mà còn liên quan đến tình trạng dinh dưỡng.Theo Tổ chức y tế thế giới WHO lứa tuổi vị thành niên bắt đầu từ 10 – 19tuổi: là giai đoạn chuyển tiếp rất quan trọng về tâm lý, dinh dưỡng, ch
Trang 2LẠI THẾ VIỆT ANH
T×NH TR¹NG DINH D¦ìNG Vµ KIÕN THøC, THùC HµNH
DINH D¦ìNG ë HäC SINH 10 – 14 TUæI T¹I HAI TR¦êNG
TRUNG HäC C¥ Së NéI Vµ NGO¹I THµNH Hµ NéI N¡M 2011
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN Y KHOA
KHÓA 2009 – 2013
Người hướng dẫn:
TS TRỊNH BẢO NGỌC
Hà Nội - 2013
Trang 3Trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn này, em đã nhận được sự hướng dẫn, giúp đỡ quý báu của các quý thầy cô, các anh chị, các em và các bạn Với lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc em xin được bày tỏ lời cảm
ơn chân thành tới:
Tiến sỹ Trịnh Bảo Ngọc - một người đáng kính trong công việc cũng như trong cuộc sống Cô đã tận tình dạy dỗ, chỉ dẫn, và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho em trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn tốt nghiệp.
Các thầy giáo, cô giáo, các cán bộ của khoa Y Tế Công Cộng – Y Học Dự Phòng, bộ môn dinh dưỡng và an toàn thực phẩm cùng toàn thể các thầy giáo,
cô giáo trường đại học Y Hà Nội, các thầy cô phòng đào tạo và thư viện đã tận tình giảng dạy và giúp đỡ em trong suốt thời gian học tập và nghiên cứu.
Ban giám hiệu, các thầy cô giáo, phòng y tế và các em học sinh trường THCS Giảng Võ, trường THCS Ngọc Lâm, đã nhiệt tình cộng tác và giúp đỡ em trong quá trình nghiên cứu.
Cuối cùng xin được gửi tới gia đình và bạn bè tôi – những người luôn bên cạnh tôi – cổ vũ và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu.
Hà Nội, ngày 20 tháng 5 năm 2013 Người thực hiện
Lại Thế Việt Anh
Trang 4Phòng Đào tạo đại học trường Đại học Y Hà Nội.
Bộ môn Dinh dưỡng và An toàn thực phẩm trường Đại học Y Hà Nội.
Hội đồng chấm khóa luận tốt nghiệp.
Em xin cam đoan đã thực hiện quá trình làm khóa luận một cách khoa học,chính xác và trung thực Các kết quả thu được trong khóa luận là có thật và chưađược công bố trên bất kì tài liệu khoa học nào
Hà Nội, ngày 20 tháng 5 năm 2013 Sinh viên làm khóa luận
Lại Thế Việt Anh
Trang 5BMI: Chỉ số khối cơ thể (Body Mass Index).
Trang 6ĐẶT VẤN ĐỀ 1
Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1.Khái niệm sức khỏe 3
1.2.Lứa tuổi vị thành niên 3
1.3.Tình trạng dinh dưỡng của lứa tuổi vị thành niên 5
1.4.Các yếu tố ảnh hưởng đến tình trạng dinh dưỡng của lứa tuổi vị thành niên 9
1.4.1.Yếu tố kinh tế xã hội 9
1.4.2.Khẩu phần 10
1.4.3 Kiến thức, thực hành dinh dưỡng ảnh hưởng tới sức khỏe lứa tuổi vị thành niên 11
Chương 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 13
2.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 13
2.2.1 Địa điểm nghiên cứu: nghiên cứu được tiến hành tại hai trường THCS Thành Công và Ngọc Lâm 13
2.2.2 Thời điểm nghiên cứu: tháng 10 năm 2010 14
2.3.Phương pháp nghiên cứu: nghiên cứu mô tả cắt ngang 14
2.4.Cơ mẫu và phương pháp chọn mẫu 14
2.5.Thu thập số liệu 16
2.5.1 Các biến số và chỉ số cần thu thập 16
Trang 72.8.Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu 19
Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 20
3.1.Đặc điểm nhóm nghiên cứu 20
3.2.Tình trạng dinh dưỡng của trẻ 24
3.3.Kiến thức và thực hành về dinh dưỡng của học sinh từ 10 – 14 tuổi 38
3.4.Xu hướng tiêu thụ LTTP của trẻ 41
Chương 4: BÀN LUẬN 44
4.1.Tình trạng dinh dưỡng của học sinh 44
4.1.1 Sự phát triển về thể lực 44
4.1.2 Tình trạng suy dinh dưỡng 47
4.1.3 Tình trạng thừa cân 48
4.2.Kiến thức, thực hành dinh dưỡng của học sinh 49
4.3.Một số yếu tố liên quan đến tình trạng dinh dưỡng của học sinh 51
KẾT LUẬN 53
KHUYẾN NGHỊ 55 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 8Bảng 3 2: Trình độ văn hóa và nghề nghiệp của bố mẹ học sinh 21
Bảng 3.3: Bảng thông tin về thành viên gia đình của học sinh 23
Bảng 3 4: Cân nặng trung bình của trẻ theo tuổi và giới ở hai trường nghiên cứu 24
Bảng 3 5: Chiều cao trung bình của hai trường theo nhóm tuổi 25
Bảng 3.6: Trung bình chỉ số khối cơ thể BMI theo tuổi, giới và trường nghiên cứu 27
Bảng 3.7: Tình trạng suy dinh dưỡng theo chỉ tiêu chiều cao/tuổi theo giới và trường 28
Bảng 3 8: Tình trạng dinh dưỡng theo chỉ tiêu trung bình BMI phân theo giới, tuổi của học sinh trường Thành Công 29
Bảng 3 9: Tình trạng dinh dưỡng theo chỉ tiêu trung bình BMI phân theo giới, tuổi của học sinh trường Ngọc Lâm 30
Bảng 3 10: So sánh tình trạng dinh dưỡng hai trường (%) 31
Bảng 3 11: Trung bình bề dày lớp mỡ cơ tam đầu và lớp mỡ góc dưới bả vai theo nhóm tuổi và trường học nghiên cứu 32
Bảng 3 12: Trung bình bề dày lớp mỡ cơ tam đầu theo giới và trường nghiên cứu 33
Bảng 3 13: Trung bình bề dày lớp mỡ góc dưới xương bả vai theo giới và trường nghiên cứu 34
Bảng 3 14: Tỷ lệ phần trăm mỡ cơ thể theo tuổi, giới và trường nghiên cứu 35
Bảng 3 15: Tỷ lệ trẻ từ 10 – 14 tuổi có % mỡ cơ thể cao theo giới, tuổi và trường nghiên cứu 36
Bảng 3 16: Kiến thức về dinh dưỡng của trẻ 38
Bảng 3 17: Tiếp nhận nguồn thông tin về kiến thức dinh dưỡng của học sinh 39
Bảng 3 18: Thói quen và tập tính ăn uống của trẻ 40
Bảng 3 19: Tần xuất tiêu thụ thực phẩm trong tháng 41
Trang 9Biểu đồ 3.1: Cân nặng trung bình của học sinh hai trường nội và ngoại thành
Hà Nội 26
Biểu đồ 3.2: Chiều cao trung bình của học sinh hai trường nội và ngoại thành Hà Nội 28
Biểu đồ 4.1: Cân nặng của nam sinh Hà Nội so với các vùng 46
Biểu đồ 4.2: Cân nặng của nữ sinh Hà Nội sao với các vùng 47
Biểu đồ 4.3: Chiều cao của nam sinh Hà Nội so với các vùng 48
Biểu đồ 4.4: Chiều cao của nữ sinh Hà Nội so với các vùng 48
Biểu đồ 4.5: Tỷ lệ suy dinh dưỡng thể nhẹ cân của nữ sinh Hà Nội so với các vùng 50
Biểu đồ 4.6: Phần mỡ cơ thể của sinh Hà Nội so với học sinh Phổ Yên – Thái Nguyên 51
Trang 10mà còn liên quan đến tình trạng dinh dưỡng.
Theo Tổ chức y tế thế giới (WHO) lứa tuổi vị thành niên bắt đầu từ 10 – 19tuổi: là giai đoạn chuyển tiếp rất quan trọng về tâm lý, dinh dưỡng, chuẩn bị cho
sự phát triển đầy đủ của cơ thể, hoàn thiện chức phận các cơ quan [14] Khi bịthiếu dinh dưỡng sẽ ảnh hưởng đến tiềm lực sức khỏe, sự phát triển của não bộ
và tư duy Nếu trẻ bị suy dinh dưỡng sẽ ảnh hưởng đến khả năng học tập, laođộng, sáng tạo và gây tổn thương rất nhiều về mặt kinh tế [17]
Lứa tuổi vị thành niên luôn là đối tượng quan tâm của sinh lý học và y học.Đây chính là giai đoạn chuyển từ trẻ con sang người lớn Vì được đánh dấu bằngnhững thay đổi xen lẫn nhau về thể chất, trí tuệ và mối quan hệ xã hội chuyển từgiai đoạn đơn giản sang phức tạp Tình trạng dinh dưỡng của trẻ lứa tuổi này cóliên quan chặt chẽ với lứa tuổi trước cũng như sau đó Nếu ở giai đoạn này trẻphát triển tốt, cơ thể phát triển cân đối và toàn diện thì giai đoạn sau sẽ phát triểntốt đặc biệt là nữ giới có liên quan đến thời kỳ mang thai và nuôi con.Tìm hiểu
về đặc điểm hình thái tăng trưởng cũng như mối liên quan giữa dinh dưỡng vàquá trình phát triển của cơ thể luôn là mối quan tâm không chỉ của các nhà
Trang 11nghiên cứu, giảng dạy mà đây cũng là mối quan tâm của gia đình, nhà trườngcũng như cá nhân trẻ.
Hiện nay, Việt Nam đang đối mặt với gánh nặng kép về dinh dưỡng, bêncạnh tỷ lệ suy dinh dưỡng ở trẻ em và thiếu năng lượng trường diễn ở ngườitrưởng thành còn cao thì tỷ lệ thừa cân, béo phì đang gia tăng dẫn đến thay đổi
mô hình bệnh tật, tử vong [9] Trước những năm 1990, chúng ta chỉ quan tâmđến suy dinh dưỡng thể thiếu cân, còn thừa cân béo phì hầu như không đáng kể ởtất cả các lứa tuổi Những năm gần đây tỷ lệ thừa cân béo phì đang gia tăng.Theo kết quả điều tra ở Hà Nội năm 2004 thì tỷ lệ thừa cân béo phì ở học sinhtiểu học khoảng trên 10%, còn ở thành phố Hồ Chí Minh tỷ lệ này cao hơn gấpđôi, trên 20% [8] Thừa cân béo phì không chỉ ảnh hưởng đến hành vi học tậpcủa trẻ mà còn kéo theo nguy cơ cao mắc các bệnh mạn tính không lây Đặc biệt
là các bệnh chuyển hóa như đái tháo đường, cao huyết áp… sau này
Cho tới nay, các nghiên cứu về tình trạng dinh dưỡng của lứa tuổi vị thànhniên học đường nói chung còn ít Đã có một số nghiên cứu nhưng chỉ mới chútrọng nhiều đến vấn đề phát triển thể chất mà chưa đề cập đến tình trạng dinh
dưỡng Vì thế chúng tôi tiến hành nghiên “Tình trạng dinh dưỡng và kiến thức, thực hành dinh dưỡng ở học sinh 10 – 14 tuổi tại hai trường trung học
cơ sở nội và ngoại thành Hà Nội năm 2011” với các mục tiêu sau:
1 Đánh giá tình trạng dinh dưỡng của học sinh 10 – 14 tuổi ở hai trường THCS nội và ngoại thành Hà Nội.
2 Mô tả kiến thức, thực hành dinh dưỡng của học sinh 10 – 14 tuổi ở hai trường THCS nội và ngoại thành Hà Nội.
3 Tìm hiểu một số yếu tố liên quan đến tình trạng dinh dưỡng của học sinh
10 – 14 tuổi của hai trường trên.
Trang 12Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Khái niệm sức khỏe:
Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO) thì sức khỏe không phải đơn thuần chỉ
là không bệnh tật mà là trạng thái hoàn toàn thoải mái về thể chất, tinh thần và
xã hội [18] Vì vậy sức khỏe được coi là tài sản quí giá của con người, sức khỏe
đã có và tồn tại từ khi con người sinh ra cho đến khi chết, nhưng mức độ thìthường xuyên thay đổi trong suốt cuộc đời [2]
Nghiên cứu các quy luật phát triển của cơ thể ở lứa tuổi đang lớn và nhữngyếu tố ảnh hưởng lên quá trình này có ý nghĩa lí luận và thực tế lớn lao Mộttrong những nội dung quan trọng của môn hình thái người là nghiên cứu đặcđiểm tăng trưởng và các kích thước nhân trắc của cơ thể Trong quá trình pháttriển bắt đầu từ thời kì sơ sinh cho đến khi trưởng thành, chứa đựng hàng loạtcác biến đổi sâu sắc, đặc biệt là trong thời kì dậy thì Vì vậy các nhà sinh học, yhọc, giáo dục học… trên thế giới đều quan tâm đến vấn đề này [10]
1.2 Lứa tuổi vị thành niên:
Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) lứa tuổi 10 - 19 tuổi là độ tuổi vị thànhniên [32]: là một giai đoạn chuyển tiếp của sự phát triển từ tuổi thơ sang ngườilớn: “tuổi không còn là trẻ con nữa, nhưng cũng chưa phải là người lớn” Đây làgiai đoạn đặc biệt duy nhất của con người, nó được đánh dấu bằng những thayđổi đồng loạt và xen lẫn nhau từ giản đơn sang phức tạp bao gồm: sự chín muồi
về thể chất, sự biến đổi điều chỉnh tâm lý và các quan hệ xã hội nhằm đáp ứngnhiệm vụ phát triển
Trang 13Trên thế giới, lứa tuổi vị thành niên chiếm khoảng 20 – 30% dân số, con sốnày cao hơn ở các nước nghèo Lứa tuổi này được quan tâm bởi nó không nhữngchiếm một tỷ lệ khá cao trong tháp dân số, mà tỷ lệ của lứa tuổi này tăng nhanhđáng kể so với cá nhóm tuổi khác Giữa những năm của thập kỷ 60 và 80 trongkhi dân số thế giới tăng 46% thì lứa tuổi vị thành niên tăng 66% Ở Việt Nam,theo số liệu điều tra dân số năm 1999 cho thấy 22,7% dân số nước ta ở độ tuổi vịthành niên (10 – 19 tuổi) So với thời điểm 10 năm trước đó, dân số vị thành niên
đã có những biến đổi lớn về quy mô từ 14,3 triệu năm 1989 đến trên 17,3 triệunăm 1999 [3], [25], [30]
Lứa tuổi vị thành niên có giai đoạn dậy thì – giai đoạn có thể phát triểnnhanh cả về chiều cao, trọng lượng, cơ bắp và có những biến đổi về tâm sinh lýnên đã có những vấn đề phát sinh như hành vi tình dục và những ảnh hưởng khikhông có đủ kiến thức: mang thai ngoài ý muốn, sinh con sớm, các bệnh lâynhiễm nhiễm qua đường tình dục đặc biệt là HIV/AIDS có ảnh hưởng rất lớn đếntương lai sau này của các em Lứa tuổi này cơ thể phát triển nhanh, có nhiều thayđổi về tâm sinh lý đặc biệt là tầm vóc Do đó, nhu cầu năng lượng và các chấtdinh dưỡng cao, đặc biệt là vitamin và chất khoáng(A, D, C, sắt, calci, ) giúpcho các em phát triển bình thường Chất đạm là nền tảng xây dựng cơ thể và đặcbiệt quan trọng với lứa tuổi này Chất béo cần thiết với số lượng vừa phải, tránh
ăn quá nhiều chất béo Tinh bột cũng là phần quan trọng trong quá trình ăn uốngcủa trẻ vị thành niên vì nó là chất cung cấp nhiều năng lượng và có trong nhữngthực phẩm giá rẻ [3]
Cần quan tâm đặc biệt đến nhu cầu dinh dưỡng của lứa tuổi này nhất là đốivới nữ vị thành niên Tình trạng dinh dưỡng của các em là yếu tố quan trọng gópphần làm xuất hiện sớm hay muộn một trong các dấu hiệu phát triển sinh lý của
Trang 14trẻ Các em gái cần được nuôi dưỡng tốt trong hiện tại cũng như để chuẩn bị làm
mẹ trong tương lai Nhiều nghiên cứu trên thế giới cho thấy các thiếu nữ có tìnhtrạng dinh dưỡng tốt thường có hành kinh sớm so với các thiếu nữ có tình trạngdinh dưỡng kém Tốc độ tăng trưởng nói chung ở thiếu nữ có hành kinh sớm caohơn so với thiếu nữ có hành kinh muộn [2] Tuy nhiên cả hai nhóm đủ và thiếudinh dưỡng cuối cùng đều đạt được chiều cao tương tự trong thời kỳ vị thànhniên Mặc dù phát triển có thể xảy ra sớm hay muộn hơn và thời gian phát triểncũng có sự khác nhau [26]
Như vậy, sức khỏe và sự phát triển của lứa tuổi vị thành niên là một vấn đềbức thiết cho xã hội
1.3 Tình trạng dinh dưỡng của lứa tuổi vị thành niên
Tình trạng dinh dưỡng của lứa tuổi vị thành niên có liên quan đến tình trạngsức khỏe của lứa tuổi sau này, đặc biệt là nữ vị thành niên vì liên quan đến quátrình sinh sản
Để đánh giá tình trạng dinh dưỡng thể lực của lứa tuổi này có thể dựa vào cácchỉ số nhân trắc như cân nặng, chiều cao, chỉ số BMI (cân nặng/chiều cao2) Theokhuyến cáo của WHO thì đối với trẻ > 9 tuổi ta có thể dùng chỉ số BMI BMI tăng
và giảm vượt quá tiêu chuẩn cần có đều không có lợi cho sức khỏe [30]
Theo nghiên cứu của Ye Gang khẳng định rằng chỉ số BMI là rất cơ bản vàtiện lợi cho đánh giá tình trạng sinh dưỡng ở lứa tuổi này Tình trạng dinnhdưỡng của quần thể phản ánh quá trình nuôi dưỡng, môi trường và bệnh tật trướcđây Vì vậy trong giai đoạn tuổi vị thành niên nếu dinh dưỡng kém sau này khimang thai sẽ dẫn đến suy dinh dưỡng bào thai làm giảm trọng lượng của trẻ sơsinh [27]
Trang 15Ở các nước đang phát triển tỷ lệ thiếu dinh dưỡng trẻ em học đường cònkhá cao, đặc biệt là trẻ em ở các vùng nông thôn nghèo Nghiên cứu của Hadiu
và cộng sự ở vùng dân nghèo, thành phố Ujang Pankang của Indonesia cho thấy
có tới 55% trẻ em học đường thấp còi, 10% gầy còm [35] Lứa tuổi học đường ítgặp tình trạng suy dinh dưỡng nặng trừ khi có nạn đói vì ở lứa tuổi này trẻ pháttriển chậm hơn so với thời kì trẻ <5 tuổi, và chúng có thể đòi ăn khi chúng đói.Các nguyên nhân gây thiếu dinh dưỡng ở trẻ em học đường có thể do:
Trẻ đã bị suy dinh dưỡng từ giai đoạn thai nhi và khi còn nhỏ
Chế độ ăn hiện tại của trẻ thiếu kém
Trẻ bị đói: do không ăn sáng hoặc ăn ít và trẻ bị đói vào giữa buổi màthường gọi là đói ngắn kỳ
Trẻ hay mắc một số bệnh nhiễm trùng hoặc chuyển hóa
Có bố hoặc mẹ bị chết hoặc bị bệnh
Gia đình nghèo: bố, mẹ thất nghiệp
Trẻ phải đi bộ quá xa để đến lớp hoặc chở về nhà quá muộn vì phải điđường dài làm cho trẻ mệt không muốn ăn [31]
Trẻ ăn nhiều quà vặt như kẹo hoặc nước ngọt, thường là những trẻ ởthành thị mà bố mẹ thường xuyên đi làm xa hoặc vắng nhà [31]
Trẻ thiếu sự chăm lo của bố mẹ, gia đình
Ở Việt Nam cũng có một số nghiên cứu về lứa tuổi học đường Mondierenăm 1985 đo chiều cao của 3774 trẻ em Việt Nam, nghiên cứu sự phát triển thịlực của học sinh Hà Nội 1943 của Đỗ Xuân Hợp Năm 1985 nghiên cứu của HàHuy Khôi và Bùi Thị Như Thuận cho thấy: tuy trọng lượng và chiều cao của họcsinh Hà Nội thấp hơn so với NCHS, nhưng cao hơn so với HSSHVN (1975) vàcủa Đỗ Xuân Hợp 1943 và các số liệu đã công bố trước đây Điều đó chứng tỏ đã
Trang 16có sự tăng trưởng chiều cao ở trẻ em Việt Nam Nghiên cứu cũng chỉ ra sự khácbiệt giữa trẻ em nông thôn và thành thị: cân nặng và chiều cao trung bình của trẻ
em Hà Nội cao hơn so với trẻ em nông thôn [26] Nghiên cứu của Trần Văn Dần
và cộng sự về sự phát triển thể lực của học sinh 6 – 14 tuổi sau một thập kỷ(1981 - 1990) thấy rằng không có sự khác biệt giữa nam và nữ về chiều cao vàcân nặng, học sinh Hà Nội nói chung thời điểm 1990 đều cao hơn 1981, sự giatăng về chiều cao nhanh, sự gia tăng về cân nặng chậm Nghiên cứu cũng chỉ ra
sự khác biệt giữa trẻ em thành phố và trẻ em nông thôn có xu hướng phát triểnthể chất tốt hơn trẻ em ở mọi lứa tuổi [1], [11]
Một số nghiên cứu khác của Trần Văn Dần và cộng sự về sự phất triển thểchất của học sinh 8 – 14 tuổi trên một vùng dân cư miền Bắc thập kỷ 90 [20]cũng cho thấy sự gia tăng về chiều cao của học sinh nông thôn và thành phố.Nghiên cứu cho thấy cân nặng gia tăng rõ ở học sinh thành phố Theo dõi tìnhhình phát triển thể lực học sinh của Viện Dinh Dưỡng 1995 so với số liệu của
1985 của Hà Huy Khôi và Bùi Thị Như Thuận Sau 10 năm, tối đa tăng trưởng
về chiều cao trung bình 5 – 6 cm và phát triển chiều cao ở trẻ trai tốt hơn trẻ gáicùng lứa tuổi [4], [26]
Nghiên cứu của Phan Thị Thủy về tình trạng dinh dưỡng của nữ lứa tuổi 12– 17 tại hai xã vùng ven biển Lệ Thủy – Quảng Bình cho thấy: chiều cao của trẻ
nữ (12 – 17 tuổi tăng dần, 14 – 15 tuổi tăng nhanh nhất 7cm) Cân nặng của trẻtăng dần theo tuổi trong đó lứa tuổi 14 – 15 tuổi tăng nhanh 6,1 kg và chỉ tươngđương hằng số sinh lý Việt Nam 1975 ở độ tuổi 12 -14 tuổi [14]
Nghiên cứu của nhiều tác giả cho thấy sự tăng trưởng giữa các vùng khácnhau đỉnh tăng trưởng cũng khác nhau [15], [16], [17] Ở Hà Nội, đỉnh tăngtrưởng trẻ gái đến sớm hơn 11 – 12 tuổi, đỉnh tăng trưởng của trẻ trai đến muộn
Trang 17hơn 13 – 14 tuổi Đỉnh tăng trưởng liên quan đến tuổi dậy thì, thường diễn ra saukhi bắt đầu có dấu hiệu dậy thì và đến trước tuổi dậy thì hoàn toàn [2] Trong khi
đó theo nghiên cứu của Phan Thị Thủy ở Quảng Bình thì sự tăng trưởng nàymuộn hơn (15 tuổi) [14]
Tình trạng dinh dưỡng ở lứa tuổi này ngoài tình trạng thiếu cân thì tìnhtrạng thừa cân béo phì đã xuất hiện và có xu thế gia tăng
Thừa cân: là tình trạng cân nặng vượt quá cân nặng “nên có” so với chiều cao
Béo phì: là tình trạng tích lũy thái quá và không bình thường của Lipittrong tổ các tổ chức mỡ tới mức mức ảnh hưởng xấu đến sức khỏe [18]
Thừa cân và béo phì đang tăng lên mức báo động trên khắp thế giới ở ngườilớn và cả trẻ em Đó thực là một mối đe dọa tiềm ẩn trong tương lai Ở các nướcđang phát triển béo phì tồn tại song song với thiếu dinh dưỡng (BMI<18,5) gặpnhiều ở đô thị hơn ở nông thôn Tỷ lệ người trưởng thành béo phì ở Hồng Kông
là 20% nam, 75% nữ; Canada 15%, Hà Lan 8%, anh 26% [23]
Hiện nay tình hình thừa cân và béo phì đang tăng lên với một tốc độ báođộng không những ở các nước phát triển mà cả ở các nước đang phát triển Đâythực sự là mối đe dọa về sức khỏe tiềm ẩn trong tương lai Ở các nước đang pháttriển béo phì tồn tại song song với thiếu dinh dưỡng gặp nhiều ở thành phố hơn ởnông thôn Ở Việt Nam tỷ lệ thừa cân và béo phì khoảng 4% ở Hà Nội (1995) vàthành phố Hồ Chí Minh ở lứa tuổi 15 – 49 là 10,7% và 21,9% ở lứa tuổi 40 – 49(năm 2000) Tỷ lệ béo phì ở học sinh tiểu học Hà Nội là 4,2% (1996) và 12,2% ởthành phố Hồ Chí Minh (1997) [3]
Tình trạng thiếu dinh dưỡng gây nên mệt mỏi và giảm khả năng học tập, laođộng và một số bệnh lý đặc trưng.Ví dụ: thiếu máu, thiếu sắt, bướu cổ, thiếu iod,quáng gà do thiếu Vitamin A
Trang 18Béo phì làm cho con người có cảm giác bức bối, khó chịu, mệt mỏi toànthân, nhức đầu, tê buốt ở hai chân làm cho cuộc sống thiếu thoải mái Người béophì thường phản ứng chậm chạp hơn người bình thường trong sinh hoạt cũngnhư trong lao động do khối lượng cơ thể quá nặng nề, nên để hoàn thành mộtđộng tác, một công việc trong lao động thường mất nhiều thời gian hơn và mấtnhiều công sức hơn Hậu quả là hiệu quả lao động giảm và dễ xảy ra các tai nạn
và là một trong các yếu tố nguy cơ chính của các bệnh mạn tính không lây nhưbệnh cao huyết áp, tim mạch và đái tháo đường
1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến tình trạng dinh dưỡng của lứa tuổi vị thành niên 1.4.1 Yếu tố kinh tế xã hội:
Một trong những biểu hiện của tình trạng kinh tế, xã hội đó là vấn đề thu nhập.Nghiên cứu của Ahmed và cộng sự (1991) về ảnh hưởng của tình trạng kinh
tế - xã hội đến sự phát triển của trẻ học đường ở Banglades cho thấy: trẻ từ cácgia đình có thu nhập cao có cân nặng và chiều cao theo tuổi cao hơn so với trẻ từcác gia đình có thu nhập thấp [22]
Một số nghiên cứu khác ở Thái Lan cũng thấy rằng tình trạng dinh dưỡngcủa trẻ em tuổi học đường cần được lưu tâm, học sinh ở tần lớp xã hội thấp có tỷ
lệ mắc các bệnh thiếu đinh ưỡng cao [24] Một số nghiên cứu ở Anh về vấn đềliên quan giữa tình trạng thất nghiệp của bố mẹ các em, những trẻ em bố bị thấtnghiệp có chiều cao thấp hơn so với những trẻ có bố đi làm việc [30] Mộtnghiên cứu ở Malaysia (1997) cho thấy: trẻ em ở các gia đình có thu nhập thấpthì nguy cơ nhẹ cân và thấp hơn hẳn trẻ em ở các gia đình có thu nhập cao [28]
Ở nước ta nền kinh tế đang còn trong thời kì chuyển tiếp, ranh giới giàu vànghèo ngày càng rõ rệt đã ảnh hưởng không ít đến dinh dưỡng và sức khỏe củatrẻ em Bên cạnh tỷ lệ suy dinh dưỡng còn khá cao, tỷ lệ thừa cân béo phì đã có
xu hướng gia tăng đặc biệt tại các đô thị lớn [5]
Trang 19Kích cỡ gia đình cũng ảnh hưởng tới tình trạng dinh dưỡng của trẻ, đặc biệt
là các nước đang phát triển Các tác giả còn cho thấy tình trạng học vấn của cha
mẹ có liên quan đến chất lượng bữa ăn của trẻ [10]
1.1.2 Khẩu phần:
Để đảm bảo cho cơ thể phát triển tốt yếu tố quan trọng hàng đầu là chế độdinh dưỡng Ngay từ thời xưa, các nhà y học cổ đại đã biết được vai trò của dinhdưỡng trong phòng và điều trị bệnh, Hypocrat khuyên tùy theo tuổi tác, côngviệc, thời tiết nên ăn nhiều hay ít, ăn một lúc hay rải rác nhiều lần Trong điều trịông viết “thức ăn cho bệnh nhân phải là một phương tiện điều trị và trongphương tiện điều trị của chúng ta phải có chất dinh dưỡng”, “hạn chế và thiếuchất bổ rất nguy hiểm đối với người mắc bệnh mạn tính” [12]
Một số công trình nghiên cứu cho thấy ăn uống hợp lý là yếu tố căn bảnnhất cho sự tăng trưởng và phát triển Năng lượng, protein, chất béo, vitamin vàcác yếu tố vi lượng cần được cung cấp đầy đủ và tăng cường dự trữ các chấttrong cơ thể [5], [27]
Thiếu dinh dưỡng (thiếu về số lượng và chất lượng) cũng như sự mất cânđối trong khẩu phần ăn dẫn đến sự tăng trưởng chậm và có thể gây nên suy dinhdưỡng cấp hay mạn tính và nhiều dạng thiếu dinh dưỡng khác [21]
Nhiều nghiên cứu đã cho thấy, sự cung cấp đủ năng lượng cho trẻ em, mộtchế độ dinh dưỡng hợp lý cho trẻ em trong những năm đầu đời sẽ góp phầncung cấp đủ năng lượng cho cơ thể phát triển ở giai đoạn dậy thì[13] Tuy nhiênyếu tố quan trọng nhất của sự tăng trưởng thời kỳ này là dinh dưỡng hợp lý, đặcbiệt là cần cung cấp đầy đủ các chất sinh nhiệt [7], [21]
Theo Nut Blain (1969) nhận định rằng có mối liên quan giữa chiều cao, cânnặng với nhu cầu năng lượng của cơ thể và đã kết luận: nhu cầu năng lượng của
Trang 20mỗi cơ thể phụ thuộc vào trọng lượng của mỗi cơ thể đó Nhưng nhu cầu nănglượng rất đa dạng nó không chỉ phụ thuộc vào trọng lượng mà còn phụ thuộc vàođặc tính riêng của từng cá thể Ví dụ Widdwson (1997) đã ghi nhận những trẻnhẹ cân đôi khi ăn nhiều hơn những trẻ béo, vì vậy khi nghiên cứu nhu cầu nănglượng của trẻ em lứa tuổi đến trường và lứa tuổi vị thành niên, chúng ta cầnquan tâm đến sự khác nhau giữa nhu cầu năng lượng đã khuyến cáo nói chung vànhu cầu riêng của từng người [12], [13], [15].
Những biểu hiện về mặt di truyền sẽ phản ánh bằng sự trưởng thành sớm,muộn hoặc bình thường, bên cạnh đó khẩu phần ăn, môi trường sống và phongcách sống lành mạnh… cũng ảnh hưởng sự phát triển [12] Nói chung mức độthiếu cân thường tỷ lệ thuận với mức độ thiếu năng lượng
Trong giai đoạn dậy thì, chiều cao tăng khoảng 25%, còn trọng lượng cơ thểtăng 50% so với người trưởng thành Nhu cầu dinh dưỡng ở giai đoạn này đã cóliên quan tương đối chặt chẽ với trọng lượng cơ thể, mặt khác cần lưu ý rằng nhucầu dinh dưỡng còn liên quan với sự phát triển của cơ thể từng thời kỳ [14].Theo Marshall và Tanner (1969 - 1970), khi bắt đầu giai đoạn dậy thì thì tất cảnhững thay đổi xảy ra trong cơ thể đều có thể tiên đoán được Có một đặc điểmrất đặc trưng cho quá trình tăng trưởng ở lứa tuổi vị thành niên là sự khác nhau ởtừng cá thể về thời gian bắt đầu dậy thì Vì vậy có khi trẻ 14 tuổi đã trưởng thànhcòn 17 tuổi chưa phát triển đầy đủ Do đó như cầu dinh dưỡng phải căn cứ vàotuổi sinh học thì tốt hơn là căn cứ vào tuổi đời [29], [33]
1.1.3 Kiến thức, thực hành dinh dưỡng ảnh hưởng tới sức khỏe lứa tuổi vị thành niên:
Sức khỏe của học sinh là một bộ phận quan trọng của sức khỏe cộng đồng,các dịch vụ sức khỏe trong nhà trường mạng lại hiệu quả kinh tế cao bởi vì trẻ
Trang 21học tập và vui chơi cùng với nhau sẽ học tập nhau và trẻ sẽ chia sẻ những gìchúng được học cho cha mẹ và những người khác.
Tuy nhiên ở lứa tuổi này trẻ cũng đã phần nào tự chăm lo về sức khỏe, dovậy gia đình ít quan tâm hơn Vì vậy, trẻ có thể có những biểu hiện khác nhau vềdinh dưỡng, có những hiểu biết đúng hoặc sai Những biểu hiện và thói quendinh dưỡng của trẻ ảnh hưởng đến sự lựa chọn thực phẩm, cách ăn uống của trẻ,cuối cùng là ảnh hưởng tới tình trạng dinh dưỡng của trẻ Những trẻ ăn nhiều đồngọt, thức ăn giầu chất béo hoặc hay ăn vặt vào ban đêm thường có dấu hiệuthừa cân, béo phì [18] Ngược lại những trẻ ăn kiêng, bỏ bữa sáng thường lànhững trẻ thiếu dinh dưỡng Ngoài ra, một số nghiên cứu cho thấy các ảnhhưởng của hoạt động thể lực, học tập ở lứa tuổi này cũng rể gây ra những ảnhhưởng như cận thị học đường, cong vẹo cột sống [2]
Thói quen ăn uống, sở thích ăn uống cũng ảnh hưởng đến tình trạng dinhdưỡng của trẻ Những trẻ thích ăn nhiều đồ ngọt, hoa quả, thịt thường có nguy cơthừa cân nhiều hơn những trẻ kiêng ăn những thứ trên Bên cạnh đó, kinh tế giađình là yếu tố góp phần ảnh hưởng tình trạng dinh dưỡng của trẻ Những trẻ ởgia đình có mức sống cao có nguy cơ thừa dinh dưỡng hơn hơn những trẻ ở giađình nghèo Kiến thức, sự hiểu biết của gia đình và của trẻ về dinh dưỡng cũngảnh hưởng đến tình trạng dinh dưỡng của trẻ Sự hiểu biết cũng như quan tâmcủa gia đình với trẻ và cuả tự bản thân trẻ về dinh dưỡng sẽ tránh nguy cơ thừa
và thiếu dinh dưỡng
“ Trẻ em hôm nay thế giới ngày mai”, vì vậy sức khỏe của các em là sứckhỏe của cả cộng đồng hôm nay và ngày mai Do đó đề tài đề tài của cúng tôinhằm tìm hiều về kiến thức, thực hành dinh dưỡng và tình trạng dinh dưỡng củalứa tuổi vị thành niên Từ đó có thể đề xuất biện pháp thích hợp nhằm góp phầncải thiện tình trạng dinh dưỡng ở lứa tuổi này
Trang 22Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu: học sinh 10 tuổi đến 14 tuổi.
2.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu:
2.2.1 Địa điểm nghiên cứu: nghiên cứu được tiến hành tại hai trường THCS
Thành Công và Ngọc Lâm
Một số thông tin cơ bản về trường THCS Thành Công: Trường
THCS Thành Công nằm trên địa bàn phường Thành Công thuộc Quận Ba Đình
là một trường luôn luôn đạt chất lượng cao so với các trường trong quận, Thànhphố về giáo dục, học sinh của trường chủ yếu là con nhân dân trong phường vàmột số học sinh con em ở các Phường khác, các học sinh này phải được xét theokết quả học tập, đa số là các học sinh giỏi được tuyển vào Cơ sở vật chất củatrường đầy đủ có hệ thống camera ở các phòng và được theo dõi ở phòng Giámhiệu của trường Trường có đội ngũ giáo viên giỏi và nhiều kinh nghiệm giảngdạy( 100% giáo viên có trình độ đạt chuẩn, 80% trên chuẩn)
Một số thông tin cơ bản về trường THCS Ngọc Lâm: Trường THCS
Ngọc Lâm nằm trên địa bàn phường Bồ Đề thuộc quận Long Biên – Hà Nội Làđịa bàn mới từ huyện lên quân và gần đây kinh tế mới bắt đầu phát triển, nhândân trong địa bàn chú trọng, quan tâm hơn về vấn đề dinh dưỡng, học tập của trẻ
em Học sinh của trường chủ yếu là con em nhân dân trong địa bàn và có điềukiện kinh tế trung bình Vì những gia đình có điều kiện hoặc bố mẹ công tácthường cho con lên học trong nội thành, nơi có điều kiện học tập tốt hơn Thànhtích học tập của trường vào lạo trung bình, cơ sở vật chất tạm đủ
Trang 232.2.2 Thời điểm nghiên cứu: tháng 10 năm 2010.
2.3 Phương pháp nghiên cứu: nghiên cứu mô tả cắt ngang.
2.4 Cơ mẫu và phương pháp chọn mẫu:
n: cỡ mẫu cần nghiên cứu
p1: tỷ lệ trẻ thừa cân béo phì ở nội thành Hà Nội 13,1% [19]
p2: tỷ lệ trẻ thừa cân béo phì ở ngoại thành Hà Nội 6,3% [19]
α: xác suất phạm sai lầm loại 1, lấy bằng 0,05
β: xác suất phạm sai lầm loại 2, lấy bằng 0,1
Trang 242.4.2 Phương pháp chọn mẫu:
Sử dụng phương pháp lấy mẫu nhiều giai đoạn
Bước 1: Chọn mẫu có chủ đích Chọn một quận ở nội thành Hà Nội vàmột quận ở ngoại thành Hà Nội
Bước 2: Chọn ngẫu nhiên một trường THCS ở nội thành và một trường ởngoại thành Hà Nội
Bước 3: Áp dụng phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên phân tầng, theo kiểuphân bố tỷ lệ:
Coi mỗi khối là một tầng thì số học sinh lấy ra ở mỗi khối sẽ là:
n h
=N h × n
N
Trong đó:
n: tổng số học sinh cần nghiên cứu
N: tổng số học sinh của trường
nh: số học sinh cần lấy mỗi khối
Nh: số học sinh mỗi khối
Trang 25Tuổi Ngày sinh Phỏng vấn Phiếu hỏi
Bề dày lớp mỡ cơ tam đầu,
bề dày lớp mỡ góc dưới xương bả vai, phần trăm
Thói quen ăn uống Ăn sáng, ăn
vặt
Phỏng vấn Phiếu hỏi
Tần suất tiêu thụ thực phẩm
Số lần ăn thực phẩm/thời gian
Trang 26Gầy: giới hạn ngưỡng tạm thời là BMI theo tuổi < - 2 SD.
Cân nặng: Dùng cân seaca có độ chính xác 0,1 kg Cân được đặt ở một vịtrí ổn định và bằng phẳng Cân được kiểm tra và chỉnh trước khi cân Kết quảđược ghi theo kg với một số lẻ Đối tượng được đo mặc áo mỏng, đi chân đất,đứng giữa bàn cân, không được cử động mắt nhìn thẳng [6]
Bề dày lớp mỡ dưới da được đo bằng compa chuyên dụng: CompaHarpenden, 2 đầu Compa là hai mặt phẳng, tiết diên 1cm2 Có áp lực kế gắn vàocompa đảm bảo khi Compa kẹp vào da bao giờ cũng có một áp lực không đổikhoảng 10 – 20g/mm2
Vị trí nếp gấp da cơ tam đầu: Điểm giữa cánh tay trên, tay bên trái (giữamỏm cùng vai và điểm trên lồi cầu) trong tư thế tay buông thõng tự nhiên Điềutra viên dung ngón cái và ngón trỏ của tay véo da và tổ chức dưới da ở điểm giữa
Trang 27mặt sau cánh tay, ngang mức đánh dấu nâng nếp da khỏi mặt cơ thể 1cm (trụccủa nếp gấp da trùng với trục của cánh tay) Sau đó đặt Compa vào để đo.
Với nếp gấp da góc dưới xương bả vai: điểm đo ngang trên đường bờ chéocủa xương bả vai (t), phía dưới góc dưới xương bả vai (ngang mức với điểm đo ở
cơ tam đầu gióng vào ở tư thế tay trái buông thõng tự nhiên)
2.5.2.2 Tiêu thụ lương thực thực phẩm:
Hỏi tần xuất xuất hiện lương thực thực phẩm trong ngày, trong tuần, trongtháng qua nhằm đưa ra một bức tranh về sự có mặt của các loại thực phẩm và xuhướng tiêu thụ lương thực, thực phẩm của trẻ hiện nay
2.5.2.3 Phỏng vấn kiến thức, thực hành dinh dưỡng và hoạt động thể lực:
Sử dụng bộ câu hỏi phỏng vấn được thiết kế sẵn để kiểm tra học sinh vềkiến thức, thực hành dinh dưỡng, hoạt động thể lực và một số thông tin khác
2.5.2.4 Các yếu tố liên quan:
Các yếu tố kinh tế, gia đình, kiến thức và thực hành dinh dưỡng của họcsinh được thu thập qua phiếu điều tra
2.6 Sai số và cách khắc phục:
- sai số chọn: + Người được chọn trả lời không thật.
+ Mẫu không đại diện cho quần thể nghiên cứu.
khắc phục bằng cách gợi chuyện để họ công tác với mình
- Sai số quan sat: + Sai số nhớ lại: trẻ không nhớ chính xác được số thức
ăn, nước uống mà mình đã sử dụng trong tuần, tháng qua
Khắc phục bằng cách thuyết phục họ nhớ lại hoặc gợi nhớ lại cho
họ nhớ từng chi tiết (nếu có thể) về loại thức ăn, nước uống mà họ đã sử dụngtrong tuần, tháng qua
Trang 28+ Sai số thu thập thông tin: người thu thập thông tin không thu thập đượcthông tin chính xác.
Khắc phục bằng cách: + Tiến hành thăm dò để kiểm tra chấtlượng thông tin và bộ câu hỏi trước khi nghiên cứu
+ Tăng cường việc kiểm tra giám sát trong quá trình thu thập số liệu điều tra
2.7 Phương pháp quản lý, xử lý và phân tích số liệu:
- Số liệu sau khi làm sạch được nhập liệu vầ quản lý bằng máy tính với
phần mềm Epidata, sau đó số liệu được xử lý và phân tích với phần mềm Stata
- Các giá trị bị thiếu, ngoaị lai… được xử lý.
- Sử dụng test t-student để so sánh giá trị trung bình của hai nhóm độc lập
(phân bố chuẩn) và test Khi bình phương để so sánh sự khác biệt giữa hai tỷ lệcủa các nhóm quan sát độc lập
- Quá trình phân tích cả thống kê mô tả và thống kê suy luận đều được thực
hiện, với mức ý nghĩa thống kê là 0,05
2.8 Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu:
Đối tượng phỏng vấn được cung cấp đầy đủ thông tin về nghiên cứu
Đối tham gia phỏng vấn trên tinh thần tự nguyện và có thể ngừng phỏngvấn bất kỳ thời điểm nào
Đảm bảo đầy đủ quyền lợi của đối tượng khi tham gia nghiên cứu
Đảm bảo bảo mật thông tin của đối tượng trong nghiên cứu
Đảm bảo trích dẫn chính xác về nguồn tài liệu tham khảo
Kết quả nghiên cứu chỉ phục vụ cho mục đích nghiên cứu, không sửdụng cho mục đích khác
Trang 29Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1 Đặc điểm nhóm nghiên cứu:
Bảng 3 1: Đặc điểm mẫu nghiên cứu.
Trang 30Bảng 3 2: Trình độ văn hóa và nghề nghiệp của bố mẹ học sinh.
Đặc điểm
Trường THCS Thành Công
Trang 31Nhận Xét:
- Các bà mẹ của học sinh ở trường Thành Công chủ yếu có trình độ văn
hóa là Trung cấp – Đại học chiếm 58,9%
- Các bà mẹ của học sinh trường Ngọc Lâm có tỷ lệ trình độ văn hóa học
hết cấp 3 cao (24,6%) và có trình độ Trung cấp – Đại học cũng cao nhưng vẫnthấp hơn nhiều so với trường Thành Công
- Các ông bố của học sinh trường Thành Công chủ yếu là trình độ Trung
cấp – Đại học và sau đại học chiếm 60,4%
- Các ông bố của học sinh trường Ngọc Lâm chủ yếu là trình độ văn hóa
cấp 2 và cấp 3 Trình độ Trung cấp – Đại học chiếm 26,9%, ít hơn hẳn so vớitrường Thành Công
- Bố mẹ của học sinh trường Ngọc Lâm có nghề nghiệp chủ yếu là làm công
ăn lương (62,3%) Bên cạnh đó còn tỷ lệ làm nông dân chiếm khá cao 10,4%
- Bố mẹ của học sinh trường Thành Công cũng chủ yếu là làm công ăn
lương (57,8%) và các ngành khác cũng chiếm tỷ lệ cao nhưng tỷ lệ nông dân làkhông đáng kể (0,4%)
Trang 32Bảng 3.3: Bảng thông tin về thành viên gia đình của học sinh.
Số người
Trường THCS Thành Công
3.2 Tình trạng dinh dưỡng của trẻ:
Bảng 3 4: Cân nặng trung bình của trẻ theo tuổi và giới ở hai trường
nghiên cứu.
Trang 33Tuổi Nam Nữ Chung Nam Nữ Chung
<11 45,3 8,3 39,2 9,4 41,3 9,2 41,5 5,8 38,7
6,4
38,1 5,9
11 44,1 11,2 41,0 6,4 42,7 9,4 43,5 10,5 39,2
7,9
41,3 9,4
12 48,2 7,2 44,9 7,7 45,1 7,4 47,8 10,2 42,0
8,1
45,2 9,7
13 48,7 9,5 46,3 4,7 47,3 7,2 48,1 11,0 45,7
7,6
46,8 9,3
14 57,4 11,8 48,7 5,0 51,4 10,7 54,7 8,9 47,8
6,1
51,8 8,5 Chung 48,7 10,7 45,1 6,8 45,9 9,1 48,1 10,9 43,1
8,1
45,6 9,9
Nữ NL
Biểu đồ 3 1: Cân nặng trung bình của học sinh hai trường nội và ngoại
thành Hà Nội.
Trang 34Nhận xét:
- Cân nặng trung bình của học sinh trường Thành Công cao hơn học sinh
trường Ngọc Lâm ở các nhóm tuổi một cách có ý nghĩa với p<0,05 Cân nặngcủa nam cao hơn so với nữ có ý nghĩa thống kê với p<0,05
- Cân nặng trung bình của nam học sinh lứa tuổi 10 sang 11 và 12 sang 13
tăng ít, nhưng lứa tuổi từ 11 sang 12 và 13 sang 14 thì tăng nhiều và mỗi nămtăng trung bình 5,45kg
- Đối với học sinh nữ thì cân năng tăng đều hơn , trung bình mỗi năm
tăng 2,3kg
Bảng 3 5: Chiều cao trung bình của hai trường theo nhóm tuổi
Nhóm tuổi
Trường THCS Thành Công Trường THCS Ngọc Lâm
Trang 35Nữ NL
Biểu đồ 3 2: Chiều cao trung bình của học sinh hai trường nội và ngoại
thành Hà Nội.
Nhận xét:
-Qua biểu đồ ta nhận thấy phần lớn chiều cao của học sinh trường Thành
Công đều cao hơn học sinh trường Ngọc Lâm
-Chiều cao trung bình của học sinh THCS nội thành Hà Nội cao hơn hẳn so
với học sinh ngoại thành ở cả hai giới một cách có ý nghĩa thống kê với p<0,05
Và chiều cao của nam học sinh cao hơn so với nữ học sinh (có ý nghĩa thống kêvới p<0,05)
-Học sinh nữ có sự tăng trưởng về chiều cao sớm, tăng mạnh ở lứa tuổi từ
10 đến 12 (mỗi năm tăng trung bình 3,1cm/năm) và giảm tăng chiều cao ở lứatuổi 12 đến 14 tuổi
Trang 36-Học sinh nam có chiều cao tăng mạnh từ giai đoạn 11 – 14 tuổi và trung
bình tăng 6,08cm mỗi năm
Bảng 3.6: Trung bình chỉ số khối cơ thể BMI theo tuổi, giới và trường
nghiên cứu.
Nhóm tuổi
Nhận xét:
- Nhìn chung chỉ số BMI của học sinh hai trường là tương đương nhau, tuy
nhiên học sinh trường Thành Công có BMI có phần cao hơn trường Ngọc Lâm ởlứa tuổi 10, 11, 14 tuổi
- Chỉ số BMI khác nhau của nam và nữ ở hai trường nhưng không có ý
nghĩa thống kê với p>0,05
Trang 37Bảng 3.7: Tình trạng suy dinh dưỡng theo chỉ tiêu chiều cao/tuổi theo giới
Tình trạng suy dinh dưỡng của học sinh không có sự khác biệt giữa nam và
nữ Sự khác biệt giữa nhóm học sinh nội và ngoại thành Hà Nội ( 3,9% đối vớitrường nội thành và 5,6% trường ngoại thành) có ý nghĩa thống kê với p<0,01
Bảng 3 8: Tình trạng dinh dưỡng theo chỉ tiêu trung bình BMI phân theo
giới, tuổi của học sinh trường Thành Công.
Nhóm
tuổi Giới
n < - 2 SD - 2 SD đến 1 SD Z-scores > 1 SD
Trang 3814 tiếp đó là lứa tuổi 11 và lứa tuổi 10, 13 không có trẻ nào thiếu cân.
Tình trạng thừa cân của học sinh trường Thành Công khác nhau ở các lứatuổi Nhiều nhất ở lứa tuổi 10 sau đó là 11, 12, 14 và thấp nhất là ở lừa tuổi 13(7,4%) Tình trạng thừa cân có sự khác nhau giữa nam và nữ: nam cao hơn nữ(nam 30,8% và nữ 15,6%)
Bảng 3 9: Tình trạng dinh dưỡng theo chỉ tiêu trung bình BMI phân theo
giới, tuổi của học sinh trường Ngọc Lâm.
Nhóm
tuổi
< - 2 SD - 2 SD đến 1 SD > 1 SD