Nằm trong chiến lược phát triển kinh tế và hợp tác quốc gia lâu dài của Việt Nam, các nước thuộc khu vực Trung Đông được đánh giá là những đối tác tiềm năng.Với những ưu thế như: có vị t
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
-o0o -
Công trình tham dự Cuộc thi
Sinh viên nghiên cứu khoa học Truờng Đại học Ngoại Thương 2013-2014
Tên công trình:
Một số giải pháp thúc đẩy hoạt động thương mại hàng hóa
giữa Việt Nam và khu vực Trung Đông
Nhóm ngành: Kinh tế và kinh doanh 2 (KD2)
Hà Nội, tháng 4 năm 2014
Trang 2AFTA Khu vực mậu dịch tự do ASEAN
APEC Diễn đàn Hợp tác Kinh tế châu Á – Thái Bình Dương ASEAN Hiệp hội các nước Đông Nam Á
FTA Hiệp định thương mại tự do
GCC Hội đồng hợp tác vùng vịnh
OECD Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế
UAE Các tiểu vương quốc Ả-rập Thống nhất
WTO Tổ chức Thương mại Thế giới
Trang 3LỜI MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG I: LÝ LUẬN CHUNG VỀ HOẠT ĐỘNG THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ VÀ SỰ CẦN THIẾT CỦA VIỆC ĐẨY MẠNH HOẠT ĐỘNG THƯƠNG MẠI HÀNG HOÁ GIỮA VIỆT NAM VÀ KHU VỰC TRUNG ĐÔNG 5
1.1 Khái niệm về Thương mại quốc tế và quá trình hình thành của Thương mại quốc tế 5
1.1.1 Khái niệm về Thương mại quốc tế 5
1.1.2 Quá trình hình thành, phát triển và lợi ích của Thương mại quốc tế 6
1.2 Thương mại hàng hoá trong hoạt động thương mại quốc tế 9
1.2.1 Khái niệm về thương mại hàng hóa 9
1.2.2 Các hình thức của thương mại hàng hóa quốc tế 11
1.3 Khái quát chung về chính sách thương mại quốc tế: 14
1.3.1 Vị trí và vai trò của chính sách Thương mại quốc tê: 14
1.3.2 Các công cụ chủ yếu của chính sách Thương mại quốc tế 15
1.4 Sự cần thiết phát triển hoạt động thương mại hàng hóa giữa Việt Nam và khu vực Trung Đông: 22
1.4.1 Tình hình thương mại hàng hóa của Việt Nam trên trường quốc tế trước và sau khi gia nhập WTO 22
1.4.2 Vị trí thị trường Trung Đông trong hoạt động thương mại hàng hóa toàn cầu 25
1.4.3 Sự cần thiết phải phát triển hoạt động thương mại hàng hóa giữa Việt Nam và khu vực Trung Đông 26
Trang 42.1 Các nhân tố ảnh hưởng tới hoạt động thương mại hàng hóa của Việt Nam và khu
vực Trung Đông 28
2.1.1 Sự tương quan về vị trí địa lý giữa Việt Nam và khu vực Trung Đông 28
2.1.2 Môi trường luật pháp của Việt Nam và khu vực Trung Đông 30
2.1.3 Môi trường chính trị của Việt Nam và khu vực Trung Đông 32
2.1.4 Môi trường văn hóa – xã hội của Việt Nam và khu vực Trung Đông 35
2.2 Thực trạng hoạt động thương mại hàng hóa của Việt Nam nói chung từ năm 2008 đến nay 38
2.2.1 Tình hình hoạt động thương mại hàng hóa của Việt Nam nói chung từ năm 2008 đến nay 38
2.2.2 Cơ cấu mặt hàng xuất nhập khẩu của Việt Nam với các thị trường trên thế giới từ 2008 đến nay 42
2.3 Tình hình hoạt động thương mại hàng hóa của Việt Nam vào khu vực Trung Đông từ năm 2008 đến nay 50
2.3.1 Tình hình hoạt động thương mại hàng hóa của Việt Nam vào khu vực Trung Đông từ 2008 đến nay 50
2.3.2 Cơ cấu mặt hàng xuất nhập khẩu của Việt Nam đối với thị trường Trung Đông từ 2008 đến nay 54
CHƯƠNG III: Triển vọng và các giải pháp nhằm thúc đẩy hoạt động thương mại hàng hóa giữa Việt Nam và khu vực Trung Đông 58
3.1 Bài học kinh nghiệm 58
Trang 53.1.2 Kinh nghiệm từ các nước thất bại trong hoạt động thương mại hàng hóa với
khu vực Trung Đông 61
3.2 Triển vọng quan hệ thương mại hàng hóa Việt Nam – khu vực Trung Đông 64
3.2.1 Triển vọng thúc đẩy xuất nhập khẩu những mặt hàng vốn có giữa Việt Nam và khu vực Trung Đông 64
3.2.2 Triển vọng mở rộng hoạt động thương mại hàng hóa với những mặt hàng mới tiềm năng giữa Việt Nam và khu vực Trung Đông 69
3.3 Các giải pháp thúc đẩy quan hệ thương mại Việt Nam – khu vực Trung Đông 71 3.3.1 Các giải pháp về phía Nhà nước 71
3.3.2 Các giải pháp về phía doanh nghiệp 74
KẾT LUẬN 80
TÀI LIỆU THAM KHẢO 82
PHỤ LỤC 88
Trang 6Bảng 1: Trị giá xuất nhập khẩu hàng hóa 2001 đến nay 22
Bảng 2: Kim ngạch xuất khẩu giữa Việt Nam và khu vực Trung Đông giai đoạn 2012 - 2013 51
Bảng 3: Kim ngạch xuất khẩu mặt hàng dệt may giai đoạn 2009 – 2013 52
Bảng 4: Kim ngạch nhập khẩu hàng dệt may khu vực Trung Đônggiai đoạn 2009 – 2013 53
Bảng 11: Các chỉ số kinh tế của Saudi Arabia 59
Bảng12: Tỷ trọng xuất khẩu của các nước vào Saudi Arabia giai đoạn 2008 - 2011 61
Biểu đồ 1: Thương mại Việt Nam 6 năm trước và sau khi gia nhập WTO 23
Biểu đồ 2: Kim ngạch xuất – nhập khẩu của Việt Nam giai đoạn 2008 – 2013 38
Biểu đồ 3: Giá trị xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sang một số quốc gia/khu vực giai đoạn 2008 – 2013 (đơn vị: tỷ USD) 40
Biểu đồ 4: Giá trị nhập khẩu hàng hóa của một số quốc gia/khu vực vào Việt Nam giai đoạn 2008 – 2012 (đơn vị: tỷ USD) 41
Biểu đồ 5: Cơ cấu hàng xuất khẩu của Việt Nam năm 2013 theo kim ngạch 43
Biểu đồ 6: Cơ cấu hàng nhập khẩu của Việt Nam năm 2013 theo kim ngạch 44
Biểu đồ 7: Giá trị nhập khẩu hàng hóa của Kuwait giai đoạn 2008 – 2013 62
Biểu đồ 8: Giá trị nhập khẩu hàng hóa của Australia vào Kuwait giai đoạn 2007 – 2013 63
Trang 7LỜI MỞ ĐẦU 1.Tính cấp thiết của đề tài
Hiện nay, cùng với sự phát triển chóng mặt của quá trình toàn cầu hóa, hoạt động thương mại quốc tế đang được đẩy mạnh trên toàn thế giới nhằm mục tiêu tìm kiếm và mở rộng thị trường Trong tiến trình phát triển quan hệ hợp tác kinh tế hiện nay, Việt Nam đã đạt được rất nhiều thành công như thiết lập quan hệ và tiến hành rất nhiều hoạt động kinh tế với rất nhiều quốc gia như Hoa Kỳ, Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc Nằm trong chiến lược phát triển kinh tế và hợp tác quốc gia lâu dài của Việt Nam, các nước thuộc khu vực Trung Đông được đánh giá là những đối tác tiềm năng.Với những ưu thế như: có vị trí địa lý chiến lược, nằm trên con đường giao thương giữa Châu Âu, Châu Á và Châu Phi, đặc biệt với trữ lượng dầu mỏ khá lớn, khu vực Trung Đông được xem như là một thị trường mới , có rất nhiều tiềm lực có thể
tận dụng và khai thác Theo như thống kê chính thức của CIA Workbook of Fact (2013), khu vực Trung Đông bao gồm 19 quốc gia: Amernia, Azerbaijan, Bahrain,
Gaza Strip, Geogria, Iran, Iraq, Isarel, Jordan, Kuwait, Lebanon, Oman, Quatar, Saudi Arabia, Syria, Turkey, United Arab Emirates (UAE), West Bank, Yemen Tuy nhiên, làm thế nào để hoạt động thương mại quốc tế giữa Việt Nam với khu vực Trung Đông đạt hiệu quả tốt, đặc biệt là vấn để đẩy mạnh hoạt động thương mại hàng hóa giữa Việt Nam với khu vực này hiện vẫn đặt ra những dấu hỏi lớn cho các nhà hoạch định chính sách của Việt Nam
Nhận thức được tầm quan trọng của hoạt động thương mại quốc tế nói chung và đặc biệt trong lĩnh vực thương mại hàng hóa với khu vực Trung Đông nói riêng, chúng tôi đã quyết định chọn đề tài “Một số giải pháp thúc đẩy hoạt động Thương mại giữa Việt Nam và khu vực Trung Đông”
Trang 81 Tổng quan tình hình nghiên cứu
Hoạt động thương mại nói chung và hoạt động thương mại hàng hóa giữa Việt Nam và khu vực Trung Đông nói riêng ngày càng nhận được nhiều hơn sự quan tâm của Đảng và Nhà nước Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay, với xu thế
mở rộng và phát triển mối quan hệ với các nước trong khu vực và trên trường quốc tế, hoạt động thương mại hàng hóa Việt Nam – Trung Đông đang được đẩy mạnh, đặc biệt trong giai đoạn từ năm 2008 đến nay và định hướng đến năm 2015
Cho đến nay, đã có một số công trình nghiên cứu vấn đề này được công bố như sau:
- PGS.TS Đỗ Đức Định, Nghiên cứu các khâu đột phá chiến lược để mở rộng quan hệ hợp tác của Việt Nam với khu vực Trung Đông đến năm 2020, 2009 - 2010
- PGS.TS Bùi Nhật Quang, Một số vấn đề nổi bật về chính trị, kinh tế của Châu Phi và Trung Đông giai đoạn 2011 – 2020 và tác động đến Việt Nam, 2009 -
để nghiên cứu chuyên sâu về hoạt động thương mại hàng hóa Việt Nam - khu vực
Trung Đông, hiện đề tài”Một số giải pháp thúc đẩy hoạt động thương mại giữa Việt Nam và khu vực Trung Đông” chưa có tác giả nào nghiên cứu
2 Mục tiêu nghiên cứu
- Phân tích thực trạng hoạt động thương mại giữa Việt Nam - khu vực Trung Đông
- Đề xuất các giải pháp để đẩy mạnh hoạt động thương mại Việt Nam – khu vực Trung Đông
Trang 93 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu:
Trong đề tài này, các tác giả tập trung vào nghiên cứu, phân tích tình hình hoạt động thương mại hàng hóa của Việt Nam và khu vực Trung Đông
- Phạm vi nghiên cứu:
Về không gian: giới hạn ở các quốc gia khu vực Trung Đông
Về thời gian: Trong bài nghiên cứu này, nhóm tác giả chỉ tập trung nghiên cứu quan hệ thương mại giữa Việt Nam và khu vực Trung Đông trong giai đoạn từ năm
2008 đến nay và định hướng đến năm 2015
4 Phương pháp nghiên cứu
Bài nghiên cứu sử dụng các phương pháp nghiên cứu thống kê, phân tích số liệu, so sánh, tổng hợp, quy nạp diễn dịch trong xử lý số liệu
5 Kết quả nghiên cứu dự kiến
- Đưa ra cái nhìn tổng quan về tình hình hoạt động thương mại về hàng hóa giữa Việt Nam và khu vực Trung Đông trong những năm gần đây, cụ thể là từ năm 2008 đến nay
- Tìm ra được những thế mạnh của từng khu vực trong hoạt động buôn bán, xuất nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam Từ đó thấy được những cơ hội và thách thức đối với Việt Nam trong việc đẩy mạnh hoạt động thương mại hàng hóa với khu vực Trung Đông thời gian tới
- Đề xuất, đóng góp các kiến nghị và giải pháp hữu ích, có tính ứng dụng cao để đẩy mạnh hoạt động thương mại hàng hóa giữa Việt Nam và khu vực Trung Đông định hướng đến năm 2015
Trang 106 Kết cấu của đề tài
CHƯƠNG I: LÝ LUẬN CHUNG VỀ HOẠT ĐỘNG THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ
VÀ SỰ CẦN THIẾT CỦA VIỆC ĐẨY MẠNH HOẠT ĐỘNG THƯƠNG MẠI HÀNG HÓA GIỮA VIỆT NAM VÀ KHU VỰC TRUNG ĐÔNG
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG THƯƠNG MẠI HÀNG HÓA GIỮA VIỆT NAM VÀ KHU VỰC TRUNG ĐÔNG
CHƯƠNG III: TRIỂN VỌNG VÀ CÁC GIẢI PHÁP NHẰM THÚC ĐẨY HOẠT ĐỘNG THƯƠNG MẠI HÀNG HOÁ GIỮA VIỆT NAM VÀ KHU VỰC TRUNG ĐÔNG
Trong quá trình thực hiện bài nghiên cứu này, nhóm đã hết sức cố gắng, tuy nhiên nhóm cũng gặp phải rất nhiều khó khăn do thiếu thốn các nguồn tài liệu cũng như số liệu còn chưa được cập nhập liên tục và thường xuyên Bên cạnh đó, do khả năng có hạn và thời gian tìm hiểu, nghiên cứu không dài, bài viết còn nhiều thiếu sót Nhóm chúng em rất mong nhận được những ý kiến, góp ý và đóng góp từ các thầy cô
và các bạn để hoàn thiện hơn nữa bài nghiên cứu cũng như tu dưỡng thêm kiến thức cho bản thân
Trang 11CHƯƠNG I: LÝ LUẬN CHUNG VỀ HOẠT ĐỘNG THƯƠNG MẠI HÀNG HÓA QUỐC TẾ VÀ SỰ CẦN THIẾT CỦA VIỆC ĐẨY MẠNH HOẠT ĐỘNG THƯƠNG MẠI HÀNG HOÁ GIỮA VIỆT NAM VÀ KHU VỰC TRUNG ĐÔNG
1.1 Khái niệm về Thương mại quốc tế và quá trình hình thành của Thương mại quốc tế
1.1.1 Khái niệm về Thương mại quốc tế
Thương mại quốc tế là một hình thức của quan hệ kinh tế quốc tế trong đó diễn
ra sự mua bán, trao đổi hàng hóa, dịch vụ hoặc các tài sản trí tuệ giữa các chủ thể của quan hệ kinh tế quốc tế
Thương mại quốc tế là quá trình trao đổi hàng hóa dịch vụ giữa các nước thông qua buôn bán nhằm mục đích kinh tế và lợi nhuận Trao đổi hàng hóa, dịch vụ là một hình thức của các mối quan hệ kinh tế xã hội và phản ánh sự phụ thuộc lẫn nhau giữa những người sản xuất kinh doanh hàng hóa, dịch vụ riêng biệt của các quốc gia
Thương mại quốc tế vừa mang tư cách là một khâu của quá trình tái sản xuất xã hội, vừa là một lĩnh vực kinh tế Là một khâu của quá trình tái sản xuất xã hội, thương mại quốc tế tạo vốn cho quá trình mở rộng đầu tư trong nước; chuyển hóa giá trị sử dụng làm thay đổi cơ cấu vật chất của tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân được sản xuất trong nước và thích ứng chúng với nhu cầu tiêu dùng và tích lũy; góp phần nâng cao hiệu quả của nền kinh tế bằng việc tạo môi trường thuận lợi cho sản xuất, kinh doanh
Là một lĩnh vực kinh tế đảm nhận lưu thông hàng hóa giữa trong nước và ngoài nước, thương mại quốc tế tổ chức chủ yếu quá trình lưu thông hàng hóa với bên ngoài, thông qua mua bán để nối liền một cách hữu cơ theo kế hoạch giữa thị trường trong và ngoài nước, thỏa mãn nhu cầu sản xuất của xã hội về hàng hóa theo số lượng, chất lượng, mặt hàng, địa điểm và thời gian phù hợp với chi phí thấp nhất
Thương mại quốc tế bên cạnh việc khai thác mọi lợi thế tuyệt đối của đất nước phù hợp với xu thế phá triển và quan hệ kinh tế quốc tế thì cần phải tính đến lợi thế tương đối có thể được Có nghĩa là phải luôn tính toán giữa cái có thể thu được với cái
Trang 12phải trả khi tham gia vào thương mại quốc tế để có biện pháp chính sách thích hợp So với buôn bán trong nước thì thương mại quốc tế có những đặc trưng riêng
Quan hệ buôn bán trong nước là những quan hệ giữa những người tham gia vào quá trình sản xuất và lưu thông trên cơ sở phân công lao động và chuyên môn hóa trong nước trong khi đó thương mại quốc tế thể hiện sự phân công lao động và chuyên môn quốc tế ở trình độ kĩ thuật cao hơn và qui mô lớn Nó được phát triển trong môi trường hoàn toàn khác so với quan hệ buôn bán trong nước
Thương mại quốc tế là quan hệ kinh tế diễn ra giữa các chủ thể của các nước khác nhau, các chủ thể có quốc tịch khác nhau Vì vậy liên quan đến thương mại quốc
tế phức tạp hơn rất nhiều so với các quan hệ buôn bán trong nước
1.1.2 Quá trình hình thành, phát triển và lợi ích của Thương mại quốc tế
1.1.2.1 Quá trình hình thành, phát triển của Thương mại quốc tế
Ngoại thương xuất hiện từ thời cổ đại: dưới chế độ nhà nước chiếm hữu nô lệ, tiếp đó là chế độ nhà nước phong kiến Thời đó, do kinh tế tự nhiên còn chiếm vị trí thống trị nên thương mại quốc tế mang tính ngẫu nhiên, phát triển với quy mô rất nhỏ hẹp Lưu thông hàng hóa quốc tế chỉ gồm một phần nhỏ nhiêu sản phẩm sản xuất ra và chủ yếu là để phục vụ cho tiêu dùng cá nhân của giai cấp thống trị đương thời Đến thời đại tư bản chủ nghĩa, thương mại quốc tế mới phát triển rộng rãi Các cuộc cách mạng lớn diễn ra trong thương nghiệp ở thế kỷ XVI và XVII gắn liền với những phát kiến địa lý đã dẫn tới sự phát triển nhanh chóng của tư bản thương nhân Tính tất yếu nội tại của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa là phải tái sản xuất trên một quy mô ngày càng lớn hơn để phát triển thu lợ nhuận Điều đó, thúc đẩy thị trường thế giới phải không ngừng mở rộng, thương mại quốc tế ngày càng phát triển Ngày nay càng có nhiều nước ở nhiều trình độ phát triển kinh tế - xã hội khác nhau thuộc nhiều khu vực lãnh thổ khác nhau cùng tham gia vào mậu dịch quốc tế Nhất là trong xu thế toàn cầu hóa nền kinh tế thế giới như hiện nay thì thương mại quốc tế cũng đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế của một nước
Trang 131.1.2.2 Lợi ích của Thương mại quốc tế
Thương mại quốc tế có ý nghĩa rất lớn đối với các nước tham gia ốctrong thương mại quốc tế vì nó cho phép các nước này tiêu dùng các mặt hàng với số lượng nhiều hơn, chủng loại đa dạng, phong phú hơn mức có thể tiêu dùng với ranh giới của đường giới hạn khả năng sản xuất trong điều kiện đóng cửa nền kinh tế của quốc gia
đó Nói cách khác, thương mại quốc tế giúp mở cửa rộng khả năng tiêu dùng của một nước Đồng thời, nó cũng cho phép các quốc gia thay đổi cơ cấu ngành kinh tế, cơ cấu vật chất của sản phẩm theo hướng phù hợp với đặc điểm sản xuất của mình hơn Cụ thể là:
Thương mại quốc tế tạo điều kiện thúc đẩy sản xuất trong nước phát triển Thương mại quốc tế là lĩnh vực trao đổi, phân phối lưu thông hàng hóa, dịch vụ nước ngoài, nối sản xuất và tiêu dùng của nước ta với nước ngoài Trong quá trình tái sản xuất mở rộng, khâu phân phối và lưu thông được coi là khâu quan trọng, có vai trò quyết định tới tiến trình sản xuất Sản xuất có phát triển được hay không, phát triển như thế nào phụ thuộc rất nhiều vào khâu này Vì vậy có thể khẳng định thương mại quốc
tế tác động trực tiếp đến sự phát triển của nền sản xuất
Tất cả các nước đều có quan hệ thương mại với phần còn lại của thế giới Trao
đổ hàng hóa là tiền đề cho sự phát triển của loài người Nhờ có trao đổi hàng hóa, phân công lao động mới có thể phát triển Ngược lại, phân công lao đọng phát triển cũng đóng vai trò quan trọng đối với sự phát triển của nền kinh tế hàng hóa Khi phân công lao động vượt ra khỏi phạm vi của quốc gia thì thương mại quốc tế là chất xúc tác và cũng là động lực thúc đẩy sự phát triển của phân công lao động quốc tế và nền kinh tế hàng hóa toàn cầu
Trong xã hội nguyên thủy, con người tự sản xuất ra mọi vật phẩm để đáp ứng nhu cầu sống tối thiểu của con người Cùng với sự phát triển của xã hội loài người là
sự phát triển của quá trình phân công lao động Con người sinh ra cùng với qúa trình sống và rèn luyện bản thân thông qua học tập và tích lũy kinh nghiệm đã hình thành nên những kĩ năng lao động khác nhau phù hợp với khả năng của mỗi người Sự phát
Trang 14triển của nền kinh tế hàng hóa và phân công lao động có vai trò lịch sử quan trọng đối với sự phát triển của loài người Thông qua phân công lao động và trao đổi hàng hóa, con người có khả năng nâng cao năng suất lao động bằng cách chuyên môn hóa vào sản xuất những hàng hóa và dịch vụ mình có khả năng sản xuất được tốt nhất sau đó trao đổi với các nhà sản xuất khác để đổi lấy tất cả những hàng hóa cần thiết
Theo Adam Smith, phân công lao động không chỉ có ý nghĩa đối với nâng cao năng suất lao động trong phạm vi một quốc gia, mà các nước tham gia vào phân công lao động quốc tế và tiến hành trao đổi hàng hóa quốc tế cũng sẽ đem lại lợi ích cho tất
cả các nước tham gia vào thương mại quốc tế
Theo lý thuyết thương mại cổ điển thì tất cả các nước không phân biệt qui mô,
tư tưởng chính trị, trình độ phát triển đều có thể có lợi khi tham gia vào thương mại quốc tế Thương mại quốc tế đem lại lợi ích cho tất cả các quốc gia và mở rộng khả năng tiêu dùng của các quốc gia với những nguồn lực sẵn có thông qua việc trao đổi hàng hóa với thị trường thế giới và xuất khẩu được hàng hóa với mức giá cao hơn tương đối so với giá của thị trường trong nước và nhập khẩu hàng hóa với mức giá thấp hơn tương đối so với giá của thị trường trong nước Như vậy, thương mại quốc tế có thể nâng cao tổng sản lượng quốc dân của một nước và mở rộng khả năng tiêu dùng của nước đó
Các nhà kinh tế cũng cho rằng thương mại quốc tế giúp các nước nghèo nâng cao tố độ tăng trưởng và giảm nghèo, tạo cơ hội cho các nước nghèo tiếp cận nguồn vốn của các nước giàu thông qua trao đổi các yếu tố sản xuất giữa các nước
Thương mại quốc tế còn giúp cân bằng các yếu tố sản xuất, phân phối thu nhập giữa các yếu tố sản xuất ở nước nghèo sẽ bị điều chỉnh phù hợp với phân phối thu nhập
ở các nước giàu Phân phối thu nhập cho sức lao động sẽ tăng lên ở các nước nghèo và thu nhập của các nước nghèo, thừa lao động sẽ tăng dần lên hội tụ với thu nhập của các nước giàu, thiếu lao động Vì vậy phân phối tu nhập sẽ trở nên cân bằng hơn, giúp giảm nghèo cho một bộ phận lớn lao động ở các nước nghèo
Trang 15Thương mai quốc tế giúp các nước đạt mục tiêu tăng trưởng thông qua khuyến khích lợi ích kinh tế trực tiếp Các ngành kinh tế có lợi thế so sánh với các nước khác nhờ vào năng suất lao động vượt trội hoặc nhờ vào việc sử dụng nhiều các yếu tố sản xuất có sẵn trong nước sẽ nhận được các phần thưởng kinh tế do hàng hóa hoặc dịch vụ của các ngành này sẽ được thị trường thế giới trả giá cao hơn thị trường trong nước
1.2 Thương mại hàng hoá trong hoạt động thương mại quốc tế
1.2.1 Khái niệm về thương mại hàng hóa
Thương mại hàng hóa là một trong những hình thức thương mại tồn tại lâu đời nhất trên thế giới Hiện nay, chưa có một khái niệm chính thức được công nhận cho thương mại hàng hóa Ngay cả ở Việt Nam, cũng không có một quy định cụ thể nào trong các nguồn luật nêu rõ khái niệm của loại hình này Theo điều 3 – Luật Thương mại Việt Nam năm 2005, ta chỉ thấy xuất hiện các khái niệm:
“Hoạt động thương mại là hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác”
“Hàng hóa bao gồm:
Tất cả các loại động sản, kể cả động sản hình thành trong tương lại;
Những vật gắn liền với đất đai”
Như vậy, thương mại hàng hóa là việc mua bán, trao đổi thương mại về hàng hóa hữu hình, những loại hàng hóa đã được liệt kê trong luật Thương mại 2005
Cùng với sự phát triển của kinh tế, thương mại hàng hóa không chỉ dừng lại trong khuôn khổ của một quốc gia, mà còn vượt ra ngoài biên giới lãnh thổ Thuật ngữ
“thương mại hàng hóa quốc tế” cũng từ đó ra đời Có nhiều cách diễn đạt để định nghĩa thuật ngữ này Trong cuốn Giáo trình Quan hệ kinh tế quốc tế (2008), các tác giả định nghĩa thương mại hàng hóa quốc tế là trao đổi quốc tế về hàng hóa vật chất và hàng
Trang 16hóa vật chất có sự di chuyển qua biên giới từ nước xuất khẩu sang nước nhập khẩu Trong định nghĩa này, các tác giả nhấn mạnh vào hai yếu tố của thương mại hàng hóa quốc tế, đó là “hàng hóa vật chất” và “sự di chuyển qua biên giới” Đây là cách hiểu
cơ bản nhất, tạo thuận lợi cho những ai mới tiếp cận đến vấn đề này
Theo quan điểm của Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD), thương mại
hàng hóa quốc tế là “Hàng hóa được thêm vào hay bớt đi khỏi nguồn cung hàng hóa của một quốc gia bằng cách nhập vào (nhập khẩu) hoặc xuất ra (xuất khẩu) khỏi vùng kinh tế Hàng hóa đơn giản được vận chuyển qua một quốc gia (chuyển khẩu) hoặc tạm nhập hay thu hồi (trừ hàng hóa đang trong quá trình xử lý bên trong hoặc bên ngoài lãnh thổ) không làm tăng thêm hay giảm đi tổng lượng hàng hóa của một quốc gia và cũng không bao gồm trong số liệu thông kế thương mại hàng hóa quốc tế Trong nhiều trường hợp, vùng kinh tế của một quốc gia phần lớn trùng với lãnh thổ hải quan của quốc gia đó, là lãnh thổ mà trong đó luật hải quan được áp dụng đầy đủ”
Có thể nhận thấy, OECD đã đưa ra định nghĩa khá chi tiết về thương mại hàng hóa quốc tế, tập trung vào các cách thức hàng hóa được vận chuyển cũng như vị trị trí địa lý của hàng hóa Định nghĩa này đã tạo điều kiện để các quốc gia từ đó đưa ra những quy định của mình về trao đổi hàng hóa quốc tế, cũng như thuận lợi hơn cho các doanh nghiệp khi thực hiện nghiệp vụ ngoại thương này
Gần giống với cách thức này, điều 27 Luật Thương mại Việt Nam năm 2005 không đưa ra định nghĩa cụ thể thương mại hàng hóa quốc tế là gì, mà liệt kê các hình thức của nó, bao gồm: xuất khẩu, nhập khẩu, tạm nhập, tái xuất, tạm xuất, tái nhập và chuyển khẩu
Dưới góc độ nghiên cứu thương mại hàng hóa quốc tế của Việt Nam với các nước Trung Đông, sau đây, các hoạt động liên quan đến thương mại hàng hóa quốc tế được nghiên cứu trong bài sẽ được hiểu theo cách định nghĩa của luật Thương mại Việt Nam năm 2005
Trang 171.2.2 Các hình thức của thương mại hàng hóa quốc tế
Như đã nói, theo điều 27 Luật Thương mại Việt Nam năm 2005, thương mại hàng hóa quốc tế bao gồm 5 hình thức: Xuất khẩu, nhập khẩu, tạm nhập tái xuất, tạm xuất tái nhập và chuyển khẩu
1.2.2.1 Xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa
Xuất khẩu hàng hóa là việc hàng hóa được đưa ra khỏi lãnh thổ Việt Nam hoặc đưa vào khu vực đặc biệt nằm trên lãnh thổ của Việt Nam được coi là khu vực hải quan riêng theo quy định của pháp luật (Điều 28, khoản 1, Luật Thương mại năm 2005)
Nhập khẩu hàng hóa là việc hàng hóa được đưa vào lãnh thổ Việt nam từ nước ngoài hoặc từ khu vực đặc biệt nằm trên lãnh thổ Việt Nam được coi là khu vực hải quan riêng theo quy định của pháp luật (Điều 28, khoản 2, Luật Thương mại 2005)
Trong số 5 hình thức của thương mại hàng hóa quốc tế, thì xuất nhập khẩu được coi là hai hoạt động diễn ra chủ yếu nhất, do đó cũng bộc lộ rõ những đặc điểm rất riêng như sau:
- Thời gian lưu chuyển hàng hóa xuất nhập khẩu: Khác với hoạt động kinh doanh nội địa, hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa bao gồm 2 giai đoạn mua hàng và 2 giai đoạn bán hàng Đối với hoạt động xuất khẩu thì đó là giai đoạn mua ở thị trường trong nước và bán cho thị trường nước ngoài, còn đối với hoạt động nhập khẩu là mua hàng hóa của nước ngoài và bán cho thị trường nội địa Chính vì vậy, thời gian lưu chuyển hàng hóa trong hoạt động này bao giờ cũng dài hơn thời gian lưu chuyển hàng hóa trong kinh doanh nội địa Do đó, chỉ khi hàng hóa đã luân chuyển được đủ một vòng, kết quả hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu hàng hóa đó mới được xác định
- Thời điểm giao, nhận hàng và thời điểm thanh toán: Thời điểm xuất nhập khẩu hàng hóa và thời điểm thanh toán tiền hàng thương không trùng nhau mà có khoảng cách kéo dài
Trang 18- Phương thức thanh toán: Hiện nay, có nhiều phương thức thanh toán quốc tế khác nhau được sử dụng Đây là điều kiện quan trọng trong các điều kiện thanh toán quốc tế cũng như trong hoạt động kinh doanh ngoại thương Tuy nhiên, trong hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa, phương thức thanh toán bằng thư tín dụng là phương thức thanh toán được sử dụng chủ yếu
- Tập quán, pháp luật: Do hai bên mua, bán có quốc tịch khác nhau, pháp luật khác nhau, tập quán kinh doanh cũng khác nhau Vì vậy, thường trong hợp đồng mua bán hàng hóa, các bên phải thỏa thuận sử dụng thống nhất một tập quán kinh doanh cũng như luật thương mại quốc tế (Theo Thư viện Học liệu mở Việt Nam VOER, Khái niệm về hoạt động kinh doanh, xuất khẩu)
1.2.2.2 Tạm nhập, tái xuất
Tạm nhập, tái xuất hàng hóa là việc hàng hóa được đưa từ nước ngoài hoặc từ các khu vực đặc biệt nằm trên lãnh thổ Việt Nam được coi là khu vực hải quan riêng theo quy định của pháp luật vào Việt Nam, có làm thủ tục nhập khẩu vào Việt Nam và làm thủ tục xuất khẩu chính hàng hóa đó ra khỏi Việt Nam (Điều 29, khoản 1, Luật Thương mại năm 2005)
Tạm xuất, tái nhập hàng hóa là việc hàng hóa được đưa ra nước ngoài hoặc đưa vào các khu vực đặc biệt nằm trên lãnh thổ Việt Nam được coi là khu vực hải quan riêng theo quy định của pháp luật, có làm thủ tục xuất khẩu ra khỏi Việt Nam, và làm thủ tục nhập khẩu lại chính hàng hóa đó vào Việt Nam (Điều 29, khoản 2, Luật Thương mại năm 2005)
Đặc điểm chính của hai hình thức này là hàng hóa được kinh doanh, vận chuyển theo tạm nhập, tái xuất và tạm xuất, tái nhập được ưu đãi về các mức thuế Nếu như mặt hàng tạm nhập, tái xuất có thuế suất thuế nhập khẩu bằng 0% (với các mặt hàng gỗ), thì hàng tạm nhập, tái xuất lại không thuộc đối tượng phải nộp thuế VAT
Trang 19Tạm nhập, tái xuất được thực hiện trên cơ sở hai hợp đồng riêng biệt: hợp đồng mua hàng do thương nhân ở một nước ký với thương nhân nước xuất khẩu và hợp đồng bán hàng do thương nhân nước đó ký với thương nhân nước nhập khẩu Hợp đồng mua
hàng có thể ký trước hoặc sau hợp đồng bán hàng (Hải quan Đồng Tháp, Quy định chi tiết thi hành Luật Thương mại về hoạt động đại lý mua bán gia công và quá cảnh hàng hóa với nước ngoài)
1.2.2.3 Chuyển khẩu hàng hóa
Chuyển khẩu hàng hóa là việc mua hàng từ một nước, vùng lãnh thổ để bán sang một nước, vùng lãnh thổ ngoài lãnh thổ Việt Nam mà không làm thủ tục nhập khẩu vào Việt Nam và không làm thủ tục xuất khẩu ra khỏi Việt Nam (Điều 30, khoản
1, Luật Thương mại năm 2005)
Các hình thức thực hiện chuyển khẩu hàng hóa được nhà nước quy định:
Hàng hóa được vận chuyển thẳng từ nước xuất khẩu đến nước nhập khẩu không qua cửa khẩu Việt Nam;
Hàng hóa được vận chuyển từ nước xuất khẩu đến nước nhập khẩu có qua cửa khẩu Việt Nam nhưng không làm thủ tục nhập khẩu vào Việt Nam và không làm thủ tục xuất khẩu ra khỏi Việt Nam
Hàng hóa được vận chuyển từ nước xuất khẩu đến nước nhập khẩu có qua cửa khẩu Việt Nam và đưa vào kho ngoại quan, khu vực trung chuyển hàng hóa tại các cảng Việt Nam, không làm thủ tục nhập khẩu vào Việt nam và không làm thủ tục xuất khẩu ra khỏi Việt Nam (Điều 30, Luật Thương mại năm 2005)
Do đặc điểm hàng hóa không phải qua cửa khẩu Việt Nam nên không chịu bất
kỳ thuế suất nào của Việt Nam
Cũng giống như tạm nhập, tái xuất, hoạt động chuyển khẩu được thực hiện trên
cơ sở hai hợp đồng riêng biệt: hợp đồng mua hàng do thương nhân một nước ký với
Trang 20thương nhân nước xuất khẩu và hợp đồng bán hàng do thương nhân nước này ký với thương nhân nước nước nhập khẩu Hợp đồng mua hàng có thể ký trước hoặc sau hợp đồng bán hàng
1.3 Khái quát chung về chính sách thương mại quốc tế:
1.3.1 Vị trí và vai trò của chính sách Thương mại quốc tê:
Chính sách thương mại quốc tế là các hệ thống nguyên tắc, biện pháp kinh tế và hành chính pháp luật dùng để thực hiện những mục tiêu đã xác định trong lĩnh vực thương mại quốc tế của một nước trong một thời kì nhất định
Chính sách thương mại quốc tế là một bộ phận quan trọng trong chính sách phát triển kinh tế của một nước, được xây dựng phù hợp với các mục tiêu phát triển kinh tế của nước đó.Mục tiêu phát triển đất nước trong từng thời kì là khác nhau Vì vậy chính sách thương mại quốc tế phải được điều chỉnh và thay đổi phù hợp với từng thời kì phát triển Chính sách thương mại quốc tế của một đất nước khi hòa bình chắc chắn khác với khi đang có chiến tranh, khi có trình độ phát triển cao khác khi mới bắt đầu công nghiệp hóa Trong xu thế mở cửa và hội nhập kinh tế hiện nay, chính sách thương mại quốc tế còn phải phù hợp với các cam kết quốc tế mà quốc gia đó tham gia kí kết
Trong thực tế, thương mại quốc tế diễn ra, với các vai trò ưu việt sau:
- Thứ nhất, tạo vốn cho quá trình mở rộng đầu tư trong nước
- Thứ hai, chuyển hóa giá trị sử dụng làm thay đổi cơ cấu vật chất của tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân được sản xuất trong nước và thích ứng chúng với nhu cầu tiêu dùng và tích lũy
- Thứ ba, góp phần nâng cao hiệu quả của nền kinh tế bằng việc tạo ra môi trường thuận lợi cho sản xuất kinh doanh
Trang 211.3.2 Các công cụ chủ yếu của chính sách Thương mại quốc tế
Chính sách thương mại quốc tế là chính sách của nhà nước bao gồm một hệ thống nguyên tắc và biện pháp thích hợp được áp dụng để điều chỉnh hoạt động ngoại thương phù hợp với lợi ích chung của Nhà nước ở từng giai đoạn Chính sách thương mại quốc tế là một hệ thống chính sách của Nhà nước nó phục vụ đắc lực cho đường lối phát triển kinh tế trong mỗi thời kỳ Nó ảnh hưởng tới quá trình tái sản xuất xã hội
và sự tham gia của nền kinh tế quốc dân vào quá trình phân công lao động quốc tế
Chính sách thương mại quốc tế có liên quan mật thiết với chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước Nó là công cụ có hiệu lực để thực hiện chính sách đối ngoại,
mở mang quan hệ hợp tác hữu nghị với các nước trong khu vực và thế giới Đồng thời chính sách đối ngoại tạo điều kiện giúp các tổ chức kinh tế tiếp cận với thị trường, khách hàng nước ngoài để mở rộng hoạt động thương mại quốc tế
Nhiệm vụ của chính sách thương mại quốc tế của Nhà nước là tạo điều kiện thuận lợi cho các tổ chức kinh doanh tham gia vào phân công lao động quốc tế, mở mang hoạt động xuất nhập khẩu và bảo vệ thị trường nội địa nhằm đạt mục tiêu, yêu cầu kinh tế, chính trị, xã hội trong hoạt động kinh tế đối ngoại
Những công cụ và chính sách chủ yếu được áp dụng trong thương mại quốc tế được chia thành các chính sách thuế quan và phi thuế quan, gồm có:
1.3.2.1 Chính sách thuế quan
a Khái niệm:
Thuế quan là một loại thuế đánh vào hàng hoá xuất nhập khẩu nhằm đạt được những mục tiêu nhất định như tăng thu ngân sách nhà nước, hạn chế nhập khẩu hoặc xuất khẩu
Thuế quan xuất khẩu áp dụng đối với hàng hoá xuất khẩu và áp dụng với phạm
vi hạn chế và mức thuế suất không cao Thường áp dụng đối với các mặt hàng truyền thống với thuế suất không ảnh hưởng đến cung cầu
Trang 22Thuế quan nhập khẩu áp dụng đối với hàng hoá nhập khẩu và sử dụng tương đối phổ biến ở các nước trên thế giới với các mức thuế suất rất khác nhau đối với từng nhóm hàng hoá cụ thể và tuỳ theo điều kiện từng nước
b Tác động của thuế quan
Được phân tích với trường hợp một nước nhỏ áp dụng thuế quan nhập khẩu sẽ
có ảnh hưởng đối với sản xuất, tiêu dùng, phân phối thu nhập qua mô hình đường cung, đường cầu như sau:
Nguồn: Người viết tự vẽ minh họa
Trong đó:
S, D là đường cung và đường cầu trong nước
P0 và Pw là giá hàng hoá nhập khẩu trong điều kiện tự do thương mại
Pt: Giá hàng nhập khẩu sau khi đánh thuế nhập khẩu với thuế suất là t
Pt = P0 + T = P0(1 + t)
Trước khi có thuế nhập khẩu thì:
+ Cung trong nước là Q1
+ Cầu trong nước là Q2
Trang 23Khi có thuế nhập khẩu thì :
+ Giá hàng hoá ở thị trường nội địa tăng từ P0 đến Pt
+ Mức cung trong nước từ Q1 lên Q3
+ Mức cầu trong nước giảm từ Q2 xuống Q4
+ Mức nhập khẩu trong nước giảm từ (Q2Q1) (Q4Q3)
Qua mô hình trên ta có thể nhận xét như sau:
Đối với người tiêu dùng thì khi có thuế nhập khẩu lợi ích thặng dư của người tiêu dùng sẽ bị giảm xuống do hai nguyên nhân là họ phải mua hàng với giá cao hơn, khối lượng hàng hoá tiêu dùng có thể bị cắt giảm (đó là diện tích hình thang P0PtCE
Đối với người sản xuất trong nước thì khi có thuế nhập khẩu thặng dư của người sản xuất tăng do họ bán được hàng hoá với giá cao hơn và khối lượng hàng hoá bán được lớn hơn và được xác định bởi diện tích hình thang P0PtAB
Đối với thu nhập của chính phủ từ thuế nhập khẩu được xác định bằng hình thang BCGH
Thiệt hại ròng của xã hội khi có thuế nhập khẩu sẽ được đo bởi diện tích của hai hình tam giác đó là tam giác ABH, tam giác CEG Tam giác ABH là do quy mô sản xuất trong nước được mở rộng tới mức có chi phí cao hơn mức trung bình trung của thế giới Tam giác CEG là do khối lượng của hàng hoá đáp ứng cho nhu cầu tiêu dùng nội địa bị cắt giảm
c Kết luận:
Qua mô hình phân tích như trên, thuế quan nhập khẩu có những ảnh hưởng tích cực đồng thời cũng có những ảnh hưởng tiêu cực đến nền kinh tế của một nước cụ thể như sau:
Trang 24và có thể gây ra hiện tượng hoạt động buôn lậu làm thất thu ngân sách cho Nhà nước Nếu Chính phủ đánh thuế quá cao và trong thời gian dài thì các doanh nghiệp sẽ tìm cách trốn thuế
1.3.2.2 Hạn ngạch
Hạn ngạch là quy định của Nhà nước về số lượng cao nhất của một hàng hoá hay một nhóm hàng hoá được phép xuất khẩu hay nhập khẩu trong một thời gian nhất định thường là một năm đối với một thị trường cụ thể
Như vậy hạn ngạch nó hạn chế số lượng nhập khẩu đồng thời nó cũng ảnh hưởng đến giá nội địa của hàng hoá Do mức cung thấp giá cân bằng sẽ cao hơn trong điều kiện thương mại tự do Như vậy hạn ngạch tương đối giống với thuế nhập khẩu Giá hàng nhập nội địa đối với người tiêu dùng tăng lên và chính giá cao này cho phép
Trang 25nhà sản xuất nội địa kém hiệu quả sản xuất ra một sản lượng cao hơn so với điều kiện thương mại tự do Hạn ngạch cũng dẫn đến sự lãng phí của xã hội giống như đối với thuế nhập khẩu
Xét về ý nghĩa bảo hộ, hạn ngạch cũng có tác động như thuế quan Hạn ngạch nhập khẩu là công cụ quan trọng để thực hiện chiến lược sản xuất thay thế nhập khẩu, bảo hộ sản xuất nội địa Đối với Chính phủ và các doanh nghiệp, hạn ngạch cho biết trước số lượng nhập khẩu Đối với thuế quan lượng hàng hoá nhập khẩu phụ thuộc vào mức độ linh hoạt của cung cầu và thường không thể biết trước được Như vậy xét về mặt bảo hộ không có sự khác biệt nào giữa thuế quan và hạn ngạch Tuy nhiên sự tác động của hạn ngạch nhập khẩu khác với sự tác động của thuế quan ở hai mặt Mức thuế quan tối thiểu ít nhất cũng mang lại thu nhập cho Chính phủ, có thể cho phép giảm những loại thuế khác và do đó nó bù đắp một phần nào cho người tiêu dùng trong nước Trong khi đó, hạn ngạch nhập khẩu lại đưa lại lợi nhuận có thể rât lớn cho những người may mắn xin được giấy phép nhập khẩu theo hạn ngạch
Hạn ngạch nhập khẩu thường được quy định cho một loại sản phẩm đặc biệt hay sản phẩm và thị trường đặc biệt ở Việt Nam hiện nay hạn ngạch nhập khẩu chỉ áp dụng đối với 4 loại hàng: ô tô 12 chỗ ngồi, xe 2 bánh gắn máy, linh kiện điện tử LKD, SKD, nguyên liệu phụ liệu sản xuất thuốc lá Để quản lý nhập khẩu các nước cũng áp dụng hạn ngạch xuất khẩu Hạn ngạch xuất khẩu được quy định theo mặt hàng, theo nước và theo thời gian nhất định
1.2.3.3 Các quy định về tiêu chuẩn kỹ thuật
Đây là những quy định của nhà nước về tiêu chuẩn kỹ thuật ảnh hưởng đến chất lượng hàng hoá trong hoạt động buôn bán với nước ngoài nhằm hạn chế bớt những hàng hoá kém chất lượng nhập khẩu vào thị trường trong nước gây thiệt hại cho người tiêu dùng hoặc những hàng hoá kém chất lượng xuất khẩu ra thị trường nước ngoài dẫn đến làm mấy uy tín đối vơí khách hàng do đó sẽ ảnh hưởng tới lợi ích của các nhà sản xuất hàng xuất khẩu Cụ thể là Nhà nước sẽ đưa ra những quy định về việc bảo đảm an
Trang 26toàn cho sức khoẻ con người đối với những hàng hoá là lương thực, thực phẩm (quy định về nguyên vật liệu sản xuất sản phẩm, thời hạn sử dụng, bao bì đóng gói ) Quy định về mức gây ô nhiễm môi trường sinh thái đối với những sản phẩm làm bằng máy móc, thiết bị, dây truyền sản xuất, phương tiện giao thông vận tải
1.3.2.4 Trợ cấp xuất khẩu
Ngoài trường hợp hạn chế nhập khẩu đã trình bày ở trên, các nước còn dựng chính sách ngoại thương để nâng đỡ xuất khẩu Trợ cấp xuất khẩu được sử dụng để hỗ trợ cho hoạt động xuất khẩu hàng hoá từ trong nước ra nước ngoài đặc biệt là đối với hàng hoá mới tham gia xuất khẩu Trợ cấp xuất khẩu có thể được thực hiện bằng cách Nhà nước cấp vốn trực tiếp cho các doanh nghiệp thông qua chính sách đầu tư, thực hiện cho vay ưu đãi thông qua chính sách tín dụng hoặc bằng cách trợ giá
1.3.2.5 Tỷ giá và các chính sách đòn bẩy có liên quan nhằm đẩy mạnh xuất khẩu
Đẩy mạnh xuất khẩu là một chương trình kinh tế quan trọng của mỗi nước Muốn đẩy mạnh xuất khẩu đòi hỏi phải có những chính sách và biện pháp hữu hiệu để các nhà kinh doanh thu được lợi nhuận tối đa khi hướng hoạt động kinh doanh ra thế giới
Điều kiện cần thiết đầu tiên là duy trì tỷ giá hối đoái thích hợp để cho các nhà sản xuất kinh doanh thương mại trong nước khi bán các sản phẩm, dịch vụ của họ ra thị trường thế giới Kinh nghiệm của các nước đang phát triển thực hiện chiến lược xuất khẩu (sản xuất hướng về xuất khẩu) cũng như ở Việt Nam trong thời gian qua là phải tiến hành phá giá thường kỳ để đạt được mức tỷ giá cân bằng được thị trường chấp nhận và sau đó duy trì tỷ giá tương quan với chi phí và giá cả đang bị lạm phát ở trong nước
Thứ hai, muốn các nhà sản xuất kinh doanh hướng ra thị trường thế giới, thì phải giảm bớt sức hấp dẫn tương đối của vệc sản xuất cho thị trường nội địa Điều này đòi hỏi giảm thuế quan có tính chất bảo hộ đối với các ngành công nghiệp được ưu đãi
Trang 27và tránh quy định hạn ngạch số lượng nhập khẩu, các nhà sản xuất kinh doanh thường đầu tư vào lĩnh vực có lợi nhất cho nên lợi nhuận sản xuất thay thế nhập khẩu phải giữ
ở mức độ phù hợp với lợi ích xuất khẩu Điều này có nghĩa là bảo hộ bằng thuế quan không được cao hơn mức trợ cấp xuất khẩu và cũng phải thấp hơn đối với các mặt hàng
Thứ ba, muốn hoạt động sản xuất kinh doanh có hiệu quả chính sách đẩy mạnh xuất khẩu phải duy trì giá cả tương đối các yếu tố sản xuất trong nước ở mức độ phản ánh sự khan hiếm của chúng Nguyên tắc cơ bản là xuất khẩu những mặt hàng sử dụng nhiều nhất yếu tố sản xuất có sẵn của nền kinh tế Để đảm bảo cho các doanh nghiệp bất cứ thành phần nào của nền kinh tế quyết định đầu tư hay sản xuất phù hợp với nguyên tắc đó thì giá cả tương đối họ trả cho lao động, vốn, đất đai không được quá chênh lệch với giá được hình thành bởi những lực lượng thị trường cạnh trên cơ sở quan hệ cung cầu các nguồn lực đó Nếu lao động dồi dào thì tiền lương và các chi phí khác về nhân công phải thấp, còn vốn khan hiếm thì giá phải cao đối với nhà đầu tư
1.3.2.6 Chính sách đối với cán cân thanh toán quốc tế và cán cân thương mại Trong hoạt động thương mại quốc tế giữ vững được cán cân thanh toán quốc tế
và cán cân thương mại có ý nghĩa cực kỳ quan trọng góp phần củng cố nền độc lập và tăng trưởng kinh tế nhanh Tuy nhiên để giữ cán cân thanh toán cân bằng không có nghĩa là phải hạn chế nhập khẩu, cấm nhập khẩu hoặc vay vốn Cân bằng theo kiểu đó
là cân bằng tiêu cực Vấn đề quan trọng là phải giải quyết tốt các biện pháp sau:
Phải có quy chế chặt chẽ trong việc vay vốn nước ngoài Mỗi dự án vay vốn nước ngoài phải hướng vào mục tiêu sản xuất đặc biệt là sản xuất cho xuất khẩu Khi xây dựng phương án vay phải đồng thời xây dựng phương án trả nợ kèm theo và phải
có thế chấp thì ngân hàng mới bảo lãnh
Phải có kế hoạch trả nợ dần những khoản nợ quá hạn và trả những khoản nợ đến hạn, để vừa bảo đảm uy tín với quốc tế vừa tránh tình trạng lãi mẹ đẻ lãi con, vừa tạo điều kiện tiếp tục vay mượn dễ dàng cho người sản xuất kinh doanh
Trang 28Về cán cân thương mại, hướng chủ yếu là giảm dần nhập siêu, tiến tới cân bằng xuất nhập với hình thức đa dạng cơ cấu mặt hàng xuất khẩu, nhập khẩu đáp ứng được yêu cầu thị trường trong nước và thị trường ngoài nước, quy mô xuất nhập khẩu ngày càng tăng và tiến tới xuất siêu
Để giải quyết yêu cầu về cán cân thương mại, Nhà nước cần có chính sách đầu
tư thích hợp để sớm hình thành những vùng chuyên canh, những doanh nghiệp sản xuất hàng xuất khẩu với quy mô lớn và có quy trình công nghệ hiện đại
Nhà nước phải có chính sách thích hợp để khuyến khích các tổ chức và cá nhân tham gia làm hàng xuất khẩu với chất lượng cao, đủ sức cạnh tranh với thị trường quốc tế
1.4 Sự cần thiết phát triển hoạt động thương mại hàng hóa giữa Việt Nam
và khu vực Trung Đông:
1.4.1 Tình hình thương mại hàng hóa của Việt Nam trên trường quốc tế trước và sau khi gia nhập WTO
Bảng 1: Trị giá xuất nhập khẩu hàng hóa 2001 đến nay
Đơn vị: Tỷ USD Trị giá
Trang 29Nguồn: Sử dụng số liệu trong bảng 1
Theo số liệu từ Tổng cục Hải Quan và biểu đồ trên, cả kim ngạch xuất khẩu và nhập khẩu đều tăng liên tục kể từ sau khi Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới WTO với tốc độ tăng trung bình khoảng trên dưới 50%, chỉ trừ năm 2009 có sự tụt giảm, một phần chính là do cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm đó Có thể thấy,
Trang 30tổng kim ngạch xuất nhập khẩu năm 2013 đã đạt 264.259 tỷ USD, tăng gấp hơn 2 lần
so với mức 111.325 tỷ USD trong năm đầu tiên chúng ta trở thành thành viên chính thức của WTO (năm 2007), gấp 3 lần cùng kì năm 2006 (ở mức 87.717 tỷ USD) và tăng lên khoảng gần 6 lần sau 10 năm (năm 2003: 45.404 tỷ USD)
Xét riêng xuất khẩu, mặc dù tốc độ tăng có phần ít hơn so với nhập khẩu, tuy nhiên, tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam đã có sự chuyển biến rõ rệt ngay sau khi Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới WTO với tổng kim ngạch xuất khẩu năm 2007 đã tăng 8.735 tỷ USD so với năm 2006 và đạt mức 45.561 tỷ USD, cao gần gấp đôi so với giá trị xuất khẩu trung bình giai đoạn 2001 – 2006 Sau 7 năm với vai trò là một thành viên chính thức của WTO từ năm 2007, kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam đã đạt 132.134 tỷ USD vào năm 2013 Như vậy, có thể thấy tổng kim ngạch xuất khẩu năm 2013 đã tăng gấp hơn 3 lần so với thời điểm năm 2006, ngay trước khi Việt Nam gia nhập WTO và cao hơn gấp 5,3 lần so với mức xuất khẩu tung bình trong
6 năm từ 2001 đến 2006
Xét riêng nhập khẩu, tốc độ tăng trưởng kể từ sau khi Việt Nam gia nhập WTO
đã tăng rất nhanh, cụ thể, năm 2007 – năm đầu tiên Việt Nam trở thành thành viên của WTO, kim ngạch nhập khẩu của cả nước đạt 62.764 tỷ USD, tăng 17.873 tỷ USD, tương đương với khoảng 39.8% so với cùng kỳ năm 2006 và giá trị này gấp hơn 2 lần kim ngạch nhập khẩu trung bình giai đoạn 2001 – 2006 Từ năm 2007 đến năm 2013, kim ngạch nhập khẩu đã tăng hơn gấo đôi lên mức 132.125 tỷ USD Với con số này, có thể thấy kim ngạch đã tăng gấp gần 3 lần so với cùng kì năm 2006 và khoảng 4,5 lần so với mức kim ngạch trung bình giai đoạn 6 năm trước khi Việt Nam gia nhập WTO
Hơn thế nữa, từ biểu đồ trên, có thể thấy sự thay đổi của cán cân thương mại của Việt Nam kể từ khi gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới WTO đến nay với xu hướng tăng của cả xuất khẩu và nhập khẩu của Việt Nam Việt Nam đã duy trì mức nhập siêu khá cao, dao động từ 9.844 tỷ USD đến 18.028 tỷ USD trong giai đoạn 2007
Trang 31– 2011 Mức nhập siêu này cao hơn rất nhiều so với giai đoạn trước khi chúng ta gia nhập WTO, một phần vì kể từ khi gia nhập, việc mở cửa thị trường với mức thuế nhập khẩu thấp đã khiến hàng hoá nước ngoài ồ ạt đổ vào Việt Nam, trong khi hàng hoá của chúng ta còn yếu, chưa đủ sức cạnh tranh Tuy nhiên, năm 2012 đã đánh một dấu mốc quan trọng khi sau 20 năm từ năm 1993, Việt Nam có xuất siêu và ở mức 780 triệu USD Đến năm 2013, tuy Việt Nam vẫn duy trì được thặng dư cán cân thương mại nhưng giá trị xuất siêu năm 2013 chỉ đạt 9.4 triệu USD, tức là chỉ đạt có 1.09% so với mức ước tính trước đó là 863 triệu USD và chỉ bằng 1.2% giá trị cùng kì năm 2012
Bên cạnh đó, trong 6 năm trước khi trở thành thành viên chính thức của WTO, giá trị xuất khẩu trung bình của Việt Nam đạt 25.107 tỷ USD và nhập khẩu trung bình
ở mức 29.14 tỷ USD Tuy nhiên, từ năm 2007 trở đi, tình hình xuất nhập khẩu có xu hướng tăng rất rõ rệt Xuất khẩu trung bình trong giai đoạn 6 năm từ năm 2008 đến năm 2013 đạt mức 89.271 tỷ USD, tăng gấp hơn 3 lần so với giá trị trung bình của giai đoạn 2001-2006 Nhập khẩu trung bình trong giai đoạn này đạt mức 98.028 tỷ USD, cho thấy sự chênh lệch vẫn còn khá lớn giữa kim ngạch nhập khẩu trung bình và xuất khẩu trung bình Tuy nhiên, Việt Nam đang có xu hướng có xuất siêu và hi vọng trong thời gian tới, khoảng chênh lệch giữa nhập khẩu và xuất khẩu sẽ được thu hẹp dần và hướng tới xuất siêu cao hơn
1.4.2 Vị trí thị trường Trung Đông trong hoạt động thương mại hàng hóa toàn cầu
Khu vực Trung Đông có vị trí địa lý chiến lược, là cầu nối trong con đường giao thương giữa Châu Âu, Châu Á và Châu Phi, bao gồm 19 quốc gia: Amernia, Azerbaijan, Bahrain, Gaza Strip, Geogria, Iran, Iraq, Isarel, Jordan, Kuwait, Lebanon, Oman, Quatar, Saudi Arabia, Syria, Turkey, United Arab Emirates (UAE), West Bank, Yemen Trung Đông là khu vực có nhiều dầu mỏ nhất thế giới, tập trung khoảng 2/3 trữ lượng dầu mỏ của toàn thế giới Trung Đông được coi là thị trường tiềm năng với
Trang 32dân số khoảng 300 triệu người cùng mức thu nhập bình quân đầu người thuộc loại cao trên thế giới và được coi là thị trường có sức mua lớn và khả năng thanh toán cao
Do đặc điểm tự nhiên, đồng thời do cơ cấu kinh tế của nhiều nước Trung Đông phụ thuộc các vào ngành công nghiệp dầu khí, nên các ngành công nghiệp chế tạo và sản xuất nông nghiệp tại đây chưa phát triển Các nước Trung Đông có nhu cầu lớn đối với hàng hóa tư liệu sản xuất, hàng tiêu dùng (lương thực, thực phẩm, dệt may, giày dép, sản phẩm điện, điện tử gia dụng), vật liệu xây dựng, máy móc, thiết bị…
Những năm gần đây, phần lớn các nước ở Trung Đông đang tiến hành cơ cấu lại nền kinh tế với mục tiêu đa dạng hóa cơ cấu kinh tế, giảm sự phụ thuộc vào tài nguyên dầu mỏ, tăng cường đầu tư vào hiện đại hóa cơ sở hạ tầng, máy móc, thiết bị, đường
xá, đẩy mạnh xây dựng các trung tâm kinh tế, thương mại, liên tục phát triển khu vực kinh tế tư nhân, thúc đẩy mở cửa thị trường và đẩy nhanh tự do hóa thương mại
1.4.3 Sự cần thiết phải phát triển hoạt động thương mại hàng hóa giữa Việt Nam và khu vực Trung Đông
Việt Nam hiện nay đang trong giai đoạn tích cực mở rộng hợp tác với các nước, các khu vực trên thế giới Rõ ràng, các quốc gia ở Trung Đông chính là những thị trường với nhu cầu tiêu thụ lớn, đặc biệt là các mặt hàng nông lâm hải sản, các mặt hàng tiêu dùng cũng như linh phụ kiện… và đây hầu hết đều là những mặt hàng mà Việt Nam có lợi thế so sánh hoặc lợi thế tuyệt đối Và với những lợi thế về thị trường như trên, Trung Đông hoàn toàn xứng đáng trở thành một trong những khu vực với nhiều đối tác tiềm năng mà Việt Nam cần chú ý phát triển mối quan hệ trong tương lai
Ngoài ra, cùng với việc phát triển quan hệ thương mại với Trung Đông, Việt Nam có thể tận dụng cơ hội để mở rộng thị trường sang các khu vực khác như Châu Phi, EU Vị trí cầu nối giữa châu Âu, châu Á và châu Phi của Trung Đông thực sự đã biến khu vực này trở thành một thị trường đầy hứa hẹn với các nước và Việt Nam cũng không ngoại lệ Có thể nói, đẩy mạnh quan hệ với các nước thuộc khu vực Trung Đông
Trang 33chính là những cơ hội lớn để Việt Nam tranh thủ tăng cường hợp tác kinh tế, thương mại với hầu hết các nước trong khu vực và mở rộng ra quốc tế
Mặt khác, Việt Nam là một quốc gia nằm tại châu Á, thuộc khu vực Đông Nam
Á, được coi là cầu nối tới nhiều nước trong khu vực Việt Nam là thành viên tích cực của ASEAN và WTO, cũng có những vị thế nhất định trong khu vực cũng như trên trường quốc tế Vì vậy, việc mở rộng hợp tác với Việt Nam mà nói, đối với các nước thuộc khu vực Trung Đông cũng chính là cơ hội để mở rộng hợp tác sang các quốc gia thuộc châu Á, đặc biệt là Đông Nam Á và các nước khác như Trung Quốc, Nhật Bản…
Trang 34CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG THƯƠNG MẠI HÀNG HÓA GIỮA VIỆT NAM VÀ KHU VỰC TRUNG ĐÔNG
2.1 Các nhân tố ảnh hưởng tới hoạt động thương mại hàng hóa của Việt Nam và khu vực Trung Đông
2.1.1 Sự tương quan về vị trí địa lý giữa Việt Nam và khu vực Trung Đông
2.1.1.1 Vị trí địa ý của Trung Đông:
Trung Đông được coi là một vùng văn hoá và không có các biên giới một cách chính xác Theo như thống kê chính thức của CIA Workbook of Fact năm 2013, khu vực này bao gồm 19 quốc gia: Amernia, Azerbaijan, Bahrain, Gaza Strip, Geogria, Iran, Iraq, Isarel, Jordan, Kuwait, Lebanon, Oman, Quatar, Saudi Arabia, Syria, Turkey, United Arab Emirates (UAE), West Bank và Yemen
Iran được coi là biên giới về phía đông của Trung Đông, phía này giáp với châu
Á Dọc theo biển Arabian xuống phía Nam lần lượt là Saudi Arabia (Ả-rập Xê-út), UAE (Tiểu vương quốc Ả Rập), Oman và cận nam là Yemen Đi sang phía tây, phần tây của Saudi Arabia giáp với Biển Đỏ và vùng biển này là nơi chia cắt đất nước này với dải đất châu Phi Biên giới duy nhất trên đất liền của Trung Đông với châu Phi là Isarel Isarel có biên giới chung với Ai Cập (thuộc Bắc Phi) và đây cũng là nước duy nhất có sự hợp nhất của các đặc điểm châu Âu và Trung Đông, với sự gần gũi về địa lý của họ với miền Cận Đông và đa phần dân cư là người có nguồn gốc Trung Đông (gồm người Do Thái Sephardic, Sabra, người Ả Rập Israel…) Lên phía bắc, Turkey (Thổ Nhĩ Kỳ) được xem là cầu nối của khu vực này với châu Âu Đây là quốc gia thường được gộp với khu vực Tây Nam Á vì vị trí và tính liên tục của địa lý, tuy nhiên
về mặt thị trường và văn hoá lại có thể được xếp vào châu Âu
Như vậy, có thể thấy Trung Đông có vị trí địa lý chiến lược và vô cùng thuận lợi cho việc giao thương với các nước thuộc châu Á, châu Âu và châu Phi Với những đặc điểm về vị trí địa lý như trên, khu vực này đang ngày càng được chú ý và quan tâm
Trang 35hơn trong tiến trình mở rộng quan hệ hợp tác của các quốc gia trên giới, trong đó có Việt Nam
2.1.1.2 Vị trí địa lý của Việt Nam:
Việt Nam là nằm ở cực đông – nam bán đảo Đông Dương, có diện tích đất liền trải dài từ kinh tuyến 102°8′ Đông đến 109°27′ Đông và từ vĩ tuyến 8°27′ Bắc đến 23°23′ Bắc (Sách giáo khoa Địa lý Việt Nam lớp 8, NXB Giáo dục, pg 84) Trên bản
đồ thế giới, đất nước Việt Nam có hình giống chữ S với khoảng cách kéo dài từ bắc tới nam là khoảng 1.650 km và vị trí hẹp nhất trên toàn bộ dải đất theo chiều đông sang tây là 50 km (khu vực thuộc Tỉnh Quảng Bình) Việt Nam có diện tích đất liền khoảng 331.698 km² Bên cạnh đó,Việt Nam còn có đường bờ biển dài khoảng 3.260 km , chưa
kể các đảo Ngoài vùng nội thuỷ, Việt Nam sở hữu 12 hải lý lãnh hải (22km) từ đường
cơ sở, cộng thêm 12 hải lý vùng tiếp giáp lãnh hải tính từ lãnh hải, 200 hải lý (370 km) vùng đặc quyền kinh tế tính từ đường cơ sở và cuối cùng là thềm lục địa Như vậy, tổng cộng diện tích vùng biển thuộc chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán của Việt Nam chiếm diện tích khoảng 1.000.000 km² trên vùng biển Đông Trên toàn bộ diện tích Việt Nam, điểm thấp nhất là mặt biển Đông (0m) và điểm cao nhất là đỉnh Phan Xi Păng thuộc dãy núi Hoàng Liên Sơn (3.143 m) Bốn điểm cực của Việt Nam là: Điểm cực bắc trên đất liền nằm ở xã Lũng Cú, huyện Đồng Văn, tỉnh Hà Giang; điểm cực nam nằm ở mũi Rạch Tàu, huyện Ngọc Hiển, tỉnh Cà Mau; điểm cực tây nằm tại A Pa Chải – Tá Miếu, xã Sín Thầu, huyện Mường Nhé, tỉnh Điện Biên và điểm cực đông nằm ở mũi Đôi trên bán đảo Hòn Gốm, vịnh Vân Phong, xã Vạn Thạnh, huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hoà Nếu tính cả quần đảo Trường Sa thì điểm cực đông của Việt Nam hiện đang kiểm soát nằm tại đá Tiên Nữ
Việt Nam có biên giới giáp với vịnh Thái Lan ở phía nam Phía đông, Việt Nam giáp với vịnh Bắc Bộ và biển Đông Phía bắc, Việt Nam có đường biên giới chung với Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa (1.449,566 km) và về phía tây có biên giới với Lào (2067 km) và Campuchia (1137 km)
Trang 36Như vậy, có thể thấy, với vị trí địa lý của khu vực Trung Đông và Việt Nam, việc tăng cường và thúc đẩy hoạt động thương mại hàng hoá là một trong những bước quan trọng để mỗi bên mở rộng thêm quan hệ hợp tác với các nước, các khu vực và châu lục khác trên thế giới Ngoài ra, việc phát triển hoạt động hợp tác thương mại cũng đem lại cho Trung Đông và Việt Nam những thị trường tiềm năng và nguồn thu ngoại tệ quan trọng Vì thế, việc quan tâm và thúc đẩy hơn nữa hoạt động thương mại hàng hoá nói riêng và quan hệ hợp tác kinh tế nói chung nên trở thành một phần của chiến lược phát triển của mỗi bên
2.1.2 Môi trường luật pháp của Việt Nam và khu vực Trung Đông
2.1.2.1.Một số qui định của Việt Nam
Có thể nhận thấy, kể từ khi chính thức gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) năm 2007, môi trường pháp luật của Việt Nam đối với lĩnh vực thương mại quốc tế càng ngày phát triển, tạo thuận lợi cho các hoạt động xuất nhập khẩu của các doanh nghiệp trong và ngoài nước phát triển Đầu tiên phải kể đến là sự cam kết về hàng hóa của Việt Nam dẫn đến nhiều thay đổi Khi gia nhập WTO, Việt Nam cam kết
mở rộng quyền kinh doanh xuất nhập khẩu hàng hóa cho các doanh nghiệp, cá nhân và các nhà đầu tư nước ngoài Các mức thuế quan cũng được cắt giảm, tạo điều kiện cho hoạt động nhập khẩu hàng hóa vào Việt Nam Cụ thể:
Giảm thuế nhập khẩu: Tại thời điểm gia nhập WTO, Việt Nam cam kết cắt giảm thuế nhập khẩu của 3.800 dòng thuế (chủ yếu là các dòng có thuế suất trên 20%), ràng buộc ở mức thuế hiện hành với khoảng 3.700 dòng và ràng buộc mức thuế trần (cao hơn mức thuế suất tại thời điểm đó) với khoảng 3.700 dòng thuế
Theo cam kết về cắt giảm thuế suất của Việt Nam khi gia nhập WTO, Chính phủ đã cho ban hành Thông tư 193/2012/TT-BTC ngày 15 tháng 11 năm 2012 về Biểu khung thuế xuất khẩu, Biểu khung thuế nhập khẩu ưu đãi, trong đó có quy định:
Trang 37- Thay đổi thuế suất của hơn 1000 dòng thuế, trong đó thuế suất của 945 mặt hàng được cắt giảm theo lộ trình cắt giảm thuế theo cam kết WTO năm 2012 (những dòng có mức thuế suất năm 2011 cao hơn mức cam kết WTO năm 2012 nên phải cắt giảm xuống bằng hoặc thấp hơn mức cam kết WTO năm 2012)
- Điều chỉnh giảm thuế nhập khẩu của 87 dòng thuế là các nguyên liệu, vật tư, linh kiện trong nước chưa sản xuất được hoặc để khắc phục bất hợp lý, bảo đảm phù hợp với mức thuế nhập khẩu thành phẩm hoặc mối tương quan với các mặt hàng khác tương tự cùng nhóm Trong số 87 dòng thuế giảm, có 7 dòng thuế có mức giảm từ 1-2%, 80 dòng thuế có mức giảm nhiều hơn
- Điều chỉnh thuế suất do cơ cấu lại số lượng mức thuế suất nhằm đơn giản trong thực hiện Với việc thực hiện cơ cấu lại mức thuế suất, Biểu thuế nhập khẩu ưu
đãi năm 2012 chỉ còn 33 mức (giảm 15 mức so với năm 2011) (Bộ Tài Chính, Những thay đổi của Biểu thuế xuất khẩu, Biểu thuế nhập khẩu ưu đãi áp dụng từ năm 2012)
Việc đưa ra biểu thuế mới đã khiến thị trường nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam mở cửa hơn so với trước khi gia nhập WTO, tạo cơ hội thu hút các nhà nhập khẩu kinh doanh các loại hình hàng hóa, dịch vụ vào Việt Nam Việc đơn giản hóa các mức thuế suất cũng giúp các doanh nghiệp dễ dàng hơn trong việc tiếp cận thị trường Tuy nhiên, việc một loạt các thông tư, nghị định được thông qua nhằm điều chỉnh lại các mức thuế suất của một số các mặt hàng, cũng như việc có sự thay đổi về thuế suất của các mặt hàng trong biểu thuế hằng năm, có thể thấy Luật thuế xuất nhập khẩu hiện nay vẫn mang tính chất luật khung, quy định những điểm cơ bản, tổng quát về các đối tượng điều chỉnh Còn thuế suất hay giá tính thuế lại quy định cụ thể, chi tiết ở những văn bản dưới luật với tính ổn định không cao Đây còn là một yếu điểm của pháp luật
về thuế xuất nhập khẩu ở Việt Nam, vẫn đang được các nhà làm luật nghiên cứu và khắc phục để tăng cường tính cạnh tranh cho môi trường nhập khẩu trong nước cũng như thu hút các doanh nghiệp nước ngoài
Trang 382.1.2.3.Môi trường pháp lý về xuất khẩu tại Trung Đông
Tính đến nay, đã có 5 nước trên tổng số 19 quốc gia Trung Đông gia nhập WTO, gồm: Kuwait, Bahrain, Ai Cập, Qatar, và United Arab Emirates (UAE), và 4 nước hiện tại đang trong quá trình đàm phán để gia nhập tổ chức này Đó là các nước: Saudi Arabia, Jordan, Oman, Lebanon Trong vài năm trở lại đây, cùng với quá trình đàm phán để gia nhập WTO, các nước này cũng đã tiến hành cải cách và thay đổi môi trường pháp luật, tiến tới là đáp ứng các nhu cầu khi trở thành thành viên của tổ chức Nhìn chung, do cùng tham gia vào WTO, luật pháp về xuất nhập khẩu ở các nước này
có nhiều điểm tương đồng, đặc biệt là các quốc gia thuộc Hội đồng Hợp tác vùng Vịnh (GCC) Tổ chức này bao gồm 6 nước thành viên: Kuwait, Bahrain, Ai Cập, Qatar, UAE và Saudi Arabia
2.1.3 Môi trường chính trị của Việt Nam và khu vực Trung Đông
2.1.3.1 Môi trường chính trị của Việt Nam
Từ sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, khi lật đổ nền thống trị của thực dân, phong kiến, Việt Nam đã thiết lập Nhà nước Cộng hòa dân chủ nhân dân đầu tiên ở khu vực Đông Nam Á Hệ thống chính trị hiện nay bao gồm: Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể nhân dân
Bản chất của hệ thống chính trị Việt Nam được quy định bởi các cơ sở nền tảng:
- Chế độ nhất nguyên chính trị với một Đảng duy nhất cầm quyền, lãnh đạo Nhà nước và xã hội trên nền tảng dân chủ xã hội chủ nghĩa
- Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa,
- Liên minh giai cấp giữa công nhân, nông dân, tầng lớp trí thức và khối đại đoàn kết toàn dân tộc
- Cơ sở tư tưởng của hệ thống chính trị là chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh
Trang 39Đặc điểm của hệ thống chính bao gồm: tính nhất nguyên, tính thống nhất, sự gắn bó mật thiết với nhân dân, chịu sự giám sát của nhân dân và có sự kết hợp chặt chẽ giữa tính giai cấp và tính dân tộc
Bắt đầu từ năm 1986 khi triển khai công cuộc Đổi mới kinh tế và chính trị, trong hơn 25 năm qua, môi trường chính trị và xã hội Việt Nam từng bước phát triển theo hướng cởi mở, tạo điều kiện cho nhân dân phát huy vai trò tham gia tích cực hơn Vai trò kiểm tra giám sát của Quốc hội với Chính phủ cũng được nâng cao
2.1.3.2 Môi trường chính trị khu vực Trung Đông
Khu vực Trung Đông gồm 19 quốc gia, với nhiều dân tộc và tôn giáo khác nhau Đây là khu vực có nguồn dầu mỏ dồi dào, vị trí địa lý chiến lược và địa hình kinh tế quan trọng Về đặc điểm chính trị, nhiều nước ở khu vực này theo chế độ quân chủ với
mô hình chính trị chủ yếu và thể chế độc tài, tập quyền và thiếu dân chủ Đây thực chất
là những chế độ quân chủ tuyệt đối và quân chủ lập hiến trong việc cai trị đất nước hay chế độ gia đình trị - cha truyền con nối Phần lớn lãnh đạo tối cao của các quốc gia ở đây đều cầm quyền trong thời gian dài, nhiều nước áp dụng chính sách gia đình trị, cha truyền con nối Đây luôn là khu vực tranh giành ảnh hưởng, quyền lực, cũng như kiểm soát dầu lửa của các nước lớn; và còn là địa bàn trú ẩn, hoạt động của nhiều tổ chức khủng bố như Taliban, Al-Qaeda… Biến động chính trị ở Trung Đông là một làn sóng cách mạng và biểu tình xảy ra ở các nước trong thế giới Arab Hầu hết các cuộc biểu tình đều phát triển về quy mô và tạo thành “hiệu ứng Domino”, nhanh chóng tác động
và lan sang nhiều nước khác trong khu vực, với mục đích: phản đối việc giá lương thực, nhiên liệu tăng; tình trạng thất nghiệp cao; đòi hỏi sửa đổi hiến pháp và bầu cử tự do; chống độc tài, chuyên chế, đấu tranh đòi dân chủ… Bên cạnh đó, ở mỗi nước, cách thức biểu dương lực lượng của người dân cũng như cách thức trấn áp của chính quyền lại có sự khác nhau Chính phủ các nước từ lâu quá dựa dẫm vào sự bảo trợ, chiếc ô an ninh của Mỹ và các nước châu Âu nên đã rất lúng túng trong xử lý tình hình, dẫn đến mắc sai lầm trong đối phó với biểu tình, bạo loạn, khiến đất nước ngày càng lún sâu vào khủng hoảng
Trang 402.1.3.3 Quan hệ chính trị, ngoại giao giữa Việt Nam và Trung Đông:
Những năm gần đây, Việt Nam và các quốc gia khu vực Trung Đông có quan
hệ chính trị, ngoại giao hết sức tốt đẹp Đây cũng là lợi thế quan trọng, giúp ta có được
sự ủng hộ đông đảo của các quốc hữu hảo trên các diễn đàn quốc tế
Giữa Việt Nam và các nước khu vực Trung Đông đã tạo dựng khuôn khổ pháp
lý đầy đủ, tạo cơ sở cho việc hợp tác phát triển giữa hai bên Các cơ chế hợp tác hai bên như Ủy ban hỗn hợp (Ủy ban liên Chính phủ với UAE, Iraq; Ủy ban hỗn hợp với Oman, Quatar, Iran, Saudi Arabia), hợp tác song phương giữa các Bộ, ngành, các tổ chức xúc tiến thương mại
Hiện nay, một số quốc gia Trung Đông đã tham gia và là thành viên WTO, quan
hệ thương mại giũa Việt Nam và các nước này đều chịu sự điều chỉnh các quy định pháp lý nằm trong khuôn khổ WTO
Thời gian qua, hai bên thường xuyên có sự duy trì trao đổi đoàn các cấp, đặc biệt là các đoàn cấp cao Năm 2009, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng đã dẫn đoàn sang thăm các tiểu vương quốc Arab thống nhất (UAE) tháng 2, Kuwait và Qatar tháng 3 Năm 2010, Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết sang thăm Arab Saudi, Tunisia, Algeria tháng 4, đến tháng 6 Chủ tịch nước Nguyễn Thị Doan dẫn đoàn sang Quatar Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân thăm UAE tháng 3 năm 2012
Đồng thời, các đoàn Trung Đông sang thăm và làm việc Việt Nam bao gồm: Bộ trưởng Dầu mỏ và Thông tin Kuwait tháng 4 năm 2008, tháng 9 năm 2010; Bộ trưởng Công thương Kuwait sang tham dự kỳ họp thứ nhất Ủy ban hỗn hợp tháng 12 năm 2009; Quốc vụ khanh Hợp tác quốc tế - kiêm Quyền Bộ trưởng Bộ Kinh doanh và Thương mại Quatar tháng 3 năm 2010; Bộ trưởng Thương mại và Công nghiệp Oman sang dự kỳ họp lần thứ nhất Ủy ban hỗn hợp tháng 1 năm 2011; Bộ trưởng Công thương và Bộ trưởng nông nghiệp Saudi Arabia tháng 3 năm 2011; Bộ trưởng Năng lượng và Công nghiệp Quatar tháng 4 năm 2013; các đoàn của Thủ tướng Kuwait (2007), Thủ tướng Morocco (2008), Tổng thống Palestie (2010), Quốc vương Qatar,