Vốn điều lệ được sử dụng vào mục đích mua sắm tài sản, trang thiết bị ban đầu cần thiếtcho hoạt động của ngân hàng; góp vốn liên doanh; cho các thành phần kinh tế vay và thựchiện các dịc
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU:
Ngày 11/01/2007 Việt Nam chính thức trở thành thành viên thứ 150 của Tổ chứcThương mại thế giới WTO, đánh dấu bước chuyển biến quan trọng trên chặng đường hộinhập kinh tế thế giới của nước ta Nền kinh tế Việt Nam đứng trước nhiều cơ hội và tháchthức mới Đóng vai trò là bộ phận điều hòa và bôi trơn bộ máy kinh tế, hệ thống ngânhàng ngày càng trở nên quan trọng hơn trong công cuộc đổi mới và phát triển kinh tế đấtnước Với xu thế hội nhập kinh tế toàn cầu, yêu cầu đa dạng hóa và hoàn thiện các dịch
vụ Tài chính-Ngân hàng là tất yếu Là một nghiệp vụ cơ sở, chính yếu, làm tiền đề chohầu hết các hoạt động của ngân hàng, nghiệp vụ huy động tiền gửi luôn được chú trọngđặc biệt Các NHTM không ngừng nâng cao chất lượng hoạt động huy động tiền gửi đểđảm bảo chức năng là trung gian tín dụng, nơi cung ứng nguồn vốn cho nền kinh tế Tuynhiên, việc đẩy mạnh huy động vốn để có thể đáp ứng được nhu cầu lớn về vốn cho côngcuộc phát triển kinh tế là một thách thức không nhỏ đối với các NHTM Vấn đề này đòihỏi phải có các hình thức huy động vốn phong phú và linh hoạt
Nhận thức được tầm quan trọng của hoạt động huy động tiền gửi của hệ thốngngân hàng, sau quá trình kiến tập tại Ngân hàng nông nghiệp và Phát triển nông thôn chinhánh huyện Hậu Lộc-Thanh Hóa (NHNo & PTNT Hậu Lộc), em đã chọn đề tài: “Một sốgiải pháp nâng cao chất lượng hoạt động huy động vốn bằng tiền gửi của chi nhánh Ngânhàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn huyện Hậu Lộc tỉnh Thanh Hóa” làm đề tàinghiên cứu
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, bài viết được bố cụcthành 3 chương:
Chương I: Những lý luận cơ bản về hoạt động huy động vốn của NHTM
Chương II: Thực trạng hoạt động huy động vốn bằng tiền gửi tại chi nhánhNHNo&PTNT Hậu Lộc
Chương III: Giải pháp nhằm nâng cao chất lượng hoạt động huy động vốn bằng tiền gửitại chi nhánh NHNo&PTNT Hậu Lộc
Trang 2CHƯƠNG I:
NHỮNG LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ HOẠT ĐỘNG HUY ĐỘNG VỐN CỦA
NHTM1.1 Nguồn vốn hoạt động của NHTM:
1.1.1 Vốn của ngân hàng (Bank capital)
Vốn của ngân hàng là khoản vốn thuộc sở hữu của Ngân hàng (nên còn gọi là vốn chủ
sở hữu), nó bao gồm vốn tự có và vốn coi như tự có
1.1.1.1 Vốn tự có gồm:
a Vốn điều lệ (Charter capital):
Là khoản vốn thuộc sở hữu của ngân hàng, ghi trong bản điều lệ của ngân hàng, đượchình thành ngay từ khi ngân hàng được thành lập Vốn điều lệ có thể do Nhà nước cấpnếu đó là ngân hàng thương mại quốc doanh, có thể là vốn đóng góp của cổ đông nếu đó
là ngân hàng thương mại cổ phần
Vốn điều lệ được sử dụng vào mục đích mua sắm tài sản, trang thiết bị ban đầu cần thiếtcho hoạt động của ngân hàng; góp vốn liên doanh; cho các thành phần kinh tế vay và thựchiện các dịch vụ khác của ngân hàng Các ngân hàng không được phép sử dụng nguồnvốn nào khác ngoài vốn điều lệ để đầu tư vào tài sản cố định của ngân hàng và hùn vốnkinh doanh
b Quỹ dự trữ:
Được hình thành từ hai quỹ là quỹ dự trữ để bổ sung vốn điều lệ và quỹ dự trữ đặc biệt
để bù đắp rủi ro (Loan loss reserves) Các quỹ này được trích từ lợi nhuận ròng hàng nămcủa ngân hàng Việc hình thành các quỹ này nhằm tăng vốn tự có của Ngân hàng, đồngthời đảm bảo an toàn trong kinh doanh
1.1.1.2 Vốn coi như tự có:
Vốn coi như tự có bao gồm các khoản vốn tạm thời nhàn rỗi của ngân hàng Đây làkhoản vốn được phân bổ cho những mục đích chi tiêu nhất định nhưng tạm thời chưađược sử dụng, ví dụ: lợi nhuận chờ phân bổ, tiền lương chưa đến hạn thanh toán, các quỹchuyên dùng chưa sử dụng đến…
Trang 3Vốn của ngân hàng thường chiếm tỷ trọng nhỏ (không quá 10%) trong tổng nguồn vốn
mà ngân hàng nắm giữ nhưng lại là nguồn vốn có ý nghĩa đặc biệt vì nó phản ánh thực lựctài chính của ngân hàng, do vậy nó quyết định quy mô hoạt động của ngân hàng, là cơ sở
để ngân hàng tiến hành kinh doanh, thu hút những nguồn vốn khác và cho vay Nó được
ví như cái đệm để chống đỡ sự giảm giá trị của những tài sản có của ngân hàng, sự giảmgiá trị có thể đẩy ngân hàng đến tình trạng mất khả năng chi trả và phá sản
1.1.2 Vốn huy động:
Đây là nguồn vốn quan trọng nhất trong số vốn thu hút từ bên ngoài của NHTM, baogồm:
1.1.2.1 Tiền gửi không kì hạn (Demand deposit)
Là loại tiền gửi mà người gửi tiền có thể gửi thêm hoặc rút ra bất cứ lúc nào Tiền gửikhông kì hạn được để trong các tài khoản vãng lai (current account) Do tính chất có thểrút ra bất cứ lúc nào nên dạng tiền gửi này thường chỉ được hưởng lãi suất rất thấp hoặckhông được ngân hàng trả lãi nhưng đổi lại người gửi tiền được sử dụng các dịch vụ thanhtoán qua ngân hàng Với loại tiền gửi này, người gửi không nhằm mục đích hưởng lãi màchủ yếu là nhằm đảm bảo an toàn cho khoản tiền và thực hiện các hoạt động thanh toánqua ngân hàng Chính vì vậy mà loại tiền gửi này còn được gọi là tiền gửi thanh toán Hầu hết, các ngân hàng cho phép chủ tài khoản vãng lai được phép phát hành séc đểthanh toán Chúng thường tồn tại các dạng sau:
a Tài khoản séc:
Loại tiền gửi này được trả lãi rất thấp Có hai loại tài khoản séc là tài khoản séc củadoanh nghiệp và tài khoản séc cá nhân
b Tài khoản NOW (Negotiable order of Withdrawal account):
Về bản chất đây là một dạng tài khoản tiền gửi cho phép phát hành séc nhưng đượchưởng lãi cao hơn tài khoản séc thông thường Loại tài khoản này không được kí phát sécnhưng chủ tài khoản NOW được chuyển nhượng lệnh rút tiền của tài khoản này, nên lệnhrút tiền của tài khoản NOW có tác dụng như séc trong thanh toán Những người gửi tiềnvào tài khoản này với mong muốn vừa được hưởng lãi cao, vừa có thể thanh toán khi cần.Tuy vậy, lệnh thanh toán này không tiện lợi như séc
Trang 4c Tài khoản tiền gửi thị trường tiền tệ (MMDAs-Money market deposit account)
Tiền gửi loại này được dùng để đầu tư vào thị trường tiền tệ và cho phép những ngườichủ tài khoản được phép kí phát séc Tiền gửi tài khoản này không phải dự trữ bắt buộc
Nó hơn các quỹ tương hỗ tại thị trường tiền tệ ở chỗ là được bảo hiểm bởi chính quyền
d Tài khoản ATS (Automatic transfer system account):
Loại tài khoản này cũng cho phép chủ tài khoản được phép phát hành séc nhưng cóthêm một đặc tính đặc biệt là khi số dư trên tài khoản này vượt quá một mức nhất định thìphần tiền vượt quá sẽ tự động chuyển sang một tài khoản tiết kiệm được hưởng lãi caohơn Ngược lại, khi số dư trên tài khoản ATS xuống thấp hơn mức tối thiểu thì tiền trongtài khoản tiết kiệm sẽ được chuyển ngược trở lại tài khoản ATS để phục hồi số dư tốithiểu
Ở Việt Nam, tài khoản séc thường được gọi là tài khoản tiền gửi thanh toán, bao gồm tàikhoản thanh toán dùng cho các doanh nghiệp và các tài khoản thanh toán cho cá nhân Tiền gửi không kì hạn là một nguồn vốn quan trọng của ngân hàng Tuy nhiên do ngườigửi tiền có thể rút ra bất cứ lúc nào nên nguồn vốn này thường xuyên biến động, vì vậyngân hàng chủ yếu dùng nó để cho vay ngắn hạn
1.1.2.2 Tiền gửi có kì hạn (Time deposit):
Là loại tiền gửi mà người gửi chỉ được rút ra sau một thời gian nhất định từ một vàitháng đến vài năm Mức lãi suất của tiền gửi có kì hạn thường cao hơn tiền gửi không kìhạn nhưng những người gửi tiền loại này không được hưởng dịch vụ thanh toán qua ngânhàng (ví dụ như không được kí phát séc) Mục đích chủ yếu của người gửi tiền có kì hạn
là để lấy lãi
Về nguyên tắc, tiền gửi có kì hạn không được rút ra trước thời hạn, song để cạnh tranhthu hút khách hàng, các ngân hàng vẫn cho phép rút trước hạn Tuy nhiên, người gửi tiềnrút trước hạn sẽ phải chịu một khoản phạt, chẳng hạn chỉ được hưởng lãi suất bằng lãisuất của tiền gửi không kì hạn hoặc không được hưởng lãi, tùy theo quy định của ngânhàng trong từng thời kì
Ở các nước phát triển, tiền gửi có kì hạn thường dưới dạng các chứng chỉ tiền gửi(Certificate of deposit – CD), còn ở Việt Nam tiền gửi có kì hạn thường dưới hai dạng:
Trang 5- Tiền gửi có kì hạn theo tài khoản
- Tiền gửi có kì hạn dưới hình thức phát hành kì phiếu ngân hàng Trong hình thứcnày ngân hàng chủ động phát hành phiếu nợ để huy động vốn nhằm mục đích đãđịnh, ví dụ để đầu tư cho dự án…
1.1.2.3 Tiền gửi tiết kiệm (Savings deposit):
Là khoản để dành của cá nhân được gửi vào ngân hàng nhằm mục đích hưởng lãi theođịnh kì Các mức lãi suất tương ứng với từng kì hạn gửi được ngân hàng công bố sẵn Các
kì hạn thường là 1,3,6,9,12 tháng hoặc trên 1 năm (18, 24 tháng…) Hình thức phổ biến
và cổ điển nhất của tiền gửi tiết kiệm là loại tiền gửi tiết kiệm có sổ Khi gửi tiền, ngânhàng cấp cho người gửi một cuốn sổ dùng để ghi nhận các khoản tiền gửi vào và tiền rút
ra Quyển sổ này đồng thời có giá trị như một chứng thư xác nhận về khoản tiền đã gửi.Ngoài ra, còn có những hình thức khác như chứng chỉ tiết kiệm (Savings certificates), tráiphiếu tiết kiệm (Savings bonds)
Ở Việt Nam, tiền gửi tiết kiệm bao gồm ba loại sau:
- Tiền gửi tiết kiệm không kì hạn: Đây là loại tiền gửi tiết kiệm mà người gửi tiền
có thể gửi vào và rút ra theo nhu cầu sử dụng mà không cần báo trước cho ngânhàng Ngân hàng trả lãi cho loại tiền gửi này nhưng rất thấp Loại tiền gửi này gầngiống với tiền gửi không kì hạn, chỉ khác là nó luôn được hưởng lãi, nhưng đổi lạikhông được hưởng các dịch vụ thanh toán qua ngân hàng Gửi tiền dạng này nhằmđảm bảo an toàn cho khoản tiền và dự phòng cho các nhu cầu chi tiêu trong thờigian ngắn đồng thời được hưởng một chút lãi dù thấp
- Tiền gửi tiết kiệm có kì hạn: Là loại tiền gửi tiết kiệm có thời hạn gửi cố định
trước Loại tiền gửi này cũng tương tự như tiền gửi có kì hạn ở điểm là không đượcphép rút trước hạn (nếu rút trước hạn sẽ phải chịu phạt như chỉ được hưởng lãi suấtkhông kì hạn hoặc thậm chí không được hưởng lãi), được hưởng lãi cao hơn cácdạng tiền gửi không kì hạn và không được hưởng các dịch vụ thanh toán qua ngânhàng
- Tiền gửi tiết kiệm có mục đích: Là hình thức tiết kiệm trung và dài hạn nhằm mục
đích xây dựng nhà ở Ngoài hưởng lãi, thì người gửi tiền còn được ngân hàng cho
Trang 6vay nhằm bổ sung thêm vốn cho mục đích xây dựng nhà ở Mức cho vay tối đabằng số dư tiền gửi tiết kiệm.
Lý do phải tách riêng tiền gửi tiết kiệm ra mà không xếp vào hai dạng tiền gửi trên (tiềngửi không kì hạn và tiền gửi có kì hạn) mặc dù tính chất của chúng rất giống nhau là vìđây là tiền tiết kiệm của các tầng lớp dân cư, là tài sản tích lũy của quốc gia, được xem lànguồn vốn nội lực của đất nước, cho nên cần có chính sách ưu tiên bảo vệ Ví dụ: cácNHTW thường buộc các NHTM khi huy động dạng tiền gửi này thì phải mua bảo hiểmcho chúng; Hoặc các công ty tài chính không được huy động dạng tiền gửi này
Tiền gửi kì hạn và tiền gửi tiết kiệm kì hạn là nguồn vốn quan trọng nhất của NHTM.Đây là nguồn vốn tương đối ổn định vì ngân hàng nắm được những kì luân chuyển củavốn, vì vậy ngân hàng có thể dùng để cho vay ngắn hạn, trung hạn hoặc dài hạn đều được Vốn tiền gửi là nguồn vốn chiếm tỷ trọng cao nhất trong tổng số nguồn vốn, là nguồnvốn chủ yếu để ngân hàng kinh doanh Nó phản ánh bản chất của ngân hàng là đi vay đểcho vay Chính vì vậy, người ta gọi NHTM là ngân hàng tiền gửi
1.1.3 Vốn đi vay:
1.1.3.1 Vay từ NHTW:
Các NHTM vay tiền tại NHTW trong trường hợp thiếu hụt dự trữ hay quá thiếu tiềnmặt NHTW cấp tín dụng cho các NHTM chủ yếu dưới hai hình thức, đó là:
- Chiết khấu hay tái chiết khấu các chứng từ có giá
- Cho vay thế chấp hay ứng trước
1.1.3.2 Vay ngắn hạn các khoản dự trữ từ các TCTD khác:
Mục đích chính của loại vay này là nhằm đảm bảo dự trữ bắt buộc theo quy định củaNHTW NHTM bị thiếu hụt dự trữ sẽ vay của NHTM có dự trữ dư thừa Thời hạn củaloại cho vay này rất ngắn, thường không quá một tuần
1.1.3.3 Vay từ các công ty:
Ở các nước phát triển, NHTM còn có thể vay trực tiếp từ các công ty bằng các hìnhthức:
- Vay ngắn hạn bằng các hợp đồng mua lại (Repurchase Agreement)
- Vay từ công ty mẹ
Trang 71.1.3.4 Vay từ thị trường tài chính trong nước:
Các NHTM có thể vay từ thị trường tài chính trong nước thông qua phát hành cácchứng từ có giá như:
- Chứng chỉ tiền gửi có khả năng chuyển nhượng
- Trái phiếu ngân hàng
1.1.3.5 Vay nước ngoài:
Các NHTM có thể tìm kiếm nguồn vốn từ thị trường nước ngoài thông qua việc pháthành phiếu nợ vay tiền nước ngoài
Thứ nhất: Vốn là cơ sở để ngân hàng tiến hành hoạt động kinh doanh Với đặc trưng của
hoạt động ngân hàng, vốn không chỉ là phương tiện kinh doanh mà còn là đối tượng kinhdoanh chủ yếu
Thứ hai: Vốn ảnh hưởng trực tiếp đến quy mô hoạt động của NHTM Nếu khả năng về
vốn của ngân hàng dồi dào thì ngân hàng có thể mở rộng được các hoạt động kinh doanh
và đáp ứng được nhu cầu về vốn để cho vay, bảo lãnh, đầu tư…
Thứ ba: Vốn giúp ngân hàng chủ động trong kinh doanh Nguồn vốn huy động lớn cũng
làm tăng khả năng hoạt động của ngân hàng như chủ động đa dạng hóa các hoạt độngkinh doanh nhằm phân tán rủi ro và tăng thu nhập, đạt mục tiêu cuối cùng của ngân hàng
là an toàn và sinh lợi
Thứ tư: Vốn quyết định năng lực thanh toán và khả năng cạnh tranh của ngân hàng Khả
năng vốn lớn là điều kiện thuận lợi đối với ngân hàng trong việc mở rộng quan hệ tín
Trang 8dụng đối với các thành phần kinh tế, thu hút được khách hàng Vốn giúp khẳng định uytín của ngân hàng trên thị trường.
1.2.2 Đối với nền kinh tế
Thông qua việc huy động vốn mà các ngân hàng đã và đang thực hiện các dịch vụ trung gian trong nền kinh tế quốc dân, có huy động vốn thì nguồn vốn mới tăng lên Do vậy, vốn đầu tư được mở rộng, hoạt động sản xuất kinh doanh được kích thích, sản phẩm xã hội tăng lên, từ đó mà đời sống nhân dân được cải thiện Việc huy động vốn của ngân hàng thương mại có ý nghĩa quan trọng đối với toàn bộ nền kinh tế, thông qua con đường tín dụng nó tài trợ cho các hoạt động công thương nghiệp, nông lâm ngư nghiệp của cả nước.Thực tế cho thấy dù các doanh nghiệp lớn mạnh cũng không thể có một lượng vốn lớn hơn tổng số tiền dự trữ của dân chúng Mỗi người trong xã hội chỉ có một số tiền nhỏ nhưng tập hợp lại sẽ trở thành một nguồn vốn lớn Thông qua các hình thức huy đông vốn, phần lớn số vốn tích trữ tập trung qua hệ thống ngân hàng và đưa vào công cuộc đầu
tư mang tính chất sản xuất tạo ra của cải cho xã hội Mặt khác, nhờ vào việc huy động vốnngân hàng thương mại mới làm tốt chức năng trung gian tín dụng điều hòa tiền tệ từ nơi tạm thời thừa đến nơi tạm thời thiếu, có như vậy người dân mới được cấp tín dụng, mới
có khả năng trang bị đầu vào cho hoạt động sản xuất kinh doanh
1.3 Các nhân tố ảnh hưởng tới nguồn vốn huy động:
1.3.1 Các nhân tố bên ngoài:
1.3.1.1 Chu kỳ phát triển kinh tế:
Mức độ phát triển của nền kinh tế là một yếu tố vĩ mô có tác động trực tiếp đến mọihoạt động của NHTM nên cũng ảnh hưởng tới hoạt động huy động vốn Trong điều kiệnnền kinh tế phát triển ổn định, thu nhập dân cư được đảm bảo và nâng cao thì khả nănghuy động vốn của ngân hàng tăng lên Nếu nền kinh tế suy thoái, thu nhập dân cư biếnđộng thì lòng tin về đồng tiền của dân chúng bị giảm sút Khi đó, khả năng huy động vốncủa ngân hàng không những bị giảm xuống mà lượng tiền dân cư đã kí gửi vào ngân hàngcũng có nguy cơ bị rút ra Như vậy, ngân hàng sẽ gặp khó khăn trong công tác huy độngvốn, quản lý dự trữ và củng cố niềm tin cho khách hàng
1.3.1.2 Hành lang pháp lý:
Trang 9Mọi hoạt động kinh doanh của ngân hàng đều phải chịu sự điều chỉnh chặt chẽ của luậtpháp Các hoạt động của ngân hàng thương mại chịu sự điều chỉnh của luật các tổ chức tíndụng và hệ thống các văn bản pháp luật khác của Nhà nước Mặt khác, ở Việt Nam hiệnnay các NHTM được tổ chức theo mô hình tổng công ty, do vậy các chi nhánh ngân hàngtrong hoạt động của mình còn phải tuân thủ theo quy định mà ngân hàng mẹ ban hànhtrong từng thời kì về lãi suất, tỷ lệ dự trữ, hạn mức cho vay… Trong sự ràng buộc về luậtpháp, các yếu tố của nghiệp vụ huy động vốn thay đổi làm ảnh hưởng đến quy mô và chấtlượng của hoạt động huy động vốn.
1.3.1.3 Điều kiện về môi trường cạnh tranh:
Sự cạnh tranh của các ngân hàng khác trên địa bàn sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt độngcủa ngân hàng Trong quá trình cạnh tranh với các ngân hàng khác, ngân hàng buộc phảicải tiến và đa dạng hóa các loại hình dịch vụ, thực hiện mức lãi suất hợp lý, nghiên cứu kĩthị trường và làm tốt hoạt động marketing Như vậy, cạnh tranh vừa là thách thức vừa làmột nhân tố thúc đẩy sự phát triển chất lượng các hoạt động ngân hàng trong đó có hoạtđộng huy động vốn
1.3.1.4 Yếu tố về văn hóa-xã hội, tâm lý khách hàng:
Ở các nước phát triển, các hoạt động thanh toán qua ngân hàng được ưa chuộng Nhưng
ở các nước kém phát triển, nhu cầu dùng tiền mặt thường lớn hơn Ở các khoản mục tiềntiết kiệm có hai yếu tố quan trọng tác động vào là thu nhập và tâm lý của người gửi tiền.Thu nhập ảnh hưởng đến nguồn vốn tiềm năng mà ngân hàng có thể huy động trongtương lai Còn yếu tố tâm lý ảnh hưởng đến sự biến động ra vào của nguồn tiền Tâm lýtin tưởng vào tương lai của khách hàng có tác dụng làm ổn định lượng tiền gửi vào, rút ra.Ngược lại, lo ngại của khách hàng về đồng tiền trong tương lai sẽ bị mất giá là khó khănlớn trong việc huy động vốn của ngân hàng
1.3.2 Các yếu tố thuộc về ngân hàng:
Trang 10đều tìm cho mình những hình thức huy động vốn phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội,tâm lý dân cư trên địa bàn của ngân hàng, đồng thời phù hợp với yêu cầu sử dụng cũngnhư quản lý có hiệu quả nguồn vốn của mình Hình thức huy động vốn đa dạng có thể làmcho lượng vốn huy động tăng lên và chi phí huy động có xu hướng giảm xuống.
1.3.2.2 Chiến lược kinh doanh của ngân hàng:
Trong một ngân hàng, nghiệp vụ huy động vốn chịu tác động trực tiếp từ các hoạt động
về sử dụng vốn Mỗi ngân hàng đều có một chiến lược kinh doanh riêng theo từng thời kì
Từ đó ngân hàng có thể đưa ra chiến lược huy động vốn là thu hẹp hay mở rộng cho phùhợp với chính sách thu hẹp hay mở rộng tín dụng của ngân hàng trong thời kì đó Cơ cấunguồn vốn có thể thay đổi về tỷ lệ các khoản mục cấu thành, chi phí huy động có thể tănghay giảm Nếu chiến lược kinh doanh được xây dựng đúng đắn phù hợp với điều kiện củangân hàng, các nguồn vốn được khai thác tối đa và hợp lý thì công tác huy động vốn pháthuy hiệu quả
1.3.2.3 Ảnh hưởng của lãi suất huy động:
Lãi suất huy động là yếu tố được quan tâm hàng đầu của cá nhân và tổ chức muốn gửitiền vào ngân hàng Lãi suất huy động cao có khả năng thu hút được nhiều nguồn vốnhơn Ngoài lãi suất, nguồn tiền gửi còn phụ thuộc vào các nhân tố khác như kỳ hạn, mức
độ rủi ro, điều kiện thanh toán… của ngân hàng Tuy nhiên, lãi suất cao, linh hoạt, hợp lýluôn có tác dụng kích thích người gửi tiền Lãi suất có ảnh hưởng lớn nhất đến lượng tiềngửi tiết kiệm vì khách hàng chọn gửi tiền theo phương thức này thường với mục đíchhưởng lãi
1.3.2.4 Trình độ công nghệ ngân hàng:
Trình độ công nghệ ngân hàng được thể hiện qua các yếu tố sau:
Thứ nhất: các loại hình dịch vụ mà ngân hàng cung ứng
Thứ hai: Trình độ nghiệp vụ của cán bộ công nhân viên ngân hàng
Thứ ba: Cơ sở vật chất trang thiết bị phục vụ hoạt động kinh doanh của ngânhàng
Trình độ công nghệ ngân hàng càng cao, khách hàng sẽ càng cảm thấy hài lòng về dịch
vụ được ngân hàng cung ứng và yên tâm hơn khi gửi tiền tại các ngân hàng Cùng với
Trang 11mức lãi suất huy động như nhau, ngân hàng nào cải tiến chất lượng dịch vụ tốt hơn, tạothuận tiện hơn cho khách hàng thì sức cạnh tranh sẽ cao hơn
Trình độ nghiệp vụ của cán bộ ngân hàng là điều kiện để thực hiện tốt các nghiệp vụngân hàng Cán bộ ngân hàng phải có chuyên môn tốt để có thể quản lý tốt nguồn vốn,thực hiện tốt công việc sử dụng vốn góp phần nâng cao chất lượng huy động vốn
1.3.2.5 Uy tín của ngân hàng:
Một ngân hàng có uy tín trên thị trường sẽ có lợi thế hơn trong hoạt động huy động vốn
Sự tin tưởng của khách hàng sẽ giúp cho ngân hàng có khả năng ổn định khối lượng vốnhuy động và tiết kiệm chi phí huy động Thậm chí trong điều kiện lãi suất gửi tiền tạingân hàng có uy tín thấp hơn đôi chút, những người có tiền vẫn lựa chọn ngân hàng đó đểgửi mà không tìm những nơi trả lãi hấp dẫn hơn vì họ tin rằng ở đây đồng vốn của mình
sẽ được an toàn
Trang 12CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG HUY ĐỘNG VỐN BẰNG TIỀN
GỬI TẠI CHI NHÁNH NHNo&PTNT HẬU LỘC-THANH HÓA.
2.1 Giới thiệu chung về chi nhánh NHNo&PTNT Hậu Lộc-Thanh Hóa
2.1.1 Sự hình thành và phát triển:
Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam (tên giao dịch quốc tế làVietnam Bank of Agriculture and Rural Development, viết tắt là AGRIBANK) là ngânhàng thương mại lớn nhất Việt Nam tính theo tổng khối lượng tài sản, thuộc loại doanhnghiệp nhà nước hạng đặc biệt NHNo&PTNT được thành lập ngày 26 tháng 3 năm 1988.Theo báo cáo của cơ quan phát triển Liên hợp quốc UNDP năm 2007, Agribank là ngânhàng lớn nhất Việt Nam cả về vốn, tài sản, đội ngũ cán bộ nhân viên, mạng lưới hoạtđộng và số lượng khách hàng Tính đến năm 2010, vị thế dẫn đầu của NHNo được khẳngđịnh với trên nhiều phương diện: Tổng nguồn vốn đạt 434.331 tỷ đồng, vốn tự có: 22.176
tỷ đồng, tổng tài sản 470.000 tỷ đồng, tổng dư nợ 354.112 tỷ đồng, tỷ lệ nợ xấu theochuẩn mực mới, phù hợp với tiêu chuẩn quốc tế là 1,9% Mạng lưới hoạt động gồm có:
2300 chi nhánh và phòng giao dịch trên toàn quốc với gần 35.135 cán bộ nhân viên Đếnnay NHNo&PTNT VN đã có quan hệ đại lý với 1034 ngân hàng đại lý tại 112 quốc gia vàvùng lãnh thổ, là thành viên của nhiều tổ chức, hiệp hội tín dụng có uy tín lớn (Nguồn:http://www.agribank.com.vn)
Ngoài chức năng của một ngân hàng thương mại, NHNo&PTNT được xác định thêmnhiệm vụ đầu tư phát triển đối với khu vực nông thôn thông qua việc mở rộng đầu tư vốntrung, dài hạn để xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật cho sản xuất nông, lâm nghiệp, thủyhải sản góp phần thực hiện thành công mục tiêu công nghiệp hóa - hiện đại hóa nôngnghiệp nông thôn
NHNN&PTNT Thanh Hoá được thành lập theo quyết định số 31/NĐ-QĐ ngày18/5/1988 của NHNN & PTNT Việt Nam, với tên gọi ban đầu là Ngân hàng Phát triểnNông nghiệp Thanh Hoá, có trụ sở đặt tại Số 12, đường Phan Chu Trinh, phường ĐiệnBiên, thành phố Thanh Hóa Hiện nay, NHNo&PTNT Thanh Hoá đã có mặt tại 27/27Huyện, Thị, Thành phố trong toàn tỉnh, mạng lưới 74 chi nhánh của NHNo & PTNTThanh Hoá đã có măt tại khắp các thị trấn thị tứ, các khu công nghiệp trong phạm vi toàn
Trang 13tỉnh NHNo&PTNT Thanh Hoá là ngân hàng thương mại có cơ sở vật chất kỹ thuật vàquy mô hoạt động lớn nhất trong hệ thống các tổ chức tín dụng trên địa bàn tỉnh ThanhHóa với tổng số 1.065 cán bộ, 65 chi nhánh, phòng giao dịch, điểm giao dịch, quan hệ vớihơn 800.000 khách hàng, trong đó có 350.000 khách hàng gửi tiền, 243.000 khách hàngvay vốn và hơn 220.000 khách hàng sử dụng đa sản phẩm dịch vụ Tính đến 30/5/2011,tổng nguồn vốn huy động của ngân hàng đạt 7.950 tỷ đồng, tăng 630 tỷ đồng so với đầunăm, tổng dư nợ đạt 9.100 tỷ đồng, tăng 350 tỷ đồng so với đầu năm; chiếm 40% thị phầncủa 20 ngân hàng thương mại, tổ chức tín dụng trên địa bàn (Nguồn: phòng hành chínhNHNo&PTNT Hậu Lộc)
NHNo&PTNT chi nhánh Hậu Lộc-Thanh Hóa được chính thức thành lập vào ngày28/12/1992 trên cơ sở nâng cấp quỹ tiết kiệm Hậu Lộc trực thuộc NHNo&PTNT ThanhHóa dựa trên các văn bản sau:
- Quyết định số 603/NH-QĐ ngày 22/12/1992 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước
về việc thành lập chi nhánh Ngân hàng Nông nghiệp trực thuộc NHNo&PTNTViệt Nam
- Công văn số 2583/UB ngày 13/12/1992 của UBND tỉnh Thanh Hóa chấp nhận choNHNo&PTNT Thanh Hóa mở các chi nhánh tại các huyện
- Giấy phép kinh doanh số 570300002301 ngày 25/12/1992 của Sở kế hoạch và đầu
tư tỉnh Thanh Hóa
2.1.2 Cơ cấu tổ chức:
Sau 19 năm hoạt động, với nhiều nỗ lực của tập thể cán bộ nhân viên, chi nhánhNHNo&PTNT Hậu Lộc đã vươn lên thành một ngân hàng chủ lực trên địa bàn huyện, với
5 phòng ban, 4 phòng giao dịch và gần 80 cán bộ nhân viên
Mô hình tổ chức của chi nhánh NHNo&PTNT Hậu Lộc được cụ thể hóa như sau:
Giám đốc
Trang 14
2.1.3 Các dịch vụ chủ yếu của chi nhánh NHNo Hậu Lộc:
Để đáp ứng được nhu cầu ngày càng cao của nền kinh tế thị trường và nhu cầu đa dạngcủa khách hàng trên địa bàn, chi nhánh NHNo&PTNT Hậu Lộc đã không ngừng cung cấp
và hoàn thiện các loại hình dịch vụ Tại ngân hàng hiện có các loại hình dịch vụ chủ yếusau:
- Nhận tiền gửi tiết kiệm không kì hạn, tiết kiệm có kì hạn, tiết kiệm dự thưởng đốivới VND, USD và EUR
- Mở tài khoản, nhận tiền gửi thanh toán đối với VND, USD và EUR
- Cho vay ngắn hạn và trung hạn đối với khách hàng cá nhân và doanh nghiệp
- Cho vay sản xuất kinh doanh, cho vay bất động sản, cho vay cầm cố sổ tiết kiệm,cho vay đi lao động nước ngoài…
- Chuyển tiền trong nước và nước ngoài
- Bảo lãnh và tái bảo lãnh
- Phát hành thẻ ghi nợ nội địa Success
- Làm đại lý thanh toán các loại thẻ tín dụng quốc tế như: Agribank MasterCard,Agribank Visa
Phòng kếtoán
Phòng hànhchính
Phòng giao dịch
Phòng ngânquỹ
Trang 15Ngoài các sản phẩm dịch vụ cơ bản trên, NHNo&PTNT Hậu Lộc còn có các sản phẩmdịch vụ như dịch vụ bảo lãnh, ngân quỹ, nhờ thu, chi trả lươngcho cán bộ công nhân viênthông qua tài khoản, thanh toán cước điện thoại bằng ủy nhiệm chi…
2.1.4 Giới thiệu về phòng ban nơi kiến tập và công việc được phân công:
Trong quá trình kiến tập, em được phân công làm việc tại phòng giao dịch thuộc bộphận huy động vốn Phòng giao dịch này có chức năng trực tiếp giao dịch với khách hàng
có nhu cầu gửi tiền, tư vấn và giới thiệu các dịch vụ nhận gửi của ngân hàng
Công việc em được phân công là trợ lý cho cán bộ giao dịch, thực hiện nhận tiền gửicủa khách hàng, tư vấn và giải đáp các thắc mắc của khách hàng lien quan đến hoạt độnghuy động tiền gửi của ngân hàng
2.2 Thực trạng hoạt động huy động vốn bằng tiền gửi tại chi nhánh NHNo&PTNT Hậu Lộc-Thanh Hóa
2.2.1 Tình hình huy động vốn của chi nhánh NHNo&PTNT Hậu Lộc trong thời gian vừa qua:
2.2.1.1 Tình hình nguồn vốn huy động bằng tiền gửi:
a Tiền gửi:
Chi nhánh NHNo&PTNT Hậu Lộc là ngân hàng có lịch sử hoạt động lâu nhất và cũng
là ngân hàng uy tín nhất trên địa bàn huyện Dựa vào lợi thế này, ngân hàng không ngừng
nỗ lực trong chính sách huy động tiền gửi để có thể mở rộng thị phần tín dụng và hoạtđộng kinh doanh của ngân hàng Bối cảnh nền kinh tế, đặc biệt là lĩnh vực tài chínhnhững năm gần đây có nhiều biến động và diễn biến rất phức tạp Thêm vào đó, ngânhàng nằm trên địa bàn không mấy thuận lợi, dân cư chủ yếu làm nông nghiệp, ngư nghiệp
và buôn bán nhỏ, rất ít xưởng sản xuất lớn và không có các nhà máy Do đó, thu nhập dân
cư không cao, vốn tích lũy trong dân cư không nhiều Tuy nhiên, nhờ vào việc nhận địnhtình hình địa phương khá xác thực, gắn các hình thức huy động phù hợp với tâm lý kháchhàng địa phương, không ngừng đổi mới, nâng cao chất lượng dịch vụ, nên ngân hàng đãtạo được sự thu hút khá lớn các khách hàng đến gửi tiền tại ngân hàng
Tính đến hết quý IV năm 2010 (31/12/2010), tổng số tiền gửi huy động của ngân hàngđạt 230,494 tỷ đồng, chiếm 62% tổng nguồn vốn huy động, tăng 44% so với đầu năm