Khái niệm,vai trò của nguồn vốn 1.1.1.1.Khái niệm về nguồn vốn Trong nền kinh tế thị trường, các tổ chức của một số người, có tài sản riêng, tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh trên
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
1 Sự cấp thiết của đề tài.
Nguồn vốn là một trong những nguồn lực quan trọng nhất và không thể thiếu trong hoạt động sản xuất kinh doanh của bất kỳ doanh nghiệp nào
Trong nền kinh tế thị trường hiện nay thì nhu cầu nguồn vốn đối với các doanh nghiệp ngày càng trở nên quan trọng và bức xúc hơn vì nó là cơ sở để các Doanh nghiệp nâng cao sức cạnh tranh,mở rộng quy mô hoạt động sản xuất kinh doanh… Vậy vấn đề là làm thế nào để nâng cao huy động nguồn vốn tại các Doanh nghiệp ? Đây là vấn đề mà các nhà quản lý Doanh nghiệp rất quan tâm vì chỉ có nâng cao hiệu quả huy động nguồn vốn,có một cơ cấu vốn hợp lý,tốc độ luân chuyến phù hợp của nguồn vốn mới có thể gia tăng lợi nhuận,nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của Doanh nghiệp
Xuất phát từ thực tế và những vấn đề đặt ra trên đây ; xuất phát từ bản thân
trong việc tìm hiểu và làm sáng tỏ vấn đề này,tôi đã chọn đề tài :” Giải pháp
huy động nguồn vốn của Tổng công ty xây dựng Bạch Đằng Hải Phòng “ làm
đề tài cho luận văn tốt nghiệp của mình với hy vọng góp một phần nhỏ bé vào việc phân tích,thảo luận,rút ra giải pháp,kiến nghị nhằm nâng cao huy động nguồn vốn tại Tổng công ty xây dựng Bạch Đằng Hải Phòng
2 Mục tiêu nghiên cứu.
Hệ thống hóa lý luận cơ bản về huy động nguồn vốn, tìm hiểu xác định các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng huy động nguồn vốn, đánh giá chất lượng huy động nguồn vốn
Đánh giá thực trạng chất lượng huy động nguồn vốn của Tổng công ty xây dựng Bạch Đằng Hải Phòng,phân tích mức độ đạt được và chưa đạt được
Đề xuất một số giải pháp nâng cao chất lượng huy động nguồn vốn của Tổng công ty xây dựng Bạch Đằng Hải Phòng
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.
Đối tượng nghiên cứu: Huy động nguồn vốn của Tổng công ty xây dựng Bạch Đằng Hải Phòng
Phạm vi nghiên cứu: Số liệu nghiên cứu từ năm 2011 đến ngày 31/12/2013 tại Tổng công ty xây dựng Bạch Đằng Hải Phòng
4 Phương pháp nghiên cứu.
Trang 2Để phục vụ cho đề tài nghiên cứu này, tác giả tiến hành sử dụng các phương pháp thu thập số liệu, trên cơ sở đó vận dụng các phương pháp phân tích
dữ liệu
Phương pháp phân tích dữ liệu
- Phương pháp so sánh: So sánh dữ liệu giữa các thời kỳ khác nhau, so sánh kết quả huy động nguồn vốn trong giai đoạn 2011-2013
- Phương pháp chỉ số: Các chỉ số được sử dụng để đánh giá sự tăng lên hoặc giảm xuống, tỷ trọng, thị phần của Tổng công ty trên các thị trường về mặt quy mô qua đó đánh giá được hiệu quả hoạt động trong hiện tại, và dự báo phát triển trong tương lai
- Phương pháp khảo sát:Khảo sát các phương pháp huy động nguồn vốn của Tổng công ty
- Trên cơ sở đó phân tích các nhân tố chính tác động đến chất lượng huy động nguồn vốn của Tổng công ty xây dựng Bạch Đằng Hải Phòng sau đó tiến hành phân tích mức độ đạt được và chưa đạt được thông qua khảo sát thực tế,
xử lý bằng phần mềm SPSS, từ đó đề xuất các giải pháp nâng cao chất lượng huy động nguồn vốn
5 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn đề tài.
Trên cơ sở đánh giá thực trạng chất lượng huy động nguồn vốn của Tổng công ty xây dựng Bạch Đằng Hải Phòng, phân tích các yếu tố đạt được và chưa đạt được, đánh giá mức độ thành công của Công ty, từ đó đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao huy động nguồn vốn của Tổng công ty trong thời gian tới
Trang 36 Kết cấu luận văn.
Ngoài phần Giới thiệu nội dung đề tài và phần Kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, danh mục chữ viết tắt,danh mục sơ đồ bảng biểu, đề tài nghiên cứu được chia thành ba chương với nội dung cụ thể như sau:
Chương 1: Một số lý luận cơ bản về huy động nguồn vốn của doanh nghiệp
Chương 2: Thực trạng huy động của Tổng công ty xây dựng Bạch Đằng Hải Phòng giai đoạn 2011-2013
Chương 3: Một số giải pháp hoàn thiện việc huy động nguồn vốn của Tổng công ty xây dựng Bạch Đằng Hải Phòng
Trang 4CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ LUẬN CƠ BẢN VỀ HUY ĐỘNG
NGUỒN VỐN CỦA DOANH NGHIỆP 1.1 Tổng quan về nguồn vốn và huy động nguồn vốn trong doanh nghiệp
1.1.1 Khái niệm,vai trò của nguồn vốn
1.1.1.1.Khái niệm về nguồn vốn
Trong nền kinh tế thị trường, các tổ chức của một số người, có tài sản riêng, tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh trên một lĩnh vực nào đó, với mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận, gọi là các doanh nghiệp Như vậy, một trong những điều kiện tối thiểu để được công nhận là doanh nghiệp, đó là phải có tài sản riêng, và chịu trách nhiệm bằng những tài sản này Cơ sở đầu tiên của doanh nghiệp là nguồn vốn
Nguồn vốn là giá trị của toàn bộ tài sản doanh nghiệp ứng ra để tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh.Hay nói cách khác ,nguồn vốn là sự biểu hiện bằng tiền các nguồn tài sản của Doanh nghiệp
Nguồn vốn tồn tại dưới nhiều hình thức
Hình thái tồn tại đầu tiên của nguồn vốn, đó là hình thái giá trị, bao gồm tiền mặt, chứng khoán, các khoản đầu tư khác.Nguồn vốn cũng tồn tại dưới dạng hiện vật, được coi là nguồn vốn cố định như thiết bị,nhà xưởng,cở sở vật chất,nguyên nhiên vật liệu,thành phấm ……
Một hình thái nữa của nguồn vốn nữa là nguồn vốn vô hình Đây là nguồn vốn đặc biệt tuy không thể nhìn thấy nhưng có vai trò ngày càng quan trọng trong suốt quá trình tồn tại của doanh nghiệp Ví dụ như những lợi thế thương mại, thương hiệu, những mối quan hệ, những bằng phát minh sáng chế Đây là nguồn mang lại giá trị thặng dư siêu ngạch cho doanh nghiệp, song không có cách thức đo lường định giá giá trị của nguồn vốn vô hình
Tóm lại, Nguồn vốn là toàn bộ nguồn tiền hiện có và nguồn tiền nhàn rỗi
mà Doanh nghiệp huy động được.
1.1.1.2.Vai trò của nguồn vốn trong doanh nghiệp
Như đã phân tích, vốn là một trong những điều kiện tiên quyết để định nghĩa một doanh nghiệp Vốn có vai trò đặc biệt quan trọng trong suốt quá trình
Trang 5tồn tại của doanh nghiệp, từ khi doanh nghiệp hình thành, sản xuất kinh doanh, phát triển, đến khi phá sản, hay bị mua lại Trong bất kỳ thời điểm nào, vốn cũng là một yếu tố không thể thiếu khi đánh giá tình hình một doanh nghiệp, doanh nghiệp có phát triển đi lên, hay phải tuyên bố phá sản, đều thể hiện rõ ràng trong tình hình tài chính, mà tình hình nguồn vốn là một đóng góp quan trọng
Doanh nghiệp muốn thực hiện bất kỳ hoạt động gì đều cần có vốn Khi doanh nghiệp muốn mở rộng quy mô, mở rộng thị trường, sản xuất một sản phẩm mới, thì vốn là nhân tố không thể thiếu Trong quá trình tham gia vào thị trường, doanh nghiệp luôn phải cạnh tranh để tồn tại, và những hướng tăng khả năng cạnh tranh sẽ không thể thực hiện nếu không có vốn Đổi mới công nghệ, tăng năng suất lao động, hạ giá thành, tăng chất lượng sản phẩm, vốn là vấn đề đầu tiên cần giải quyết
Làm thế nào để đảm bảo khả năng chi trả, đảm bảo tình hình tài chính lành mạnh, đảm bảo khả năng cạnh tranh, đảm bảo nguồn vốn phục vụ cho đầu tư phát triển, đó là một câu hỏi thường trực của bất kỳ doanh nghiệp nào Và đó cũng là một trong những công việc quan trọng bậc nhất cho những nhà điều hành doanh nghiệp: Quản lý nguồn vốn
1.1.1.3 Phân loại nguồn vốn trong doanh nghiệp
a) Phân loại nguồn vốn theo nguồn hình thành
Toàn bộ tài sản của doanh nghiệp có thể được hình thành từ hai nguồn là nguồn vốn chủ sở hữu và nợ phải trả
- Nguồn vốn chủ sở hữu: Đây là nguồn vốn ban đầu, quan trọng do chủ sở
hữu là doanh nghiệp bỏ ra để tạo nên các loại tài sản nhằm thực hiện các hoạt động sản xuất kinh doanh; ngoài ra nguồn vốn chủ sở hữu còn được bổ sung thêm trong quá trình hoạt động của doanh nghiệp Tuỳ theo hình thức sở hữu mà nguồn vốn chủ sở hữu có thể là do nhà nước cấp, do cổ đông hoặc xã viên góp
cổ phần, do chủ doanh nghiệp tư nhân tự bỏ ra… Nguồn vốn chủ sở hữu có đặc điểm là nguồn vốn sử dụng dài hạn và không cam kết phải thanh toán Nó có vị trí và ý nghĩa hết sức quan trọng trong việc duy trì và phát triển hoạt động của doanh nghiệp Nguồn vốn chủ sở hữu được phân thành các khoản:
Trang 6 Nguồn vốn kinh doanh
Lợi nhuận chưa phân phối
Các loại quỹ chuyên dùng
+ Nguồn vốn kinh doanh được hình thành do các bên tham gia góp vốn và được bổ sung từ lợi nhuận sau thuế vốn do chủ doanh nghiệp bỏ ra kinh doanh
từ số tiền mà đã góp cổ phần, đã mua cổ phiếu tùy từng loại hình DN mà có nguồn vốn kinh doanh khác nhau
+ Lợi nhuận chưa phân phối: là phần lợi nhuận sau thuế chưa chia cho chủ
sở hữu, hoặc chưa trích lập các quỹ
+ Các loại quỹ chuyên dùng: Bao gồm các nguồn vốn và các quỹ chuyên dùng của đơn vị kế toán được hình thành chủ yếu từ việc phân phối lợi nhuận, bao gồm: quỹ đầu tư phát triển, quỹ dự phòng tài chính, quỹ khen thưởng phúc lợi, nguồn vốn đầu tư xây dựng cơ bản, chênh lệch tỷ giá hối đoái…
-Nợ phải trả: là nghĩa vụ hiện tại của DN phát sinh từ các giao dịch và các sự
kiện đã qua mà DN phải có trách nhiệm thanh toán bằng các nguồn lực của mình.Đây là nguồn vốn bổ sung quan trọng nhằm đáp ứng đủ vốn cho nhu cầu sản xuất kinh doanh Nợ phải trả bao gồm các khoản nợ ngắn hạn và nợ dài hạn của ngân hàng, của các tổ chức kinh tế, của các cá nhân… Nợ phải trả có đặc điểm
là nguồn vốn sử dụng có thời gian kèm theo nhiều ràng buộc như phải có thế chấp, phải trả lãi… Nợ phải trả cũng có vị trí và ý nghĩa quan trọng trong việc phát triển hoạt động của doanh nghiệp Vấn đề đặt ra là phải sử dụng các khoản
nợ có hiệu quả để đảm bảo có khả nãng thanh toán và có tích luỹ để mở rộng và phát triển doanh nghiệp Nợ phải trả bao gồm các khoản:
Vay ngắn hạn
Vay dài hạn
Phải trả cho người bán
Phải trả công nhân viên
Phải trả khác……
Trang 7Nợ phải trả được phân loại theo thời hạn thanh toán, gồm có:
+ Nợ ngắn hạn: Là các khoản nợ có thời hạn thanh toán dưới 1 năm hoặc chu
kì kinh doanh Ví dụ: vay ngắn hạn, phải trả người bán ngắn hạn, tiền đặt trước ngắn hạn của người mua, các khoản phải trả, phải nộp ngân sách Nhà nước, các khoản phải trả công nhân viên, các khoản nhận kí quỹ, kí cược ngắn hạn…
+ Nợ dài hạn: Là các khoản nợ có thời hạn thanh toán trên 1 năm hoặc 1 chu
kỳ kinh doanh trở lên như: vay dài hạn, nợ dài hạn về thuê tài chính TSCĐ, các khoản nhận kí quỹ dài hạn, nợ do mua tài sản trả góp dài hạn, phải trả người bán
dài hạn, tiền đặt trước dài hạn của người mua….
b) Phân loại nguồn vốn dựa trên góc độ chu chuyển của nguồn vốn
• Vốn cố định: là một bộ phận của vốn đầu tư, ứng trước về tài sản cố
định, mà đặc điểm của nó là luân chuyên từng phần trong nhiều chu kì sản xuất
và hoàn thành vòng chu chuyển khi tài sản cố định hết thời gian sử dụng
Trong doanh nghiệp, vốn cố định giữ vai trò rất quan trọng trong quá trình sản xuất Nó quyết định đổi mới kỹ thuật, công nghệ , trang thiết bị cơ sở sản xuất, là nhân tố quan trọng bảo đảm tái sản xuất mở rộng
Về mặt hiện vật vốn cố định bao gồm toàn bộ những tài sản cố định đang phát huy trong quá trình sản xuất : nhà xưởng, máy móc, thiết bị, phương tiện vận tải Vốn cố định tham gia vào toàn bộ quá trình sản xuất kinh doanh Sau mỗi chu kì sản xuất thì hình thái hiện vật của vốn cố định không thay đổi nhưng giá trị của nó giảm dần và chuyển vào giá trị sản phẩm hàng hoá dưới dạng hình thức khấu hao
• Vốn lưu động : Là số tiền ứng trước về tài sản lưu động và tài sản lưu
thông nhằm đảm bảo cho quá trình sản xuất và tái sản xuất của doanh nghiệp tiến hành bình thường
Vốn lưu động bao gồm giá trị tài sản lưu động như: nguyên vật liệu chính, nửa thành phẩm mua ngoài, vật liệu phụ, bao bì và vật liệu bao bì, nhiên liệu, phụ tùng thay thế, sản phẩm dở dang và vốn lưu thông như: thành phẩm, hàng hoá mua ngoài tiêu dùng cho tiêu thụ sản phẩm, vật tư mua ngoài chế biến, vốn tiền mặt
Khác với vốn cố định, vốn lưu động chuyển toàn bộ giá trị vào sản phẩm sau mỗi chu kì sản xuất Trong quá trình sản xuất kinh doanh vốn lưu động được
Trang 8luân chuyển không ngừng qua ba giai đoạn: dự trữ, sản xuất và tiêu thụ Trong mỗi giai đoạn vốn lưu động được biểu hiện dưới nhiều hình thái khác nhau, có thể là hình thái hiện vật hay hình thái giá trị.
Giá trị của các loại tài sản lưu động của doanh nghiệp sản xuất kinh doanh thường chiếm từ 25% đến 50% tổng giá trị của chúng Vì vậy, quản lí và sử dụng vốn lưu động hợp lý có ảnh hưởng đến việc hoàn thành nhiệm vụ chung của doanh nghiệp
Có thể thấy rằng vốn lưu động là điều kiện vật chất không thể thiếu của quá trình tái sản xuất Nếu doanh nghiệp không đủ vốn thì việc tổ chức sử dụng vốn sẽ gặp nhiều khó khăn và do đó quá trình sản xuất cũng bị trở ngại hay gián đoạn
c) Phân loại theo cách huy động
• Nguồn vốn tự có của chủ doanh nghiệp
Đây là vốn của các chủ sỡ hữu,các nhà đầu tư góp vốn ban đầu để thành lập doanh nghiệp Do vậy vốn này không phải là một khoản nợ Nguồn vốn này
là điều kiện tiên quyết để thành lập doanh nghiệp
- Đối với công ty tư nhân, chủ doanh nghiệp phải có một số vốn nhất định
để xin đăng kí thành lập doanh nghiệp
- Đối với công ty cổ phần, nguồn vốn do các cổ đông góp là yếu tố quyết
định để hình thành công ty Mỗi cổ đông là một chủ sở hữu của công ty và chịu trách nhiệm hữu hạn trên trị giá số cổ phần mà họ nắm giữ
• Nguồn vốn tín dụng ngân hàng và tín dụng thương mại
- Nguồn vốn tín dụng ngân hàng: Có thể nói rằng vốn vay ngân hàng là
một trong những nguồn vốn quan trọng nhất không chỉ đối với bản thân doanh nghiệp mà còn đối với toàn bộ nền kinh tế Các hoạt động và sự phân tích của các công ty, doanh nghiệp đều gắn liền với dịch vụ tài chính do ngân hàng thương mại cấp, trong đó có việc cung ứng các nguồn vốn tín dụng Trong quá trình hoạt động doanh nghiệp thường vay ngân hàng để đảm bảo nguồn tài chính cho hoạt động sản xuất kinh doanh của mình, đặc biệt là đảm bảo đủ vốn cho các dự án mở rộng hoặc đầu tư theo chiều sâu
Trang 9- Nguồn vốn tín dụng thương mại : Là khoản mua chịu từ người cung cấp
hoặc ứng trước của khách hàng mà doanh nghiệp tạm thời chiếm dụng Tín dụng thương mại luôn gắn với một lượng hàng hóa cụ thể, gắn với một hệ thống thanh toán cụ thể nên nó chịu tác động của chính sách tín dụng mà doanh nghiệp được hưởng Đây là phương thức tài trợ tiện lợi, linh hoạt trong kinh doanh, tạo khả năng mở rộng và cơ hội hợp tác làm ăn trong tương lai
• Nguồn vốn huy động từ việc phát hành cổ phiếu: Phát hành cổ phiếu là
một kênh rất quan trọng để huy động vốn dài hạn cho công ty một cách nhanh
và rộng rãi thông qua mối liên hệ với thị trường chứng khoán Cách huy động này sẽ giúp doanh nghiệp huy động được một lượng vốn lớn từ nhiều nguồn khác nhau Đặc điểm quan trọng của nguồn vốn nay là không gây nợ nên đây là một hình thức huy động quan trọng để sử dụng vào mục đích dài hạn, đáp ứng nhu cầu vốn sản xuất của doanh nghiệp
• Nguồn vốn huy động từ việc phát hành trái phiếu
Trái phiếu là các giấy tờ vay nợ trung và dài hạn, bao gồm trái phiếu chính phủ và trái phiếu công ty Hiện nay huy động vốn bằng trái phiếu cũng là một kênh huy động khá phổ biến của các công ty nhằm huy động được những nguồn vốn lâu dài Tuy nhiên khi phát hành trái phiếu các doanh nghiệp cần xem xét là nên phát hành loại trái phiếu nào và khi nào nên phát hành để phù hợp nhất với điều kiện cụ thể của công ty và tình hình trên thị trường tài chính
Trang 101.1.1.4 Nguồn hỡnh thành vốn trong doanh nghiệp
a) Phân loại theo thời gian huy động và sử dụng vốn thì nguốn vốn của
doanh nghiệp bao gồm:
♦ Nguồn vốn thờng xuyên: Là nguồn vốn mà doanh nghiệp sử dụng để tài
trợ cho toàn bộ tài sản cố định của mình Nguồn vốn này bao gồm vốn chủ sở hữu và nợ dài hạn của doanh nghiệp Trong đó:
- Nợ dài hạn: Là các khoản nợ dài hơn một năm hoặc phải trả sau một kỳ kinh doanh, không phân biệt đối tợng cho vay và mục đích vay
♦ Nguồn vốn tạm thời: Đây là nguồn vốn dùng để tài trợ cho tài sản lu
động tạm thời của doanh nghiệp Nguồn vốn này bao gồm: vay ngân hàng, tạm ứng, ngời mua vừa trả tiền
Nh vậy, ta có:
TS = TSLĐ + TSCĐ
= Nợ ngắn hạn + Nợ dài hạn + Vốn chủ sở hữu
= Vốn tạm thời + Vốn thờng xuyên
Việc phân loại theo cách này giúp doanh nghiệp thấy đợc yếu tố thời gian
về vốn mà mình nắm giữ, từ đó lựa chọn nguồn tài trợ cho tài sản của mình một cách thích hợp, tránh tình trạng sử dụng nguồn vốn tạm thời để tài trợ cho tài sản
cố định
b) Phân loại vốn theo phạm vi huy động và sử dụng vốn thì nguồn vốn của doanh nghiệp bao gồm: nguồn vốn trong doanh nghiệp và nguồn vốn ngoài doanh nghiệp
• Nguồn vốn trong doanh nghiệp: Là nguồn vốn có thể huy động đợc từ
hoạt động bản thân của doanh nghiệp nh: Tiền khấu hao TSCĐ, lợi nhuận giữ lại, các khoản dự trữ, dự phòng, khoản thu từ nhợng bán, thanh lý TSCĐ
• Nguồn vốn bên ngoài doanh nghiệp: Là nguồn vốn mà doanh nghiệp có
thể huy động từ bên ngoài nhằm đáp ứng nhu cầu vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh nh: Vay ngân hàng, vay của các tổ chức kinh tế khác, vay của cá nhân và nhân viên trong công ty
Trang 11Cách phân loại này giúp cho các doanh nghiệp xem xét, lựa chọn trong việc
sử dụng nguồn vốn sao cho hợp lý nhằm đem lại hiệu quả cao, linh hoạt hơn và tránh đợc rủi ro, đem lại hiệu quả kinh tế cao nhất
Ngoài ra, doanh nghiệp còn có thể có các nguồn vốn khác nh: Nguồn vốn FDI, ODA thông qua việc thu hút các nguồn vốn này, các doanh nghiệp có thể tăng vốn đáp ứng nhu cầu về vốn cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
Nh vậy, phân loại vốn sẽ giúp cho nhà quản lý doanh nghiệp lập kế hoạch tài chính, hình thành nên những dự định về tổ chức nguồn vốn trong tơng lai trên cơ sở xác định quy mô về vốn cần thiết, lựa chọn thích hợp cho từng hoạt
động sản xuất kinh doanh để đạt hiệu quả sử dụng vốn cao nhất
1.1.2 Khỏi niệm,vai trũ của huy động nguồn vốn
1.1.2.1.Khỏi niệm về huy động nguồn vốn
Xuất hiện khỏ lõu đời và khụng ngừng phỏt triển, thay đổi cựng với sự phỏt triển của cỏc doanh nghiệp cũng như cỏc NHTM, nội hàm của khỏi niệm hoạt động huy động nguồn vốn đó cú những thay đổi rất đỏng kể, cả về quy mụ và cỏc hỡnh thức thể hiện Hơn nữa, gần như khụng tỡm được một định nghĩa hoàn thiện về hoạt động này cũng như khụng cú được sự thống nhất hoàn toàn giữa cỏc quan điểm Đặc biệt, là sự khỏc biệt trong cỏch hiểu khi đề cập vấn đề này dưới cỏc khớa cạnh khỏc nhau
Phổ biến nhất là việc sử dụng thuật ngữ này trong cỏc khớa cạnh khụng chuyờn, đặc biệt là ngụn ngữ thường nhật của xó hội và bỏo chớ, khỏi niệm huy động nguồn vốn được sử dụng ở đõy đối với hoạt động của cỏc doanh nghiệp cú thể núi là hẹp và khụng rừ ràng nhất, trong nhiều trường hợp cú sự khụng thống nhất trong nội hàm của bản thõn khỏi niệm
Tuy nhiờn, khi nhắc đến hoạt động huy động nguồn vốn của cỏc doanh nghiệp, một số tài liệu chuyờn ngành đụi lỳc cũng cú cỏch tiếp cận hẹp hơn Chẳng hạn, trong một số giỏo tài liệu giảng dạy của cỏc trường khối kinh tế tài chớnh khi đề cập đến cỏc hỡnh thức của hoạt động huy động nguồn vốn thường chỉ bao gồm: Nguồn vốn tớn dụng ngõn hàng,nguồn vốn tớn dụng thương mại,nguồn vốn phỏt hành cổ phiếu cụng ty,phỏt hành trỏi phiếu cụng ty……
Trang 12Qua nghiên cứu trên tác giả đưa ra định nghĩa như sau: “Hoạt động huy động
nguồn vốn của các doanh nghiệp là hoạt động mà trong đó các doanh nghiệp tìm kiếm nguồn vốn khả dụng từ các chủ thể khác nhằm mục đích kinh doanh và đảm bảo sự vận hành bình thường, hiệu quả của bản thân nó theo đúng các quy định pháp luật”.
1.1.2.2.Vai trò của huy động nguồn vốn
a) Vai trò huy động nguồn vốn đứng trên góc độ doanh nghiệp
- Huy động nguồn vốn tốt là tiền đề thúc đẩy các hoạt động sản xuất,kinh doanh của doanh nghiệp
- Là hoạt động giúp cho doanh nghiệp có thể duy trì,phát triển hoạt động sản xuất,kinh doanh một cách ổn định
b) Vai trò của huy động nguồn vốn đối với nền kinh tế
- Điều tiết lượng tiền lưu thông trong nền kinh tế,giúp ổn định thị trường tiền tệ,kiểm soát lạm phát
- Huy động vốn giúp tăng vốn để phát triển kinh tế
- Giúp phát triển thị trường tài chính ví dụ như kỳ phiếu,trái phiếu trở
thành hàng hóa trên thị trường chứng khoán
1.2 Nội dung huy động nguồn vốn
1.2.1 Nguồn vốn tự có của chủ doanh nghiệp.
Khi doanh nghiệp được thành lập bao giờ chủ doanh nghiệp cũng phải đầu
tư một số vốn nhất định Đối với doanh nghiệp nhà nước, nguồn vốn tự có ban đầu chính là vốn đầu tư của ngân sách nhà nước Trong công ty tư nhân, chủ doanh nghiệp phải có đủ số vốn pháp định cần thiết để đăng ký thành lập doanh nghiệp Vốn pháp định là mức vốn tối thiểu phải có theo quy định của pháp luật
để thành lập doanh nghiệp
Còn đối với công ty cổ phần, nguồn vốn do các cổ đông đóng góp là yếu tố quyết định để hình thành công ty Mỗi cổ đông là một chủ sở hữu của công ty và chỉ chịu trách nhiệm hữu hạn trên giá trị cổ phần mà họ nắm giữ Tuy nhiên, các công ty cổ phần cũng có một số hình thức khác nhau, do đó cách thức huy động vốn cổ phần cũng khác nhau
Trang 13Trên thực tế, vốn tự có của chủ doanh nghiệp thường lớn hơn nhiều so với vốn pháp định, nhất là sau một thời gian hoạt động và mở rộng kinh doanh
1.2.2 Nguồn Vốn tín dụng ngân hàng và tín dụng thương mại.
Có thể nói rằng nguồn vốn vay ngân hàng là một trong những nguồn vốn quan trọng nhất, không chỉ đối với sự phát triển của bản thân các doanh nghiệp
mà còn đối với toàn bộ nền kinh tế quốc dân Sự hoạt động và phát triển của các công ty, các doanh nghiệp đều gắn liền với các dịch vụ tài chính do các ngân hàng thương mại cung cấp, trong đó có việc cung ứng các nguồn vốn tín dụng Bên cạnh đó, không một công ty nào có thể hoạt động tốt mà không vay vốn ngân hàng hoặc tín dụng thương mại Trong quá trình hoạt động, các doanh nghiệp thường vay ngân hàng để đảm bảo nguồn tài chính cho các hoạt đông sản xuất kinh doanh, đặc biệt là đảm bảo đủ vốn cho các dự án mở rộng hoặc đầu tư chiều sauu của doanh nghiệp.Về mặt thời hạn, vốn vay ngân hàng có thể được phân loại theo thời hạn vay, bao gồm: vay dài hạn(từ 5 năm trở lên), vay trung hạn(từ 1 đến 5 năm), vay ngắn hạn(dưới 1 năm)
Bên cạnh những ưu điểm trên, nguồn vốn này cũng có những hạn chế nhất định Đó là các hạn chế về điều kiện tín dụng, kiểm soát của ngân hàng và chi phí sử dụng vốn
Điều kiện tín dụng: Các ngân hàng thương mại khi cho doanh nghiệp vay vốn luôn luôn phải đảm bảo an toàn tín dụng, hạn chế rủi ro tín dụng thông qua một hệ thống các biện pháp bảo đảm tín dụng Trước tiên, ngân hàng phải phân tích hồ sơ xin vay vốn, đánh giá các thông tin liên quan đến dự án đầu tư hoặc
kế hoạch sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp vay vốn Doanh nghiệp phải cung cấp những báo cáo tài chính và những thông tin cần thiết cho ngân hàng.Các điều kiện đảm bảo tiền vay: Khi doanh nghiệp xin vay vốn, nói chung các ngân hàng thường yêu cầu doanh nghiệp đi vay phải có các bảo đảm tín dụng, phổ biến nhất là bằng tài sản thế chấp Việc yêu cầu người vay có tài sản thế chấp trong nhiều trường hợp làm cho bên đi vay không thể đáp ứng được các điều kiện vay, kể cả những thủ tục pháp lý về giấy tờ do đó, doanh nghiệp cần tính đến yếu tố này khi tiếp cận nguồn vốn tín dụng ngân hàng
Trang 14Sự kiểm soát của ngân hàng cho vay: Một khi doanh nghiệp vay vốn ngan hàng thì doanh nghiệp cũng phải chịu sự kểm soát của ngân hàng về mục đích
và tình hình sử dụnh vốn vay Nói chung, sự kiểm soát không gây ra vấn đề quá lớn cho doanh nghiệp, tuy nhiên trong một số trường hợp điều đó cũng làm cho doanh nghiệp có cảm giác bị kiểm soát
Lãi suất vay vốn: Lãi suất vay vốn phản ánh chi phí sử dụng vốn Lãi suất vốn tín dụng ngân hàng phụ thuộc vào tình hình tín dụng trên thị trường trong từng thời kỳ Nếu lãi suất vay quá cao thì doanh nghiệp phai chịu chi phí sử dụng vốn quá lớn và làm giảm thu nhập của doanh nghiệp
Ngoài việc vay vốn từ ngân hàng, doanh nghiệp còn có thể khai thác vốn tín dụng thương mại Nguồn vốn này hình thành một cách tự nhiên trong quan hệ mua bán chịu, mua bán trả chậm hay trả góp Nguồn vốn tín dụng thương mại có ảnh hưởng hết sức to lớn không chỉ với các doanh nghiệp mà còn với cả toàn bộ nền kinh tế nguồn vốn tín dụng thương mại là một phương thức tài trợ rẻ, tiện dụng và linh hoạt trong kinh doanh, mặt khác nó còn tạo khả năng mở rộng các quan hệ hợp tác kinh doanh một cách lâu bền Các điều kiện ràng buọc cụ thể có thể được ấn định khi hai bên ký hợp đồng mua bán hay hợp đồng kinh tế nói chung Tuy nhiên doanh nghiệp cũng cần để ý tới tính chất rủi ro của quan hệ tín dụng thương mại khi quy mô tài trợ vượt quá giới hạn an toàn Chi phí của việc
sử dụng nguồn vốn tín dụng thể hiện qua lãi suất của khoản vay, đó là chi phí lãi vay Nó sẽ được tính váo giá thành sản phẩm hay dịch vụ Khi mua hàng hoá trả chậm, chi phí này có thể ẩn dưới hình thức thay đổi mức giá tuỳ thuộc quan hệ thoả thuận giữa các bên
1.2.3 Nguồn vốn phát hành cổ phiếu.
Phát hành cổ phiếu là một kênh rất quan trọng để huy động vốn dài hàn cho công ty một cách rộng rãi thông qua mối liên hệ với thị trường chứng khoán Trong các nước công nghiệp phát triển, thị trường chứng khoán là nơi hội tụ những hoạt động tài chính sôi động nhất của nền kinh tế Để nắm rõ những khía cạnh chủ yếu của việc phát hành cổ phiếu, cần hiểu rõ đặc điểm của các loại cổ phiếu khác nhau
Trang 15cổ đông cho phép Tuy nhiên trên thực tế, việc quản lý và kiểm soát quá trình phát hành chứng khoán tuỳ thuộc vào chính sách cụ thể của nhà nước và uỷ ban chứng khoán nhà nước.
Phần lớn những cổ phiếu đã phát hành nằm trong tay những nhà đầu tư Những cổ phiếu này được coi là đang lưu hành trên thị trường Tuy nhiên, có thể chính công ty phát hành mua lại một số cổ phiếu của mình và giữ nó nhằm mục đích nhất định Những cổ phiếu đó được coi như không lưu hành Việc mua lại hoặc bán ra những cổ phiếu nàyphụ thuộc và một số yếu tố như: tình hình cân đối vốn và khả năng đầu tư, chính sách đối với việc sát nhập hoặc thôn tính, tình hình trên thị trường chứng khoán
• Mệnh giá và thị giá cổ phiếu
Trên thực tế, khái niệm mệnh giá và thị giá được sử dụng không chỉ đối với
cổ phiếu mà đối với cả các công cụ tài chính khac như trái phiều, thương phiếu Giá trị ghi trên mặt cổ phiếu gọi là mệnh giá, giá cả của cổ phiếu trên thị trường gọi là thị giá Trị giá của cổ phiếu được phản ánh trong sổ sách kế toán của công
ty gọi là giá trị ghi sổ của cổ phiếu Mệnh giá không chỉ được ghi trên mặt cổ phiếu mà còn được ghi rõ trong giấy phép phát hành và trên sổ sách kế toán của công ty Tuy nhiên, mệnh giá chỉ có ý nghĩa khi phát hành cổ phiếu và đối với khoảng thời gian ngắn sau khi cổ phiếu được phát hành Cũng giống như các hàng hoá khác, cổ phiếu là một hàng hoá nên thị giá của nó phản ánh quan hệ cung cầu trên thị trường đối với cổ phiếu đó, phản ánh lòng tin của nhà đầu tư đối với hoạt động của công ty
Trang 16• Quyền hạn của cổ đông.
Các cổ đông nắm giữ số cổ phiếu thường chính là những người sở hữu công
ty, do đó họ có quyền trước hết đối với tài sản và sự phân chia tài sản hoặc thu nhập của công ty Hàng năm công ty cổ phần tổ chức cuộc họp chính thức gọi là đại hội cổ đông Cổ đông có quyền tham gia kiểm soát và theo dõi quản lý các công việc của công ty thông qua cơ chế đại diện và biểu quyết Tuy nhiên, thông thường có một số lượng lớn cổ đông của công ty, nên mỗi cổ đông chỉ có một quyền lục giới hạn trong việc bỏ phiếu hoặc chỉ định thành viên ban giảm đốc
1.2.3.2.Cổ phiếu ưu đãi.
Thông thường cổ phiếu ưu đãi chỉ chiếm một tỷ trọng nhỏ trong tổng số cổ phiếu được phát hành Tuy nhiên, trong một số trường hợp, việc dùng cổ phiếu
ưu tiên là thích hợp Cổ phiếu ưu đãi có đặc điểm là có mức cổ tực cố định Người chủ của cổ phiếu này có quyền được nhận tiền lãi trước các cổ đông thường Nếu số lãi chỉ đủ trả cổ tức cho các cổ đông ưu tiên thì các cổ đông thường sẽ không nhận được cổ tức của kỳ đó Việc giả quyết chính sách cổ tức được nêu rõ trong điều lệ công ty Một vấn đề quan trong càn đề cập khi phát hành cổ phiếu ưu đãi là thuế Khác với chi phí lãi vay được giảm trừ khi tính thuế thu nhập công ty, cổ tức lấy được từ lợi nhuận sau thuế Đó là hạn chế của
cổ phiếu ưu đãi Mặc dù vậy, cổ phiếu vẫn có những ưu điểm đối với cả công ty phát hành và nhà đầu tư
1.2.4 Phát hành trái phiếu công ty.
Một trong những vấn đề cần xem xét trước khi phát hành là lựa chọn loại trái phiếu nào phù hợp nhất với điều kiện công ty và tình hình trên thị trường tài chính Việc lựa chọn trái phiéu thích hợp là rất quan trọng vì có liên quan đến chi phí trả lãi, cách thức trả lãi, khả năng lưu hành và tính hấp dẫn của trái phiếu Trước khi quyết định phát hành, cần hiểu rõ đặc điểm và ưu nhược điểm của mỗi loại trái phiếu Trên thị trường tài chính ở nhiều nước, hiện nay thường lưu hành những loại trái phiếu công ty sau:
Trang 171.2.4.1.Trái phiếu có lãi suất cố định.
Loại trái phiếu này được sử dụng phổ biến, cho nên khi mói đến trái phiếu công ty người ta thường hay nhắc đến lãi suất cố định Lãi suất được ghi ngay trên mặt trái phiếu và không thay đổi trong suốt kỳ hạn của nó Như vậy, cả công ty và người sở hữu trái phiếu đều biết rõ mức lãi suất của khoản nợ trong suốt thời gian tồn tại của trái phiếu Việc thanh toán lãi trái phiếu cũng thường được quy định rõ
Để huy động vốn trên thị trường bằng trái phiếu, phải tính đến mức độ hấp dẫn của trái phiếu Tính hấp dẫn của trái phiếu phụ thuộc vào các yếu tố sau:Lãi suất của trái phiếu: Đương nhiên, người đầu tư muốn được hưởng mức lãi suất cao nhưng công ty phát hành phải cân nhắc lãi suất có thể chấp nhận được đối với trái phiếu của họ chứ không thể trả thật cao cho nhà đầu tư Lãi suất của trái phiếu phải được đặt ra trong mối tương quan so sánh với lãi suất trên thị trường vốn, đặc biệt phải tính đến sự cạnh tranh của trái phiếu các công
ty khác Tuy nhiên công ty cũng phải tính tới khả năng xem mình có gánh được chi phí lãi vay này hay không rồi mới quyết định được lãi suất của trái phiếu Trong một số trường hợp, việc đưa thêm một số yếu tố khuyến khích vào trái phiếu thì có thể không cần nâng cao mức lãi suất
Kỳ hạn của trái phiếu: Đây cũng là một yếu tố quan trong khi cân nhắc phát hành trái phiếu công ty
Uy tín của công ty cũng có ảnh hưởng đến việc phát hành trái phiếu Mức
độ thuận lợi và tính hấp dẫn của tría phiếu công ty luôn luôn phụ thuộc vào uy tín công ty, nhất là độ tin cậy về tài chính
Trong việc phát hành trái phiếu công ty cũng cần chú ý đến mệnh giá của trái phiếu Mệnh giá cao quá làm nhà đầu tư không đủ khả năng tài chính để mua trái phiếu, mệnh giá thấp quá sẽ không huy động được tối đa nguồn vốn nhàn rỗi Một trái phiếu có mệnh giá vừa phải làm nhiều người có thể mua được, tạo sự lưu thông đẽ dàng cho trái phiếu trên thị trường
Trang 181.2.4.2.Trái phiếu có lãi suất thay đổi.
Trái phiếu có lãi suất thay đổi nhưng trên thực tế loại này có lãi suất phụ thuộc vào một số yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến lãi suất trên thị trường quốc
tế, chẳng hạn như lãi suất LIRBOR (Longdon Interbank Offered Rate) hoặc lãi suất cơ bản do ngân hàng Trung ương quy định Tuy vậy, trái phiếu có lãi suấ thay đổi không phải là loại phổ biến đối với trái phiếu Trong điều kiện có mức lạm phát cao và lãi suất thị trường không ổn định thì có thể khai thác tính ưu việt của loại trái phiếu này Tuy nhiên loại trái phiếu này cũng có một số nhược điểm
Thứ nhất, công ty không thể biết chắc về chi phí lãi vay của trái phiếu, điều này gây khó khăn một phần cho việc lập kế hoạch tài chính
Thứ hai, việc quản lý trái phiếu đòi hỏi tốn nhiều thời gian hơn do phải theo dõi và thông báo các lần điều chỉnh lãi suất cho người mua trái phiếu
1.2.4.3.Trái phiếu có thể thu hồi.
Một số công ty lựa chọn cách phát hành trái phiếu có thể thu hồi, tức là công
ty có thể mua lại và một thời gian nào đó Trái phiếu như vậy phải được quy định ngay khi phát hành để người mau được biết Phải quy định rõ vè thời gian
và giá cả khi công ty chuộc lại trái phiếu Thông thường người ta quy định thời hạn tối thiểu mà trái phiếu sẽ không bị thu hồi Loại trái phiếu này có ưu điểm là: thứ nhất, có thể sử dụng như một cách điều chỉnh lượng vốn sử dụng Khi không cần thiết, công ty có thể mau lại trái phiếu, tức là giảm số vốn vay Thứ hai, công ty có thể thay trái phiếu loại này bừng một nguồn tài chính khác bằng cách mua lại các trái phiếu đó Tuy nhiên, nếu không có tính hấp dẫn nào đó thì trái phiếu này không được ưa thích
1.2.5.Nguồn vốn nội bộ
Tự tài trợ bằng nguồn vốn nội bộ là một con đường tố vì công ty phát huy được nguồn lực của chính mình, giảm bớt sự phụ thuộc vào bên ngoài Rất nhiều công ty coi trọng chính sách tái đầu tư từ số lợi nhuận để lại, họ đặt ra mục tiêu phải có một khối lượng lợi nhuận để lại đủ lớn nhằm tự đáp ứng nhu cầu vốn ngày càng tăng Tuy nhiên, đối với các công ty cổ phần thì việc lợi nhuận có liên
Trang 19quan đến một số tất yếu nhạy cảm Khi công ty để lại một phần lợi nhuận trong năm cho tái đầu tư, tức là không dùng số lợi nhuận đó để chia cổ phần Các cổ đông không được nhận cổ tức nhưng bù lại, họ có quyền sở hữu số vốn cổ phần tăng lên của công ty.
1.3.2.Phân loại huy động nguồn vốn
Doang nghiệp huy động nguồn vốn từ nhiều nguồn khác nhau, ở đây em chỉ xin đi sâu phân tích những nguồn cơ bản và quan trọng nhất
Thứ nhất,huy động từ vốn chủ sở hữu, do chủ sở hữu của doanh nghiệp bỏ
ra Nguồn này bao gồm 3 loại chính
• Vốn góp ban đầu
• Vốn từ lợi nhuận để lại
• Vốn từ phát hành cổ phiếu mới
1.3.2.1.Huy động từ vốn góp ban đầu của doanh nghiệp do chủ sở hữu –
các cổ đông đóng góp Nguồn này khác nhau tùy theo hình thức sở hữu của doanh nghiệp Nếu doanh nghiệp là DNNN, chủ sở hữu doanh nghiệp là Nhà nước, tương tự với các loại hình doanh nghiệp khác, chủ sở hữu có thể là một cá nhân, hay nhiều cá nhân, một tổ chức, hay nhiều tổ chức, hoặc do các bên tham gia liên doanh góp vốn
Đây là cơ sở đầu tiên để doanh nghiệp bắt đầu hoạt động Do vậy, thời điểm duy nhất huy động nguồn này là khi doanh nghiệp bắt đầu sản xuất kinh doanh
1.3.2.2 Huy động từ lợi nhuận để lại, theo kế hoạch trích lập lợi nhuận
Đây là một nguồn quan trọng phục vụ cho tái sản xuất mở rộng Doanh nghiệp càng phát triển, vai trò của nguồn vốn này càng được khẳng định Đây là nguồn
có độ an toàn cao, hấp dẫn do doanh nghiệp giảm được chi phí, giảm sự phụ thuộc vào nguồn vốn từ bên ngoài Chính sách tái đầu tư từ lợi nhuận để lại thường được coi trọng vì khả năng tự đáp ứng nhu cầu vốn Song, một điều đơn giản nhưng quan trọng, đó là doanh nghiệp chỉ có lợi nhuận để lại khi tình hình kinh doanh tốt, có lợi nhuận, vậy nên khi doanh nghiệp gặp khó khăn, việc huy động nguồn này hầu như bất khả thi Đối với những doanh nghiệp cổ phần,
Trang 20nguồn vốn này lại có một khó khăn khác, mục tiêu hoạt động của doanh nghiệp
là mang lại lợi ích tối đa cho nhà đầu tư, nên khi doanh nghiệp sử dụng nguồn này, cũng đồng nghĩa với việc không chia hết lợi nhuận cho cổ đông, tuy về danh nghĩa cổ đông vẫn sở hữu số vốn tăng lên của doanh nghiệp Việc này sẽ làm cho tỷ lệ chi trả cổ tức thấp, ảnh hưởng giảm giá cổ phiếu trong ngắn hạn Vấn đề này cần được dung hòa trong nội bộ doanh nghiệp, và có kế hoạch huy động dựa trên phân tích tình hình Đó là tình hình hoạt động của doanh nghiệp, như số lãi ròng trong kỳ, tỷ lệ cổ tức những năm trước, tình hình thị trường chứng khoán và độ ổn định của thị giá cổ phiếu doanh nghiệp, cùng tâm lý và đánh giá của công chúng, và cuối cùng là hiệu quả của tái đầu tư Doanh nghiệp cần cân nhắc những yếu tố này trước khi sử dụng nguồn vốn này
1.3.2.3 Huy động từ phát hành cổ phiếu mới
Đây là một nguồn huy động vốn trung và dài hạn khá phổ biến Khi thị trường tài chính lành mạnh và ổn định, môi trường đầu tư tốt, doanh nghiệp hoàn toàn có khả năng huy động vốn trung và dài hạn phục vụ các kế hoạch phát triển mở rộng doanh nghiệp bằng hoạt động tài trợ dài hạn, hay chính là phát hành cổ phiếu mới
Cổ phiếu có nhiều loại, dựa trên tình hình thị trường, yêu cầu của doanh nghiệp cũng như của nhà đầu tư mà doanh nghiệp nên lựa chọn sử dụng loại cổ phiếu phù hợp
Cổ phiếu thường (cổ phiếu thông thường) là loại cổ phiếu có tính thanh khoản cao, được mua bán trên thị trường chứng khoán
Cổ phiếu ưu tiên chiếm số lượng ít, có một số đặc quyền cũng như hạn chế,
đó là được trả cổ tức cố định, song không có quyền bỏ phiếu
Hầu hết các nước trên thế giới sử dụng công cụ giới hạn phát hành để kiểm soát hạn chế rủi ro cho công chúng Đây là một văn bản pháp lý quy định những điều kiện để được phát hành cổ phiếu tăng vốn, đặc biệt cũng có thể quy định lượng cổ phiếu được phép phát hành trong một thời kỳ nhất định
Doanh nghiệp cũng có một biện pháp hạn chế rủi ro của việc phát hành cổ phiếu, đó là sử dụng cổ phiếu ngân quỹ Cổ phiếu trong ngân quỹ được mua bán
Trang 21khi doanh nghiệp muốn đầu tư tài chính ngắn hạn, ổn định thị giá cổ phiếu của doanh nghiệp, trong trường hợp thị trường chứng khoán khủng hoảng hay điều chỉnh, hay trong trường hợp có sát nhập thôn tính giữa các doanh nghiệp.
Nếu thị trường tài chính an toàn, doanh nghiệp hoạt động tốt, thì phát hành thêm cổ phiếu là một lựa chọn tốt Đây là nguồn vốn trung và dài hạn với chi phí phụ thuộc tình hình sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp không bị sức ép trả nợ và lãi vay
Nhưng, nguồn vốn từ phát hành cổ phiếu có một số hạn chế Hạn chế đầu tiên đó là phát hành thêm cổ phiếu gây ảnh hưởng quyền sở hữu doanh nghiệp, doanh nghiệp có thể bị giảm quyền kiểm soát, thậm chí bị thôn tính Hạn chế thứ hai đó là việc chi trả cổ tức dựa trên lợi nhuận sau thuế, còn chi phí lãi vay được tính trước khi tính thuế Doanh nghiệp phải nộp thuế nhiều hơn so với đi vay trong trường hợp hoạt động hiệu quả
Huy động là vốn vay, vay từ nhiều nguồn khác nhau, tựu chung lại có 4
loại chính : tín dụng ngân hàng, tín dụng thương mại, tín dụng thuê mua, và cuối cùng là vay bằng việc phát hành trái phiếu doanh nghiệp, tín phiếu doanh nghiệp
Huy động là tín dụng ngân hàng : Đây là một nguồn huy động vốn vô cùng
quan trọng, thậm chí có thể khẳng định một doanh nghiệp có quan hệ tốt với ngân hàng, doanh nghiệp đó nhất định hoạt động tốt Ngân hàng, với vai trò của một trung gian tài chính trên thị trường, có thể cung cấp đáp ứng hầu hết các nhu cầu về vốn của doanh nghiệp tại mọi thời điểm, từ vốn ngắn hạn, trung hạn và dài hạn Hoạt động của doanh nghiệp phụ thuộc chặt chẽ với hoạt động của ngân hàng Doanh nghiệp có lịch sử tín dụng tốt, trả nợ đúng hạn, là một khách hàng quen thuộc của ngân hàng, có kế hoạch sản xuất kinh doanh và kế hoạch trả nợ tốt, thì hoàn toàn có khả năng huy động vốn từ nguồn tín dụng này Doanh nghiệp có thể đảm bảo khả năng thanh toán, cũng như có thể thực hiện các kế hoạch phát triển, đều ít nhiều có sự phụ thuộc vào ngân hàng
Song, tín dụng ngân hàng cũng có những điểm yếu của nó Điểm yếu đầu tiên, chính là sự phụ thuộc quá lớn vào ngân hàng Ngân hàng có những điều
Trang 22kiện tín dụng, những thông tin cần thiết, cơ sở bảo đảm tiền vay (tài sản thế chấp), sự kiểm soát của ngân hàng (quyền gửi giám sát để theo dõi tình hình doanh nghiệp, qua đó đánh giá tình trạng nợ và khả năng trả nợ) Vấn đề này rõ ràng đã xâm phạm quyền bảo mật của doanh nghiệp, cũng như các quyền khác như quyền quyết định Một hạn chế nữa đó là vấn đề trả nợ cả gốc và lãi là một sức ép nặng nề lên tình hình tài chính của doanh nghiệp, dù rằng chi phí lãi vay được trừ trước thuế, song lãi được quyết định bởi thị trường, nên có những thời điểm lãi cao gây ảnh hưởng không nhỏ đến tình hình tài chính của doanh nghiệp.
Huy động từ tín dụng thương mại Loại tín dụng này rất phổ biến giữa các
doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường, đó là các quan hệ mua bán chịu, trả chậm hay trả góp Nguồn tín dụng này có ảnh hưởng không nhỏ với hoạt động của doanh nghiệp, có thể chiếm tới 20-40% tỷ lệ nguồn vốn Nguyên nhân của việc chiếm tỷ lệ cao, đó là do tín dụng thương mại là một phương thức tài trợ khá rẻ, tiện dụng và linh hoạt Bởi trên thực tế, có rất ít doanh nghiệp có thể lập tức trả tiền mua hàng Như vậy, bằng tín dụng thuê mua, doanh nghiệp có thể
mở rộng quan hệ với bạn hàng một cách chặt chẽ, tin cậy lẫn nhau Chi phí của khoản vay này thường thấp, trong ngắn hạn, và được tính vào giá thành
Loại tín dụng này cũng có một nhược điểm cần chú ý Đó là khi quy mô tài trợ của loại tín dụng này chiếm tỷ lệ lớn trong nguồn vốn, đó là khi mức độ rủi
ro đã lên tới mức khó kiểm soát Do vậy khi doanh nghiệp sử dụng nguồn này, doanh nghiệp cần chú ý vấn đề cơ cấu nguồn vốn cho hợp lý, đảm bảo quản lý tốt rủi ro
Loại tiếp theo trong các hoạt động huy động của doanh nghiệp, đó là tín dụng thuê mua Các công ty tài chính cung cấp dịch vụ thuê mua như một kênh
cung cấp vốn cho doanh nghiệp Doanh nghiệp tạo vốn bằng việc thuê mua các thiết bị, cơ sở vật chất cho hoạt động sản xuất kinh doanh
Khi doanh nghiệp khó khăn về tài chính, doanh nghiệp có thể bán lại tài sản, rồi sau đó thuê tài sản đó, hết hạn hợp đồng có thể mua lại hoặc không
Trang 23Loại tín dụng này có ưu điểm là mang lại một kênh huy động vốn, cung cấp cho doanh nghiệp nhiều công cụ hơn Trong nền kinh tế chưa phát triển, công cụ này dễ thực hiện hơn, khá linh hoạt Nó thích hợp với các doanh nghiệp nhỏ khó thu hút vốn, không cần tài sản bảo lãnh, không làm tăng hệ số nợ của doanh nghiệp Nhược điểm của loại tín dụng này cũng giống tín dụng thương mại, và tín dụng ngân hàng Sức ép trả phí thuê, thường là rất đắt, ảnh hưởng không nhỏ đến lợi nhuận doanh nghiệp
Hoạt động huy động cuối cùng, còn khá mới mẻ, đó là vay bằng phát hành trái phiếu doanh nghiệp, tín phiếu doanh nghiệp.
Trái phiếu là một phiếu vay nợ dài hạn thường với một lãi suất cố định (trừ trái phiếu biến đổi), rất phù hợp khi doanh nghiệp muốn huy động vốn dài hạn,
có kế hoạch chi tiết kinh doanh và trả nợ Tín phiếu ít sử dụng hơn, là phiếu vay
nợ ngắn hạn
Trái phiếu có nhiều loại, khác nhau về chi phí trả lãi, cách thức trả lãi, khả năng lưu hành và tính hấp dẫn Bao gồm Trái phiếu có lãi suất cố định, Trái phiếu có lãi suất biến đổi, trái phiếu có thể thu hồi và trái phiếu chuyển đổi Trái phiếu thường được sử dụng đối với những doanh nghiệp vừa và nhỏ,
uy tín chưa có, vốn ít Doanh nghiệp khó tiếp cận những nguồn vốn khác như phát hành cổ phiếu hay tín dụng ngân hàng thì có thể dùng công cụ này để thu hút vốn dài hạn sản xuất kinh doanh
Công cụ này nhiều ưu điểm, giúp các doanh nghiệp huy động vốn, tăng lượng hàng hóa trên thị trường chứng khoán, nó có tính linh hoạt tương đối, khả năng thanh khoản cao Trái phiếu chuyển đổi là một sự lựa chọn tốt khi doanh nghiệp đang tiến hành cổ phần hóa.Phát hành trái phiếu giúp doanh nghiệp sử dụng một nguồn vốn dài hạn ổn định, do nguồn vốn vay ngân hàng bị có thể bị hạn chế bởi nhiều lý do Doanh nghiệp cũng không cần lo ngại khả năng bị thao túng do phát hành cổ phiếu, và chi phí thì đã được tính trước
Song tín dụng bằng trái phiếu cũng mắc một số nhược điểm như tín dụng ngân hàng, đó là sức ép trả nợ gốc và lãi, đặc biệt khi lãi trái phiếu thường cao hơn để cạnh tranh với các loại chứng khoán khác như trái phiếu Chính phủ
Trang 24Như vậy, các nguồn hình thành vốn của doanh nghiệp khá phong phú, công việc còn lại là sử dụng công cụ nào cho hợp lý và hiệu quả, xây dựng cơ cấu vốn tối ưu Công việc này cơ bản sẽ được giải quyết trong phần sau
1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến huy động nguồn vốn của doanh nghiệp
1.3.1.Nhóm nhân tố chủ quan
1.3.1.1.Các hình thức huy động
Để thực hiện tốt công tác huy động nguồn vốn,các Doanh nghiệp thường đưa ra nhiều hình thức huy động vốn đa dạng Khối lượng vốn mà Doanh nghiệp huy động được phụ thuộc trực tiếp vào các hình thức huy động vốn mà doanh nghiệp áp dụng Khi áp dụng nhiều hình thức huy động vốn sẽ tạo những cơ hội
để tìm kiếm được những nguồn vốn có chi phí huy động thấp.Mỗi Doanh nghiệp đều tìm cho mình những hình thức huy động vốn phù hợp với điều kiện kinh tế
xã hội, tâm lý NHTM,tổ chức tín dụng vùng mà doanh nghiệp đặt địa điểm, đồng thời phù hợp với yêu cầu sử dụng cũng như dễ dàng quản lý có hiệu quả nguồn vốn của mình Khi hình thức huy động vốn đa dạng nghĩa là số lượng vốn huy động được tăng lên và chi phí huy động có xu hướng giảm xuống
1.3.1.2.Uy tín của doanh nghiệp
Trên thực tế, mỗi doanh nghiệp đã, đang và sẽ tạo được một hình ảnh riêng của mình trong lòng NHTM,tổ chức tín dụng,tổ chức và cá nhân Một Doanh nghiệp lớn, sẵn có uy tín sẽ có lợi thế hơn trong hoạt động huy động nguồn vốn
Sự tin tưởng của NHTM,tổ chức tín dụng sẽ giúp doanh nghiệp có khả năng ổn định khối lượng nguồn vốn huy động và tiết kiệm chi phí huy động Từ đó doanh nghiệp có thể đề ra chiến lược hoạt động dễ dàng hơn
1.3.1.3.Chiến lược hoạt động của doanh nghiệp
Trong một doanh nghiệp hoạt động huy động nguồn vốn chịu tác động trực tiếp từ các hoạt động về sử dụng nguồn vốn huy động được đó Mỗi doanh nghiệp đều có một chiến lược hoạt động riêng theo từng thời kỳ, tuỳ thuộc vào đặc điểm hoạt động của bản thân doanh nghiệp và điều kiện môi trường hoạt động Từ đó doanh nghiệp có thể đưa ra chiến lược huy động vốn là thu hẹp hay
mở rộng cho phù hợp với chính sách thu hẹp hay mở rộng nguồn vốn của doanh
Trang 25nghiệp trong thời kỳ đó Cơ cấu nguồn vốn có thể thay đổi về tỷ lệ các khoản mục cấu thành, chi phí huy động có thể tăng hay giảm Nếu chiến lược hoạt động được xây dựng đúng đắn phù hợp với điều kiện bản thân doanh nghiệp, các nguồn vốn được khai thác tối đa và hợp lý thì công tác huy động vốn phát huy hiệu quả.
1.3.2.Nhóm nhân tố khách quan
1.3.2.1 Tình hình chính trị trong nước, chủ trương của nhà nước
Sự ổn định về chính trị, sự nhất quán trong chủ trương đường lối chính sách của Nhà nước luôn là yếu tố tạo mối trường đầu tư kinh doanh hấp dẫn với các nhà đầu tư và doanh nghiệp trong và ngoài nước Một xã hội ổn định về chính trị, hệ thống pháp luật chặt chẽ, không chồng chéo lên nhau thì doanh nghiệp được đảm bảo an toàn về đầu tư, quyền sở hữu tài sản, mức độ yên tâm của nhà đầu tư được củng cố thông qua việc đánh giá các yếu tố rủi ro chính trị Ngoài ra còn có một số yếu tố quan trọng trong môi trường chính trị như xu thế chính trị,
là định hướng của nhà nước sẽ áp dụng trọng việc điều hành quốc gia Đặc biệt
là đối với các doanh nghiệp nhà nước, hoạt động chủ yếu theo các định hướng
và chính sách của nhà nước, sự ổn định của chính trị đảm bảo các nguồn vốn của ngân sách nhà nước được huy động và sử dụng một phần cho các DNNN hoạt động sản xuất kinh doanh, đầu tư phát triển
Nổi bật nhất trong các chủ trương của nhà nước ta trong nhưng năm vừa qua là chủ trương cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước nhằm huy động và đa dạng hoá vốn chủ sở hữu Quá trình cổ phần hóa không những huy động được nguồn vốn không nhỏ cho doanh nghiệp nhà nước mà còn tạo động lực cho các doanh nghiệp nhà nước trước đây vốn bị coi là chậm chạp trong đổi mới phương thức kinh doanh và phương pháp quản lý, nay với sự tham gia của tư nhân đã chủ động hơn trong sử dụng vốn Cổ phần hóa giúp các DNNN tự quản lý kinh doanh, tự chủ về tài chính và lợi nhuân nên thúc đẩy các doanh nghiệp năng động hơn trong sản xuất
Trang 261.3.2.2 Các chính sách kinh tế vĩ mô.
Bất kỳ doanh nghiệp nào vừa ra đời hoặc đang tồn tại cũng đều thực hiện hoạt động sản xuất kinh doanh trong khuôn khổ pháp lý và chịu sự quản lý giám sát của cơ quan nhà nước có chức năng, do đó các mỗi chính sách kinh tế được ban hành đều có ảnh hưởng tới tình hình hoạt động của các doanh nghiệp, trong
đó có doanh nghiệp nhà nước
•Chính sách tài chính: chính sách tài chính là chính sách thông qua chế độ
thuế và đầu tư công cộng để tác động đến nền kinh tế Các chính sách về thuế có
ổn định thì các doanh nghiệp nhà nước cũng mới ổn định sản xuất, tạo tăng trưởng, có lợi nhuận và tăng thêm vốn huy động vào sản xuất
Ví dụ như từ sau khi Việt Nam gia nhập Tổ chức thương mại thế giới (WTO) cùng với việc cam kết phải đi đôi với thực hiện giảm thuế theo lộ trình đối với các doanh nghiệp nước ngoài Thuế suất của các mặt hàng nhập khẩu giảm thúc đẩy nhà đầu tư nước ngoài tham gia vào thị trường non trẻ Việt Nam làm gia tăng sức cạnh tranh Để tồn tại và phát triển buộc doanh nghiệp trong nước đặc biệt là doanh nghiệp nhà nước phải có giải pháp huy động và sử dụng vốn thực sự hiệu quả, để đổi mới công nghệ, nâng cao sản xuất, tăng chất lượng
và số lượng sản phẩm, giảm giá thành tăng sức cạnh tranh Do đó chính sách này tác động không nhỏ tới việc sử dụng vốn của Doanh nghiệp nhà nước
•Chính sách tiền tệ: Chính sách tiền tệ là quá trình kiểm soát lượng cung
tiền của nền kinh tế để đạt được những mục đích như kiềm chế lạm phát, ổn định tỷ giá hối đoái Thông qua nhân tố: yếu tố lãi suất, lạm phát, hoạt động của ngân hàng trung ương, thu chi ngân sách nhà nước, tỷ giá hối đoái đều ảnh hưởng tới DNNN Lãi suất là yếu tố ảnh hưởng không nhỏ tới một dự án đầu tư trong việc huy động và sử dụng vốn Lãi suất quá cao gây khó khăn trong quá trình huy động vốn của doanh nghiệp nhà nước, và khiến chi phí sử dụng vốn bị đội lên cao do đó lợi nhuận thực của doanh nghiệp giảm
Các doanh nghiệp nhà nước hoạt động trong lĩnh vực hàng xuất khẩu như các mặt hàng dệt may, da giày, hải sản đặc biệt quan tâm tới tỷ giá hối đoái
Sự lên xuống của đồng nội tệ luôn là mối quan tâm của các doanh nghiệp xuất
Trang 27khẩu Giá trị đồng nội tệ càng giảm hoặc thấp so với những ngoại tệ mạnh, tức đồng nội tệ mất giá thì các doanh nghiệp xuất khẩu càng có lợi, xuất khẩu số lượng hàng hóa nhiều hơn, thu được lợi nhuận cao Lợi nhuận cao thì khả năng quay vòng vốn của các doanh nghiệp cũng nhanh hơn Ngược lai nếu nền kinh tế nước ngoài suy thoái, khủng hoảng thì giá trị đồng ngoại tệ giảm làm đồng nội
tệ tăng giá, hàng hóa xuất khẩu giảm làm lợi nhuận giảm, sẽ ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất của các DNNN
•Các chính sách khác của nhà nước.
Các vấn đề về quản lý, quản trị doanh nghiệp, sử dụng vốn tài sản nước tại
các tập đoàn, tổng công ty nhà nước trong các luật sử dụng vốn và tài sản nhà nước trong đầu tư kinh doanh
Một chính sách của nhà nước, để tạo điều kiện cho doanh nghiệp huy động vốn, nghị định 59/CP ngày 03/10/1996 cho phép doanh nghiệp nhà nước co quyền huy động vốn bằng cách phát hành trái phiếu,vay vốn từ các tổ chức Tín dụng, các doanh nghiệp khác, các cá nhân( kể cả CBCNV trong doanh nghiệp), nhận góp vốn liên kết với các hình thức khác nhưng không làm thay đổi hình thức sở hữu của doanh nghiệp Nhà nước
Chính sách mới của Chính phủ về việc quy định một số khoản mua sắm của doanh nghiệp nhà nước không được tính vào chi ngân sách khiến các doanh nghiệp nhà nước cân nhắc kỹ lưỡng hơn khi mua sắm vì đó được tính vào chi phí của doanh nghiệp, do đó việc sử dụng vốn cũng không bị lãng phí như trước
Như chính sách tiền tệ thắt chặt nhằm kiềm chế lạm phát của chính phủ hai tháng đầu năm 2008 được xem như sự hi sinh thị trường chứng khoán cho tăng trưởng Lãi suất nâng cao cùng với việc ban hành chỉ thị 03 hạn chế các nhà đầu tư vay vốn ngân hàng để đầu tư chứng khoán đã khiến lượng vốn huy động trên thị trường chứng khoán bị khủng hoảng, quá trình phát hành chứng khoán lần đầu ra công chúng (IPO) của một số doanh nghiệp nhà nước lớn như Vietcombank với mục đích huy động vốn bị chậm lại do vào thời điểm đó trên thị trường chưa đủ vốn
Trang 281.3.2.3.Sự cần thiết phải huy động nguồn vốn của Doanh nghiệp
Một doanh nghiệp hoạt động phải cú vốn và nguồn vốn, nhưng nếu tự bản thõn
nú vận động thỡ bản thõn doanh nghiệp sẽ gặp rất nhiều khú khăn về nguồn vốn
Do vậy huy động nguồn vốn là phương ỏn huy nhất và hiệu quả nhất để đảm bảo dự ỏn kinh doanh được hoạt động và phỏt triển Nếu chỉ sử dụng nguồn vốn chủ sở hữu ban đầu thỡ việc kinh doanh gặp rất nhiều khú khăn, ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng thanh toỏn nhanh, uy tớn của doanh nghiệp,… phỏt triển quy mụ doanh nghiệp trong tương lai cũng như khả năng tiếp cận với cỏc dự ỏn lớn Hơn nữa bản thõn vốn chủ sở hữu được coi là lỏ chắn cho sự phỏ sản của doanh nghiệp, cho dự vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp cú lớn đủ sức tri trả cho cỏc hoạt động kinh doanh và mở rộng đầu tư thỡ một nhà lónh đạo khụn ngoan cũng khụng bao giờ lựa chọn sử dụng toàn bộ vốn chủ để kinh doanh Phõn tỏn rủi ro là việc mà bất kỳ một doanh nghiệp nào khi hoạt động đều ỏp dụng Do vậy khi huy động nguồn vốn để phỏt triển sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp luụn tỡm mọi phương ỏn để giảm thiểu chi phớ huy động vốn, đồng thời linh hoạt trong cụng tỏc huy động để đỏp ứng được mọi tỡnh huống khi cú nhu cầu về vốn, chủ động trong vấn đề huy động nguồn vốn
Mặt khỏc,Khi nớc ta chuyển sang nền kinh tế thị trờng có sự điều tiết của mình nhằm đáp ứng đợc các vấn đề của xã hội đặt ra nếu muốn tồn tại và phát triển Cạnh tranh là là quy luật của thị trờng, nó cho phép doanh nghiệp có thể tận dụng các vấn đề về xã hội cũng nh nguồn nhân lực bởi vì nếu doanh nghiệp không đổi mới phơng tiện, máy móc trang thiết bị cũng nh phơng pháp quản lý thì sẽ không có khả năng đáp ứng đợc nhu cầu của xã hội Trong kinh doanh, sự
đổi mới sẽ là điều kiện thuận lợi để hạ giá thành cũng nhu tăng chất lợng của sản phẩm và tăng giá trị tài sản chủ sở hữu Bởi vậy, vi c huy ụng ngu n vốn có vịệ đ ồtrí quan trọng của doanh nghiệp
Trang 29CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HUY ĐỘNG NGUỒN VỐN CỦA TỔNG CÔNG TY XÂY DỰNG BẠCH ĐẰNG GIAI ĐOẠN
2011-20132.1 Giới thiệu chung về Tổng Công ty Xây dựng Bạch Đằng
2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của Tổng Công ty Xây dựng Bạch Đằng
2.1.1.1.Thông tin chung về doanh nghiệp
- Tên tiếng Việt : TỔNG CÔNG TY XÂY DỰNG BẠCH ĐẰNG
- Tên tiếng Anh : BACH DANG CONSTRUCTION CORPORATION
- Tên viết tắt : BDCC
- Biểu tượng (Logo):
- Địa chỉ : Số 268 Trần Nguyên Hãn, phường Niệm Nghĩa, Quận
Lê Chân, Thành phố Hải Phòng
- Vốn điều lệ : 177.000.000.000 đồng (Một trăm bảy mươi bảy tỷđồng)
2.1.1.2 Các văn bản thành lập doanh nghiệp
- Quyết định số 270/BXD-TCLĐ ngày 15/3/1996 của Bộ Xây dựng
về việc thành lập Tổng công ty Xây dựng Bạch Đằng trên cơ sở tổ chức lại và nâng cấp các đơn vị của Công ty Xây dựng số 16 và một số đơn vị thuộc Bộ Xây dựng
Trang 30- Quyết định số 1738/QĐ-BXD ngày 13/12/2006 của Bộ Xây dựng về việc chuyển Tổng công ty Xây dựng Bạch Đằng sang tổ chức và hoạt động theo mô hình Công ty mẹ - Công ty con
- Quyết định số 54/QĐ-TTg và Quyết định số 55/QĐ-TTg ngày 12/01/2010 của Thủ tướng Chính phủ quyết định việc Tổng công ty Xây dựng Bạch Đằng là công ty con do Tập đoàn Phát triển nhà và đô thị nắm giữ 100% vốn điều lệ tại thời điểm thành lập
- Quyết định số 320/QĐ-BXD ngày 18/3/2010 của Bộ Xây dựng
về việc chuyển giao quyền và nghĩa vụ đại diện chủ sở hữu vốn nhà nước tại Tổng công ty Xây dựng Bạch Đằng cho Hội đồng quản trị (nay là Hội đồng thành viên) Công ty mẹ - Tập đoàn Phát triển nhà và đô thị
- Quyết định số 150/HUD-HĐTV ngày 30/6/2010 của Hội đồng thành viên Tập đoàn Phát triển nhà và đô thị về việc chuyển Công ty mẹ - Tổng công ty Xây dựng Bạch Đằng thành Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên
- Quyết định số 921/QĐ-BXD ngày 18/10/2012 của Bộ Xây dựng về việc chuyển giao quyền và nghĩa vụ Chủ sở hữu vốn nhà nước tại Tổng công ty Xây dựng Bạch Đằng từ Công ty mẹ - Tập đoàn Phát triển nhà và đô thị về Bộ Xây dựng
Trang 31Giai đoạn 1996 - 2006, Tổng công ty đã có bước tăng trưởng mạnh, tốc độ phát triển năm sau cao hơn năm trước; thi công nhiều công trình công nghiệp có quy mô lớn, kỹ thuật phức tạp và các công trình trọng điểm của Nhà nước
Năm 2006, theo Quyết định số 1738/QĐ-BXD ngày 13/12/2006 của Bộ Xây dựng, Tổng công ty Xây dựng Bạch Đằng được chuyển sang tổ chức và hoạt động theo mô hình Công ty mẹ - Công ty con Tổng công ty thực hiện cơ cấu, sắp xếp lại tổ chức theo mô hình mới, mở rộng liên doanh, liên kết và thực hiện đầu tư vốn vào các doanh nghiệp khác đạt hiệu quả, giữ vững nhịp độ tăng trưởng
Tháng 01/2010, Tổng công ty gia nhập Tập đoàn Phát triển nhà và đô thị theo các Quyết định số 54/QĐ-TTg và Quyết định số 55/QĐ-TTg ngày 12/01/2010 của Thủ tướng Chính phủ
Tháng 6/2010, Hội đồng thành viên Tập đoàn Phát triển nhà và đô thị quyếtđịnh chuyển Công ty mẹ - Tổng công ty Xây dựng Bạch Đằng thành Công
ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ theo Quyết định số 150/HUD-HĐTV ngày 30/6/2010
Tháng 10/2012, Bộ Xây dựng quyết định chuyển giao quyền và nghĩa vụ Chủ sở hữu vốn nhà nước tại Tổng công ty Xây dựng Bạch Đằng từ Công ty mẹ
2.1.2 Cơ cấu tổ chức và quản lý Tổng công ty
2.1.2.1.Sơ đồ cơ cấu tổ chức Tổng công ty
Trang 32Sơ đồ 2.1 :Cơ cấu tổ chức của Tổng công ty
SÀN GD BẤT ĐỘNG SẢN TRƯỜNG T CẤP KT - NV HP
Trang 332.1.2.2.Cơ cấu tổ chức của Tổng công ty
Bộ máy tổ chức của Tổng công ty bao gồm :
- Hội đồng thành viên: Là cơ quan đại diện trực tiếp chủ sở hữu Nhà nước tại Tổng công ty và thực hiện các quyền, nghĩa vụ của chủ sở hữu phần
vốn nhà nước đầu tư tại các Công ty con, Công ty liên kết Hội đồng thành viên hiện có 05 thành viên do Bộ Xây dựng bổ nhiệm với nhiệm kỳ 5 năm
- Kiểm soát viên: Kiểm soát viên do Bộ Xây dựng bổ nhiệm
để kiểm tra, giám sát các hoạt động trong Tổng công ty Kiểm soát viên hiện có
02 thành viên, với nhiệm kỳ3 năm
- Ban Tổng Giám đốc: Ban Tổng Giám đốc hiện có 07 thành viên, trong đó có Tổng Giám đốc và 6 Phó Tổng Giám đốc Tổng Giám đốc là
người đại diện theo pháp luật của Tổng công ty, điều hành mọi hoạt động của Tổng công ty
- Các phòng ban: Gồm các phòng ban với các chức năng và nhiệm vụ riêng biệt như sau:
+Phòng Kinh tế thị trường: Có chức năng nhiệm vụ chủ yếu là khai thác thị
trường, đấu thầu các dự án xây lắp; xây dựng phát triển thị trường
+Phòng Kế hoạch - Đầu tư: Có chức năng, nhiệm vụ chủ yếu là:
Xây dựng kế hoạch định hướng phát triển trung, dài hạn, hàng năm, hàng quý, hàng tháng; thực hiện công tác thống kê; theo dõi, hướng dẫn công tác xuất nhập khẩu;
Xây dựng, định hướng kế hoạch đầu tư; nghiên cứu, khảo sát, tìm kiếm cơ hội, dự án đầu tư Xây dựng quy chế quản lý dự án đầu tư; lập, thẩm định, quản
lý các dự án đầu tư Chủ trì thẩm định, kết quả đấu thầu đối với các dự án, gói thầu thuộc thẩm quyền quyết định của Tổng công ty Theo dõi tình hình triển khai các dự án
đầu tư; phân tích, đánh giá hiệu quả và tổng hợp báo cáo các dự án đầu tư của Tổng công ty
+Phòng Quản lý xây lắp: Có chức năng quản lý và tổ chức thực hiện công
Trang 34tác kỹ thuật thi công, chất lượng sản phẩm, thiết bị xe máy, bảo hộ lao động;
quản lý theo dõi các hợp đồng kinh tế xây lắp; phối hợp xây dựng các định mức, đơn giá nội bộ của Tổng công ty
+Phòng Tài chính kế toán: Có chức năng chủ yếu là quản lý vốn và tài sản,
hạch toán sản xuất kinh doanh, kiểm tra tài chính - kế toán; lập kế hoạch tài chính; cân đối các khoản thu, chi; xây dựng quy chế về quản lý tài chính; kiểm tra, giám sát việc thực hiện chế độ kế toán của Nhà nước và Quy chế quản lý tài chính của Tổng công ty; tổ chức kiểm kê tài sản theo quy định hiện hành của nhà nước; báo cáo tài chính hàng năm trình cấp có thẩm quyền phê duyệt
+Phòng Tổ chức lao động: Có chức năng chủ yếu là tổ chức thực hiện các
công tác: tổ chức - cán bộ, đào tạo, lao động, tiền lương, thanh tra, pháp chế, tự vệ; nghiên cứu xây dựng đề án, phương án sắp xếp tổ chức, bộ máy bao gồm việc thành lập, tách, nhập, giải thể; xây dựng chiến lược, đề án, phương án quy hoạch, đội ngũ cán bộ, kế hoạch đào tạo; thực hiện quy trình công tác cán bộ; thực hiện công tác chính sách lao động
0 + Văn phòng: Thực hiện nhiệm vụ chủ yếu các công tác đối ngoại, lễ tân, hành chính, quản trị, văn thư lưu trữ; quản lý trụ sở, thiết bị văn phòng, bảo vệ,
tự vệ, công tác thi đua khen thưởng
1 + Ban quản lý dự án đầu tư xây dựng Bạch Đằng: Có chức năng giúp Hội
đồng thành viên, Tổng Giám đốc Tổng công ty tổ chức thực hiện quản lý các dự án đầu tư xây dựng theo quy định của Nhà nước và các Quy chế của Tổng công ty
2 +Ban điều hành dự án: Có chức năng giúp Tổng Giám đốc Tổng công ty
quản lý, chỉ đạo, tổ chức thực hiện nhiệm vụ sản xuất kinh doanh của Tổng công
ty trong quá trình thi công các dự án xây lắp
+ Sàn giao dịch bất động sản Bạch Đằng: Có chức năng, nhiệm vụ giao dịch mua bán, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê mua, môi giới và thực hiện
các dịch vụ về bất động sản
2.1.3.Đặc điểm sản xuất kinh doanh
2.1.3.1.Đặc điểm quy trình công nghệ
Trang 35Tổng Công ty xây dựng Bạch Đằng Hải Phũng tổ chức hoạt động với một số ngành nghề kinh doanh, trong đó chủ yếu là : thi công các công trình dân dụng công nghiệp, thi công cầu, đờng và khoan thăm dò địa chất Ngành nghề của Tổng công ty xây dựng Bạch Đằng Hải Phũng mang tính đặc chủng nên dây chuyền công nghệ có những đặc trng riêng, song vẫn mang nét chung quy trình công nghệ của ngành xây dựng Hiện nay công ty áp dụng quy trình công nghệ chủ yếu sau :
Sơ đồ 2.2 : Quy trỡnh cụng nghệ của BDCC
+ Kiểm tra tài liệu thiết kế
đoạn cuối cùng Từ đó, góp phần làm giảm giá thành một cách đáng kể, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của Tổng công ty
2.1.3.2.Đặc điểm hoạt động tác động đến việc huy động vốn
Quá trình sản xuất kinh doanh của Tổng cụng ty xõy dựng Bạch Đằng Hải Phũng có những đặc điểm sau:
- Điều kiện sản xuất kinh doanh không ổn định, chịu ảnh hởng của nhiều nhân tố tự nhiên, kinh tế xã hội luôn luôn biến động theo địa điểm và giai đoạn thi công công trình, cụ thể:
+ Thời gian thi công thực hiện sản xuất thờng kéo dài làm cho vốn đầu tcũng nh vốn sản xuất bị ứ đọng, dễ gặp phải các tác động ngẫu nhiên xuất hiện theo thời gian nh trợt giá, phát sinh các công việc làm xuất hiện, những chi phí
có liên quan đến thời hạn sản xuất Đặc điểm này đòi hỏi Tổng công ty phải chuẩn bị một nguồn vốn lớn để có thể đáp ứng cho công trình
+ Các hạng mục công trình của Tổng công ty phần lớn tiến hành theo đơn
đặt hàng, cụ thể là theo những cam kết bởi hợp đồng kinh tế, nên sản phẩm rất đa dạng, nhiều màu sắc cá biệt phụ thuộc vào chủ đầu t, chủ công trình hay ngời sử
Trang 36dụng Đặc điểm này đòi hỏi Tổng công ty phải coi trọng công tác ký kết hợp
đồng, đấu thầu, chủ động tham gia vào xây dựng phơng án thiết kế và dự đoán.+ Do một số đặc điểm sản xuất, năng lực, về giá trị tổng sản lợng phải thực hiện., nên trong một số trờng hợp các đơn vị trực thuộc Tổng công ty cũng nhTổng công ty phải phối hợp với các công ty khác trong Tổng công ty hợp tác cùng thực hiện Vì vậy đòi hỏi trình độ tổ chức điều hành, phối hợp cao trong sản xuất kinh doanh cả về thời gian và không gian
+ Việc thực hiện chủ yếu phải tiến hành ngoài trời với không gian lớn nên chịu ảnh hởng của thời tiết, công việc lại nặng nhọc Điều này thờng làm gián
đoạn, quy trình sản xuất kinh doanh (Đặc biệt vào mùa ma) Do vậy Tổng công
ty phải dự trữ nhiều vật t, từ đó tăng dự trữ về vốn
+ Sản phẩm phần lớn là các công trình dân dụng (Nhà ở, khách sạn ), các công trình công nghiệp (nhà xởng, kho tàng, khu kỹ thuật ), các công trình giao thông (đờng bộ, đờng hầm, sân bay ), các công trình thuỷ điện(lớn, vừa và nhỏ), các công trình thuỷ lợi (kênh, mơng, đê, đập ) các công trình văn hoá - thể thao - tôn giáo (nhà văn hoá, khu thể thao, đền thờ, miếu mạo ) và nhiều hạng mục công trình khác đợc xây dựng tại nhiều nơi tuỳ theo yêu cầu của chủ
đầu t Công trình cũng nh sự tồn tại mang tính lịch sử vì vậy thờng phân bố rải rác Đồng thời các công trình đó cũng phục thuộc nhiều vào điều kiện của địa phơng Xây dựng mang tính cá biệt hay đa dạng về công dụng, vì vậy cần có sự linh hoạt về cách thức cấu tạo và phơng pháp chế tạo Bên cạnh đó sản phẩm của công ty có thể là những công trình lớn chẳng hạn nh khu công nghiệp, công trình Thuỷ Điện có kích thớc lớn, thời gian thi công dài, thời hạn sử dụng khá lâu có thể hàng thập kỷ, thế kỷ Nh vậy sản phẩm của Tổng công ty hình hành, trải qua một thời
kỳ dài từ khảo sát, thiết kế đến thi công xây lắp Chu kỳ tạo ra một sản phẩm mới là dài
và phụ thuộc vào nhiều yếu tố nh khả năng về vốn, thời tiết, khả năng cung ứng nguyên vật liệu Do vậy Tổng công ty cần huy động vốn với số lợng lớn, đủ để đáp ứng nhu cầu sản xuất kinh doanh trong thời gian dài
+ Vật t, máy móc thiết bị thi công cũng có ảnh hởng rất lớn tới tình hình tài chính của Tổng công ty vì hiện nay nhiều máy móc thiết bị của Tổng công ty quá cũ, lạc hậu, đồng thời thiếu sự đồng bộ, do đó Tổng công ty cần phải huy
động một lợng vốn lớn để đầu t mua sắm, đổi mới máy móc thiết bị công nhằm
đáp ứng nhu cầu sản xuất kinh doanh
Trang 372.2.Thực trạng huy động nguồn vốn ở Tổng công ty
Trang 38Qua bảng 2.1 chúng ta thấy : Năm 2011 có số nợ phải trả lên tới 24,695
tỷ đồng,năm 2012 là 21,527 tỷ đồng giảm 12,82% nguyên nhân là do trong hoạt động sản xuất kinh doanh nhu cầu về vốn giảm nên số nợ cũng đã giảm.Bước sang năm 2013 tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh ổn định,Tổng công ty làm chủ được tình hình tài chính nên tỷ lệ nợ phải trả về cơ bản giảm mạnh so với năm 2012 là 13,64%.Số nợ phải trả chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng nguồn vốn của Tổng công ty.Năm 2011 tỷ lệ nợ phải trả/tổng nguồn vốn là 81,89% ,năm 2012 là 75,75%,năm 2013 là 68,96% Tỷ lệ nợ phải trả/Tổng nguồn vốn phản ánh mặt lời và khó khăn của Tổng công ty.Đối với BDCC tỷ lệ này thấp có thể thấy : Là một Công ty số nợ vay ngày càng giảm cho thấy Tổng công ty đã
tự chủ khá tốt về tình hình tài chính trong giai đoạn kinh tế suy giảm như hiện nay, điều này khiến áp lực đối với Tổng công ty trong vấn đề trả nợ cũng giảm
đi rất nhiều Để phục vụ sản xuất kinh doanh, trong điều kiện vốn vay có hạn và còn phải chịu nhiều ràng buộc, Tổng công ty đã chọn phương án tăng vốn điều
lệ, tăng vốn chủ sở hữu mục đích tăng khả năng thanh toán và mức độ đảm bảo
an toàn vốn của Tổng công ty Đồng thời làm nguồn đối ứng cho việc mở rộng sản xuất kinh doanh Năm 2011 vốn chủ sở hữu của Tổng công ty là 3,152 tỷ đồng, năm 2012 là 4,898 tỷ đồng tăng 55,39%, năm 2013 là 5,394 tỷ đồng tăng 10,13% so với năm 2012 Điều này cho thấy Tổng công ty không chỉ tăng vốn điều lệ mà còn tự tăng nguồn vốn chủ sở hữu
Huy động nguồn vốn ở đây có thể nói là vấn đề sống còn của Tổng công ty
và Tổng công ty phải làm sao đảm bảo hiệu quả trong huy động nguồn vốn và
sử dụng nguồn vốn
2.2.2 Hoạt động huy động nguồn vốn của BDCC.
Là một trong những đơn vị có nền tảng lâu đời trong ngành công nghiệp xây dựng của Việt Nam.Quá trình hoạt động của BDCC được sự ủng hộ,chỉ đạo sát sao của Thường Vụ Đảng Ủy Tổng công ty,ban lãnh đạo Tổng công ty xây dựng Bạch Đằng
Ngay sau khi đi vào hoạt động chính thức theo mô hình công ty cổ phần, ban lãnh đạo Tổng Công ty đã từng bước có những chiến lược và kế hoạch phát
Trang 39triển Tổng công ty, xây dựng Tổng công ty trở thành đơn vị kinh tế tiên tiến vững mạnh của Ngành Việc phát triển và mở rộng sản xuất kinh doanh, hoàn thiện cơ sở vật chất kỹ thuật là vấn đề tất yếu phù hợp với xu thế thị trường Trong 3 năm, từ năm 2011 đến năm 2013 BDCC đã tiến hành một số công việc:-Phát triển sản xuất kinh doanh: hoàn thành nhiều công trình trọng điểm, thu vốn tốt; tăng năng suất lao động, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn
-Đầu tư mua sắm một số trang thiết bị phục vụ sản xuất như: máy xọc đứng, cần trục 20 tấn,máy ủi …
-Mua nguyên liệu phục vụ sản xuất
-Mở rộng quy mô hoạt động: Phát triển lĩnh vực vận tải (mua 3 đầu xe)
Chiến lược phát triển hoạt động sản xuất kinh doanh của Tổng công ty cần rất nhiều vốn, nguồn vốn hiện tại chưa đáp ứng được nhu cầu của các dự án phát triển, do vậy BDCC phải tiếp cận được nguồn vốn cần thiết với nhiều cách khác nhau
Nghiên cứu thực tế tại BDCC, cho thấy việc huy động nguồn vốn của của Tổng công ty diễn ra chủ yếu theo hình thức: Vay ngân hàng, tín dụng thương mại, phát hành cổ phiếu (tăng vốn điều lệ), gia nhập thị trường chứng khoán làm tăng giá trị doanh nghiệp
Thực trạng nguồn vốn và công tác huy động vốn tại BDCC thể hiện như sau:
Trang 40Qua bảng 2.2,cho thấy cơ cấu vốn vay và vốn CSH trong tổng vốn là tỷ lệ hợp lý.Cơ cấu nguồn vốn qua các năm về mặt tỷ lệ không thay đổi nhiều,nhưng
về mặt giá trị thì năm sau tăng hơn so với năm trước.Cụ thể :năm 2011 vốn CSH
là 3,546,969,838,729 VNĐ chiếm 12,56% tổng vốn,năm 2012 vốn CSH tăng lên đạt 5,202,635,927,489 VNĐ chiếm 19,46% tổng vốn.Nguyên nhân tăng tỷ trọng của Vốn CSH trong tổng vốn là do năm 2012 Tổng công ty đầu tư vào nhiều dự
án và thu được hiệu quả cao.Mặt khác,Tổng công ty có được tình hình tài chính
ổn định nên việc vay nợ các tổ chức tín dụng,ngân hàng giảm đi đáng kể Đến đây ta thấy được sự thành công của Công ty, vì trong cơ cấu vốn CSH vốn tự bổ sung tăng lên không ngừng
Ngay từ khi chuyển sang cổ phần hóa Tổng công ty đã gặp một số khó khăn như: Tại thời điểm ngày 31/12/2013 còn nhiều cổ đông chưa góp vốn điều lệ, cụ thể:
441 tỷ đồng vào tháng 12/2012 và đến 12/2013 vốn điều lệ vẫn được duy trì ổn định Để gắn bó nhân viên với công ty, gắn kết quyền và nghĩa vụ, khuyến khích nhân viên toàn tâm toàn lực vì sự phát triển Tổng công ty, BDCC quyết định bán