định trong những trường hợp sau:

+ Có thói quen đẩy lưỡi ảnh hưởng đến khớp cắn Lưỡi to

+ Vị trí dặt lưỡi ở giữa 2 hàm hoặc nằm dưới sàn miệng

+ Mức độ hở khớp vùng răng cửa <2mm

* Một số phương pháp can thiệp điều chỉnh thói quen đẩy lưỡi đã và được thực hiện trong thời gian gần đây:

- Tấm chắn lưỡi: tháo lắp; cố định để ngăn chặn vị trí bất thường của lưỡi.

+ Tấm chắn lưỡi được làm bằng thép không gỉ có ф 0.8 mm

Trang 36

+ Có thể dựng thêm tấm chắn môi để ngăn chặn sự tiếp xúc giữa lưỡi và môi

trong trường hợp trẻ có kiểu nuốt đẩy lưỡi ra trước [34] [47]

Trang 37

Hình 1.22: Tấm chắn lưỡi cố định với đinh ba [40].

- Ưu điểm:

+ Dễ sử dụng

+ Có thể được gắn cố định hoặc tháo lắp

+ Dễ chế tạo, với mức kinh phí thấp

+ Hiệu quả trong việc tái giáo dục chức năng lưỡi, giúp lưỡi đặt đúng vị trí thích hợp

- Nhược điểm:

+ Vướng víu, gây khó chịu

+ Khó vệ sinh

+ Thức ăn dễ vướng vào tấm lưới chắn, đinh ba

+ Dễ tổn thương đầu lưỡi (tấm chắn lưỡi đinh ba)

+ Dễ sâu kẽ răng vùng đặt móc (tấm chắn lưỡi tháo lắp)

- Khí cụ tái giáo dục chức năng lưỡi với viên ngọc trai (Tucat pear) [40]:

khí cụ ngọc trai là một trong những khí cụ đầu tiên trên thế giới được sử dụngtrong việc tái giáo dục chức năng, thói quen xấu của lưỡi làm ảnh hưởng đếntình trạng lệch lạc khớp cắn của trẻ Khí cụ được cấu tạo bởi 1 đoạn dây thépkhông gĩ có ф 0.8 mm, đoạn giữa đoạn dây thép được đặt một viên bi tròn (ngọctrai hoặc nhựa nhân tạo) được cố định bởi móc omega nhằm không để viên bi dichuyển Hai đầu đoạn dây được hàn cố định vào 2 khâu và được gắn cố định vàorăng 16, 26 Với viên bi được đặt tại vị trí cao nhất của vòm khẩu cái, lưỡi trẻ sẽ đặtvào vị trí viên bi và xoay viên bi dưới sự hướng dẫn ban đầu của bác sỹ Cứ nhưthế, trong bộ nhớ trẻ sẽ dần quên đi thói quen cũ, và dần dần hình thành thói quenmới, đặt lưỡi vào đúng vị trí không tạo lực đẩy lên vùng răng trước nữa, góp phầnhạn chế tình trạng lệch lạc khớp cắn

Trang 38

- Ưu điểm:

+Dễ sử dụng

+ Dễ dàng vệ sinh và không gây vướng víu khó chịu

+ Được gắn cố định, giúp rút ngắn thời gian điều trị

+ Dễ chế tạo, với mức kinh phí thấp

+ Hiệu quả trong việc tái giáo dục chức năng lưỡi, giúp lưỡi đặt đúng vị trí thích hợp

+ Nguyên tắc điều trị dựa trên sự tò mò của lưỡi, làm cho lưỡi luôn tiếp xúcvới viên bi, giúp đưa lưỡi về vị trí bình thường không gây tổn hại đến sự phát triểncủa răng hàm

+ Có thể kết hợp điều trị với các khí cụ chức năng khác

Trang 39

- Khí cụ tái giáo dục chức năng lưỡi với viên ngọc trai (Tucat pearl) hiệnđang được sử dụng rộng rãi trên toàn thế giới với những ưu điểm vượt trội so vớicác khí cụ khác về mặt giá thành, phương pháp chế tạo đơn giản, không gây cản trởkhó chịu cho bệnh nhân, đặc biệt đem đến hiệu quả điều trị cao

- Các thói quen khác: Klein [48] báo cáo thói quen chống tay vào cằm khi

ngồi có thể dẫn đến cắn sâu, một số nhạc cụ thổi bằng miệng gây đè nén vàorăng hoặc mặt, hàm nếu sử dụng thường xuyên và lâu dài có thể gây lệch lạckhớp cắn

1.7.2 Sai khớp cắn do ảnh hưởng di truyền

Nguyên nhân của sai khớp cắn có thể do những đặc tính di truyền Thứ nhất, thừahưởng sự không hài hòa giữa kích thước của răng và kích thước của hàm, có thể dẫnđến hiện tượng răng mọc chen chúc hoặc thưa kẽ Thứ hai, thừa hưởng sự không cânxứng giữa kích thước và hình dạng của xương hàm trên và xương hàm dưới, có thể đưađến tương quan cắn khớp không đúng

Sự ảnh hưởng của yếu tố di truyền thể hiện rất rõ trong nhô hàm dưới Mộtnghiên cứu ở nhóm trẻ có sai khớp cắn loại ba nặng cho thấy rằng 1/3 nhóm trẻ này

có cha hoặc mẹ có sai khớp cắn loại ba, và 1/6 nhóm trẻ thì có anh, chị hoặc emcũng có biểu hiện sai khớp cắn Dị dạng mặt kiểu mặt dài đứng thứ hai về những

dị dạng di truyền trong gia đình Nói chung, anh, chị, em trong gia đình thườngcùng có lệch lạc khớp cắn nặng, có thể vì sự thừa hưởng giống nhau về đặc tính

và kiểu tăng trưởng đưa đến cùng có những đáp ứng giống nhau đối với yếu tốmôi trường [49]

Harris và Kowalski [50] đã nghiên cứu đến cấu trúc của xương sọ và mặt pháthiện sự di truyền đặc tính nhô hàm dưới ở gia đình hoàng tộc Austro người Hungarivới xương hàm dưới quá phát và nhô ra trước Nghiên cứu của Suzuki [51] ở 1362người Nhật Bản bị nhô hàm dưới đến từ 243 gia đình thấy tỷ lệ con bị nhô hàm dưới

ra trước ở những gia đình có bố mẹ bị nhô hàm dưới ra trước là 34.3%, trong khi ởnhững gia đình có bố mẹ bình thường, tỷ lệ con bị nhô hàm dưới là 7.5%

Trang 40

1.7.3 Nguyên nhân đặc biệt

Sự phát triển răng bất thường

- Thiếu răng bẩm sinh

- Răng dị dạng và răng thừa

- Cản trở mọc răng

- Răng mọc sai vị trí, thay đổi vị trí

Mất răng

- Mất răng sữa sớm: Hiện tượng răng di gần khi có khoảng trống thường xảy

ra ở răng cối vĩnh viễn, do hướng mọc răng nghiêng về phía gần Răng cối lớn thứnhất di gần khi răng cối sữa thứ hai mất sớm có thể dẫn đến chen chúc vùng răngcối nhỏ vĩnh viễn

Chấn thương vùng mặt, các rối loạn phát triển răng và xương

- Biến dạng xương mặt (thường là kém phát triển) do trong thời kỳ bào thai, tayhoặc chân thai nhi ở tư thế bất thường ép vào vùng mặt đang phát triển

- Chấn thương xương hàm dưới do dùng forcep để lấy thai: Trong nhữngtrường hợp người mẹ sinh khó, sử dụng kềm forcep ở đầu trẻ sơ sinh có thể làm tổnthương một bên hoặc cả hai bên khớp thái dương hàm Tóm lại chấn thương ở hàmdưới xảy ra khi sinh có vẻ là nguyên nhân hiếm của lệch lạc mặt Nếu trẻ sơ sinh cóhàm dưới lệch lạc thì thường là do bẩm sinh.[49]

- Gãy xương hàm ở trẻ em: trẻ nhỏ té và va chạm có thể làm gãy xương hàm

Ở hàm dưới, thường xảy ra gãy cổ lồi cầu hàm dưới Khoảng 75% trẻ em bị gãysớm lồi cầu hàm dưới có hàm dưới phát triển bình thường, và không có sai khớpcắn sau này

- Rối loạn chức năng cơ và sự co rút do sẹo xơ: Hệ cơ mặt có thể ảnh hưởngđến sự tăng trưởng của xương hàm theo hai cách Thứ nhất, sự hình thành xương ởđiểm bám cơ tùy thuộc vào hoạt động của cơ; thứ hai, hệ cơ là một thành phần quantrọng của toàn bộ khuôn mô mềm mà sự tăng trưởng của nó thường kéo theo xươnghàm dưới di chuyển xuống phía dưới và ra trước Mất một phần của hệ cơ có thểxảy ra do những nguyên nhân không rõ trong bào thai hoặc là hậu quả của tai biếnkhi sinh nhưng thường gặp nhất là do tổn thương dây thần kinh vận động

Ngày đăng: 09/10/2014, 13:03

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
16. Mossey PA (1999), The heritability of malocclusion: part 2. The influence of genetics in malocclusion. Br J Orthod; 26:195-203 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The heritability of malocclusion
Tác giả: Mossey PA
Năm: 1999
17. Goldstein, R.E. Esthetics in Dentistry 2nd Edn. Vol-1. Decker, Toronto (1998) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Esthetics in Dentistry 2nd Edn
18. Hedayati Z, Fattahi HR, Jahromi SB (2007), The use of index of orthodontic treatment need in an Iranian population. J Indian Soc Pedod Prev Dent; 25: 10-4 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The use of index of orthodontictreatment need in an Iranian population
Tác giả: Hedayati Z, Fattahi HR, Jahromi SB
Năm: 2007
19. Lê Thị Bích Nga (2004), Nhận xét tình trạng bất thường răng mặt của học sinh từ 12-15 tuổi. Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhận xét tình trạng bất thường răng mặt của họcsinh từ 12-15 tuổi
Tác giả: Lê Thị Bích Nga
Năm: 2004
20. Moyers RE (1988), Handbook of orthodontics. 4 th ed. Chicago: Yearbook Medical publishers Inc Sách, tạp chí
Tiêu đề: Handbook of orthodontics. 4"th "ed
Tác giả: Moyers RE
Năm: 1988
21. Shaw WC, Richmond S,O’Brien KD,Brook P, Stephens CD. (1991), Quality control in orthodontics: Indix of treatment need and treatment standards. Br Dent J; 9:107-12 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Indix of treatment need and treatmentstandards
Tác giả: Shaw WC, Richmond S,O’Brien KD,Brook P, Stephens CD
Năm: 1991
22. Preston, J. (1993) The golden proportion revisited Journal of esthetic dentistry. 5:247-51 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Journal of estheticdentistry
23. Summers CJ (1971), The occlusal indix. A system for identifying and scoring occlusal disorders. Am J Orthod; 59:553-67 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The occlusal indix. A system for identifying andscoring occlusal disorders
Tác giả: Summers CJ
Năm: 1971

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.1: đường cong Spee [10] - nghiên cứu nhu cầu điều trị nắn chỉnh răng hàm và đánh giá hiệu quả điều trị thói quen xấu ở trẻ từ 12 đến 15 tuổi tại thành phố thủ dầu một - bình dương
Hình 1.1 đường cong Spee [10] (Trang 22)
Hình 1.2: Phân loại lệch lạc khớp cắn theo Angle [10] - nghiên cứu nhu cầu điều trị nắn chỉnh răng hàm và đánh giá hiệu quả điều trị thói quen xấu ở trẻ từ 12 đến 15 tuổi tại thành phố thủ dầu một - bình dương
Hình 1.2 Phân loại lệch lạc khớp cắn theo Angle [10] (Trang 23)
Hình 1.6: Loại A [14] - nghiên cứu nhu cầu điều trị nắn chỉnh răng hàm và đánh giá hiệu quả điều trị thói quen xấu ở trẻ từ 12 đến 15 tuổi tại thành phố thủ dầu một - bình dương
Hình 1.6 Loại A [14] (Trang 24)
Hình 1.8: Loại C [14] - nghiên cứu nhu cầu điều trị nắn chỉnh răng hàm và đánh giá hiệu quả điều trị thói quen xấu ở trẻ từ 12 đến 15 tuổi tại thành phố thủ dầu một - bình dương
Hình 1.8 Loại C [14] (Trang 25)
Hình 1.12. Tỷ lệ chiều dài và rộng của răng cửa [19] - nghiên cứu nhu cầu điều trị nắn chỉnh răng hàm và đánh giá hiệu quả điều trị thói quen xấu ở trẻ từ 12 đến 15 tuổi tại thành phố thủ dầu một - bình dương
Hình 1.12. Tỷ lệ chiều dài và rộng của răng cửa [19] (Trang 27)
Hình 1.14: Thói quen mút tay và lệch lạc khớp cắn [39]. - nghiên cứu nhu cầu điều trị nắn chỉnh răng hàm và đánh giá hiệu quả điều trị thói quen xấu ở trẻ từ 12 đến 15 tuổi tại thành phố thủ dầu một - bình dương
Hình 1.14 Thói quen mút tay và lệch lạc khớp cắn [39] (Trang 35)
Hình 1.15: Khí cụ Hawley với tấm chắn [40] - nghiên cứu nhu cầu điều trị nắn chỉnh răng hàm và đánh giá hiệu quả điều trị thói quen xấu ở trẻ từ 12 đến 15 tuổi tại thành phố thủ dầu một - bình dương
Hình 1.15 Khí cụ Hawley với tấm chắn [40] (Trang 36)
Hình 1.18: Tấm chắn lưỡi cổ điển [45]. - nghiên cứu nhu cầu điều trị nắn chỉnh răng hàm và đánh giá hiệu quả điều trị thói quen xấu ở trẻ từ 12 đến 15 tuổi tại thành phố thủ dầu một - bình dương
Hình 1.18 Tấm chắn lưỡi cổ điển [45] (Trang 40)
Hình 1.21: Tấm chắn lưỡi cố định [40]. - nghiên cứu nhu cầu điều trị nắn chỉnh răng hàm và đánh giá hiệu quả điều trị thói quen xấu ở trẻ từ 12 đến 15 tuổi tại thành phố thủ dầu một - bình dương
Hình 1.21 Tấm chắn lưỡi cố định [40] (Trang 41)
Hình 1.23: Khí cụ tái giáo dục chức năng với viên ngọc trai (Tucat pearl) [40]. - nghiên cứu nhu cầu điều trị nắn chỉnh răng hàm và đánh giá hiệu quả điều trị thói quen xấu ở trẻ từ 12 đến 15 tuổi tại thành phố thủ dầu một - bình dương
Hình 1.23 Khí cụ tái giáo dục chức năng với viên ngọc trai (Tucat pearl) [40] (Trang 42)
Hình 1.24: Khí cụ tái giáo dục chức năng với viên bi       kết hợp với thanh chắn môi (Blue Grass) [40]. - nghiên cứu nhu cầu điều trị nắn chỉnh răng hàm và đánh giá hiệu quả điều trị thói quen xấu ở trẻ từ 12 đến 15 tuổi tại thành phố thủ dầu một - bình dương
Hình 1.24 Khí cụ tái giáo dục chức năng với viên bi kết hợp với thanh chắn môi (Blue Grass) [40] (Trang 43)
Hình 2.4: Liên quan răng hàm theo chiều trước sau [48] - nghiên cứu nhu cầu điều trị nắn chỉnh răng hàm và đánh giá hiệu quả điều trị thói quen xấu ở trẻ từ 12 đến 15 tuổi tại thành phố thủ dầu một - bình dương
Hình 2.4 Liên quan răng hàm theo chiều trước sau [48] (Trang 53)
Hình 2.7: Bộ dụng cụ lấy dấu, đỗ mẫu, đo đạc. - nghiên cứu nhu cầu điều trị nắn chỉnh răng hàm và đánh giá hiệu quả điều trị thói quen xấu ở trẻ từ 12 đến 15 tuổi tại thành phố thủ dầu một - bình dương
Hình 2.7 Bộ dụng cụ lấy dấu, đỗ mẫu, đo đạc (Trang 55)
Hình 2.9: Máy trộn Alginate tự động ALGIMAX II-GX 300. - nghiên cứu nhu cầu điều trị nắn chỉnh răng hàm và đánh giá hiệu quả điều trị thói quen xấu ở trẻ từ 12 đến 15 tuổi tại thành phố thủ dầu một - bình dương
Hình 2.9 Máy trộn Alginate tự động ALGIMAX II-GX 300 (Trang 56)
Hình 2.8: Máy rung thạch cao SJK - nghiên cứu nhu cầu điều trị nắn chỉnh răng hàm và đánh giá hiệu quả điều trị thói quen xấu ở trẻ từ 12 đến 15 tuổi tại thành phố thủ dầu một - bình dương
Hình 2.8 Máy rung thạch cao SJK (Trang 56)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w