Phân tích rủi ro và biện pháp phòng ngừa trong hoạt động tín dụng tại ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn quận Cái Răng
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA KINH TẾ - QUẢN TRỊ KINH DOANH
o0o
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP PHÂN TÍCH RỦI RO VÀ BIỆN PHÁP
PHÒNG NGỪA TRONG HOẠT ĐỘNG
TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP
& PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN
QUẬN CÁI RĂNG Giáo Viên Hướng Dẫn: Sinh viên thực hiện: Th.S Trần Ái Kết Nguyễn Thị Kiều Oanh
MSSV: 4031079
Lớp: Kế Toán 01 – K.29
Cần Thơ, 05/2007
Trang 2Sinh viên thực hiện
Nguyễn Thị Kiều Oanh
oOo
Hàng Nông Nghiệp & Phát Triển Nông Thôn Quận Cái Răng Qua thời
gian thực tập tại cơ quan, đã dược sự quan tâm và giúp đỡ nhiệt tình của Cô,
Chú, Anh, Chị trong ngân hàng cùng với vốn kiến thức Em đã được học ở trường
giúp Em hoàn thành tốt luận văn tốt nghiệp
và Khoa Kinh Tế & Quản Trị Kinh Doanh nói riêng đã cho Em biết được
rất nhiều không chỉ về kiến thức chuyên ngành mà còn về kiến thức ngoài xã hội
trong quá trình học tập Đặt biệt là Thầy Trần Ái Kết – người trực tiếp hướng dẫn
Em trong quá trình làm luận văn của mình
àng Nông Nghiệp & Phát Triển Nông Thôn Quận Cái Răng đã tạo mọi
điều kiện thuận lợi để giúp đỡ Em trong quá trình thực tập
nh Chị trong ngân hàng luôn dồi dào sức khỏe, đạt được nhiều thành công
trong công tác cũng như trong cuộc sống
Trang 3
LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan rằng đề tài này là do chính tôi thực hiện, các thông tin và dữ liệu th
Nguyễn Thị Kiều Oanh
u thập được và kết quả phân tích trong đề tài là trung thực, đề tài này không trùng với bất cứ đề tài nghiên cứu khoa học nào
Ngày 18 tháng 06 năm 2007 Sinh viên thực hiện
Trang 4
NHẬN XÉT CỦA CƠ QUAN THỰC TẬP
Trang 5
NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN
oOo
Trang 6
NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN PHẢN BIỆN
oOo
Trang 7
CHƯƠNG 1
GIỚI THIỆU 1.1 SỰ CẦN THIẾT CỦA ĐỀ TÀI:
Nền kinh tế của mỗi quốc gia là vấn đề luôn đựơc quan tâm trong mỗi quốc gia đó Hiện nay, Việt Nam đã là thành viên của tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), thì việc phát triển kinh tế phải đựơc quan tâm nhiều hơn Hơn thế nữa, Việt Nam ta đựơc mệnh danh là “Con rồng đang chuyển mình”, vậy ta phải phát triển nhanh và mạnh nhiều hơn về kinh tế để xứng danh “Con rồng” như nước bạn đã nói Để thực hiện thành công các mục tiêu phát triển kinh tế thì một trong những yếu tố có ý nghĩa quyết định là nâng cao sức cạnh tranh của doanh nghiệp và của hàng hoá dịch vụ Muốn vậy, cần phải nghiên cứu một cách có hệ thống về nhiều lĩnh vực, và một trong những lĩnh vực cần được quan tâm là lĩnh vực ngân hàng Ngân hàng có vị trí quan trọng đáp ứng nhu cầu vốn trong mọi nền kinh tế, hay nói khác hơn ngân hàng là chiếc cầu nối giữa nơi thừa và nới thiếu vốn Để đáp ứng nhu cầu vốn cho người dân, ngoài vốn tự có của ngân hàng, ngân hàng còn huy động tiền nhàn rỗi từ những người thừa vốn cho những người thiếu vốn vay, để đáp ứng vốn cho người dân khai thác những tiềm năng kinh tế của địa phương, trước là đem lại lợi ích cho chính bản thân ngân hàng và sau đó là đem lại lợi ích chung cho toàn xã hội
Cùng với sự phát triển đó, Ngân Hàng Nông Nghiệp & Phát Triển Nông Thôn (viết tắt là: NHNO & PTNT) Quận Cái Răng đã quan tâm không ít vấn đề làm sao để đáp ứng nhu cầu vốn cho người dân để tập trung phát triển nông nghiệp và phát triển nông thôn của Quận Tuy nhiên, không riêng với ngân hàng
mà kể cả các ngành nghề kinh doanh khác, luôn tiềm ẩn không ít những rủi ro gây ảnh hưởng lớn đến hoạt động kinh doanh của mình Riêng đối với ngân hàng, khi rủi ro xảy ra ở mức độ thấp sẽ ảnh hưởng đến kết quả kinh doanh và uy tín của ngân hàng; khi rủi ro xảy ra ở mức độ cao sẽ dẫn đến nguy cơ ngân hàng bị phá sản Điều này có ảnh hưởng rất lớn, trước tiên là đối với người dân - những người đang cần vốn sẽ bị hạn chế về vốn đầu tư và sau đó là đối với hệ thống ngân hàng; như chúng ta đã biết, sự đỗ vỡ hệ thống Hợp Tác Xã tín dụng năm
1989 – 1990 trong cả nước gây ra những tác động xấu đến xã hội trong thời gian
Trang 8dài, cuộc khủng hoảng ngân hàng Châu Á năm 1997 – 1998 đã đẩy nhiều nước vào tình trạng suy thoái nền kinh tế nghiêm trọng Vì vậy, cần phải hạn chế tối đa việc rủi ro có thể xảy ra cũng như làm sao kiểm soát và kiềm chế rủi ro ở mức
thấp nhất có thể chấp nhận Và đó cũng là lý do em đã chọn đề tài “Phân tích rủi
ro và biện pháp phòng ngừa trong hoạt động tín dụng tại Ngân Hàng Nông Nghiệp & Phát Triển Nông Thôn Quận Cái Răng”
1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI:
1.2.1 Mục tiêu chung:
Phân tích rủi ro và tìm ra nguyên nhân dẫn đến rủi ro để có thể đưa ra đựơc các biện pháp phòng ngừa, nhằm hạn chế đựơc rủi ro trong việc đầu tư, giúp ngân hàng đứng vững trong nền kinh tế thị trường đang cạnh tranh gay gắt
1.2.2 Mục tiêu cụ thể:
- Phân tích hoạt động tín dụng tại Ngân Hàng Nông Nghiệp & Phát Triển Nông Thôn Quận Cái Răng
- Phân tích rủi ro trong hoạt động tín dụng
- Một số chỉ tiêu đánh giá rủi ro
- Đưa ra một số đề suất và giải pháp để phòng ngừa và hạn chế rủi ro
trong hoạt động tín dụng
1.3 PHẠM VI NGHIÊN CỨU:
1.3.1 Phạm vi về thời gian và không gian:
Tiến hành nghiên cứu trong thời gian 3 tháng (bắt đầu từ ngày 05/03/2007 đến ngày 11/06/2007)
Do yêu cầu của đề tài, nên thời gian thực tập của em chủ yếu thu thập thông tin số liệu ở phòng tín dụng của ngân hàng trong ba năm (từ 2004 – đến 2006) Bên cạnh đó, cùng với sự giúp đỡ của các Anh, Chị cán bộ tín dụng cũng
đã tạo điều kiện cho em đi thực tế từng địa bàn thẩm định và đến xem các mô hình sản xuất
1.3.2 Phạm vi nội dung:
Trong nền kinh tế thị trường thì hoạt động của Ngân Hàng Nông Nghiệp
& Phát Triển Nông Thôn rất đa dạng Vì vậy, việc phân tích toàn bộ hoạt động
Trang 9tín dụng của Ngân hàng Nông nghiệp có phần hạn chế Do thời gian thực tập có hạn nên đề tài chỉ đi sâu vào phân tích rủi ro và biện pháp phòng ngừa trong hoạt động tín dụng tại Ngân Hàng Nông Nghiệp & Phát Triển Nông Thôn Quận Cái Răng qua ba năm (từ 2004 – đến 2006)
Để luận văn em được hoàn thiện hơn về mặt nội dung và hình thức, em rất mong đựơc sự chỉ bảo tận tình của Thầy cùng với sự quan tâm giúp đỡ của các Anh, Chị tại ngân hàng Tuy nhiên, trước đây cũng đã có những đề tài nghiên cứu vấn đề tương tự, nhưng trong đề tài này sẽ khác hơn những đề tài trước về mặt số liệu (năm 2006), và mong sự hướng dẫn của Thầy sẽ giúp em hoàn thành
tốt hơn nội dung bài viết của mình
1.4 LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI:
Trong quá trình làm luận văn, có tham khảo một số tài liệu có liên quan đến đề tài, nhưng đề tài nói về rủi ro chỉ tham khảo trong luận văn của sinh viên
Nguyễn Hoàng Oanh (lớp Tài Chính – Tín Dụng 02 K.28) về đề tài Phân tích thực trạng rủi ro và biện pháp phòng ngừa trong hoạt động tín dụng tại Ngân Hàng Nông Nghiệp & Phát Triển Nông Thôn Huyện Giá Rai; vì thời gian và kiến
thức có hạn nên phần trình bày luận văn (hay tiểu luận) của các anh, chị sẽ có sai sót trong phần nội dung và hình thức là không hể tránh khỏi, và trong đề tài mà
em được tham khảo cũng vậy, tuy nhiên đã có sự góp ý của Giáo viên hướng dẫn cũng như Giáo viên phản biện để luận văn được hoàn chỉnh hơn về một số mặt như: cơ sở lý luận chưa thật sự chặt chẽ, chưa phân tích rõ được thực trạnh rủi ro, các mặt khác trình bày tốt
Trang 10- Có sự chuyển giao quyền sử dụng từ người này sang người khác
- Sự chuyển giao này có tính tạm thời
- Khi đến hạn (do 2 bên thoả thuận lúc đầu), người sử dụng hoàn trả lại cho người sở hữu một giá trị lớn hơn, và phần tăng thêm gọi là phần lời hay lãi suất
2.1.1.2 Bản chất tín dụng:
Tín dụng ra đời là một tất yếu khách quan trong nền sản xuất hàng hoá, vì khi nền sản xuất hàng hoá phát triển đến một múc độ nhất định sẽ dẫn đến sự phân hoá giàu nghèo trong xã hội đó là điều không thể tránh Lúc đó, trong xã hội sẽ có người thừa vốn, có người thiếu vốn trong hoạt động sản xuất kinh doanh cũng như trong đời sống hàng ngày Để giải quyết vấn đề này, ngân hàng
đã là chiếc cầu nối giữa nơi thừa và nơi thiếu vốn, để giải quyết tạm thời nhu cầu
về vốn trong xã hội
2.1.1.3 Vai trò tín dụng:
Tín dụng cung cấp vốn đầy đủ và kịp thời nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình sản xuất kinh doanh đựơc diễn ra liên tục, bên cạnh đó còn góp phần phát triển đầu tư và phát triển kinh tế Tín dụng là một trong những công cụ
để tập trung vốn một cách hữu hiệu và còn là công cụ thúc đẩy tích tụ vốn cho
Trang 11các tổ chức kinh tế Nó còn là cầu nối giữa tiết kiệm và đầu tư Có thể nói trong mọi nền kinh tế xã hội, tín dụng đều phát huy vai trò to lớn của mình, tạo động lực phát triển mạnh mẽ mà khó có thể có một công cụ nào có thể thay thế được
Tín dụng thúc đẩy quá trình lưu thông hàng hoá, phát triển sản xuất Đây
là cơ sở đảm bảo cho lưu thông tiền tệ được ổn định, tạo ra nhiều cơ hội, việc làm, thu hút nhiều lực lựơng sản xuất mới, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và ổn định xã hội
Tín dụng góp phần ổn định tiền tệ, ổn định giá, làm giảm áp lực lạm phát Ngoài ra còn tạo điều kiện để phát triển kinh tế với các nước trong khu vực và trên thế giới, mở rộng giao lưu hợp tác quốc tế
2.1.2.1 Khái niệm rủi ro tín dụng:
Theo truyền thống, rủi ro đựơc hiểu là những sự kiện xảy ra có thể làm mất mát tài sản hay làm phát sinh một khoản nợ
Ngày nay, rủi ro đựơc hiểu theo nghĩa rộng hơn, nó không chỉ là rủi ro tài chính mà còn bao gồm cả những rủi ro liên quan đến các mục tiêu hoạt động và mục tiêu chiến lược
Hoạt động kinh doanh của ngân hàng trong nền kinh tế thị trường là một hoạt động rất nhạy cảm Mọi biến động trong nền kinh tế xã hội đều nhanh chóng tác động đến hoạt động của ngân hàng, có thể gây nên những xáo động bất ngờ
và hiệu quả của ngân hàng bị giảm sút môt cách nhanh chóng Do vậy, hoạt động kinh doanh của ngân hàng luôn chứa đựng những rủi ro tiềm ẩn, nó có thể xảy ra bất cứ lúc nào
Rủi ro trong hoạt động của ngân hàng là những biến cố, sự biến động xảy
ra ngoài ý muốn, ảnh hưởng xấu đến hoạt động kinh doanh của ngân hàng, thường dẫn đến thiệt hại và thua lỗ Vì vậy, nhận thức rủi ro luôn là vấn đề cấp bách của mỗi ngân hàng
2.1.2.2 Các loại rủi ro cơ bản:
Hoạt động của ngân hàng ít nhiều sẽ liên quan đến sự có mặt của rủi ro Vậy vấn đề luôn đặt ra cho ngân hàng là phải chấp nhận rủi ro hay làm thế nào để
né tránh chúng? Tuy nhiên, một số rủi ro có thể kiềm chế đựơc và bên cạnh đó
Trang 12cũng có một số rủi ro không thể tránh khỏi; vì vậy, các ngân hàng cần xác định lợi ích có thể đạt được sẽ xứng đáng với rủi ro có thể chấp nhận? Hoạt động của ngân hàng sẽ phát triển tốt nếu mức rủi ro mà ngân hàng chịu là hợp lý và có thể kiểm soát đựơc và nó còn phải nằm trong nguồn lực tài chính và năng lực tín dụng của ngân hàng
Có rất nhiều dạng rủi ro khác nhau và có thể phân tích từ nhiều khía cạnh
Và sau đây là một số loại rủi ro được gọi là cơ bản trong hoạt động của các ngân hàng:
a Rủi ro tín dụng:
Đây là rủi ro được đề cập trước tiên đối với ngân hàng, rủi ro này thường xảy ra hơn so với các loại rủi ro khác; và riêng đối với ngân hàng nông nghiệp thì nguồn thu chủ yếu là việc thu từ lãi cho vay, thường chiếm từ 70 – 90%
Rủi ro tín dụng là rủi ro do bên đi vay (có thể là những cá nhân, tổ chức,…) không có khả năng thực hiện nghĩa vụ tài chính hay nói khác hơn là không có khả năng thanh toán các khoản vay theo đúng hợp đồng tín dụng đã ký với ngân hàng Rủi ro tín dụng có thể đựơc đo bằng nợ quá hạn, nợ khó đòi, nợ khoanh Khi rủi ro tín dụng xảy ra có nghĩa là khách hàng đã không trả nợ gốc và lãi cho ngân hàng khi đến hạn, nếu cùng lúc có nhiều khách hàng không trả tiền cho ngân hàng, điều này sẽ có ảnh hưởng xấu đến hoạt động của ngân hàng
b Rủi ro thanh khoản:
Là trường hợp ngân hàng không đảm bảo đựơc khoản tiền hay nói khác hơn là loại rủi ro này xảy ra khi ngân hàng không đủ tiền để đáp ứng các khoản phải trả khi đến hạn thanh toán, chi trả cho khách hàng vì tài sản của ngân hàng không đủ khả năng thanh khoản hay không thể huy động đủ vốn Loại rủi ro này khi xảy ra mà không kịp thời giải quyết sẽ tác động mạnh mẽ đến tâm lý khách hàng, điều này làm ảnh hưởng lớn đến uy tín của ngân hàng
c Rủi ro lãi suất:
Rủi ro về lãi suất trong họat động tín dụng của ngân hàng là rất quan trọng Đây là phần chênh lệch giữa lãi suất của ngân hàng với lãi suất của thị trường làm tác động đến ngân hàng Khi những khoản vay của ngân hàng mang
Trang 13về không trang trải đủ cho các khoản chi phí thì dẫn đến vịêc ngân hàng sẽ bị lỗ, nếu hiện tựơng này xảy ra và liên tục kéo dài do ngân hàng không dự đoán, phân tích kỹ các trường hợp làm thay đổi lãi suất sẽ có ảnh hưởng đến ngân hàng theo chiều hướng bất lợi; khi đó, vốn của ngân hàng sẽ bị thiếu hụt dần vì phải bù vào những khoản lỗ
d Rủi ro vốn:
Rủi ro này xuất hiện khi nguồn vốn ngân hàng bị ứ đọng, đang nằm trong tình trạng không thể cho vay hay không thể chuyển sang các tài sản khác để sinh lời
2.1.3 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả của hoạt động tín dụng và đo lường rủi ro tín dụng:
2.1.3.1 Chỉ tiêu dư nợ / Nguồn vốn huy động:
Chỉ tiêu này xác định hiệu quả sử dụng đồng vốn huy động của ngân hàng
Từ chỉ tiêu này ta có thể đánh giá khả năng cho vay của ngân hàng với nguồn vốn huy động được Khi chỉ tiêu này quá lớn hay quá nhỏ đều không tốt với ngân hàng Vì khi chỉ tiêu này quá nhỏ cho thấy khả năng sử dụng nguồn vốn hoạt động của ngân hàng chưa tốt và ngược lại cho thấy khả năng huy động vốn của ngân hàng còn thấp
2.1.3.2 Chỉ tiêu vòng quay vốn tín dụng: (vòng)
Vòng quay vốn tín dụng là chỉ tiêu dùng để đo lường tốc độ luân chuyển vốn tín dụng của ngân hàng Khi đồng vốn đựơc quay vòng càng nhanh chứng tỏ hiệu quả hoạt động của ngân hàng càng tốt
Vòng quay vốn tín dụng = Doanh số thu nợ / Dư nợ bình quân
2.1.3.3 Hệ số thu nợ:
Hệ số thu nợ đựơc tính bằng công thức:
Hệ số thu nợ = Doanh số thu nợ / Tổng doanh số cho vay
Chỉ tiêu này phản ánh hiệu quả thu nợ của ngân hàng hay có thể gọi là khả năng trả nợ vay của khách hàng, từ đây ta biết đựơc số tiền mà ngân hàng thu đựơc trong một kỳ kinh doanh nhất định từ một đồng doanh số cho vay Khi hệ
Trang 14số thu nợ càng lớn thì càng đựơc đánh giá tốt, vì khi đó cho thấy việc thu hồi vốn của ngân hàng càng hiệu quả và ngựơc lại
2.1.3.4 Tỉ lệ nợ quá hạn: (%)
Ta có:
Tỉ lệ nợ quá hạn = Tổng số nợ quá hạn / Tổng dư nợ
Tỉ lệ nợ quá hạn phản ánh mức độ rủi ro tín dụng và đo lường chất lượng nghịêp vụ của ngân hàng Chỉ tiêu này càng cao cho thấy chất lượng tín dụng của ngân hàng càng kém và ngược lại
Theo Quyết Định 493 nợ được phân loại thành 5 nhóm, bao gồm:
• Nhóm 1: nợ đủ tiêu chuẩn, bao gồm nợ trong hạn được đánh giá có khả năng thu hồi đủ gốc và lãi đúng hạn và các khoản nợ có thể phát sinh trong tương lai như các khoản bảo lãnh, cam kết cho vay, chấp nhận thanh toán
• Nhóm 2: nợ cần chú ý, bao gồm nợ quá hạn dưới 90 ngày và nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ
• Nhóm 3: nợ dưới tiêu chuẩn, bao gồm nợ quá hạn từ 90 ngày đến
180 ngày và cơ cấu lại thời hạn trả nợ quá hạn dưới 90 ngày
• Nhóm 4: nợ nghi ngờ, bao gồm nợ quá hạn từ 181 ngày đến 360 ngày và nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ quá hạn từ 90 ngày đến 180 ngày
• Nhóm 5: nợ có khả năng mất vốn, bao gồm nợ quá hạn trên 360 ngày, nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ quá hạn trên 180 ngày và nợ khoanh chờ Chính phủ xử lý
2.1.3.5 Tỉ suất lợi nhuận: (%)
Tỉ suất lợi nhuận là tỉ số được tính theo phần trăm giữa lợi nhuận và số vốn đầu tư của ngân hàng Khi lĩnh vực đầu tư nào có tỉ suất lợi nhuận càng lớn thì được đánh giá càng cao Tỉ suất lợi nhuận sẽ chỉ cho ngân hàng biết nên đầu
tư vào đâu thì có hiệu quả
Tỉ suất lợi nhuận = Lợi nhuận / Dư nợ bình quân
Trang 152.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:
2.2.1 Phương pháp thu thập thông tin và số liệu:
Số liệu được thu thập từ các tài liệu được lưu trữ của ngân hàng trong nhiều năm qua do phòng kế hoạch kinh doanh cung cấp Bên cạnh đó, cùng với việc tiếp cận thực tế các họat động tín dụng của ngân hàng, tiếp xúc và trao đổi với cán bộ tín dụng, tham khảo thêm một số hồ sơ vay vốn, bảng cân đối tài khoản chi tiết và tổng hợp qua các tháng trong năm, báo cáo tổng kết năm…
2.2.2 Phương pháp phân tích số liệu:
Dựa vào các số liệu thu thập được qua các năm và dùng một số biện pháp như: phương pháp so sánh, phương pháp tỉ lệ… để phân tích cụ thể từng mục tiêu
Trang 16CHƯƠNG 3
KHÁI QUÁT VỀ NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN
NÔNG THÔN QUẬN CÁI RĂNG 3.1 LỊCH SỬ HÌNH THÀNH:
Ngân hàng Nông nghiệp & Phát triển Nông thôn đã được đổi tên 4 lần từ khi thành lập
- Đầu tiên có tên là Ngân Hàng Phát Triển Nông Nghệp Huyện Châu Thành Được thành lập cùng theo Nghị Định 53/HĐBT ngày 26/03/1988 của Hội Đồng Bộ Trưởng (nay là Chính Phủ)
- Đến ngày 14/11/1990 theo quyết định số 400-CP ra đời và Ngân Hàng Phát Triển Nông Nghiệp Huyện Châu Thành được đổi tên thành Ngân Hàng Nông Nghiệp Huyện Châu Thành
- Đến ngày 15/11/1996 đổi tên thành Ngân Hàng Nông Nghiệp & Phát Triển Nông Thôn Huyện Châu Thành
- Và đến 25/03/2004 được đổi tên thành Ngân Hàng Nông Nghiệp & Phát Triển Nông Thôn Quận Cái Răng
Quận cái Răng gồm 7 phường: Phường Lê Bình, Phường Thường Thạnh, Phường Ba Láng, Phường Hưng Thạnh, Phường Hưng Phú, Phường Phú Thứ, Phường Tân Phú
Ngân Hàng Nông Nghiệp & Phát Triển Nông Thôn Quận Cái Răng là một trong 8 chi nhánh của Ngân Hàng Nông Nghiệp & Phát triển Nông Thôn Thành Phố Cần Thơ, gồm có: NNHO & PTNT Quận Ninh Kiều, Quận Ô Môn, Quận Bình Thủy, Huyện Phong Điền, Huyện Cờ đỏ, Huyện Vĩnh Thạnh và Huyện Thốt Nốt
3.1.1 Vai trò hoạt động của Ngân Hàng:
Ngân hàng dùng nguồn vốn huy động được để đầu tư vào nền kinh tế Quận hay nói khác hơn là cung cấp tín dụng & phát triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn, mà chủ yếu là các hộ nông dân để giúp người dân giải quyết vấn đề thiếu vốn, làm cho quá trình sản xuất không bị gián đoạn để góp phần làm tăng
Trang 17năng suất sản xuất Từ đó giúp cho đời sống người dân ngày càng được ổn định
và nâng cao hơn nữa, góp phần phát triển kinh tế Quận nói riêng và cho Thành Phố Cần Thơ nói chung trong công cuộc công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước
3.1.2 Chức năng hoạt của ngân hàng:
- Ngân Hàng Nông Nghiệp & Phát Triển Nông Thôn Quận Cái Răng thực hiện chức năng tổ chức trung gian, đứng ra huy động vốn từ những người thừa vốn và đầu tư vốn cho những người thiếu vốn để sản xuất kinh doanh bằng hình thức cho vay
- Thực hiện chức năng mua bán, kinh doanh ngoại tệ, chi trả kiều hối, chuyển tiền điện tử…
- Ngoài ra ngân hàng còn có chức năng bảo lãnh dự thầu, bảo lãnh thực hiện hợp đồng, thu phí bảo hiểm,…và còn là đại lý bảo hiểm cho Bảo Việt, Groupama
3.1.3 Nội dung hoạt động:
Ngân Hàng Nông Nghiệp & Phát Triển Nông Thôn hoạt động chủ yếu với những hình thức:
- Huy động vốn:
Thực hiện huy động vốn của các tổ chức kinh tế, cá nhân với nhiều hình thức như: nhận tiền gửi thanh toán, tiền gửi tiết kiệm của các đơn vị, các tổ chức kinh tế và mọi thành phần dân cư, ngoài ra còn nhận tiền gửi không kỳ hạn, có kỳ hạn, hoặc có phát hành kỳ phiếu…
- Hoạt động kinh doanh:
Cho vay ngắn hạn, trung hạn với các hoạt động kinh doanh, dịch vụ… Thực hiện làm môi giới để hưởng hoa hồng
Thực hiện các dịch vụ ủy thác về tín dụng, mua bán, kinh doanh ngoại tệ,
bảo lãnh thực hiện hợp đồng…
Trang 18Phòng kế toán Kho quỹ
Thông tin trực tiếp
Thông tin phản hồi
Sơ đồ 1: Cơ cấu tổ chức của các phòng ban
Cơ cấu tổ chức của NHNo & PTNT Quận Cái Răng gồm 1 ban Giám Đốc
và 3 phòng chức năng
Ban Giám Đốc gồm 2 người: 1 giám đốc và 1 phó giám đốc
Phòng kinh doanh gồm 8 người: 1 trưởng phòng kinh doanh, 6 cán bộ tín dụng và 1 giám định viên
Phòng kế toán kho quỹ gồm 9 người
Quyết định các biện pháp xử lý nợ, cho gia han nợ, điều chỉnh kỳ hạn trả
nợ, chuyển nợ quá hạn, thực hiện các biện pháp xử lý đối với khách hàng
Trang 19Là người đại diện cho ngân hàng trong việc quan hệ với ngân hàng cấp trên
Chỉ đạo thực hiện các chính sách, chế độ nghiệp vụ và các kế hoạch kinh doanh dựa trên các quy định trong phạm vi, quyền hạn của ngân hàng
Là người chịu trách nhiệm cao nhất về tài sản, kết quả hoạt đông kinh doanh của ngân hàng, đại diện ngân hàng trong quan hệ trực thuộc và báo cáo kết quả hoạt động cho ngân hàng cấp trên
Phòng kinh doanh:
Trực tiếp thực hiện các nghiệp vụ kinh doanh như: Nhận đơn xin vay, thẩm định xét duyệt cho vay để trình lên giám đốc Chịu trách nhiệm chính trong việc quản lý đồng vốn của khách hàng Đề xuất và xử lý các khoản nợ quá hạn
Thống kê phân tích thông tin, số liệu về hoạt động kinh doanh của Ngân hàng từ đó đề xuất kế hoạch kinh doanh có hiệu quả
Kết hợp với bộ phận kế toán trong việc theo dõi và thu nợ đến hạn
Giám định viên: giám sát các hoạt động vủa Ngân hàng, nhằm đảm bảo các hoạt động kinh doanh diễn ra theo đúng quy định
Phòng kế toán – ngân quỹ:
- Phòng kế toán:
Trực tiếp giao dịch tại hội sở, thực hiện các thủ tục thanh toán, phát vay cho khách hàng theo lệnh của Giám đốc hoặc người được uỷ quyền
Hạch toán kế toán, quản lý hồ sơ của khách hàng Hạch toán các nghiệp
vụ cho vay, thu nợ, chuyển nợ quá hạn
- Ngân quỹ:
Có chức năng nghiệp vụ thu, chi tiền và giữ tiền, hiện vật, các loại giấy tờ
có giá trị, tài sản có liên quan đến hoạt động của ngân hàng
Trang 20Bên cạnh đó, cùng với sự phát triển ngày càng cao thì đời sống người dân cũng ngày một phát triển, từ đó thì nhu cầu về mua sắm, tiêu dùng, xây dựng, sửa chửa nhà ở là rất lớn Ngoài ra, cơ cấu kinh tế cũng thay đổi, từ sản xuất nông nghiệp kém hiệu quả chuyển sang chăn nuôi, mua bán,… (Lúc này doanh số cho vay cũng tăng, cho vay lĩnh vực nông nghiệp, xây dựng, thương mại dịch vụ đều
ở mức ổn định) Từ đó, cơ cấu đầu tư tín dụng của ngân hàng cũng chuyển dịch tăng tỉ trọng cho vay tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ, giảm tỉ trọng nông nghiệp bước đầu đã mang lại hiệu quả, thu lãi đạt trên 90% và nợ quá hạn dưới 0,5% và lợi nhuận năm sau luôn cao hơn năm trước
Tuy nhiên, do tình hình sản xuất nông nghiệp gặp rất nhiều khó khăn trong những năm gần đây, một số mặt như sản lượng (năng suất) giảm, giá cả đầu
ra lại không ổn định Trong khi đó, giá cả đầu vào như phân bón, thuốc trừ sâu, xăng dầu và cả nhân công lại tăng Bên cạnh đó, dịch cúm gia cầm, dịch lở mồm long móng trên gia súc cũng là nổi lo của bà con nông dân khi chúng xảy ra ở nhiều nơi và diễn biến phức tạp Những yếu tố trên đã làm cho việc sản xuất nông nghiệp gặp nhiều khó khăn, điều này cũng là những rủi ro tiềm ẩn của ngân hàng
Bên cạnh đó, công tác qui hoạch các dự án trên địa bàn diễn ra chậm chạp
đã gây hoang mang và cũng ảnh hưởng rất lớn đến sản xuất và thu nhập của người dân Từ đó đã tồn tại những nguyên nhân làm cho việc trả nợ gốc và lãi của người dân đi vay gặp nhiều khó khăn, nợ lãi phát sinh lớn, kéo dài làm ảnh hưởng xấu đến hoạt động kinh doanh của ngân hàng
Trang 213.4 KẾT QUẢ HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT KINH DOANH CỦA NGÂN HÀNG QUA 3 NĂM (TỪ 2004 ĐẾN 2006):
Bảng kết quả hoạt động kinh doanh thể hiện ba nét chính: Tổng doanh thu chi phí và lợi nhuận
Không riêng đối với Ngân hàng Nông nghiệp Quận Cái Răng mà đối với các ngân hàng khác cũng vậy, để ngân hàng hoạt động có hiệu quả thì trước hết ngân hàng phải có một nguồn vốn vững mạnh, bên cạnh đó còn phải biết sử dụng nguồn vốn một cách hợp lí để có thể phát huy tốt chức năng của ngân hàng: không chỉ mang lại lợi ích cho ngân hàng mà còn đem lại sự phồn vinh cho mọi người Nhưng để làm được như vậy không phải dễ dàng cho các ngân hàng, ngân hàng cần phải có sự đầu tư và cố gắng thật lớn vào nhiều yếu tố khác nhau có liên quan đến các hoạt động của ngân hàng, vì bao giờ bên cạnh những hoạt động
đó cũng tồn tại không ít các rủi ro dể dàng xảy ra và đôi khi không thể tránh được Và để biết rõ hơn về kết quả hoạt động kinh doanh của NHNo & PTNT Quận Cái Răng 3 năm qua, ta xem xét bảng số liệu sau:
Bảng 1: KẾT QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA NGÂN HÀNG
Chênh lệch
Tỉ lệ (%)
(Nguồn: Bảng cân đối tài khoản chi tiết 3 năm phòng kinh doanh của NHN O &
PTNT Quận Cái Răng) (HĐKD: Hoạt động kinh doanh)
Trang 22- Về doanh thu: khoản mục này đều tăng qua các năm Cụ thể, năm 2004 doanh thu của ngân hàng là 8.777 triệu đồng, tính đến doanh thu của ngân hàng năm 2005 là 15.897 triệu đồng, tăng 7.120 triệu đồng so với năm 2004, tương đương 81,72%, nguyên nhân làm cho doanh thu tăng như vậy là do NHNO & PTNT đã ngày càng thu hút các khách hàng có uy tín làm cho hoạt động tín dụng
từ thu lãi cho vay của ngân hàng ngày càng tăng làm tăng tổng thu nhập của ngân hàng vì thu từ lãi vay là khoản thu luôn chiếm tỉ trọng lớn trong tổng nguồn thu nhập của ngân hàng Cụ thể, năm 2004 thu từ lãi vay đạt 8.674 triệu đồng chiếm khoảng 98,8% so với tổng thu nhập, năm 2005 đạt 15.744 triệu đồng chiếm khoảng 99% so với tổng thu nhập, điều này cho thấy hoạt động kinh doanh của ngân hàng ngày càng có hiệu quả Ngoài ra, nguồn thu của ngân hàng còn bao gồm: Kinh doanh ngoại tệ, thu phí bảo lãnh, thu dịch vụ và các khoản thu khác nhưng các khoản thu này không đáng kể, chỉ chiếm tỉ trọng ít trong tổng thu nhập của ngân hàng Tuy nhiên, một cơ cấu thu nhập như thế nói lên một khuyến cáo rằng những rủi ro tín dụng tiềm năng là rất quan trọng, có khả năng tác động đáng kể đến ngân hàng
Sang năm 2006 ta thấy doanh thu tăng nhiều so với năm 2005 Cụ thể, doanh thu đã tăng 4.570 triệu đồng so với năm 2005, nhưng phần thu chủ yếu là
từ thu lãi cho vay tăng đáng kể, tăng hơn năm 2005 là 4.577 triệu đồng, tương đương 29,07%; phần thu từ dịch vụ tăng không nhiều là 28 triệu đồng nhưng đã đạt được chỉ tiêu đề ra là đã tăng 50,91%; về khoản thu khác đã giảm nhẹ so với năm 2005, tỉ lệ giảm là 35,71% tương đương 35 triệu đồng
- Về chi phí: chi phí qua 3 năm có xu hướng tăng nhưng phần lớn là chi vào hoạt động kinh doanh, còn các khoản chi nghiệp vụ và khoản chi khác cũng tăng nhưng không đáng kể Cụ thể, chi phí năm 2005 là 10.100 triệu đồng tăng 6.008 triệu đồng so với năm 2004, tương đương 142,82%; sang năm 2006 chi phí tiếp tục tăng nhưng không nhiều, tăng 3.035 triệu đồng so với năm 2005, tương đương 30,05% Nguyên nhân dẫn đến sự gia tăng chi phí qua các năm là do ngân hàng vừa được chia tách trong thời gian gần đây nên cần phải bỏ những khoản chi phí để góp phần hoàn chỉnh hơn cho ngân hàng mình là điều đương nhiên và cần thiết Bên cạnh đó, có sự ảnh hưởng của những nhân tố khách quan như: dịch bệnh cây ăn trái bùng phát và sự bùng phát của cúm gia cầm dẫn đến việc có
Trang 23nhiều khách hàng không trả được nợ; và từ những diễn biến khách quan đó đã buộc ngân hàng phải tốn nhiều chi phí trong việc lập quỹ dự phòng tổn thất, để
có thể chống lại được những rủi ro có thể xảy ra, vì thế đã làm chi phí tăng lên
Tuy vậy nhưng ngân hàng đã có những dấu hiệu khả quan, chú trọng quản trị chi phí, tìm hiểu và mở rộng các hoạt động tín dụng
- Về lợi nhuận: lợi nhuận là phần thu nhập còn lại sau khi trừ đi các khoản chi phí, lợi nhuận ngân hàng là một yếu tố quan trọng quyết định vốn nhằm mở rộng vốn, cải tiến và phát triển nhiều hơn nữa để nhằm thu hút khách hàng Lợi nhuận ngân hàng còn khuyến khích nhà quản lí cải thiện và mở rộng các công việc, quản chi phí và gia tăng các dịch vụ Qua bảng trên ta thấy, do hoạt động kinh doanh của ngân hàng có hiệu quả, cùng với việc quản lí chi phí nên lợi nhuận của ngân hàng cũng tăng qua các năm Cụ thể năm 2005 lợi nhuận đạt 5.797 triệu đồng tăng 1.112 triệu đồng hay tăng 23,74% so với năm 2004
Sang năm 2006 lợi nhuậnđã có phần tăng lên hơn so với năm 2005, tuy số lượng tăng không nhiều nhưng dù sao cũng nói lên được sự cố gắng của ngân hàng, ngân hàng đã có những chính sách kinh doanh hợp lí hơn, tìm những biện pháp cải thiện đáng kể nhằm giảm chi phí và tăng doanh thu; cuối cùng lợi nhuận của ngân hàng cũng đạt được 7.532 triệu đồng, tăng 1.535 triệu đồng so với năm
2005 tương đương 26,48%, đó cũng là một kết quả khá khả quan cho ngân hàng
Nhờ sự quản lí năng động, sáng tạo của Ban lãnh đạo cùng với sự nỗ lực,
cố gắng và tinh thần đoàn kết của nhân viên trong ngân hàng nhằm tìm ra giải pháp nhanh chóng hiệu quả nhất, an toàn nhất cho hoạt động kinh doanh của mình, phục vụ tốt hơn cho nền kinh tế quận nhà phát triển, ngân hàng đã đáp ứng đầy đủ và kịp thời nhu cầu vay vốn ngày càng tăng của khách hàng, tạo thêm điều kiện cho các quá trình sản xuất kinh doanh của các cá nhân và doanh nghiệp ngày càng tăng
Tóm lại, kết quả hoạt động kinh doanh của NHNo & PTNT Quận Cái Răng đang trên đà phát triển Tuy nhiên, ngân hàng cần phải cố gắng nhiều hơn nữa nhằm để hạn chế những điểm yếu và phát triển những điểm mạnh; hoàn thành tốt khâu điều hành hoạt động kinh doanh của mình nhằm giảm thiểu chi phí để có được kết quả tốt hơn
Trang 24Ngân hàng Nông nghiệp & Phát triển Nông thôn Quận cái Răng luôn được
sự quan tâm và giúp đỡ về nhiều mặt từ ngân hàng cấp trên, đặc biệt là vốn điều chuyển từ ngân hàng cấp trên để hoạt động kinh doanh khi ngân hàng có nhu cầu Bên cạnh nguồn vốn điều chuyển, ngân hàng còn có nguồn vốn huy động từ nhiều nguồn khác nhau Vốn huy động là nguồn vốn rất quan trọng trong ngân hàng, nó phản ánh được hiệu quả, tính độc lập của ngân hàng Và trong điều kiện kinh tế tăng trưởng như hiện nay, thì nhu cầu về vốn của các cá nhân cũng như các doanh nghiệp ngày càng cao; do đó, ngân hàng cần phát huy tốt công tác huy động vốn góp phần mở rộng kinh doanh, tăng trưởng vốn cho nền kinh tế ổn định nguồn vốn, giảm sử dụng vốn do Hội Sở chuyển xuống Vì vậy, việc chăm lo công tác huy động làm cho nguồn vốn tăng trưởng và ổn định sẽ góp phần tích cực vào hiệu quả kinh doanh của ngân hàng, đảm bảo được tiến trình kinh doanh được thuận lợi
Trang 25Và để thấy rõ hơn về cơ cấu nguồn vốn của NHNO & PTNT Quận Cái
Răng ta xem xét bảng số liệu sau:
Bảng 2: TÌNH HÌNH NGUỒN VỐN CỦA NGÂN HÀNG QUA 3 NĂM
Chênh lệch
Tỉ lệ (%)
(Nguồn: Bảng cân đối tài khoản chi tiết 3 năm phòng kinh doanh NHN O
& PTNT Quận Cái Răng) (TG: Tiền gửi)
Để thấy rõ hơn, ta quan sát biểu đồ sau:
Biều đồ 1: Cơ cấu nguồn vốn của ngân hàng qua 3 năm (từ 2004 – đến 2006)
Trang 26Tình hình nguồn vốn qua ba năm có sự thay đổi rõ nét Trong đó, vốn huy động tăng mạnh, còn vốn điều chuyển lại giảm đáng kể Nguyên nhân làm cho nguồn vốn huy động ngày càng tăng là do ngân hàng ngày càng tạo được nhiều
uy tín của khách hàng, đã được sự tín nhiệm của nhiều cá nhân cũng như các tổ chức kinh tế, từ đó khả năng huy động vốn của ngân hàng ngày càng được nâng cao, đáp ứng tương đối đầy đủ nhu cầu vay vốn của khách hàng khi mà tình hình kinh tế luôn biến động như ngày nay Tuy nhiên vẫn không tránh khỏi sự thiếu hụt nên cần phải có sự điều chuyển vốn từ ngân hàng cấp trên (Hội sở), nhưng vốn điều chuyển từ năm 2004 đến năm 2006 có xu hướng giảm đáng kể, điều này cho thấy NHNO & PTNT Quận cái Răng ngày càng cải thiện mình để ngày càng phát triển, không lệ thuộc nhiều vào ngân hàng cấp trên Cụ thể là: năm 2004 nguồn vốn là 161.959 triệu đồng, sang năm 2005 nguồn vốn của ngân hàng là 174.741 triệu đồng, tăng 12.782 triệu đồng Trong đó vốn huy động năm 2005 tăng 36.662 triệu đồng so với năm 2004, nhưng vì vốn điều chuyển đã giảm 28.880 triệu đồng nên làm cho tỉ lệ tăng của tổng nguồn vốn còn 7,89% Và đến năm 2006 nguồn vốn điều chuyển lại giảm 24.220 triệu đồng tương đương tỉ lệ là 67,97% so với năm 2005, còn nguồn vốn huy động vẫn tiếp tục tăng với tỉ lệ tăng
là 9,25% tương đương 12.868 triệu đồng Điều này cho thấy nguồn vốn huy động của ngân hàng ngày càng tăng, đáp ứng tốt hơn cho nhu cầu vay vốn của người dân
4.1.1.2 Khái quát tình hình huy động vốn của ngân hàng qua 3 năm (từ 2004 đến 2006):
Trong hoạt động kinh doanh tiền tệ, tín dụng của ngân hàng thì công tác huy động vốn là một trong những khâu quan trọng và có tính quyết định đối với
sự ổn định, hiệu quả kinh doanh của ngân hàng Để duy trì hoạt động của ngân hàng thì việc đầu tiên là phải tạo nguồn vốn để đảm bảo cho tiến trình kinh doanh được trôi chảy và thuận lợi Vì vậy, việc chăm lo công tác huy động vốn làm cho nguồn vốn tăng trưởng sẽ góp phần tích cực vào việc mở rộng đầu tư tín dụng, để
có thể góp phần làm tăng trưởng đời sống kinh tế của người dân cũng như làm giàu thêm cho Quận nhà và tạo điều kiện phát triển cho ngân hàng
Sau khi phân tích sơ lược cơ cấu nguồn vốn của ngân hàng ta đã thấy được ưu thế của nguồn vốn huy động và thấy được khả năng huy động vốn của
Trang 27NHNO & PTNT Quận Cái Răng Và chúng ta không phải dừng lại ở đó mà chúng
ta phải tìm hiểu kỹ hơn về tình hình huy động vốn của ngân hàng Trong thời
gian qua, ngân hàng đã gặp không ít khó khăn trong việc huy động vốn nhưng
ngân hàng vẫn giữ và ổn định được nguồn vốn và còn có chiều hướng tăng lên
qua các năm Để hiểu rõ hơn về tình hình huy động vốn của ngân hàng ta xem
Chênh lệch
Tỉ lệ (%)
(Nguồn: Bảng cân đối tài khoản chi tiết 3 năm phòng kinh doanh NHN O & PTNT
Quận Cái Răng) (TT: Thanh toán)
Trong đó, khoản mục quan trọng giúp ngân hàng chủ động được trong
việc sử dụng nguồn vốn huy động đó là khoản mục tiền gửi có kì hạn Đối với
khoản mục này không những tăng qua các năm mà còn tăng với tốc độ ngày càng
lớn và được biểu hiện rõ thông qua biểu đồ sau:
Trang 280 10,000
Kỳ phiếu
Biểu đồ 2: Tình hình huy động vốn của ngân hàng qua 3 năm
(từ 2004 – đến 2006)
a Tiền gửi thanh toán:
Đây là tiền gửi của các cá nhân, các tổ chức kinh tế, là số tiền tạm thời nhàn rỗi phát sinh trong quá trình sản xuất kinh doanh của họ được gửi tại ngân hàng, nó bao gồm tiền gửi không kỳ hạn và tiền gửi kỳ hạn Ngày nay, hòa nhập với xu thế phát triển của xã hội, thì sự phát triển ngày càng cao trong quan hệ thanh toán giữa các tổ chức kinh tế là không thể thiếu, đòi hỏi phải nhanh và có
sự an toàn; từ đó, các doanh nghiệp đã mở tài khoản tiền gửi ở ngân hàng để nhằm đáp ứng nhu cầu kinh doanh của mình vì ngân hàng là nơi đáng tin cậy Ngoài ra, ngân hàng còn giúp các doanh nghiệp giảm bớt chi phí, thuận tiện và góp phần tạo nên lợi nhuận cho doanh nghiệp
Nhìn chung, lượng tiền gửi thanh toán của các tổ chức kinh tế tại ngân hàng qua 3 năm có nhiều biến động Cụ thể năm 2004 tiền gửi thanh toán của các
tổ chức kinh tế (bao gồm cả tiền gửi có kỳ hạn và tiền gửi không kỳ hạn) là 48.683 triệu đồng, chiếm 47,52% tổng nguồn vốn huy động Trong đó chủ yếu là tiền gửi thanh toán không kỳ hạn đạt 48.683 triệu đồng Vì đa số các khách hàng
là doanh nghiệp, họ cần xoay trở tiền liên tục nên họ sẽ thường xuyên rút vốn Sang năm 2005, lượng tiền gửi thanh toán đã tăng nhiều, tăng 13.302 triệu đồng
Trang 29so với năm 2004, tương đương tỉ lệ 27,32%, vẫn là tiền gửi thanh toán không kỳ hạn chiếm đa số Đến năm 2006, tiền gửi thanh toán là 52.587 triệu đồng, giảm 9.398 triệu đồng so với năm 2005, tương đương với tỉ lệ là 15,16% Nguyên nhân dẫn đến sự giảm đó là do năm 2006 có sự cạnh tranh gay gắt giữa các ngân hàng, các ngân hàng tư nhân thì không ngừng nỗ lực gây sự chú ý đối với khách hàng bằng những chiêu khuyến mãi, cùng với việc các doanh nghiệp cũng gặp nhiều khó khăn trong sản xuất kinh doanh, còn chỉ số giá tiêu dùng lại tiếp tục lên cao
b Tiền gửi tiết kiệm:
Đây là loại tiền gửi không kém phần quan trọng trong cơ cấu nguồn vốn huy động của ngân hàng, thu hút lượng tiền nhà rỗi trong dân cư Tiền gửi tiết kiệm của dân cư được chia làm hai loại: tiết kiệm có kỳ hạn và tiết kiệm không
là hình thức đầu tư hiệu quả cao
Đến năm 2006, tiền gửi tiết kiệm tiếp tục tăng nhưng không nhiều, đạt 97.330 triệu đồng, tăng 22.313 triệu đồng so với năm 2005 và chiếm 60,04% tổng nguồn vốn huy động Trong đó tiền gửi có kỳ han đạt 92.713 triệu đồng chiếm 95,26% trong tiền gửi tiết kiệm, tăng 29,17% so với năm 2005, số còn lại
là tiền gửi không kỳ hạn Ngoài ra, còn có khoản tiền gửi tiết kiệm khác, tuy lượng tiền gửi tuy không nhiều nhưng cũng góp phần làm tăng tiền gửi tiết kiệm
Trang 30Nguyên nhân tiền gửi tiết kiệm tăng qua các năm là nhờ vào việc ngân hàng đã chú trọng phát triển nguồn này, trong 3 năm vừa qua ngân hàng đã có mức lãi suất hợp lí Bên cạnh đó, do cuộc sống người dân trên địa bàn ngày càng khá hơn, thu nhập của họ ngày càng cao Và cũng nhờ sự hướng dẫn tận tình của cán bộ công nhân viên ngân hàng đã chỉ dẫn người dân thấy được lợi ích của việc gửi tiền là tiền của họ sẽ được an toàn, ngoài ra còn có thể sinh lời và có thể rút
ra khi cần sử dụng
c Kỳ phiếu:
Cuối cùng, ta xét đến khoản huy động từ việc phát hành giấy tờ có giá (kỳ phiếu), mặc dù nó chiếm tỉ trọng không lớn nhưng cũng đã góp phần làm tăng nguồn vốn huy động Năm 2005 đạt 2.155 triệu đồng tăng 848 triệu đồng so với năm 2004 Và đến năm 2006 thì lượng huy động này đạt 2040 triệu đồng giảm 65 triệu đồng so với năm 2005, tương đương 3,09% Điều này cho thấy ngân hàng
đã chủ động được trong việc cân đối cho vay và nhu cầu vay vốn của khách hàng
Việc huy động tiền gửi của khách hàng không những đem lại cho khách hàng một nguồn vốn với chi phí thấp để kinh doanh, mà còn giúp cho ngân hàng
có thể nắm bắt được thông tin, tư liệu chính xác về tình hình của các tổ chức kinh
tế và cá nhân có quan hệ tín dụng với ngân hàng, tạo điều kiện cho ngân hàng có căn cứ để quy định rút vốn để đầu tư cho vay đối với những khách hàng đó
4.1.1.3 Phân tích hoạt động tín dụng của NHN O & PTNT Quận Cái Răng:
Hoạt động tín dụng là hoạt động chính của ngân hàng, bởi vậy để một ngân hàng tồn tại, đòi hỏi hoạt động tín dụng phải thật sự hiệu quả Với hình thức
“đi vay để cho vay” NHNO & PTNT Quận Cái Răng ngoài việc huy động vốn nhằm đáp ứng nhu cầu khách hàng thì rất chú ý đến việc sử dụng nguồn vốn đó như thế nào để đem lại lợi nhuận cho ngân hàng Và để hiểu rõ hơn về qui mô và chất lượng tín dụng của ngân hàng, ta sẽ phân tích một số chỉ tiêu liên quan thông qua thời gian 3 năm (2004-2006):
Trang 31a Doanh số cho vay:
Như ta đã biết, doanh số cho vay là tổng số tiền mà ngân hàng đã giải ngân cho
khách hàng dưới hình thức tiền mặt hay chuyển khoản trong một thời gian nhất định Sự
tăng trưởng của doanh số cho vay cũng thể hiện sự tăng trưởng của công tác tín dụng
Tuy nhiên, do ngân hàng hoạt động dưới hình thức đi vay để cho vay nên để ngân hàng
hoạt động thực sự thật sự hiệu quả thì phải có sự cân đối giữa nguồn vốn huy động và
doanh số cho vay, tránh tình trạng nguồn vốn bị ứng đọng Hiểu rõ được vấn đề này,
vậy hoạt động của ngân hàng trong những năm qua đã có những chuyển biến tích cực
thể hiện cụ thể qua bảng số liệu sau:
Bảng 4: DOANH SỐ CHO VAY CỦA NHN O & PTNT QUẬN CÁI RĂNG
Chênh lệch
Tỉ lệ (%)
Cho vay trung
Tổng cho vay 109.619 162.761 151.698 53.142 48,48 -11.063 -6,80
(Nguồn: Bảng cân đối tài khoản chi tiết 3 năm phòng kinh doanh của NHN O &
PTNT Quận Cái Răng)
Qua bảng số liệu ta thấy tổng doanh số cho vay đã thay đổi qua 3 năm
Trong đó doanh số cho vay ngắn hạn luôn chiếm tỉ trọng cao hơn doanh số cho
vay trung hạn qua các năm Doanh số cho vay ngắn hạn chiếm hơn 50% tổng
doanh số cho vay và theo thời gian nó càng tiến gần tổng doanh số cho vay Cụ
thể, năm 2004, cho vay ngắn hạn đạt 79.536 triệu đồng, chiếm 72,56% trong tổng
doanh số cho vay Sang năm 2005, cho vay ngắn hạn đạt 130.434 triệu đồng,
chiếm 80,14%, tăng 50.898 triệu đồng so với năm 2004, tương đương tỉ lệ là
63,99%, đây là một tốc độ tăng khá nhanh Do trong thời gian này nhu cầu vay
vốn của khách hàng rất cao để cải tiến cho hoạt động sản xuất kinh doanh hoặc
đầu tư vào làm ăn, buôn bán vì đây cũng là thời gian mà người dân đang gặp khó
khăn trong việc tạo nguồn vốn do có sự ảnh hưởng khách quan của dịch bệnh, giá
cả thị trường lại biến động Đến năm 2006 thì doanh số cho vay ngắn hạn cũng