Với mục đích tạo ra một mối quan hệ trao đổi có lợi cho cho các các chủ thể tham gia, TMCB đã và đang giúp đỡ những nhà sản xuất nhỏ tại các quốc gia đang phát triển có thể phát triển mộ
Trang 1
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
- o0o -
Công trình tham dự Cuộc thi
Sinh viên nghiên cứu khoa học Trường Đại học Ngoại thương 2014
Tên công trình
VÀ BÀI HỌC CHO VIỆT NAM
Mã ngành: KD 3
Hà Nội, tháng 5 năm 20 14
Trang 2Tiếng Việt CNH – HĐH Công nghiệp hóa - Hiện đại hóa
NNPTNT Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn
TMCB Thương mại Công bằng
ATO Alternative Trade Organization Tổ chức Thương mại Thay thế
ADB Asian Development Bank Ngân hàng Phát triển châu Á
Food and Agriculture Organization
of the United Nations Tổ chức Lương thực Thế giới
United States Department of
Trang 3WFTO
giới
DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1 So sánh đặc điểm TMCB và thương mại thông thường 19
Bảng 1.2 Khối lượng và giá trị tiêu thụ của một số hàng hóa TMCB 2006-2012 26
Bảng 1.3 Giá trị bán lẻ hàng hóa TMCB ở một số quốc gia (đơn vị: Euro) 27
Bảng 1.4 Ý kiến người tiêu dùng về việc trả mức giá cao hơn cho sản phẩm TMCB 32 Bảng 1.5 Giá tối thiểu một số loại gạo hữu cơ và gạo thông thường TMCB (EURO) 34 Bảng 2.1 Dân số, lao động của Thái Lan 2000-2004 38
Bảng 2.2 Giá một số loại gạo TMCB của Thái Lan hiện nay 48
Bảng 3.1 Quy mô lao động trong nông nghiệp giai đoạn 2005-2012 62
Bảng 3.2 Vốn đầu tư phát triển toàn xã hội cho nông nghiệp theo giá hiện hành năm 2012
63 Bảng 3.3 Giá xuất khẩu một số loại gạo 66
Bảng 3.4 Một số thị trường xuất khẩu gạo lớn năm 2012 67
Bảng 3.5 Thu nhập bình quân năm của dân cư 70
Bảng 3.6 Số lượng HTX và thành viên tại Thái Lan giai đoạn 2000-2010 77
DANH MỤC HÌNH Hình 1.1 Một số nhãn hiệu TMCB cho sản phẩm 11
Hình 1.2 Nhãn hiệu chương trình TMCB 11
Hình 1.3 Mô hình phân phối sản phẩm TMCB 15
Hình 1.4 Tổng sản lượng và sản lượng TMCB xuất khẩu của HTX Conacado (1999 – 2007)
21 Hình 1.5 Doanh thu toàn cầu của hàng hóa TMCB 25
Hình 1.6 Sản lượng gạo TMCB 32
Hình 2.1 Tình hình sử dụng đất ở Thái Lan năm 2008 36
Trang 4Hình 2.3 Sản lượng và kim ngạch xuất khẩu gạo Thái Lan 41
Hình 2.4 Cơ cấu thị trường gạo xuất khẩu Thái Lan năm 2011 42
Hình 2.5 Một số nhãn hiệu TMCB mặt hàng gạo tại Thái Lan 47
Hình 2.6 Kênh phân phối gạo TMCB tại Thái Lan 49
Hình 2.7 Quá trình bán gạo TMCB 57
Hình 3.1 Sản lượng và kim ngạch xuất khẩu gạo Việt Nam (1990-2012) 65
MỤC LỤC LỜI MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG I CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ THƯƠNG MẠI CÔNG BẰNG VÀ THƯƠNG MẠI CÔNG BẰNG VỀ MẶT HÀNG GẠO TRÊN THẾ GIỚI 5
1.1 Khái niệm và đặc điểm của Thương mại Công bằng 5
1.1.1 Bối cảnh ra đời của TMCB 5
1.1.2 Khái niệm 7
1.1.3 Nguyên tắc TMCB 8
1.1.4 Đặc điểm của TMCB 9
1.2 Vai trò của TMCB với các nước đang và chậm phát triển 19
1.2.1 Về kinh tế 19
1.2.2 Về xã hội 20
1.2.3 Về môi trường 22
1.3 Thực tiễn chung về phát triển TMCB và TMCB bằng đối với mặt hàng gạo 22 trên thế giới 22
1.3.1 Thực tiễn Thương mại Công bằng từ năm 1990 đến nay 22
1.3.2 Sự phát triển Thương mại Công bằng về gạo trên thế giới 27
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN THƯƠNG MẠI CÔNG BẰNG ĐỐI VỚI MẶT HÀNG GẠO TẠI THÁI LAN TRONG GIAI ĐOẠN 1990 – 2013 33
2.1 Tổng quan về sản xuất và thương mại đối với mặt hàng gạo tại Thái Lan 33
2.1.1 Tổng quan về sản xuất mặt hàng gạo 33
2.1.2 Tổng quan về thương mại mặt hàng gạo tại Thái Lan 39
Trang 52.2.1 Tổng quan TMCB tại Thái Lan 40
2.2.2 Thực trạng phát triển TMCB mặt hàng gạo tại Thái Lan 41
2.3 Một số dự án điển hình về TMCB đối với gạo Thái Lan giai đoạn 1990 – 52
2.3.1 Sự hỗ trợ của HTX Green Net trong phát triển TMCB về gạo tại Thái Lan 53
2.3.2 Sự hỗ trợ của Quỹ gạo Surin trong phát triển TMCB về gạo tại tỉnh Surin, Thái Lan 55
CHƯƠNG 3 MỘT SỐ BÀI HỌC KINH NGHIỆM TỪ TMCB GẠO CỦA THÁI LAN VÀ ĐỀ XUẤT DỰA TRÊN BÀI HỌC KINH NGHIỆM CHO VIỆT NAM 57 3.1 Tổng quan ngành gạo và triển vọng phát triển TMCB gạo tại Việt Nam 57
3.1.1 Tổng quan về gạo tại Việt Nam 57
3.1.2 Sự cần thiết phát triển TMCB gạo tại Việt Nam 64
3.1.3 Triển vọng phát triển TMCB gạo tại Việt Nam 67
3.2 Một số bài học kinh nghiệm từ Thương mại Công bằng về gạo của Thái Lan 71
3.2.1 Thành công của Thái Lan trong việc phát triển nông nghiệp hữu cơ 71
3.2.2 Bài học từ thành công của Thái Lan trong việc phát triển TMCB về gạo 72
3.2.3 Bài học từ hạn chế của Thái Lan trong phát triển TMCB về gạo 75
3.3 Một số giải pháp nhằm phát triển Thương mại Công bằng gạo ở Việt Nam 76
3.3.1 Giải pháp phát triển nền nông nghiệp hữu cơ 76
3.3.2 Giải pháp phát triển TMCB mặt hàng gạo 77
KẾT LUẬN 84
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 85
PHỤ LỤC 91
Trang 6LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Việt Nam là một quốc gia đang phát triển với nông nghiệp đóng vai trò quan trọng, đem lại thu nhập cho phần lớn người dân, đặc biệt là nông nghiệp sản xuất lúa gạo Tuy nhiên, thực trạng sản xuất gạo tại Việt Nam nhiều năm nay chủ yếu tập trung phát triển chiều rộng mà vẫn bỏ ngỏ vấn đề phát triển theo chiều sâu, khiến cho sản lượng gạo Việt Nam xuất khẩu khá cao nhưng giá trị thu được lại thấp Hơn nữa, hiện nay, kênh phân phối truyền thống mặt hàng gạo của nước ta khá rắc rối với rất nhiều chủ thể tham gia; và hệ quả là khi giá gạo tăng thì người nông dân thu được ít lợi nhuận nhất nhưng khi giá giảm thì họ lại bị thiệt thòi và bị ép giá thu mua Ngoài những vấn đề kinh tế, môi trường nông thôn đang ngày một ô nhiễm do rất nhiều nguyên nhân từ việc sản xuất gạo của nông dân Dưới những áp lực sản xuất và thương mại truyền thống, TMCB ra đời hướng tới lợi ích của người nông dân, đồng thời vẫn đảm bảo các yếu tố môi trường và mục tiêu phát triển bền vững
Với mục đích tạo ra một mối quan hệ trao đổi có lợi cho cho các các chủ thể tham gia, TMCB đã và đang giúp đỡ những nhà sản xuất nhỏ tại các quốc gia đang phát triển có thể phát triển một cách bền vững bằng cách tạo dựng mối quan hệ thương mại trực tiếp giữa các quốc gia, hỗ trợ cho những nhà sản xuất nhỏ tiếp cận được với thị trường quốc tế, đảm bảo cho họ mức thu nhập xứng đáng với công sức họ bỏ ra
Và vì thế, đây là một trong những giải pháp góp phần giải quyết những vấn đề bất bình đẳng do Thương mại truyền thống gây ra
Không chỉ là một trong những nước đứng đầu về sản xuất gạo trên thế giới, Thái Lan còn đi tiên phong trong việc áp dụng TMCB với các sản phẩm gạo nhằm cải thiện mức sống cho người nông dân, đồng thời nâng cao thương hiệu gạo Thái trên thị trường thế giới Do vậy, việc nghiên cứu kinh nghiệm của Thái Lan trong phát triển TMCB mặt hàng gạo, phân tích trong điều kiện cụ thể của Việt Nam sẽ là những căn cứ cụ thể đề xuất những giải pháp vận dụng những kinh nghiệm này vào thực tiễn sản xuất và thương mại mặt hàng gạo tại Việt Nam
Từ những phân tích trên, nhóm nghiên cứu đã lựa chọn đề tài “Kinh nghiệm phát triển Thương mại Công bằng đối với gạo của TháiLan và bài học cho Việt Nam” làm đề tài nghiên cứu
Trang 72 Tổng quan tình hình nghiên cứu
Trên thế giới, đã có rất nhiều nghiên cứu tổng thể về lý thuyết tổng quan về TMCB bằng như:
• Thương mại Công bằng: Tổng quan, tác động và những thách thức, 2000,
Trường Đại học Tổng hợp Oxford, Anh
• Stiglitz, JE & Charlton, A 2005, Thương mại Công bằng dành cho mọi người:
Cách để thương mại thúc đẩy sự phát triển,Nhà xuất bản trường Đại học Oxford,
Oxford, Anh
• Rice, J 2010, ‘Tự do hóa thương mại, Thương mại Công bằng và sự bất bình đẳng giới tính ở các nước kém phát triển’, Tạp chí Sustainable Development, số 18 năm 2010, trang 42 – 50
• Hutchens, A 2010, ‘Trao quyền cho người phụ nữ qua TMCB: Bài học từ Châu Á’, Tạp trí Third World Quarterly, số 31 năm 2010, trang 449 – 467
• Hanson, L & các cộng sự, ‘Giới tính, sức khỏe và Thương mại Công bằng: Góc nhìn từ những dự án nghiên cứu tại Nicaragua’, tạp chí Development in Practice,
Số 22 tháng 4/2012
Tuy nhiên, những nghiên cứu về tổng quan lý thuyết về TMCB trên thế giới hiện nay vẫn còn rời rạc, chưa có cái nhìn toàn diện về đặc điểm, tác động của hình thức thương mại này trên phạm vi toàn cầu Ngoài ra, phần đông nghiên cứu chỉ tập trung vào những tác động mang tính xã hội về TMCB mà ít đề cập tới khía canh thương mại (chỉ có tài liệu của TS Lê Thu Thủy đề cập đến vấn đề này), tức là phân tích những đặc điểm nổi bật của TMCB khác biệt so với thương mại truyền thống, đặc biệt trong khâu kiểm định dán nhãn, kiểm tra và kiểm soát sau khi dán nhãn TMCB
Một số nghiên cứu về TMCB gạo tại Thái Lan:
• Udomkit, N & Winnett, 2002, Fair trade in organic rice: a case study from
Thailand, Tạp chí Small Enterprise Development, Số 13 09/2012, trang 45 – 53
• Patrawart, J 2009, ‘Bước tiên mới của Hợp tac xã và sự phát triển của Thương
mại Công bằng’, Research Report, Thailand Research Fund
• Becchetti, L.&Conzo, P.và Gianfreda,G 2011, ‘Tiếp cận thị trường, nông nghiệp hữu cơ và sản xuất: ảnh hưởng của việc Thương mại Công bằng liên kết với
Trang 8các nhóm nông dân sản xuất ở Thái Lan’,The Australian Journal of Agricultural and Resource Economics, số 56, trang 117–140
• Edwardson, W.& Santacoloma, P., 2013, ‘Chuỗi cung ứng hữu cơ tạo ra thu nhập cho các hộ nông dân sản xuất nhỏ ở các nước đang phát triểnNghiên cứu trường hợp ở Ấn Độ, Thái Lan, Brazil, Hungary và châu Phi’, Tổ chức lương thực thế giới (FAO)
Những nghiên cứu về gạo ở Thái Lan thường là những nghiên cứu tập trung trong một số lĩnh vực cụ thể như HTX hay chuỗi cung ứng trong TMCB Tuy nhiên, những nghiên cứu này cũng chưa đưa ra được bức tranh tổng quát về TMCB mặt hàng gạo tại đây và tiềm năng phát triển của hình thức này
Còn tại Việt Nam, những nghiên cứu về TMCB còn rất ít:
• TS Lê Thu Thủy, 2008, ‘Thương mại Công bằng và các giải pháp phát triển tại Việt Nam’, Trường Đại học Ngoại thương
• Nguyễn Mai Trang, 2009, Fair Trade Rice in Thailand and lessons for Vietnam, trường Đại học Ngoại thương
• Nguyen Stevenin, Quynh Tram 2011, MDI - Betterday Sản phẩm TMCB: Giúp
nâng cao chất lương, sức khỏe cộng đồng, Chương trình phát triển Liên hợp quốc
Những nghiên cứu về TMCB tại Việt Nam nói chung và TMCB mặt hàng gạo nói riêng còn rất khiêm tốn, đồng thời vẫn chưa đề cập trực tiếp nhiều đến khía cạnh thương mại trong TMCB
Trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay, việc đi sâu nghiên cứu kinh nghiệm áp dụng TMCB về gạo đã thành công ở Thái Lan để áp dụng vào Việt Nam là vấn đề cần thiết trong việc phát triển nền nông nghiệp nói chung và sản xuất lúa gạo nói riêng một cách bền vững
3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục tiêu: Đề tài nghiên cứu kinh nghiệm phát triển TMCB mặt hàng gạo tại Thái
Lan và tìm kiếm những giải pháp phát triển TMCB gạo tại Việt Nam nhằm cải thiện đời sống cho người nông dân sản xuất gạo ở Việt Nam thông qua phát triển TMCB đối với mặt hàng gạo hướng tới phát triển bền vững nông nghiệp tại Việt Nam
Nhiệm vụ: Nhằm đạt được những mục tiêu nghiên cứu nói trên, đề tài tự xác định các
nhiệm vụ nghiên cứu sau đây:
Trang 9Thứ nhất, làm rõ những vấn đề lý luận chung về Thương mại Công bằng và tính cấp thiết phát triển Thương mại Công bằng đối với mặt hàng gạo của Việt Nam
Thứ hai, nghiên cứu thực trạng Thương mại Công bằng của Thái Lan đối với mặt hàng gạo và rút ra bài học kinh nghiệm
Thứ ba, nghiên cứu thực trạng sản xuất và thương mại gạo Việt Nam, từ đó đánh giá
tính khả thi của việc áp dụng những kinh nghiệm của Thái Lan vào điều kiện thực tế của Việt Nam và đề xuất giải pháp phát triển Thương mại Công bằng đối với gạo Việt Nam
4 Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Kinh nghiệm phát triển TMCB đối với mặt hàng gạo của
Thái Lan và giải pháp nhằm phát triển TMCB gạo cho Việt Nam
Khách thể nghiên cứu: Thực trạng phát triển TMCB mặt hàng gạo của Thái Lan Phạm vi nghiên cứu:
Phạm vi không gian: Đề tài nghiên cứu tập trung vào hai nước Việt Nam và Thái
Lan Tuy nhiên, nghiên cứu có thể đề cập tới một số quốc gia khác để minh hoạ rõ hơn cho những lý luận của mình
Phạm vi thời gian: Đề tài nghiên cứu tập trung vào số liệu thương mại mặt hàng gạo Thái Lan từ năm 1990 đến 2013 Thương mại Công bằng mặt hàng gạo ở Thái Lan bắt đầu được triển khai từ năm 2002, vì vậy số liệu từ năm 2002-2013 sẽ phản ánh được tình hính phát triển Thương mại Công bằng ở Thái Lan
Từ việc nghiên cứu kinh nghiệm phát triển Thương mại Công bằng đối với gạo của Thái Lan trong giai đoạn 1990 – 2013 đề tài sẽ tập trung phân tích khả năng áp dụng đối với Việt Nam và đề xuất các giải pháp phù hợp cho kế hoạch 10 năm 2014 – 2024
Phạm vi về nội dung: Đối tượng chính trong nghiên cứu là TMCB đối với mặt hàng gạo Các mặt hàng khác được nhắc tới trong bài chỉ là một yếu tố minh hoạ, bổ sung cho việc nghiên cứu mặt hàng gạo
5 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện các nhiệm vụ nghiên cứu trên, đề tài dự kiến sẽ sử dụng những phương pháp nghiên cứu sau đây:
Phương pháp thực tiễn: phương pháp tổng hợp và phân tích số liệu, phương
pháp so sánh đối chiếu, phương pháp diễn giải- quy nạp, phương pháp dự báo
Trang 10Phương pháp lý thuyết: phương pháp thu thập nguồn tài liệu thứ cấp, phương
pháp tổng hợp, thống kê, so sánh, phân tích, phương pháp hệ thống hoá phương pháp nghiên cứu điển hình, phương pháp ý kiến chuyên gia, phương pháp mô hình hoá
6 Kết quả nghiên cứu dự kiến
Từ việc nghiên cứu tổng quan về quá trình phát triển TMCB đối với gạo ở Thái Lan, nhóm nghiên cứu dự kiến sẽ rút ra 5 bài học kinh nghiệm có khả năng áp dụng đối với Việt Nam và đề ra khoảng 10 giải pháp để phát triển Thương mại Công bằng đối với gạo trong 10 năm tới (2014-2024) Nếu những giải pháp này được tiến hành trên thực tế, TMCB mặt hàng gạo ở Việt Nam sẽ phát triển nhanh hơn, từ đó không những góp phần gia tăng giá trị cho những sản phẩm lúa gạo của Việt Nam mà còn cải thiện đời sống của người nông dân sản xuất gạo ở Việt Nam, đóng góp tích cực trong việc xây dựng và phát triển một nền sản xuất lúa gạo bền vững
7 Kết cấu của đề tài:
Ngoài mục lục, lời mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, đề tài gồm
1.1 Khái niệm và đặc điểm của Thương mại Công bằng
1.1.1 Bối cảnh ra đời của TMCB
Về mặt thời gian và địa lí, có hai quan điểm chính cho rằng Thương mại Công
bằng bắt đầu ra đời tại hai khu vực là Bắc Mỹ (1946) và Châu Âu (1950) (Fair Trade Resource Network, 2009)
Ở khu vực Bắc Mỹ, sự ra đời TMCB được đánh dấu bằng sự xuất hiện của 2
tổ chức là Ten Thousand Villages (1946) (trước đây là Self Help Crafts) chuyên mua
Trang 11các sản phẩm dệt may của Puerto Rico thông qua hội Thánh và SERRV1 (1949 – 1950) chuyên giao dịch đồng hồ gỗ từ dân tị nạn nước Đức sau thế chiến thứ hai
Ở Châu Âu, phần lớn các nhà nghiên cứu đều cho rằng TMCB là sáng kiến của các tổ chức phi chính phủ và có manh nha vào năm 1950, khi giám đốc Oxfam UK2sang thăm Hồng Kông và nảy ra ý định thu mua thú nhồi bông của những người tị nạn Trung Quốc tại đây để giúp họ tăng thêm thu nhập Tuy nhiên cũng có nhà nghiên cứu lựa chọn mốc ra đời TMCB là năm 1957, khi một tổ chức tên là SOS Wereld Handel được một số thanh niên công giáo ở miền nam Hà Lan thành lập với mục đích nhập khẩu các sản phẩm của các nước đang phát triển với mức giá công bằng
Năm 1964, tại Hội nghị của Liên hợp quốc về Thương mại và Phát triển tại Giơnevơ, Thụy Sĩ, một số thành viên các nước thuộc địa cũ hoặc đang trong phong trào đấu tranh đã đưa ra khẩu hiểu “trade not aid”, tức là phải tiến hành thương mại chứ không phải thuần túy là viện trợ đối với các nước này Các nước này mong muốn thiết lập mối quan hệ thương mại để mở rộng thị trường cho những người sản xuất nhỏ tại đây, vì thiếu kinh nghiệm và khả năng tài chính mà bị cô lập Khẩu hiệu trên được đưa ra trong bối cảnh các nước phát triển thường chỉ nói đến trợ giúp nhân đạo, viện trợ phát triển hay cho vay, nhằm lẩn tránh bàn bạc đến các vấn đề then chốt như giá cả nguyên vật liệu, mở cửa thị trường cho các nước đang phát triển Tiếp tục tinh thần của khẩu hiệu “trade not aid”, người ta tiến hành phát triển một phương thức thương mại với mục đích làm cho thương mại được công bằng hơn trong các quan hệ giữa các nước phát triển và các nước đang phát triển Phương thức thương mại này được gọi là “thương mại thay thế” (Alternative Trade) sau này được đổi tên thành TMCB nhằm thay thế thương mại truyền thống, thương mại quy ước hay thương mại chạy theo lợi nhuận của chủ nghĩa tư bản
Đến tháng 4 năm 1969, “Cửa hàng thế giới” (World Shop) đầu tiên mở cửa ở
Hà Lan cùng với sự giúp đỡ của Oxfam và các tổ chức nhân đạo ở châu Âu, đánh dấu
sự ra đời của chuỗi phân phối sản phẩm TMCB đầu tiên trên thế giới Kể từ đó chuỗi phân phối này mở rộng và phát triển nhanh chóng ra khắp 16 nước châu Âu, Mỹ,
1 Một tổ chức nhân đạo phi lợi nhuận do nhà thờ vùng Brethren thành lập năm 1946 để cứu trợ những người tỵ nạn sau chiến tranh thế giới II, đến nay đã phát triển với mạng lưới TMCB kết nối hàng ngàn thợ thủ công ở các nước đang phát triển
2 Oxfam khởi nguồn từ Ủy ban Oxford về cứu trợ được thành lập tại Anh vào năm 1942 để viện trợ lương thực cho thường dân trong chiến tranh thế giới thứ II Đến nay Oxfam đã trở thành tổ chức nhân đạo đi đầu trong việc cung cấp các viện trợ khẩn với hơn 17 tổ chức thành viên
Trang 12Canada và Nhật Bản (International Fair Trade Association, 2005) “Cửa hàng thế giới” kinh doanh hàng hóa của các nước thế giới thứ ba, những hàng hóa mà trước đây đã không thể thâm nhập thị trường các nước phát triển do hàng rào thuế quan Ngoài chức năng thương mại, các “Cửa hàng thế giới” trở thành những địa điểm quảng bá hình ảnh cho TMCB
Năm 1988, Liên đoàn quốc tế về thương mại thay thế (International Federation
of Alternative Trade) được thành lập nhằm đảm bảo việc xúc tiến TMCB và tạo thuận lợi cho việc hợp tác giữa các tổ chức TMCB địa phương Hai năm sau, một tổ chức tương tự của châu Âu, Liên đoàn châu Âu về thương mại thay thế (European Federation of Alternative Trade) cũng ra đời Cũng vào năm 1988, nhãn hiệu TMCB đầu tiên mang tên Max Havelaar ra đời với mục đích chứng nhận các sản phẩm có nguồn gốc từ TMCB Năm 1997, Tổ chức dán nhãn Thương mại Công bằng – Fairtrade Labelling Organisation (FLO) được thành lập nhằm điều phối các nhãn hiệu TMCB và các tổ chức cấp giấy chứng nhận TMCB trên thế giới FLO ra đời đảm bảo
uy tín cho các nhãn hiệu TMCB cũng như đảm bảo các tiêu chuẩn này mang tính toàn cầu
Tóm lại, TMCB bắt nguồn từ ý thức của công dân tiến bộ ở châu Âu muốn có
cơ hội để góp phần nâng cao mức sống và chất lượng cuộc sống của những người sản xuất ở các nước đang phát triển một cách bền vững Tiêu dùng đối với họ không chỉ
là một hành động tiêu thụ mà là sự tiêu dùng có ý thức, tối thiểu phải đáp ứng được
ba yêu cầu: giúp đỡ những nhà sản xuất ở các nước đang phát triển, tôn trọng một số chuẩn mực xã hội, giữ gìn và bảo vệ môi trường
1.1.2 Khái niệm
Vào năm 1988, tổ chức FINE gồm bốn tổ chức là tổ chức dán nhãn TMCB (FLO, nay là FI), hiệp hội TMCB thế giới (IFAT, nay là WFTO), mạng lưới “Cửa hàng thế giới” tại châu Âu (NEWS) và hiệp hội TMCB châu Âu (EFTA) đã định nghĩa TMCB là: “Quan hệ đối tác kinh doanh dựa trên nền tảng của đối thoại, minh bạch, sự tôn trọng đối với con người và môi trường tự nhiên, tìm cách để trở nên công bằng hơn trong thương mại quốc tế TMCB góp phần vào sự phát triển bền vững bằng cách đề ra những điều kiện thương mại lành mạnh hơn và bảo đảm quyền lợi của các nhà sản xuất và công nhân” (Fair Trade Resource Network, 2009)
Dưới góc nhìn của FINE, TMCB hướng tới mục tiêu thiết lập hệ thống quản
lý công khai và minh bạch với những nguyên tắc rõ ràng, cụ thể để hình thành nên
Trang 13các mối quan hệ thương mại bình đẳng, tôn trọng các đối tác TMCB đảm bảo cho sự tồn tại và phát triển về mặt xã hội, kinh tế và môi trường của các nhà sản xuất và chủ đất quy mô nhỏ ở các nước đang phát triển Hay nói cách khác, TMCB không chỉ là một hình thức thương mại đơn thuần mà nó góp phần hình thành nên sự công bằng trong thương mại quốc tế Nó làm nổi bật sự cần thiết phải thay đổi các quy tắc và tập quán của thương mại truyền thống
Theo tổ chức phi chính phủ Oxfam năm 1998, TMCB được định nghĩa là:
“Thương mại thúc đẩy phát triển bền vững nhờ nâng cao cơ hội tiếp cận thị trường cho những nhà sản xuất kém lợi thế TMCB tạo điều kiện vượt qua đói nghèo nhờ sự hợp tác giữa những chủ thể tham gia vào quá trình thương mại (nhà sản xuất, người tiêu dùng, trung gian thương mại)” (Mayoux L & Williams, P 2001)
Dưới góc nhìn của một tổ chức phi chính phủ hoạt động với mục đích nhân đạo như Oxfam, TMCB là một hình thức thương mại mang ý nghĩa đạo đức, hướng tới sự phát triển bền vững đồng thời chống lại sự bất công trong thương mại quốc tế
và sự bành trướng của các công ty đa quốc gia Ở các nước đang phát triển, TMCB
hỗ trợ người sản xuất bằng cách xác định mức giá công bằng cho sản phẩm của họ, hình thành các nhóm sản xuất để nâng cao năng lực sản xuất và xúc tiến thị trường
Ở các nước phát triển, TMCB hỗ trợ tiêu thụ sản phẩm Giai đoạn đầu TMCB kêu gọi người tiêu dùng mua với một giá cao hơn để giúp người sản xuất ở các nước đang phát triển, sau đó tìm biện pháp để cải tiến chất lượng và người tiêu dùng trả giá đúng với chất lượng của hàng hóa
Có rất nhiều khái niệm về TMCB, tuy nhiên để phù hợp với đối tượng và nhiệm
vụ của đề tài khoa học này, nhóm nghiên cứu sẽ sử dụng, đánh giá TMCB dưới góc
độ là một hình thức thương mại quốc tế với mục tiêu phát triển bền vững cho các nhà sản xuất có hoàn cảnh khó khăn thông qua các điều kiện kinh doanh tốt hơn Các tổ chức TMCB và người tiêu dùng có ý thức cùng nhau hướng tới một hệ thống thương mại thế giới công bằng, tốt đẹp hơn
1.1.3 Nguyên tắc TMCB
Các nguyên tắc của TMCB đảm bảo mức thu nhập, tạo công ăn việc làm cho người nông dân, đồng thời đảm bảo công bằng trong giá cả, bình đẳng về giới, bảo vệ quyền trẻ em và bảo vệ môi trường
Cụ thể 10 nguyên tắc của TMCB được trình bày trong PHỤ LỤC 1
Trang 141.1.4 Đặc điểm của TMCB
1.1.4.1 Hàng hóa TMCB
Mặt hàng nào cũng có thể được dán nhãn TMCB nếu đảm bảo được các tiêu chuẩn của TMCB3 Tuy nhiên do mục tiêu của TMCB là hướng tới những nhà sản xuất tại các nước đang và chậm phát triển nên hàng hóa TMCB chủ yếu là hàng nông sản, hàng thủ công mỹ nghệ trong khi đối với thương mại thông thường, hàng nông nghiệp chỉ chiếm dưới 15% kim ngạch xuất nhập khẩu thế giới (WTO, 2012, pp.1) Hiện nay, trên thế giới có hơn 15 loại hàng TMCB, mỗi loại hàng này lại bao gồm rất
nhiều dòng sản phẩm và sản phẩm bên trong (Products, 2011) Ví dụ như hạt ngũ cốc
thì bao gồm 3 dòng sản phẩm: hạt fonio, quinoa và gạo; trong dòng sản phẩm gạo lại bao gồm 22 sản phẩm phân biệt (FLO, 2014, pp 1-2) Sản phẩm TMCB được chia thành hai loại: sản phẩm đơn chất và sản phẩm hỗn hợp
(composite) (Fairtrade Mark, 2011)
Các sản phẩm đơn chất: là các sản phẩm thô, chưa qua chế biến như chuối, bông,
hoa, hoa quả tươi, vàng, mật, gạo, gia vị
Các sản phẩm hỗn hợp: là các sản phẩm đã qua chế biến với nguyên liệu từ các
sản phẩm TMCB Các sản phẩm hỗn hợp này sẽ được cấp chứng nhận TMCB khi và chỉ khi mọi nguyên liệu (có trong danh mục sản phẩm TMCB) đều là sản phẩm TMCB Tùy từng tổ chức TMCB mà họ có thể đưa ra các quy định về hàm lượng nguyên liệu TMCB tối thiểu như với FLO là 20% (FLO, 2011, pp 10) Ví dụ như thanh sô cô là một sản phẩm hỗn hợp được làm từ ca cao, bơ ca cao, đường và nhiểu nguyên liệu khác, phụ thuộc vào loại sô cô la Nếu ca cao, bơ ca cao và đường là sản phẩm của TMCB thì thanh sô cô la đó sẽ được dán nhãn TMCB với điều kiện hàm lượng 3 loại nguyên liệu trên trong thanh sô cô la lớn hơn hoặc bằng 20%
1.1.4.2 Nhãn hiệu TMCB:
Nhãn hiệu TMCB là một bằng chứng cho việc sản phẩm hoặc tổ chức phù hợp với các tiêu chuẩn của TMCB Trong khi các loại nhãn hiệu thông thường dùng để chứng nhận về chất lượng, về môi trường, thì nhãn hiệu TMCB lại là nhãn hiệu duy nhất trên thế giới hiện nay chứng nhận cho tính công bằng về thương mại Nhãn hiệu TMCB gồm 2 loại: nhãn hiệu dành cho sản phẩm và nhãn hiệu dành cho nhà sản xuất
3 Chú ý: Tất cả các tổ chức TMCB đều tuân theo bộ 10 nguyên tắc chung của TMCB Tuy nhiên đối với một
số tổ chức dán nhãn riêng có thể phát triển bộ tiêu chuẩn của riêng họ, tuy nhiên vẫn phải dựa trên nền 10 nguyên tắc chung TMCB của thế giới Ví dụ: FLO phát triển bộ tiêu chuẩn Fairtrade standard năm 2011
Trang 151.1.4.2.1 Nhãn hiệu TMCB dành cho sản phẩm
Nhãn hiệu TMCB dành cho sản phẩm là một biểu tượng dùng để phân biệt giữa sản phẩm TMCB và những sản phẩm thông thường khác Đối với người tiêu dùng, nhãn TMCB giúp họ chọn được đúng những sản phẩm TMCB, qua đó giúp đỡ những người nông dân và công nhân tại các nước đang phát triển Đối với người sản xuất và trung gian, nhãn TMCB là sự chứng nhận cho việc sản phẩm và quy trình sản
xuất, phân phối của họ tuân thủ đúng các tiêu chuẩn TMCB (The fair trade mark,
2011)
Mỗi tổ chức TMCB có thể có những nhãn hiệu riêng cho hệ thống của mình Hiện nay, hai nhãn hiệu TMCB phổ biến trên toàn thế giới là nhãn hiệu TMCB của FLO và WFTO Việc sử dụng nhãn hiệu của các đơn vị được cấp phép (nhà sản xuất, trung gian) được điều chỉnh bởi các bản hợp đồng và cam kết giữa họ và FLO hoặc
WFTO (Using the fair trade mark, 2011)
Hình 1.1 Một số nhãn hiệu TMCB cho sản phẩm
Nhãn hiệu TMCB của FLO Nhãn hiệu TMCB của WFTO
1.1.4.2.2 Nhãn hiệu cho nhà sản xuất
Để tạo thêm cơ hội cho các doanh nghiệp mong muốn được sử dụng nguyên liệu TMCB nhưng các sản phẩm của họ chưa đủ điều kiện để được dán nhãn sản phẩm, trong thời gian sắp tới, FLO dự định áp dụng thêm một loại nhãn hiệu mới là
“nhãn hiệu chương trình TMCB” Nhãn hiệu chương trình TMCB có 3 loại tương ứng đối với ba mặt hàng là ca cao, đường và sợi bông
Để được cấp phép sử dụng nhãn hiệu, các công ty chỉ cần cam kết sử dụng một
tỷ lệ nhất định nguyên liệu TMCB trong quá trình sản xuất Ví dụ, một công ty có thể cam kết mua 30% khối lượng ca cao nguyên liệu là ca cao TMCB để sản xuất kẹo Nhãn hiệu chương trình TMCB có thể được dùng trên mặt trước và mặt sau của bao bì sản phẩm nhưng chỉ đi kèm với tên công ty, không đi kèm với nhãn hiệu sản phẩm Công ty được công khai nhãn hiệu thông qua trang web của công ty, trên các báo cáo hàng năm, báo cáo trách nhiệm xã hội để cho người tiêu dùng biết là họ tham
gia mua những sản phẩm TMCB (Using the fair trade mark, 2011).Chương trình này
Trang 16
tạo ra nhiều lựa chọn hơn cho doanh nghiệp khi muốn tham gia vào chuỗi cung ứng TMCB Người tiêu dùng cũng có thể hỗ trợ cho người nông dân khi mua sản phẩm
từ những công ty tham gia chương trình TMCB Còn người nông dân thì bán được
nhiều sản phẩm TMCB hơn (The Fair trade program Mark, 2011)
Kiểm tra ban đầu được tiến hành với các nhà sản xuất mong muốn được sử
dụng nhãn hiệu TMCB Đầu tiên, các nhà sản xuất phải nộp hồ sơ đăng ký theo quy định của tổ chức cấp phép Sau đó, tổ chức cấp phép sẽ tiến hành kiểm tra thực tế và nếu tất cả các tiêu chuẩn TMCB đều được đảm bảo thì nhà sản xuất sẽ dán nhãn cho sản phẩm họ đã đăng ký Tổ chức sản xuất sẽ phải trả phí cho toàn bộ quá trình kiểm tra ban đầu
Kiểm tra định kỳ được thực hiện với các nhà sản xuất đã được quyền sử dụng
nhãn hiệu Tùy theo quy định của tổ chức cấp phép mà việc kiểm tra có thể được thực hiện theo hình thức giấy tờ hoặc kiểm tra thực tế FLO tiến hành kiểm tra các nhà sản xuất mỗi năm 1 lần, đối với các tổ chức hoàn thành tốt việc kiểm tra trong nhiều năm liền, họ sẽ được tin tưởng và chỉ phải kiểm tra 3 năm 1 lần Trong khi đó, quy trình kiểm tra định kỳ của WFTO gồm 3 loại: bản tự đánh giá nộp 2 năm 1 lần, kiểm tra
thực tế từ 2 - 6 năm 1 lần, kiểm tra chéo từ 2 - 6 năm 1 lần (Cetifying fair trade, 2011)
1.1.4.3 Giá công bằng
Để đạt được mục tiêu giúp đỡ, bảo vệ và cải thiện đời sống của người nông dân
và công nhân tại các nước đang phát triển, TMCB cần phải giải quyết được một vấn
đề cơ bản là giá bán công bằng cho nhà sản xuất Bởi một mức giá hợp lý sẽ đem lại những thay đổi căn bản và quan trọng trong đời sống của họ Trong tiêu chuẩn TMCB,
Trang 17đối với mọi sản phẩm TMCB, giá bán của người nông dân luôn bao gồm khoản giá tối thiểu và/hoặc giá phúc lợi (FLO, 2011, pp 16-18)
Giá công bằng thường được áp dụng cố định (do các tổ chức hỗ trợ ấn định) trong một thời gian dài, thậm chí có thể lên tới 10 năm như trường hợp của xoài Nam Phi có giá tối thiểu là 2,42 Zar/kg, giá phúc lợi là 0,21 Zar/kg, áp dụng từ ngày 23/6/2004 cho đến nay vẫn không thay đổi (FLO, 2014, pp 11) Đây là điểm khác biệt lớn nhất của giá công bằng và giá thị trường
1.1.4.3.1 Giá tối thiểu
Giá tối thiểu là mức giá nhỏ nhất mà người mua phải trả cho người sản xuất cho mỗi sản phẩm để tuân thủ các tiêu chuẩn của TMCB Mức giá tối thiểu là mức giá sàn đảm bảo mức sống cho người sản xuất; chi trả đủ cho chi phí sản xuất trung bình nhằm cho phép họ tiếp tục sản xuất một cách bền vững mà không phải chịu lỗ Giá tối thiểu sẽ bảo vệ nhà sản xuất khỏi việc bị ép bán sản phẩm với giá rẻ khi giá thị trường thấp hơn giá tổi thiểu Trong trường hợp giá tối thiểu chưa được xác định hoặc giá thị trường cao hơn giá tối thiểu thì người mua phải trả ít nhất bằng giá thị trường Với mỗi hợp đồng, một sản phẩm chỉ được định một mức giá tối thiểu Giá tối thiểu có thể được xem xét lại nếu các bên liên quan trong các khâu sản xuất sản phẩm đó đều đồng ý Việc điều chỉnh sẽ xem xét tới tỷ giá hối đoái và chỉ số giá tiêu dùng Ví dụ: giá EXW chuối hữu cơ tươi xuất xứ Đông Nam Á có giá tối thiểu
là 10,18$/kg, áp dụng từ ngày 01/01/2012 (FLO, 2014, pp 8)
Giá tối thiểu bao gồm giá nhân công; nguyên liệu và các dịch vụ đầu vào; chi phí vốn, chi phí đầu tư cho việc thành lập tổ chức, chi phí khấu hao tài sản hữu hình, khấu hao đất, chi phí quản lý, chi phí thu hoạch và sau thu hoạch, chi phí sơ chế (nếu có), chi phí chuẩn bị hàng và chi phí đóng gói (nếu có); và một mức lợi nhuận hợp lý
1.1.4.3.2 Giá phúc lợi
Giá phúc lợi là một khoản tiền mà người sản xuất được nhận thêm từ người mua
để đầu tư cho cộng đồng, cuộc sống, công việc kinh doanh của người sản xuất (với các tổ chức của người sản xuất nhỏ) hoặc đầu tư cho phát triển điều kiện kinh tế xã hội cho công nhân và cộng đồng của họ (trong trường hợp công nhân làm thuê) Mục đích cụ thể sẽ do những người sản xuất quyết định một cách dân chủ Giá phúc lợi có thể được thể hiện bằng một con số tuyệt đối hoặc một tỉ lệ tương đối tùy vào từng trường hợp Ví dụ: giá phúc lợi của gạo jasmine Thái Lan là 19,14 EUR/tấn; giá phúc
Trang 18lợi của đường mía hữu cơ áp dụng toàn thế giới là 15% giá thị trường (áp dụng từ ngày 12/03/2009)(FLO, 2014, pp.1)
1.1.4.4 Thanh toán và hỗ trợ tài chính
Thực tế cho thấy, những người sản xuất TMCB tại các nước đang phát triển chủ yếu là những người sản xuất nhỏ lẻ và thường xuyên ở trong tình trạng thiếu vốn
Để giải quyết vấn đề này, các tổ chức TMCB đưa ra tiêu chuẩn về hỗ trợ tài chính
Hỗ trợ tài chính là một khoản tài chính ngắn hạn, cho phép tổ chức tài trợ vốn cho các nhà sản xuất thành viên Mục tiêu của nó là giúp người sản xuất có thể tiếp cận được nguồn vốn một cách hợp lý để có thể thực hiện được những đơn hàng Mức
hỗ trợ này là do trung gian hoặc công ty chế biến cung cấp theo hợp đồng được ký với nhà sản xuất Với các thành viên của FLO, khi người sản xuất yêu cầu và không
có quy định khác, tỷ lệ hỗ trợ tài chính trước có thể đạt đến mức trần là 60% trị giá hợp đồng với mức lãi suất hợp lý4 Mức tối thiểu sẽ cho nhà sản xuất quy định Như vậy, nhà sản xuất có thể yêu cầu hỗ trợ tối đa là 60% trị giá hợp đồng và người mua
sẽ bắt buộc phải cung cấp được Các khoản hỗ trợ này có thể dưới dạng trả trước hoặc cung cấp giống cây cho người sản xuất (FLO, 2011, pp 14 – 16) Đối với WFTO, tỷ
lệ hỗ trợ tối thiểu là 50%; lãi suất 0% với hàng thủ công và lãi suất hợp lý với mặt hàng thực phẩm (WFTO, 2014, pp 7/23) So sánh với lãi suất trả trước trong thương mại thông thường (được tính theo lãi suất thị trường cộng thêm mức lãi để bù đắp rủi ro) thì mức lãi suất của hỗ trợ tài chính trong TMCB thấp hơn rất nhiều
Trên thực tế, trong hệ thống TMCB, hỗ trợ tài chính trước của người mua chỉ đáp ứng được một phần nhu cầu vốn ngắn hạn của người sản xuất Tình trạng thiếu vốn sản xuất vẫn xảy ra, đặc biệt là nguồn vốn dài hạn
1.1.4.5 Phân phối sản phẩm công bằng
1.1.4.5.1 Mô hình phân phối
Một trong những điều kiện cơ bản trong TMCB là tối giản hóa khâu trung gian
để giảm chi phí Việc giảm thiểu khâu trung gian là yếu tố tiên quyết để đảm bảo mức giá của sản phẩm công bằng không quá cao đồng thời vẫn duy trì được mức giá tối thiểu cho người sản xuất Tuy nhiên, giảm trung gian không có nghĩa là không có trung gian mà là thay các trung gian thương mại thông thường bằng các tổ chức TMCB với chi phí thấp hơn nhiều Vì chủ yếu nhà sản xuất TMCB ở tại các nước
4 Lãi suất hợp lý là lãi suất nhỏ hơn lãi suất mà nhà sản xuất có thể vay từ bên thứ ba
Trang 19đang phát triển, trong khi người tiêu dùng hàng hóa TMCB lại thường là người tiêu
dùng tại các nước phát triển, nên kênh phân phối TMCB chính là kênh xuất khẩu
Trong mô hình trên, chiều của mũi tên thể hiện dòng chảy của hàng hóa từ tay
người sản xuất đến tay người tiêu dùng Ban đầu, các sản xuất đơn lẻ trực tiếp sản
xuất hàng hóa TMCB Hàng hóa này sẽ được các tổ chức của người sản xuất thu mua,
sau đó chuyển qua nhà xuất khẩu, nhà nhập khẩu, tổ chức bán lẻ trước khi tới được
tay người tiêu dùng Đối với các sản phẩm hỗn hợp thì kênh phân phối còn có thêm
sự tham gia của công ty sản xuất Trong mô hình phân phối trên, một tổ chức có thể
đồng thời đảm nhiệm nhiều vị trí khác nhau Ví dụ như tổ chức sản xuất có thể đồng
thời là nhà xuất khẩu hay nhà nhập khẩu có thể kiêm thêm nhiệm vụ bán lẻ Các tổ
chức hỗ trợ không tham gia vào phân phối hàng hóa, tuy nhiên, nó có vai trò điều
phối và kiểm soát chung cho cả quá trình
1.1.4.5.2 Các chủ thể trong hệ thống phân phối của TMCB
Hệ thống phân phối của TMCB bao gồm các chủ thể chính là: nhà sản xuất,
trung gian thương mại, tổ chức hỗ trợ, người tiêu dùng
a Nhà sản xuất
Nhà sản xuất trong mô hình phân phối bao gồm 3 chủ thể: nhà sản xuất đơn lẻ,
tập hợp của nhà sản xuất, công ty sản xuất (WFTO, 2014, pp 2/23)
Các nhà sản xuất đơn lẻ là người trực tiếp tham gia sản xuất ra các sản phẩm
TMCB đơn chất Họ chính là những người nông dân, thợ thủ công và công nhân đơn
lẻ - chủ thể hưởng lợi chính từ sự phát triển của TMCB Nhờ vào sự xuất hiện của
Người tiêu dùng có ý
thức
Tổchức
hỗtrợ
Trang 20TMCB mà các nhà sản xuất có cơ hội đầu tư vốn cho nghiên cứu và sản xuất các sản phẩm phù hợp hơn với thị trường; đồng thời bán được những sản phẩm TMCB với một mức giá công bằng hơn
Tổ chức các sản xuất là một tập hợp những nhà sản xuất, đại diện thương mại
và pháp lý cho các thành viên trong các mối quan hệ với các chủ thể khác trong chuỗi cung ứng TMCB và quyết định mục đích sử dụng của giá phúc lợi thông qua biểu quyết dân chủ giữa các thành viên Các tổ chức sản xuất có thể là các HTX, các hiệp hội, các cửa hàng gia đình, các công ty nhỏ, các doanh nghiệp xã hội có ý thức trách nhiệm hoặc cũng có thể là các tổ chức phi chính phủ Tổ chức người sản xuất được chia thành nhiều cấp Tập hợp các nhà sản xuất đơn lẻ tạo thành tổ chức cấp 1, tập hợp các tổ chức cấp 1 tạo thành tổ chức cấp 2
Nhiệm vụ của các tổ chức sản xuất là thu mua sản phẩm từ các nhà sản xuất đơn lẻ, bán lại cho các trung gian TMCB theo hợp đồng dài hạn, đảm bảo điều phối hoạt động của các thành viên, giám sát việc thực hiện các nguyên tắc, tiêu chuẩn của TMCB trong quá trình sản xuất, đưa ra các quyết định về đầu tư cho các dự án xã hội
từ nguồn lợi nhuận TMCB Ngoài ra, trong một số trường hợp, tổ chức sản xuất có thể đảm nhận thêm giai đoạn chế biến, đóng gói sản phẩm, xuất khẩu hoặc tự bán lẻ thông qua hệ thống cửa hàng riêng Ví dụ, GNC là tổ chức của người sản xuất nhưng lại trực tiếp xuất khẩu hàng hóa cho các nhà nhập khẩu tại châu Âu (Edwardson, W
Các công ty sản xuất TMCB là các tổ chức, công ty tư nhân mua nguyên liệu
TMCB để sản xuất sản phẩm TMCB hỗn hợp Sản phẩm của các công ty này có thể
là các sản phẩm đơn chất hoặc các sản phẩm hỗn hợp Ngoài việc tuân thủ các quy định về sản phẩm hỗn hợp được dán nhãn cho sản phẩm, họ phải tuân theo đúng tiêu chuẩn dành cho các tổ chức thuê lao động, cụ thể là đáp ứng 3 điều kiện vể quản lý
giá phúc lợi, đảm bảo quyền tự do liên kết và điều kiện làm việc (Standard for hired
labour, 2011)
Trang 21b Trung gian thương mại
Tương tự như thương mại thông thường, các sản phẩm TMCB được phân phối tới người tiêu dùng thông qua các trung gian TMCB Tuy nhiên, cơ chế hoạt động của các tổ chức này phải đáp ứng những tiêu chuẩn của TMCB5 và được chứng nhận bởi các tổ chức TMCB quốc tế Các tổ chức trung gian mua hàng hóa TMCB trực tiếp từ các tổ chức sản xuất theo hợp đồng dài hạn, thanh toán và hỗ trợ tài chính theo đúng quy định của TMCB và cung cấp các hỗ trợ khác Khác với thương mại truyền thống, giữa nhà sản xuất và trung gian thương mại, TMCB hướng tới giảm dần và tiến tới xóa bỏ quan hệ đối đầu về giá, chất lượng, thanh toán cũng như các điều khoản khác Trung gian TMCB gồm hai nhóm chính: tổ chức bán buôn và tổ chức bán lẻ (WFTO, 2014, pp 2/23)
Tổ chức bán buôn là các tổ chức, công ty mua bán hàng hóa TMCB với số
lượng lớn Tổ chức bán buôn bao gồm: nhà xuất khẩu, nhà nhập khẩu, công ty thương mại trong nước,…trong đó quan trọng nhất là nhà xuất khẩu và nhập khẩu
Nhà xuất khẩu là những tổ chức, công ty, cá nhân mua sản phẩm TMCB từ tổ chức sản xuất và tiến hành xuất khẩu các sản phẩm này ra nước ngoài Nhiệm vụ của
tổ chức xuất khẩu là kết hợp chặt chẽ với các tổ chức sản xuất, nghiên cứu thị trường, kết nối các nhà sản xuất hoàn cảnh khó khăn với các tổ chức nhập khẩu ở các nước đang phát triển và hỗ trợ họ trong việc đáp ứng những yêu cầu và các nguyên tắc của TMCB
Nhà nhập khẩu nhập khẩu sản phẩm TMCB từ các tổ chức sản xuất hoặc từ các
tổ chức xuất khẩu Nhà nhập khẩu thường là các doanh nghiệp tại các nước phát triển
Họ giúp đỡ các đối tác sản xuất TMCB trong quá trình phát triển sản phẩm, đào tạo các kỹ năng và cũng hỗ trợ thêm trong điều kiện kinh tế-xã hội khó khăn Tại quốc gia của mình, các tổ chức nhập khẩu hoạt động như những nhà bán buôn, bán lẻ, hoặc đôi khi là sự kết hợp của cả hai (Nguyễn Mai Trang, 2009, pp 13-17)
Ví dụ như công ty Claro Fair trade, thành viên của WFTO, vừa đóng vai trò là người nhập khẩu sản phẩm TMCB để bán lại cho các cửa hàng bán lẻ trên khắp thế giới, vừa đóng vai trò là tổ chức bán lẻ với hơn 126 cửa hàng bán lẻ Claro trên khắp Thụy
Sĩ
5 Tiêu chuẩn dành cho tổ chức thương mại do tổ chức cấp phép quy định, như của FLO là Fairtrade trade standard hoặc của WFTO là tiêu chuẩn dành cho thành viên thương mại tại Quarantee system
Trang 22Tổ chức bán lẻ là các tổ chức trực tiếp bán sản phẩm TMCB tới người tiêu
dùng Tổ chức bán lẻ thường là các doanh nghiệp tại các nước phát triển, họ phân phối hàng thông qua hệ thống các cửa hàng, siêu thị, Các cửa hàng, siêu thị này có thể chỉ phân phối hàng TMCB hoặc cũng có thể phân phối đồng thời hàng hóa TMCB
và hàng hóa thông thường
Theo báo cáo của WFTO năm 2010 (Mark, B 2010, pp 31) hiện nay có 11 loại hình tổ chức bán lẻ tham gia vào hệ thống phân phối TMCB Theo đó, loại hình tổ chức bán lẻ có quy mô lớn nhất là hệ thống các cửa hàng thương mại đơn lẻ với 635 cửa hàng chiếm 33%
c Người tiêu dùng có ý thức
Người tiêu dùng có ý thức tạo ra sự khác biệt khi mua sản phẩm TMCB Nhận thức được sự bất bình đẳng gây ra cho các nhà sản xuất bởi hệ thống thương mại hiện nay, họ đã sẵn sàng trả thêm giá phúc lợi để đảm bảo công bằng và cải thiện cuộc sống của các cá nhân có hoàn cảnh khó khăn hơn Người dùng sản phẩm TMCB không chỉ tiêu dùng một cách có ý thức mà còn phản đối các hoạt động thương mại không công bằng thông qua các phong trào nhân đạo, gây sức ép đến chính phủ và các doanh nghiệp, hướng tới sự phát triển bền vững trong thương mại
d Các tổ chức hỗ trợ TMCB
Các tổ chức hỗ trợ TMCB là tổ chức được thành lập và được tài trợ bởi các chủ thể khác trong hệ thống TMCB Mục tiêu chính của các tổ chức này là ủng hộ và quảng bá cho TMCB thông qua tuyên truyền về ý tưởng TMCB, xây dựng bộ tiêu chuẩn TMCB, Ví dụ nhiệm vụ chính của FLO là thiết lập bộ tiêu chuẩn TMCB mang tính quốc tế, hỗ trợ nhà sản xuất trên khắp thế giới, phát triển chiến lược TMCB toàn cầu và thúc đẩy công bằng trong thương mại toàn cầu (Mark, B 2010, pp.28)
Các tổ chức hỗ trợ lớn nhất hiện nay là FLO, WFTO, EFTO với hệ thống riêng các tổ chức hỗ trợ thành viên Các thành viên này đều phải được cấp chứng nhận thành viên và tuân theo các quy định của tổ chức “mẹ” mà mình trực thuộc Các tổ chức hỗ trợ không tham gia vào kênh phân phối hàng hóa TMCB mà chỉ có vai trò là người điều phối và quản lý chung
Ngoài ra, các công ty chế biến, công ty dịch vụ logistics có thể tham gia vào chuỗi phân phối sản phẩm TMCB, tùy thuộc vào từng mặt hàng cụ thể (Edwardson, W., 2013, pp 18)
Trang 23Bảng 1.1 So sánh đặc điểm TMCB và thương mại thông thường
Đa dạng nhưng sản phẩm nông nghiệp chiếm tỷ trọng nhỏ, dưới 10%
Nhãn hiệu TMCB chứng nhận tính công bằng về thương mại do
tổ chức TMCB cấp
Nhãn hiệu công ty, nhãn hiệu của các tổ chức quản lý chất lượng độc lập cấp
Cao hơn và ổn định Giá được đàm phán trên cơ sở giá tổi thiểu
và giá phúc lợi được tổ chức TMCB định sẵn
Biến động, do thị trường quyết định, các chủ thể ít có khả năng can thiệp
Thanh toán với nhiều ưu đãi và nhiều hỗ trợ tài chính khác theo quy định của tổ chức TMCB
Điều kiện thanh toán tự thỏa thuận, phụ thuộc vào quyền lực mua bán giữa hai bên
Thường hoạt động đơn lẻ, độc lập
Quan hệ mua bán thông thường,
dễ xảy ra đối đầu lợi ích với người sản xuất
Người Người tiêu dùng có ý thức, quan Người tiêu dùng thông thường tiêu tâm
tới quyền lợi của người sản phần lớn chưa quan tâm tới dùng xuất quyền lợi
của người sản xuất
Nguồn: Nhóm nghiên cứu tự tổng hợp
Trang 241.2 Vai trò của TMCB với các nước đang và chậm phát triển
Mặc dù vẫn chiếm tỉ trọng rất nhỏ trong giao dịch thương mại quốc tế (khoảng 0,1%) nhưng thị trường sản phẩm TMCB đang tăng trưởng ngày càng nhanh chóng (trung bình khoảng 20% mỗi năm) (Farnworth, C., 2006, pp.3) TMCB hiện đã và đang đóng góp tích cực đến sự phát triển về kinh tế, xã hội, môi trường của các nước
đang và chậm phát triển Cụ thể:
1.2.1 Về kinh tế
Vai trò của TMCB đối với nền kinh tế thể hiện rõ nhất trong quá trình sản xuất
và thương mại
Thứ nhất, về sản xuất, TMCB góp phần thúc đẩy quá trình nâng cao chất lượng sản
phẩm để phù hợp với những tiêu chuẩn kĩ thuật (để dán nhãn TMCB) Các tổ chức TMCB địa phương có nhiệm vụ thúc đẩy cải tiến khoa học công nghệ trong sản xuất, tăng cường các khóa huấn luyện về quản lý sản xuất và đào tạo kĩ thuật cho nông dân nhằm tăng hiệu quả sản xuất Ví dụ, theo báo cáo tổng hợp của tổ chức TMCB Max Havelarr (Pháp) (Laroche, K 2009, pp 14), Liên hiệp HTX Cocla6 sản xuất cà phê của Peru đã đầu tư nâng cao chất lượng của cà phê ở mọi khâu sản xuất:
• Tổ chức chương trình đào tạo kỹ thuật cho cán bộ của HTX nhằm nâng cao chất lượng ở mọi khâu sản xuất (từ quá trình trồng trọt đến khâu sau thu hoạch) và tăng cường mở rộng các đồn điền cà phê;
• Làm việc với HTX nhằm áp dụng máy móc tiên tiến để xử lý sau thu hoạch bao gồm hệ thống xử lý cà phê tươi, khu vực sấy khô cà phê, kho lưu trữ thích hợp, thiết bị để đo độ ẩm và chất lượng của cà phê;
• Đầu tư một phòng thí nghiệm và đào tạo đội ngũ kĩ thuật viên chuyên kiểm soát chất lượng cà phê
• Đầu tư hệ thống máy phân loại tự động vào năm 1998
Thứ hai, về thương mại, TMCB mở ra một thị trường tiêu thụ tiềm năng cho các nhà
sản xuất Bên cạnh việc tham gia vào hệ thống thương mại thông thường, các nhà sản xuất có thể chọn TMCB như là một thị trường ngách nhằm tăng doanh thu với mức giá ít biến động (được thỏa thuận trên cơ sở mức giá tối thiểu) Một ví dụ điển hình
6 Cocla là liên hiệp các hợp tác xã cà phê ở Cuzco, Peru Liên hiệp này bao gồm 22 hợp tác xã cà phê với 6800 nhà sản xuất được thành lập năm 1967, với mục đích giúp các thành viên thâm nhập thị trường tốt hơn Cocla được FLO chứng nhận vào năm 1996 Các hộ sản xuất có quy mô nhỏ, thường sở hữu các trang trại rộng 12 héc ta, trong đó có 3,5 héc ta trồng cà phề Họ thường cung cấp phần lớn cà phê sản xuất cho hợp tác xã và khoản các khoản thu từ cà phê chiếm 80% thu nhập của họ
Trang 25là sản lượng hàng hóa xuất khẩu dưới nhãn TMCB của HTX Conacado7 chuyên sản xuất ca cao chiếm tỷ trọng ngày càng cao trong cơ cấu xuất khẩu của HTX này
Hình 1.4 Tổng sản lượng và sản lượng TMCB xuất khẩu của HTX Conacado
Ngoài ra, với kênh phân phối ngắn hơn thương mại thông thường, người sản xuất
có thể tăng cường lợi nhuận khi bán sản phẩm trên thị trường TMCB bởi họ không còn phải chia sẻ lợi nhuận của mình qua nhiều khâu trung gian nữa
1.2.2 Về xã hội
Đối với xã hội, vai trò của TMCB thể hiện ở khía cạnh cải thiện mức sống cho người sản xuất, đóng góp những tác động tích cực đối với giáo dục địa phương, phát triển cơ sở hạ tầng
Thứ nhất, để cải thiện mức sống của người sản xuất, TMCB cho phép người nông
dân sử dụng doanh thu từ giá phúc lợi như một khoản đầu tư cho các nhà sản xuất hay
7 Conacado là tổ chức được thành lập năm 1988 tại Cộng hòa Dominica với mục đích liên kết các nhà sản xuất
ca cao nhỏ để xuất khẩu trực tiếp nhằm tăng doanh thu Đây cũng là tổ chức đầu tiên được chứng nhận TMCB năm 1996 tại quốc gia này Năm 2008, Conacado có 1300 hộ sản xuất nhỏ (với 77% hộ gia đình có diện tích canh tác < 0,5ha)
Ngu ồ n: HTX Conacado Đơn v : T ấ n
Trang 26các dự án phát triển cộng đồng địa phương Theo báo cáo thường niên (năm 2007 - 2008) của FLO, hơn 30,4 triệu euro đã thu được từ mức giá phúc lợi trong năm 2007 Khoản tiền này được đầu tư cho các nhà sản xuất nhỏ theo: 37% vào quá trình nâng cao chất lượng và hoàn thiện sản xuất; 24% hỗ trợ cho các dự án phát triển cộng đồng; 16% vào những vấn đề phát triển sức khỏe, giáo dục, môi trường; còn lại 23% được
sử dụng vào các dự án khác hoặc tiết kiệm để tài trợ cho các dự án trong tương lai
Và số tiền thu được từ giá phúc lợi được tăng lên đến 80 triệu euro trong năm 2012 Ngoài ra, giá phúc lợi còn được sử dụng để cải thiện hệ thống cơ sở hạ tầng, phục vụ điều kiện làm việc tốt hơn cho người sản suất Như tại trang trại Sun Orange8, giá phúc lợi được sử dụng để xây dựng nhà ăn, nhà vệ sinh di động trong vườn cây ăn trái, cải thiện nơi ăn nghỉ cho công nhân; trong khi những căn nhà bằng gỗ được dựng lên để người công nhân có chỗ ở và lưu trữ tài sản của mình (Fairtrade Foundation,
2010, pp 8)
Thứ hai, thúc đẩy quá trình bình đẳng giới là một trong những sứ mệnh hàng đầu của
TMCB, đặc biệt là quyền của người phụ nữ Điều này muốn đạt được thì trước tiên là phải xuất phát từ chính ý thức của người sản xuất Theo nghiên cứu tổng hợp của trung tâm đánh giá thuộc trường đại học Saarland (Đức) (CEval, 2012), về lợi ích TMCB trong vấn đề giới tính trên toàn thế giới, quan điểm cũng như định kiến về nữ giới trong xã hội ở các cơ sở sản xuất đã dần thay đổi theo chiều hướng tích cực; đặc biệt thể hiện trong giáo dục của trẻ em gái Khoảng 90% lao động nam giới trong ngành hàng cà phê không đồng ý với quan điểm “trẻ em trai cần được giáo dục hơn trẻ em gái”, còn đối với lao động nữ thì báo cáo cho thấy họ luôn muốn cuộc sống của con gái họ hơn chính bản thân, vì thế họ muốn con gái họ có một nền giáo dục tốt
và giảm tải những công việc nặng nhọc
Thứ ba, TMCB tạo điều kiện phát triển giáo dục cộng đồng; cải thiện sức khỏe của
người dân; nâng cao tiếng nói của người lao động không chỉ trong doanh nghiệp mà còn trong cộng đồng địa phương, các cấp chính quyền
Theo nghiên cứu được công bố trong tạp chí Development in Practice năm 2005 (Utting-Chamorro, K 2005), năm 2003, mặc dù với lượng ngân sách đầu tư vào phát triển cộng đồng khá khiêm tốn là 50.000 USD, hai tổ chức TMCB tại Nicaragua là trung tâm HTX cà phê phía bắc (viết tắt: CECOCAFEN) và hiệp hội các nhà sản xuất
8 Sun Orange là một nhà sản xuất TMCB chuyên thuê lao động trồng cam quýt nằm tại tỉnh Eastern Cape, Nam Phi, bao gồm hai trang trạilân cận, Sun OrangevàSontule
Trang 27nhỏ, doanh nghiệp xuất khẩu và tiếp thị (viết tắt: SOPPEXCCA) kinh doanh mặt hàng
cà phê, đã có những đóng góp tích cực vào phát triển cộng đồng ở hai thị trấn Yasikar Sur và La Corona Những chi tiết về sự thay đổi tại hai thị trấn nhờ hai tổ chức TMCB được đề cập chi tiết tại PHỤ LỤC 2
1.2.3 Về môi trường
Xét trên khía cạnh môi trường, TMCB luôn hướng tới mục tiêu, gắn sản xuất với bảo vệ môi trường, tiết kiệm tối đa nguồn tài nguyên môi trường
Thứ nhất, TMCB khuyến khích sản xuất những sản phẩm hữu cơ hay những sản
phẩm thân thiện với môi trường Việc giảm thiểu sử dụng hóa chất nông nghiệp khi sản xuất những sản phẩm hữu cơ sẽ góp phần bảo vệ nguồn nước, đất đảm bảo thực hiện mục tiêu phát triển nông nghiệp theo hướng bền vững của TMCB Ví dụ như trang trại Vuki9 và Sun Orange đã thực hiện những bước tiến đáng kể trong việc sử dụng hóa chất ít độc hại, phù hợp với những tiêu chuẩn của TMCB; đồng thời họ còn khuyến khích nông dân sản xuất và sử dụng phân hữu cơ, phân động vật Ngoài ra, tại Vuki, các doanh nghiệp còn xây dựng các hệ thống tái chế rác thải sinh hoạt trong trang trại để tăng cường ý thức người lao động về tái chế rác thải
(Fairtrade Foundation, 2010, pp 14)
Thứ hai, các tiêu chuẩn về môi trường của TMCB hướng tới tiết kiệm tối đa nguồn
tài nguyên thiên nhiên như nước, đất Trang trại Sun Orange là một ví dụ điển hình khi họ chuyển đổi phương thức canh tác theo hướng phát triển môi trường bền vững hơn thông qua việc thay đổi hệ thống tưới tiêu thông thường thành hệ thống tưới nhỏ giọt cho hơn 70 héc ta cây ăn quả thân thiện môi trường
1.3 Thực tiễn chung về phát triển TMCB và TMCB bằng đối với mặt hàng gạo trên thế giới
1.3.1 Thực tiễn Thương mại Công bằng từ năm 1990 đến nay
Năm 1988, tổ chức dán nhãn TMCB đầu tiên trên thế giới Max Havelaar được thành lập, kéo theo sự ra đời của các tổ chức dán nhãn và chứng nhận TMCB khác Bằng việc phát triển hệ thống dán nhãn giúp các mặt hàng TMCB trở nên khác biệt so với các sản phẩm thông thường cùng loại trên thị trường, cũng như tương tác trực tiếp với các công ty đa quốc gia ở các nước phát triển, các tổ chức này đã mở rộng thị trường cũng như thúc đẩy thương mại cho hàng hóa TMCB Thực tiễn TMCB từ năm 1990
9 Vuki là một tổ chức TMCB thuê lao động trồng táo và lê tại tỉnh Western Cape, Nam Phi
Trang 28đến nay sẽ được phân tích thông qua các góc độ về doanh thu và tăng trưởng, cơ cấu
sản phẩm, cơ cấu thị trường và phân phối
1.3.1.1 Về doanh thu và tăng trưởng
Doanh thu các sản phẩm TMCB chỉ chiếm khoảng 0,1% tổng doanh thu các sản phẩm cùng loại trên toàn thế giới, thậm chí mặt hàng có giá trị lớn nhất trong hệ thống TMCB là cà phê cũng chỉ chiếm 3% trong tổng số cà phê tiêu thụ toàn cầu (Amand-Eeckhout, L 2012, pp 4); tuy nhiên, điều đáng chú ý ở đây là tốc độ tăng trưởng về doanh thu đáng kể của nó Cho tới năm 1998, doanh thu từ TMCB đã tăng trưởng 400% so với năm 1990 (với 200 triệu Euro); và theo báo cáo thường niên của FLO, thì đến năm 2007, con số này đã tăng lên tới 2.38 tỉ Euro (FLO, 2009, pp 23), tức là bình quân mỗi năm tăng khoảng hơn 40% Sang đến năm 2008, do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu, TMCB tăng trưởng cũng chậm hơn, với tốc
độ tăng trưởng giai đoạn 2007-2008 là 22% và giai đoạn 20082009 là 15% (FLO,
2010, pp 12) Năm 2010, doanh thu của hàng hóa TMCB dường như đã làm một bước nhảy vọt khi tăng lên tới 4.36 tỉ Euro (AmandEeckhout, L 2012, pp.4), tăng 27% so với năm trước đó và đến năm 2012 thì đạt 4.8 tỉ Euro
Hình 1.5 Doanh thu toàn cầu của hàng hóa TMCB
10 Việc tổ chức bán hàng hóa TMCB lần đầu tiên được tổ chức bởi một vài ATO ở Châu Âu và Bắc Mỹ những năm
1950 và hàng thủ công mỹ nghệ là mặt hàng chủ yếu khi đó
0.04 0.2
1.38 2.9 3.4
4.36 4.9 4.8
Trang 29lần đầu tiên cà phê “Thương mại Công bằng” được nhập khẩu vào Châu Âu từ Guaemala Theo sau sự thành công của cà phê, ngày càng có nhiều mặt hàng được thêm vào hệ thống hàng hóa TMCB Tính đến nay, hệ thống hàng hóa này đã chứng nhận nhãn cho khoảng hơn 300 loại sản phẩm thô (Fairtrade International, 2012, pp 10) (con số này gấp 3 lần so với năm 2006), với khoảng 27.000 mặt hàng TMCB (Fairtrade International, 2010, pp 13) được dán nhãn bày bán trên thị trường, mà chủ đạo là các mặt hàng nông sản
Không chỉ danh mục sản phẩm TMCB được mở rộng, mà cơ cấu sản phẩm đóng góp trong giá trị tiêu thụ TMCB hằng năm cũng thay đổi đáng kể theo thời gian Năm 1992, sản phẩm TMCB được tiêu thụ có tới 80% là hàng thủ công mỹ nghệ, 20% còn lại là các sản phẩm nông nghiệp 10 năm sau đó, 26% sản phẩm tiêu thụ là của hàng thủ công mỹ nghệ và khoảng 70% là các sản phẩm nông nghiệp Đến năm
2010, tỷ lệ này đã thay đổi với hầu hết các sản phẩm TMCB được tiêu thụ trên thị trường đều là các sản phẩm nông nghiệp (Mark, B 2010, pp 23)
Hiện nay, TMCB có 14 mặt hàng chủ đạo là: cà phê, chuối, ca cao, bông, hoa quả sấy, hoa quả tươi, hoa, mật ong, nước trái cây, gạo, bóng (thể thao), đường, trà
và rượu Trong đó, cà phê là mặt hàng có giá trị lớn nhất trong hệ thống TMCB Năm
2007, doanh thu các mặt hàng cà phê chiếm tới ¼ trong tổng số doanh thu các mặt hàng TMCB Với sự mở rộng của hệ thống hàng hóa TMCB, tốc độ tăng trưởng cũng như tỷ trọng đóng góp về doanh thu của cà phê giảm dần nhưng vẫn là mặt hàng TMCB quan trọng nhất
Chuối là mặt hàng có giá trị lớn thứ hai sau cà phê, mặc dù mới chỉ tham gia vào TMCB từ năm 1996 Đáng chú ý, năm 2011, chuối TMCB chiếm tới 50% khối lượng hàng hóa TMCB được bán trên toàn thế giới (Mohan, S 2010, pp 30-31)
Bảng 1.2 Khối lượng và giá trị tiêu thụ của một số hàng hóa TMCB 2006-2012 Mặt hàng Tiêu chí 2007 2008 2009 2010 2011 2012
Trang 301.3.1.3 Về cơ cấu thị trường
Thị trường tiêu thụ sản phẩm TMCB ngày càng được mở rộng Thị trường chủ yếu cho các nhóm hàng hóa này là các nước phát triển, tuy vậy, một thực tế đang diễn
ra rất tích cực là những nước đang phát triển (đồng thời là những nước sản xuất ra các sản phẩm TMCB) cũng dần trở thành những nước tiêu thụ các mặt hàng này Ngày nay, các sản phẩm TMCB được bán trên hơn 125 quốc gia trong đó châu Âu và Mỹ
là quê hương của trên 80% thương nhân và doanh nghiệp bán lẻ hàng hóa TMCB toàn cầu (FLO, 2013, pp 10)
11 FLO USA chung quan điểm với FLO là phải hướng tới tạo ra một môi trường sống công bằng, tốt đẹp hơn cho nông dân và công nhân Nhưng FLO USA lại không đồng tình với cách thức thực hiện mục tiêu đó của FLO Internationalnên đã rút khỏi FLO vào ngày 31/12/2011 và hợp tác với Hệ thống Dán nhãn Khoa học (Scientific Certification System)
Trang 31Bảng 1.3 Giá trị bán lẻ hàng hóa TMCB ở một số quốc gia (đơn vị: Euro)
Nguồn: Tổng hợp báo cáo thường niên của FLO các năm 2005, 2012
Theo bảng 1.2, Vương quốc Anh đã vượt Mỹ để trở thành thị trường tiêu thụ hàng hóa TMCB lớn nhất trên thế giới, dù quy mô đất nước nhỏ hơn nhiều so với Mỹ, giá trị thị trường lên tới gần 2 triệu euro năm 2012 Mức tiêu thụ cho hàng hóa TMCB trên đầu người lớn nhất là ởThụy Sĩ và Ai-len với khoảng €37,5/người năm 2011 Nhật Bản và Ý tiếp nhận trào lưu TMCB khá sớm, nhưng lại không nhiệt tình với trào lưu này lắm Điều này có thể thấy rất rõ qua tổng giá trị thương mại cũng như giá trị tiêu thụ bình quần đầu người của 2 nước này ở bảng trên rất thấp, kém xa các nước còn lại
1.3.1.4 Về phân phối:
Cho tới cuối những năm 1990, sản phẩm TMCB chủ yếu được bán thông qua các ATO hoặc là các điểm tiêu thụ truyền thống như các của hệ thống cửa hàng thế giới, cửa hàng từ thiện của các tổ chức phi chính phủ,… Sự phát triển song hành của
hệ thống chứng nhận với dán nhãn TMCB từ những năm 1990 đồng thời các sản phẩm của TMCB được chú trọng hơn trong công tác tiếp thị và phân phối tại các kênh bán
lẻ đã đem lại thành công lớn, thúc đẩy thương mại các sản phẩm TMCB đáng kể Ngày nay, các sản phẩm của TMCB có thể được bày bán tại tất cả các chuỗi siêu thị lớn các nước phát triển Ngoài ra, nhiều nhà sản xuất và phân phối lớn trên thế giới, như P&G, Nestlé, Kraft, Sara, Lee, Chiquita, Del Monte, Starbucks,…, cũng đã phát triển những mặt hàng TMCB
Trang 32Tóm lại, TMCB đã có sự tăng trưởng nhanh chóng về giá trị thương mại, phạm
vi sản phẩm, thị trường cũng như phân phối trong suốt gần hai chục năm qua Không chỉ có những thành công về mặt thương mại như vừa kể trên, TMCB còn đem lại những thành quả về mặt nhân đạo Theo báo cáo thường niên 2012 – 2013 của FLO, TMCB đại diện cho 1,3 tỷ nông dân và công nhân trên hơn 70 quốc gia, đồng thời, đem lại lợi ích cho 7 tỷ người trên toàn thế giới
1.3.2 Sự phát triển Thương mại Công bằng về gạo trên thế giới
1.3.2.1 Quá trình phát triển TMCB về gạo
Gạo có vai trò vô cùng quan trọng, là loại lương thực phổ biến của gần một nửa dân số thế giới Có lịch sử tồn tại và phát triển hàng nghìn năm, nền nông nghiệp trồng lúa gắn liền với văn hóa, lịch sử và truyền thống của nhiều quốc gia Gạo còn đem lại nguồn thu nhập và cuộc sống cho hàng triệu nông dân, đặc biệt là ở các nước đang phát triển, những người sống chủ yếu dựa vào sản xuất lúa gạo
Vào những năm 1960, do sự bất ổn và biến động trong thị trường các sản phẩm nông nghiệp, người nông dân không có đủ thu nhập để trang trải cuộc sống Những người sản xuất nhỏ phải chấp nhận bán gạo với mức giá thấp, không đủ bù đắp chi phí vì không có phương pháp bảo quản gạo trong một thời gian dài để đợi mức giá cao hơn Đời sống của họ trở nên vô cùng khó khăn Ở Thái Lan, quốc gia xuất khẩu gạo lớn nhất thế giới, 68% người sản xuất gạo ở phía Đông Bắc phải gánh chịu khoản
nợ gấp ba lần thu nhập hàng năm của họ Thiếu hụt về tài chính và năng suất ngày càng giảm làm cho thu nhập của người nông dân ngày một thấp Họ không thể thoát khỏi cảnh nợ nần, dẫn đến sự gia tăng của các tệ nạn xã hội Ở Ấn Độ, áp lực nợ nần quá lớn khiến nhiều người phải lựa chọn cái chết để giải thoát Trong hoàn cảnh đó,
sự ra đời và phát triển của TMCB là vô cùng cần thiết như một lối thoát cho những người nông dân này
Cuối những năm 1980, hội chợ thương mại Claro (một thành viên của Tổ chức TMCB thế giới WFTO với nhiệm vụ giúp đỡ các nước thế giới thứ ba tiêu thụ những sản phẩm nổi tiếng của họ) đã được thành lập và lần đầu tiên liên kết với Tổ chức hỗ trợ nông dân Surin (Surin Farmers Support - SFS), một tổ chức viện trợ nhằm cải thiện điều kiện sống cho những người nông dân đang phải sống trong nợ nần ở phía Đông Bắc tỉnh Surin, Thái Lan Những người nông dân ở đây đã được giúp đỡ với phương pháp sản xuất hữu cơ, sự trợ giúp của các ngân hàng gạo và thị trường tiêu
Trang 33thụ trực tiếp Nhờ sự hợp tác giữa SFS và bốn nhóm sản xuất gạo, gạo TMCB, đặc biệt là gạo thơm Hom Mali (gạo jasmine) và gạo vàng Lueng On, đã được xuất khẩu lần đầu vào năm 1991 Claro đã liên kết với Hiệp hội TMCB châu Âu (EFTA) phân phối gạo đến các tổ chức phi chính phủ về TMCB, như Solidar Monde ở Pháp và Oxfam Bỉ (Nguyễn Mai Trang, 2009, pp 21-23)
Sau đó, các thành viên của EFTA tiếp tục liên kết thành công với các tổ chức TMCB ở Thái Lan, Ấn Độ và một số quốc gia khác Theo sau sự thành công đó, cùng với sự thành công của chiến lược thị trường tổ chức tại các cửa hàng thế giới, tổ chức dán nhãn TMCB quốc tế FLO đã giới thiệu tiêu chuẩn về gạo lần đầu tiên vào năm
2000 Bản sửa đổi gần đây nhất “Tiêu chuẩn gạo đối với tổ chức các nhà sản xuất nhỏ” được ban hành ngày 16 tháng 2 năm 2009 Ngoài ra, tháng 4 năm 2012, FLO đã ban hành “Tiêu chuẩn TMCB về ngũ cốc cho tổ chức các nhà sản xuất nhỏ”, trong đó
có gạo Các tiêu chuẩn TMCB cho người sản xuất một mặt là các yêu cầu tối thiểu
mà người sản xuất phải đạt được để được chứng nhận TMCB, mặt khác khuyến khích
họ tiếp tục cải thiện điều kiện làm việc, chất lượng sản phẩm, sự bền vững của môi trường và liên kết lại với nhau trong các hợp tác xã hay tổ chức các nhà sản xuất Sự
ra đời và phát triển của các tiêu chuẩn này cho thấy sự phát triển và ngày càng phổ biến của TMCB đối với gạo
1.3.2.2 Những thành tựu đạt được của TMCB về gạo
Điều mà TMCB đem đến là sự đảm bảo một mức giá công bằng cho người nông dân đối với gạo của họ đồng thời khuyến khích cải thiện môi trường thông qua giúp đỡ người nông dân tiếp cận với phương thức sản xuất hữu cơ TMCB đã đem lại cuộc sống tốt đẹp hơn cho người nông dân sản xuất gạo trên toàn thế giới
Thứ nhất, thu nhập của họ tăng lên và rất nhiều trong số họ đã thoát khỏi nợ
Một ví dụ điển hình là Sunstar, Liên đoàn các nhà sản xuất nhỏ ở vùng Khaddar, Ấn
Độ Kể từ khi được chứng nhận TMCB bởi FLO vào năm 2004, chất lượng đất trồng được cải thiện đáng kể và đời sống của 900 nông dân thành viên của Sunstar được
nâng cao (Sunstar - Federation of Small Farmers of Khaddar Area, n.d)
Theo báo cáo đánh giá TMCB của FLO năm 2011 và 2012, số lượng nông dân tham gia TMCB về gạo trên toàn thế giới năm 2010 là 5400 nông dân; chỉ sau một năm, con số này đã tăng lên 9.200 nông dân với diện tích canh tác tương ứng là 12.400
ha và 14.600 ha Cũng theo báo cáo đánh giá TMCB của FLO năm 2007, 2008 và
Trang 342011, tổng khả năng sản xuất gạo TMCB cũng tăng lên rất nhanh, từ 17.500 MT năm
2007 đến 30.200 MT năm 2010
Khi được chứng nhận gạo TMCB, người nông dân có thể bán gạo ở mức giá đảm bảo cho cuộc sống và khả năng sản xuất của họ Mức giá trong hợp đồng phải cao hơn giá thị trường tại địa phương ít nhất 10% Ngoài mức giá tối thiểu, đảm bảo bao gồm chi phí sản xuất bền vững cho sản phẩmTMCB, họ còn nhận đượcthêm mức giá phúc lợi
Theo báo cáo đánh giá về TMCB của FLO năm 2007, 2008 và 2011, tổng mức giá phúc lợi mà người nông dân sản xuất gạo TMCB nhận được từ năm 2007 đến năm
2010 lần lượt là 178.060, 283.000, 212.000 và 209.000 EUR Mức giá phúc lợi này được đầu tư cho các dự án phát triển xã hội, môi trường và kinh tế; đem lại phúc lợi
xã hội cao hơn cho người nông dân
Thứ hai, môi trường sống và điều kiện lao động của người nông dân cũng như
công bằng xã hội được cải thiện đáng kể
Trong TMCB, người sản xuất phải tham gia vào những tiêu chuẩn nghiêm ngặt liên quan đến việc sử dụng thuốc trừ sâu, bảo vệ nguồn nước, rừng đầu nguồn và hệ sinh thái, chống xói mòn và lãng phí Hơn nữa, sự phát triển của các phương thức canh tác hữu cơ cũng giúp cải thiện đáng kể môi trường sống và sức khỏe con người Mức giá TMCB giúp người sản xuất nhỏ chi trả cho chứng nhận hữu cơ và các công
cụ nông nghiệp bền vững Nó cũng cho phép các hợp tác xã giúp đỡ các thành viên mới trong ba năm chuyển sang sản xuất hữu cơ Báo cáo cho thấy canh tác hữu cơ làm tăng sự đa dạng sinh học trên cánh đồng, ngăn cản dòng chảy hóa học làm hỏng
hệ thống cung cấp nước, và cho phép kết hợp các kỹ thuật nông nghiệp
Các tiêu chuẩn về lao động đảm bảo điều kiện lao động cho người nông dân
và công bằng xã hội Các tiêu chuẩn này dẫn chiếu công ước của Liên đoàn lao động quốc tế về điều kiện lao động như là nguồn tham khảo chính, bao gồm các tiêu chuẩn
về chống phân biệt đối xử, tự do lao động, bảo vệ trẻ em và cấm sử dụng lao động trẻ
em, tự do hiệp đoàn và thương lượng tập thể, điều kiện lao động, sức khỏe và an toàn lao động (Fairtrade International, 2011, pp 21-26) Nhờ các tiêu chuẩn này mà đời sống của người nông dân tham gia vào TMCB được cải thiện, xã hội trở nên tốt đẹp hơn, công bằng xã hội được nâng cao Hơn nữa, bình đẳng giới cũng được thúc đẩy thông qua sự tăng lên của tỷ lệ phụ nữ tham gia TMCB; theo báo cáo đánh giá TMCB của FLO năm 2011 và 2012, tỷ lệ này tăng từ 16% năm 2008 lên 29% năm 2011
Trang 351.3.2.3 Triển vọng phát triển TMCB về gạo trên thế giới
TMCB đang dần trở thành một hướng đi mới cho thương mại gạo trên thế giới Triển vọng phát triển TMCB sẽ là gia tăng sản lượng, nhu cầu về gạo và gia tăng tỷ
lệ gạo hữu cơ
Thứ nhất, về sự gia tăng sản lượng và nhu cầu gạo TMCB
TMCB đang dần trở thành xu hướng phát triển của thương mại gạo trên thế giới với những lợi ích mà nó đem lại cho người nông dân, đặc biệt là ở các nước đang phát triển Sự gia tăng nhanh chóng của các tổ chức TMCB quốc tế và khu vực đã cho thấy xu hướng này Cho tới nay, riêng FLO - CERT đã chứng nhận cho 32 nhà sản xuất gạo TMCB trên thế giới, trong đó chủ yếu là các nhà sản xuất Thái Lan và
Ấn Độ Gạo TMCB được tiêu thụ ở Mỹ, Canada và hầu hết các nước châu Âu Hiện nay có rất nhiều loại gạo đã được công nhận là gạo TMCB trong đó nổi tiếng có gạo Jasmine, gạo Glutinous của Thái Lan hay gạo Basmati của Ấn Độ với lượng tiêu thụ ngày càng tăng
Hình 1.6 Sản lượng gạo TMCB
Nguồn: Báo cáo hàng năm của FLO từ năm 2005 đến 2012
Theo hình 1.7, từ năm 2004 đến năm 2012, sản lượng gạo TMCB liên tục tăng lên, đặc biệt tăng nhanh trong giai đoạn 2005 – 2009, sau đó ổn định và tăng chậm hơn khi dần đáp ứng được nhu cầu của thế giới
Bảng 1.4 Ý kiến người tiêu dùng về việc trả mức giá cao hơn cho sản phẩm TMCB
Nước
Đồng tình
mạnh mẽ
Có xu hướng đồng tình Trung lập
Có xu hướng phản đối
Phản đối mạnh mẽ
Trang 36Nguồn: Market Analysis Report April 2012 – Socially Conscious Consumer Trends: Fairtrade
Bộ Nông nghiệp Canada
Theo bảng 1.4, từ năm 2009 - 2011, người tiêu dùng ngày càng có cái nhìn tích cực hơn đối với các sản phẩm TMCB, tỷ lệ người đồng ý trả mức giá cao hơn cho các sản phẩm TMCB đều tăng lên tại các quốc gia được nghiên cứu Đặc biệt tại các quốc gia như Trung Quốc, Ấn Độ, Ả Rập Saudi, U.A.E, vào năm 2011, tỷ lệ đồng ý chiếm trên 50% Tỷ lệ này còn có xu hướng tăng trong tương lai khi mà nhu cầu về các sản phẩm
12 U.A.E (United Arab Emirates) là từ viết tắt của các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất
Trang 37an toàn cho sức khỏe, môi trường, công bằng với người nông dân ngày càng tăng lên, đặc biệt ở các quốc gia phát triển
Thứ hai, về xu hướng gia tăng tỷ lệ gạo hữu cơ trong tổng lượng gạo TMCB
Người tiêu dùng ngày càng quan tâm đến các sản phẩm an toàn đối với sức khỏe và môi trường, vì thế gạo hữu cơ ngày càng được ưa chuộng và thay thế dần cho gạo thông thường Năm 2008, tổ chức kinh doanh thay thế Alter Eco đã tiến hành một cuộc phỏng vấn 461 người mua sắm chính trong gia đình từ 18 tuổi trở lên tại Mỹ về TMCB; kết quả cho thấy trên 1/3 (42,7%) những người được hỏi mong muốn các sản phẩm TMCB là sản phẩm hữu cơ Con số này tăng lên trên 50% (54,6%) đối với những người được hỏi là những người đã từng tiêu dùng sản phẩm TMCB Ngày nay, khi mà việc sản xuất với phương pháp canh tác hữu cơ được nhìn nhận là có tác động tích cực hơn đối với môi trường và chính phủ các quốc gia phát triển như Mỹ, Canada, Nhật Bản, liên minh châu Âu EU yêu cầu sản phẩm để đạt được một số chứng nhận đặc biệt phải là sản phẩm hữu cơ, xu hướng sản xuất hữu cơ ngày càng phát triển mạnh mẽ Hiện nay, 50% gạo TMCB là hữu cơ và những người nông dân khác thì đang trong quá trình chuyển sang sản xuất hữu cơ
Hơn thế, mức giá tối thiểu của gạo TMCB hữu cơ cũng cao hơn gạo thông thường
Bảng 1.5 Giá tối thiểu một số loại gạo hữu cơ và gạo thông thường TMCB
Trang 38Fairtrade International
Theo bảng 1.5, mức giá tối thiểu đối với gạo TMCB của gạo hữu cơ thường cao hơn 20-30 EUR so với gạo thông thường cho một tấn gạo
ĐỐI VỚI MẶT HÀNG GẠO TẠI THÁI LAN TRONG GIAI ĐOẠN 1990 –
2013
2.1 Tổng quan về sản xuất và thương mại đối với mặt hàng gạo tại Thái Lan
2.1.1 Tổng quan về sản xuất mặt hàng gạo
2.1.1.1 Điều kiện sản xuất, canh tác
Tổng quan về sản xuất mặt hàng gạo tại Thái Lan sẽ được xem xét tổng quát thông qua 5 yếu tố đầu vào của sản xuất là điều kiện tự nhiên, lao động, vốn, khoa học công nghệ và cơ sở hạ tầng
2.1.1.1.1 Điều kiện tự nhiên
Về điều kiện tự nhiên, nghề trồng lúa ở Thái Lan phụ thuộc nhiều vào điều kiện tự nhiên, trong đó các nhân tố quan trọng hàng đầu là đất đai, khí hậu và nguồn nước
Về đất đai, Thái Lan có điều kiện thuận lợi về đất đai với tổng diện tích gieo
trồng lúa vào khoảng 55% so với tổng diện tích đất trồng nông nghiệp hàng năm Đặc biệt, Thái Lan có 2 vùng lớn là vùng phía Bắc và vùng đất trung tâm đều chiếm khoảng 20% diện tích đất trồng nông nghiệp thuận lợi cho việc phát triển trồng lúa nước Vùng phía Bắc với bốn con sông chính là Ping, Nam, Yom và Wang tạo nên những thung lũng màu mỡ thuận lợi cho trồng trọt Vùng trung tâm với đất đai phí nhiêu, giàu dinh dưỡng do phù sa bồi đắp rất thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp, đặc biệt là trồng lúa nước Các cánh đồng bằng phẳng ở vùng trung tâm được bồi đắp bởi 3 con
sông lớn là Chaophraya, Mekong và Thachin, được coi là vựa lúa của thế giới (Thai
land - The world Factbook, n.d)
Về khí hậu, Thái Lan thuộc vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa ẩm, với lượng mưa
trung bình hàng năm từ 1000-2000 mm, ở vùng núi lên tới 5000mm Độ ẩm hằng năm trên 80% phù hợp cho cây lúa sinh trưởng Bên cạnh đó nhiệt độ trung bình 28 – 320C, tổng lượng bức xạ mặt trời lớn cung cấp lượng ánh sáng dồi dào, nguồn nhiệt ẩm
phong phú cho cây trồng (Thailand - Information And Amazing
Facts, n.d)
Trang 39Về nguồn nước, Thái Lan có nguồn nước dồi dào Mạng lưới sông ngòi dày
đặc với hai con sông chính là Chao Phraya (372 km) và Mê Kông Hệ thống sông Chao Phrayacó tổng lưu lượng dòng chảy vào khoảng 883 m3/s cung cấp nước tưới cho một diện tích khoảng 160.000 km2 Hệ thống sông Mê Kông chảy qua Thái Lan với diện tích lưu vực là 184.000 km2, đây là nguồn nước phong phú cung cấp lượng phù sa khổng lồ hình thành các đồng bằng cũng như các vùng chuyên canh nông nghiệp
Tuy nhiên, những năm gần đây cùng với tiến trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước, diện tích đất trồng lúa ngày càng giảm do phải dành diện tích cho phát triển công nghiệp, kết cấu hạ tầng và đô thị hóa (Isvilanonda, S 2012, pp.4)
Hình 2.1 Tình hình sử dụng đất ở Thái Lan năm 2008
Nguồn: Office of Agricultural Economics, 2008
Như vậy, tính đến năm 2008, diện tích đất trồng lúa chỉ còn 50% so với tổng diện tích đất trồng nông nghiệp
Bên cạnh đó, tình trạng biến đổi khí hậu cũng có những tác động nặng nề tới Thái Lan khiến cho nhiệt độ bề mặt tăng cao, các hiện tượng thiên tai như bão, lũ lụt, hạn hán xảy ra thường xuyên hơn; đặc biệt là nước biển dâng cao đặt các cánh đồng lúa ở Thái Lan trong tình trạng ngập úng Biến đổi khí hậu đe dọa nghiêm trọng đến các vấn đề về an ninh lương thực và sản xuất nông nghiệp cụ thể như diện tích đất nông nghiệp ngày càng bị thu hẹp, tác động tiêu cực tới năng suất cây trồng, thời gian gieo vụ, làm tăng nguy cơ sâu bệnh hại cây trồng,…
2.1.1.1.2 Vốn
Chính phủ Thái Lan đã quan tâm tăng mức đầu tư cho nông nghiệp, nông thôn
và nông dân, có các chính sách hấp dẫn để khuyến khích người nông dân tâm huyết
% 50
% 21
21 %
%
1 1% 3%1%2%
Đất trồng lúa Đất lâm nghiệp Đất trồng cây ăn quả Đất trồng rau Đồng cỏ chăn nuôi Đất dành cho khu vực nhà riêng Đất bỏ hoang
Đất sử dụng mục đích khác
Trang 40với đồng ruộng góp phần đẩy mạnh tái cơ cấu ngành nông nghiệp, thu hút các nguồn vốn đầu tư từ nước ngoài Năm 1996, chính phủ đã thành lập ngân hàng Nông nghiệp
và Hợp tác xã nông nghiệp (Bank for Agriculture and Agricultural Cooperatives - BAAC), đây được xem là bước ngoặt lớn trong việc đưa các nguồn vốn vay đến cho người nông dân với lãi suất thấp Và cho đến năm 2011, BAAC đã mở rộng đến 2098 chi nhánh trên khắp cả nước Ngân hàng đã cung cấp khoản vay lên tới 20.610 triệu USD cho hơn 4,67 triệu hộ nông dân và gần 1100 hợp tác xã nông nghiệp (Isvilanonda, S 2012, pp.12)
Bên cạnh đó, về phía tư nhân, các doanh nghiệp đã chú trọng nhập khẩu trực tiếp các nguyên vật liệu phục vụ cho sản xuất như máy móc, phân bón, giống lúa để phục vụ và đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng trong nông nghiệp ở Thái Lan Thông qua đó, các nhà sản xuất trong nước thường tạo ra những sản phẩm tương tự với những sản phẩm ở nước ngoài nhưng có cải tiến thiết kế và quy trình sản xuất để giảm chi phí và phù hợp hơn với điều kiện của Thái Lan
Ngoài các nguồn vốn đầu tư từ phía nhà nước và khu vực tư nhân, còn có các dòng vốn đầu tư từ nước ngoài vào nền nông nghiêp Thái Lan Từ năm 1970 – 2006, dòng vốn đầu tư từ nước ngoài cho khu vực nông nghiệp là 291,901.7 triệu Baht, chiếm 5.3% trong tổng số vốn đầu tư từ nước ngoài (Suphannachart, W n.d, pp 53) Mặc dù tỷ lệ vốn nước ngoài đầu tư cho nông nghiệp tương đối nhỏ, nhưng mức độ tăng trưởng qua các năm của nguồn vốn này lại mang chiều hướng khá tích cực với 69,57%/năm trong giai đoạn 1974-2009 Tương tự, số lượng các dự án nước ngoài hỗ trợ cho nông nghiệp Thái cũng tăng trưởng nhanh kể từ năm 1988 với mức độ tăng trưởng trung bình một năm là 30,71% Điều này đã góp phần không nhỏ trong sự phát triển nhanh và bền vững của nền nông nghiệp Thái Lan
2.1.1.1.3 Lao động
Về cơ bản Thái Lan vẫn là nước nông nghiệp, tuy đóng góp của nông nghiệp trong GDP dưới 10% nhưng nông nghiệp vẫn là ngành thu hút và tạo việc làm cho 44% lực lượng lao động toàn xã hội; đồng thời khu vực nông thôn còn là địa bàn sinh sống của gần 70% dân cư
Bảng 2.1 Dân số, lao động của Thái Lan 2000-2004
Dân số (tr.người) 62,4 62,9 63,4 63,9 64,4