1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

nghiên cứu biến đổi lâm sàng, huyết động trước và sau phẫu thuật thay van hai lá bằng van cơ học loại saint jude master

177 684 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 177
Dung lượng 6,74 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

tuy nhiên, có rất ít nghiên cứu về biến đổi lâm sàng và huyết động ở bệnh nhân bệnh VHL sau khi được thay van trong giai đoạn trung hạn.Van tim nhân tạo cơ học 2 cánh loại Saint Jude Mas

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ QUỐC PHÒNG

VIỆN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC Y - DƯỢC LÂM SÀNG 108

NGUYỄN HỒNG HẠNH

NGHI£N CøU BIÕN §æI L¢M SµNG, HUYÕT

§éNG TR¦íC Vµ SAU PHÉU THUËT THAY VAN HAI

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ QUỐC PHÒNG

VIỆN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC Y - DƯỢC LÂM SÀNG 108

NGUYỄN HỒNG HẠNH

NGHI£N CøU BIÕN §æI L¢M SµNG, HUYÕT

§éNG TR¦íC Vµ SAU PHÉU THUËT THAY VAN HAI

B»NG VAN C¥ HäC LO¹I SAINT JUDE

MASTERChuyên ngành: Nội Tim mạch

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu của kết quả luận án là trung thực và chưa có ai công bố trong bất kì công trình nào khác

Nghiên cứu sinh

Nguyễn Hồng Hạnh

Trang 4

Lời cảm ơn

Nhân dịp hoàn thành luận án, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến:

- Ban lãnh đạo bệnh viện E và Trung tâm Tim mạch đã luôn tạo mọi điều kiện cho tôi trong suốt quá trình làm luận án Xin cảm ơn các đồng nghiệp ở Trung tâm Tim mạch đã luôn phấn đấu cho sự phát triển của Trung tâm, từ đó tôi có được nguồn tư liệu quý giá để hoàn thành nghiên cứu.

- Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS.TS Phạm Nguyên Sơn, PGS.TS Phạm Thắng, hai người thầy đã luôn tạo điều kiện và tận tình hướng dẫn tôi trong suốt quá trình học tập.

- Xin cảm ơn Bộ môn Tim mạch, phòng Sau đại học, ban lãnh đạo của Viện nghiên cứu khoa học Y dược Lâm sàng 108 đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu tại Viện.

- Xin chân thành cảm ơn các thầy, cô trong các hội đồng thông qua bộ môn, hội đồng bảo vệ cơ sở, hội đồng kiểm tra số liệu, các thầy cô phản biện độc lập, hội đồng bảo vệ cấp Viện đã cho tôi những ý kiến vô cùng quý báu, giúp cho luận án được hoàn chỉnh hơn.

- Xin cảm ơn 111 bệnh nhân đã tình nguyện tham gia nghiên cứu này, giúp cho tôi có được những tư liệu nghiên cứu.

Và cuối cùng, xin cảm ơn gia đình, tứ thân phụ mẫu và bạn bè đã luôn

ở bên tôi, động viên tôi hoàn thành luận án này.

Hà Nội, ngày 21 tháng 5 năm 2012

Tác giả

Trang 5

Nguyễn Hồng Hạnh

Trang 6

CÁC CHỮ VIẾT TẮT

ACC/AHA : (American Heart Association)

Hội Tim mạch Mỹ

ASE : (American Society of Echocardiography)

Hội SÂ tim Hoa Kỳ

Phân số tống máu thất trái

EROA : (Effective regurgitation orifice area)

Diện tích hở hiệu dụng

G max : Gradient - Chênh áp tối đa

Trang 7

G mean : Gradient - Chênh áp trung bình

HHoHL : Hẹp hở van hai lá

Diện tích mở van hai lá

MVAI : (The mitral valve area index)

Chỉ số diện tích mở van hai lá

Hội Tim New York

PAPs : (Systolic pressure of the pulmonary artery)

Áp lực tâm thu động mạch phổi

Trang 8

SJM : Saint Jude Master

VTI : (The time-velocity integral)

Tích phân vận tốc theo thời gian

Tổ chức y tế thế giới

Trang 9

và chiếm 53,7% bệnh nhân tim nằm viện [1] Bệnh thường dẫn đến các biến chứng như suy tim ở lứa tuổi lao động, biến chứng tắc mạch như tai biến mạch não, tắc mạch ngoại vi và tổn thương các tạng như gan, thận, phổi gây gánh nặng cho gia đình và xã hội.

Điều trị bệnh VHL gồm nội khoa, các phương pháp can thiệp qua da

và ngoại khoa Khi VHL bị tổn thương nặng như xơ hóa, dầy, vôi, co rút lá van gây ảnh hưởng đến huyết động thì phẫu thuật thay van vẫn là phương pháp tối ưu nhất cho bệnh nhân

Suốt 49 năm qua, kể từ khi Starr và Edward thành công ca phẫu thuật thay van tim đầu tiên trên thế giới vào năm 1961 [74], kĩ thuật thay van tim, công nghệ chế tạo các loại van nhân tạo không ngừng được cải tiến và số lượng bệnh nhân van nhân tạo ngày càng tăng Cho đến nay, trên thế giới có khoảng 80 kiểu van tim nhân tạo khác nhau, mỗi loại van đều có ưu điểm, nhược điểm riêng nhưng chưa có loại van nhân tạo nào mang đầy đủ đặc tính của van tim tự nhiên Hàng năm, ở Anh có hơn 6.000 và ở Mỹ có hơn 60.000

Trang 10

bệnh nhân được thay van tim nhân tạo [50], [126] Ở Việt Nam, phẫu thuật thay VHL được thực hiện từ năm 1971 [12], cho đến nay đã có nhiều trung tâm phẫu thuật tim với số lượng bệnh nhân được phẫu thuật thay van ngày càng nhiều Với xu hướng “quần thể” người mang van tim nhân tạo ngày càng tăng, đòi hỏi những hiểu biết đầy đủ về van nhân tạo ở nhiều khía cạnh Trên thế giới đã có nhiều nghiên cứu về kết quả sớm ngay sau phẫu thuật thay VHL với các tiêu chí nghiên cứu chính là tỉ lệ tử vong, chảy máu, nhiễm trùng tuy nhiên, có rất ít nghiên cứu về biến đổi lâm sàng và huyết động ở bệnh nhân bệnh VHL sau khi được thay van trong giai đoạn trung hạn.

Van tim nhân tạo cơ học 2 cánh loại Saint Jude Master (SJM) là loại van cơ học được sử dụng nhiều nhất trên thế giới [100] và khá phổ biến ở Việt Nam nhưng tại Việt Nam chưa có nghiên cứu nào về biến đổi lâm sàng, huyết động, kích thước các buồng tim và chức năng tâm thu thất trái ở bệnh nhân sau khi được thay van tim bằng van SJM, với phương tiện nghiên cứu là siêu âm Doppler tim qua thành ngực – một phương tiện đang được ứng dụng phổ biến trong các trung tâm tim mạch trên thế giới và trong nước

Trang 11

Với những lí do trên, chúng tôi tiến hành đề tài “Nghiên

cứu biến đổi lâm sàng, huyết động trước và sau phẫu thuật thay van

hai lá bằng van cơ học loại Saint Jude Master”, nhằm 2 mục tiêu

sau:

1. Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng trước phẫu thuật ở bệnh nhân bệnh van hai lá được thay van cơ học loại Saint Jude Master tại Trung tâm Tim mạch – Bệnh viện E.

2. Nghiên cứu biến đổi lâm sàng và huyết động sau phẫu thuật thay van hai lá bằng van cơ học loại Saint Jude Master

Trang 12

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN

1.1 CHẨN ĐOÁN BỆNH VAN HAI LÁ

1.1.1 Bệnh học bệnh van hai lá

1.1.1.1 Nguyên nhân và giải phẫu bệnh

Bệnh lí VHL được chia làm 2 thể bệnh chính là hẹp VHL (HHL) và hở VHL (HoHL) có nguyên nhân và sinh lí bệnh khác nhau Ở các nước Châu

Âu và Mỹ, bệnh lí VHL chủ yếu là HoHL với nguyên nhân chính là thoái hóa van và bệnh van tim do thiếu máu [29], [63], [143] Ở các nước đang phát triển thì bệnh lí VHL chủ yếu là tổn thương phối hợp giữa HHL và HoHL với nguyên nhân chính là bệnh van tim do thấp [41], [88], [114] Trên thế giới, thấp tim và bệnh van tim do thấp gặp 3-18‰ trong quần thể [86], [105], [111], [122], [125], [130] với khoảng 15,6 triệu người mắc bệnh [87], [104] chiếm 12-65% bệnh nhân tim nằm viện [140] và khoảng 233.000 người bị tử vong hàng năm [97] Ở Việt Nam, thấp tim và bệnh van tim do thấp trong quần thể trước năm 1963 là 21‰ [1] nhưng nhờ chương trình phòng thấp cấp 2 quốc gia, bệnh có

xu hướng giảm dần [11] và hiện nay là 2,3-3,94‰ [3], [6], [14], [15]

Trong bệnh van tim do thấp, tổn thương thường gặp nhất là VHL với tỉ

lệ 87,6-100% và tỉ lệ cao ở nữ [4], [5], [11], [26], [52], [59], [60], [90], [99], [101] được cho là cơ chế tự miễn nhưng tại sao tổn thương do thấp hay gặp ở VHL và ở giới nữ thì người ta vẫn chưa biết [31], [71], [89] Bệnh bắt đầu bằng việc xuất hiện những hạt thấp từ bờ tự do của lá van, vùng 2 lá van áp vào nhau khi đóng; sau đó các lá van và tổ chức dây chằng dầy lên, dính và co rút Sau nhiều năm tiến triển, lá van trở lên dày, xơ hóa, vôi hóa và hình ảnh

Trang 13

đặc trưng là hẹp hở VHL, lỗ van có hình bầu dục với bờ van không đều, dính mép van [44], [49].

Hình 1.1 Tổn thương van hai lá do thấp [44], [49]

A: Van hai lá bình thường; B-C: 2 kiểu hẹp van hai lá

D: Hình ảnh đại thể tổn thương hẹp hai lá do thấp

E: Hình ảnh đại thể tổn thương vôi hóa bộ máy van hai lá

Trang 14

Các nguyên nhân khác của bệnh lí VHL là [29]:

- Thoái hóa: tổn thương chủ yếu là vôi hóa vòng van, gây HoHL là chủ yếu, gặp nhiều ở các nước Châu Âu và Mỹ

- Thiếu máu cơ tim, gây HoHL

- Sa VHL gây HoHL Chẩn đoán sa VHL khi lá van sa ≥ 2 mm so với mặt phẳng vòng van khi van đóng Với tiêu chuẩn này, tỉ lệ sa VHL khoảng 1

- 2,5% trong quần thể Ở người lớn, tần suất sa VHL ở nữ khoảng 3 - 5%, nam giới khoảng 0,5% [29], [33], [68], [115] Sa VHL nguyên phát có yếu tố gia đình Tổn thương cơ bản là tăng sinh chất nhầy gây thừa mô lá van, lá van dày (≥ 5 mm), dây chằng mỏng và dài ra, có thể gây HoHL, thường kết hợp với dãn vòng VHL (đường kính vòng VHL > 35mm)

- Bất thường bẩm sinh bộ máy VHL (ít gặp như hội chứng Lutembacher, VHL hình dù, bệnh cơ tim phì đại )

- Những nguyên nhân hiếm gặp: u nhầy nhĩ trái, bệnh của mô liên kết

- 15% không rõ nguyên nhân

1.1.1.2 Sinh lí bệnh và biến đổi huyết động

HHL và HoHL có sinh lí bệnh - biến đổi huyết động khác nhau, trong

đó tổn thương hẹp hở VHL (HHoHL) có sinh lí bệnh là sự kết hợp của cả 2 tổn thương HHL và HoHL

Hẹp hai lá: HHL là tình trạng nghẽn dòng máu vào thất trái trong thì

tâm trương do tổn thương cấu trúc bộ máy VHL Diện tích mở lỗ VHL (MVA) bình thường khoảng 4-5 cm2 HHL khi MVA < 2,5cm2 Tăng chênh

áp tâm trương là biểu hiện cơ bản của HHL gây tăng áp lực nhĩ trái, dãn nhĩ

Trang 15

trái, sau đó làm tăng áp lực tĩnh mạch phổi [84], dẫn đến phù phổi khi áp lực tĩnh mạch phổi cao hơn áp lực keo huyết tương Tuy nhiên, nhiều bệnh nhân HHL mãn tính có áp lực tĩnh mạch phổi rất cao cũng không bị phù phổi do những bệnh nhân này bị giảm tính thấm của mạng vi mạch phổi Các tiểu động mạch phổi (ĐMP) co mạch phản ứng, tăng sản lớp nội mạc, phì đại lớp trung mạc dẫn đến tăng áp lực ĐMP, lâu ngày dẫn đến suy tim phải với các triệu chứng gan to, phù chân, các buồng tim phải dãn [9], [21], [24], [117], [128].

Khi MVA > 1,5cm2 thì thường không có triệu chứng lúc nghỉ Tuy nhiên, khi có yếu tố tạo thuận như gắng sức, stress cảm xúc, nhiễm trùng, mang thai, RN với đáp ứng tần số thất nhanh làm tăng dòng máu qua VHL hoặc giảm thời kì đổ đầy tâm trương, làm tăng áp lực nhĩ trái và có thể gây ra triệu chứng Biểu hiện bệnh trước hết là suy tim phải nhưng lại có những cơn phù phổi cấp của suy tim trái

Thông thường thì chức năng thất trái không bị ảnh hưởng trong HHL, nhưng có khoảng 25-30% số bệnh nhân có giảm nhẹ chức năng thất trái do hậu quả của việc giảm lâu ngày dòng máu xuống thất trái HHL nặng có thể

có hiện tượng giảm cung lượng tim nặng dẫn đến hội chứng kém tưới máu, huyết áp thấp Phần lớn bệnh nhân HHL, sau khi giải quyết HHL thì chức năng thất trái sẽ hồi phục về bình thường Tuy nhiên một số trường hợp tồn tại sự suy giảm chức năng thất trái này kể cả sau khi đã giải quyết HHL Do

đó việc phát hiện và giải quyết HHL sớm cho bệnh nhân rất quan trọng

Khi nhĩ trái dãn to lâu ngày sẽ gây biến chứng loạn nhịp nhĩ, đặc biệt là rung nhĩ (RN) và huyết khối nhĩ trái [33], [91], [103] làm tăng nguy cơ tắc mạch, giảm khả năng gắng sức

Trang 16

Hở hai lá: HoHL là hiện tượng dòng máu phụt ngược từ thất trái lên

nhĩ trái trong thì tâm thu do có bất thường của bộ máy VHL Có 2 thể bệnh là HoHL cấp và mạn tính có bệnh cảnh lâm sàng hoàn toàn khác nhau [7], [21], [24], [29] HoHL cấp do đứt dây chằng, vỡ cơ nhú trong nhồi máu cơ tim hoặc viêm nội tâm mạc nhiễm khuẩn, diễn biến thường nặng và cấp tính, gây suy tim trái cấp HoHL mạn tính thường gặp nhất là thấp tim và sa VHL, thoái hóa VHL

HoHL mạn tính làm tăng thể tích cuối tâm trương thất trái làm thất trái dãn và phì đại, tăng co bóp bù trừ làm phân số tống máu (EF) ở ngưỡng bình thường cao trong nhiều năm, cho đến khi thất trái mất bù thì EF sẽ giảm Dòng máu phụt ngược từ thất trái vào nhĩ trái trong thì tâm thu làm nhĩ trái dãn to và giảm nguy cơ hình thành huyết khối nhĩ trái nhưng lại tăng nguy cơ viêm nội tâm mạc nhiễm khuẩn Tăng áp lực nhĩ trái lâu ngày làm tăng áp lực ĐMP, tăng gánh thất phải Biểu hiện trước hết là suy tim trái, sau đó là suy tim toàn bộ [7], [8], [117], [128]

1.1.1.3 Diễn biến bệnh

Hẹp hai lá: Tiến triển tự nhiên của HHL không được điều trị đã được

nghiên cứu từ những năm 1950 [140] HHL là 1 bệnh có quá trình tiến triển từ

từ và liên tục, mô hình thay đổi theo địa dư Ở các nước đang phát triển, thời gian dung nạp từ khi bị thấp tim đến khi có triệu chứng khoảng 20-40 năm Khi có triệu chứng, bệnh tiến triển nhanh hơn đến giai đoạn mất bù phải can thiệp VHL khoảng 10 năm, nhưng khi có tăng áp ĐMP thì chỉ khoảng 3 năm [8] Mô hình này đã thay đổi ở các nước châu Âu và Bắc Mỹ do tỉ lệ bệnh van tim do thấp đã giảm rất nhiều: tuổi trung bình có triệu chứng là 50-60 tuổi; 1/3 số bệnh nhân nong VHL (NVHL) > 65 tuổi Ở những nước đang phát triển, bệnh tiến triển nhanh hơn do quá trình nhiễm liên cầu nặng và liên tục,

Trang 17

điều kiện sống kém hơn và có thể có sự khác nhau về gen, bệnh có triệu chứng nặng vào khoảng 20 tuổi và mỗi năm, MVA giảm 0,09-0,32cm2/năm 30-40% bệnh nhân HHL có triệu chứng bị RN và huyết khối nhĩ trái, làm giảm khả năng gắng sức [95], tăng nguy cơ tắc mạch, tăng nguy cơ tử vong [91] Tỉ lệ sống sau 10 năm ở bệnh nhân HHL có RN là 25% so với nhóm nhịp xoang (NX) là 46% Tỉ lệ tắc mạch ở bệnh nhân HHL do thấp khoảng 1,5-4,7%, cao hơn nhiều nhóm HoHL và tăng lên 10-20% bệnh nhân HHL có

RN 1/3 bệnh nhân tắc mạch xảy ra trong vòng 1 tháng đầu xuất hiện RN và 2/3 còn lại xảy ra trong năm đầu Tần suất tắc mạch có vẻ như không liên quan đến độ nặng của HHL, cung lượng tim, kích thước nhĩ trái và suy tim Nhiều khi, tắc mạch là triệu chứng đầu tiên của bệnh nhân HHL Nguyên nhân tử vong ở bệnh nhân HHL không được điều trị: 60-70% phù phổi, 20-30% tắc mạch hệ thống, 10% nhồi máu phổi, 1-5% nhiễm trùng [93], [140]

Hở hai lá: Hở VHL được chia làm 2 thể HoHL cấp và mạn tính có

nguyên nhân, diễn biến lâm sàng và cách xử trí khác nhau Tiến triển của HoHL cấp do đứt dây chằng hoặc cơ nhú sau chấn thương, nhiễm trùng, thiếu máu hoặc vô căn, có tỉ lệ chết 6,3% mỗi năm và có 63% tiến triển đến suy tim

ứ trệ trong khoảng 10 năm Đột tử có thể từ 3,1% đến 12,7% mỗi năm nếu phân số tống máu < 50% [29] Nhồi máu cơ tim có HoHL tiến triển, tỉ lệ chết 29% trong 5 năm so với nhóm chứng là 12%, thường có tụt huyết áp và phù phổi Nên sửa VHL có đặt vòng van kết hợp bắc cầu chủ vành cho bệnh nhân nhồi máu cơ tim có HoHL nặng bất ổn về lâm sàng dù đã điều trị nội khoa tối

ưu HoHL mạn tính do thấp ổn định hơn, triệu chứng suy tim sau khoảng 6-10 năm, khi có triệu chứng là chức năng thất trái đã mất bù Vì vậy, bệnh nhân

có triệu chứng suy tim sung huyết mặc dù có chức năng thất trái bình thường trên SÂ tim (EF > 0,6, Ds < 40 mm) vẫn cần được phẫu thuật Tỉ lệ tử vong

Trang 18

sau khi có triệu chứng 5 năm mà không được điều trị là 22% với các biến chứng suy tim, phù phổi, viêm nội tâm mạc nhiễm khuẩn và RN

1.1.2 Triệu chứng lâm sàng

1.1.2.1 Triệu chứng cơ năng

Triệu chứng đầu tiên thường là khó thở, lúc đầu khó thở khi gắng sức, sau đó là khó thở kịch phát về đêm và khó thở khi nằm Phân độ chức năng của suy tim theo NYHA (Hội Tim New York) đã được sử dụng từ lâu, dựa vào triệu chứng khó thở và khả năng gắng sức

Bảng 1.1 Phân độ chức năng theo NYHA [8]

Độ NYHA Khả năng gắng

NYHA I Không hạn chế Vận động thể lực thông thường không gây

mệt, khó thở, hồi hộp hoặc đau ngực

NYHA II Hạn chế nhẹ Bệnh nhân khỏe khi nghỉ ngơi Vận động

thể lực thông thường gây mệt, khó thở, hồi hộp hoặc đau ngực

NYHA III Hạn chế nhiều Bệnh nhân khỏe khi nghỉ ngơi

Trang 19

nhân có cơn hốt hoảng bị sa VHL [29] Đôi khi hoàn cảnh phát hiện ra bệnh

là biến chứng tắc mạch như tai biến mạch não, mất thị lực đột ngột

1.1.3 Triệu chứng cận lâm sàng

1.1.3.1 Điện tim

- Sóng P rộng và 2 đỉnh nếu còn nhịp xoang (thấy rõ ở chuyển đạo DII) hoặc pha âm của sóng P ở chuyển đạo V1 sâu và lớn hơn 0,04 giây [8], [21], [29], [32]

- Rung nhĩ (RN) sóng lớn hay gặp

- Dày thất phải gợi ý tăng áp ĐMP

- Trong sa VHL điện tim thường bình thường, có thể thấy biến đổi ST-T không đặc hiệu, sóng T đảo ngược, sóng Q nổi bật, QT kéo dài, 1 số rối loạn nhịp nhẹ

- Trong HoHL có thể thấy dấu hiệu dày thất trái

1.1.3.2 X- quang tim phổi

Trang 20

- Tư thế trước sau (phim thẳng) thấy bờ tim trái có 4 cung là: cung động mạch chủ, cung động mạch phổi, cung tiểu nhĩ trái và cung thất trái Một số trường hợp có 5 cung khi nhĩ trái dãn to và bộc lộ ra bên trái, dưới cung tiểu nhĩ trái Bờ dưới phải có bóng chồng hình (do nhĩ trái dãn) Có thể thấy hình ảnh vôi hóa của lá van hoặc tổ chức dưới van khi chụp X-quang với tia cứng hoặc chiếu dưới màn tăng sáng.

- Tư thế nghiêng trái: có uống thuốc cản quang thấy nhánh phế quản gốc trái bị đẩy lên trên và nhĩ trái đè vào thực quản ở 1/3 dưới

- Các buồng tim dãn được biểu hiện tổng thể trên phim chụp X-quang tim phổi thẳng bằng chỉ số tim ngực (CSTN) tăng [81], [96]

- Ngoài ra, có thể thấy hình ảnh phổi ứ huyết

1.1.3.3 Siêu âm tim

Siêu âm (SÂ) tim là xét nghiệm cơ bản nhất trong chẩn đoán và đánh giá mức độ nặng của bệnh lí VHL, đánh giá các biến đổi huyết động và giúp chỉ định điều trị [20], [22], [23], [25], [42], [142]

Đánh giá độ tổn thương của bộ máy VHL thường dùng thang điểm SÂ Wilkins (bảng 2.2) Bộ máy VHL được cho điểm từ 4-16 điểm, điểm càng cao tổn thương VHL càng nặng

Đánh giá độ nặng của HHL theo hội SÂ tim Mỹ (ASE) 2009, lấy tiêu chuẩn chính là diện tích mở VHL: MVA < 1 cm2 là hẹp khít, MVA 1-1,5 cm2

Trang 21

Có thể bình thường hoặc không

Bình thường /DãnBình thường /Dãn

Có thể bình thường hoặc không

Thường dãnThường dãnTrôi van, đứt cơ nhú, bất thường

Đậm đặcThường parabol

Đậm đặcTam giác với đỉnh sớm

Dòng chảy TMP Sóng S trội Sóng S dẹt Sóng D trội

- Trôi lá van (nhất là lá trước) hoặc đứt cơ nhú

- Dòng chảy va vào thành nhĩ và xoáy

- Đảo ngược sóng S của dòng chảy tĩnh mạch phổi

- Quầng hội tụ lớn

- Dòng chảy trung tâm diện tích lớn (> 40% diện tích nhĩ trái) Lưu ý

Trang 22

là thông số này không được hội SÂ tim châu Âu công nhận.

Bảng 1.3 Lượng giá hở hai lá theo ACC/AHA 2006 [36]

1.1.3.4 Chụp mạch vành

Chụp động mạch vành sàng lọc trước phẫu thuật cho các bệnh nhân có yếu tố nguy cơ bệnh mạch vành [24]

Trang 23

1.2 ĐIỀU TRỊ BỆNH VAN HAI LÁ

Dựa vào các thử nghiệm lâm sàng đã có, phân loại khuyến cáo dựa trên mức độ bằng chứng Mức độ bằng chứng A là mức độ được chứng minh từ nhiều nghiên cứu đa trung tâm, nhiều thử nghiệm ngẫu nhiên, phân tích đa biến Mức độ bằng chứng B là mức độ được chứng minh, tuy nhiên nghiên cứu đa trung tâm còn hạn chế, có 1 hoặc không có thử nghiệm ngẫu nhiên Mức độ bằng chứng C là mức độ được chứng minh, tuy nhiên nghiên cứu đa trung tâm rất hạn chế, chỉ có các nghiên cứu nhỏ, ý kiến của các chuyên gia Khuyến cáo loại I là khuyến cáo nên thực hiện vì lợi ích cao hơn nhiều so với nguy cơ Khuyến cáo loại IIa là khuyến cáo nên thực hiện vì lợi ích cao hơn nguy cơ, tuy nhiên cần thêm các nghiên cứu để khẳng định Khuyến cáo loại IIb là khuyến cáo nên cân nhắc khi thực hiện vì lợi ích có thể hơn nguy cơ, cần thêm các nghiên cứu lớn đa trung tâm Khuyến cáo loại III là khuyến cáo không nên thực hiện vì nguy cơ nhiều hơn lợi ích

Điều trị bệnh VHL gồm nội khoa, can thiệp VHL qua da và ngoại khoa

1.2.1 Điều trị nội khoa

Điều trị nội khoa mang tính chất điều trị triệu chứng và dự phòng biến chứng, làm chậm tiến triển của bệnh Điều trị triệu chứng gồm điều trị suy tim, rung nhĩ Điều trị dự phòng gồm phòng thấp cấp 2, dự phòng viêm nội tâm mạc nhiễm khuẩn, chống đông dự phòng tắc mạch [28], [29]

1.2.2 Nong van hai lá bằng bóng qua da

Được chỉ định khi bệnh nhân có HHL mức độ vừa -> khít, có triệu chứng, hoặc có tăng áp ĐMP với thang điểm SÂ Wilkins ≤ 8 điểm, cân nhắc khi Wilkins 9-10 điểm Chống chỉ định NVHL khi có HoHL ≥ 2/4, có huyết

Trang 24

khối nhĩ trái và không nên NVHL khi Wilkins ≥ 11 điểm, hoặc có tổn thương đáng kể van động mạch chủ kèm theo [8], [21], [29] Kết quả sớm của NVHL tốt hơn phẫu thuật tách van tim kín nhưng kết quả trung hạn và dài hạn thì tương tự [29].

1.2.3 Điều trị ngoại khoa

Có 3 loại phẫu thuật: (1) tách VHL, (2) sửa VHL và (3) thay VHL [29]

1.2.3.1 Phẫu thuật tách van hai lá

Phẫu thuật tim kín: Là phẫu thuật tách VHL không dùng tim phổi

máy trong điều trị HHL Đường phẫu thuật thông thường là đường mở ngực bên trái, qua liên sườn 4 hoặc 5, VHL được thăm dò bằng ngón tay qua tiểu nhĩ trái, sau đó sẽ được tách bằng tay hoặc bằng dụng cụ

Tỉ lệ tử vong trong phẫu thuật tách van tim kín < 1% Kết quả sớm và sau 5 năm của phẫu thuật tách van (MTV) tim kín khá tốt với những cải thiện

rõ rệt về triệu chứng lâm sàng nếu diện tích lỗ van sau khi tách được > 3 cm2

và không gây hở kèm theo Tỉ lệ phải phẫu thuật lại do tái hẹp sau 5 năm khoảng 4-7% [34]

Chỉ định MTV tim kín tương tự nong van hai lá bằng bóng (NVHL) Mặc dù phẫu thuật tách van tim kín là một bước ngoặt trong lịch sử ngoại khoa điều trị bệnh HHL, nhưng ngày nay đã được thay thế bằng NVHL Phẫu thuật này có ưu điểm là chi phí thấp, nhược điểm là thời gian nằm viện lâu, bệnh nhân đau hơn và biến chứng sớm nhiều hơn

Phẫu thuật tim hở: Là phẫu thuật tách VHL có dùng tim phổi máy

trong điều trị HHL Chỉ định tương tự phẫu thuật tim kín nhưng áp dụng cho những trường hợp có kèm huyết khối trong nhĩ trái và tiểu nhĩ trái Ưu điểm

Trang 25

của phẫu thuật này so với MTV tim kín là có thể nhìn trực tiếp VHL nên tách VHL chính xác và ít biến chứng hơn, có thể lấy huyết khối trong nhĩ trái và tiểu nhĩ trái Phẫu thuật tách van tim với tim phổi máy ngày nay rất ít được chỉ định, ưu điểm so với phẫu thuật tách van tim kín là có thể nhìn trực tiếp tổn thương VHL nên thao tác phẫu thuật dễ dàng và chính xác hơn, có thể lấy huyết khối nhĩ trái nếu có Chỉ định trong tương tự NVHL nhưng có huyết khối nhĩ trái kèm theo [29].

1.2.3.2 Phẫu thuật sửa van hai lá

Phẫu thuật sửa VHL lần đầu tiên được áp dụng cho HoHL do thấp, nhưng khoảng 20 năm gần đây, phẫu thuật sửa VHL được thực hiện ngày càng nhiều và chủ yếu áp dụng cho HoHL nặng do dãn vòng van, do thoái hóa hoặc bệnh van tim do thiếu máu, tỉ lệ cao ở những nước châu Âu và Mỹ [137] Kết quả sớm ngay sau phẫu thuật phụ thuộc rất nhiều vào kinh nghiệm của phẫu thuật viên (kinh nghiệm đánh giá thương tổn và kĩ thuật sửa) Tỉ lệ

tử vong liên quan đến phẫu thuật là 1,5% - 2%

Phẫu thuật sửa VHL chiếm tỉ lệ 50% ở Châu Âu và 90% ở Mỹ [63] trong phẫu thuật VHL ở bệnh HoHL nhưng chiếm tỉ lệ không nhiều ở các nước đang phát triển do bệnh VHL ở Châu Âu và Mỹ phần lớn là do thoái hóa hoặc bệnh van tim do thiếu máu, trong khi ở các nước đang phát triển, phần lớn là bệnh van tim do thấp nên phẫu thuật chủ yếu là thay van [29] Tỉ lệ phẫu thuật lại sau sửa van trong điều trị HoHL khoảng 7-10% sau 10 năm: 70% là do kĩ thuật phẫu thuật lần đầu và 30% do bệnh VHL tiếp tục tiến triển

Tỉ lệ tử vong liên quan đến phẫu thuật sửa van là < 2% [35]

Ưu điểm của phẫu thuật sửa van là giữ được van tự nhiên của bệnh nhân, bảo tồn được chức năng thất trái và cải thiện tình trạng huyết động

Trang 26

Bệnh nhân không phải dùng thuốc chống đông lâu dài nếu nhịp xoang Giảm nguy cơ viêm nội tâm mạc nhiễm khuẩn Có thể thực hiện đồng thời một số thủ thuật như lấy máu cục trong tim, khâu chân tiểu nhĩ trái, phẫu thuật Maze Nhược điểm là phụ thuộc nhiều vào kinh nghiệm của phẫu thuật viên, mặt khác, trong bệnh VHL do thấp kết quả dài hạn của sửa van rất hạn chế vì tổn thương xơ hóa, vôi hóa tiếp tục tiến triển gây tái hẹp hở, kinh phí phẫu thuật lại cao và bệnh nhân thường không chấp nhận giải pháp phẫu thuật lại lần 2

Chỉ định sửa VHL ở các trung tâm có thể phẫu thuật sửa được là: HoHL nặng do sa van, hoặc/và do dãn vòng van, hoặc do thấp nhưng bộ máy VHL mềm mại với Wilkins ≤ 8 điểm [29], [63]

1.2.3.3 Phẫu thuật thay van hai lá

Là phẫu thuật thay VHL với tim phổi máy, được thực hiện thành công lần đầu tiên trên thế giới vào năm 1961 với van bi Starr-Edward Ngày nay, phẫu thuật thay VHL đã rất phát triển với nhiều loại van tim nhân tạo khác nhau, cùng với kĩ thuật thay VHL đã có nhiều cải tiến Cách đây khoảng 20 năm, thay VHL với kĩ thuật cắt bỏ toàn bộ bộ máy VHL có tỉ lệ vỡ thất trái sau phẫu thuật thay VHL là 14%, nhưng gần đây, thay VHL với kĩ thuật bảo tồn bộ máy VHL đã làm giảm đáng kể tỉ lệ vỡ thất trái trong và ngay sau phẫu thuật thay VHL còn khoảng 1,2% tính trung bình trên thế giới [106], [124] và giúp giảm tỉ lệ suy tim nặng, dãn thất trái sau phẫu thuật [138] Tỉ lệ tử vong liên quan đến phẫu thuật thay van khoảng 6% nhưng ở người > 75 tuổi 14-20% [35], [47]

Chỉ định phẫu thuật thay VHL ưu tiên được lựa chọn so với sửa van trong bệnh VHL do thấp và viêm nội tâm mạc nhiễm khuẩn [123], tỉ lệ bệnh

Trang 27

cao ở những nước đang phát triển Dựa trên các thử nghiệm lâm sàng đã có, ACC/AHA 2008 [29] đưa ra khuyến cáo:

Chỉ định phẫu thuật VHL ở bệnh nhân HHL:

Class I

1 Phẫu thuật VHL (sửa nếu có thể) được chỉ định cho bệnh nhân HHL vừa và nặng, có triệu chứng NYHA III-IV khi: 1)NVHL bằng bóng không thể thực hiện được, 2)Chống chỉ định NVHL bằng bóng do có huyết khối nhĩ trái, HoHL vừa/nặng, 3)hình thái van không phù hợp cho NVHL bằng bóng ở những bệnh nhân chấp nhận được nguy cơ phẫu thuật (Bằng chứng: B)

2 HHL vừa và nặng có triệu chứng, có HoHL vừa/nặng nên được phẫu thuật thay VHL, trừ khi có thể sửa van (Bằng chứng: C)

Class IIa

1 Thay VHL là phù hợp cho bệnh nhân HHL nặng, NYHA I-II nhưng có TAĐMP nặng (PAPs > 60 mmHg) mà không phù hợp cho NVHL bằng bóng hoặc sửa van (Bằng chứng: C)

Class IIb

1 Sửa VHL nên xem xét cho bệnh nhân HHL vừa/nặng, không triệu chứng, tắc mạch tái phát dù đã điều trị chống đông, hình thái VHL phù hợp sửa van (Bằng chứng: C)

Chỉ định phẫu thuật VHL trong HoHL:

Loại I

Trang 28

1 Phẫu thuật VHL được khuyến cáo cho bệnh nhân HoHL cấp có triệu chứng (Bằng chứng: B)

2 Phẫu thuật VHL có lợi cho bệnh nhân HoHL nặng mạn tính có NYHA

2 Phẫu thuật VHL là hợp lí cho bệnh nhân HoHL nặng mạn tính, không triệu chứng, chức năng thất trái bảo tồn và mới xuất hiện RN (Bằng chứng: C)

3 Phẫu thuật VHL là hợp lí cho bệnh nhân HoHL nặng mạn tính, không triệu chứng, chức năng thất trái bảo tồn và có TAĐMP (ALTTĐMP >

Trang 29

do suy thất trái nặng (EF < 0,3), NYHA III-IV dù đã điều trị suy tim tối ưu, kể cả tạo nhịp 2 buồng thất (Bằng chứng: C)

Loại III

1 Phẫu thuật VHL không chỉ định cho bệnh nhân HoHL nặng mạn tính, không triệu chứng, chức năng thất trái bảo tồn (EF > 0,6, Ds < 40 mm)

ở những bệnh nhân nghi ngờ khả năng sửa van (Bằng chứng: C)

2 Phẫu thuật VHL đơn độc không chỉ định cho bệnh nhân HoHL nhẹ và vừa, không triệu chứng (Bằng chứng: C)

Các biến chứng của phẫu thuật thay VHL

Bao gồm các biến chứng liên quan đến phẫu thuật tim hở và liên quan đến thay VHL Kiểm soát các biến chứng này chủ yếu liên quan đến kinh nghiệm và độ khéo tay của phẫu thuật viên, sự chuyên nghiệp của các điều dưỡng chăm sóc sau phẫu thuật [35], [69], [82], [92], [116]

Các biến chứng sau phẫu thuật tim hở:

- Bao gồm các biến chứng liên quan đến chạy tim phổi máy (nguy cơ suy thận, suy gan, suy chức năng co bóp của tim sau phẫu thuật

- Chảy máu sau phẫu thuật liên quan đến kĩ thuật phẫu thuật và tình trạng đông máu của bệnh nhân

- Nhiễm trùng, thường là nhiễm trùng xương ức và nhiễm trùng hô hấp, liên quan đến quy trình chăm sóc vết phẫu thuật và ống nội khí quản

Các biến chứng liên quan đến phẫu thuật thay van hai lá:

- Vỡ thất trái là biến chứng có tỉ lệ tử vong cao Nguyên nhân do cắt/co kéo quá mạnh bộ máy dưới van, hoặc trên nền thất trái mỏng trong nhồi máu

Trang 30

cơ tim cũ, hoặc do động tác nâng mỏm tim qua mức để đuổi hơi sau khi thay van, hoặc do dùng van quá cỡ so với vòng van của bệnh nhân, hoặc do khung của van sinh học chọc vào thành sau thất trái.

- Các biến chứng khác ít gặp hơn: Thương tổn vùng rãnh nhĩ - thất và nhánh mũ của động mạch vành; khâu phải van ĐMC và tổn thương đường dẫn truyền nhĩ – thất; VHL sinh học gây cản trở đường ra thất trái do kích thước van quá to

Điều trị sau khi thay VHL cơ học

Kiểm soát lâu dài bệnh nhân mang van tim cơ học bao gồm:

- Dự phòng viêm nội tâm mạc nhiễm khuẩn [29], [62]

- Dự phòng thấp tim tái phát: phòng thấp cấp II ít nhất đến năm 40 tuổi theo ACC/AHA 2008 [29] hoặc 45 tuổi theo hội Tim mạch Việt Nam [8], có thể dự phòng suốt đời theo WHO 2004 [140]

- Điều trị suy tim, nhiễm trùng, thiếu máu sau phẫu thuật [8], [29]

- Kiểm soát nhịp tim: bệnh nhân rung nhĩ có thể điều trị chuyển nhịp

về xoang hoặc khống chế tần số thất bằng các thuốc digoxin, chẹn beta giao cảm nếu không có chống chỉ định [8], [30], [112]

- Thuốc chống đông bằng thuốc kháng vitamin K, duy trì INR 2,5-3,5 [27], [29], [45], thêm aspirin 100mg ở bệnh nhân có nhiều yếu tố nguy cơ như tiền sử huyết khối nhĩ trái, tắc mạch, rung nhĩ, suy thất trái nặng [54], [63], [73], [75], [80], [85], [94], [107], [118], [120]

- Điều trị hội chứng Dressler sau phẫu thuật thay VHL: nếu dịch màng ngoài tim nhiều có ép tim thì dẫn lưu dịch, kết hợp điều trị bằng Corticoid; nếu dịch vừa, không cần dẫn lưu dịch, chỉ cần điều trị bằng corticoid; nếu dịch ít, không cần điều trị, chỉ theo dõi [21], [117]

Trang 32

HHL Khám LS, X-quang, điện tim, SÂ tim

Có triệu chứng?

Có triệu chứng (Xem sơ đồ 1.2)

PAPs > 50mmHg?

Cân nhắc NVHL (Loại trừ HK nhĩ trái, HoHL 3 + , 4 + )

Gắng sức

Kém dung nạp gắng sức hoặc PAPs > 60mmHg hoặc áp lực mao mạch phổi bít ≥ 25 mmHg

Có Ko

Ko

Sơ đồ 1.1 Xử trí bệnh hẹp hai lá không triệu chứng [29]

Trang 33

Gắng sức

Khám LS, Xquang, điện tim, SÂ tim

MVA > 1,5cm 2

Hình thái van phù hợp NVHL?

Có Ko

Nguy cơ phẫu thuật cao?

Sửa VHL hoặc thay van

Sơ đồ 1.3 Xử trí bệnh hẹp hai lá triệu chứng vừa và nặng [29]

HHL có NYHA II Khám LS, Xquang, điện tim, SÂ tim

Cân nhắc phẫu thuật tách van hoặc thay van

Cân nhắc NVHL (Loại trừ HK nhĩ trái, HoHL 3 + , 4 + )

Ko

Hình thái van phù hợp NVHL?

Điều trị nội khoa

Trang 34

1.2.3.4 Các loại van tim nhân tạo

Năm 1961, loại van bi đầu tiên ra đời có tên Starr-Edwards, đánh dấu lịch sử van nhân tạo Van bi được dùng hầu hết trên thế giới trong khoảng 20 năm và ngày nay có tới hơn 80 loại van tim nhân tạo khác nhau Dựa theo nguyên liệu chế tạo van, người ta chia van nhân tạo làm 2 loại: van cơ học được làm từ hợp kim và van sinh học được làm từ mô sinh vật Van cơ học lại được chia ra làm 3 loại: van bi, van đĩa và van 2 cánh [50], [96], [126]

Van bi: Điển hình là van Starr-Edwards, cấu tạo gồm 1 viên bi ở trong

1 cái lồng bằng thép không rỉ Viên bi này có thể di chuyển về phía đỉnh lồng khi van mở và về phía đáy lồng khi van đóng Loại van này có kích thước lớn, MVA nhỏ, chênh áp tâm trương qua van cao, có nguy cơ tan máu, huyết khối

và cản trở đường ra thất trái cao nên ngày nay không được dùng nữa

Hình 1.2 Van Starr-Edward [126]

Van đĩa: Điển hình là van Metronic-Hall nhưng ngày nay cũng rất ít

được dùng do có biến chứng gẫy các cấu trúc van và thế hệ van 2 cánh sau này có nhiều ưu điểm hơn [144]

Trang 35

Hình 1.3 Van Medtronic-Hall: Khi đóng (A) và khi mở (B,C) [126] Van 2 cánh: Là loại van được dùng phổ biến nhất hiện nay do tính ưu

việt vượt trội của nó Cấu tạo gồm 2 cánh hình bán nguyệt, khi đóng và mở đều tạo thành 3 lỗ: 1 lỗ ở trung tâm và 2 lỗ ở 2 bên Có nhiều kiểu van nhưng được dùng phổ biến là van van St Jude, Sorin Bicarbon, và van ATS

Van Saint-Jude: là van cơ học loại 2 cánh đầu tiên, được sản xuất năm

1977 và cho đến nay, mặc dù có nhiều loại van 2 cánh khác ra đời nhưng van

St Jude vẫn là loại van nhân tạo được dùng nhiều nhất trên thế giới, đã có hơn 1.300.000 van St Jude được dùng Ở Việt Nam, đây cũng là loại van được dùng khá phổ biến [50], [67], [74], [126]

Cấu trúc cơ bản của van St Jude gồm 2 cánh hình bán nguyệt và thẳng, được làm bằng hợp chất pyrolytic carbon, đặt trong vòng van bằng Dacron, có cổng trục bảo vệ lá van Kể từ năm 1977 cho đến nay, nhà sản xuất đã cố gắng cải tiến cấu tạo van để cải thiện tình trạng huyết động của van cho tốt hơn với mục tiêu làm giảm chênh áp qua van và tăng MVA Có 7 thế hệ van

St Jude ra đời, lần lượt theo thời gian là: van St Jude Standard, ra đời năm 1977; van St Jude Expanded Cuff ra đời năm 1983; van St Jude PTFE Cuff

ra đời năm 1989; van St Jude Haemodynamics Plus ra đời năm 1992; van St

Trang 36

Jude Masters ra đời năm 1995; van St Jude Regent ra đời năm 1999; van St Jude Plex Cuff ra đời năm 2000 Tại Trung tâm tim mạch – bệnh viện E hiện nay dùng van Saint Jude Regent cho vị trí van động mạch chủ và van Saint Jude Master cho vị trí VHL [50].

Hoạt động của van gồm 2 quá trình mở và đóng Góc mở trung tâm 85o,

và góc đóng 30-350 tạo nên diện tích hữu dụng lớn cho mọi cỡ van, giảm đáng

kể dòng xoáy và chênh áp tâm trương qua van trong bất kì cỡ van nào khi so sánh với van bi và van đĩa

Khi đóng, 2 đĩa quay theo hướng tách nhau tạo nên một góc khoảng 100-120o giữa 2 lá van, nghĩa là 2 đĩa van tạo nên một góc khoảng 30-40o so với mặt phẳng vòng van Sự đóng không hoàn toàn này tạo ra 3 tia hở qua van: 1 tia ở trung tâm và 2 tia ở ngoại biên nhưng vẫn ở trong vòng van Mục đích của nhà sản xuất khi tạo ra những tia hở này là để hạn chế quá trình hình thành huyết khối trên bề mặt van, gọi là tia hở “sinh lí” – “washing jets” Tia

hở và mức độ hở qua van nhân tạo có thể đánh giá được bằng SÂ tim

Hình 1.4 Van St Jude khi đóng (A) và khi mở (B,C) [126]

Trang 37

Van sinh học: Là loại van được cấu tạo từ mô sinh vật Tùy theo

nguồn gốc của van, người ta chia ra làm 2 loại: van đồng loài và van dị loài [50], [126]

Hình 1.5 Van sinh học loại Hancork Porcine [126]

Van đồng loài: Được cấu tạo từ mô người Nguyên liệu tạo van là mạc

cân cơ đùi, màng ngoài tim hoặc chính từ van tim người Mạc cân cơ đùi thường nhanh bị thoái hoá nên ngày nay không được dùng nữa

Van dị loài: Được tạo từ van tim lợn hoặc màng ngoài tim bò Van tạo

từ van tim lợn gọi là van porcine có độ bền khoảng 10-12 năm Van tạo từ màng ngoài tim bò gọi là van bovine, có độ bền khoảng 6-10 năm

Hình 1.6 Van sinh học loại Carpentier-Edward bovine [126]

Trang 38

Lựa chọn van nhân tạo khi thay van hai lá:

Van sinh học có ưu điểm không phải dùng thuốc chống đông kéo dài

nên không có nguy cơ của các biến chứng tắc mạch và huyết khối liên quan đến thuốc chống đông, nhưng có nhược điểm là độ bền của van ngắn do van thoái hóa, vì vậy, bệnh nhân sẽ phải phẫu thuật thay lại van sau khoảng 6-10 năm [29], [109], [127]

Van cơ học có ưu điểm là độ bền cao, có thể suốt đời của người bệnh nếu không có biến chứng nên ít nguy cơ phải phẫu thuật lại, nhưng có nhược điểm là phải dùng thuốc chống đông suốt đời, vì vậy bệnh nhân có các nguy

cơ chảy máu và tắc mạch liên quan đến thuốc chống đông, đặc biệt khó khăn trong điều chỉnh thuốc chống đông ở những phụ nữ mang van cơ học muốn sinh đẻ

Khuyến cáo của ACC/AHA 2008 về lựa chọn loại van nhân tạo cho bệnh nhân đã có chỉ định thay VHL [29]

2 Van sinh học phù hợp cho bệnh nhân ≥ 65 tuổi (Bằng chứng: C)

3 Van sinh học phù hợp cho bệnh nhân < 65 tuổi có nhịp xoang (Bằng chứng: C)

Trang 39

1.3 CÁC NGHIÊN CỨU VỀ BIẾN ĐỔI LÂM SÀNG VÀ HUYẾT ĐỘNG SAU THAY VAN HAI LÁ

1.3.1 Trên thế giới

1.3.1.1 Các biến chứng sớm sau phẫu thuật thay van hai lá

Các biến chứng sớm sau phẫu thuật thay VHL đã được nghiên cứu khá nhiều với các tiêu chí chính là các biến chứng vỡ thất trái, tử vong, nhiễm trùng, suy gan, suy thận, suy tim sau phẫu thuật

- Cách đây khoảng 20 năm, thay VHL với kĩ thuật cắt bỏ toàn bộ bộ máy dưới van có tỉ lệ vỡ thất trái là 14% [106]

- Năm 2006, Ahmed A.A ở Arabi so sánh kết quả sớm và trung hạn giữa 3 kĩ thuật cắt bỏ toàn bộ bộ máy VHL, giữ lại toàn bộ bộ máy VHL và kĩ thuật chỉ giữ lại bộ máy lá sau cho thấy 2 kĩ thuật sau có kết quả tốt hơn, tỉ lệ

tử vong và suy tim, dãn thất trái sau phẫu thuật thấp hơn [34]

- Năm 2007, Prabhat Tewari ở United Kingdom thấy kĩ thuật bảo tồn toàn bộ bộ máy VHL có thể gây nghẽn đường ra thất trái [110]

- 5 năm trở lại đây, thay VHL với kĩ thuật bảo tồn bộ máy lá sau được áp dụng ở nhiều trung tâm phẫu thuật tim trên thế giới đã làm giảm đáng kể tỉ lệ vỡ thất trái, còn khoảng 3-6% [13], [17], [46], [69], [95], [106], [119], [121]

1.3.1.2 Các biến đổi lâm sàng và huyết động sau phẫu thuật thay van hai lá

Có rất ít các nghiên cứu về biến đổi lâm sàng và huyết động sau phẫu thuật thay VHL trong thời gian trung hạn và dài hạn

- Năm 2009, Deepak K.T nghiên cứu tại Ấn Độ trên 60 bệnh thấy áp lực ĐMP giảm ngay trong 48 giờ sau phẫu thuật thay VHL [55]

- Năm 2010, Saad Bader nghiên cứu tại Pakistan trên 120 bệnh nhân thấy có sự cải thiện đáng kể về độ NYHA, tỉ lệ rung nhĩ, kích thước nhĩ trái, áp lực ĐMP giảm có ý nghĩa ở thời điểm 6 tháng sau phẫu thuật thay VHL [121]

Trang 40

1.3.2 Tại Việt Nam

- Năm 2007, nghiên cứu của Hồ Huỳnh Quang Trí tại Viện Tim Thành phố Hồ Chí Minh, tổng kết trong 10 năm, cho thông số chính là tỉ lệ tử vong của phẫu thuật thay VHL [19]

- Năm 2010, nghiên cứu của Nguyễn Xuân Thành tại bệnh viện Việt Đức cho những thông số chính về các biến chứng sớm sau phẫu thuật thay VHL Kết quả trung hạn thấy có cải thiện độ NYHA, chỉ số tim ngực, áp lực ĐMP, kích thước nhĩ trái, thất phải giảm trong khi kích thước thất trái, tỉ lệ rung nhĩ không thay đổi [13]

- Năm 2010, nghiên cứu của Đặng Hanh Sơn tại viện Tim Hà Nội trên

131 bệnh nhân thay VHL bằng van cơ học loại Sorin Bicarbon cũng cho các thông số chính về biến chứng sớm sau phẫu thuật, kết quả trung hạn trong thời gian sau phẫu thuật 3-45 tháng, cho thấy có sự cải thiện NYHA nhưng tỉ

lệ rung nhĩ, kích thước các buồng tim và áp lực ĐMP thì không cải thiện [12]

- Năm 2011, nghiên cứu của Vũ Quỳnh Nga tại Viện Tim Hà Nội trên

102 bệnh nhân thay VHL bằng van cơ học loại Sorin Bicarbon, cho kết quả ngay sau phẫu thuật có sự cải thiện áp lực ĐMP và kích thước nhĩ trái, nhưng chưa có kết quả trung hạn [10]

Tuy nhiên, những nghiên cứu cụ về biến đổi lâm sàng và huyết động của bệnh nhân sau khi được thay van, với sự đồng nhất về thời gian đánh giá sau phẫu thuật và sử dụng phép so sánh cặp khi đánh giá những biến đổi trước-sau phẫu thuật còn hạn chế

Ngày đăng: 08/10/2014, 11:48

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Huy Dung (1970), “Về tình hình thấp tim và thấp khớp cấp”, Nội khoa, (1), Tổng hội Y dược Việt Nam, tr. 8-14 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về tình hình thấp tim và thấp khớp cấp”, "Nội khoa
Tác giả: Nguyễn Huy Dung
Năm: 1970
2. Phạm Tử Dương (2000), “Các thuốc điều trị rối loạn nhịp tim”, Thuốc Tim mạch, NXB Y học, tr. 93-172 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các thuốc điều trị rối loạn nhịp tim”, "Thuốc Tim mạch
Tác giả: Phạm Tử Dương
Nhà XB: NXB Y học
Năm: 2000
3. Viên Văn Đoan (2006), Nghiên cứu kháng thể kháng Streptolysin O, những yếu tố nguy cơ và biện pháp phòng chống bệnh thấp tim, Luận án tiến sỹ Y học, Đại học Y Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu kháng thể kháng Streptolysin O, những yếu tố nguy cơ và biện pháp phòng chống bệnh thấp tim
Tác giả: Viên Văn Đoan
Năm: 2006
4. Chu Minh Hà (2008), Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng của thấp tim và hiệu lực của phòng thấp cấp II tại Hải Phòng, Luận án tiến sỹ Y học – Học viện Quân Y Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng của thấp tim và hiệu lực của phòng thấp cấp II tại Hải Phòng
Tác giả: Chu Minh Hà
Năm: 2008
5. Hồ Sỹ Hà (2002), Nghiên cứu lâm sàng và thay đổi siêu âm doppler trong thấp tim cấp ở trẻ em, Luận án tiến sỹ Y học, Đại học Y Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu lâm sàng và thay đổi siêu âm doppler trong thấp tim cấp ở trẻ em
Tác giả: Hồ Sỹ Hà
Năm: 2002
6. Bùi Thị Hiệp, Tô Văn Hải, Dương Thị Bình (1997), “Tình hình mắc bệnh viêm xoang, mũi họng và bệnh thấp tim ở 5525 trẻ em thuộc lứa tuổi học đường”, Y học thực hành 9, tr. 30-32 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tình hình mắc bệnh viêm xoang, mũi họng và bệnh thấp tim ở 5525 trẻ em thuộc lứa tuổi học đường”, "Y học thực hành
Tác giả: Bùi Thị Hiệp, Tô Văn Hải, Dương Thị Bình
Năm: 1997
8. Hội Tim mạch học Việt Nam (2006), Khuyến cáo về các bệnh lí tim mạch và chuyển hóa giai đoạn 2006-2010, NXB Y học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khuyến cáo về các bệnh lí tim mạch và chuyển hóa giai đoạn 2006-2010
Tác giả: Hội Tim mạch học Việt Nam
Nhà XB: NXB Y học
Năm: 2006
9. Phạm Mạnh Hùng (2006), Nghiên cứu kết quả sớm và trung hạn của nong van hai lá bằng bóng Inoue trong điều trị bệnh van hai lá, Luận án tiến sĩ y học, Đại học Y Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu kết quả sớm và trung hạn của nong van hai lá bằng bóng Inoue trong điều trị bệnh van hai lá
Tác giả: Phạm Mạnh Hùng
Năm: 2006
10. Vũ Quỳnh Nga, Nguyễn Lân Việt (2011), “Những biến đổi sớm về huyết động và chức năng thất trái ở các bệnh nhân phẫu thuật thay van hai lá cơ học loại Sorin Bicarbon”, Tim mạch học Việt Nam 57, tr. 22-29 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những biến đổi sớm về huyết động và chức năng thất trái ở các bệnh nhân phẫu thuật thay van hai lá cơ học loại Sorin Bicarbon”, "Tim mạch học Việt Nam
Tác giả: Vũ Quỳnh Nga, Nguyễn Lân Việt
Năm: 2011
11. Nguyễn Thu Nhạn (1999), Tình hình thấp tim và bệnh tim do thấp ở trẻ em tại các tỉnh miền Bắc Việt Nam, Báo cáo tổng kết đề tài NCKH cấp Bộ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tình hình thấp tim và bệnh tim do thấp ở trẻ em tại các tỉnh miền Bắc Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Thu Nhạn
Năm: 1999
12. Đặng Hanh Sơn (2007), “Nghiên cứu kết quả phẫu thuật thay van hai lá bằng van cơ học Sorin tại bệnh viện Tim Hà Nội”, Luận án tiến sĩ y học, Học Viện Quân Y Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Nghiên cứu kết quả phẫu thuật thay van hai lá bằng van cơ học Sorin tại bệnh viện Tim Hà Nội”
Tác giả: Đặng Hanh Sơn
Năm: 2007
13. Nguyễn Xuân Thành, (2010), “Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và kết quả phẫu thuật thay van hai lá có huyết khối nhĩ trái tại bệnh viện Việt Đức”, Luận văn thạc sĩ y học, Đại học Y Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và kết quả phẫu thuật thay van hai lá có huyết khối nhĩ trái tại bệnh viện Việt Đức”
Tác giả: Nguyễn Xuân Thành
Năm: 2010
14. Phạm Hồng Thi, Phạm Gia Khải (2002), “Kết quả bước đầu của việc phòng thấp cấp 2 và quản lý theo dõi, điều trị cho bệnh nhân thấp tim và bệnh tim do thấp ở một số tỉnh miền Bắc”, Tim mạch học 29, tr.662-666 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết quả bước đầu của việc phòng thấp cấp 2 và quản lý theo dõi, điều trị cho bệnh nhân thấp tim và bệnh tim do thấp ở một số tỉnh miền Bắc”, "Tim mạch học
Tác giả: Phạm Hồng Thi, Phạm Gia Khải
Năm: 2002
15. Huỳnh Văn Thơ (2003), Nghiên cứu một số đặc điểm thấp tim và bệnh tim do thấp ở Tây Nguyên, Luận án tiến sỹ Y học, Đại học Y Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu một số đặc điểm thấp tim và bệnh tim do thấp ở Tây Nguyên
Tác giả: Huỳnh Văn Thơ
Năm: 2003
16. Hồ Huỳnh Quang Trí (2010), Nghiên cứu tiến triển của hở van ba lá sau phẫu thuật van hai lá ở người bệnh van tim hậu thấp, Luận án tiến sỹ Y học, Đại học Y dược TP Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu tiến triển của hở van ba lá sau phẫu thuật van hai lá ở người bệnh van tim hậu thấp
Tác giả: Hồ Huỳnh Quang Trí
Năm: 2010
17. Hồ Huỳnh Quang Trí, Phạm Nguyễn Vinh (2002), “Kết quả dài hạn của điều trị chuyển nhịp xoang cho bệnh nhân rung nhĩ mạn sau phẫu thuật bệnh van hai lá hậu thấp”, Y học TP Hồ Chí Minh 6, phụ bản của số 1, tr. 19-23 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết quả dài hạn của điều trị chuyển nhịp xoang cho bệnh nhân rung nhĩ mạn sau phẫu thuật bệnh van hai lá hậu thấp”, "Y học TP Hồ Chí Minh
Tác giả: Hồ Huỳnh Quang Trí, Phạm Nguyễn Vinh
Năm: 2002
18. Hồ Huỳnh Quang Trí, Phạm Nguyễn Vinh (2002), “Nghiên cứu dùng amiodaron duy trì nhịp xoang cho bệnh nhân rung nhĩ mãn sau phẫu thuật van hai lá”, Y học TP Hồ Chí Minh 6, phụ bản của số 1, tr. 81-85 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu dùng amiodaron duy trì nhịp xoang cho bệnh nhân rung nhĩ mãn sau phẫu thuật van hai lá”, "Y học TP Hồ Chí Minh
Tác giả: Hồ Huỳnh Quang Trí, Phạm Nguyễn Vinh
Năm: 2002
19. Hồ Huỳnh Quang Trí, Phạm Nguyễn Vinh (2007), “Phẫu thuật thay van hai lá nhân tạo tại Viện Tim: Tổng kết kinh nghiệm sau gần 10 năm”, Y học TP Hồ Chí Minh 11, tr. 162-171 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phẫu thuật thay van hai lá nhân tạo tại Viện Tim: Tổng kết kinh nghiệm sau gần 10 năm”, "Y học TP Hồ Chí Minh
Tác giả: Hồ Huỳnh Quang Trí, Phạm Nguyễn Vinh
Năm: 2007
20. Viện Tim mạch Việt Nam (2008), Bài giảng siêu âm doppler tim, Phòng chỉ đạo tuyến, Hà Nội, tr. 52-68 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài giảng siêu âm doppler tim
Tác giả: Viện Tim mạch Việt Nam
Năm: 2008
21. Nguyễn Lân Việt và cs (2003), Thực hành bệnh tim mạch, NXB Y học, tr. 241-279, 343-361 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực hành bệnh tim mạch
Tác giả: Nguyễn Lân Việt và cs
Nhà XB: NXB Y học
Năm: 2003

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.1. Tổn thương van hai lá do thấp [44], [49] - nghiên cứu biến đổi lâm sàng, huyết động trước và sau phẫu thuật thay van hai lá bằng van cơ học loại saint jude master
Hình 1.1. Tổn thương van hai lá do thấp [44], [49] (Trang 13)
Bảng 1.3. Lượng giá hở hai lá theo ACC/AHA 2006 [36] - nghiên cứu biến đổi lâm sàng, huyết động trước và sau phẫu thuật thay van hai lá bằng van cơ học loại saint jude master
Bảng 1.3. Lượng giá hở hai lá theo ACC/AHA 2006 [36] (Trang 22)
Sơ đồ 1.1. Xử trí bệnh hẹp hai lá không triệu chứng [29] - nghiên cứu biến đổi lâm sàng, huyết động trước và sau phẫu thuật thay van hai lá bằng van cơ học loại saint jude master
Sơ đồ 1.1. Xử trí bệnh hẹp hai lá không triệu chứng [29] (Trang 32)
Hình thái van  phù hợp NVHL? - nghiên cứu biến đổi lâm sàng, huyết động trước và sau phẫu thuật thay van hai lá bằng van cơ học loại saint jude master
Hình th ái van phù hợp NVHL? (Trang 33)
Hình 1.2. Van Starr-Edward [126] - nghiên cứu biến đổi lâm sàng, huyết động trước và sau phẫu thuật thay van hai lá bằng van cơ học loại saint jude master
Hình 1.2. Van Starr-Edward [126] (Trang 34)
Hình 1.3. Van Medtronic-Hall: Khi đóng (A) và khi mở (B,C) [126] - nghiên cứu biến đổi lâm sàng, huyết động trước và sau phẫu thuật thay van hai lá bằng van cơ học loại saint jude master
Hình 1.3. Van Medtronic-Hall: Khi đóng (A) và khi mở (B,C) [126] (Trang 35)
Hình 1.4. Van St. Jude khi đóng (A) và khi mở (B,C) [126] - nghiên cứu biến đổi lâm sàng, huyết động trước và sau phẫu thuật thay van hai lá bằng van cơ học loại saint jude master
Hình 1.4. Van St. Jude khi đóng (A) và khi mở (B,C) [126] (Trang 36)
Hình 1.6. Van sinh học loại Carpentier-Edward bovine [126] - nghiên cứu biến đổi lâm sàng, huyết động trước và sau phẫu thuật thay van hai lá bằng van cơ học loại saint jude master
Hình 1.6. Van sinh học loại Carpentier-Edward bovine [126] (Trang 37)
Hình 1.5. Van sinh học loại Hancork Porcine [126] - nghiên cứu biến đổi lâm sàng, huyết động trước và sau phẫu thuật thay van hai lá bằng van cơ học loại saint jude master
Hình 1.5. Van sinh học loại Hancork Porcine [126] (Trang 37)
Hình 2.1. Hình ảnh rung nhĩ trên điện tâm đồ - nghiên cứu biến đổi lâm sàng, huyết động trước và sau phẫu thuật thay van hai lá bằng van cơ học loại saint jude master
Hình 2.1. Hình ảnh rung nhĩ trên điện tâm đồ (Trang 45)
Hình 2.2. Cách tính chỉ số tim ngực [76] - nghiên cứu biến đổi lâm sàng, huyết động trước và sau phẫu thuật thay van hai lá bằng van cơ học loại saint jude master
Hình 2.2. Cách tính chỉ số tim ngực [76] (Trang 45)
Hình 2.4. Cách đo đường kính nhĩ trái trên siêu âm tim - nghiên cứu biến đổi lâm sàng, huyết động trước và sau phẫu thuật thay van hai lá bằng van cơ học loại saint jude master
Hình 2.4. Cách đo đường kính nhĩ trái trên siêu âm tim (Trang 46)
Hình 2.3. Tư thế bệnh nhân làm siêu âm tim - nghiên cứu biến đổi lâm sàng, huyết động trước và sau phẫu thuật thay van hai lá bằng van cơ học loại saint jude master
Hình 2.3. Tư thế bệnh nhân làm siêu âm tim (Trang 46)
Hình 2.6. Cách đo Dd, Ds và EF trên siêu âm tim - nghiên cứu biến đổi lâm sàng, huyết động trước và sau phẫu thuật thay van hai lá bằng van cơ học loại saint jude master
Hình 2.6. Cách đo Dd, Ds và EF trên siêu âm tim (Trang 47)
Hình 2.5. Cách đo diện tích nhĩ trái trên siêu âm tim (viền trắng) - nghiên cứu biến đổi lâm sàng, huyết động trước và sau phẫu thuật thay van hai lá bằng van cơ học loại saint jude master
Hình 2.5. Cách đo diện tích nhĩ trái trên siêu âm tim (viền trắng) (Trang 47)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w