Sự cần thiết và ý nghĩa của đề tài Xuất khẩu hàng hóa có ý nghĩa quan trọng và ngày càng đóng góp to lớn cho sự tăng trưởng kinh tế của các quốc gia, tác động tích cực đến cán cân thanh
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
-o0o -
Công trình tham dự Cuộc thi
Sinh viên nghiên cứu khoa học Trường Đại học Ngoại thương 2013-2014
Trang 2MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 1
NỘI DUNG 5
CHƯƠNG I: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ XUẤT KHẨU VÀ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ 5
1.1 Một số vấn đề lý luận cơ bản về tăng trưởng kinh tế 5
1.1.1 Khái niệm chung 5
1.1.2 Các yếu tố tác động tới tăng trưởng kinh tế 6
1.2 Một số vấn đề lý luận cơ bản về xuất khẩu 8
1.2.1 Khái niệm Xuất khẩu 8
1.2.2 Các yếu tố tác động tới xuất khẩu 10
1.3 Mối quan hệ giữa Xuất khẩu và tăng trưởng kinh tế 14
1.3.1 Vai trò của xuất khẩu đối với tăng trưởng kinh tế 14
1.3.2 Mối quan hệ nhân quả không rõ ràng giữa xuất khẩu hàng hóa và tăng trưởng 15 1.4 Mô hình kinh tế lượng về mối quan hệ giữa xuất khẩu và tăng trưởng kinh tế ……… 17
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG MỐI QUAN HỆ GIỮA XUẤT KHẨU VÀ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ TẠI VIỆT NAM NGHIÊN CỨU GIAI ĐOẠN 2007- 201318 2.1 Tình hình tăng trưởng kinh tế Việt nam từ năm 2007 tới 2013 18
2.2 Thực trạng xuất khẩu của Việt Nam giai đoạn 2007- 2013 23
2.3 Áp dụng mô hình kinh tế lượng vào mối quan hệ giữa xuất khẩu và tăng trưởng kinh tế tại Việt Nam trong giai đoạn 2007- 2013 34
2.3.1 Mô hình giả thuyết 34
2.3.2 Kết quả và kiểm định mô hình 35 CHƯƠNG III MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM KHAI THÁC NHỮNG TÁC ĐỘNG TÍCH CỰC CỦA XUẤT KHẨU ĐẾN TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ VÀ TỪ TĂNG
Trang 3TRƯỞNG KINH TẾ ĐẾN XUẤT KHẨU TẠI VIỆT NAM TRONG THỜI GIAN TỚI
45
3.1 Một số mục tiêu và kế hoạch đề ra cho hoạt động xuất khẩu của Việt Nam trong thời gian tới 45
3.1.1 Một số mục tiêu đề ra cho hoạt động xuất khẩu trong thời gian tới 45
3.1.2 Một số kế hoạch và định hướng xuất khẩu 45
3.1.3 Một số chính sách và định hướng xuất khẩu của Việt Nam trong thời gian tới 49 3.2 Một số giải pháp khai thác lợi thế trong mối quan hệ giữa xuất khẩu và tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam 53
3.2.1 Một số giải pháp khai thác lợi thế xuất khẩu đến tăng trưởng 53
3.2.2 Khai thác lợi thế của tăng trưởng đến xuất khẩu 60
KẾT LUẬN 66
TÀI LIỆU THAM KHẢO 67
Trang 4DANH MỤC CÁC CHỮ VIÊT TẮT
WTO World Trade Organization Tổ chức thương mại thế giới
APEC Asia-Pacific Economuc
Cooperation
Diễn đàn hợp tác kinh tế châu Thái Bình Dương
Á-VITAS Vietnam Textile and
Apparel Association Hiệp hội dệt may Việt Nam TPP
Trans-Pacific Strategic Economuc Partnership Agreement
Hiệp định hợp tác Kinh tế chuyến lược xuyên Thái Bình Dương FTA Free Trade Area Hiệp định thương mại tự do
ASEAN Association of Southeast
Asian Nations
Hiệp hội các quốc gia Đông Nam
Á
Manufacturer Nhà sản xuất thiết bị nguyên thủy NIEs New Industrilize Countries Các nước Công nghiệp mới
HSBC HongKhong and Shanghai
Banking Corporation
Tập đoàn Ngân hàng Thương mại Hồng Kông và Thượng Hải ADB Asian Development Bank Ngân hàng phát triển Châu Á GDP Gross Domestic Product Tổng sản phẩm trong nước
GNI Gross National Income Tổng sản phẩm quốc dân
Trang 5DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.3.1: Tổng sản phẩm trong nước và tổng kim ngạch xuất khẩu 35
DANH MỤC HÌNH Biểu đồ 2.1: Tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm trong nước GDP giai đoạn 2007- 2013 18
Biểu đồ 2.2: Kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam từ năm 2007- 2013 23
Biểu đồ 2.3.2.1: Đồ thị phần dư theo y^ 37
Biểu đồ 2.3.2.2: Đồ thị phần dư theo biến giải thích export 37
Biểu đồ 2.3.2.3: Đồ thị phần dư theo thời gian 40
Biểu đồ 2.3.2.4: Đồ thị phần dư theo phần dư trễ 1 giai đoạn 41
Biểu đồ 2.3.2.4: Đồ thị của nhiễu 43 Biểu đồ 2.3.2.5: Đồ thị tổng sản phẩm trong nước theo tổng kim ngạch xuất khẩu 43
Trang 6LỜI MỞ ĐẦU
1 Sự cần thiết và ý nghĩa của đề tài
Xuất khẩu hàng hóa có ý nghĩa quan trọng và ngày càng đóng góp to lớn cho sự tăng trưởng kinh tế của các quốc gia, tác động tích cực đến cán cân thanh toán quốc tế, sự
ổn định kinh tếvĩ mô và tăng trưởng kinh tế của quốc gia Hàng hóa xuất khẩu có khối lượng lớn, chất lượng cao còn làm tăng vị thế kinh tế quốc gia trong quan hệ kinh tế quốc
tế Với chiến lược kinh tế mở, các quốc gia đều thực thi những biện pháp tác động thúc đẩy xuất khẩu hàng hóa, nhằm phát huy lợi thế quốc gia trên trường quốc tế, trong đó các biện pháp tài chính thường được vận dụng và khai thác triệt để theo chiều hướng tạo thuận lợi cho xuất khẩu hàng hóa
Sau 5 năm là thành viên chính thức của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) và đang tiếp tục đàm phán tiến tới ký kết Hiệp định thương mại tự do với các nước lớn, môi trường thương mại đang và sẽ có nhiều cơ hội cùng những thách thức mới đối với hàng xuất khẩu của Việt Nam Những năm vừa qua, Việt Nam cũng đã có nhiều cố gắng cho mục tiêu tăng kim ngạch xuất khẩu, hướng tới 100 tỷ USD/năm Tuy nhiên, trong khi xuất khẩu tăng liên tục là một điểm sáng của nền kinh tế thì tốc độ tăng trưởng trung bình của Việt Nam bắt đầu suy giảm nhanh và liên tục từ giai đoạn cuối 2007- 2013
Để tìm được những lí giải thỏa đáng về mối quan hệ giữa xuất khẩu và tăng trưởng kinh tế, cũng như đề xuất những giải pháp thực tế để phù hợp với môi trường kinh tế quốc tế mới và điều kiện kinh tế trong nước hiện nay, việc tìm hiểu chuyên sâu và nghiên
cứu vấn đề “ Mối quan hệ giữa xuất khẩu và tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam giai đoạn
2007-2013” là rất cần thiết và có ý nghĩa
2 Tình hình nghiên cứu
Trong bối cảnh nền kinh tế thế giới và Việt Nam có nhiều mối liên kết, không ngừng tác động qua lại lẫn nhau thì hoạt động thương mại quốc tế đóng vai trò chiến lược trong việc tăng cường sức mạnh kinh tế của mỗi quốc gia Trước thực tiễn đó, việc nghiên cứu
sự ảnh hưởng lẫn nhau giữa xuất khẩu và tăng trưởng kinh tế là hết sức cần thiết và có ý
Trang 7nghĩa chiến lược nhằm tận dụng được các cơ hội và hạn chế các thách thức khi Việt Nam hội nhập kinh tế quốc tế Hiện nay, đã có một số công trình nghiên cứu liên quan đến mối quan hệ giữa xuất khẩu và tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam như:
- Bài “Ngoại thương, tăng trưởng và giảm nghèo”, viện nghiên cứu và phát triển-
FETP,
- Th.S Nguyễn Quang Hiệp, “Thành tựu và vai trò của xuất khẩu đối với tăng
trưởng kinh tế ở VIệt Nam và Lào”, tạp chí Phát triển và hội nhập UEF
Các nghiên cứu trên đã đề cập đến một số vấn đề lý luận có liên quan đến hai vấn
đề ngoại thương và tăng trưởng Tuy nhiên, các bài nghiên cứu trên chủ yếu đi nghiên cứu vấn đề trong giai đoạn trước khủng hoảng năm 2007, đồng thời mới chỉ dừng lại ở việc liệt kê các vai trò của xuất khẩu tại Việt Nam, chưa nêu được mối quan hệ cụ thể của xuất khẩu và tăng trưởng kinh tế trong tình hình kinh tế mới khi mà ảnh hưởng suy thoái từ các nước phát triển đang bao trùm toàn cầu
Bài nghiên cứu khoa học sẽ tiếp tục kế thừa có chọn lọc những kết quả nghiên cứu
đi trước và tập trung vào xây dựng mô hình kinh tế, lý giải sự mâu thuẫn giữa xuất khẩu
và tình hình tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam giai đoạn 2007- 2013
3 Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của đề tài là hệ thống hóa những kiến thức lý luận về mối quan hệ giữa xuất khẩu và tăng trưởng kinh tế bằng mô hình kinh tế lượng; tìm hiểu những vấn đề thực tiễn trong nước và quốc tế để rút ra những kết luận chung về nguyên nhân, cơ hội, thách thức, những thành công, hạn chế của mối quan hệ này Trên cơ sở đó
đề xuất hoàn thiện các chính sách quản lý của Việt Nam trong thời gian tới nhằm thúc đẩy xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế bền vững
Để thực hiện mục đích nghiên cứu này, đề tài đặt ra một số nhiệm vụ nghiên cứu sau:
- Làm rõ khái niệm, cơ sở lý luận về mối quan hệ giữa xuất khẩu và tăng trưởng kinh tế;
- Tìm hiểu thực trạng vấn đề tại Việt Nam trong giai đoạn 2007- 2013;
Trang 8- Sử dụng mô hình kinh tế lượng để rút ra mối quan hệ về mối quan hệ giữa xuất khẩu và tăng trưởng kinh tế tại Việt Nam trong giai đoạn nghiên cứu;
- Áp dụng mô hình trên vào thực tiễn và đánh giá tình hình thực hiện các mục tiêu chiến lược của đất nước;
- Đề xuất một số giải pháp nhằm khai thác lợi thế từ mối quan hệ này
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu: Đề tài nghiên cứu những vấn đề liên quan đến hoạt động
xuất khẩu hàng hóa; mối liên hệ với tăng trưởng kinh tế; những cơ hội và thách thức mới trong tiến trình Việt Nam hội nhập kinh tế quốc tế
- Về thời gian nghiên cứu: Đề tài nghiên cứu các hoạt động và tình hình phát triển kinh
tế thực tiễn hàng năm trong giai đoạn từ 2007- 2013
5 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu tổng hợp
Kế thừa, tổng hợp những kết quả nghiên cứu từ các công trình khoa học đã công bố
có liên quan đến các nội dung về xuất khẩu và tăng trưởng kinh tế ở trong và ngoài nước
- Phương pháp phân tích, thống kê, mô tả, so sánh, dự báo,…
- Phương pháp kinh tế lượng: Từ các số liệu thực tế nghiên cứu được xây dựng
mô hình kinh tế lượng thể hiện mối quan hệ giữa hai biến là xuất khẩu và tăng trưởng kinh tế để rút ra các kết luận về biến độc lập và biến phụ thuộc cũng như
đề xuất giải pháp cụ thể
6 Kết cấu của đề tài
Trang 9Ngoài Lời mở đầu và Kết luận, nội dung đề tài nghiên cứu kết cấu làm 3 chương:
- Chương I: Một số vấn đề lý luận cơ bản về xuất khẩu và tăng trưởng kinh tế
- Chương II: Thực trạng mối quan hệ giữa xuất khẩu và tăng trưởng kinh tế tại Việt Nam nghiên cứu trong giai đoạn 2007- 2013
- Chương III: Một số giải pháp nhằm khai thác những tác động tích cực của xuất khẩu đến tăng trưởng kinh tế và từ tăng trưởng kinh tế đến xuất khẩu tại Việt Nam trong thời gian
Trang 10NỘI DUNG CHƯƠNG I: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ XUẤT KHẨU VÀ TĂNG
TRƯỞNG KINH TẾ 1.1 Một số vấn đề lý luận cơ bản về tăng trưởng kinh tế
1.1.1 Khái niệm chung
Tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng về lượng kết quả đầu ra của nền kinh tế trng một thời kì (thường là năm) nhất định so với kì gốc (năm gốc)
Sự gia tăng đó được thể hiện cả ở quy mô và tốc độ Quy mô tăng trưởng phản ánh
sự gia tăng tuyệt đối, trong khi đó tốc độ tăng trưởng thể hiện sự so sánh tương đối giữa các thời kì (năm)
Có thể sử dụng các thước đo sau để phản ánh quy mô và tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế:
Tổng sản phẩm trong nước (GDP- Gross domestic product) là tổng giá trị của tất cả hàng hóa và dịch vụ cuối cùng được sản xuất ra bởi các yếu tố sản xuất trong lãnh thổ kinh tế của quốc gia trong từng thời kì nhất định (thường tính cho 1 năm)
Về nguyên tắc, Tổng sản phẩm trong nước được tính theo 3 phương pháp:
Phương pháp sản xuất (còn gọi là phương pháp giá trị gia tăng).Theo phương pháp này, GDP được xác định bằng cách tổng hợp giá trị gia tăng của mọi doanh nghiệp (hoặc ngành) cộng với thuế nhập khảu hàng hóa, dịch vụ từ nước ngoài
Phương pháp thu nhập ( từ thu nhập tạo ra trong quá trình sản xuất hàng hóa chứ khong phải là giá trị của bản thân hàng hóa)
Phương pháp chi tiêu về sản phẩm dịch vụ cuối cùng
GDP = C + I + G + (X-M)
Trong đó:
C là khoản chi tiêu của cá hộ gia đình về hàng hóa dịch vụ
I là tổn đấu tư của khu vực tư nhân (không tính các khoản đầu tư tài chính nuwh cổ phiếu, trái phiều, tiền gửi tiết kiệm)
Trang 11G là chi tiêu của CHính phủ (không tính các khoản thanh toán chuyển giao như chi cho các dịch vụ an sinh xã hôi, phúc lợi và trợ cấp thất nghiệp)
X-M là xuất khẩu ròng (giá trị kim ngạch xuất khẩu trừ đi kim ngạch nhập khẩu)
Tổng sản phẩm quốc dân (GNI- Gross National Income) đo lượng toàn bộ thu nhập hay giá trị sản xuất mà các công dân của một quốc gia tạo ra trong một thời kì nhất định, không kể trong hay ngoài phạm vi lãnh thổ quốc gia
Quy mô và tốc độ tăng trưởng kinh tế có thể tính trên phạm vi toàn bộ nền kinh tế, cũng có thể tính theo GDP ( GNI) bình quân đầu người Quy mô và tốc độ tăng trưởng GDP (GNI) bình quân đầu người không chỉ phụ thuộc vào quy mô và tốc độ tăng trưởng GDP (GNI) của nền kinh tế, mà còn phụ thộc vào quy mô và tốc độ gia tăng dân số của quốc gia
1.1.2 Các yếu tố tác động tới tăng trưởng kinh tế
Các đầu ra của nền kinh tế là kết quả tác động qua lại của tổng mức cung và tổng mức cầu của nền kinh tế Vì vậy, để xem xét các nhân tố tác động đến tăng trưởng kinh tế (tăng trưởng GDP thực tế) cần phải xem xét các nhân tố tác động đến tổng cung và các nhân tố tác động đến tổng cầu của nền kinh tế
a,Các nhân tố thuộc tổng cầu
Tổng mức cầu của nền kinh tế đề cập đến khối lượng mà người tiêu dùng, các doanh nghiệp và Chính phủ sẽ sử dụng: GDP=C+I+G+X-M Do đó, sự biến đổi của các
bộ phận trên sẽ gây nên sự biến đổi của tổng cầu và từ đó tác động đến tăng trưởng kinh tế.Trong bài này, sẽ đi phân tích tác động của xuất khẩu ròng (X-M) đến tăng trưởng kinh tế thông qua sự biến đổi của tổng cầu trong nền kinh tế
Sự biến đổi của tổng cầu có thể theo hai xu hướng: suy giảm hay gia tăng tổng cầu Theo hai hướng đó, tác động của sự thay đổi tổng cầu đến tăng trưởng kinh tế cũng khác nhau:
Nếu tổng cầu sụt giảm sẽ gây ra hạn chế tăng trưởng và lãng phí các yếu tố nguồn lực vì một bộ phận không được huy động vào hoạt động kinh tế
Nếu tổng cầu gia tăng sẽ tác động đến hoạt động của nền kinh tế như sau:
Trang 12- Nếu nền kinh tế đang hoạt động dưới mức sản lượng tiềm năng, thì sự gia tăng của tổng cầu sẽ giúp tăng them khả năng tận dụng sản lượng tiềm năng, nhờ đó
mà thúc đẩy tăng trưởng kinh tế
- Nếu nền kinh tế hoạt động đã đạt được hoặc vượt mức sản lượng tiềm năng thì
sự gia tăng của tổng cầu không làm gia tăng mức giá
b, Các nhân tố thuộc tổng cung
Tổng mức cung đề cập đến khối lượng sản phẩm và dịch vụ mà các ngành kinh doanh sản xuất và bán ra trong điều kiện giá cả, khả năng sản xuất và chi phí sản xuất nhất định.Như vậy tổng cung liên quan chặt chẽ đến sản lượng tiềm năng Xét theo quan điểm dài hạn, sự gia tăng sản lượng tiềm năng của nền kinh tế có tác động quyết định đến tăng trưởng kinh tế
Các nhân tố tác động đến sản lượng tiềm năng và do đó quyết định đến tổng mức cung chính là các yếu tố đầu vào của sản xuất Thông thường, các yếu tố sản xuất chủ yếu thường được kể đến là: Vốn (K), lao động (L), tài nguyên thiên nhiên (R) và công nghệ (T) Cũng vì thế, hàm sản xuất phản ánh mối quan hệ hàm số giữa kết quả đầu ra của nền kinh tế (Y) với các yếu tố sản xuất đầu vào được biểu thị khái quát dưới dạng sau:
Y=F(K,L,R,T)
Các mô hình tăng trưởng kinh tế tân cổ điển và mô hình tăng trưởng kinh tế hiện đại cố gắng lượng hóa sự đống góp của các yếu tố sản xuất vafoq úa trình tăng trưởng kinh tế
Từ các nhân tố ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế, về lý thuyết cũng như thực tiễn, người ta luôn nghiên cứu tìm ra mô hình tăng trưởng kinh tế phù hợp với từng giai đoạn phát triển của lịch sử
Ở giai đoạn đầu của sự phát triển mô hình tăng trưởng chủ yếu theo chiều rộng (dựa vào khai thác lợi thế của các nguồn lực sãn có như tài nguyên thiên nhiên, lao động) Cùng với sự phát triển của lịch sử, các nguồn lực ngày càng trở nên khan hiếm, các quốc gia đã dần chuyển từ mô hình tăng trưởng theo chiều rộng sang mô hình tăng trưởng kết
Trang 13hợp giữa chiều rộng và chiều sâu Đến trình độ phát triển cao của nền kinh tế xã hội, mô hình tăng trưởng chủ yếu phát triển theo chiều sâu
Đối với Việt Nam, mô hình tăng trưởng kinh tế hiện nay chủ yếu phát triển theo chiều rộng (khai thác và xuất khẩu tài nguyên thô, đầu tư dàn trải theo chiều rộng cho khu vực kinh tế nhà nước)
1.2 Một số vấn đề lý luận cơ bản về xuất khẩu
1.2.1 Khái niệm Xuất khẩu
a, Khái niệm Xuất khẩu hàng hoá là việc bán hàng hoá của quốc gia này cho một quốc gia khác trên cơ sở thanh toán bằng tiền tệ.Hàng hoá được vận chuyển qua biên giới quốc gia, tiền
tệ ở đây có thể là ngoại tệ đối với một hoặc cả hai quốc gia.Hoạt động xuất khẩu là hình thức cơ bản của hoạt động ngoại thương đã xuất hiện từ lâu đời và ngày càng phát triển Hoạt động xuất khẩu khác với hoạt động buôn bán trong nước Nếu như trong buôn bán nội địa, hàng hóa chỉ được vận chuyển trong phạm vi một quốc gia, đồng tiền thanh toán
là đồng nội tệ của quốc gia đó và các bên chủ thể có chung quốc tịch thì trong hoạt động xuất khẩu, hàng hoá được vận chuyển qua biên giới quốc gia, đồng tiền thanh toán là ngoại tệ đối với một hoặc cả hai bên và các bên chủ thể phải có quốc tịch ở hai nước khác nhau
Hoạt động xuất khẩu, diễn ra trên mọi lĩnh vực, trong mọi điều kiện kinh tế, từ xuất khẩu hàng hoá tiêu dùng cho đến dịch vụ, tư liệu sản xuất, máy móc thiết bị và kỹ thuật công nghệ cao Tất cả các hoạt động đó đều nhằm mang lại lợi ích kinh tế cho các quốc gia tham gia
Hoạt động xuất khẩu là một trong những hình thức biểu hiện của hoạt động kinh doanh thương mại quốc tế.Nó được biểu hiện thông qua trao đổi hàng hoá dịch vụ của một nước này cho nước khác và dùng tiền tệ làm phương tiện trao đổi.Đằng sau việc trao đổi này là mối quan hệ xã hội phản ánh sự phụ thuộc lẫn nhau về kinh tế giữa những người sản xuất hàng hoá riêng biệt của các quốc gia.Với ý nghĩa đó, hoạt động xuất khẩu đóng vai trò trong việc khai thác tiềm năng của đất nước
Trang 14Sự cần thiết của hoạt động xuất khẩu
Hoạt động xuất khẩu rất cần thiết vì nó mở rộng khả năng tiêu dùng của nước nhập khẩu và khai thác được lợi thế so sánh của nước xuất khẩu.Thực tế cho thấy, một quốc gia cũng như một cá nhân không thể sống riêng rẽ, biệt lập với bên ngoài mà vẫn tồn tại
và phát triển được.Thương mại quốc tế cho phép đa dạng hoá các mặt hàng tiêu dùng với chất lượng và số lượng cao hơn so với ranh giới của khả năng sản xuất trong nước, khi thực hiện chế độ tự cung tự cấp, không buôn bán với nước ngoài.Vì vậy, sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các quốc gia ngày càng tăng Tuy nhiên, xét một cách cụ thể hơn thì nguyên nhân cơ bản và sâu xa của việc trao đổi mua bán đó là xuất phát từ sự đa dạng về điều kiện tự nhiên nên một nước có thể chuyên môn sản xuất một số mặt hàng có lợi thế hơn và xuất khẩu để đổi lấy hàng nhập khẩu từ nước khác nhằm mục đích lợi nhuận Nhưng sự khác nhau về điều kiện sản xuất chỉ là một trong những lý do để thúc đẩy các nước mở rộng quan hệ trao đổi buôn bán với nhau Quan trọng hơn cả là hai bên cùng có lợi do có sự khác nhau về sở thích và lượng cầu đối với hàng hoá Chính vì vậy, nước ta mặc dù với xuất phát điểm thấp và chi phí sản xuất hầu như lớn hơn tất cả các mặt hàng của các cường quốc kinh tế, chúng ta vẫn có thể duy trì quan hệ thương mại với các nước
đó Trong những năm qua, vấn đề phát triển ngoại thương nói chung và hoạt động xuất khẩu nói riêng luôn là mục tiêu chiến lược để phát triển kinh tế được Đảng và Nhà nước
ta luôn coi trọng và đặt lên hàng đầu
b, Các hình thức của thương mại quốc tế
Thương mại quốc tế về hàng hóa
Thương mại quốc tế về hàng hóa là hình thức thương mại trong đó diễn ra việc mua bán trao đổi các sản phẩm, hàng hóa thể hiện dưới dạng vật chất hữu hình
Ví dụ: trao đổi hàng nông sản (gạo, cà phê, sữa ) nguyên liệu, nhiên liệu, thiết bị máy móc… là những lĩnh vực quan trọng trong thương mại quốc tế về hàng hóa
Thương mại quốc tế về dịch vụ:
Trang 15Thương mại quốc tế về dịch vụ là hình thức thương mại trong đó diễn ra việc mua bán, trao đồi các sản phẩm vô hình, phi vật chất được thể hiện thông qua các hoạt động của con người
Một đặc điểm nổi bật của thương mại quốc tế hiện nay là vai trò ngày càng tăng của hoạt động thương mại dịch vụ, với những lĩnh vực đa dạng như: viễn thông, ngân hàng, tài chính, vận tải, bảo hiểm, du lịch, khách sạn, giải trí…
Thương mại quốc tế liên quan đến đầu tư:
Sự trao đổi hàng hóa, dịch vụ gắn liền với hoạt động đẩu tư quốc tế Hình thức này ngày càng phổ biến với sự tăng trưởng mạnh mẽ của dòng vốn đầu tư quốc tế và đặc biệt là sự phát triển của các công ty xuyên quốc gia hiện nay
Thương mại quốc tế liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ
Hoạt động thương mại này có đối tượng là các sản phẩm trí tuệ Ví dụ: quyền tác giả, tác phẩm, sáng chế, bí quyết công nghệ…
1.2.2 Các yếu tố tác động tới xuất khẩu
Các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động Xuất Khẩu
Công cụ, chính sách vĩ mô của Nhà Nước
Công cụ, chính sách vĩ mô của nhà nước là nhân tố quan trọng mà các doanh nghiệp kinh doanh xuất nhập khâủ phải nắm rõ và tuân theo vô điều kiện bởi nó thể hiện
ý chí của đảng và nhà nước công cụ, chính sách vĩ mô của nhà nước bảo vệ lợi ích chung của mọi tầng lớp trong xã hội Hoạt động xuất khẩu tiến hành giữa các chủ thể giữa các quốc gia khác nhau Bởi vậy nó chịu sự tác động của các chính sách chế độ luật pháp ở quốc gia mình và đồng thời cũng phải tuân theo những quy định của luật pháp quốc tế chung
Đối với nước ta chính sách ngoại thường có nhiệm vụ tạo điều kiện thuận lợi cho các tổ chức kinh doanh tham gia sâu vào sự phân công lao động quốc tế, mở mang hoạt động xuất khẩu và bảo vệ thị trường nội địa nhằm đạt được những mục tiêu và yêu cầu
về kinh tế, chính trị xã hội hoạt động kinh tế đối ngoại
Thuế quan
Trang 16Thuế quan xuất khẩu là một loại thuế đánh vào mỗi đơn vị hàng hoá xuất khẩu Thuế quan là một công cụ lâu đời nhất của chính sách thương mại quốc tế và là một phương tiện truyền thống để tăng nguồn thu cho ngân sách Nhà Nước (NSNN)
Thuế quan xuất khẩu làm cho giá cả hàng hoá quốc tế cao hơn giá cả trong nước Tuy nhiên tác động của xuất khẩu nhiều khi lại đưa đến bất lợi cho khả năng xuất khẩu,
Do quy mô xuất khẩu của một nước thường là nhỏ so với dung lượng của thị trường thế giới cho nên thuế quan xuất khẩu sẽ làm hạ thấp giá cả trong nước của hàng hoá có thể xuất khẩu xuống so với mức giá quốc tế, điều đó sẽ làm cho dung lượng hàng xuất khẩu giảm đi và sản xuất trong nước sẽ thay đổi bất lợi cho mặt hàng này Trong một số trường hợp việc đánh thuế xuất khẩu không làm cho khối lượng hàng xuất khẩu giảm đi nhiều và vẫn có lợi cho nước xuất khẩu, nếu như họ có thể tác động đáng kể đến mức giá quốc tế.Một mức thuế suất cao và duy trì quá lâu có thể làm lợi cho các địch thủ cạnh tranh
Như vậy, thuế xuất khẩu nói riêng và thuế xuất nhập khẩu nói chung đều làm giảm
“lượng cầu quá mức” đối với hàng hoá có thể nhập khẩu và giảm “lượng cung quá mức” đối với hàng hoá xuất khẩu
Các công cụ phi thuế quan
Công cụ quota ( Hạn ngạch xuất khẩu) : Hình thức này áp dụng như một công cụ chủ yếu trong hàng rào phi thuế quan và ngày càng có vai trò quan trọng trong xuất khẩu hàng hoá, hạn ngạch xuất khẩu hàng hoá được quyết định theo mặt hàng, theo từng quốc gia, theo từng thời gian nhất định
Những quy định về tiêu chuẩn kỹ thuật: Nó bao gồm quy định vệ sinh, đo lường, an toàn lao động, bao bì đóng gói, đăc biệt là quy định về vệ sinh an toàn thực phẩm, vệ sinh phòng dịch đối với thực vật tươi sống, tiêu chuẩn và bảo vệ môi trường sinh thái và các máy móc, dây truyền thiết bị cộng nghệ
Trợ cấp xuất khẩu: Chính phủ có thể áp dụng các biện pháp tự cấp trực tiếp hoặc cho vay với lãi xuất thấp đối với các nhà xuất khẩu trong nước, bên cạnh đó chính phủ còn có thể thực hiện một khoản cho vay ưu đãi với các bạn hàng nước ngoài để có thể có các điều kiện mua các sản phẩm do nước mình sản xuất ra và để xuất khẩu ra bên ngoài
Trang 17Điều kiện tự nhiên
Điều kiện tự nhiên bao gồm: vị trí địa lý, khí hậu … cũng tác động đến hoạt động xuất khẩu, đặc biệt với những hoạt động xuất khẩu sử dụng tài nguyên thiên nhiên làm nguyên liệu chính như hàng thủ công mỹ nghệ: Xuất khẩu đồ gốm chịu ảnh hưởng của thời tiết, mưa ảnh hưởng đến nung gốm và vận chuyển gốm, vv …
Tác động của tỷ giá hối đoái với hoạt động xuất nhập khẩu
Tỷ giá hối đoái, thông qua việc phản ánh tương quan giá trị của đồng tiền các nước khác nhau mà tỷ giá hối đoái có được vai trò nhất định đối với quá trình ngang giá và cùng một loạt các nhân tố khác nó tác động tới tương quan giá cả xuất khẩu với nhập khẩu, tới khả năng nhập khẩu của các công ty
Trong trường hợp tỷ giá hối đoái giảm xuống, có nghĩa là đồng bản tệ có giá trị thấp hơn so với đồng ngoại tệ, nếu như không có các yếu tố khác ảnh hưởng thì nó sẽ tác động tới xuất khẩu
Trong trường hợp tỷ giá hối đoái tăng lên có nghĩa là đồng bản tệ có giá trị tăng lên
so với đồng ngoại tệ, nếu như không có các nhân tố ảnh hưởng thì sẽ khuyến khích nhập khẩu vì hàng nhập khẩu trở nên rẻ hơn so với giá cả chung trong nước Nhưng đồng thời
tỷ giá tăng lên sẽ gây nhiều bất lợi cho xuất khẩu vì hàng xuất khẩu trở nên đắt, khó bán
ra nước ngoài
Ảnh hưởng của hệ thống giao thông vận tải, thông tin liên lạc
Việc thực hiện xuất khẩu gắn liền với công việc vận chuyển hệ thống thông tin liên lạc, nhờ có thông tin liên lạc mà các thoả thuận có thể tiến hành nhanh chóng, kịp thời Thực tế cho thấy rằng ảnh hưởng của hệ thông thông tin cho Fax, telex đã đơn giản hoá công việc của hoạt động xuất khẩu rất nhiều, giảm đi hàng loạt các chi phí, nâng cao kịp thời nhanh gọn và việc hiện đại hoá các phương tiện vận chuyển, bốc dỡ, bảo quản góp phần đem quá trình thực hiện xuất khẩu được nhanh chóng và an toàn
Nước ta có vị trí thuận lợi về giao thông là trung tâm vận hành đường biển trong khu vực Đông Nam á, rất thuận tiện cho hoạt động ngoại thương, tuy nhiên phương tiện đường xá, cơ sở vật chất còn rất lạc hậu Khắc phục, đổi mới hệ thống giao thông vận tải đang là vấn đề cấp bách được đặt ra
Trang 18Ảnh hưởng của hệ thống tài chính ngân hàng
Hệ thống tài chính ngân hàng giúp cho việc quản lý, cung cấp vốn, đảm trách việc thanh toán một cách thuận tiện, nhanh chóng, chính xác và an toàn cho doanh nghiệp điều này rất quan trọng đối với doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực xuất khẩu Hiện nay, hệ thống tài chính ngân hàng đã phát triển hết sức lớn mạnh, can thiệp đến tất cả các
doanh nghiệp trong nền kinh tế, làm cho hoạt động xuất khẩu hết sức thuận lợi
Môi trường kinh doanh của doanh nghiệp
Môi trường kinh doanh của doanh nghiệp là tập lợp những điều kiện, những yếu tố bên trong hoặc bên ngoài ảnh hưởng trực tiếp hay gián tiếp đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
Các yếu tố thuộc môi trường kinh doanh là các yếu tố khách quan mà doanh nghiệp không thể kiểm soát được Nghiên cứu các yếu tố này không nhằm để điều khiển nó theo
ý muốn của doanh nghiệp mà nhằm tạo ra khả năng thích ứng một cách tốt nhất với xu hướng vận động của nó
Mỗi một doanh nghiệp hoạt động trong cơ chế thị trường đều có một môi trường kinh doanh nhất định Môi trường kinh doanh tác động liên tục đến hoạt động của doanh nghiệp theo những xu hướng khác nhau vừa tạo ra cơ hội, vừa hạn chế khả năng thực hiện mục tiêu kinh doanh của doanh nghiệp ảnh hưởng của môi trường kinh doanh có thể ở các tầng (thứ bậc) khác nhau vĩ mô/vi mô, mạnh/yếu, trực tiếp/giám tiếp … Nhưng
về mặt nguyên tắc cần phản ánh được sự tác động của nó trong chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp Sự ổn định hay bất ổn về chính trị xã hội … là những nhân tố ảnh hưởng lớn đến kết quả kinh doanh của doanh nghiệp, hệ thống chính trị và các quan điểm chính trị xã hội suy cho cùng tác động trực tiếp tới phạm vi lĩnh vực, mặt hàng … của đối tác kinh doanh Trong những năm của thập kỷ 90 tình hình chính trị xã hội của nhiều quốc gia trên thế giới đã có nhiều biến động lớn theo chiều hướng bất lợi đối với quan hệ song phương và đa phương với các quốc gia và công ty trên thế giới, chỉ trên cơ sở nắm vững các nhân tố của môi trường kinh doanh, doanh nghiệp mới đề ra mục tiêu và chiến lược kinh doanh đúng đắn Trong chiến lược và kế hoạch kinh doanh đều phải xác định đối tác và những lực lượng nào ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
Trang 191.3 Mối quan hệ giữa Xuất khẩu và tăng trưởng kinh tế
Mối quan hệ giữa xuất khẩu và tăng trưởng kinh tế đã được phân tích trong nhiều nghiên cứu thực nghiệm gần đây Tuy nhiên, bằng chứng cho thấy mối quan hệ này khá
đa dạng Trong khi một số nghiên cứu cho thấy sự tồn tại mối quan hệ nhân quả giữa xuất khẩu và tăng trưởng kinh tế, một số nghiên cứu khác lại cho rằng không tồn tại mối quan hệ tỷ lệ thuận giữa hai yếu tố này
Vì vậy, bằng việc chỉ ra vai trò của Xuất khẩu đối với tăng trưởng kinh tế trên lý thuyết, nhóm nghiên cứu tiến hành phần thực nghiệm bên dưới để tìm câu trả lời thỏa đáng về mối liên hệ này trong phạm vi nghiên cứu
1.3.1 Vai trò của xuất khẩu đối với tăng trưởng kinh tế
Trong mô hình phát triển kinh tế, thương mại quốc tế (X - M) cũng là một nhân tố như các tác nhân: Người tiêu dùng (C), người sản xuất (I) và Chính phủ (G) trong việc tạo ra giá trị sản lượng
Y = C + I + G + (X - M)
Vì vậy, thương mại quốc tế nói chung, hay xuất khẩu nói riêng, đóng vai trò trực tiếp tác động mạnh mẽ tới việc tăng trưởng kinh tế của quốc gia.Xuất khẩu liên quan đến thu ngoại tệ còn nhập khẩu liên quan đến chi ngoại tệ Vì vậy, hoạt động xuất nhập khẩu tác động đến quỹ tiền tệ của đất nước từ đó tác động đến tổng cầu của toàn nền kinh tế.Nếu xuất khẩu thuần dương thì tổng cầu sẽ tăng, còn xuất khẩu thuần âm tổng cầu sẽ giảm Tổng cầu tăng làm nền kinh tế tăng, thương mại quốc tế phát triển, thị trường được
mở rộng, cho phép tăng chuyên môn hóa sản xuất, tiếp nhận công nghệ mới, khuyến khích phát minh sáng chế nâng cao năng suất lao động dẫn tới tăng tổng sản phẩm quốc dân Đồng thời cho phép các quốc gai mở rộng sản xuất trên cơ sở chuyên môn hóa một cách sâu sắc.Từ đó ngoại thương tạo điều kiện cho các quốc gia mở rộng đường giới hạn khả năng sản xuất dịch chuyển ra xa hơn so với đường giới hạn khả năng sản xuất cũ Như vậy, với tư cách là một khâu của quá trình tái sản xuất xã hội, thương mại quốc tế có thể có các chức năng sau:
Thứ nhất, tạo vốn cho quá trình mở rộng đầu tư trong nước
Trang 20Thứ hai, chuyển hóa giá trị sử dụng làm thay đổi cơ cấu vật chất của tổng sản phẩm
xã hội và thu nhập quốc dân được sản xuất trong nước và thích ứng chúng với nhu cầu tiêu dùng và tích lũy, thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tích cực
Xu hướng có tính quy luật chung của chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế là chuyển dịch theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa Muốn chuyển một nền kinh tế nông nghiệp sang nền kinh tế công nghiệp đều phải trải qua các bước: Chuyển từ nền kinh tế nông nghiệp sang kinh tế công- nông nghiệp để từ đó chuyển sang nền kinh tế công nghiệp phát triển Nội dung cụ thể của xu thế này thể hiện ở tỷ trọng nông nghiệp có xu hướng ngày càng giảm đi trong khi đó tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ ngày càng tăng trong tổng GDP, giai đoạn đầu tốc độ tăng của công nghiệp sẽ cao hơn dịch vụ, nhưng giai đoạn sau,, khi nền kinh tế đã phát triển cao, thì dịch vụ sẽ tăng nhanh hơn
Trong sự vận động chung, ngoại thương với các hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ có vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng của nó tác động đến toàn bộ quá trình tái sản xuất hàng hóa, từ sản xuất, lưu thông, phân phối đến tiêu dùng Đặc biệt đối với các ngành sản xuất vật chất cơ bản như công nghiệp, nông nghiệp… ngoại thương đã tác động trực tiếp đến cả đầu vào và đẩu ra của quá trình tái sản xuất, do đó đã góp phần thúc đẩy nhanh sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế Ngoại thương cũng tạo ra các “ mối liên hệ ngược”, “ mối liên hệ gián tiếp”, giữa các ngành, tạo ra khả năng xây dựng cơ cấu kinh tế năng động
Thứ ba, góp phần nâng cao hiệu quả của nền kinh tế bằng việc tạo môi trường thuận lợi cho sản xuất, kinh doanh
Là một lĩnh vực kinh tế đảm nhận lưu thông hàng hóa giữa trong nước và ngoài nước, chức năng cơ bản của ngoại thương là: tổ chức chủ yếu quá trính lưu thông hàng hóa với bên ngoài, thông qua mua bán để nối liền một cách hữu cơ theo kế hoạch giữa thị trường trong và ngoài nước, thỏa mãn nhu cầu sản xuất của xã hội về hàng hóa theo số lượng, chất lượng, mặt hàng, địa điểm và thời gian phù hợp với chi phí thấp nhất
1.3.2 Mối quan hệ nhân quả không rõ ràng giữa xuất khẩu hàng hóa và tăng
Trang 21trưởng
Qua nghiên cứu một số tài liệu, mối quan hệ giữa xuất khẩu hàng hóa và tăng trưởng của một quốc gia bao gồm những giả thuyết sau:
Giả thuyết 1: Tăng xuất khẩu tác động trực tiếp đến tăng trưởng kinh tế thông qua các
kênh truyền dẫn là hiệu quả về quy mô hóa, lợi thế kinh tế theo quy mô và tạo môi trường sản xuất kinh doanh như đã phân tích phía trên
Giả thuyết 2: Nền kinh tế đã có tăng trưởng và lớn mạnh khiến cho có lợi thế trong việc
nâng cao khả năng cạnh tranh về hàng xuất khẩu ra thị trường quốc tế Nhờ động lực này
mà quốc gia có khả năng chiếm linh thị trường, mở rộng xuất khẩu, đồng thời thu về nhiều ngoại tệ và đạt được các lợi ích cho quốc gia
Giả thuyết 3: Xét riêng đối với một số nước công nghiệp, nguyên nhân tăng xuất khẩu,
đặc biệt là hàng công nghệ chế tạo dựa vào việc tăng năng suất lao động, giảm chi phí dẫn tới tăng khả năng cạnh tranh của hàng xuất khẩu, thu lợi ích cho quốc gia (VD: thông qua hoạt động R&D- Research and Develop)
Giả thuyết 4: Tăng xuất khẩu và tăng trưởng đồng thời là do nguyên nhân khác Các yếu
tố có thể xét đến là việc Chính phủ sử dụng các công cụ điều tiết nền kinh tế như chính sách kinh tế vĩ mô hay nền chính trị ổn định, tham nhũng giảm,…
Tóm lại, để đánh giá tác động của ngoại thương vào tăng trưởng tổng sản phẩm
quốc dân người ta sử dụng mối quan hệ tương quan giữa kim ngạch xuất khẩu với GDP, kim ngạch xuất khẩu, nhập khẩu so với GDP và tương quan xuất khẩu so với nhập khẩu Ngoài ra ảnh hưởng đó còn được tính toán bởi chí tiêu tăng trưởng xuất nhập khẩu và tăng trưởng xuất khẩu vào 1% tăng trưởng GDP
Hầu hết các nhà nghiên cứu đều thống nhất rằng tăng xuất khẩu là một trong những yếu tố chính dẫn đến tăng trưởng kinh tế (tức là giả thiết tăng trưởng dựa vào xuất khẩu)
Lý thuyết này dựa vào tiền đề cho rằng tăng xuất khẩu có thể ảnh hưởng tới tăng trưởng kinh tế thông qua một số kênh Thứ nhất, ngành xuất khẩu có thể ảnh hưởng tới các ngành phi xuất khẩu thông qua tác động bên ngoài tích cực.Hơn nữa, mở rộng xuất khẩu
sẽ tăng tính hiệu quả của nền kinh tế dựa vào quy mô Ngoài ra, xuất khẩu có thể làm
Trang 22giảm khó khăn về ngoại tệ và do đó có thể giúp các nước tiếp cận với thị trường toàn cầu
dễ dàng hơn Cuối cùng, những lập luận này gần đây đã được hỗ trợ nhờ cơ sở lý luận về thuyết tăng trưởng “nội sinh”, trong đó nhấn mạnh rằng xuất khẩu có thể thúc đẩy tăng trưởng dài hạn vì sẽ thúc đẩy phát triển công nghệ và học hỏi kinh nghiệm từ các nước khác
1.4 Mô hình kinh tế lượng về mối quan hệ giữa xuất khẩu và tăng trưởng kinh tế
Từ mối liên quan giữa xuất khẩu và tăng trưởng kinh tế, bài nghiên cứu của nhóm
sẽ đưa ra cái nhìn sâu hơn về mối quan hệ giữa xuất khẩu và tăng trưởng kinh tếthông qua mô hình kin tế lượng và sử dụng phương pháp bình phương nhỏ nhất OLS để từ đó tìm hiểu sâu hơn về sự ảnh hưởng của xuất khẩu đến tăng trưởng kinh tế và sự phụ thuộc của tăng trưởng kinh tế vào xuất khẩu Thông qua sự thành lập được mô hình kinh tế lượng, nhóm nghiên cứu sẽ kiểm định độ chính xác và phù hợp của mô hình để từ đó đưa
ra sự nhận xét về mối quan hệ giữa xuất khẩu và tăng trưởng một cách chính xác nhất
Trang 23CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG MỐI QUAN HỆ GIỮA XUẤT KHẨU VÀ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ TẠI VIỆT NAM NGHIÊN CỨU GIAI ĐOẠN 2007- 2013 2.1 Tình hình tăng trưởng kinh tế Việt nam từ năm 2007 tới 2013
Tổng quan tình hình tăng trưởng kinh tế từ 2007- 2013
Tình hình kinh tế nước ta đã có những biến đổi quan trọng, đạt được nhiều thành tựu mới nhưng đồng thời cũng phát sinh và bộc lộ rõ hơn những mặt hạn chế và bất cập,
có thể khái quát bằng một số chỉ tiêu thống kê định lượng dưới đây
Kinh tế liên tục tăng trưởng với tốc độ tương đối khá, đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển, bước vào nhóm nước đang phát triển có mức thu nhập trung bình Mặc dù chịu sự tác động mạnh mẽ của cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu diễn ra từ năm 2008 đến nay, nền kinh tế nước ta đều đạt tốc độ tăng trưởng tương đối tích cực
Biểu đồ 2.1: Tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm trong nước GDP giai đoạn 2007-
Năm 2009
Năm 2010
Năm 2011
Năm 2012
Năm 2013
TỐC ĐỘ TĂNG TỔNG SẢN PHẨM
TRONG NƯỚC GDP (%)
TỐC ĐỘ TĂNG TỔNG SẢN PHẨM TRONG NƯỚC GDP (%)
Trang 24Tốc độ tăng tổng sản phẩm trong nước (GDP) năm 2007 đạt 8,46%, năm năm 2008 đạt 6,31%, năm 2009 đạt 5,32% và năm 2010 ước tính đạt 6,78%, năm 2011 đạt 5,89%, năm 2012 đạt 5,03%, năm 2013 GDP đạt 5,42%
Cụ thể:
Bước vào năm 2007 chúng ta có thuận lợi cơ bản là sau hơn 20 năm đổi mới thế
và lực của nền kinh tế nước ta cũng như những kinh nghiệm tổ chức, quản lý và điều hành nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đều đã được tăng lên đáng kể Việc nước ta trở thành thành viên của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) đã tạo thêm
cơ hội để nền kinh tế nước ta hội nhập sâu hơn và rộng hơn vào kinh tế thế giới Tuy nhiên, chúng ta cũng gặp nhiều khó khăn, thách thức: trong khi nền kinh tế còn nhiều mặt yếu kém, chất lượng tăng trưởng, hiệu quả sản xuất kinh doanh và sức cạnh tranh thấp thì giá của nhiều loại vật tư nguyên liệu đầu vào quan trọng phải nhập khẩu tăng cao
Theo ước tính sơ bộ, tổng sản phẩm trong nước (GDP) năm 2007 theo giá so sánh 1994 ước tính tăng 8,48% so với năm 2006, gồm có khu vực nông, lâm nghiệp và thuỷ sản tăng 3,41%; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 10,6% ;khu vực dịch vụ tăng 8,68% Tăng trưởng kinh tế năm 2007 của nước ta đứng vào hàng các quốc gia có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao trong khu vực (Theo đánh giá của Ngân hàng Phát triển Châu Á-ADB thì năm 2007 kinh tế Trung Quốc tăng 11,2%; Việt Nam tăng 8,3%; Xin-ga-po tăng 7,5%; Phi-li-pin tăng 6,6%; In-đô-nê-xi-a tăng 6,2%; Ma-lai-xi-a tăng 5,6%; Thái Lan tăng 4%)
Kinh tế-xã hội nước ta năm 2008 diễn ra trong bối cảnh tình hình thế giới và trong nước có nhiều biến động phức tạp, khó lường Giá dầu thô và giá nhiều loại nguyên liệu, hàng hoá khác trên thị trường thế giới tăng mạnh trong những tháng giữa năm kéo theo sự tăng giá ở mức cao của hầu hết các mặt hàng trong nước; lạm phát xảy ra tại nhiều nước trên thế giới; khủng hoảng tài chính toàn cầu dẫn đến một số nền kinh tế lớn suy thoái, kinh tế thế giới suy giảm Tổng sản phẩm trong nước (GDP) năm 2008 theo giá so sánh 1994 ước tính tăng 6,23% so với năm 2007, trong đó khu vực nông, lâm nghiệp và thuỷ sản tăng 3,79%; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 6,33%; khu vực dịch vụ tăng 7,2% Trong 6,23% tăng trưởng chung của nền kinh tế, khu vực nông, lâm
Trang 25nghiệp và thuỷ sản đóng góp 0,68 điểm phần trăm; công nghiệp, xây dựng đóng góp 2,65 điểm phần trăm và dịch vụ đóng góp 2,9 điểm phần trăm Tốc độ tăng tổng sản phẩm trong nước năm nay tuy thấp hơn tốc độ tăng 8,48% của năm 2007 và mục tiêu kế hoạch điều chỉnh là tăng 7,0%, nhưng trong bối cảnh tài chính thế giới khủng hoảng, kinh tế của nhiều nước suy giảm mà nền kinh tế nước ta vẫn đạt tốc độ tăng tương đối cao như trên là một cố gắng rất lớn
Xét theo các yếu tố sử dụng GDP năm 2008 thì tốc độ tăng của tích luỹ tài sản
cố định, tiêu dùng cuối cùng và xuất khẩu theo giá so sánh 1994 đều giảm so với mức tăng của năm 2007 Tốc độ tăng tích lũy tài sản cố định năm 2008 giảm mạnh, từ mức 24,4% của năm 2007 xuống còn 4,1% Tốc độ tăng tiêu dùng cuối cùng năm 2008 giảm
cả ở khu vực nhà nước và hộ gia đình so với tốc độ tăng của năm 2007, trong đó tiêu dùng cuối cùng của khu vực nhà nước giảm từ 8,9% năm 2007 xuống 7,5% năm 2008; tốc độ tăng tiêu dùng của khu vực hộ gia đình giảm từ 10,7% xuống còn 8% Xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ năm 2008 theo giá so sánh tăng thấp so với năm 2007, chỉ ở mức 5,6% So với GDP, xuất khẩu hàng hoá và dịch vụ bằng 69,5% và nhập khẩu hàng hoá và dịch vụ bằng 84% Điều này cho thấy kinh tế Việt Nam hiện đang là nền kinh tế có độ
mở lớn và tốc độ mở nhanh, do đó dễ bị ảnh hưởng từ những biến động của thị trường thế giới
Bước vào năm 2009, nền kinh tế nước ta tiếp tục gặp nhiều khó khăn, thách thức Khủng hoảng tài chính của một số nền kinh tế lớn trong năm 2008 đã đẩy kinh tế thế giới vào tình trạng suy thoái, làm thu hẹp đáng kể thị trường xuất khẩu, thị trường vốn, thị trường lao động và tác động tiêu cực tới nhiều lĩnh vực kinh tế-xã hội khác của nước ta Theo đà suy giảm kinh tế những tháng cuối năm 2008, tốc độ tăng tổng sản phẩm trong nước quý I/2009 chỉ đạt 3,14%, là quý có tốc độ tăng thấp nhất trong nhiều năm gần đây; nhưng quý II, quý III và quý IV của năm 2009, tốc độ tăng tổng sản phẩm trong nước đã nâng dần lên lần lượt là 4,46%; 6,04% và 6,9% Tính chung cả năm 2009, tổng sản phẩm trong nước tăng 5,32%, bao gồm: khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 1,83%; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 5,52%; khu vực dịch vụ tăng 6,63%
Trang 26Kinh tế thế giới năm 2010 mặc dù đang phục hồi sau khủng hoảng tài chính toàn cầu và có những chuyển biến tích cực, song nhìn chung chưa thực sự ổn định và còn tiềm
ẩn nhiều yếu tố bất lợi tác động đến kinh tế nước ta Tuy nhiên, Việt Nam được đánh giá
là một trong những nước sớm vượt qua giai đoạn khó khăn và phục hồi nhanh sau khủng hoảng tài chính toàn cầu Tổng sản phẩm trong nước (GDP) năm 2010 ước tính tăng 6,78% so với năm 2009, trong đó quý I tăng 5,84%; quý II tăng 6,44%; quý III tăng 7,18% và quý IV tăng 7,34% Đây là mức tăng khá cao so với mức tăng 6,31% của năm
2008 và cao hơn hẳn mức 5,32% của năm 2009 Trong 6,78% tăng chung của nền kinh
tế, khu vực nông, lâm nghiệp và thuỷ sản tăng 2,78%, đóng góp 0,47 điểm phần trăm; công nghiệp, xây dựng tăng 7,7%, đóng góp 3,20 điểm phần trăm và khu vực dịch vụ tăng 7,52%, đóng góp 3,11 điểm phần trăm
Bước vào năm 2011, nền kinh tế đang có dấu hiệu hồi phục thì ngay sau đó gặp phải những khó khăn, thách thức tiềm ẩn trong nội tại nền kinh tế thế giới với vấn đề nợ công, tăng trưởng kinh tế chậm lại Giá hàng hóa, giá dầu mỏ và giá một số nguyên vật liệu chủ yếu tăng cao và có diễn biến phức tạp Ở trong nước, lạm phát và mặt bằng lãi suất cao gây áp lực cho sản xuất và đời sống dân cư
Tổng sản phẩm trong nước (GDP) năm 2011 ước tính tăng 5,89% so với năm
2010, tuy thấp hơn mức tăng 6,78% của năm 2010 nhưng trong điều kiện tình hình sản xuất rất khó khăn và cả nước tập trung ưu tiên kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô thì mức tăng trưởng trên là khá cao và hợp lý Tổng sản phẩm trong nước tăng đều trong
cả ba khu vực và một lần nữa lại thể hiện rõ tính trụ đỡ của khu vực sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản So với cùng kỳ năm trước, tổng sản phẩm trong nước quý I tăng 5,57%; quý II tăng 5,68%; quý III tăng 6,07% và quý IV tăng 6,10% Trong 5,89% tăng chung của nền kinh tế, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 4%, đóng góp 0,66 điểm phần trăm; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 5,53%, đóng góp 2,32 điểm phần trăm và khu vực dịch vụ tăng 6,99%, đóng góp 2,91 điểm phần trăm
Kinh tế-xã hội nước ta năm 2012 tiếp tục bị ảnh hưởng bởi sự bất ổn của kinh tế thế giới do khủng hoảng tài chính và khủng hoảng nợ công ở Châu Âu chưa được giải quyết Suy thoái trong khu vực đồng euro cùng với khủng hoảng tín dụng và tình trạng
Trang 27thất nghiệp gia tăng tại các nước thuộc khu vực này vẫn đang tiếp diễn Hoạt động sản xuất và thương mại toàn cầu bị tác động mạnh, giá cả hàng hóa diễn biến phức tạp Tăng trưởng của các nền kinh tế đầu tàu suy giảm kéo theo sự sụt giảm của các nền kinh tế khác Một số nước và khối nước lớn có vị trí quan trọng trong quan hệ thương mại với nước ta như: Mỹ, Trung Quốc, Nhật bản và EU đối mặt với nhiều thách thức nên tăng trưởng chậm Những bất lợi từ sự sụt giảm của kinh tế thế giới ảnh hưởng xấu đến hoạt động sản xuất kinh doanh và đời sống dân cư trong nước Thị trường tiêu thụ hàng hóa bị thu hẹp, hàng tồn kho ở mức cao, sức mua trong dân giảm Tỷ lệ nợ xấu ngân hàng ở mức đáng lo ngại Nhiều doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp nhỏ và vừa phải thu hẹp sản xuất, dừng hoạt động hoặc giải thể
Tổng sản phẩm trong nước (GDP) năm 2012 theo giá so sánh 1994 ước tính tăng 5,03% so với năm 2011, trong đó quý I tăng 4,64%; quý II tăng 4,80%; quý III tăng 5,05%; quý IV tăng 5,44% Trong 5,03% tăng trưởng chung của toàn nền kinh tế, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 2,72%, đóng góp 0,44 điểm phần trăm vào mức tăng trưởng chung; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 4,52%, đóng góp 1,89 điểm phần trăm; khu vực dịch vụ tăng 6,42%, đóng góp 2,7 điểm phần trăm
Đến năm 2013, nền kinh tế bắt đầu có những dấu hiệu khả quan Tổng sản phẩm trong nước (GDP) năm 2013 ước tính tăng 5,42% so với năm 2012, trong đó quý I tăng 4,76%; quý II tăng 5,00%; quý III tăng 5,54%; quý IV tăng 6,04% Trong mức tăng 5,42% của toàn nền kinh tế, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 2,67%, xấp xỉ mức tăng năm trước, đóng góp 0,48 điểm phần trăm; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 5,43%, thấp hơn mức tăng 5,75% của năm trước, đóng góp 2,09 điểm phần trăm; khu vực dịch vụ tăng 6,56%, cao hơn mức tăng 5,9% của năm 2012, đóng góp 2,85 điểm phần trăm
Về cơ cấu trong quy mô nền kinh tế cả năm, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm tỷ trọng 18,4%; khu vực công nghiệp và xây dựng chiếm 38,3% và khu vực dịch vụ chiếm 43,3% (Năm 2012 các tỷ trọng tương ứng là: 19,7%; 38,6% và 41,7%)
Trang 28Xét về góc độ sử dụng GDP năm nay, tiêu dùng cuối cùng tăng 5,36% so với năm 2012, đóng góp 3,72 điểm phần trăm vào mức tăng chung; tích lũy tài sản tăng 5,45%, đóng góp 1,62 điểm phần trăm; chênh lệch xuất nhập khẩu hàng hóa và dịch
vụ đóng góp 0,08 điểm phần trăm do xuất siêu
2.2 Thực trạng xuất khẩu của Việt Nam giai đoạn 2007- 2013
Hoạt động xuất khẩu của Việt Nam đã có bước phát triển ngoạn mục trong giai đoạn 2007-2013 Xét về giá trị, kim ngạch xuất khẩu hàng hóa đã tăng lên 2,7 lần trong vòng 7 năm qua, trung bình tăng 27%/năm
Biểu đồ 2.2: Kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam từ năm 2007- 2013
Đơn vị: Tỷ USD
Việc gia nhập WTO đã giúp xuất khẩu của Việt Nam tăng nhanh từ 48,6 tỷ USD năm 2007 lên đến 62,7 tỷ USD năm 2008 Tuy nhiên lạm phát cao năm 2008 và cuộc khủng hoảng tài chính thế giới từ giữa năm đã có tác động tiêu cực đến kết quả xuất khẩu của Việt Nam Hệ quả năm 2009, suy thoái kinh tế toàn cầu dẫn đến nhu cầu tiêu dùng của thế giới sụt giảm làm kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam tăng trưởng âm (-8,9%) Mặc dù vậy, đến năm 2010, xuất khẩu của Việt Nam đã phục hồi nhanh hơn dự báo và đạt tốc độ tăng trưởng cao hơn nhịp tăng trung bình 15,1% của giai đoạn trước khi gia
Năm 2009
Năm 2010
Năm 2011
Năm 2012
Năm 2013
KIM NGẠCH XUẤT KHẨU
KIM NGẠCH XUẤT KHẨU
Trang 29nhập WTO cũng như cao hơn mục tiêu 15% đề ra trong Chiến lược phát triển xuất nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ trong thời kỳ này Đến năm 2011 xuất khẩu của Việt Nam đã đạt con số ấn tượng là 96,9 tỷ USD, đạt mức tăng trưởng cao nhất trong giai đoạn 2007-
2011 (34%), đưa kim ngạch xuất khẩu tăng gấp 2 lần kể từ khi gia nhập WTO (năm 2007)
Cụ thể:
- Năm 2007
Giá trị hàng hóa xuất khẩu năm 2007 ước tính đạt gần 48,6 tỷ USD, tăng 21,5% so với năm 2006, trong đó tất cả các mặt hàng chủ yếu đều tăng (kể cả xuất khẩu dầu thô tăng 2,6%, do giá tăng) Có 10 mặt hàng xuất khẩu đạt giá trị trên 1 tỷ USD là: Dầu thô 8,5 tỷ USD, dệt may 7,8 tỷ USD, giày dép gần 4 tỷ USD, thủy sản 3,8 tỷ USD, tăng 12,9%; sản phẩm gỗ 2,4 tỷ USD, tăng 22,3%; điện tử máy tính 2,2 tỷ USD, tăng 27,5%;
cà phê 1,8 tỷ USD, tăng 52,3%; gạo 1,4 tỷ USD, tăng 13,9%; cao su cũng đạt 1,4 tỷ USD, tăng 8,8%; than đá trên 1 tỷ USD, tăng 11,3% Thị trường xuất khẩu hàng hoá tiếp tục phát triển, hầu hết các thị trường lớn đều tăng so với năm trước Năm 2007 có 10 thị trường đạt giá trị xuất khẩu trên 1 tỷ USD, trong đó Mỹ 10 tỷ USD, tiếp đến là EU 8,7 tỷ USD; ASEAN 8 tỷ USD; Nhật Bản 5,5 tỷ USD và Trung Quốc 3,2 tỷ USD Bên cạnh đó, trong năm 2007 một số thị trường có xu hướng giảm như Ôx-trây-li-a, I-rắc
- Năm 2008
Kim ngạch hàng hoá xuất khẩu năm 2008 ước tính đạt 62,7 tỷ USD, tăng 29,1%
so với năm trước, vượt 7% kế hoạch năm Tính chung cả năm 2008, kim ngạch hàng hoá xuất khẩu ước tính đạt 62,9 tỷ USD, tăng 29,5% so với năm 2007, bao gồm khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) đạt 34,9 tỷ USD, tăng 25,7%, đóng góp 49,7% vào mức tăng chung của xuất khẩu; khu vực kinh tế trong nước đạt 28 tỷ USD, tăng 34,7%, đóng góp 50,3% Trong tổng kim ngạch hàng hoá xuất khẩu năm 2008, nhóm hàng công nghiệp nặng và khoáng sản chiếm tỷ trọng 31%, nhóm hàng nông sản chiếm 16,3%
Nhìn chung, kim ngạch xuất khẩu năm 2008 của các loại hàng hoá đều tăng so với năm 2007, chủ yếu do giá trên thị trường thế giới tăng Xuất khẩu dầu thô ước tính đạt 13,9 triệu tấn, tương đương 10,5 tỷ USD, tuy giảm 7,7% về lượng nhưng tăng 23,1% về
Trang 30kim ngạch so với năm trước do giá dầu tăng cao trong những tháng giữa năm Hàng dệt may đạt 9,1 tỷ USD, tăng 17,5% s
So với năm 2007; trong đó Hoa Kỳ vẫn là bạn hàng lớn nhất về hàng dệt may với 5,1 tỷ USD, tăng 14,2% so với năm 2007; tiếp đến là EU 1,7 tỷ USD, tăng 13,8%; Nhật Bản 810 triệu USD, tăng 15,9%
Kim ngạch xuất khẩu giày dép năm 2008 ước tính đạt 4,7 tỷ USD, tăng 17,6% so với năm trước, trong đó hai thị trường EU và Hoa Kỳ chiếm tỷ trọng trên 74% tổng kim ngạch xuất khẩu giày dép Thủy sản ước tính đạt 4,6 tỷ USD, tăng 21,2% so với năm
2007 Thị trường EU vẫn là thị trường chính nhập khẩu hàng thủy sản của Việt Nam, đạt 1,2 tỷ USD, tăng 26,5% so với năm 2007; tiếp theo là Nhật Bản đạt 850 triệu USD, tăng 12,8%; Hoa Kỳ 760 triệu USD, tăng 4,3%; Hàn Quốc 310 triệu USD, tăng 12,7% Xuất khẩu gạo năm 2008 ước tính đạt 4,7 triệu tấn, đạt 2,9 tỷ USD, tuy chỉ tăng 3,6% về lượng nhưng tăng 94,8% về kim ngạch so với năm trước, do có mức tăng kỷ lục về giá xuất khẩu trong năm qua
Năm 2008 có 8 nhóm hàng/mặt hàng xuất khẩu đạt kim ngạch trên 2 tỷ USD là: Dầu thô 10,5 tỷ USD; hàng dệt may 9,1 tỷ USD; giày, dép 4,7 tỷ USD; thuỷ sản 4,6 tỷ USD; gạo 2,9 tỷ USD; sản phẩm gỗ 2,8 tỷ USD; điện tử, máy tính 2,7 tỷ USD; cà phê 2
tỷ USD, tăng 2 mặt hàng so với năm 2007 là gạo và cà phê Tuy kim ngạch hàng hoá xuất khẩu năm 2008 tăng khá cao so với năm 2007 nhưng nếu loại trừ trị giá tái xuất sắt, thép, vàng và yếu tố tăng giá của 8 mặt hàng chủ yếu (dầu thô, than đá, gạo, cà phê, cao
su, hạt tiêu, hạt điều, chè) thì kim ngạch hàng hoá xuất khẩu chỉ tăng 13,5%
Trong các thị trường xuất khẩu của Việt Nam năm 2008, Hoa Kỳ là đối tác lớn nhất, ước tính đạt 11,6 tỷ USD, tăng 14,5% so với năm 2007 với 5 mặt hàng chủ yếu (chiếm tỷ trọng 76% tổng kim ngạch hàng hoá xuất khẩu của Việt Nam sang thị trường này) gồm: Hàng dệt may, dầu thô, gỗ và sản phẩm gỗ, giày dép, thủy sản Kim ngạch hàng hoá xuất khẩu sang thị trường ASEAN tuy có giảm trong các tháng cuối năm, nhưng ước tính cả năm vẫn đạt 10,2 tỷ USD, tăng 31% so với năm 2007 với các mặt hàng chính là: Dầu thô, gạo, thủy sản, máy tính, sản phẩm điện tử và linh kiện Thị trường EU ước tính đạt 10 tỷ USD, tăng 15% so với năm trước gồm các mặt hàng truyền
Trang 31thống như: Hàng dệt may, giày dép, nông sản, thủy sản Thị trường Nhật Bản ước tính đạt 8,8 tỷ USD, tăng 45% so với năm 2007, tập trung chủ yếu vào các mặt hàng: Dầu thô, giày dép, thủy sản, máy tính và linh kiện, dây và cáp điện
- Năm 2009
Tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hoá (KNXK) năm 2009 đạt khoảng 56,6 tỷ USD, giảm 9,7% so với năm 2008 và bằng 87,6% kế hoạch (kế hoạch điều chỉnh tăng 3% của Quốc hội)
Do sức tiêu thụ hàng hoá trên thị trường thế giới thu hẹp, giá cả của nhiều loại hàng hoá giảm mạnh nên kim ngạch xuất khẩu 9 tháng đầu năm 2009 chỉ đạt gần 41,4 tỷ USD, giảm 14,8% so với cùng kỳ năm trước Những tháng cuối năm tình hình đã được cải thiện rõ rệt Kim ngạch xuất khẩu hàng hoá tháng 11 đạt gần 4,7 tỷ USD, tăng 10,2%
so với cùng kỳ năm trước Tháng 12 đạt mức cao nhất trong năm với 5,25 tỷ USD, tăng 12% so với tháng trước và tăng 12,5% so với tháng 12 năm trước, chủ yếu do hầu hết các mặt hàng xuất khẩu chủ lực đều tăng, trong đó hàng dệt may tăng 90 triệu USD, gạo tăng
80 triệu USD; giày dép tăng 77 triệu USD; cà phê tăng 67 triệu USD; dầu thô tăng 33 triệu USD Tính chung quý IV năm 2009, kim ngạch hàng hoá xuất khẩu tăng 7,1% so với quý IV năm 2008
Nhờ xuất khẩu quý IV tăng cao nên kim ngạch xuất khẩu hàng hoá năm 2009 ước tính đạt 56,6 tỷ USD, giảm 9,7% so với năm 2008, bao gồm: khu vực kinh tế trong nước đạt 26,7 tỷ USD, giảm 5,1%, đóng góp 23,5% mức giảm chung của xuất khẩu hàng hoá
cả năm; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) đạt 29,9 tỷ USD, giảm 13,5%, đóng góp 76,5% Nếu không kể dầu thô thì kim ngạch xuất khẩu hàng hoá của khu vực
có vốn đầu tư nước ngoài giảm 2,2% so với năm 2008
Kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may năm 2009 ước tính đạt 9 tỷ USD, giảm 1,3%
so với năm trước; dầu thô 6,2 tỷ USD (giảm 2,4% về lượng và giảm tới 40% về kim ngạch), chiếm tới 68% mức giảm chung của tổng kim ngạch xuất khẩu cả năm; thủy sản đạt 4,2 tỷ USD, giảm 6,7%; giày dép đạt 4 tỷ USD, giảm 15,8%; gạo đạt 2,7 tỷ USD (tăng 25,4% về lượng và giảm 8% về kim ngạch); gỗ và sản phẩm gỗ đạt 2,6 tỷ USD,
Trang 32giảm 9,9%; cà phê đạt 1,7 tỷ USD (tăng 10,2% về lượng và giảm 19% về kim ngạch); than đá đạt 1,3 tỷ USD (tăng 29,9% về lượng và giảm 4,5% về kim ngạch)
Thị trường xuất khẩu một số hàng hoá chủ yếu năm 2009 như sau: Hàng dệt may xuất khẩu sang Mỹ đạt 4,9 tỷ USD, giảm 3% so với năm 2008; tiếp theo là EU đạt 1,7 tỷ USD, giảm 3,1%; Nhật Bản 930 triệu USD, tăng 12% Thị trường chính của dầu thô vẫn
là Ôx-trây-li-a với 1,5 tỷ USD, giảm 55%; Xin-ga-po 1 tỷ USD, giảm 37%; Ma-lai-xi-a
780 triệu USD, giảm 8%; Mỹ 430 triêụ USD, giảm 57%; Trung Quốc 420 triệu USD, giảm 30% Kim ngạch xuất khẩu thuỷ sản sang các đối tác chính trong năm 2009 đều giảm, trong đó EU đạt 1,1 tỷ USD, giảm 5,7 %; Mỹ 710 triệu USD, giảm 3,9%; Nhật Bản 760 triệu USD, giảm 8,4% Sản phẩm giày, dép xuất khẩu sang EU năm 2009 ước tính đạt 1,9 tỷ USD, giảm 23,2%; Mỹ 1 tỷ USD, giảm 2%; Nhật Bản 120 triệu USD, giảm 10,5%
Trong năm 2009, 7 thị trường xuất khẩu chính của hàng hoá của nước ta đã chiếm gần 80% tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước, gồm: Thị trường Mỹ ước tính đạt 11,2
tỷ USD, giảm 5,5% so với năm 2008; EU 9,3 tỷ USD, giảm 14,4%; ASEAN 8,5 tỷ USD, giảm 16,4%; Nhật Bản 6,2 tỷ USD, giảm 27,7%; Trung Quốc 4,8 tỷ USD, tăng 4,9%; Hàn Quốc 2,5 tỷ USD, tăng 15%; Ôx-trây-li-a 2,2 tỷ USD, giảm 48% (chủ yếu do giá dầu thô giảm) Đáng chú ý là thị trường châu Phi tuy kim ngạch ước tính mới đạt 1,1 tỷ USD nhưng đã phát triển nhanh, gấp 8 lần năm 2008
- Năm 2010
Tổng kim ngạch xuất khẩu năm 2010 ước đạt khoảng 71,6 tỷ USD, tăng 25,5% so với năm 2009 và vượt 18% so với chỉ tiêu Quốc hội đề ra Trong đó: khu vực kinh tế trong nước đạt 32,8 tỷ USD, tăng 22,7%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (gồm cả dầu thô) đạt 38,8 tỷ USD, tăng 27,8% Nếu không kể dầu thô thì kim ngạch xuất khẩu hàng hoá của khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 33,9 tỷ USD, tăng 40,1% so với năm
2009
Trong năm 2010, có 18 mặt hàng đạt kim ngạch xuất khẩu trên 1 tỷ USD(Năm
2009 có 12 mặt hàng), trong đó kim ngạch xuất khẩu của nhiều mặt hàng chủ lực tăng cao so với năm 2009 như: Hàng dệt may đạt 11,2 tỷ USD, tăng 23,2%; giày dép đạt 5,1
Trang 33tỷ USD, tăng 24,9%; thủy sản 4,9 tỷ USD, tăng 16,5%; hàng điện tử máy tính 3,6 tỷ USD, tăng 28,8%; gỗ và sản phẩm gỗ 3,4 tỷ USD, tăng 31,2%; gạo đạt 3,2 tỷ USD, tăng 20,6; máy móc, thiết bị, dụng cụ phụ tùng 3 tỷ USD, tăng 48%; cao su 2,4 tỷ USD, tăng 93,7%
Nhìn chung xuất khẩu hàng hóa năm 2010 có nhiều thuận lợi do đơn giá nhiều mặt hàng trên thị trường thế giới tăng cao, trong đó giá sắn và sản phẩm sắn tăng 90,7%; cao su tăng 81%; hạt tiêu tăng 39,7%; hạt điều tăng 22,4%; than đá tăng 52,9%; dầu thô tăng 33,7%) Nếu loại trừ yếu tố tăng giá thì kim ngạch hàng hóa xuất khẩu năm 2010 ước tính đạt 64,5 tỷ USD, tăng 13,4% so với năm 2009
Cơ cấu kim ngạch hàng hóa xuất khẩu năm 2010 có sự thay đổi ở một số nhóm hàng so với năm trước, trong đó nhóm hàng công nghiệp nhẹ và tiểu thủ công nghiệp tăng từ 42,8% lên 46%; nhóm hàng công nghiệp nặng và khoáng sản giảm từ 29,4% xuống 27,2%; nhóm hàng thủy sản giảm từ 7,4% xuống 6,9%; vàng và các sản phẩm vàng giảm từ 4,6% xuống 4%
Về thị trường xuất khẩu, tính đến hết tháng 11/2010, Hoa Kỳ vẫn là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam với kim ngạch ước tính đạt 12,8 tỷ USD, chiếm 17,9% tổng kim ngạch hàng hóa xuất khẩu và tăng 25,4% so với cùng kỳ năm trước Các mặt hàng xuất khẩu chủ yếu sang thị trường này là: Hàng dệt may đạt 5,5 tỷ USD; gỗ và sản phẩm gỗ 1,3 tỷ USD; giày dép 1,3 tỷ USD; thủy sản 864 triệu USD Tiếp đến là EU đạt
10 tỷ USD, chiếm 13,9% và tăng 15,9% với kim ngạch xuất khẩu giày dép đạt 2 tỷ USD; hàng dệt may 1,64 tỷ USD; thủy sản 1 tỷ USD; gỗ và sản phẩm gỗ 594 triệu USD Xuất khẩu sang ASEAN đạt 9,3 tỷ USD, chiếm 13% và tăng 19,6%, trong đó xuất khẩu gạo đạt 1,5 tỷ USD; dầu thô 1,4 tỷ USD; xăng dầu 653 triệu USD Xuất khẩu sang thị trường Nhật Bản đạt 6,9 tỷ USD, chiếm 9,6% và tăng 23,6% so với cùng kỳ năm trước; sang Trung Quốc đạt 6,3 tỷ USD, chiếm 8,8% và tăng 48,6%
Kim ngạch dịch vụ xuất khẩu năm 2010 ước tính đạt 7460 triệu USD, tăng 29,4% so với năm 2009, trong đó dịch vụ du lịch đạt 4450 triệu USD, tăng 45,9%; dịch
vụ vận tải 2306 triệu USD, tăng 11,8%
Trang 34Kim ngạch dịch vụ xuất khẩu năm 2011 ước tính đạt 8879 triệu USD, tăng 19% so với năm 2010, trong đó dịch vụ du lịch đạt 5620 triệu USD, tăng 26,3%; dịch vụ vận tải
2505 triệu USD, tăng 8,7%
- Năm 2011
Kim ngạch hàng hóa xuất khẩu năm 2011, kim ngạch hàng hóa xuất khẩu đạt 96,3
tỷ USD, tăng 33,3% so với năm 2010, bao gồm: Khu vực kinh tế trong nước đạt 41,8 tỷ USD, tăng 26,1%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (gồm cả dầu thô) đạt 54,5 tỷ USD, tăng 39,3% Nếu không kể dầu thô thì kim ngạch xuất khẩu hàng hoá của khu vực có vốn đầu tư nước ngoài năm nay đạt 47,2 tỷ USD, tăng 38,4% so với năm trước
Trong năm 2011, có 14 mặt hàng đạt kim ngạch xuất khẩu trên 2 tỷ USDlà: Dệt may 14 tỷ USD, tăng 25,1% so với năm 2010; dầu thô 7,2 tỷ USD, tăng 45,9%; điện thoại các loại và linh kiện 6,9 tỷ USD, tăng 197,3%; giày dép 6,5 tỷ USD, tăng 27,3%; thủy sản 6,1 tỷ USD, tăng 21,7%; điện tử máy tính 4,2 tỷ USD, tăng 16,9% ; máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng 4,1 tỷ USD, tăng 34,5%; gỗ và sản phẩm gỗ 3,9 tỷ USD, tăng 13,7%; gạo 3,6 tỷ USD, tăng 12,2%; cao su 3,2 tỷ USD, tăng 35%; cà phê 2,7 tỷ USD, tăng 48,1%; đá quý, kim loại quý và sản phẩm gần 2,7 tỷ USD, giảm 5,2%; phương tiện vận tải và phụ tùng 2,4 tỷ USD, tăng 51,3%; xăng dầu 2,1 tỷ USD, tăng 53,6%
Kim ngạch xuất khẩu năm 2011 tăng mạnh chủ yếu do đơn giá của nhiều mặt hàng trên thị trường thế giới tăng, trong đó giá hạt tiêu tăng 65%; giá hạt điều tăng 42%; giá cà phê tăng 44%; giá cao su tăng 29%; giá gạo tăng 9%, giá sắn và sản phẩm của sắn tăng 9%; giá than đá tăng 15,6%, giá dầu thô tăng 40,8%, giá xăng dầu tăng 36% Nếu loại trừ yếu tố tăng giá thì kim ngạch hàng hóa xuất khẩu năm 2011 tăng 11,4% so với năm trước
Cơ cấu kim ngạch hàng hóa xuất khẩu năm 2011 có một số thay đổi so với năm 2010: Tỷ trọng nhóm hàng công nghiệp nặng và khoáng sản chiếm 35,2%, tăng 4 điểm phần trăm, là nhóm hàng đóng góp vào mức tăng kim ngạch xuất khẩu cao nhất với mức 47,5%; nhóm hàng công nghiệp nhẹ chiếm 40,6%, giảm 2 điểm phần trăm so với năm trước; tỷ trọng nhóm hàng nông, lâm, thủy sản giảm nhẹ từ 22,5% năm 2010 xuống
Trang 3521,9% năm 2011; vàng và các sản phẩm vàng chiếm 2,3%, giảm so với 3,8% của năm
2010
Về thị trường hàng hóa xuất khẩu, Hoa Kỳ vẫn là thị trường có kim ngạch cao nhất trong năm 2011 với 16,7 tỷ USD, chiếm 17,4% tổng kim ngạch hàng hóa xuất khẩu của nước ta và tăng 17,5% so với năm 2010; thị trường EU đạt 16,5 tỷ USD, chiếm 17,2% và tăng 45,4%; thị trường ASEAN đạt 13,6 tỷ USD, chiếm 14,1% và tăng 31,5%; Nhật Bản đạt 10,6 tỷ USD, chiếm 11,1% và tăng 37,8%; Trung Quốc đạt 10,8 tỷ USD, chiếm 11,2% và tăng 47,6%
- Năm 2012
Kim ngạch hàng hóa xuất khẩu năm 2012, kim ngạch hàng hóa xuất khẩu đạt 114,6
tỷ USD, tăng 18,3% so với năm 2011, bao gồm: Khu vực kinh tế trong nước đạt 42,3 tỷ USD, tăng 1,3%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (gồm cả dầu thô) đạt 72,3 tỷ USD, tăng 31,2% Nếu không kể dầu thô thì kim ngạch hàng hoá xuất khẩu của khu vực có vốn đầu tư nước ngoài năm nay đạt 63,9 tỷ USD, tăng 33,5% so với năm trước Nếu loại trừ yếu tố giá, kim ngạch hàng hóa xuất khẩu năm 2012 tăng 18,9%
Kim ngạch hàng hóa xuất khẩu năm 2012 tăng cao chủ yếu ở khu vực có vốn đầu tư nước ngoài với các mặt hàng như: Điện tử, máy tính và linh kiện; điện thoại các loại và linh kiện, hàng dệt may, giày dép Các mặt hàng trên đều thuộc nhóm hàng có tỷ trọng gia công cao, điều này phản ánh hiệu quả xuất khẩu và lượng ngoại tệ thực thu thấp Mức tăng kim ngạch hàng hóa xuất khẩu của khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đóng góp 17,7 điểm phần trăm vào mức tăng chung, trong khi đó khu vực kinh tế trong nước chỉ đóng góp 0,6 điểm phần trăm
Trong năm 2012, nhiều sản phẩm thuộc nhóm hàng công nghiệp có kim ngạch xuất khẩu tăng mạnh như: Điện thoại và linh kiện 12,6 tỷ USD, tăng 97,7%; điện tử máy tính đạt 7,9 tỷ USD, tăng 69,1%; máy móc, thiết bị phụ tùng 5,5 tỷ USD, tăng 26,9% Nhiều nhóm hàng nông sản tăng khá về lượng xuất khẩu: Sắn và sản phẩm sắn tăng 55,2%; cà phê tăng 37,9%; cao su tăng 23,8%; hạt điều tăng 25,6%; gạo tăng 13,1%; chè tăng 10,4% Đây là lần đầu tiên xuất khẩu gạo đạt trên 8 triệu tấn, tương đương 3,7 tỷ USD Tuy nhiên,
Trang 36kim ngạch xuất khẩu những mặt hàng nông sản trên không cao do ảnh hưởng của đơn giá thế giới giảm như: Giá sắn và sản phẩm sắn giảm 16,8%; cà phê giảm 6,2%; hạt điều giảm 15%; gạo giảm 7,1%; chè giảm 2,2% Các mặt hàng xuất khẩu truyền thống vẫn giữ mức tăng khá là: Dây và cáp điện tăng 41,2%; sản phẩm gốm sứ tăng 20%; gỗ và sản phẩm gỗ tăng 17,3%; giày dép tăng 10,6%; hàng dệt may tăng 7,1%
Cơ cấu kim ngạch hàng hóa xuất khẩu năm 2012 có sự thay đổi so với năm trước:
Tỷ trọng nhóm hàng công nghiệp nặng và khoáng sản ước tính đạt 51,7 tỷ USD, tăng 49,9% và chiếm 45,1% (Năm 2011 là 35,6%), chủ yếu do tăng kim ngạch của điện thoại
và linh kiện, tăng 6,2 tỷ USD (tăng 97,7%) Nhóm hàng công nghiệp nhẹ và tiểu thủ công nghiệp đạt 39 tỷ USD, tương đương năm 2011 nhưng tỷ trọng giảm từ 40,3% năm 2011 xuống 34,1% năm 2012 Nhóm hàng nông, lâm sản đạt 17,7 tỷ USD, tăng 18% so với năm trước nhưng tỷ trọng không đổi với 15,4% Nhóm hàng thuỷ sản đạt 6,2 tỷ USD, xấp xỉ năm 2011 và tỷ trọng giảm từ 6,3% năm 2011 xuống 5,4% năm 2012
Về thị trường hàng hóa xuất khẩu của nước ta năm 2012, EU vươn lên là thị trường tiêu thụ hàng hóa lớn nhất với kim ngạch đạt 20,3 tỷ USD, tăng 22,5% so với năm 2011 và chiếm 17,7% tổng kim ngạch hàng hóa xuất khẩu Một số mặt hàng xuất khẩu chủ lực vào thị trường EU chiếm tỷ trọng cao là: Điện thoại chiếm 43% tổng kim ngạch điện thoại xuất khẩu; giày dép chiếm 36%; máy tính chiếm 19%; hàng dệt may chiếm 16%, tiếp đến là Hoa
Kỳ 19,6 tỷ USD, tăng 15,6% và chiếm 17,1%; ASEAN 17,3 tỷ USD, tăng 27,2% và chiếm 15,1%; Nhật Bản 13,1 tỷ USD, tăng 21,4% và chiếm 11,4%; Trung Quốc 12,2 tỷ USD, tăng 10% và chiếm 10,7%
Kim ngạch dịch vụ xuất khẩu năm 2012 ước tính đạt 9,4 tỷ USD, tăng 6,3% so với năm 2011, trong đó dịch vụ du lịch đạt 6,6 tỷ USD, tăng 18%; dịch vụ vận tải 2,1 tỷ USD, giảm 15,5%
Trang 37dầu thô thì kim ngạch hàng hoá xuất khẩu của khu vực có vốn đầu tư nước ngoài năm nay đạt 81,2 tỷ USD, tăng 26,8% so với năm trước Nếu loại trừ yếu tố giá, kim ngạch hàng hóa xuất khẩu năm 2013 tăng 18,2%
Trong năm 2013, nhiều sản phẩm thuộc nhóm hàng công nghiệp có kim ngạch xuất khẩu tăng mạnh như: Điện thoại và linh kiện đạt 21,5 tỷ USD, tăng 69,2%; hàng dệt, may đạt 17,9 tỷ USD, tăng 18,6%; điện tử máy tính và linh kiện đạt 10,7 tỷ USD, tăng 36,2%; giày dép đạt 8,4 tỷ USD, tăng 15,2%; gỗ và sản phẩm gỗ đạt 5,5 tỷ USD, tăng 17,8%; túi xách, ví, va li, mũ, ô dù đạt 1,9 tỷ USD, tăng 27,6%; hóa chất tăng 32,4%; rau quả tăng 25,7%; hạt điều tăng 12,9%; hạt tiêu tăng 13,4% Một số mặt hàng có kim ngạch xuất khẩu tăng khá là: Thủy sản đạt 6,7 tỷ USD, tăng 10,6%; máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng khác đạt 6 tỷ USD, tăng 9%; phương tiện vận tải và phụ tùng đạt 4,9
tỷ USD, tăng 7,8%; sắt thép đạt 1,8 tỷ USD, tăng 8%; dây điện và dây cáp đạt 0,7 tỷ USD, tăng 10%; sản phẩm hóa chất đạt 0,7 tỷ USD, tăng 5,2% Kim ngạch xuất khẩu dầu thô đạt 7,2 tỷ USD, giảm 11,9%; gạo đạt 3 tỷ USD, giảm 18,7%; cà phê đạt 2,7 tỷ USD, giảm 26,6%; cao su đạt 2,5 tỷ USD, giảm 11,7%; xăng dầu đạt 1,2 tỷ USD, giảm 32,8%
Về thị trường, EU tiếp tục là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam với kim ngạch xuất khẩu năm 2013 ước đạt 24,4 tỷ USD tăng 20,4 % so với năm 2012 Hoa Kỳ đứng thứ 2 với kim ngạch xuất khẩu ước tính đạt 23,7 tỷ USD, tăng 20,3%; ASEAN đạt 18,5 tỷ USD, tăng 6,3%; Nhật Bản ước tính đạt 13,6 tỷ USD, tăng 3,8%; Hàn Quốc 6,7
tỷ USD, tăng 19,9%; Trung Quốc đạt 13,1 tỷ USD, tăng 2,1%
Kim ngạch xuất khẩu dịch vụ năm 2013 ước tính đạt 10,5 tỷ USD, tăng 9,1% so với năm 2012, trong đó dịch vụ du lịch đạt 7,5 tỷ USD, tăng 9,9%; dịch vụ vận tải 2,2 tỷ USD, tăng 5,8%
Tóm lại, sau khi gia nhập WTO, hoạt động xuất khẩu của Việt Nam đã có những
chuyển biến tích cực.Tuy nhiên, hoạt động xuất khẩu của Việt Nam cũng dễ bị tác động bởi các yếu tố bên ngoài hơn.Tác động tích cực của việc gia nhập WTO đã bị triệt tiêu nhiều bởi tác động tiêu cực của cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới nên không phát huy được tác động mạnh như mong đợi