1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

tác động của cam kết gỡ bỏ hàng rào thuế quan của hiệp định tpp tới nông nghiệp việt nam

72 807 6

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 72
Dung lượng 2,05 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nếu như nội dung của GATT - Hiệp định chung về thuế quan và mậu dịch, sau này là Tổ chức WTO chỉ bao hàm thương mại, hàng hóa, dịch vụ, các vấn đề liên quan đến sở hữu trí tuệ và đầu tư

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG

-o0o -

Công trình tham dự Cuộc thi

Sinh viên nghiên cứu khoa học Trường Đại học Ngoại thương 2014

Tên công trình:

TÁC ĐỘNG CỦA CAM KẾT DỠ BỎ HÀNG RÀO THUẾ QUAN CỦA HIỆP

ĐỊNH TPP ĐẾN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

Nhóm ngành: KD2

Hà Nội, tháng 5 năm 2014

Trang 2

MỤC LỤC

LỜI MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ HIỆP ĐỊNH TPP VÀ NHỮNG NỘI DUNG ĐÀM PHÁN LIÊN QUAN ĐẾN NÔNG NGHIỆP 3

1.1 Hiệp định TPP 3

1.1.1 Quá trình hình thành 3

1.1.2 Quá trình đàm phán 6

1.2 Các nội dung đàm phán liên quan đến nông nghiệp 14

1.2.1 Tiếp cận thị trường 14

1.2.2 Cạnh tranh trong nông nghiệp 16

1.2.3 Quyền sở hữu trí tuệ 17

1.2.4 Lao động 17

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HỘI NHẬP CỦA NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM VỚI 11 NƯỚC THÀNH VIÊN TPP VÀ NHỮNG TÁC ĐỘNG SAU KHI CAM KẾT XÓA BỎ THUẾ CỦA TPP CÓ HIỆU LỰC 19

2.1 Thực trạng hội nhập của ngành nông nghiệp Việt Nam với 11 nước thành viên TPP từ năm 2007 19

2.1.1 Thực trạng về chính sách thuế quan đối với xuất nhập khẩu nông sản từ khi Việt Nam gia nhập WTO vào năm 2007 19

2.1.2 Thực trạng xuất nhập khẩu nông sản với 11 nước TPP của Việt Nam từ năm 2007 24 2.2 Tác động của cam kết dỡ bỏ hàng rào thuế quan theo TPP tới xuất nhập khẩu nông sản của Việt Nam 34

2.2.1 Áp dụng mô hình GTAP dự báo tác động 34

2.2.2 Các tác động của cam kết gỡ bỏ hàng rào thuế quan theo hiệp định TPP tới xuất nhập khẩu nông sản của Việt Nam 42

CHƯƠNG 3: ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP ĐÀM PHÁN VÀ HỘI NHẬP NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM SAU KHI TPP CÓ HIỆU LỰC 49

3.1 Mục tiêu và quan điểm hội nhập của nông nghiệp Việt Nam khi tham gia TPP 49 3.1.1 Mục tiêu thúc đẩy thương mại quốc tế 49

Trang 3

3.1.2 Tạo động lực thúc đẩy năng lực cạnh tranh 50 3.1.3 Củng cố quan hệ vs một số nước đối tác lớn 51 3.2 Đề xuất giải pháp đàm phán và hội nhập nông nghiệp Việt Nam 51 3.2.1 Về phía chính phủ: 51 3.2.2 Về phía doanh nghiệp 56 KẾT LUẬN 61

Trang 4

DANH MỤC BẢNG BIỂU, HÌNH VẼ

Bảng 2.1 Cơ cấu cam kết về thuế đối với hàng nông sản của Việt

Bảng 2.2 Biểu CLX - Phần I – Danh mục các nhượng bộ và cam

kết về hàng hoá - Thuế suất tối huệ quốc hàng nông sản 22

Bảng 2.3 Tình hình xuất khẩu lúa gạo của Việt Nam sang các

Trang 5

TPP từ 2007 đến 2011

Bảng 2.14 Thay đổi giá trị xuất khẩu của Việt Nam với các nước

Bảng 2.15 Thay đổi giá trị nhập khẩu của Việt Nam với các nước

Hình 2.1 Giá trị xuất khẩu thủy sản năm 2011 30

Hình 2.2 Sự thay đổi sản lượng nông sản và lao động sau khi

Hình 2.3 Sự thay đổi giá trị xuất khẩu nông sản của Việt Nam 42

Hình 2.4 Sự thay đổi giá trị nhập khẩu nông sản của Việt Nam 42

Hình 2.5 Sản lượng gạo Việt Nam giai đoạn 2006 - 2011 45

Trang 6

LỜI MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương TPP tuy vẫn đang trong quá trình đàm phán nhưng đã được kì vọng sẽ đưa ra một khuôn khổ thương mại toàn diện, một hiệp định thương mại tự do của Thế kỷ XXI So với các hiệp định thương mại của thế kỷ XX, tiêu biểu như trong khuôn khổ Tổ chức Thương mại Thế giới WTO, các nội dung đàm phán của TPP có phạm vi rộng hơn nhiều Nếu như nội dung của GATT - Hiệp định chung về thuế quan và mậu dịch, sau này là Tổ chức WTO chỉ bao hàm thương mại, hàng hóa, dịch vụ, các vấn đề liên quan đến sở hữu trí tuệ và đầu tư thì Hiệp định TPP còn mở rộng sang cả những vấn đề phi thương mại như vấn đề lao động, môi trường, mua sắm chính phủ, vấn đề doanh nghiệp nhà nước… Ngoài ra, mức độ tự do trong cam kết thương mại cũng cao hơn so với các hiệp định thương mại trước đây Tại Hiệp định TPP, nội dung đàm phán không chỉ là cắt giảm thuế và hàng rào phi thuế mà tiến tới không còn rào cản đáng kể về thuế quan, phi thuế quan, các điều kiện gia nhập, hoạt động trên thị trường cho hàng hóa, dịch

vụ giữa các nước thành viên Tuy mới bắt đầu đàm phán vào năm 2010, Hiệp định TPP đã thu hút sự tham gia của những nền kinh tế lớn như Hoa Kỳ, Nhật Bản, Australia, trở thành khu vực kinh tế hơn 790 triệu dân, chiếm 40% GDP và 1/3 thương mại toàn cầu

Trong khuôn khổ Hiệp định TPP, nhiều nội dung đàm phán có liên quan đến ngành nông nghiệp, trong đó có vấn đề thuế quan đối với sản phẩm nông nghiệp Cam kết

về thuế quan là một trong những nội dung chủ đạo, được xác định làm cam kết nền của Hiệp định: Cắt giảm hầu hết các dòng thuế (ít nhất 90%) giữa các nước thành viên TPP Cam kết này được dự báo có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với mặt hàng xuất khẩu chủ đạo của Việt Nam là nông sản Năm 2012, Việt Nam xuất khẩu hơn 8 triệu tấn lúa gạo, đứng thứ hai thế giới sau Ấn Độ Xuất khẩu cà phê – niên

vụ 2012-2013 đạt hơn 20 triệu tấn, đứng thứ hai thế giới sau Brazil Nhiều nước tham gia Hiệp định TPP là đối tác thương mại hàng đầu của Việt Nam, trong đó,

Trang 7

Mỹ - kim ngạch nhập khẩu từ Việt Nam 9 tháng đầu năm 2013 đạt hơn 17 tỉ đô la,

và Nhật Bản – kim ngạch nhập khẩu từ Việt Nam cùng thời kì đạt gần 10 tỉ đô la, là hai nhà nhập khẩu lớn nhất Bên cạnh đó, Việt Nam cũng nhập khẩu một số mặt hàng nông nghiệp từ các nước trong TPP, trong đó Australia là nhà xuất khẩu lúa

mỳ lớn nhất (kim ngạch 9 tháng đầu năm 2013 đạt hơn 300 triệu USD), Hoa Kỳ là nhà xuất khẩu sữa và các sản phẩm từ sữa lớn nhất ( kim ngạch 9 tháng đầu năm

146 triệu USD)

Trong bối cảnh đó, việc Hiệp định TPP chính thức có hiệu lực chắc chắn sẽ có tác động to lớn đến hoạt động xuất nhập khẩu sản phẩm nông nghiệp của Việt Nam Tuy nhiên, những tác động sẽ là tích cực hay tiêu cực đối với ngành nông nghiệp Việt Nam? Đó hiện vẫn là một câu hỏi cần được giải đáp Chính vì vậy, nhóm tác giả quyết định chọn đề tài “Tác động của cam kết gỡ bỏ hàng rào thuế quan của Hiệp định TPP tới nông nghiệp Việt Nam” làm công trình nghiên cứu

2 Mục tiêu nghiên cứu

- Nghiên cứu Hiệp định TPP và những nội dung đàm phán liên quan đến nông nghiệp, đặc biệt là nội dung tiếp cận thị trường, hàng rào thuế quan

- Phân tích thực trạng hội nhập của nông nghiệp Việt Nam với 11 nước thành viên còn lại của TPP

- Dự báo tác động của cam kết dỡ bỏ hàng rào thuế quan trong TPP đến ngành nông nghiệp Việt Nam

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là Hiệp định TPP với các nội dung liên quan tới thuế quan áp dụng với sản phẩm nông nghiệp (mã HS từ 1 đến 24) và ngành nông nghiệp Việt Nam Phạm vi nghiên cứu được xác định trong khoảng thời gian từ năm 2007 đến nay

4 Phương pháp nghiên cứu

Để tiến hành nghiên cứu đề tài này, nhóm tác giả lựa chọn phương pháp nghiên cứu chính là phương pháp định lượng – sử dụng mô hình GTAP đánh giá tác động của

Trang 8

Hiệp định TPP tới quá trình hội nhập của nông nghiệp Việt Nam Ngoài ra, bài nghiên cứu còn sử dụng phương pháp đối chiếu, so sánh – so sánh số liệu về thực trạng hội nhập nông nghiệp Việt Nam qua các năm, so sánh quan hệ thương mại giữa Việt Nam với 11 nước thành viên TPP; phương pháp so sánh luật học – so sánh những thay đổi giữa chính sách hiện tại của Việt Nam với các cam kết của TPP và phương pháp phân tích, tổng hợp – dựa vào kết quả định lượng để tổng hợp những tác động của Hiệp định TPP tới nông nghiệp Việt Nam

5 Bố cục

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, Danh mục bảng biểu,

đề tài được chia thành 3 chương:

Chương 1 Tổng quan về Hiệp định TPP và những nội dung đàm phán liên quan đến nông nghiệp

Chương 2 Thực trạng hội nhập của nông nghiệp Việt Nam với 11 nước thành viên TPP và những tác động sau khi TPP có hiệu lực

Chương 3 Đề xuất giải pháp hội nhập nông nghiệp Việt Nam sau khi TPP có hiệu lực

Mặc dù đã hết sức cố gắng, song do hạn chế về kiến thức cũng như những khó khăn trong thu thập tài liệu, đề tài không tránh khỏi nhiều thiếu sót Vì vậy, bài nghiên cứu rất mong nhận được ý kiến đóng góp của các thầy cô để được hoàn thiện hơn

Hà Nội ngày 1 tháng 5 năm 2014

Nhóm tác giả

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ HIỆP ĐỊNH TPP VÀ NHỮNG NỘI DUNG

ĐÀM PHÁN LIÊN QUAN ĐẾN NÔNG NGHIỆP

Trang 9

Doha (DDA) hết lần này đến lần khác không thể đạt đến thỏa thuận theo đúng tiến

độ Sau nhiều vòng đàm phán từ năm 2001 đến năm 2008, đàm phán đã tiến đến gần đích nhất tại Hội nghị Bộ trưởng WTO thu hẹp tại Geneva vào tháng 7 năm

2008 nhưng cuối cùng vẫn thất bại do không thể thỏa thuận được một số vấn đề then chốt về nông nghiệp Năm 2009, tiến trình đàm phán Doha lại gặp những trở ngại lớn do Hoa Kỳ thay đổi bộ máy chính quyền nhà nước và không tham gia thực chất vào tiến trình đàm phán, cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ toàn cầu khiến nền kinh tế chao đảo Năm 2010, tình hình đàm phán có một số chuyển biến tích cực, tuy nhiên mục tiêu kết thúc đàm phán cũng đã không thể thực hiện do những mâu thuẫn lợi ích phức tạp giữa Hoa Kỳ và các nước đang phát triển chủ chốt như Trung Quốc, Ấn Độ, Brazil

Sự kéo dài quá lâu của đàm phán Doha khiến niềm tin vào hệ thống thương mại đa phương bị lung lay, đồng thời xu hướng kí kết các thỏa thuận thương mại song phương và khu vực ngày càng trở nên phổ biến trong khu vực châu Á-Thái Bình Dương Từ năm 2000 đến năm 2011, số lượng các hiệp định thương mại được kí kết giữa các nền kinh tế APEC tăng từ 4 lên 39 hiệp định, mạng lưới đối tác mở rộng từ khối các nước Đông Nam Á (ASEAN) đến Khu vực Mậu dịch Tự do Đông

Á (EAFTA) (bao gồm ASEAN, Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc), Khuôn khổ Hợp tác Kinh tế Toàn diện Đông Á (CEPEA) (mở rộng thêm Australia, Ấn Độ và New Zealand)

Tuy đã có nhiều hiệp định khu vực được kí kết nhưng hầu hết mới bó hẹp trong phạm vi nội khối APEC Một số quốc gia châu Á đã thiết lập quan hệ đối tác với Hoa Kỳ, các nước châu Âu và châu Mỹ Latinh nhưng chưa hề có một khuôn khổ thương mại nào rõ ràng bao trùm quan hệ hội nhập xuyên Thái Bình Dương

b Quá trình hình thành

Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương TPP khởi nguồn từ Hiệp định Đối tác kinh tế chiến lược xuyên Thái Bình Dương (Trans-Pacific Strategic Economic Partnership Agreement – còn gọi là TPP4 hay P4) một Hiệp định thương mại tự do

Trang 10

giữa 4 nước Singapore, Chile, New Zealand, Brunei được kí kết ngày 3/6/2005, có hiệu lực từ 28/5/2006 P4 được đánh giá là một Hiệp định thương mại thuộc thế hệ thứ Ba 1, bao trùm phạm vi khá rộng với những cam kết tương đối mạnh về thuế quan, thuận lợi hóa thương mại hàng hóa và dịch vụ, cạnh tranh thương mại, đầu tư,

sở hữu trí tuệ, giải quyết tranh chấp thương mại

Năm 2007, Hoa Kỳ bày tỏ ý định tham gia vào đàm phán mở rộng hiệp định này, đặc biệt ở các lĩnh vực dịch vụ tài chính, đầu tư; đồng thời cũng bắt đầu tiến hành nghiên cứu, tham vấn nội bộ với các nhóm lợi ích và Nghị viện về ý định gia nhập đàm phán Tháng 9/2008, Văn phòng đại diện thương mại Hoa Kỳ (USTR) thông báo quyết định của Hoa Kỳ chính thức tham gia đàm phán P4 mở rộng Từ đây, P4 bắt đầu trở thành một chủ đề nóng trong tiến trình tự do hóa thương mại quốc tế, nhận được sự quan tâm đặc biệt của các nền kinh tế trên thế giới

Tháng 11 cùng năm, các nước Australia, Peru và Việt Nam cũng bày tỏ sự quan tâm và tham gia đàm phán TPP, nâng tổng số thành viên tham gia lên 8 nước Cũng từ thời điểm này, đàm phán mở rộng P4 được đặt tên lại là đàm phán Hiệp định Đối tác Xuyên Thái Bình Dương (TPP)

Tháng 12/2009, sau khi Hoa Kỳ hoàn thành kỳ bầu cử Tổng thống và Chính quyền mới của Tổng thống Obama tham vấn và xem xét lại việc tham gia đàm phán TPP, USTR thông báo quyết định của ông Obama về việc Hoa Kỳ tiếp tục tham gia TPP Đàm phán TPP lúc này mới được chính thức khởi động Tổng thống Barack Obama cam kết Hoa Kỳ sẽ cùng các nước TPP hướng tới mục tiêu “hình thành một hiệp định khu vực xứng đáng là hiệp định thương mại của Thế kỷ 21” (The Trans-Pacific Partnership Negotiations and Issues for Congress, 2013)

Tháng 10/2010, các nước đàm phán đã nhất trí cho Malaysia chính thức tham gia vào TPP, nâng tổng số nước tham gia đàm phán lên thành 9 nước

1 FTA thế hệ thứ nhất tập trung ở việc tự do hóa lĩnh vực thương mại hàng hóa (cắt giảm thuế quan, loại bỏ các rào cản phi thuế quan); FTA thế hệ thứ hai mở rộng phạm vi tự do hóa sang các lĩnh vực dịch vụ nhất định (xóa bỏ các điều kiện tiếp cận thị trường trong các lĩnh vực dịch vụ liên quan); FTA thế hệ thứ ba tiếp tục mở rộng phạm vi tự

do về dịch vụ, đầu tư Theo Trung tâm WTO

Trang 11

Ngày 12/11/2011, cuộc họp cấp cao các thành viên TPP đã diễn ra tại thành phố Honolulu, bang Hawaii của Hoa Kỳ Tham dự cuộc họp có các nhà lãnh đạo 9 nước thành viên gồm Australia, Brunei, Chile, New Zealand, Malaysia, Peru, Singapore, Hoa Kỳ và Việt Nam Tổng thống Hoa Kỳ Barack Obama chủ trì cuộc họp Tại đây, cuộc họp đã thông qua “Tuyên bố của các nhà lãnh đạo thành viên Hiệp định Đối tác kinh tế xuyên Thái Bình Dương”, công bố khung tổng thể các điều khoản của Hiệp định Cũng tại đây, Canada, Nhật Bản và Mexico chính thức bày tỏ mong muốn gia nhập đàm phán, các nước TPP đều tán thành điều này Trong nhiều tháng sau đó, các thành viên hiện tại đã tiến hành nhiều cuộc đàm phán song phương với các nước này về mức độ sẵn sàng vào khả năng họ có thể duy trì tham vọng và tốc

độ của các cuộc đàm phán (Phạm Thị Hồng Yến, 2012) Các thành viên TPP đã nhất trí sự tham gia của Mexico và Canada vào tháng 6/2012 Hai nước này bắt đầu tham gia với tư cách là thành viên đàm phán từ vòng đám phán thứ 15 vào tháng 12/2012 tại Auckland, New Zealand

Tháng 3 - 2013, thủ tướng Shinzo Abe bày tỏ nguyện vọng của Nhật Bản tham gia vào đàm phán Quốc gia này đã chính thức trở thành thành viên thứ 12 của Hiệp định TPP vào những ngày cuối cùng của vòng đàm phán thứ 18 tại Malaysia vào tháng 7 năm 2013

Sự tham gia của Nhật Bản đã nâng tổng số nước tham gia đàm phán lên con số 12, bao gồm nền kinh tế lớn nhất thế giới (Hoa Kỳ) và một khu vực có tốc độ phát triển thương mại cũng như tự do hóa thương mại thuộc bậc nhất thế giới (châu Á – Thái Bình Dương), trở thành khu vực kinh tế hơn 790 triệu dân, chiếm 40% GDP và 1/3 thương mại toàn cầu (Trung tâm thông tin tư liệu – Viện nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương, 2013)

1.1.2 Quá trình đàm phán

Vòng đàm phán đầu tiên tại Melbourne, Australia từ 15-19/3/2010

Vòng đàm phán đầu tiên có sự tham gia của 8 đối tác, bao gồm Australia, Brunei, Chile, New Zealand, Peru, Singapore, Hoa Kỳ và Việt Nam

Trang 12

Tại đây, các nước trao đổi về phạm vi điều chỉnh của đàm phán để đạt đến một khuôn khổ đàm phán tốt nhất Đồng thời, các thành viên cũng nhấn mạnh mục tiêu hội nhập khu vực, tăng tính cạnh tranh, minh bạch, hỗ trợ các nền kinh tế đang phát triển và các doanh nghiệp vừa và nhỏ

Ngoài ra, một số vấn đề khác cũng được đưa ra thảo luận như cách tiếp cận các trở ngại liên quan đến dịch vụ, thương mại điện tử, công nghệ xanh, vấn đề mở rộng đối tác đàm phán tới các nước khác trong khu vực châu Á-Thái Bình Dương, có bao gồm quy trình xem xét, bổ sung thành viên mới

Vòng đàm phán thứ 2 tại San Francisco, Hoa Kỳ từ 14-18/6/2010

Tại đây, các nước thỏa thuận về cấu trúc của hiệp định, về mối quan hệ giữa TPP

và các FTAs khác hiện có Theo đó, các thành viên quyết định các hiệp định song

phương giữa các nước sẽ tiếp tục tồn tại song song với TPP

Vấn đề tiếp cận thị trường bắt đầu được đưa vào thảo luận Các nước cũng thống nhất các vấn đề quan trọng của Thế kỷ XXI như sự tham gia của các doanh nghiệp nhỏ, giảm thủ tục hải quan, thống nhất pháp lý, tăng tính cạnh tranh, tính minh bạch, quan tâm đến các nước đang phát triển

Bên cạnh đó, đàm phán tiếp tục các vấn đề truyền thống của FTA, tập trung vào các quy định về thương mại và lao động, thương mại và môi trường Cuối đàm phán, các nước thành viên cùng nhau thống nhất chương trình làm việc tại vòng đàm phán thứ ba

Vòng đàm phán thứ 3 tại Brunei từ 4-9/10/2010

So với các vòng đàm phán trước, vòng đàm phán thứ 3 có thêm sự tham gia của Malaysia Tại vòng đàm phán này, các nước bắt đầu soạn thảo các điều khoản, tiếp tục cam kết mở rộng thành viên, thảo luận về các vấn đề hàng hóa công nghiệp, nông nghiệp, các tiêu chuẩn, dịch vụ, đầu tư , dịch vụ ngân hàng, sở hữu trí tuệ, mua sắm chính phủ, cạnh tranh, lao động và môi trường Một số vấn đề được đưa ra

từ các vòng trước tiếp tục được đàm phán tại vòng này như về mục tiêu và phương pháp tiếp cận thị trường, về các cam kết nền về các vấn đề nổi bật Thế kỷ XXI

Trang 13

Song song với tiến trình đàm phán, các nước còn tổ chức toạ đàm hỗ trợ kỹ thuật cho các vấn đề vệ sinh dịch tễ, lao động và môi trường liên quan đến thương mại

Vòng đàm phán thứ 4 tại Auckland, New Zealand từ 6-10/12/2010:

Tại vòng đàm phán thứ 4, các nhóm đàm phán bắt đầu đạt được bản nội dung dự thảo cho các điều khoản Cũng từ đây, Việt Nam lần đầu tiên tham gia đàm phán với tư cách thành viên đầy đủ

24 nhóm đàm phán khẩn trương làm việc, đạt được nội dung dự thảo cho các điều khoản, dự định công bố tại Hội nghị các nhà lãnh đạo APEC ở Honolulu vào tháng 11/ 2011

Ngoài ra, đàm phán cũng đạt được tiến bộ ở các cam kết nền như thúc đẩy hội nhập thông qua chuỗi cung ứng, thống nhất hệ thống pháp lý, tạo ra một “hiệp định sống” có thể thích nghi với sự thay đổi của môi trường kinh doanh, tăng cường hỗ trợ kỹ thuật

100 đại diện từ các nhóm doanh nghiệp, tổ chức phi chính phủ và các viện từ các nước TPP tham gia diễn đàn bên lề vòng đàm phán

Vòng đàm phán thứ 5 tại Santiago, Chile:

Tại vòng đàm phán thứ 5, Các bản đề xuất từ các nhóm đàm phán được hợp nhất thành Dự thảo, thu hẹp khoảng cách trên cơ sở cân nhắc lợi ích và quan ngại của mỗi bên Các nhóm đàm phán cũng trao đổi nội dung tiếp cận thị trường đối với hàng hóa, thảo luận về một hệ thống quy tắc xuất xứ TPP tối ưu Đặc biệt, Australia thúc đẩy việc xóa bỏ thuế, tăng hiệu quả quy tắc xuất xứ trong khu vực

Ngoài ra, các nước cũng trao đổi nội dung về tiếp cận thị trường đối với dịch vụ, đầu tư và mua sắm chính phủ trước vòng đàm phán tới Đàm phán còn tiếp tục các cam kết nền, tập trung vào tăng tính cạnh tranh, tăng cường sự tham gia của doanh nghiệp vừa và nhỏ, tăng hiệu quả chuỗi cung ứng, sự gắn kết giữa các hệ thống pháp luật giữa các nước, đồng thời cũng tiếp tục tiếp nhận các ý kiến bình luận của các doanh nghiệp, nhóm dân sự và các bên liên quan

Trang 14

Vòng đàm phán thứ 6 tại Singapore:

Vòng đàm phán thứ 6 thảo luận bản dự thảo hiện tại, đồng thời cũng tiếp tục các đề xuất mới Các bên trao đổi danh sách các đề xuất, ý kiến sửa đổi bản dự thảo về tiếp cận thị trường, đạt được thỏa thuận về quy tắc xuất xứ đối với một số sản phẩm cụ thể Ngoài ra, các nước trao đổi dự thảo về vấn đề tiếp cận thị trường đối với dịch

vụ, đầu tư và mua sắm chính phủ, thực hiện cơ sở “chọn bỏ” (negative list) – một thực tiễn chưa từng xảy ra đối với một số nước TPP Australia đưa ra dự thảo, phản ánh mức độ và chế độ thương mại, đầu tư thông thoáng đồng thời vẫn đảm bảo thẩm quyền chính phủ Song song với các thỏa thuận mới, vòng đàm phán cũng tiếp tục các cam kết nền và tổ chức một số hoạt động bên lề như diễn đàn bên lề tại Singapore, tọa đàm về lao động

Vòng đàm phán thứ 7 tại TP Hồ Chí Minh, Việt Nam từ 15-24/6/2011

Vòng đàm phán thứ 7 tập trung hơn vào nội dung mở cửa thị trường, bao gồm: về

mở cửa thị trường hàng hóa, thảo luận các bản chào về thuế quan và quy tắc xuất xứ; Về lĩnh vực dịch vụ, đầu tư và mua sắm chính phủ, có sự khác biệt đáng kể về mức độ mở cửa của các bản chào

Bên cạnh đó, đàm phán cũng tiếp tục thảo luận các cam kết nền Các bên nhấn mạnh vấn đề phát triển, coi trọng việc đảm bảo rằng hiệp định sẽ giúp thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các nước

Tại diễn đàn bên lề vào ngày 19/6, các bên liên quan từ các nước TPP thể hiện sự quan tâm đặc biệt đến một số vấn đề như sự công bằng trong thương mại, vấn đề cắt giảm thuế và loại bỏ rào cản đối với một số sản phẩm Cuối vòng đàm phán, các nước thống nhất một số vấn đề sẽ đưa vào đàm phán tại vòng thứ tám tại Hoa

Kỳ vào tháng 9/2011

Vòng đàm phán thứ 8 tại Chicago, Hoa Kỳ từ 6-15/9/2011

Các bên đã bước đầu xác định được mức độ cam kết và tiêu chuẩn đặt ra trong nhiều lĩnh vực đàm phán, đạt tiến bộ trong củng cố và thu hẹp vị thế giữa các bên đàm phán

Trang 15

Đặc biệt, đàm phán đã đạt được những bước tiến quan trọng trong các vấn đề Hải quan, Kiểm dịch động thực vật (SPS), Hàng rào kĩ thuật trong thương mại (TBT), Viễn thông và Mua sắm chính phủ Các vấn đề như doanh nghiệp vừa và nhỏ, tính cạnh tranh, tính chặt chẽ pháp lý được đưa vào thảo luận chi tiết Các nước cũng đề xuất các bản chào mới về môi trường, sở hữu trí tuệ (trong đó có điều khoản về thuốc tân dược do Hoa Kỳ đề xuất) và tính minh bạch Về vấn đề tiếp cận thị trường hàng hóa, từng bản chào được đưa ra thảo luận Australia tiếp tục đề xuất một hệ thống cam kết hàng hóa và quy tắc xuất xứ dễ hiểu Về tiếp cận thị trường dịch vụ, đầu tư, mua sắm chính phủ, các bên xem xét chi tiết những biện pháp không phù hợp trong bản chào của từng quốc gia

Tại vòng này, các diễn đàn bên lề tiếp tục được tổ chức vào ngày 10/9/2011, thu hút

250 đơn vị tham gia thuộc khu vực tư nhân, các nhóm ngành công nghiệp và các tổ chức xã hội dân sự với hơn 60 bài trình bày

Vòng đàm phán thứ 9 tại Lima, Peru từ 18-28/10/2011

Các bên tiếp tục đàm phán và tiến tới hoàn thành một số chương Cho đến đây, hầu hết các vấn đề đã được đưa ra thảo luận Vòng đàm phán đã đạt được nhiều tiến triển mới về các vấn đề Vệ sinh và Dịch tễ (SPS), Rào cản kỹ thuật đối với thương mại (TBT), Quy định về nguồn gốc xuất xứ (ROOs) Các bên cũng dự kiến sửa đổi các bản chào về tiếp cận thị trường dựa trên kết quả thảo luận, đưa ra thảo luận các

đề xuất về một số vấn đề phức tạp và nhạy cảm, trong đó có sở hữu trí tuệ và tính minh bạch

Vòng đàm phán thứ 10 tại Kuala Lumpur, Malaysia từ 5-9/12/2011

Vòng đàm phán thứ 10 đạt được khung đàm phán, thảo luận con đường đi đến kết thúc đàm phán Chỉ có một vài nhóm đàm phán làm việc suốt tuần, chỉ đàm phán về các vấn đề nguồn gốc xuất xứ, dịch vụ, đầu tư và sở hữu trí tuệ Lãnh đạo các nước tuyên bố đã đạt được một hiệp định khung TPP, khẳng định cam kết về một FTA toàn diện, đồng thời yêu cầu các nhóm đàm phán đẩy nhanh tiến độ Cũng tại đây, Nhật Bản, Canada và Mexico chính thức bày tỏ mong muốn tham gia vào TPP

Trang 16

Vòng đàm phán thứ 11 tại Melbourne, Australia từ 1 – 9/3/2012

Các bên tiếp tục thảo luận về tất cả các lĩnh vực đã được đưa ra tại các vòng đàm phán trước Tại vòng đàm phán lần này có 200 nhà đàm phán từ 9 nước thành viên tham dự Đàm phán đã đạt được tiến triển đáng kể ở các vấn đề như thống nhất pháp luật, minh bạch, cạnh tranh và tạo điều kiện cho kinh doanh, lợi ích của các doanh nghiệp vừa và nhỏ, và phát triển

Vòng đàm phán thứ 12 tại Dallas, Texas, Hoa Kỳ từ 8 – 18/5/2012

Vòng đàm phán đã đạt được những tiến triển ngoài dự kiến Các nước tham gia TPP đã đàm phán xong các vấn đề về các doanh nghiệp vừa và nhỏ, tiến đến kết thúc đàm phán về các vấn đề chung như vấn đề xung đột pháp luật, tăng cường chuỗi cung ứng hàng hóa giữa các quốc gia TPP, và thúc đẩy sự phát triển chung của khu vực 9 quốc gia tham gia đàm phán đã có những trao đổi quan trọng xung quanh đề xuất của Hoa Kỳ về vấn đề doanh nghiệp nhà nước, một nội dung mới và đầy thách thức được đưa ra nhằm thiết lập các quy định để đảm bảo rằng các doanh nghiệp nhà nước sẽ phải cạnh tranh bình đẳng với các doanh nghiệp tư nhân Ngoài ra, 9 quốc gia TPP cũng đã tiếp tục cố gắng đàm phán về các gói thuế quan đầy tham vọng mà có thể giúp các quốc gia này tiếp cận thị trường của nhau trên các lĩnh vực dệt may, nông nghiệp và công nghiệp Các quốc gia TPP cũng thảo luận về các cam kết cụ thể trong việc tự do hóa các dịch vụ riêng biệt của từng quốc gia và về tự do hóa cthị trường mua sắm chính phủ

Vòng đàm phán thứ 13 tại San Francisco, California, Hoa Kỳ

Các nhóm đàm phán đã đạt được tiến bộ quan trọng trong các vấn đề như hải quan, dịch vụ xuyên biên giới, truyền thông, đầu tư công, chính sách cạnh tranh, hợp tác

và xây dựng năng lực Thêm vào đó, đàm phán cũng đã đạt được nhiều thỏa thuận liên quan đến các vấn đề nguyên tắc xuất xứ hàng hóa, đầu tư, dịch vụ tài chính, tạm nhập tái xuất…

Hoa Kỳ đã đệ trình một bản đề xuất mới về sở hữu trí tuệ liên quan đến các hạn chế

và ngoại lệ đối với bản quyền Đồng thời, Hoa Kỳ đã tổ chức một diễn đàn bên lề

Trang 17

vòng đàm phán cho hơn 300 bên liên quan bao gồm đại diện của các ngành, các tổ chức phi chính phủ, các nhà nghiên cứu và công chúng tham gia thảo luận và trình bày quan điểm của họ trước các nhà đàm phán

Vòng đàm phán thứ 14 tại Leesburg, Virginia, Hoa Kỳ từ 6 – 15/9/2012

Các nhóm đàm phán đã đạt được những tiến triển ở một loạt các chương như tiếp cận thị trường, hải quan, nguồn gốc xuất xứ, rào cản kỹ thuật đối với thương mại, các tiêu chuẩn vệ sinh dịch tễ, dịch vụ xuyên biên giới, truyền thông, mua sắm chính phủ và các vấn đề khác

Ngoài ra, các tiến triển cũng đạt được trong việc hình thành biểu thuế và các cam kết mở cửa thị trường cụ thể khác đối với hàng hóa công nghiệp, nông nghiệp, dệt may, dịch vụ và đầu tư, và mua sắm chính phủ 9 nước đàm phán cũng tiếp tục tập trung vào các vấn đề quan trọng từ sở hữu trí tuệ đến lao động và môi trường và các chủ đề khác nhằm giải quyết những vấn đề chính mà các nhà sản xuất, nhà cung cấp dịch vụ, người nông dân và chủ trang trại gặp phải trong thế kỷ 21

Vòng đàm phán thứ 15 tại Auckland, New Zealandtừ 4 – 13/3/2013

Vòng đàm phán thứ 15 có sự tham gia của 2 thành viên mới là Mexico và Canada Tại đây, các nước đã nỗ lực để kết thúc đàm phán về lời văn đối với 29 chương của hiệp định bao gồm tất cả các vấn đề liên quan đến thương mại và đầu tư Các tiến

bộ cũng đạt được trong đàm phán về hàng hóa, dịch vụ và đầu tư, mua sắm chính phủ Các nhà lãnh đạo của 11 nước TPP đã nhất trí mở cửa thị trường toàn diện cho hàng hóa và dịch vụ của nhau ở tất cả các lĩnh vực

Vòng đàm phán thứ 16 tại Singapore từ 4 – 13/3/2013

Tại vòng này, các vấn đề như hải quan, viễn thông, hài hòa pháp lý và phát triển đã hoàn thành đàm phán Một trong những vấn đề then chốt cần được giải quyết giữa Việt nam và Hoa Kỳ là hàng dệt may và đã có một vài dấu hiệu tích cực trong vòng đàm phán này USTR đã đưa ra định nghĩa về “nguồn cung ngắn hạn (short – supply)” cho quy tắc xuất xứ nghiêm ngặt “từ sợi trở đi” (yarn – forward) đối với dệt may mà Hoa Kỳ đề xuất trước đó Về phía mình, Việt nam ít nhất cũng thể hiện

Trang 18

việc “sẵn sàng xem xét” hướng tiếp cận này Việt Nam thể hiện rõ ràng mong muốn được tìm hiểu kỹ càng hơn về những ngoại lệ này để xem đó có phải là một “hướng

đi tốt” hay không

Về vấn đề tiếp cận thị trường nói chung, Hoa Kỳ và Việt Nam vẫn chưa đạt được một tiến triển đáng kể nào Một lĩnh vực đàm phán khó khăn khác – bao gồm Sở hữu trí tuệ (IP), doanh nghiệp nhà nước (SOEs), bảo vệ môi trường và tiếp cận thị trường hàng hóa – tại vòng đàm phán Singapore lần này chỉ đạt được những kết quả hết sức khiêm tốn

Vòng đàm phán thứ 17 tại Lima, Peru từ 15 – 24/5/2013

Theo thống kê, số lượng đại biểu thuộc khu vực tư nhân, các tổ chức phi chính phủ, các tổ chức công đoàn và các học giả lên đến hơn 300 người Các nước đã thảo luận những nội dung còn tồn tại trong nhiều lĩnh vực và đạt được tiến bộ đáng kể trong các chương như các biện pháp vệ sinh và kiểm dịch động thực vật , phòng vệ thương mại, thương mại điện tử, dịch vụ xuyên biên giới, quy tắc xuất xứ, pháp lý

và thể chế

Vòng đàm phán thứ 18 tại Kuala Lumpur, Malaysia từ 15 – 25/7/2013

Ngày 23/7/2013, Nhật Bản đã chinh thức trở thành thành viên thứ 12 tham gia đàm phán Hiệp định TPP Trong 2 ngày cuối cùng của phiên đàm phán, Nhật Bản đã tỏ

ra sẵn sàng và tích cực tham gia vào quá trình đàm phán

Tại phiên này, 13 nhóm đàm phán đã thảo luận các lĩnh vực đầu tư, danh mục bảo lưu các biện pháp không tương thích trong dịch vụ và đầu tư, cạnh tranh, mở cửa thị trường hàng hóa, quy tắc xuất xứ, hàng rào kỹ thuật trong thương mại, dịch vụ tài chính, thương mại điện tử, di chuyển thể nhân, sở hữu trí tuệ, môi trường, mua sắm chính phủ, và các vấn đề về pháp lý và thể chế

Các nước tiếp tục đạt được nhiều tiến bộ trong việc giải quyết các vấn đề kỹ thuật tại hầu hết các nhóm và thu hẹp sự khác biệt trong các vấn đề khó, hướng tới việc sớm kết thúc một số lĩnh vực Đối với các nội dung còn nhiều thách thức như sở hữu trí tuệ, môi trường và doanh nghiệp nhà nước, các nước cũng đang cố gắng tìm

Trang 19

các giải pháp thích hợp để thúc đẩy đàm phán Riêng đối với lĩnh vực mở cửa thị trường đối với các sản phẩm công nghiệp, nông nghiệp và dệt may, các nước đã thống nhất một chương trình làm việc cụ thể để thúc đẩy đàm phán, hướng tới mục tiêu tự do hóa một cách toàn diện

Vòng đàm phán thứ 19 tại Bandar Seri Begawan, Brunei từ 22 – 31/8/2013

Theo lịch trình đàm phán đã được công bố tại địa điểm đàm phán thì nhóm IPR họp

từ ngày 22-30/8, trong khi nhóm tiếp cận thị trường họp từ ngày 22-28/8 Các nhóm đàm phán khác bao gồm nhóm Quy tắc xuất xứ diễn ra từ ngày 23-28/8, Môi trường từ ngày 26-30/8, Đầu tư từ ngày 24-28/8, Dịch vụ tài chính từ ngày 25-28/8,

và Mua sắm chính phủ từ ngày 22-24/8

Một vấn đề vẫn chưa giải quyết được trong chương IPR là thời gian bảo hộ độc quyền dữ liệu cho dược phẩm sinh học cũng như các quy định chung về quyền sở hữu trí tuệ trong ngành dược Theo nguồn tin kinh tế thì thảo luận về SOE dường như cuối cùng cũng đạt được một số tiến triển, một phần vì Hoa Kỳ và Australia –

2 nước ủng hộ việc đưa vào các quy tắc về SOE - đang thu hẹp sự khác biệt về nội dung các quy định này

Về tiếp cận thị trường, Hoa Kỳ và các nước TPP khác ngoại trừ Nhật Bản đã cam kết sẽ tiếp tục đàm phán về các đề xuất thuế quan cho cả những sản phẩm nhạy cảm nhất của các nước này trong những tuần và tháng tới để đáp ứng các thời hạn đề ra

1.2 Các nội dung đàm phán liên quan đến nông nghiệp

Hiệp định TPP bao gồm 29 chương, trong đó những nội dung liên quan đến nông nghiệp không được quy định riêng trong một chương nào mà được đề cập qua các chương

1.2.1 Tiếp cận thị trường

a Thuế và hạn ngạch

Đối với thương mại hàng hóa, lộ trình cắt bỏ thuế quan sẽ được áp dụng cho tất cả các mặt hàng, tương đương khoảng hơn 11000 dòng thuế Cụ thể, ngay sau khi Hiệp định TPP có hiệu lực, các nước thành viên sẽ cắt giảm 90% các dòng thuế về

Trang 20

mức 0, 8-9% còn lại sẽ được giảm về 0 trong vòng 7-10 năm, 1-2% sẽ chỉ được đưa

về 0 sau một thời gian dài Bốn mặt hàng nông nghiệp nhạy cảm gây nhiều bất đồng khi đàm phán về cắt giảm thuế là các sản phẩm từ sữa, đường, gạo và thịt bò Đối với thương mại dịch vụ, việc xóa bỏ thuế quan sẽ được áp dụng cho phần lớn các dòng thuế, trừ các hạng mục có tên trong danh sách loại trừ đã được thỏa thuận giữa các bên Tuy nhiên, mức độ tự do hóa thương mại dịch vụ trong Hiệp định TPP sẽ không thấp hơn so với mức mà các nước thành viên đã cam kết với WTO hoặc đa số các FTA và RTA khác mà các nước này đã kí kết

b Quy tắc xuất xứ

Do quy tắc xuất xứ trong mỗi FTA được kí kết trước TPP có sự khác nhau nên các bên đàm phán không dễ dàng đưa ra được một bộ quy tắc thống nhất cho Hiệp định TPP Tuy nhiên, các thành viên TPP đã nhất trí các quy tắc xuất xứ này sẽ phải khách quan, minh bạch và dễ dự đoán Các bên đàm phán cũng đã chấp thuận áp dụng nguyên tắc cộng gộp xuất xứ nội vùng cho tất cả các loại hàng hóa Nguyên tắc này cho phép các nước TPP tính gộp giá trị nguyên liệu được sản xuất từ những nước TPP khác và sản phẩm cuối cùng vẫn được coi là sản phẩm nội khối, bao gồm

cả trường hợp sản phẩm đó đến từ một nước TPP gia công thêm hay được thêm giá trị gia tăng từ một nước thứ hai Tuy nhiên, một tranh luận còn tồn tại đó là có chấp nhận hay không một hàm lượng không đáng kể của nguyên liệu không có xuất xứ

từ nước TPP nhưng sản phẩm cuối cùng vẫn được hưởng ưu đãi theo TPP

c Thủ tục hải quan

Về cơ bản, các nội dung đàm phán của TPP phù hợp với các tiêu chuẩn của Tổ chức Hải quan thế giới và có xu hướng đơn giản hóa thủ tục hải quan để tạo thuận

lợi cho doanh nghiệp (Tổng cục Hải quan Việt Nam) TPP đánh giá cao cơ chế xác

nhận trước về mã số HS, trị giá và xuất xứ hàng hóa Đặc biệt, đối với hàng chuyển phát nhanh, các thành viên TPP đề xuất những ưu tiên riêng biệt về giảm thời gian thông quan và thủ tục hành chính do đặc tính của hàng hóa Tuy nhiên, vấn đề về chứng nhận xuất xứ hàng hóa khi thông quan còn gây tranh cãi với hai quan điểm

Trang 21

khác nhau: một là, người xuất khẩu tự khai báo xuất xứ trên chứng từ thương mại sau đó chuyển cho người nhập khẩu để được hưởng ưu đãi; hai là, cho phép cả người nhập khẩu tự khai báo xuất xứ hàng hóa mà không cần xuất trình chứng nhận

do người xuất khẩu cấp, sau đó người nhập khẩu phải chịu mọi trách nhiệm nếu có gian lận hoặc sai sót về khai báo

d Hàng rào kỹ thuật trong thương mại (TBT)

Các bên đàm phán TPP mong muốn xây dựng FTA Hoa Kỳ - Hàn Quốc như một

mô hình mẫu cho điều khoản TBT trong Hiệp định TPP Các quy định TBT trong FTA này tuân theo các quy định của WTO, song được mở rộng hơn vì nó cho phép các nước đối tác được góp ý, bổ sung các quy tắc, tiêu chuẩn và việc thi hành các quy tắc, tiêu chuẩn đó Hơn nữa, các nhà đàm phán TPP còn yêu cầu điều khoản TBT thêm vào phụ lục cho từng lĩnh vực cụ thể để đảm bảo sự hài hòa trong quy định ở những ngành then chốt Các cam kết trong điều khoản này sẽ bao gồm thời hạn áp dụng, qui trình đánh giá, các tiêu chuẩn quốc tế, bộ máy hành chính và sự công khai minh bạch

e Tiêu chuẩn vệ sinh dịch tễ (SPS)

Về cơ bản, tiêu chuẩn vệ sinh dịch tễ trong đàm phán TPP được dựa trên thỏa thuận

về vệ sinh dịch tễ trong khuôn khổ WTO Thỏa thuận đó nhằm bảo đảm các quy định về an toàn thực phẩm và chất lượng động, thực vật của các nước thành viên phải minh bạch, khoa học và công bằng Hơn thế, các thành viên TPP đã lập ra bản thảo SPS với các cam kết chi tiết hơn liên quan đến các vấn đề về sức khỏe con người và an toàn động, thực vật mà chưa được quy định trong WTO Tính đến tháng 5/2013, nội dung về tiêu chuẩn vệ sinh dịch tễ đã được các thành viên TPP chấp thuận Vấn đề chính còn tồn đọng là sự bất đồng giữa các bên khi đàm phán

về cơ chế áp dụng các tiêu chuẩn và giải quyết tranh chấp phát sinh giữa các nước TPP

1.2.2 Cạnh tranh trong nông nghiệp

Trang 22

Theo đề xuất của Australia và New Zealand, quy định về cạnh tranh xuất khẩu nông nghiệp trong TPP sẽ được trích dẫn từ các quy tắc đã được đề ra trong vòng đàm phán Doha năm 2008 về việc sử dụng tài trợ xuất khẩu và viện trợ lương thực quốc tế Bản dự thảo đó quy định các nước phát triển xóa bỏ trợ cấp xuất khẩu, cắt bớt tín dụng xuất khẩu và nêu ra các trường hợp có thể áp dụng viện trợ lương thực Tuy nhiên, Hoa Kỳ phản đối đề xuất này và cho rằng vấn đề viện trợ lương thực không thể được đưa vào Hiệp định TPP

1.2.3 Quyền sở hữu trí tuệ

Được xây dựng dựa trên các điều khoản TRIPS của WTO nhưng quy định về Sở hữu trí tuệ trong TPP bao quát sâu rộng hơn Nó gồm các nội dung liên quan đến nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý, quyền tác giả, bằng sáng chế, bí mật kinh doanh, việc thực thi quyền sở hữu trí tuệ, nguồn gen và tri thức truyền thống Trong lĩnh vực nông nghiệp, đề xuất của Hoa Kỳ yêu cầu bảo hộ cho cả thực vật, động vật và các phương pháp phòng ngừa, chẩn đoán, chữa bệnh cho cả người và động vật Như vậy, việc sử dụng giống cây trồng, vật nuôi sẽ phụ thuộc vào sự cho phép và phải trả phí cho chủ sở hữu Chương Sở hữu trí tuệ trong TPP được dự đoán là sẽ gây nhiều bất lợi cho các doanh nghiệp hoạt động về dược phẩm và nông hóa phẩm

1.2.4 Lao động

Chương Lao động trong hiệp định TPP bao gồm các cam kết về bảo vệ quyền lao động dựa trên quy định của Tổ chức lao động quốc tế, đồng thời đảm bảo cơ chế hợp tác, phối hợp và đối thoại những vấn đề lao động có ảnh hưởng chung Đây cũng là một chương gây nhiều tranh cãi khi đàm phán bởi các nước phát triển đưa

ra các tiêu chuẩn rất cao về lao động, gây khó khăn và cản trở khả năng cạnh tranh của các nước có thu nhập thấp Từ cuối tháng 12 năm 2011, Hoa Kỳ đã đưa ra bản

đề nghị với các đối tác TPP về vấn đề lao động Ngoài những yêu cầu về mức lương tối thiểu, thời gian làm việc, sức khỏe và an toàn cho người lao động, một nội dung quan trọng của bản đề nghị là chặn và buộc trả lại toàn bộ hàng xuất khẩu được làm bởi lao động trẻ em, đồng thời các nước phải có luật lao động áp dụng

Trang 23

cho các khu chế xuất Nếu nội dung này được chấp nhận đưa vào TPP thì đây sẽ là trở ngại lớn cho những làng nghề truyền thống của Việt Nam, với những sản phẩm được làm ra theo quy mô hộ gia đình có sự tham gia của trẻ em nông thôn

Trang 24

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HỘI NHẬP CỦA NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM VỚI 11 NƯỚC THÀNH VIÊN TPP VÀ NHỮNG TÁC ĐỘNG SAU KHI CAM

KẾT XÓA BỎ THUẾ CỦA TPP CÓ HIỆU LỰC

2.1 Thực trạng hội nhập của ngành nông nghiệp Việt Nam với 11 nước thành viên TPP từ năm 2007

2.1.1 Thực trạng về chính sách thuế quan đối với xuất nhập khẩu nông sản từ khi Việt Nam gia nhập WTO vào năm 2007

a Áp dụng thuế quan với các nước thành viên WTO (Nguyên tắc Tối huệ quốc)

Ngày 11/1/2007, Việt Nam trở thành thành viên chính thức của Tổ chức Thương mại Thế giới WTO, sau 11 năm tiến hành hàng loạt các cuộc đàm phán song phương, đa phương, tham vấn cũng như các cải cách mạnh mẽ trong nước nhằm đáp ứng điều kiện gia nhập tổ chức này Việc tham gia vào một tổ chức thương mại mang tính toàn cầu đã mang lại những cơ hội lớn để nền nông nghiệp Việt Nam đẩy mạnh toàn cầu hóa, mở rộng thị trường xuất khẩu nông sản ra thế giới Tuy nhiên, đây đồng thời cũng là những thách thức không nhỏ về cạnh tranh, một mặt để bảo

vệ ngành sản xuất nội địa, một mặt để vượt qua những rào cản kỹ thuật khắt khe để

có thể thâm nhập vào thị trường các nước phát triển

Tham gia WTO cũng đồng nghĩa với việc phải thực hiện các cam kết gia nhập WTO mà Việt Nam đã kí kết, đặc biệt là điều chỉnh chính sách thương mại quốc tế.Thương mại nông sản vốn có đặc thù là một lĩnh vực được bảo hộ cao trong chính sách thương mại của các quốc gia, cũng là vấn đề gây nhiều tranh cãi giữa các nước phát triển và các nước đang phát triển Chính vì vậy, tại WTO, các nguyên tắc về thương mại quốc tế đối với sản phẩm nông nghiệp được đặc biệt chú trọng nhằm thúc đẩu quá trình mở cửa thị trường nông sản tại các nước thành viên Các nguyên tắc này được quy định tại Hiệp định nông nghiệp (Điều 4, 5 và Phụ lục 5) và Hiệp định chung về Thuế quan và Thương mại hàng hóa (GATT), bao gồm

Trang 25

các quy định về thuế quan và phi thuế quan, tuân theo hai nguyên tắc cơ bản là nguyên tắc Tối huệ quốc (MFN) và nguyên tắc Đối xử quốc gia (NT)

Việt Nam sau khi trở thành thành viên chính thức của WTO đã đưa ra mức thuế cam kết tối đa được phép áp dụng đối với 100% số dòng thuế hàng nông sản nhập khẩu

Theo công bố của Bộ tài chính, sau khi gia nhập WTO, Việt Nam cam kết cắt giảm 10,6% thuế nhập khẩu MFN so với trước khi gia nhập, lộ trình thực hiện từng 3 đến

5 năm Mức thuế cam kết bình quân là 25,2% vào thời điểm gia nhập và 21,0 vào cuối lộ trình

Các loại nông sản chế biến (như thịt, sữa, rau quảchế biến, thực phẩm chế biến, quả

ôn đới, và quả có múi) (các sản phẩm này vào thời điểm đàm phán đang áp dụng mức thuế suất nhập khẩu cao) phải cắt giảm khá nhiều Trong khi đó, thuế nhập khẩu các loại nông sản thô (như gạo, cà phê, cao su, hạt tiêu, hạt điều…) cắt giảm rất ít hoặc không thay đổi

Bảng 2.1: Cơ cấu cam kết về thuế đối với hàng nông sản của Việt Nam

Trang 26

Chi tiết những điều chỉnh về thuế suất của từng mặt hàng được thể hiện cụ thể tại Biểu CLX - Phần I – Danh mục các nhượng bộ và cam kết về hàng hoá - Thuế suất

tối huệquốc hàng nông sản

Bảng 2.2: Biểu CLX - Phần I – Danh mục các nhượng bộ và cam kết về hàng

hoá - Thuế suất tối huệ quốc hàng nông sản

Nguồn: Bản dịch của Bộ Tài Chính

b Chính sách thuế quan theo các FTA khác

Gia nhập ASEAN từ năm 1995, Việt Nam thực hiện chính sách thuế quan với các nước thành viên ASEAN khác theo Hiệp định ưu đãi thuế quan có hiệu lực chung (CEPT) Theo đó, các mặt hàng nhập khẩu vào Việt Nam được chia thành hai nhóm chính:

 Nhóm các mặt hàng cắt giảm và xóa bỏ thuế quan: Nhóm này bao gồm hầu hết các mặt hàng, thực hiện lộ trình giảm thuế từ năm 1996, đến năm 2006 xuống mức 0 – 5% và xóa bỏ vào năm 2015 Một số mặt hàng được linh hoạt đến năm

Trang 27

2018 Sản phẩm nông nghiệp, cùng với 8 lĩnh vực hàng hóa khác, bao gồm gỗ và sản phẩm gỗ, ô tô, cao su, dệt may, thuỷ sản, điện tử, công nghệ thông tin, y tế (thiết bị, thuốc men) được xếp vào mặt hàng được ưu tiên hội nhập Theo đó, thuế suất cho các mặt hàng này được xóa bỏ sớm, tức vào năm 2012 thay vì 2015 theo lộ trình chung

 Nhóm hàng nông sản nhạy cảm: Gồm 89 dòng thuế, bao gồm các mặt hàng nông sản chưa chế biến, như một số loại gạo, đường, hoa quả, thực phẩm Đối với những mặt hàng này, Việt Nam có quyền duy trì đánh thuế, chỉ phải cắt giảm theo

lộ trình từ năm 2004 xuống mức thuế cao nhất là 5% vào năm 2013

Ngoài ra, một số mặt hàng được đưa vào Danh mục loại trừ khỏi CEPT – Danh mục GEL Đây là những mặt hàng được các nước liệt vào danh mục mang tính bảo

hộ nhằm mục đích bảo vệ sức khỏe con người, giá trị văn hóa, đạo đức, an ninh quốc phòng

Trong những năm gần đây, nhằm tiến tới mục tiêu thực hiện tự do hóa hoàn toàn, các nước ASEAN thực hiện rà soát danh mục GEL và đưa vào cắt giảm thuế đối với những mặt hàng không phù hợp Cụ thể, Việt Nam từ năm 2005 đến nay đã chuyển nhiều mặt hàng từ GEL về danh mục cắt giảm thuế như:các thiết bị truyền phát, đồ uống có cồn (rượu, bia) và ô tô, xe máy

Theo mô hình giảm thuế của Hiệp định Thương mại Hàng hoá ASEAN-Ấn Độ, biểu thuế của các nước được chia thành hai loại danh mục:

 Các mặt hàng xóa bỏ thuế: Gồm 80% số dòng thuế cấp độ HS 6 chữ số trong biểu thuế nhập khẩu Trong số này, 71% số dòng thuế được đưa về mức 0%, 9% giảm theo lộ trình và về 0% vào năm 2021

 Các mặt hàng nhạy cảm: Gồm 20% số dòng thuế cấp độ HS 6 chữ số Các mặt hàng nhạy cảm này được chia thành 3 nhóm:

o Danh mục nhạy cảm thường (SL): gồm 310 dòng thuế, cắt giảm xuống 5% vào năm 2021, trong đó 4% số dòng thuế được xóa bỏ vào năm 2024

Trang 28

o Danh mục nhạy cảm cao (HSL): gồm 244 dòng thuế, cắt giảm về mức 25 – 30%

o Danh mục loại trừ hoàn toàn: Gồm 485 dòng thuế HS 6 số, không phải cam kết cắt giảm thuế

Hiệp định bắt đầu đàm phán từ năm 2005 và kết thúc vào cuối năm 2008 Theo đó, cam kết thuế quan của Việt Nam được chia thành Danh mục chính:

 Danh mục thông thường: chiếm 90% số dòng thuế, tiến tới giảm 90% vào năm 2020 Ngoài ra, Việt Nam cũng cam kết đưa mức thuế về 0% vào năm 2016 cho một số sản phẩm mà Australia và Niu Di - lân đặc biệt quan tâm như thịt bò, thịt cừu, sữa nguyên liệu, sản phẩm sữa, gỗ ván dăm…

 Danh mục nhạy cảm thường: chiếm 6% số dòng thuế, giảm dần về mức 5% vào năm 2022

 Danh mục nhạy cảm cao: chiếm 3% số dòng thuế, được duy trì mức thuế suất cao (giữ nguyên hoặc giảm 20-50% vào năm 2022)

Cam kết thuế quan trong Hiệp định ASEAN – Hàn Quốc bắt đầu được thực hiện từ năm 2007 Theo đó, danh mục thuế của Việt Nam cũng được phân loại thành Danh mục thông thường, Danh mục nhạy cảm thường và Danh mục nhạy cảm cao

 Danh mục thông thường: Gồm 90% số dòng thuế - 8 909 mặt hàng theo HS

10 số, thực hiện lộ trình cắt giảm từ năm 2007, đến năm 2016 xóa bỏ hoàn toàn, một số mặt hàng được linh hoạt đến năm 2018

 Danh mục nhạy cảm thường: Gồm 855 mặt hàng, cam kết giảm xuống 20% vào năm 2017 và xuống 5% vào năm 2021

 Danh mục nhạy cảm cao: Gồm 1 282 mặt hàng, áp dụng các biện pháp khác nhau như: giảm 20 – 50% thuế, áp dụng hạn ngạch thuế quan hoặc loại trừ tối đa 40 dòng thuế

Trang 29

Khu vực Mậu dịch Tự do ASEAN – Trung Quốc (ACFTA)

Theo Hiệp định Thương mại Hàng hoá ASEAN-Trung Quốc, việc cắt giảm thuế quan của Việt Nam được chia thành 3 danh mục hàng hóa: Danh mục thu hoạch sớm, Danh mục thông thường và Danh mục nhạy cảm

 Chương trình thu hoạch sớm (EHP): Gồm hầu hết các mặt hàng nông sản từ Chương 1 đến Chương 8 trong Biểu thuế xuất nhập khẩu, lộ trình cắt giảm được thực hiện từ năm 2004, xóa bỏ thuế vào năm 2008

 Danh mục thông thường: Gồm 0% số dòng thuế, thực hiện cắt giảm từ năm

2006, cắt giảm hoàn toàn vào năm 2015

 Danh mục nhạy cảm: Gồm 388 nhóm mặt hàng theo HS 6 số Đối với những mặt hàng này, Hiệp định không quy định lộ trình cắt giảm cụ thể nhưng có cam kết thời hạn thực hiện mức cắt giảm cuối cùng Cụ thể, các mặt hàng nhạy cảm thường cắt giảm về 0 – 5% vào năm 2020, các mặt hàng nhạy cảm cao cắt giảm về 50% vào năm 2018

Hiệp định đối tác kinh tế toàn diện Việt Nam - Nhật Bản (EPA)

 Danh mục thông thường: Gồm 75,2% số dòng thuế, trong đó xóa bỏ ngay đối với 27,5% và xóa bỏ theo lộ trình đến năm 2019 đối với 40,3% số dòng thuế

 Danh mục nhạy cảm thường: Chiếm 0,6% số dòng thuế, giảm xuống mức 5% vào năm 2024

 Danh mục nhạy cảm cao: Chiếm 0,8 số dòng thuế, giảm về mức 50% vào năm 2025

 Danh mục không xóa bỏ thuế quan: 2% duy trì ở mức thuế cơ sở trong suốt

cả lộ trình, 0,02% được đàm phán sau 5 năm thực hiện

 Danh mục loại trừ: chiếm 4,6% số dòng thuế

2.1.2 Thực trạng xuất nhập khẩu nông sản với 11 nước TPP của Việt Nam từ năm 2007

Trang 30

a Thực trạng xuất nhập khẩu nông sản Việt Nam chia theo các nhóm mặt hàng

Nguồn: Nhóm tác giả tự tổng hợp dựa trên số liệu của TCTK

Năm 2011, tổng giá trị xuất khẩu gạo của Việt Nam sang 11 nước TPP đã lên tới khoảng hơn 500 triệu USD, tăng hơn 3 lần so với năm 2007 (khoảng 160 triệu USD) Tuy nhiên, con số này vẫn rất nhỏ khi so sánh với tổng giá trị xuất khẩu gạo của Việt Nam năm 2011 là hơn 3,6 tỷ đô la Sở dĩ có sự khác biệt này là bởi dù trong 11 nước thành viên TPP có đến 2 nước nằm trong top 4 nước nhập khẩu gạo hàng đầu của Việt Nam (Ma-lay-xi-a và Singapore), các nước còn lại đều không nhập khẩu nhiều gạo từ Việt Nam, một số nước không tìm được số liệu như Chile

Trang 31

Nguồn: Tổng cục thống kê Việt Nam

Bảng 2.5: Tình hình xuất khẩu hạt tiêu của Việt Nam sang các nước TPP từ

Trang 32

Bảng 2.6: Tình hình xuất khẩu cao su của Việt Nam sang các nước TPP từ

2007 đến 2011 (đơn vị: nghìn USD)

Nguồn: Tổng cục thống kê Việt Nam

Bảng 2.7: Tình hình xuất khẩu rau, hoa quả của Việt Nam sang các nước TPP

Trang 33

Bảng 2.8: Tình hình xuất khẩu cà phê của Việt Nam sang các nước TPP từ

Nguồn: Tổng cục thống kê Việt Nam

Từ bảng 2.4 đến 2.8, có thể thấy rõ Hoa Kỳ là nước nhập khẩu nhiều nhất trong số các nước TPP các loại cây trồng, rau quả như cao su, cà phê, hạt tiêu, hạt điều, … Một số nước cũng có lượng nhập khẩu tương đối lớn các sản phẩm này từ Việt Nam bao gồm Australia (hạt điều), Malaysia (cao su), Nhật Bản (rau quả, cà phê) Một số nước như Peru, Chile, Brunei không có nhiều quan hệ thương mại với Việt Nam

Thủy sản

Thủy sản chứng minh vai trò chủ đạo của mình trong nền nông nghiệp Việt Nam khi đạt tổng giá trị xuất khẩu hơn 6,5 tỷ USD vào năm 2011 Trong đó các nước TPP đã nhập tới gần một nửa (khoảng 2,8 tỷ USD) Hoa Kỳ và Nhật Bản là những nhà nhập khẩu chính khi mỗi nước đã nhập tới hơn 1 tỷ USD thủy sản từ Việt Nam

Trang 34

Bảng 2.9: Tình hình xuất khẩu thủy sản của Việt Nam sang các nước TPP từ

Nguồn: Tổng cục thống kê

Từ bảng 2.9 có thể thấy, xuất khẩu thủy sản của Việt Nam sang các nước TPP có

xu hướng chung là đều tăng qua các năm từ 2007 đến 2011 Trong giai đoạn này, Hoa Kỳ và Nhật Bản luôn là hai thành viên TPP nhập khẩu lớn nhất các mặt hàng thủy sản của Việt Nam, tiếp theo là Úc, Canada và Mexico Riêng trong năm 2011, tổng giá trị xuất khẩu thủy sản của nước ta là hơn 6,5 tỷ USD, trong đó các nước TPP đã nhập tới gần một nửa (khoảng 2,8 tỷ USD) Đặc biệt, Hoa Kỳ và Nhật Bản đều nhập khẩu hơn 1 tỷ USD thủy sản từ Việt Nam 5 nước nhập khẩu lớn nhất trong khối TPP về mặt hàng này chiếm tới 94% tổng lượng nhập của của khối từ Việt Nam trong năm 2011 (Xem hình 2.1)

Hình 2.1: Giá trị xuất khẩu thủy sản sang các nước TPP năm 2011

Trang 35

Nguồn: Nhóm tác giả tổng hợp dựa trên số liệu Bảng 2.9

Lúa mì:

Nguồn cung lúa mì chủ yếu của Việt Nam đến từ hai quốc gia là Hoa

Kỳ và Australia, trong đó Australia là đối tác lớn nhất khi xuất khẩu số lượng lúa

mì trị giá hơn 700 nghìn USD sang Việt Nam vào năm 2011

Bảng 2.10: Tình hình nhập khẩu lúa mì của Việt Nam từ một số nước TPP từ

Bảng 2.11: Tình hình nhập khẩu thức ăn gia súc của Việt Nam từ các nước

TPP từ 2007 đến 2011 (đơn vị: nghìn USD)

Trang 36

Bảng 2.12: Tình hình nhập khẩu bông xơ của Việt Nam từ các nước TPP từ

Ngày đăng: 09/10/2014, 08:10

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
14. Nguyễn Thị Thu Trang, 2014. Trung tâm WTO – VCCI, Hiệp định Đối tác Xuyên Thái Bình Dương (TPP) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Thị Thu Trang, 2014. Trung tâm WTO – VCCI
15. Trung tâm WTO, Đàm phán TPP và những tiết lộ gây rung động, Bản tin Doanh nghiệp và chính sách thương mại Quốc tế, Số 17, Quý IV/2013 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đàm phán TPP và những tiết lộ gây rung động
16. Trung tâm WTO, Việt Nam và Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương TPP, Bản tin Doanh nghiệp & Chính sách Thương mại Quốc tế, Số 5 Quý IV năm 2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam và Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương TPP
17. Phạm Thị Hồng Yến, 2012. Hiệp định TPP và những tiến bộ đạt được qua các vòng đàm phán, Tạp chí Kinh tế Đối ngoại – Đại học Ngoại Thương, Số 52 (Tháng 6/2012).Tài liệu tiếng Anh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiệp định TPP và những tiến bộ đạt được qua các vòng đàm phán
Tác giả: Phạm Thị Hồng Yến
Nhà XB: Tạp chí Kinh tế Đối ngoại – Đại học Ngoại Thương
Năm: 2012
2. Deborah Elms and C.L. Lim, The Trans-Pacific Partnership Agreement (TPP) Negotiations: Overview and Prospects, RSIS Working Paper, No. 232 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The Trans-Pacific Partnership Agreement (TPP) Negotiations: Overview and Prospects
3. Deborah Kay Elms, The Trans-Pacific Partnership Trade Negotiations: Some outstanding issues for the final stretch Sách, tạp chí
Tiêu đề: The Trans-Pacific Partnership Trade Negotiations: Some outstanding issues for the final stretch
Tác giả: Deborah Kay Elms
4. Faculty Fellow, RIETI, Estimating the TPP's Expected Growth Effects, Policy Update 048 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Estimating the TPP's Expected Growth Effects
Tác giả: Faculty Fellow, RIETI
Nhà XB: Policy Update
5. Fred Burke, 2013. Trans-Pacific Partnership – Overview and Quantitative Assessment Sách, tạp chí
Tiêu đề: Fred Burke, 2013
6. Gerard Malcolm, 1998. Adjusting Tax Rates in the GTAP Data Base, GTAP Technical Paper No.12 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Gerard Malcolm, 1998
7. Ian F. Fergusson and Bruce Vaughn, 2011. The Trans-Pacific Partnership Agreement, Congression Research Service Sách, tạp chí
Tiêu đề: The Trans-Pacific Partnership Agreement
8. Ian F. Fergusson, Coordinator, William H. Cooper, Remy Jurenas và Brock R. Williams, 2013. The Trans-Pacific Partnership Negotiations and Issues for Congress, Congression Research Service Sách, tạp chí
Tiêu đề: The Trans-Pacific Partnership Negotiations and Issues for Congress
9. Jeffrey J. Schott, 2012. Understanding the Trans-Pacific Partnership Sách, tạp chí
Tiêu đề: Understanding the Trans-Pacific Partnership
Tác giả: Jeffrey J. Schott
Năm: 2012
11. Perterson Institute for International Economics, 2012. Sticky Points in the TPP Negotiations Sách, tạp chí
Tiêu đề: Perterson Institute for International Economics, 2012
12. Peter A. Petri – Michael G. Plummer, and Fan Zhai, 2011. Trans-Pacific Partnership and Asia – Pacific Integration: A Quantitative Assessment, Economic Series, No.119 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trans-Pacific Partnership and Asia – Pacific Integration: A Quantitative Assessment
13. Peter A. Petri and Michael G. Plummer, 2012. The Trans-Pacific Partnership and Asia-Pacific Integration: Policy Implications, Peterson Institute for International Economics, Page 12 – 16 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The Trans-Pacific Partnership and Asia-Pacific Integration: Policy Implications
Tác giả: Peter A. Petri, Michael G. Plummer
Nhà XB: Peterson Institute for International Economics
Năm: 2012
14. Terrie L. Walmsley - Angel H. Aguiar - Badri Narayanan, 2012. Introduction to the Global Trade Analysis Project and the GTAP Data Base, GTAP Working Paper No.67 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Introduction to the Global Trade Analysis Project and the GTAP Data Base
Tác giả: Terrie L. Walmsley, Angel H. Aguiar, Badri Narayanan
Nhà XB: GTAP Working Paper
Năm: 2012
15. United Nations ESCAP, From P4 to TPP - Explaining Expansion Interests in the Asia Pacific.WEBSITE Sách, tạp chí
Tiêu đề: From P4 to TPP - Explaining Expansion Interests in the Asia Pacific
Tác giả: United Nations ESCAP
Nhà XB: WEBSITE
10. Ken Pearson – Mark Horridge, 2005. Hands-on computing with RunGTAP and WinGem to introduce GTAP and GEMPACK Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1: Cơ cấu cam kết về thuế đối với hàng nông sản của Việt Nam - tác động của cam kết gỡ bỏ hàng rào thuế quan của hiệp định tpp tới nông nghiệp việt nam
Bảng 2.1 Cơ cấu cam kết về thuế đối với hàng nông sản của Việt Nam (Trang 25)
Bảng 2.2: Biểu CLX - Phần I – Danh mục các nhượng bộ và cam kết về hàng - tác động của cam kết gỡ bỏ hàng rào thuế quan của hiệp định tpp tới nông nghiệp việt nam
Bảng 2.2 Biểu CLX - Phần I – Danh mục các nhượng bộ và cam kết về hàng (Trang 26)
Bảng 2.4: Tình hình xuất khẩu hạt điều của Việt Nam sang các nước TPP từ - tác động của cam kết gỡ bỏ hàng rào thuế quan của hiệp định tpp tới nông nghiệp việt nam
Bảng 2.4 Tình hình xuất khẩu hạt điều của Việt Nam sang các nước TPP từ (Trang 30)
Bảng 2.5: Tình hình xuất khẩu hạt tiêu của Việt Nam sang các nước TPP từ - tác động của cam kết gỡ bỏ hàng rào thuế quan của hiệp định tpp tới nông nghiệp việt nam
Bảng 2.5 Tình hình xuất khẩu hạt tiêu của Việt Nam sang các nước TPP từ (Trang 31)
Bảng 2.7: Tình hình xuất khẩu rau, hoa quả của Việt Nam sang các nước TPP - tác động của cam kết gỡ bỏ hàng rào thuế quan của hiệp định tpp tới nông nghiệp việt nam
Bảng 2.7 Tình hình xuất khẩu rau, hoa quả của Việt Nam sang các nước TPP (Trang 32)
Bảng 2.6: Tình hình xuất khẩu cao su của Việt Nam sang các nước TPP từ - tác động của cam kết gỡ bỏ hàng rào thuế quan của hiệp định tpp tới nông nghiệp việt nam
Bảng 2.6 Tình hình xuất khẩu cao su của Việt Nam sang các nước TPP từ (Trang 32)
Bảng 2.8: Tình hình xuất khẩu cà phê của Việt Nam sang các nước TPP từ - tác động của cam kết gỡ bỏ hàng rào thuế quan của hiệp định tpp tới nông nghiệp việt nam
Bảng 2.8 Tình hình xuất khẩu cà phê của Việt Nam sang các nước TPP từ (Trang 33)
Bảng 2.9: Tình hình xuất khẩu thủy sản của Việt Nam sang các nước TPP từ - tác động của cam kết gỡ bỏ hàng rào thuế quan của hiệp định tpp tới nông nghiệp việt nam
Bảng 2.9 Tình hình xuất khẩu thủy sản của Việt Nam sang các nước TPP từ (Trang 34)
Hình 2.1: Giá trị xuất khẩu thủy sản sang các nước TPP năm 2011 - tác động của cam kết gỡ bỏ hàng rào thuế quan của hiệp định tpp tới nông nghiệp việt nam
Hình 2.1 Giá trị xuất khẩu thủy sản sang các nước TPP năm 2011 (Trang 34)
Bảng 2.10: Tình hình nhập khẩu lúa mì của Việt Nam từ một số nước TPP từ - tác động của cam kết gỡ bỏ hàng rào thuế quan của hiệp định tpp tới nông nghiệp việt nam
Bảng 2.10 Tình hình nhập khẩu lúa mì của Việt Nam từ một số nước TPP từ (Trang 35)
Bảng 2.12: Tình hình nhập khẩu bông xơ của Việt Nam từ các nước TPP từ - tác động của cam kết gỡ bỏ hàng rào thuế quan của hiệp định tpp tới nông nghiệp việt nam
Bảng 2.12 Tình hình nhập khẩu bông xơ của Việt Nam từ các nước TPP từ (Trang 36)
Bảng 2.13: Tình hình nhập khẩu sữa của Việt Nam từ các nước TPP từ 2007 - tác động của cam kết gỡ bỏ hàng rào thuế quan của hiệp định tpp tới nông nghiệp việt nam
Bảng 2.13 Tình hình nhập khẩu sữa của Việt Nam từ các nước TPP từ 2007 (Trang 37)
Bảng 2.14: Thay đổi giá trị xuất khẩu của Việt Nam với các nước - tác động của cam kết gỡ bỏ hàng rào thuế quan của hiệp định tpp tới nông nghiệp việt nam
Bảng 2.14 Thay đổi giá trị xuất khẩu của Việt Nam với các nước (Trang 43)
Bảng 2.15: Thay đổi giá trị nhập khẩu của Việt Nam với các nước theo giả - tác động của cam kết gỡ bỏ hàng rào thuế quan của hiệp định tpp tới nông nghiệp việt nam
Bảng 2.15 Thay đổi giá trị nhập khẩu của Việt Nam với các nước theo giả (Trang 44)
HÌNH 2.3 :SỰ THAY ĐỔI VỀ GIÁ TRỊ XUẤT  KHẨU NÔNG SẢN CỦA VIỆT NAM (%) - tác động của cam kết gỡ bỏ hàng rào thuế quan của hiệp định tpp tới nông nghiệp việt nam
HÌNH 2.3 SỰ THAY ĐỔI VỀ GIÁ TRỊ XUẤT KHẨU NÔNG SẢN CỦA VIỆT NAM (%) (Trang 46)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w