1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

nghiên cứu sử dụng một số loài thực vật thuộc họ cà (solanaceae) trong phòng trừ sâu hại rau bắp cải đông xuân chính vụ năm 2010 tại đồng hỷ - thái nguyên

75 587 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 75
Dung lượng 677,26 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

NGUYỄN THỊ THANH NHÀN NGHIÊN CỨU SỬ DỤNG MỘT SỐ LOÀI THỰC VẬT THUỘC HỌ CÀ SOLANACEAE TRONG PHÒNG TRỪ SÂU HẠI RAU BẮP CẢI VỤ ĐÔNG XUÂN CHÍNH VỤ NĂM 2010 LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC NÔNG NG

Trang 1

NGUYỄN THỊ THANH NHÀN

NGHIÊN CỨU SỬ DỤNG MỘT SỐ LOÀI THỰC VẬT THUỘC HỌ CÀ (SOLANACEAE) TRONG PHÒNG TRỪ SÂU HẠI RAU BẮP CẢI VỤ ĐÔNG XUÂN CHÍNH VỤ NĂM 2010

LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP

Thái Nguyên, năm 2011

Trang 2

NGUYỄN THỊ THANH NHÀN

NGHIÊN CỨU SỬ DỤNG MỘT SỐ LOÀI THỰC VẬT THUỘC HỌ CÀ (SOLANACEAE) TRONG PHÒNG TRỪ SÂU HẠI RAU BẮP CẢI VỤ ĐÔNG XUÂN CHÍNH VỤ NĂM 2010

Chuyên ngành: Trồng trọt

Mã số : 60.62.01

LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP

Người hướng dẫn khoa học : TS Hoàng Thị Bích Thảo

ThS Bùi Lan Anh

Thái Nguyên, năm 2011

Trang 3

MỤC LỤC

PHẦN: MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục đích, yêu cầu của đề tài 3

3 Ý nghĩa của đề tài 3

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 5

1.1 Cơ sở khoa học của đề tài 5

1.2 Tổng quan tài liệu 6

1.2.1 Giá trị dinh dưỡng và ý nghĩa kinh tế của cây rau 6

1.2.2 Sơ lược tình hình phát triển rau trên thế giới và Việt nam 9

1.2.3 Hiện trạng sản xuất rau ở Việt Nam nói chung và ở Thái Nguyên nói riêng 16 1.2.4 Sơ lược lịch sử nghiên cứu về các loài thực vật nói chung và cây ớt, cây cà chua nói riêng trong phòng trừ sâu hại trên thế giới và Việt Nam 21

1.2.5 Sơ lược tình hình nghiên cứu sâu hại rau trên thế giới và Việt Nam 30

CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG, VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 35

2.1 Đối tượng nghiên cứu 35

2.2 Thời gian, địa điểm và điều kiện thực hiện đề tài 35

2.2.1 Thời gian và địa điểm 35

2.2.2 Điều kiện thực hiện đề tài 35

2.2.3 Quy trình kỹ thuật trồng rau bắp cải 36

2.3 Nội dung nghiên cứu 37

2.3.1 Điều tra thành phần và diễn biến của sâu hại trên rau bắp cải tại điểm thực tập 37

2.3.2 Nghiên cứu hiệu lực trừ sâu của dung dịch ngâm quả ớt và dung dịch ngâm thân lá cây cà chua trong phòng trừ sâu hại bắp cải tại Thái Nguyên trong năm 2010 37

2.4 Phương pháp nghiên cứu 37

Trang 4

2.4.1 Điều tra đánh giá hiện trạng sản xuất rau tại Thái Nguyên 37

2.4.2 Điều tra thành phần và diễn biến của sâu hại trên rau bắp cải tại Thành phố Thái Nguyên 37

2.4.3 Nghiên cứu hiệu lực trừ sâu của dung dịch ngâm qủa ớt và dung dịch ngâm thân lá cà chua 38

2.4.4 Nghiên cứu ảnh hưởng của dịch ngâm quả ớt và thân lá cây cà chua đến năng suất rau bắp cải tại Thái Nguyên 42

3.4.5 Phương pháp xử lý số liệu 42

CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 43

3.1 Tình hình thời tiết, khí hậu tỉnh Thái Nguyên tháng 10/2010 đến tháng 02/2011 43

3.2 Thành phần sâu hại rau bắp cải vụ Đông Xuân chính vụ năm 2010 tại Đồng Hỷ - Thái Nguyên 44

3.3 Kết quả nghiên cứu diễn biến các loài sâu hại rau bắp cải qua các kỳ điều tra 44

3.4 Kết quả nghiên cứu hiệu lực xua đuổi sâu hại của dung dịch ngâm thân lá cà chua, quả ớt 48

3.5 Kết quả nghiên cứu hiệu lực gây ngán sâu hại của dung dịch ngâm thân lá cà chua, quả ớt 51

3.6 Kết quả nghiên cứu Hiệu lực tiêu diệt sâu hại của dung dịch ngâm thân lá cà chua và quả ớt 53

3.7 Kết quả nghiên cứu Hiệu lực tiêu diệt sâu hại của dung dịch ngâm thân lá cà chua và quả ớt 56

3.8 Kết quả nghiên cứu năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất 61

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 63

1 Kết luận 63

2 Đề nghị 65

TÀI LIỆU THAM KHẢO 66

Trang 5

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 1.1: Hàm lượng dinh dưỡng thu được từ một số loại cây trồng 6 Bảng 1.2: Tình hình sản xuất rau trên thế giới qua các năm 10 Bảng 1.3: Diện tích, năng suất và sản lượng rau bắp cải trên thế giới giai đoạn

2006 – 2010 11 Bảng 1.4: Diện tích, năng suất và sản lượng rau của Việt Nam giai đoạn 2003-2009 14 Bảng 1.5: Diện tích, năng suất và sản lượng rau bắp cải của Việt Nam giai

đoạn 2006– 2010 15 Bảng 1.6: Diện tích sản lượng rau của một số địa phương trong tỉnh 18 Bảng 1.7: Diện tích ,năng suất và sản lượng của một số loại rau chính của tỉnh

Thái Nguyên qua các năm 20 Bảng 3.1: Tình hình thời tiết, khí hậu tỉnh Thái Nguyên tháng 10/2010 đến

tháng 02/2011 43 Bảng 3.2: Thành phần sâu hại rau bắp cải vụ Đông Xuân chính vụ 2010 tại

huyện Đồng Hỷ - Thái Nguyên 44 Bảng 3.3: Diễn biến của sâu hại bắp cải vụ đông xuân chính vụ năm 2010 tại

huyện Đồng Hỷ - Thái Nguyên 45 Bảng 3.4: Hiệu lực xua đuổi sâu hại của dung dịch ngâm thân lá cà chua, quả ớt 49 Bảng 3.5: Hiệu lực gây ngán sâu hại của dung dịch ngâm thân lá cà chua, quả ớt 52 Bảng 3.6 Hiệu lực tiêu diệt sâu hại của dung dịch ngâm thân lá cà chua và

dung dịch ngâm quả ớt 54 Bảng 3.7 Hiệu lực tiêu diệt sâu hại rau bắp cải của dung dịch ngâm thân lá cà

chua và dung dịch ngâm quả ớt 57 Bảng 3.8: Năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất 61

Trang 6

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 3.1 Biểu đồ diễn biến sâu hại qua các thời kỳ điều tra 47

Hình 3.2 Hiệu lực xua đuổi sâu hại rau bắp cải của dung dịch ngâm thân lá cà chua, quả ớt 48

Hình 3.3 Hiệu lực gây ngán sâu hại của dung dịch ngâm thân lá cà chua, quả ớt 51

Hình 3.4 Hiệu lực tiêu diệt sâu hại của dung dịch ngâm thân lá cà chua và dung dịch ngâm quả ớt 53

Hình 3.5 Hiệu lực tiêu diệt sâu hại rau bắp cải của dung dịch ngâm thân lá cà chua và dung dịch ngâm quả ớt 56

Hình 3.6 Khối lƣợng trung bình bắp 62

Hình 3.7 Năng suất lý thuyết 62

Hình 3.8 Năng suất thực thu 62

Trang 7

PHẦN

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Rau xanh là loại thực phẩm không thể thiếu được trong mỗi bữa ăn hàng ngày của con người, đặc biệt khi lương thực và các thức ăn giầu đạm đã được đảm bảo thì yêu cầu về chất lượng và số lượng rau lại càng gia tăng như một nhân tố tích cực trong việc cân bằng dinh dưỡng và tăng sức đề kháng cho cơ thể ,kéo dài tuổi thọ Vì rau cung cấp các chất dinh dưỡng thiết yếu như: vitamin, lipit, protein và các chất khoáng quan trọng như: canxi, phốt pho, sắt,…được gia tăng như một nhân tố tích cực trong việc cân bằng dinh dưỡng cần thiết cho sự phát triển của cơ thể Ngoài ra rau còn cung cấp một lượng lớn các chất xơ có khả năng làm tăng nhu mô ruột và hệ tiêu hóa, là thành phần hỗ trợ sự di chuyển thức ăn qua đường tiêu hóa giúp cho hoạt động co bóp của đường ruột được dễ dàng

Những năm gần đây, cùng với việc chuyển dịch cơ cấu cây trồng theo hướng tạo ra những sản phẩm hàng hóa có giá trị cao, đáp ứng nhu cầu tiêu thụ trong nước và xuất khẩu thì diện tích trồng rau không ngừng được mở rộng, mặt khác chủng loại rau cũng đa dạng và phong phú Trên cơ sở áp dụng nhiều tiến bộ kỹ thuật mới vào sản xuất, làm tăng năng suất, chất lượng rau xanh, nhưng càng thâm canh thì sâu hại càng nhiều, để bảo toàn năng suất, người nông dân sử dụng rất nhiều các loại thuốc hoá học để phòng trừ,

vì thuốc hoá học có hiệu quả diệt trừ nhanh, giá thành rẻ, hiệu quả cao và tiêu diệt được nhiều dịch hại Bên cạnh những ưu điểm đó, thuốc hoá học có rất nhiều nhược điểm mà người dân chưa nhận thức được nên đã lạm dụng, sử dụng thuốc hoá học BVTV một cách tuỳ tiện (nhiều nơi chỉ trong 1 vụ phun tới 10-12 lần, thậm chí có khi lên tới 20-24 lần) gây ô nhiễm môi trường, ảnh hưởng đến sức khoẻ con người vật nuôi, làm mất cân bằng sinh thái đồng thời tạo ra tính kháng thuốc, chống thuốc của dịch hại Thực tế cho thấy, kết quả là

Trang 8

sâu hại đã phát sinh, phát triển ngày một nhiều hơn, chúng đã phá hại nhanh hơn và gây thiệt hại đáng kể Có nhiều loài sâu hại trước đây chỉ là thứ yếu thì nay trở lại thành chủ yếu là do chúng đã phát sinh với số lượng lớn, rộng khắp trên toàn diện tích trồng trọt và phá hại rất mạnh

Dư lượng thuốc bảo vệ thực vật với nồng độ quá cao trong rau quả là tác nhân thường gặp ở một số vụ ngộ độc gây rối loạn thần kinh trung ương, nhức đầu, nôn mửa, mất ngủ, giảm trí nhớ, với mức độ nặng hơn

có thể tổn thương thần kinh ngoại biên dẫn đến liệt Hội chứng nhiễm độc não thường gặp đối với thuốc bảo vệ thực vật nhóm thủy ngân hữu cơ và lân hữa cơ Các hội chứng về tim mạch, hô hấp, tiêu hóa, gan, mật và hội chứng

về máu cũng có thể xảy ra ở những trường hợp nặng, tỷ lệ tử vong cao

Ở Việt Nam, vấn đề ngộ độc rau quả trên diện rộng đã ngày càng khiến người tiêu dùng phải băn khoăn, cảnh giác Trong khi vụ ngộ độc do ăn rau muống được mua tại chợ Hôm (Hà Nội) khiến 18 người phải đi cấp cứu đang còn là vấn đề thời sự, thì ngày 17 và 18/4/2002 đã xảy ra vụ ngộ độc do ăn cà muối tại xã Tam Cường (Vĩnh Bảo, Hải Phòng) khiến 45 người phải đi bệnh viện Nguyên nhân của cả 2 vụ ngộ độc trên đều là do dư lượng thuốc trừ sâu tồn đọng trong rau quả Một số vụ ngộ độc khác lại do rau bị nhiễm thuốc chuột Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO), mỗi năm Việt nam có khoảng 8 triệu người ngộ độc thực phẩm Tuy nhiên chỉ có 8.000 người được thống kê, phát hiện, bằng 1% số người ngộ độc thực phẩm trên thực tế

Trước thực tế đó, nền sản xuất nông nghiệp ở Việt Nam đòi hỏi công tác BVTV phải đảm bảo và ổn định lâu dài về hiệu quả phòng trừ dịch hại cũng như ngăn ngừa được dư lượng thuốc BVTV trong nông sản phẩm, đồng thời bảo vệ được môi trường sống thì công tác BVTV phải nhanh chóng từng bước chuyển dần sang một chiến lược mới, đó là hệ thống chiến lược bao gồm nhiều biện pháp phòng trừ tổng hợp, trong đó lấy biện pháp sinh học và sinh thái học làm trọng tâm, kết hợp hài hoà sử dụng thuốc hoá học với liều lượng thấp một cách hợp lý mà vẫn đạt hiệu quả phòng trừ cao, nhằm khắc

Trang 9

phục dần những hiện tượng tiêu cực do thuốc hoá học gây ra Để góp phần tạo dựng và thiết lập nên một nền nông nghiệp sạch, an toàn, ổn định và bền vững; đồng thời góp phần nâng cao ý thức mọi người về vệ sinh an toàn thực phẩm, hạn chế sử dụng thuốc hóa học BVTV, bảo vệ sức khỏe con người và môi trường sống, và đáp ứng nhu cầu rau sạch phục vụ nhu cầu cuộc sống

người dân Thái Nguyên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu

sử dụng một số loài thực vật thuộc họ cà (Solanaceae) trong phòng trừ sâu hại rau bắp cải Đông Xuân chính vụ năm 2010 tại Đồng Hỷ - Thái Nguyên

2 Mục đích, yêu cầu của đề tài

- Điều tra, mô tả thành phần sâu hại rau bắp cải

- Đánh giá hiệu quả sử dụng dung dịch ngâm quả ớt và dung dịch ngâm thân, lá cà chua trong phòng trừ sâu hại rau bắp cải

- Đánh giá ảnh hưởng của dung dịch ngâm quả ớt và dung dịch ngâm thân,

lá cà chua trong phòng trừ sâu hại rau bắp cải đến năng suất rau bắp cải tại Thái Nguyên

3 Ý nghĩa của đề tài

Trang 10

- Góp phần nâng cao ý thức mọi người về nền nông nghiệp sinh thái, hạn chế sử dụng các loại thuốc hoá học BVTV, cải tạo sinh cảnh và môi trường sống

1.3.2 Ý nghĩa thực tiễn

- Nghiên cứu cây ớt, cà chua có khả năng trừ sâu hại rau bắp cải là cơ sở cho nghiên cứu tìm hiểu hoạt chất và cơ chế tác động của hoạt chất đó lên sâu hại, góp phần nghiên cứu sản xuất ra các chế phẩm trừ sâu thảo mộc

- Góp phần khai thác tiềm năng sử dụng nguồn tài nguyên thực vật bản địa trong việc dập tắt các nạn dịch gây ra trong sản xuất nông, lâm nghiệp để nâng cao năng suất, chất lượng nông sản phẩm, đồng thời bảo vệ được môi trường, giữ cân bằng sinh học và bảo vệ những loài thiên địch

Trang 11

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 Cơ sở khoa học của đề tài

Thâm canh cây trồng ngày càng phát triển đã và đang làm thay đổi rất nhiều điều kiện sinh thái, môi trường sống và nguy hiểm hơn vì những chuyển dịch này lại đang nghiêng về phía tiêu cực, tạo ra một thế cân bằng mới bất lợi cho con người Tuy nhiên, vì lợi nhuận nhất thời muốn làm tăng năng suất cây trồng và do nhu cầu lương thực, thực phẩm nuôi sống con người nên con người vẫn phải đầu tư thâm canh ngày càng cao, làm phá vỡ hệ sinh thái đồng ruộng

Các quần thể ký sinh, bắt mồi ăn thịt đã bị giảm về số lượng Ong bướm thụ phấn cho hoa cũng bị tiêu diệt, đặc biệt đối với các cây trồng thụ phấn chéo Môi trường sống bị nhiễm các chất độc sau nhiều lần phun thuốc Số lượng thuốc hoá học có độ độc cao ngày càng lớn nhưng hiệu quả trong nhiều lần phun lại rất thấp, do sâu bệnh kháng và chống thuốc Người ta đã xác định được chỉ có 0,1-0,3% thuốc trừ sâu bệnh đạt được mục tiêu và 5-40% thuốc trừ cỏ có thể diệt được cỏ dại Ở Mỹ, các nhà khoa học đã tính toán 35-50% thuốc hoá học trừ sâu bệnh đã được sử dụng một cách không cần thiết Phần lớn thuốc sử dụng rộng rãi không đúng mục đích phòng trừ sâu, bệnh hại; một phần thuốc sử dụng ở nồng độ rất thấp để kích thích sự ra hoa, quả trái vụ… điều đó đã gây ô nhiễm môi trường trầm trọng Trước thực trạng đó, việc nghiên cứu và sử dụng một số loài thực vật bản địa trong phòng trừ sâu hại và

cỏ dại sẽ giúp cho sản xuất rau an toàn hơn và môi trường ít bị ô nhiễm Đề tài góp phần sử dụng và bảo tồn nguồn tài nguyên thực vật phong phú, đa dạng trong nước, đẩy mạnh hướng nghiên cứu về cạnh tranh sinh học, về mối quan hệ giữa các loài thực vật với nhau và mối quan hệ giữa thực vật với sâu hại cây trồng, đồng thời nâng cao ý thức mọi người, đặc biệt người nông dân

về nền nông nghiệp sinh thái, hạn chế sử dụng thuốc hoá học BVTV, cải tạo

Trang 12

sinh cảnh và môi sinh Đề tài nghiên cứu sẽ là những dẫn liệu khoa học phục

vụ cho việc sản xuất rau an toàn đảm bảo chất lượng cũng như môi trường, góp phần bảo vệ nguồn thiên địch có ích, tạo dựng một nền nông nghiệp sinh thái bền vững

1.2 Tổng quan tài liệu

1.2.1 Giá trị dinh dưỡng và ý nghĩa kinh tế của cây rau

1.2.1.1 Giá trị dinh dưỡng của cây rau

Cây rau có vị trí và tầm quan trọng hết sức to lớn đối với đời sống con người, bởi chúng cung cấp các chất dinh dưỡng cần thiết mà không loại thực phẩm nào có thể thay thế được Rau xanh có tác dụng cân bằng dinh dưỡng trong chế độ ăn uống của cơ thể con người, chúng cung cấp phần lớn các chất cần thiết như: vitamin, chất khoáng mà cây trồng khác không cung cấp đủ Kết quả nghiên cứu về mức tiêu thụ rau xanh tính trên đầu người cho thấy: ở các nước phát triển thường có mức tiêu thụ rau trên đầu người cao hơn các nước đang phát triển So sánh trên cùng một đơn vị diện tích trồng trọt, về hàm lượng các chất dinh dưỡng thì rau xanh có nhiều hơn so với cây lương thực khác, số liệu của Trung tâm phát triển châu Á (2008)

Bảng 1.1: Hàm lượng dinh dưỡng thu được từ một số loại cây trồng

Cây trồng Năng suất tiêu thụ

(tấn/ha)

Protein (kg/ha)

ß-carotene (g/ha)

Vitamin C (kg/ha)

Trang 13

Qua bảng 1.1 ta thấy: Nguồn dinh dưỡng từ rau xanh rất phong phú, chúng bao gồm: vitamin, protein, lipit, gluxit, các chất khoáng

và xơ,… Trong đó, chất khoáng và vitamin trong rau xanh nhiều hơn hẳn so với các cây trồng khác Hiện nay, trong khẩu phần ăn của con người, rau xanh cung cấp khoảng 90-99% nguồn vitamin A, 60-70% vitamin B2 và gần 100% vitamin C Vitamin đã giúp cho các hoạt động sinh lý trong cơ thể diễn ra một cách bình thường, mỗi loại vitamin có một chức năng khác nhau, nếu thiếu bất kỳ một loại vitamin nào sẽ gây rối loạn chức năng hoạt động sống của con người, ví dụ: nếu thiếu vitamin A sẽ bị bệnh quáng gà, hoặc mắt không có khả năng thích nghi với ánh sáng mờ, nếu bị nặng sẽ phát triển thành bệnh Xeropthlmia làm hỏng thị lực Thiếu vitamin B sẽ gây mệt mỏi, kém ăn, cơ thể tê phù … Như vậy, nếu thiếu các loại vitamin sẽ làm giảm sức dẻo dai, giảm hiệu suất làm việc, dễ phát sinh bệnh tật (Bùi Bảo Hoàn & Đào Thanh Vân, 2000; Sở Nông nghiệp & phát triển nông thôn Hà Nội, 2000) [7]

Qua bảng 1.1 ta cũng thấy rằng: Các cây trồng thuộc họ cải cho hàm lượng vitamin và protein là rất lớn Trong đó thì bắp cải là một loài thuộc chi cải( Brassica), có nguồn gốc ở vùng biển phía Đông và Tây Châu Âu Bắp cải

là loại rau chủ lực trong họ nhà cải còn gọi là họ hoa thập tự ( Brassicacêal Cruciferae)

Về mặt dinh dưỡng có trong 100g bắp cải, cung cấp cho cơ thể 25 calo, natri là 18mg; tinh bột là 5g; chất xơ là 2g; protein là 1g; vitamin A là 133IU; vitamin C là 32g; canxi là 47mg và sắt là 1mg Lượng vitamin C có trong bắp cải chỉ thua cà chua, lượng vitamin C có trong bắp cải nhiều hơn 4,5 lần so với cà rốt và 3,6 lần so với khoai tây và hành tây (Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam)

1.2.1.2 Ý nghĩa kinh tế của cây rau

Rau xanh là cây trồng mang lại giá trị và hiệu quả kinh tế cao, trong nhiều mặt hàng nông sản xuất khẩu thì rau xanh đã đóng góp một nguồn thu nhập ngoại tệ đáng kể Những năm 1986-1990, nước ta đã xuất khẩu rau sang Liên

Trang 14

Xô và các nước Đông Âu, nhưng do tình hình chính trị biến động nên việc xuất khẩu bị giảm Từ năm 1995 trở lại đây, hoạt động xuất khẩu rau xanh được phục hồi, hiện nay có tới hơn 40 nước là thị trường rau của Việt nam Các mặt hàng rau xuất khẩu chủ yếu là: ớt cay, cà chua, dưa chuột Nếu những năm 1986-1990, kim ngạch xuất khẩu đạt trên 70 triệu USD/năm, thì

từ năm 1991 đến nay lượng rau xuất khẩu đã đạt 10.000 tấn, so với lúa gạo thì giá trị rau quả xuất khẩu gấp 1,5 – 3 lần (Tạ T Thu Cúc và cs, 2000) [3]

Theo số liệu của Tổng cục thống kê năm 2000 cho biết, tổng giá trị sản xuất của ngành trồng trọt năm 1990 là 51.247,5 tỷ đồng Trong đó, riêng rau đậu

đã đạt được 3.477 tỷ đồng Năm 2000, tổng giá trị của ngành trồng trọt là 86.860 tỷ đồng, trong đó sản phẩm rau, đậu đạt 5.891,1 tỷ đồng (Tổng cục thống kê, 2000)

Trồng rau có hiệu quả hơn so với các cây trồng khác về khả năng khai thác năng suất/một đơn vị diện tích/một đơn vị thời gian, vì chúng có đặc điểm là sinh trưởng và phát triển nhanh trong một thời gian ngắn Theo Cẩm nang trồng rau, cứ 1 ha khoai tây có thể cung cấp lượng calo nhiều hơn 1-1,5 lần so với 1 ha lúa hoặc lúa mì, năng suất đậu có thể lên tới 20 - 30 tấn/ha trong đó 5 – 6 tháng, chỉ trong 20 – 30 ngày năng suất rau dền và rau muống đạt tới 10 tấn/ha (Trần Văn Lài, Lê Thị Hà, 2002) [8]

Theo Tô Thị Thu Hà và Nguyễn Văn Hiền (2005), tại vùng ven đô Hà Nội, thu nhập của việc trồng rau cao gấp 4 lần so với các cây lương thực, trong khi chi phí chỉ gấp 2 lần Điều này dẫn tới lãi thuần của cây rau cao hơn

14 lần so với cây lương thực

Cây rau đã góp phần cải thiện được đời sồng của người nông dân trong những năm gần đây, góp phần xoá đói giảm nghèo, điển hình: Ở Hưng Yên diện tích rau màu của huyện Yên Mỹ chỉ được trồng với diện tích nhỏ nhưng hiện nay cây rau đã trở thành cây trồng có giá trị kinh tế cao cho thu nhập 5 -

7 triệu đồng/sào (website Hội nông dân Việt Nam) Xã Xuân Bắc (huyện Xuân Lộc) tỉnh Đồng Nai là một vùng thuần nông trước đây người dân sống

Trang 15

chủ yếu bằng nghề trồng lúa nên đời sống hết sức khó khăn Vài năm gần đây nhiều nông dân đã chuyển diện tích trồng lúa sang trồng rau, đậu các loại năng suất 3,5 tấn/sào mang lai thu nhập cao hơn trồng lúa 6 - 7 lần (Theo báo Đồng Nai, 14/2/2008) Người dân xóm 7 xã Yên Khánh (Ninh Bình) đã thành công trong phát triển rau trái vụ với gần 100 hộ tham gia, bình quân các hộ trong xã đều đạt thu nhập từ 20 - 30 triệu đồng nhờ trồng rau trái vụ.(Báo Ninh Bình điện tử năm 2009)

Bắp cải thích hợp với đất thịt nhẹ, cao ráo, dễ thoát nước Sau 3 tháng, thu hoạch có năng suất đạt 2 tấn/sào, với giá bán cho thương lái 3,5 - 4 ngàn đồng/kg sau khi trừ chi phí còn cho lãi trên 110 triệu đồng NASATI (Theo Trung tâm Khuyến nông Hà Tĩnh, ngày 21/04/2011)

Như vậy so với các cây trồng khác cây rau là cây có giá tri kinh tế cao, cho thu nhập vượt trội hơn so với lúa và một số loại cây trồng khác, điều này

đã được thực tiễn chứng minh và công nhận

1.2.2 Sơ lược tình hình phát triển rau trên thế giới và Việt nam

1.2.2.1 Sơ lược tình hình phát triển rau trên thế giới

Hiện nay, trên thế giới có rất nhiều chủng loại rau được gieo trồng, diện tích rau ngày càng gia tăng để đáp ứng nhu cầu về rau của người dân (Mai Phương Anh, Trần Văn Lài, Trần Khắc Thi, 1996) [11] Năm 1961 – 1965, tổng lượng rau của thế giới là 200.234 tấn; từ năm 1971 – 1975 tổng lượng rau đạt 293.657 tấn và từ năm 1981 – 1985 là 392.060 tấn; đến năm 1996 tổng lượng rau đã lên đến 565.523 tấn Sản lượng rau trên thế giới tăng lên rất nhanh, điều đó chứng tỏ nhu cầu rau của con người ngày càng tăng Trên thế giới, những nước có sản lượng rau tăng nhanh nhất là Ý, năm 1961 đạt 9.859 nghìn tấn; đến năm 1996 sản lượng tăng đạt 13.555 nghìn tấn Ở Hà Lan, năm

1985 bình quân 84 kg/người/năm; đến năm 1990 đạt 202 kg/người/năm Ở Canada, mức tiêu thu rau bình quân là 70 kg/người/năm (Tạ T Thu Cúc, 2000) [3]

Trang 16

Cho đến nay, tình hình sản xuất rau trên thế giới không ngừng phát triển

cả về diện tích và sản lượng thể hiện qua bảng sau:

Bảng 1.2: Tình hình sản xuất rau trên thế giới qua các năm

Năm Diện tích(ha) Năngsuất (tấn/ha) Sản lượng(tấn)

Qua bảng 1.2 ta thấy: Tình hình sản xuất rau trên thế giới từ năm

2005 trở lại đây có nhiều biến động cả về diện tích, năng suất và sản lượng

- Về diện tích: Từ năm 2005- 2009 diện tích trồng rau trên thế giới đã tăng lên nhanh chóng Năm 2005 diện tích trồng rau trên thế giới chỉ có 16.478.642,00 ha, nhưng đến năm 2009 đã lên tới 17.873.286,00 ha Như vậy chỉ sau 4 năm diện tích trồng rau của thế giới đã tăng 139.464,00 ha (trung bình tăng 348.661,00 ha) Qua đó cho thấy, cây rau chiếm vị trí ngày càng quan trọng trong nền sản xuất nông nghiệp thế giới

- Về năng suất: Nhìn chung trong những năn gần đây năng suất giảm dần nhưng không đáng kể từ 14,30 tấn/ha năm 2005, đến 2009 năng suất chỉ còn là 13,91 tấn/ha

- Về sản lượng: Từ năm 2005 trở lại đây tuy năng suất rau không tăng nhưng do diện tích qua các năm tăng nên sản lượng rau trên thế giới đã tăng

rõ rệt, bình quân hàng năm tăng 34.276.844,00 tấn/năm Nhìn vào bảng trên chúng ta thấy sản lượng rau tăng mạnh vào năm 2008 nhưng lại có xu hướng giảm xuống vào năm 2009 Tuy nhiên điều đó chứng tỏ nghề trồng rau trên thế giới đang có xu hướng phát triển nhanh chóng, rau xanh đã trở thành nhu cầu thiết yếu và ngày càng tăng lên với đời sống của con người

Trang 17

Riêng đối với rau bắp cải Theo số liệu của FAO năm 2010, diện tích trồng rau cải bắp trên thế giới là 2.256.717 ha, năng suất đạt 28,3306 tấn/ha

và đạt sản lượng là 64.326.757 tấn Nhìn chung năng suất rau bắp cải trong những năm gần đây tương đối ổn định nhờ việc sử dụng các giống mới, các giống lai và các phương pháp canh tác tiên tiến, đặc biệt là các giống ở Châu

Âu dần đựơc canh tác rộng rãi ở các nước Châu Á và ban đầu lan dần sang các nước Châu Phi Diện tích, năng suất và sản lượng rau bắp cải của thể giới giai đoạn 2006 –2010 được thể hiện qua bảng 1.3

Bảng 1.3: Diện tích, năng suất và sản lượng rau bắp cải trên thế giới giai

Qua bảng 1.3 ta thấy: Tình hình sản xuất rau bắp cải trên thế giới từ năm

2006 trở lại đây có nhiều biến động về cả diện tích, năng suất và sản lượng

- Về diện tích: Từ năm 2006 đến năm 2010, diện tích trồng rau bắp cải của thế giới có sự suy giảm về diện tích Năm 2009, diện tích giảm mạnh nhất, giảm 161.328 ha so với năm 2006 Năm 2010 diện tích có giảm nhưng giảm ít hơn so với các năm khác và chỉ giảm 28.174 ha so với năm 2006 Điều đó chứng tỏ, cây rau bắp cải vẫn giữ một vai trò quan trọng trong đời sống của con người, vẫn là nguồn cung cấp rau xanh chủ yếu cho con người

Trang 18

- Về năng suất: Năng suất trung bình của rau bắp cải trên thế giới giai đoạn 2006-2010 đạt 28,4129 tấn/ha Năng suất bắp cải cũng có sự biến động Năm 2007, năng suất rau bắp cải đạt cao nhất là 29,6305 tấn/ha, cao hơn năm

2006 là 17.726 tấn/ha Đến năm 2010, năng suất rau bắp cải có giảm so với năm 2007 nhưng giảm nhẹ so với năng suất trung bình, đạt 28,3306 tấn/ha Năng suất giảm ngoài yếu tố sâu bệnh thì còn phải kể đến ảnh hưởng của biến đổi khí hậu, dẫn đến không kiểm soát được các yếu tố tự nhiên như: Nhiệt độ,

độ ẩm, ánh sáng… Do đó, phẩn nào làm suy giảm năng suất rau bắp cải trên thế giới

- Về sản lượng: Trong giai đoạn này, sản lượng rau bắp cải có sự suy giảm, đạt cao nhất vào năm 2006 là 66.459.630 tấn, thấp nhất vào năm 2007 đạt 61.200.919 Có sự giảm mạnh như vậy giảm 5.258.711 tấn) là do thời tiết trong năm có nhiều diến biến phức tạp

Về nhu cầu tiêu thụ rau trên thế giới, theo FAO dự báo, từ nay cho đến năm 2011, hàng năm tăng bình quân 3,6%, trong đó, tốc độ tăng trưởng về sản lượng chỉ khoảng 2,8% Như vậy, thị trường rau trên thế giới chưa đáp ứng được nhu cầu tiêu thụ Trong những năm qua, nhu cầu nhập khẩu rau bình quân trên thế giới tăng 1,8% mỗi năm Các nước có nhu cầu nhập khẩu rau cao đó là: Pháp, Đức, Canada khoảng 155.000 tấn mỗi năm; Anh, Mỹ, Bỉ, Hồng Kông, Singapo khoảng 120.000 tấn mỗi năm Một số nước có lượng rau xuất khẩu lớn trên thế giới là: Trung Quốc (609.000 tấn/năm); Ý, Hà Lan khoảng 140.000 tấn/năm Theo dự bảo của FAO, ước tính đến năm 2011, giá xuất khẩu rau tươi khoảng 526 USD/tấn và giá nhập khoảng 703 USD/tấn Như vậy, rau tươi là một trong những mặt hàng nông nghiệp xuất khẩu có giá trị Hơn nữa, nhu cầu rau trên thế giới ngày một tăng bởi vậy rau có vị trí lớn trên thị trường thế giới (Faostat, 2006)

1.2.2.2 Tình hình phát triển rau ở Việt nam

Nước ta có lịch sử trồng rau từ lâu đời Ngay từ đời vua Hùng, người ta đã phát hiện thấy bầu, bí được trồng trong vườn gia đình Theo sổ sách ghi chép

Trang 19

thì cây rau được nhập vào nước ta từ thế kỷ thứ X Thế kỷ thứ XVIII, Lê Quý Đôn đã tổng kết các vùng phân bố rau trong cả nước Vào giữa thế kỷ IXX, nhân dân ta đã biết trồng cải trắng và cải bẹ đông dư Cuối thế kỷ IXX, nhân dân đã biết trồng rất nhiều loại rau có nguồn gốc từ Châu Âu như: cải bắp, su hào, súp lơ, cà rốt, hành tây,… Thế kỷ XX ở nước ta đã hình thành và phát triển các vùng chuyên canh Mặc dù, nghề trồng rau ở nước ta ra đời từ rất sớm, trước cả nghề trồng lúa nước nhưng sản xuất rau còn manh mún, các chủng loại rau còn nghèo nàn, diện tích và sản lượng thấp so với tiềm năng đất đai, khí hậu Việt Nam. (Tạ T Thu Cúc, 2000) [3]

Theo Trần Khắc Thi (2003) [11], năm 1995 cả nước có diện tích trồng rau là 368,5 ha; sản lượng là 4.145,56 triệu tấn Nếu so với năm 1985 thì diện tích rau tăng 46,4%, bình quân mỗi năm tăng 10.000 ha Diện tích trồng rau trong

cả nước tính đến năm 2000 là 445.000 ha, tăng 261.090 ha, tăng khoảng 70%

so với năm 1990 Bình quân hàng năm tăng 18,4% nghìn ha (mức trung bình 7%/năm) Trong đó, các tỉnh phía Bắc là 249.200 ha, chiếm 56%, còn các tỉnh phía Nam là 196.000 ha, chiếm 44% diện tích canh tác

Theo số liệu thống kê của FAO (2006), những năm gần đây, diện tích rau của ta ngày càng được mở rộng từ 494.500 ha năm 2001 lên 525.000 ha năm

2005, bình quân mỗi năm tăng 7.625 ha (mức tăng 1,5%/năm)

Theo Phạm Thị Thùy (2005) [10], năng suất rau xanh ở nước ta còn thấp

và bấp bênh Năm 1998, năng suất cao nhất cũng chỉ đạt 144,8 tạ/ha bằng 80% so với mức trung bình của toàn thế giới (xấp xỉ 80 tạ/ha) Nếu so với năm 1990 là 123,5 tạ thì năng suất bình quân trong cả nước trong 10 năm cũng chỉ tăng 11,5 tạ/ha Hà Nội, Vĩnh Phúc, Hải Phòng, TP Hồ Chí Minh,

Đà Lạt là các tỉnh có năng suất rau cao hơn cả nhưng cũng chỉ đạt năng suất bình quân ở mức 160 tạ/ha Năng suất trung bình thấp nhất là ở các tỉnh miền trung, chỉ bằng một nửa so với năng suất trung bình cả nước Theo số liệu thống kê, những năm gần đây năng suất tương đối ổn định, năm 2005 đạt 125,714 tạ/ha (Faostat, 2006)

Trang 20

Sản lượng rau có chiều hướng gia tăng, năm 2000 đạt hơn 6 triệu tấn,

tăng 81% so với năm 1990, mức tăng sản lượng trung bình hàng năm từ 1990

– 2000 là xấp xỉ 260 ngàn tấn (Trần Khắc Thi, 2003) [12] Do diện tích tăng

nhanh làm cho sản lượng rau ở nước ta tăng đáng kể, từ 5.632.100 tấn năm

2000 tăng lên 6.600.000 tấn năm 2005 Như vậy, chỉ trong 4 năm sản lượng

rau tăng 967.900 tấn, chủ yếu từ hai vùng chuyên rau chuyên canh ven thành

phố và vùng rau luân canh với cây lương thực (FAO, 2006)

Qua bảng số liệu dưới đây ta thấy sản lượng rau tăng đều qua các

năm từ 2003 đạt 6.326.270,00 tấn, đến năm 2009 sản lượng là 6.313.390,00

tấn Tuy nhiên do diện tích tăng nhanh làm cho sản lượng rau của nước ta

tăng đáng kể, từ 6.326.270,00 tấn năm 2003 tăng lên 6,600.000,00 tấn năm

2005.Như vậy chỉ trong 2 năm sản lượng rau tăng 273.730 tấn, chủ yếu từ

hai vùng rau chuyên canh ven thành phố và vùng rau luân canh với cây

Cho đền nay, diện tích, năng suất và sản lượng rau nói chung và rau

bắp cải nói riêng có xu hướng ngày càng tăng thể hiện qua bảng sau:

Trang 21

Bảng 1.5: Diện tích, năng suất và sản lượng rau bắp cải của Việt Nam giai

- Về năng suất: Năng suất trung bình của rau bắp cải ở Việt Nam đạt 17 tấn Giữa các năm có sự tăng giảm không đáng kể So với năng suất rau bắp cải trên thế giới thì rau bắp cải Việt Nam còn kém hơn 10 tấn Do đó, Việt Nam cần áp dụng các biện pháp khoa học kỹ thuật tiên tiến trong việc trồng bắp cải nhằm đưa năng suất rau bắp cải cao hơn nữa đáp ứng nhu cầu trong nước và xuất khẩu

- Về sản lượng: Sản lượng rau bắp cải tăng nhanh trong những năm gần đây Trong đó, tăng mạnh nhất trong hai năm 2008 - 2009( tăng 32,286 tấn) Như vậy, trong giai đoạn trên, năng suất rau bắp cải của Việt Nam đạt sản lượng trung bình là 715.836 tấn

Năm 2006, cả diện tích và sản lượng rau bắp cải của Việt Nam đều thấp hơn so với các năm khác Nguyên nhân là do trong năm 2006, thiên tai hạn hán, bão, lụt, lũ quét, lốc và mưa đá đã xảy ra nhiều ở nước ta, đặc biệt là bão

Trang 22

xảy ra liên tiếp và phức tạp, gây thiệt hại nghiêm trọng về người, tài sản, công trình hạ tầng, gây nhiều khó khăn cho sản xuất, đời sống của nhân dân ( Trung tâm khí tượng thuỷ văn Quốc gia)

Đánh giá về thực trạng sản xuất rau ở nước ta trong thời gian qua, nhiều tác giả cho rằng: hiện nay sản lượng và năng suất rau ở nước ta còn thấp, quy

mô còn phân tán, chất lượng không ổn định, phần lớn rau không đủ tiêu chuẩn xuất khẩu tươi và chế biến công nghiệp Mức tiêu thụ nội địa còn thấp, chỉ số bình quân đầu người đạt 60 – 65 kg/năm Sở dĩ có những hạn chế đó là do, việc quản lý, thiếu cải tiến kỹ thuật, canh tác chủ yếu thiên về năng suất, chưa chú trọng đến chất lượng sản phẩm cho nên rau tươi Việt nam chưa đảm bảo

an toàn cho người sử dụng Mặt khác, xuất khẩu rau còn quá ít, khả năng cạnh tranh trên thị trường Quốc Tế kém Hiện nay Việt nam có 40 nước là thị trường xuất khẩu rau nhưng chúng ta lại không đủ điều kiện, mới chỉ xuất khẩu được khoảng 1 – 2% sản lượng.Rau nước ta không thể cạnh tranh được với thị trường Quốc tế mà ngay cả trong nước vì rau tươi của chúng ta đang bị các sản phẩm nhập khẩu lấn át (Cục chế biến Nông lâm sản và ngành nghề nông thôn, 200; Đường Hồng Dật, 1971; Đường Hồng Dật, 2002; Nguyễn Văn Miện, Nguyễn Trọng Hùng, Ngô Văn Công, 2001) [5]

Theo tác giả Tạ Thu Cúc (2000) [3], phương hướng nghiên cứu và phát triển rau đến năm 2010 ở nước ta đảm bảo chất lượng rau sạch cung cấp cho mười triệu dân, bình quân 100 kg/người/năm Do đó, phải sản xuất ít nhất 8,5 triệu tấn rau/năm cho tiêu dùng và 3 triệu tấn cho đô thị Phải phát triển rau trở thành ngành sản xuất quan trọng trong nông nghiệp để tạo ra những vùng chuyên canh rau có giá trị hàng hóa cao, đủ tiêu chuẩn, đáp ứng nhu cầu xuất khẩu

1.2.3 Hiện trạng sản xuất rau ở Việt Nam nói chung và ở Thái Nguyên nói riêng 1.2.3.1 Hiện trạng san xuất rau ở việt nam

Ở nước ta do cấu trúc địa hình phức tạp nằm trong vùng nhiệt đới có

gió mùa, ngoài hai đồng bằng chính là Đồng Bằng Sông Hồng và Đồng Bằng Sông Cửu Long còn lại đại bộ phận chiếm 2/3 là đồi núi gây nên nhiều vùng

Trang 23

khí hậu khác nhau từ đó gây ra không ít khó khăn cho việc sản xuất rau ở nước ta Những năm gần đây mặc dù diện tích cây hàng năm liên tục giảm do quá trình đô thị hóa nhưng diện tích sản xuất các loại cây thực phẩm đáp ứng nhu cầu người tiêu dùng ngày càng tăng, nhất là các loại rau, mầu thực phẩm Điều đó chứng tỏ việc chuyển dịch cơ cấu cây trồng theo hướng tăng diện tích các loại cây thực phẩm có ý nghĩa quyết định đến tốc độ phát triển của ngành trồng trọt nói riêng và sản xuất nông nghiệp nói chung Trong các cây thực phẩm thì nhóm ăn lá, củ, quả chủ yếu là: cà, đậu, dưa, rau xanh các loại, rau gia vị… dễ bị ảnh hưởng các yếu tố không an toàn chiếm tới gần 70% diện tích Mặt khác khí hậu nóng ẩm mưa nhiều tạo điều kiện tốt cho sâu bệnh phát triển và diễn biến hết sức phức tạp

Người dân thì chạy theo lợi nhuận để loại trừ sâu bệnh hại trong quá trình sản xuất rau đã sử dụng bừa bãi các loại thuốc BVTV gây quen thuốc, dẫn đến ngày càng phát triển mạnh hơn …Sản xuất rau ở nước ta còn phụ thuộc nhiều vào điều kiện tự nhiên, thường xuyên xảy ra bão lụt thiên tai, gây nhiều rủi ro cho người sản xuất Môi trường sống bị ô nhiễm, hệ sinh thái mất cân bằng đặc biệt là nguồn nước sinh hoạt của con người bị nhiễm độc sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe của con người và các thế hệ trong tương lai Mặc dù nghề trồng rau trong những năm vừa qua có những bước tiến đáng kể, nhưng mới tập trung ở khu vực chuyên canh ven thành phố, lượng hạt giống mới nhập về còn hạn chế chưa có một nền sản xuất lớn tập trung chưa đáp ứng đồng bộ các biện pháp kỹ thuật tiên tiến vào sản xuất Do đó năng suất rau còn thấp, giá thành lại cao, chưa coi trọng quản lý kỹ thuật canh tác chủ yếu tập trung vào năng suất chưa chú trọng đến chất lượng sản phẩm

do đó rau tươi ở Việt Nam chưa đảm bảo an toàn cho người sử dụng dẫn đến hạn chế rất nhiều cho xuất khẩu

1.2.3.2 Tình hình sản xuất rau ở Thái Nguyên giai đoạn 2006- 2010

Theo thống kê của cục thống kê Thái Nguyên từ năm 2006- 2010,diện tích gieo trồng và sản lượng rau được thể hiện qua bảng sau

Trang 24

Bảng 1.6: Diện tích sản lượng rau của một số địa phương trong tỉnh

Trang 25

Qua bảng 1.6 cho thấy từ năm 2006 đến nay (2010) sản xuất rau ở Thái Nguyên đã tăng theo hướng sản xuất hàng hóa Nhìn chung toàn tỉnh về cả diện tích và sản lượng rau đều tăng lên, cụ thể vào năm 2006 diện tích rau toàn tỉnh là 7176 ha cho đến năm 2010 diện tích đạt 8920 ha tăng 1,24 lần so với năm 2006 Về sản lượng năm 2006 đạt 8523 tấn nhưng đến năm 2010 sản lượng đã đạt tới 139635 tấn tăng 1,36 lần so với năm 2006 Tuy nhiên diện tích trồng rau ở các huyện còn có sự chênh lệch khá rõ ràng như ở huyện Đại

Từ vào năm 2010 là vùng có diện tích trồng rau lớn nhất là 2417 ha gấp 8,33 lần so với huyện trồng rau ít nhất là huyện Phú Lương chỉ đạt 290 ha (2010) Riêng về huyện Đồng Hỷ đây cũng là một vùng trồng rau lớn của tỉnh Diện tích trồng rau của huyện đứng thứ 4 trong tỉnh (2010) chiếm 12% so với diện tích trồng rau toàn tỉnh Tuy nhiên diện tích trồng rau của huyện qua các năm lại có xu hướng giảm xuống cụ thể năm 2008 diện tích trồng rau của huyện là 1270 ha nhưng đến năm 2010 diện tích chỉ còn 1071 ha

Sản xuất nông nghiệp nói chung và sản xuất rau nói riêng chủ yếu phụ thuộc vào điều kiện thời tiết khí hậu, những biến động bất thường của tự nhiên như nhiệt độ xuống quá thấp vào mùa đông, khô hạn kéo dài … làm ảnh hưởng xấu tới sản xuất rau Thêm vào đó là sự chuyển dịch cơ cấu cây trồng của địa phương, sử dụng đất nông nghiệp vào các mục đích khác làm cho diện tích trồng rau giảm Tuy diện tích rau có giảm nhưng tổng sản lượng rau của huyện vẫn tương đối ổn định Có được điều đó là do sự đầu tư của người dân trong quá trình chăm sóc, sử dụng những giống rau có năng suất cao …Về sản lượng rau của huyện năm 2010 đạt 19469 tấn đứng thứ tư trong toàn tỉnh và chiếm 14% so với tổng sản lượng rau của toàn tỉnh

Từ đó có thể khẳng định rằng Đồng Hỷ là một huyện có đủ điều kiện sản xuất rau, đáp ứng nhu cầu tiêu thụ của huyện và một phần tỉnh Thái Nguyên Điều đó cho thấy sản xuất rau chiếm một vị thế hết sức quan trọng trong sản xuất nông nghiệp của huyện phục vụ nhu cầu thiết yếu của nhân dân

Trang 26

Về năng suất và sản lựợng của một số loại rau chính ở Thái Nguyên đƣợc thể hiện qua bảng 1.7

Bảng 1.7: Diện tích ,năng suất và sản lượng của một số loại rau chính của

tỉnh Thái Nguyên qua các năm

(Nguồn : Cục thống kê tỉnh Thái Nguyên tháng 3-2011)

Qua bảng 1.7 cho thấy diện tích trồng rau của tỉnh tuy không nhỏ nhƣng

do chƣa tập trung, chƣa có sự đầu tƣ lớn, các chủng loại rau chƣa có sự đa dạng mới chỉ sản xuất một số loại rau phổ biến nhƣ rau muống, bắp cải, su hào Vì vậy hiệu quả kinh tế còn chƣa cao

Tùy mùa vụ mà chất lƣợng rau có thay đổi, các loại rau chủ yếu trong vụ đông xuân là su hào, bắp cải trong đó diện tích trồng bắp cải là lớn nhất và tăng dần qua các năm cụ thể: Ở năm 2006 diện tích bắp cải là 1040 ha gấp 1,2 lần so với su hào 958 ha, đến năm 2010 diện tích rau bắp cải tăng lên 1290 ha gấp 1,2 lần so với năm 2006 Về sản lƣợng rau bắp cải vẫn là loại rau có sản lƣợng lớn nhất trong vụ này cụ thể là năm 2010 sản lƣợng rau bắp cải là

22845 tấn còn su hào đạt 22622 tấn

Trang 27

Qua các năm cùng với sự tăng lên về diện tích và nhận thấy sự quan trọng của cây bắp cải trong vụ đông xuân, cùng với kinh nghiệm và kiến thức trồng rau của người dân ngày càng cao nên sản lượng rau bắp cải và một số rau khác đều được nâng cao Từ đó cho thâý rau bắp cải là loại rau chủ lực và được trồng chủ yếu trong vụ này

1.2.4 Sơ lược lịch sử nghiên cứu về các loài thực vật nói chung và cây ớt, cây cà chua nói riêng trong phòng trừ sâu hại trên thế giới và Việt Nam 1.2.4.1 Tình hình nghiên cứu về các loài thực vật trong phòng trừ sâu hại

Từ xa xưa, trong quá trình phát triển con người đã biết khai thác,

sử dụng những cây hoang dại có tính độc để săn bắn, ruốc cá Dần dần, con người còn biết dùng những cây dại để trừ chấy rận, rệp, bọ hại người

và gia súc

Từ 300 năm trước công nguyên, khi học giả Theophrastus nhận thấy, cây đậu Chikpea gây ức chế cây trồng thông qua việc tiết vào đất một chất nào đó Nhiều năm sau Pliny II và các nhà khoa học Culpeper, Young và

De candole (thế kỷ I sau công nguyên) cũng đề cập đến vấn đề này Tuy nhiên đó chỉ là những nhận xét trực quan chứ không phải là những thí nghiệm so sánh (Rice, 1984)

Vào đầu thế kỷ XIX, nhà phân loại thực vật nổi tiếng De Candole đã gây được sự chú ý, khi ông quan sát thấy các chất tiết ra từ rễ của một số loại cây đã gây ra hiện tượng “đất ốm” và điều này có thể khắc phục được nếu có chế độ luân canh thích hợp (De Candole, 1832) Sự quan sát của ông mới chỉ dựa trên các thí nghiệm đơn giản Vì thế, giả thiết của ông đã bị nhiều học giả bác bỏ

Vào đầu thế kỷ XX, vấn đề này lại được quan tâm và xới xáo lên bởi các nghiên cứu của Schreiner & các cộng sự ở Mỹ (Schreiner & Reed, 1907, 1908) và Pickering cùng các cộng sự ở Anh (Willis, 1997)

Từ năm 1960 đến nay, những nghiên cứu về những loài thực vật có khả năng phòng trừ dịch hại cây trồng đã thực sự thu hút được sự quan tâm của

Trang 28

nhiều nhà khoa học trong lĩnh vực nông nghiệp và những nghiên cứu này đã được tiến hành trong phòng thí nghiệm, nhà kính, đồng ruộng và từ đó người

ta đã bắt đầu biết khai thác các hợp chất độc thiên nhiên để diệt trừ sâu hại, bảo vệ mùa màng Trong đó, ba hợp chất nicotine, rotenone và pyrethrin là 3 loại thuốc trừ sâu điển hình và phổ biến nhất thế giới từ cuối thế kỷ 17 đến đầu thế kỷ 20 Hàng năm, có hàng ngàn, thậm chí hàng chục ngàn tấn nguyên liệu được khai thác Đồng thời với 3 loại thuốc chủ yếu trên, nhiều loài cây độc khác cũng được chú ý nghiên cứu và khai thác Đặc biệt, từ khi thuốc hóa học đã bộc lộ những mặt tiêu cực của nó, người ta đã chú ý tới thuốc thảo mộc và các loại thuốc sinh học khác Nhiều nước đã liên tiếp công bố các loài cây độc có khả năng trừ sâu hại ở nước mình Điển hình là công trình đồ sộ của Grainge et al (1984) và Jacobson (1990) đã giới thiệu hàng ngàn cây độc

có khả năng trừ sâu, bệnh hại cây trồng và cơ chế tác động của nó Từ năm

1970 trở lại đây, thế giới chú ý nhiều tới cây neem – một loài xoan Ấn Độ có khả năng trừ sâu lý tưởng và đã có nhiều hội nghị Quốc Tế tổng kết, trao đổi, giới thiệu và xu hướng sử dụng cây neem làm thuốc trừ sâu thảo mộc

Những hiểu biết về những loài thực vật có khả năng phòng trừ dịch hại cây trồng được tích lũy nhiều hơn và cơ chế tác động của những loài thực vật

đó đã dần dần được làm sáng tỏ Rất nhiều nghiên cứu tập trung vào việc sử dụng những loài thực vật đó để trừ cỏ, trừ sâu và bệnh hại cây trồng

Các nước khác như Hoa Kỳ, Nhật Bản, Úc và Thái Lan, việc dùng thuốc trừ sâu có nguồn gốc thảo mộc được sử dụng rộng rãi trong các loại rau sống

ăn trực tiếp vào cơ thể như: Dưa leo, xà lách, cà rốt, hành ngò, rau gia vị… Vì tính an toàn gần như tuyệt đối của nó Các nhà khoa học trên thế giới đã đầu

tư để chiết xuất ra các hoạt chất tạo thành một dòng các sản phẩm có nguồn gốc sinh học chủ yếu trừ sâu, nấm bệnh và kích thích sinh trưởng như: Khuẩn Bacillus Thuringensis, nấm Trichoderma, hoạt chất Azadirachtin từ cây xoan neem, Karanjin chiết xuất từ cây hoa đào Ấn Độ, Matrine chiết xuất từ cây khổ sâm…

Trang 29

Nghiên cứu mới đây nhất về các loại thực vật có nguồn gốc thảo mộc được nhóm các nhà khoa học do tiến sĩ Muray Isman thuộc đại học British Columbia ở Vancouver, Canada phụ trách Họ đã mất 10 năm nghiên cứu khả năng trừ sâu của cây hương thảo, hung tây và bạc hà Kết quả cho thấy, dung dịch pha loãng chất chiết xuất từ các loại thảo mộc trên có thể diệt trừ hoặc xua đuổi sâu bọ Thuốc trừ sâu tự nhiên này được nông dân sử dụng và diệt trừ hiệu quả sâu bọ ở dâu tây và cà chua.( Cuộc họp của Hội hoá học Mỹ, 15 tháng 10 năm 2009, Washinhton)

Ngày nay, cùng với sự phát triển của kỹ thuật phân tích như: nguyên

tử đánh dấu sắc ký, quang phổ, thì việc nghiên cứu xác định, chọn lựa những loài cây trồng có khả năng phòng trừ dịch hại cây trồng ngày càng được quan tâm thực hiện một cách có hiệu quả Những nghiên cứu này đã và đang tạo tiền đề cho việc phân lập, chiết xuất và sản xuất các thuốc thảo mộc

để phòng trừ dịch hại cây trồng nhằm góp phần vào việc ứng dụng bảo vệ cây trồng theo hướng bền vững để đáp ứng nông sản thực phẩm an toàn cho cuộc sống chung của con người

Ở Việt Nam, ngay từ năm 1960 Lê Trường và cs đã đề cập đến hiệu lực trừ sâu của một số cây độc chính ở dạng đơn giản, nhưng ngay sau đó thuốc trừ sâu hóa học tràn vào, thuốc thảo mộc bị quên dần Cho đến năm 1980, thuốc thảo mộc lại được đề cập đến Trong các loài thực vật được nghiên cứu, cây ruốc cá được nghiên cứu đầy đủ nhất Lúc đó, cây ruốc cá được dùng nhiều để trừ cá dữ ở những vùng nuôi tôm cá Tuy nhiên còn gặp nhiều khó khăn trong việc chế biến bảo quản sản phẩm vì sản phẩm rotenone mất hiệu lực nhanh (Trần Quang Hùng và cs, 1985; Lê Trường, 1987; Nguyễn Quốc Tuấn & Nguyễn Xuân Dũng, 1994) [12]

Sau đó nhiều tác giả đã đề cập đến các khía cạnh khác nhau của thuốc thảo mộc như: thí nghiệm thăm dò tính độc của cây đối với sâu hại của Bùi Văn Ngạc (1979); Đinh Xuân Hưởng và cs (1987); Trần Minh Tâm (1992);

Trang 30

Trương Thị Ngọc Chi (1992); Vũ Quang Côn và cs (1993 – 1994) Giới thiệu kinh nghiệm dân gian (Dương Minh Tú, 1985; Nguyễn Xuân Dũng, 1993)

Từ năm 2001 đến nay, cả nước mới có 4 luận án tiến sỹ làm về vấn đề này nhưng chủ yếu là nghiên cứu ở nước ngoài (Trần Đăng Xuân, Nguyễn Hữu Hồng, Đỗ Ngọc Oanh của Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên và Nguyễn Văn Chín của Viện lúa Đồng bằng sông Cửu Long) Những kết quả nghiên cứu trên đều thống nhất đánh giá về sự cần thiết trong nghiên cứu và ứng dụng các kết quả nghiên cứu về những loài thực vật có khả năng phòng trừ dịch hại nói chung và trong trong lĩnh vực bảo vệ thực vật, y dược và bảo quản,… nói riêng

Từ năm 2004 – 2006, TS Phan Phước Hiền - Trường Đại học Nông Lâm TPHCM đã chủ trì thực hiện đề tài “Nghiên cứu chiết xuất và sử dụng các hoạt chất thứ cấp từ một số cây cỏ Việt Nam phục vụ sản xuất nông nghiệp, thực phẩm và y dược” Đề tài đã khảo sát thu thập, nghiên cứu đặc

điểm sinh hoá của cây Dewis trifoliata, Hibercus sabda Đồng thời ngâm

chiết, chưng cất, cô đặc, tinh sạch một số hợp chất hữu cơ phục vụ cho sản xuất các chế phẩm sinh học trong y dược

Cũng tương tự như vậy TS Nguyễn Hữu Hồng, Trường Đại học Nông Lâm thuộc Đại học Thái Nguyên đã nghiên cứu đề tài “Nghiên cứu khả năng

sử dụng một số loài thực vật vào việc phòng trừ cỏ dại cho lúa nước ở vùng miền núi phía Bắc Việt Nam” Kết quả đề tài đã thu thập đánh giá được vai trò và khả năng trừ cở dại cho lúa nước mạnh của 7 loài cây (cây cứt lợn, cây đơn kim, cây guột, cây cỏ lào, cây đậu ma, cây keo dậu và cây xoan)

Nghiên cứu mới đây nhất về các loại cây thảo mộc phòng trừ sâu là của Shugo Hama – Chuyên gia nông nghiệp hữu cơ của Đại học Nông – Công nghệ Tokyo Shugo Hama đã bỏ ra nhiều năm nghiên cứu những kinh nghiệm sản xuất truyền thống của người nông dân Nhật Bản sau đó đúc kết lại và mang phổ biến cho nông dân Việt Nam thông qua các dự án hợp tác nông nghiệp của Tổ chức hợp tác quốc tế Nhật Bản ( JICA) Dự án với các hoạt

Trang 31

động hỗ trợ kỹ thuật, hướng dẫn, giới thiệu cho người dân cách sản xuất nông nghiệp sạch, an toàn như: Chế biến phân bón hữu cơ, chế biến dấm than và thuốc trừ sâu từ hạt neem để phòng trừ bệnh…Tiến sỹ Lê Đình Hường – Khoa nông học Đại học Nông Lâm Huế cùng với dự án JICA đưa đến kiến thức cho người dân ở thôn Khe Su, xã Lộc Trì, huyện Phú Lộc, Tỉnh Thừa Thiên Huế những kỹ thuật của dự án JICA và kỹ thuật làm thuốc trừ sâu từ ớt, tỏi, hành, gừng…( Báo thanh niên, 19/9/2010)

Tuy có một số ít đề tài đã và đang nghiên cứu lựa chọn một số loài thực vật để phòng trừ dịch hại cây trồng nhưng số loài được nghiên cứu là rất khiêm tốn so với tiềm năng số lượng loài có thể nghiên cứu và ứng dụng ở Việt Nam Hơn nữa, chưa có đề tài nào nghiên cứu khả năng phòng trừ sâu hại và cỏ dại rau cải bằng những loài thực vật bản địa

1.2.4.2 Những nghiên cứu về cây ớt ,cây cà chua trên thế giới và Việt Nam 1.2.4.2.1.Cây ớt

1.2.4.2.1.1.Đặc điểm về cây ớt

* Đặc điểm sinh thái của cây ớt:

Cây ớt phát triển tốt ở đất thịt nhẹ, đất pha cát dễ thoát nước Hạt ớt nảy mầm ở 25-30oC, dưới 10oC hạt không mọc được Thời kỳ ra hoa cần nhiệt độ 15-20oC , cần nhiều ánh sáng Cây ớt có khẳ năng chịu hạn cao, lúc ra hoa chỉ cần độ ẩm trên 70% Song không chịu được úng, độ ẩm trên 80%, bộ rễ phát triển kém, cây còi cọc

*Công dụng của cây ớt :

Cây ớt là loại cây đã được con người trồng và thu hái từ lâu đời Bên

cạnh đó quả ớt còn là gia vị không thể thiếu trong các bữa ăn , giúp làm tăng cảm giác ngon miệng, ớt còn là vị thuốc rất quý trong y hoc cổ truyền có thể

chữa được nhiều căn bệnh một cách hữu hiệu

Theo y học cổ truyền ớt có vị cay, nóng, có tác dụng khoan trung, tán hàn, kiện tỳ, tiêu thực, chỉ thống (giảm đau), kháng nham (chữa ung thư…)

Trang 32

do vậy ớt thường được dùng để chữa đau bụng do lạnh, tiêu hóa kém, đau khớp, chữa rắn rết cắn…

Nghiên cứu của y học hiện đại cũng thống nhất với y học cổ truyền về tác dụng chữa bệnh của cây ớt Kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học Trung Quốc cho thấy quả ớt có rất nhiều tác dụng tốt cho sức khỏe của con người Trong ớt có chứa một số hoạt chất như capsicain là một alkaloid chiếm

tỷ lệ khoảng 0,05-2%, acid isodexenic vaninylamit, có đặc điểm bốc hơi ở nhiệt độ cao gây hiện tượng hắt hơi; ngoài ra còn có capsaixin là hoạt chất gây đỏ, nóng chỉ xuất hiện khi quả ớt chín chiếm tỷ lệ từ 0,01-0,1% hoạt chất này có tác dụng kích thích não bộ sản xuất ra chất endophin là một chất nội sinh có đặc tính như những thuốc giảm đau, đặc biệt có ích cho những bệnh nhân bị viêm khớp mãn tính và các bệnh ung thư (Đỗ Tấn Lợi, 2004)

Ngoài ra, ớt còn giúp ngăn ngừa bệnh tim do chứa một số hoạt chất giúp máu lưu thông tốt, tránh được tình trạng đông vón tiểu cầu dễ gây tai biến tim mạch Ớt còn có tác dụng ngăn ngừa tình trạng huyết áp tăng cao Một số nghiên cứu cho thấy, những loại ớt vỏ xanh, trái nhỏ có hàm lượng capsaicin nhiều hơn Ngoài ra, trong quả ớt còn chứa nhiều loại vitamin như vitamin C, B1, B2, acid citric, acid malic, beta caroten…(Đỗ Tấn Lợi, 2004)

Theo TS.Zhiming Zhu thuộc trường đại học quân y 3 Trùng Khánh ,Trung Quốc, caspaicin tạo nên vị cay của ớt có tác dụng làm giảm huyết áp

vì chất này sản xuất ra oxit nitơ- là một phần tử có chức năng bảo vệ thành mạch máu chống viêm và giữ cho mạch máu hoạt động bình thường

Tại miền Đông Bắc Trung Quốc, tỷ lệ người bị huyết áp cao trong dân số

là 20%, còn miền Tây Nam Trung Quốc, tỷ lệ này là từ 10-14%, tỷ lệ này giảm xuống 6-10% Zhu nói rằng người dân vùng Tây Nam Trung Quốc, trong đó có Tứ Xuyên, Qúy Châu, Vân Nam và Hồ Nam thích ăn những món cay có nhiều ớt (Đức Ngọc)

Trang 33

Theo Lương y Hoàng Duy Tân, (2011), ở Anh việc thêm một chút ớt cho bữa ăn hàng ngày có thể chống lại sự tích tụ của cholesterol trong máu so với chế độ ăn nhạt

Theo TS Steven Hickey, đại học Manchester ở Anh nửa chến ớt thái nhỏ (ớt vàng, xanh, đỏ…) chứa gấp đôi lượng vitamin C hằng ngày của bạn Đây

là chất dinh dưỡng quan trọng vì những người có lượng vitamin C ở mức thấp nhất có nguy cơ gia tăng viêm khớp gấp ba lần so với những người có lượng vitamin C cao nhất

Theo TS Laura Mignone, 2009, Đại học y tế cộng đồng Harvard, một vài lát ớt đỏ trong món salad sẽ giúp tăng cường chất carotenoid Phụ nữ tiền mãn kinh ăn gấp hai hoặc nhiều hơn khẩu phần thức ăn giàu carotenoid mỗi ngày sẽ giảm nguy cơ ung thư vú tới 17%, vì carotenoid có khẳ năng cản trở khẳ năng truyền tín hiệu của estrogen

Theo các nhóm khoa học Levy et al (1995), Sharonai et al (1994), Sharoni Y and Levy J (1996) ớt có tác dụng bảo vệ tim và ngăn ngừa đột quỵ, vì ớt cay và ớt ngọt đều chứa nhiều vitamin B Nếu say một ly (250ml) ớt cay, sẽ đảm bảo 36% lượng vitamin B-MBBBđược đánh giá cao như một gia vị và tính chất y học của nó Giá trị của cây ớt được đánh giá cao trong nông nghiệp hữu cơ và trồng trong nhà kính bởi ớt đã được sử dụng đã được công nhận và sử dụng rộng rãi Ở California (Mỹ ) đã có đến

50 sản phẩm thuốc trừ sâu chứa ớt như chế phẩm ớt + đinh hương + nước +

xà phòng, bột ớt + bột hành tây …

Theo Sally Odum (2008) Ớt là loại thuốc trừ sâu tự nhiên tuyệt vời Nó có đặc tính diệt nấm và kiểm soát sâu bệnh rất tốt Ớt đã chứng minh hiệu quả trong việc đẩy lùi và loại trừ các côn trùng, mối, bọ cánh cứng, sâu đục thân…

Vào ngày mùng 8/2/2010 nhà khoa học thuộc trường Đại học quốc gia Mêxico thông báo đã bào chế thành công một loại thuốc trừ sâu sinh học từ

ớt, hành, tỏi và nhiều loại gia vị sẵn có tại quốc gia Trung Mỹ này

Trang 34

Ở Việt Nam, cây ớt là một loại rau gia vị có giá trị kinh tế cao, được trồng chủ yếu tại các tỉnh miền Trung và Nam Bộ Những năm gần đây, một số tỉnh vùng Đồng Bằng Sông Hồng cũng đã bắt đầu trồng ớt với diện tích lớn, nhằm cung cấp nguyên liệu cho các nhà máy, các công ty sản xuất các mặt hàng thực phẩm để tiêu thụ và xuất khẩu, đem lại lợi nhuận cao Một số giống ớt tiêu biểu được trồng rộng rãi ở Việt Nam như: Ớt sừng bò,

ớt chìa vôi…

Bên cạnh là một loại gia vị không thể thiếu trong các bữa ăn, giúp làm tăng cảm giác ngon miệng, ớt còn là một vị thuốc rất quý trong y học cổ truyền, có thể chữa được nhiều căn bệnh một cách hữu hiệu

Một số bài thuốc nam thông dụng có ớt như:

- Chữa rụng tóc do hóa trị liệu: ớt trái 100g ngâm với rượu trắng trong 10-12 ngày Dùng rượu này bôi lên da đầu, có tác dụng kích thích mọc tóc

- Giảm đau do ung thư, đau khớp: ăn 5-10g mỗi ngày

- Chữa ăn uống kém tiêu do ung thư: ớt 100g, hắc đậu xị 100g, tán bột

ăn mỗi ngày

- Chữa ăn uống chậm tiêu: ớt trái dùng làm gia vị ăn mỗi ngày

-Chữa đau dạ dày do lạnh: ớt 1-2 quả , nghệ vàng 20g tán bột ngày uống 2-3 lần

-Chữa rắn cắn: lá ớt giã nhỏ đắp vào nơi bị thương, băng lại, ngày làm

1-2 lần đến khi hết đau, 1-2-3h là khỏi

-Chữa đau lưng, đau khớp :ớt chín 15 quả, lá đu đủ 3 cái, rrễ chỉ thiên 18g, tất cả đem giã nhỏ ngâm cồn với tỷ lệ ½ dùng xoa bóp sẽ mau khỏi

- Chữa khản cổ: dùng ớt làm nước xúc miệng (dưới dạng cồn thuốc ) (BS, Quách Tuấn Vinh, SK&DS)

1.2.4.2.2 Cây cà chua

*Đặc điểm sinh thái :

- Nhiệt độ: Cà chua là cây chịu ấm, các thời kỳ sinh trưởng và phát triển khác nhau của cây đòi hỏi nhiệt độ không khí và đất nhất định

Trang 35

- Ánh sáng: Cà chua là cây ưa sáng, không nên gieo cây con ở nơi bóng râm, cường độ tối thiểu để cây tăng trưởng là 2.000-3.000 lux, không ảnh hưởng quang kỳ

-Nước: Yêu cầu nước của cây trong quá trình dinh dưỡng không giống nhau Lượng nước tưới còn thay đổi tùy thuộc vào liều lượng phân bón và mật độ trồng

- Đất và dinh dưỡng: Cà có thể trồng trên nhiều loại đất khác nhau nhưng thích hợp nhất vẫn là đất thịt pha cát, nhiều mùn hay đất phù sa, đất bồi giữ

ẩm và thoát nước tốt Cà thích hợp trên đất có pH=5,5-7,0 Đât chua phải bón thêm vôi

*Gía trị dinh dưỡng:

-Hàm lượng sinh tố: Khi cà chua chín, mầu đỏ tươi của cà chua tạo nên

vẻ đẹp bắt mắt trong việc trình bày món ăn Mầu đỏ của cà chua cũng cho thấy hàm lượng vitamin A thiên nhiên trong cà chua cao, trung bình 100g cà chua chín tươi sẽ đáp ứng 13% nhu cầu hàng ngày về vitamin A, vitamin B6, vitamin C Ngoài ra còn có vitamin B1 ,B2

- Chất bổ dưỡng: Đạm, đường, béo và cung cấp ít năng lượng rất thích hợp với người sợ mập

- Khoáng vi lượng: Canxi, sắt, kali, photpho, magnesium, lưu huỳnh, niken, coban, …

Chính nhờ các yếu tố trên, cà chua được xem là một thực phẩm giầu chất dinh dưỡng để tiêu hóa , tăng cường sức đề kháng cho cơ thể Mùa hè cà chua

có tỷ lệ đường/ độ chua cao nhất, được kể là 10 so với mùa xuân là 7

* Các sản phẩm chế biến từ quả cà chua: Không chỉ là loại rau bổ dưỡng,

có giá trị kinh tế cao, cà chua còn được sản xuất các sản phẩm cần thiết khác

- Nước ép cà chua: Nước này chứa lycopen, các vitamin(C và nhóm B)

Do lượng calo thấp, những người thừa cân có thể dùng nước ép này

- Viên Arlyce của Imexpharm Viên chứa 5mg lycopen(từ cà chua) Phòng bệnh mãn tính và duy trì sức khỏe

Trang 36

Ngoài ra, ta có thể ăn cà chua tươi sống, dùng canh cà chua, nước sốt cà chua…Trong cà chua chứa hàng chục hoạt chất hữu hiệu rất tốt cho sức khỏe

* Công dụng:

- Trong cà chua có chất Lycopen và beta-caroten có tác dụng chống oxy hóa mạnh, chế độ ăn tăng cường cà chua đã góp phần làm chậm quá trình lão hóa và làm giảm nguy cơ ung thư vú, ung thư tuyến tiền liệt, ung thư đại tràng, ung thư vòm họng…

Các nghiên cứu gần đây đã phát hiện ra rằng, những người đàn ông tiêu thụ cà chua liên tục trong tuần có thể giảm 45% nguy cơ phát triển ung thư tuyến tiền liệt Các nhà nghiên cứu người Ý cho biết,cà chua có công giảm nguy cơ phát triển ung thư ruột già, trực tràng hay dạ dày tới 60% Các nhà nghiên cứu Israel thì cho rằng lycopene là một chất ức chế mạnh

mẽ đối với ung thư phổi, ung thư vú ,và tế bào ung thư nội mạc tử cung Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng lycopene trong cà chua có thể giúp người lớn tuổi khỏe mạnh hơn

Một nghiên cứu mới đang hé lộ rằng cà chua có thể được sử dụng để ngăn ngừa ung thư phổi Hai hợp chất tìm thấy trong cà chua là axit coumaric

và chlorogenic được cho là có thể ngăn chặn những ảnh hưởng của chất nitrosamine (hợp chất này được hình thành tự nhiên trong cơ thể, và còn là chất gây ung thư mạnh nhất trong khói thuốc lá) Bằng cách ngăn chặn những ảnh hưởng của các chất nitrosamin, nguy cơ phát triển bệnh ung thư phổi sẽ giảm đáng kể

Cà chua có thể dùng để bù đắp lại sự thiếu hụt vitamin C và chống lại quá trình lão hóa của cơ thể Ngoài ra, cà chua còn có nhiều công dụng làm đẹp da

1.2.5 Sơ lược tình hình nghiên cứu sâu hại rau trên thế giới và Việt Nam

Theo thống kê chưa đầy đủ, hàng năm sâu hại rau đã làm giảm năng suất

10 -15% Theo kết quả điều tra cơ bản côn trùng, trên rau họ hoa thập tự có

Trang 37

13 loài sâu hại su hào, 12 loài hại trên cải bắp và 28 loài hại trên cải xanh Hiện nay những loài sâu phổ biến và gây hại nghiêm trọng trên rau họ hoa thập tự là: rệp, sâu xanh bướm trắng, sâu tơ, sâu khoang, bọ nhảy…

1.2.5.1 Sâu tơ (Plutella maculipennis Curtis) (Còn gọi sâu nhảy dù, sâu kén mỏng)

Họ ngài rau Plutellidae, Bộ cánh vảy Lepidoptera

Phát sinh, phát triển trên tất cả các vùng trồng rau trong và ngoài nước

- Sâu phá hoại rau trong họ thập tự gây hại nặng cho bắp cải, su hào, súp lơ

* Tập quán sinh sống

- Trưởng thành ngày ẩn đêm hoạt động, sau vũ hóa giao phối ngày và sau 1 - 2 ngày đẻ trứng, trứng đẻ rải rác hoặc thành cụm, mỗi ổ 10 - 50 quả, mỗi con đẻ 10 - 400 quả Trứng đẻ mặt dưới lá, ngài có thể qua đông dưới

0oC, thời gian 2 - 3 tháng

* Quy luật phát sinh phát triển gây hại

- Phát sinh gây hại trong tất cả các vụ rau đông xuân từ T9 - T4 năm sau, cao điểm tháng 1, 2, 3

- Sâu non 1 tuổi khi ăn đục 1 lỗ nhỏ ở mặt dưới lá, chui đầu vào ăn nhu

mô lá để chừa lại biểu bì

- Sâu non 2 tuổi gặm ăn mặt dưới lá để lại lớp biểu bì mặt trên lá tạo thành những đốm trong mờ Cuối tuổi 2 trở đi sâu gặm thủng lá tạo thành nhiều lỗ thủng lỗ trỗ

1.2.5.2 Rệp hại rau (Brevicoryne brassicae L.)

Họ rệp muội Aphididae, Bộ cánh đều Homoptera

Ngày đăng: 08/10/2014, 11:40

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Mai Phương Anh, Trần Văn Lài, Trần Khắc Thi (1996), Rau và trồng rau, Giáo trình cao học nông nghiệp, Nhà xuất bản nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Rau và trồng rau
Tác giả: Mai Phương Anh, Trần Văn Lài, Trần Khắc Thi
Nhà XB: Nhà xuất bản nông nghiệp
Năm: 1996
2. Tạ Thị Thu Cúc (1994), Ảnh hưởng của liều lượng đạm đến hàm lượng nitrate và năng suất một số cây rau ở ngoại thành Hà nội, Hội nghi khoa học bước một về đề tài rau sạch thành phố Hà Nội, Sở KHCN và Môi trường Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ảnh hưởng của liều lượng đạm đến hàm lượng nitrate và năng suất một số cây rau ở ngoại thành Hà nội
Tác giả: Tạ Thị Thu Cúc
Năm: 1994
3. Tạ Thị Thu Cúc và cs (2000), Giáo trình cây rau, NXB Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình cây rau
Tác giả: Tạ Thị Thu Cúc và cs
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 2000
4. Cục chế biến Nông lâm sản và ngành nghề nông thôn (2000), Phương hướng phát triển ngành rau quả Việt nam từ nay đến 2010, Tài liệu Hội thảo Pháp việt về Trồng và chế biến rau, quả và hoa Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương hướng phát triển ngành rau quả Việt nam từ nay đến 2010
Tác giả: Cục chế biến Nông lâm sản và ngành nghề nông thôn
Năm: 2000
5. Đường Hồng Dật (1972), Hiệu quả của việc sử dụng vi sinh vật gây bệnh cho côn trùng hỗn hợp với thuốc trừ sâu ở nồng độ thấp trong phòng trừ sâu hại, Những kết quả nghiên cứu về Bảo vệ thực vật, NXB Khoa học kỹ thuật Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những kết quả nghiên cứu về Bảo vệ thực vật, NXB
Tác giả: Đường Hồng Dật
Nhà XB: NXB" Khoa học kỹ thuật Hà nội
Năm: 1972
6. Đường Hồng Dật (2002), Sổ tay người trồng rau Tập I, II, Nhà xuất bản Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sổ tay người trồng rau Tập I, II
Tác giả: Đường Hồng Dật
Nhà XB: Nhà xuất bản Hà Nội
Năm: 2002
7. Bùi Bảo Hoàn, Đào Thanh Vâ (2000), Giáo trình cây rau, Nhà xuất bản Nông nghiệp, Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình cây rau
Tác giả: Bùi Bảo Hoàn, Đào Thanh Vâ
Nhà XB: Nhà xuất bản Nông nghiệp
Năm: 2000
8. Trần Văn Lài, Lê Thị Hà (2002), Cẩm nang trồng rau, Nhà xuất bản Mũi Cà Mau Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cẩm nang trồng rau
Tác giả: Trần Văn Lài, Lê Thị Hà
Nhà XB: Nhà xuất bản Mũi Cà Mau
Năm: 2002
9. Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn Hà Nội (2000), Báo cáo tổng kết chương trình rau sạch, Hà Nội 1996 – 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng kết chương trình rau sạch
Tác giả: Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn Hà Nội
Năm: 2000
10. Phạm Thị Thùy (2005), Sản xuất rau an toàn theo tiêu chuẩn thực hành nông nghiệp tốt (GAP), Nhà xuất bản nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sản xuất rau an toàn theo tiêu chuẩn thực hành nông nghiệp tốt (GAP)
Tác giả: Phạm Thị Thùy
Nhà XB: Nhà xuất bản nông nghiệp
Năm: 2005
11. Trần Khắc Thi (1996), Nghiên cứu một số yếu tố môi trường và kỹ thuật để xây dựng quy trình sản xuất rau sạch, Bào cáo khoa học 1996 của Viện nghiên cứu rau quả Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu một số yếu tố môi trường và kỹ thuật để xây dựng quy trình sản xuất rau sạch
Tác giả: Trần Khắc Thi
Năm: 1996
12. Nguyễn Qúy Hùng, Lê Trường và cs (1995), Sâu tơ hại rau họ hoa thập tự và biện pháp quản lý sâu tơ tổng hợp, Nhà xuất bản nông nghiệp, Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sâu tơ hại rau họ hoa thập tự và biện pháp quản lý sâu tơ tổng hợp
Tác giả: Nguyễn Qúy Hùng, Lê Trường và cs
Nhà XB: Nhà xuất bản nông nghiệp
Năm: 1995
13. Phạm Văn Lầm (1995), biện pháp sinh học phòng chống dịch hại nông nghiệp, Nhà xuất bản Nông nghiêp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: biện pháp sinh học phòng chống dịch hại nông nghiệp
Tác giả: Phạm Văn Lầm
Nhà XB: Nhà xuất bản Nông nghiêp
Năm: 1995
14. Trần Quang Tấn, Phạm Thị Thùy và CTV (2006), “Nghiên cứu sản xuất và sử dụng thuốc trừ sâu sinh học thế hệ mới trong sản xuất rau an toàn”, Tạp chí Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu sản xuất và sử dụng thuốc trừ sâu sinh học thế hệ mới trong sản xuất rau an toàn”
Tác giả: Trần Quang Tấn, Phạm Thị Thùy và CTV
Năm: 2006
15. Nguyễn Duy Trang (1996), Nghiên cứu quy trình phòng trừ dịch hại trong sản xuất rau sạch , Báo cáo tại hội nghị sản xuất rau sạch toàn quốc Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu quy trình phòng trừ dịch hại trong sản xuất rau sạch
Tác giả: Nguyễn Duy Trang
Năm: 1996
1. Nguyễn Hữu Hồng, E. Tsuzuki, Trần Đăng Xuân (2002), Evaluation of the allelopathic potential of Kava (piper methysticum L) for weed control in rice, , Weed billogy and Management Sách, tạp chí
Tiêu đề: piper methysticum L
Tác giả: Nguyễn Hữu Hồng, E. Tsuzuki, Trần Đăng Xuân
Năm: 2002
16. Đức Ngọc (2011), Ớt cay làm giảm huyết áp cao, www.sức khỏe đời sống.vn Khác
17. BS. Quách Tuấn Vinh, Cây ớt-vị thuốc quý trong y học cổ truyền, Ykhoanet.com Khác
20. Trạm khí tƣợng thủy văn thành phố Thái Nguyên. II- TÀI LIỆU NƯỚC NGOÀI Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.4: Diện tích, năng suất và sản lượng rau của Việt Nam                                     giai đoạn 2003-2009 - nghiên cứu sử dụng một số loài thực vật thuộc họ cà (solanaceae) trong phòng trừ sâu hại rau bắp cải đông xuân chính vụ năm 2010 tại đồng hỷ - thái nguyên
Bảng 1.4 Diện tích, năng suất và sản lượng rau của Việt Nam giai đoạn 2003-2009 (Trang 20)
Bảng 1.6: Diện tích sản lượng rau của một số địa phương trong tỉnh - nghiên cứu sử dụng một số loài thực vật thuộc họ cà (solanaceae) trong phòng trừ sâu hại rau bắp cải đông xuân chính vụ năm 2010 tại đồng hỷ - thái nguyên
Bảng 1.6 Diện tích sản lượng rau của một số địa phương trong tỉnh (Trang 24)
Bảng 1.7: Diện tích ,năng suất và sản lượng của một số loại rau chính của  tỉnh Thái Nguyên qua các năm - nghiên cứu sử dụng một số loài thực vật thuộc họ cà (solanaceae) trong phòng trừ sâu hại rau bắp cải đông xuân chính vụ năm 2010 tại đồng hỷ - thái nguyên
Bảng 1.7 Diện tích ,năng suất và sản lượng của một số loại rau chính của tỉnh Thái Nguyên qua các năm (Trang 26)
Bảng 3.1: Tình hình thời tiết, khí hậu tỉnh Thái Nguyên tháng 10/2010 đến  tháng 02/2011 - nghiên cứu sử dụng một số loài thực vật thuộc họ cà (solanaceae) trong phòng trừ sâu hại rau bắp cải đông xuân chính vụ năm 2010 tại đồng hỷ - thái nguyên
Bảng 3.1 Tình hình thời tiết, khí hậu tỉnh Thái Nguyên tháng 10/2010 đến tháng 02/2011 (Trang 49)
Bảng 3.2: Thành phần sâu hại rau bắp cải vụ Đông Xuân chính vụ 2010  tại huyện Đồng Hỷ - Thái Nguyên - nghiên cứu sử dụng một số loài thực vật thuộc họ cà (solanaceae) trong phòng trừ sâu hại rau bắp cải đông xuân chính vụ năm 2010 tại đồng hỷ - thái nguyên
Bảng 3.2 Thành phần sâu hại rau bắp cải vụ Đông Xuân chính vụ 2010 tại huyện Đồng Hỷ - Thái Nguyên (Trang 50)
Bảng 3.3: Diễn biến của sâu hại bắp cải vụ đông xuân chính vụ năm 2010  tại huyện Đồng Hỷ - Thái Nguyên - nghiên cứu sử dụng một số loài thực vật thuộc họ cà (solanaceae) trong phòng trừ sâu hại rau bắp cải đông xuân chính vụ năm 2010 tại đồng hỷ - thái nguyên
Bảng 3.3 Diễn biến của sâu hại bắp cải vụ đông xuân chính vụ năm 2010 tại huyện Đồng Hỷ - Thái Nguyên (Trang 51)
Hình 3.1. Biểu đồ diễn biến sâu hại qua các thời kỳ điều tra - nghiên cứu sử dụng một số loài thực vật thuộc họ cà (solanaceae) trong phòng trừ sâu hại rau bắp cải đông xuân chính vụ năm 2010 tại đồng hỷ - thái nguyên
Hình 3.1. Biểu đồ diễn biến sâu hại qua các thời kỳ điều tra (Trang 53)
Bảng 3.4: Hiệu lực xua đuổi sâu hại của dung dịch ngâm thân lá cà chua, quả ớt (Bảng ngang) - nghiên cứu sử dụng một số loài thực vật thuộc họ cà (solanaceae) trong phòng trừ sâu hại rau bắp cải đông xuân chính vụ năm 2010 tại đồng hỷ - thái nguyên
Bảng 3.4 Hiệu lực xua đuổi sâu hại của dung dịch ngâm thân lá cà chua, quả ớt (Bảng ngang) (Trang 55)
Hình 3.3. (a). Hiệu lực gây ngán sâu  hại sau xử lý 24h - nghiên cứu sử dụng một số loài thực vật thuộc họ cà (solanaceae) trong phòng trừ sâu hại rau bắp cải đông xuân chính vụ năm 2010 tại đồng hỷ - thái nguyên
Hình 3.3. (a). Hiệu lực gây ngán sâu hại sau xử lý 24h (Trang 57)
Hình 3.3. (b). Hiệu lực gây ngán sâu  hại sau xử lý 36h - nghiên cứu sử dụng một số loài thực vật thuộc họ cà (solanaceae) trong phòng trừ sâu hại rau bắp cải đông xuân chính vụ năm 2010 tại đồng hỷ - thái nguyên
Hình 3.3. (b). Hiệu lực gây ngán sâu hại sau xử lý 36h (Trang 57)
Bảng 3.5: Hiệu lực gây ngán sâu hại của dung dịch ngâm thân lá cà chua,  quả ớt - nghiên cứu sử dụng một số loài thực vật thuộc họ cà (solanaceae) trong phòng trừ sâu hại rau bắp cải đông xuân chính vụ năm 2010 tại đồng hỷ - thái nguyên
Bảng 3.5 Hiệu lực gây ngán sâu hại của dung dịch ngâm thân lá cà chua, quả ớt (Trang 58)
Bảng 3.6. Hiệu lực tiêu diệt sâu hại của dung dịch ngâm thân lá cà chua và dung dịch ngâm quả ớt (Bảng ngang) - nghiên cứu sử dụng một số loài thực vật thuộc họ cà (solanaceae) trong phòng trừ sâu hại rau bắp cải đông xuân chính vụ năm 2010 tại đồng hỷ - thái nguyên
Bảng 3.6. Hiệu lực tiêu diệt sâu hại của dung dịch ngâm thân lá cà chua và dung dịch ngâm quả ớt (Bảng ngang) (Trang 60)
Hình 3.5. (a). Hiệu lực tiêu diệt sâu hại  sau phun 1 ngày - nghiên cứu sử dụng một số loài thực vật thuộc họ cà (solanaceae) trong phòng trừ sâu hại rau bắp cải đông xuân chính vụ năm 2010 tại đồng hỷ - thái nguyên
Hình 3.5. (a). Hiệu lực tiêu diệt sâu hại sau phun 1 ngày (Trang 62)
Bảng 3.8: Năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất - nghiên cứu sử dụng một số loài thực vật thuộc họ cà (solanaceae) trong phòng trừ sâu hại rau bắp cải đông xuân chính vụ năm 2010 tại đồng hỷ - thái nguyên
Bảng 3.8 Năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất (Trang 67)
Hình 3.6. Khối lượng trung bình bắp - nghiên cứu sử dụng một số loài thực vật thuộc họ cà (solanaceae) trong phòng trừ sâu hại rau bắp cải đông xuân chính vụ năm 2010 tại đồng hỷ - thái nguyên
Hình 3.6. Khối lượng trung bình bắp (Trang 68)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm