Ý nghĩa của đề tài Đề tài được hoàn thành sẽ cung cấp cho người nuôi ong những thông tin cơ bản về sử dụng thức ăn bổ sung cho ong, để nuôi dưỡng, duy trì đàn ong mật tốt hơn trong thời
Trang 1CAO THỊ HINH
NGHIÊN CỨU SỰ ẢNH HƯỞNG CỦA THỨC ĂN BỔ SUNG TỚI
NĂNG SUẤT, CHẤT LƯỢNG ĐÀN ONG MẬT APIS CERANA
NUÔI TẠI HUYỆN ĐẠI TỪ TỈNH THÁI NGUYÊN
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP
THÁI NGUYÊN - 2011
Trang 2CAO THỊ HINH
NGHIÊN CỨU SỰ ẢNH HƯỞNG CỦA THỨC ĂN BỔ SUNG TỚI
NĂNG SUẤT, CHẤT LƯỢNG ĐÀN ONG MẬT APIS CERANA
NUÔI TẠI HUYỆN ĐẠI TỪ TỈNH THÁI NGUYÊN
CHUYÊN NGÀNH: CHĂN NUÔI
MÃ SỐ: 60.62.40
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP
Hướng dẫn khoa học: 1 TS Nguyễn Thị Liên
2 TS Ngô Nhật Thắng
THÁI NGUYÊN - 2011
Trang 3Tôi xin cam đoan đây là đề tài nghiên cứu của riêng tôi, những số liệu
và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là hoàn toàn trung thực, chưa được
Trang 4Được sự giúp đỡ của Nhà trường, khoa Sau Đại học, cơ quan và gia đình, đặc biệt là sự quan tâm, tận tình giúp đỡ của hai thầy cô giáo hướng dẫn tôi đã hoàn thành luận văn này
Nhân dịp này tôi xin trân trọng cảm ơn trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, khoa Sau Đại học, khoa Sư phạm KTNN, Viện khoa học sự sống, Phòng Thống kê huyện Đại Từ, Phòng Nông nghiệp huyện Đại Từ, Trung tâm Khí tượng Thủy văn Thái Nguyên
Đặc biệt tôi xin trân trọng cảm ơn sự giúp đỡ tận tình của hai thầy cô giáo hướng dẫn TS Nguyễn Thị Liên, TS Ngô Nhật Thắng
Cuối cùng tôi xin chân thành cảm ơn sự quan tâm giúp đỡ của gia đình, bạn
bè, đồng nghiệp đã tạo các điều kiện về tinh thần và vật chất để tôi hoàn thành luận văn này
Tác giả
Cao Thị Hinh
Trang 51 Tính cấp thiết của đề tài……… ………… 1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU………… …… ….……… 4
1.1.4 Cây nguồn mật và một số yếu tố ảnh hưởng đến sự tiết mật của
1.2.1 Một số nghiên cứu nâng cao năng suất, chất lượng mật ong và
Trang 61.2.2 Một số nghiên cứu về ảnh hưởng của điều kiện thời tiết khí hậu,
mùa vụ tới nghề nuôi ong mật……….…… 28
1.2.3 Một số nghiên cứu về bổ sung thức ăn cho ong………….… … 30
1.2.3.1 Nghiên cứu về việc cho ong ăn đường và nước……… … … 30
1.2.3.2 Nghiên cứu về việc cho ong ăn phấn hoa và chất thay thế phấn hoa 32 1.3 Điều kiện tự nhiên và tình hình nuôi ong tại huyện Đại Từ…….… … 34
1.3.1 Điều kiện tự nhiên……….……… 34
1.3.1.1 Vị trí địa lý……….…… 34
1.3.1.2 Địa hình đất đai……… …… 34
1.3.1.3 Đặc điểm khí hậu thuỷ văn……….……… 35
1.3.2 Các cây hoa nguồn mật chính ở huyện Đại Từ… ……… …… 36
1.3.3 Tình hình nuôi ong trên địa bàn huyện Đại Từ……….… 37
CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU……….…… 39
2.1 Đối tượng, địa điểm, thời gian nghiên cứu……….….… 39
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu……….……… …… 39
2.1.2 Địa điểm nghiên cứu……….……… 39
2.1.3 Thời gian nghiên cứu……… 39
2.2 Nội dung nghiên cứu ……….……… ……… 39
2.2.1 Tình hình thời tiết khí hậu của tỉnh Thái Nguyên ảnh hưởng đến nghề nuôi ong mật.……….……… 39
Trang 72.2.3 Một số cây nguồn mật chủ yếu tại huyện Đại Từ……… 39 2.2.4 Thí nghiệm nghiên cứu sự ảnh hưởng của thức ăn bổ sung bột
đậu xanh và bột đậu tương tới năng suất, chất lượng đàn ong và mật
2.3.2 Biến động số lượng đàn ong của huyện Đại Từ trong 3 năm
2.3.4 Thí nghiệm nghiên cứu sự ảnh hưởng của thức ăn bổ sung bột
đậu xanh và bột đậu tương tới năng suất, chất lượng đàn ong và mật
2.3.4.1 Thành phần hóa học của thức ăn bổ sung bột đậu xanh và bột
2.3.4.7 Ảnh hưởng của thức ăn bổ sung tới tình hình dịch bệnh trên
Trang 83.1 Tình hình thời tiết khí hậu của tỉnh Thái Nguyên ảnh hưởng đến nghề nuôi ong mật……….…
49
3.3 Biến động số lượng đàn ong của huyện Đại Từ trong 3 năm (2008-2010) ……… ……… …
52
3.4 Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của thức ăn bổ sung bột đậu xanh và bột đậu tương tới năng suất chất lượng đàn ong và mật ong…… …
56
3.4.2.1 Lượng thức ăn bổ sung ong thu nhận được trong thí nghiệm ở
vụ Xuân Hè ……… …
58
3.5.2 Ảnh hưởng của thức ăn bổ sung tới khối lượng ong chúa, ong
đực, ong thợ trong vụ Thu Đông
64
3.6.1 Ảnh hưởng của thức ăn bổ sung tới khả năng nhân đàn ong
3.6.2 Ảnh hưởng của thức ăn bổ sung tới khả năng nhân đàn ong
Trang 93.7.2 Ảnh hưởng của thức ăn bổ sung tới năng suất mật ong vụ Thu Đông… 72
3.8 Ảnh hưởng của thức ăn bổ sung tới chất lượng mật ong……….… 73
3.8.1 Ảnh hưởng của thức ăn bổ sung tới chất lượng mật ong hoa vải 74
3.8.2 Ảnh hưởng của thức ăn bổ sung tới chất lượng mật ong hoa nhãn…… 76
3.8.3 Ảnh hưởng của thức ăn bổ sung tới chất lượng mật ong hoa bạch đàn 77
3.9 Ảnh hưởng của thức ăn bổ sung tới khả năng kháng bệnh của đàn ong… 78 CHƯƠNG 4 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ……… 81
4.1 Kết luận……… 81
4.1.1 Về ảnh hưởng của thời tiết khí hậu và cây nguồn mật đối với nghề nuôi ong tại huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên……… 81
4.1.2 Về nghiên cứu ảnh hưởng của thức ăn bổ sung bột đậu xanh và bột đậu tương tới năng suất, chất lượng đàn ong và mật ong……….… 81
4.2 Đề nghị ……… 83
TÀI LIỆU THAM KHẢO……… ……… 84
I Tài liệu tiếng Việt……….… …… 84
II Tài liệu tiếng Anh……… 86
III Tài liệu tiếng Pháp 89
IV Tài liệu từ mạng Internet 89
PHỤ LỤC: DANH MỤC CÁC CÂY NGUỒN MẬT - PHẤN Ở VIỆT NAM ……… 90
Trang 12Bảng 3.12 Ảnh hưởng của thức ăn bổ sung tới năng suất mật ong vụ Thu
Đông……….………73 Bảng 3.13 Ảnh hưởng của thức ăn bổ sung tới chất lượng mật ong hoa vải… 76 Bảng 3.14 Ảnh hưởng của thức ăn bổ sung tới chất lượng mật ong hoa nhãn….77 Bảng 3.15 Ảnh hưởng của thức ăn bổ sung tới chất lượng mật hoa bạch đàn.…78 Bảng 3.16 Tình hình dịch bệnh trên các đàn ong………….……… ………80
Trang 13Sơ đồ 2.1 Biểu diễn quy trình tạo hỗn hợp thức ăn bổ sung cho ong ….42 Biểu đồ 3.1 Biến động số lượng đàn ong qua 3 năm (2008 – 2010) tại huyện Đại Từ……… 55 Biểu đồ 3.2 Lượng thức ăn bổ sung ong thu nhận được trong vụ Xuân Hè và Thu Đông……….62 Biêu đồ 3.3 Hệ số nhân đàn ong trong hai vụ Xuân Hè và Thu Đông… …68 Biểu đồ 3.4 Năng suất mật bình quân của hai vụ Xuân Hè và Thu Đông….73
Trang 14MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong những năm gần đây, tình hình thời tiết khí hậu có nhiều biến đổi phức tạp theo chiều hướng bất lợi cho ngành sản xuất nông nghiệp trong đó
có ngành chăn nuôi Tình hình dịch cúm gia cầm, dịch lở mồm long móng ở trâu bò, rồi mới đây là dịch bệnh tai xanh ở lợn đã liên tục bùng phát và làm giảm đi đáng kể tỷ trọng của ngành chăn nuôi Trước tình hình đó, việc tìm ra một hướng đi mới cho ngành chăn nuôi nhằm tăng thu nhập cho người dân, xoá đói giảm nghèo và tạo công ăn việc làm cho người nông dân là vấn đề được Đảng, Nhà nước ta rất quan tâm Một trong những đối tượng được chọn
để phục vụ cho các mục đích này là con ong và sự phát triển nghề nuôi ong
Nghề nuôi ong đòi hỏi kỹ thuật chứ không đòi hỏi về sức lực, không đòi hỏi có diện tích đất đai riêng, không bóc lột tài nguyên thiên nhiên Vốn đầu tư ban đầu cho nuôi ong không lớn chủ yếu là mua giống và một số thức
ăn, còn các vật liệu khác rẻ tiền như thùng nuôi ong, dụng cụ thu mật, khung cầu… có thể tận dụng gỗ, tre khai thác tại chỗ, chi phí thấp thu hồi vốn nhanh Nuôi ong có ý nghĩa kinh tế lớn Các sản phẩm do ong tạo ra như mật ong, phấn hoa, sữa chúa không chỉ là nguồn thực phẩm cao cấp, nguồn dược liệu quý mà còn là mặt hàng xuất khẩu có giá trị Đồng thời nuôi ong mật đã góp phần tăng năng suất và chất lượng cho các cây trồng, nông, lâm nghiệp Dùng ong để thụ phấn cho cây trồng là một biện pháp thâm canh tăng năng suất đạt hiệu quả cao Theo tính toán của các chuyên gia thì lợi nhuận do ong thụ phấn cho cây trồng lớn hơn lợi nhuận toàn bộ các sản phẩm từ ngành ong từ 10 đến
140 lần (Levin, 1983 [36]; Eton, 1994 [30]) Nuôi ong còn tạo thêm công ăn
Trang 15việc làm cho người dân, một vấn đề rất có ý nghĩa với một nước nông nghiệp với lực lượng lao động dồi dào và đang có chiều hướng dôi dư như Việt Nam
Cùng với những thuận lợi sẵn có của nghề nuôi ong thì trong những năm gần đây nhờ có các dự án, chương trình phát triển lâm nghiệp, phủ xanh đất trống đồi núi trọc, trồng và bảo vệ rừng phòng hộ, chuyển đổi, cải tạo vườn tạp sang phát triển cây ăn quả, cây công nghiệp tập trung với quy mô lớn đã góp phần tạo ra nguồn thức ăn dồi dào, phong phú, là điều kiện thuận lợi cho nghề nuôi ong phát triển Với nguồn hoa hiện có chúng ta có thể nuôi được hàng triệu đàn ong để khai thác sản phẩm (Đào Phúc Đương, 1981 [9]; Đinh Quyết Tâm, 1995 [46]) Tuy nhiên với nguồn thức ăn sẵn có như mật hoa, phấn hoa thì phụ thuộc rất nhiều vào yếu tố tự nhiên là khí hậu thời tiết Nếu thời tiết thuận lợi thì nguồn thức ăn vào các vụ hoa có thể dư thừa, ngược lại thời tiết nắng nóng, mưa nhiều mất mùa hoa và đồng thời nguồn thức ăn cho ong cũng bị thiếu hụt Mặt khác, nguồn thức ăn cho ong còn phụ thuộc vào các mùa trong năm Vào mùa xuân, mùa hè, mùa thu nhưng mùa đông là mùa khan hiếm thức ăn nhất và đây cũng là mùa khó khăn nhất đối với người nuôi ong để duy trì được đàn ong
Để khắc phục được những khó khăn về nguồn thức ăn cho ong và đồng thời chủ động được nguồn thức ăn dự trữ cho ong vào những mùa khan hiếm thức ăn, những khi gặp điều kiện thời tiết bất lợi thì rất cần có một công trình nghiên cứu về nguồn thức ăn bổ sung cho ong, nhằm phát triển đàn ong với năng suất, chất lượng cao
Đáp ứng cho tính cấp thiết trong thực tiễn sản xuất với nghề nuôi ong,
chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu sự ảnh hưởng của thức
ăn bổ sung tới năng suất, chất lượng đàn ong mật Apis cerana nuôi tại huyện Đại Từ tỉnh Thái Nguyên”
Trang 162 Mục đích của đề tài
Xác định được ảnh hưởng của thức ăn tự nhiên và thức ăn bổ sung tới năng suất, chất lượng đàn ong và mật ong, từ đó đề xuất được quy trình bổ sung thức ăn phù hợp cho ong để nuôi ong có hiệu quả cao nhất
3 Ý nghĩa của đề tài
Đề tài được hoàn thành sẽ cung cấp cho người nuôi ong những thông tin cơ bản về sử dụng thức ăn bổ sung cho ong, để nuôi dưỡng, duy trì đàn ong mật tốt hơn trong thời gian nguồn thức ăn ngoài tự nhiên khan hiếm hay cạn kiệt
Trang 17CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Cơ sở khoa học của đề tài
1.1.1 Nguồn gốc, phân loại và một số đặc điểm về hình thái của ong nội
Theo tác giả F Ruttner (1988)[44] ong mật thuộc
- Ngành: Chân đốt (A thropada)
- Lớp: Côn trùng (Insecta)
- Bộ: Cánh màng (Hymenoptera)
- Họ: Ong mật (Apisdae)
- Tộc: (Apini)
- Giống: Ong mật (Apis)
Trên thế giới có 9 loài ong mật, ở Việt Nam có 4 loài chính là: Ong
châu Âu (ong Ý) A mellifera, ong châu Á (ong Nội) A cerana, ong khoái hay ong gác kèo A dorsata, ong ruồi A florae Hai loài A dorsata và A florae là
loài dã sinh chưa được thuần hoá, mới dừng ở mức khai thác tự nhiên Một trong những loài ong mật được nuôi phổ biến ở Việt Nam nói chung và ở
Thái Nguyên nói riêng là loài ong mật Apis cerana
Dựa trên đặc điểm hình thái, phân bố địa lý loài ong nội (A cerana)
được chia thành 4 phân loài: A cerana indica (Fabricius 1798), A cerana
cerana (Fabricius 1793), A cerana himalaya (Maa 1944) và A cerana japonica (Radoszkowski 1877) (Ruttner, 1988) [44] Còn Heburn H.R.et al
(2001) chia ong nội thành 33 phân loài, trong đó có 9 phân loài có tên và
24 phân loài chưa được đặt tên: A cerana cerana (Fabricius 1793), A
Trang 18cerana indica (Fabricius 1798), A cerana japonica (Radoszkowski 1877),
A cerana javana (Enderlein 1906), A cerana himalaya (Maa 1944), A cerana skorikovi (Maa 1944), A cerana abaensis (Yun and Kuang 1982),
A cerana hainanensis (Yun and Kuang 1982) và A cerana philipina
(Skorikovi 1929) Radloff S.E.et al (2005), thu thập 58 đàn ong A cerana
vùng phía tây dãy Himalaya với 27 chỉ tiêu hình thái được xử lí thống kê bằng phương pháp phân tích đa biến đã xác định được khu vực này có 2 nhóm là: Hindu Kush - Kashmir và Himachal Pradesh (dẫn theo Nguyễn Thị Thắm, 2010) [19]
Ở Việt Nam, từ năm 1978 đến nay đã nhiều tác giả nghiên cứu về hình
thái ong A cerana trên các địa phương khác nhau (Lê Đình Thái, Nguyễn
Văn Niệm, 1980 [18]; Nguyễn Văn Niệm và cộng sự, 1992 [40] Qua phân tích các tác giả đã đi đến kết luận: Theo sự giảm về vĩ độ thì kích thước cơ thể
ong nhỏ đi A cerana ở miền Bắc có kích thước lớn hơn A cerana ở miền
Nam, ong ở Hoà Bình có kích thước lớn hơn ong ở Như Xuân – Thanh Hoá
Ong ở miền Bắc có một số chỉ tiêu thuộc về ong A cerana cerana như chiều
dài vòi hút của ong đực Một số chỉ tiêu khác như chiều dài/chiều rộng ô
Radian, chiều dài cánh trước ong chúa lại thuộc về phân loài A cerana indica
Do các chỉ tiêu phân tích còn ít, chỉ có 27 chỉ tiêu, trong đó ở ong thợ là 14 chỉ tiêu, trong khi ở nước ngoài phân tích từ 35-55 chỉ tiêu cho nên trong suốt
thời gian đầu các nhà khoa học Việt Nam chưa khẳng định được ong A
cerana của ta thuộc phân loài nào Đến năm 1992, các tác giả Nguyễn Văn
Niệm và Trần Đức Hà mới kết luận: ong A cerana miền Bắc thuộc phân loài
A cerana cerana Theo kết quả phân tích 4 mẫu ong ở miền Bắc Việt Nam,
tác giả Rutter, 1988 [44] cho biết: A cerana ở miền Bắc thuộc phân loài A
cerana cerana nhưng các chỉ tiêu hình thái của ong A cerana cerana lại tách
riêng ra một nhóm gần với A cerana himalaya Trên bản đồ phân loại ong A
Trang 19cerana ở phía Nam nước ta thuộc phân loài A cerana indica Theo Nguyễn
Văn Niệm (1991) [16], ong A cerana ở miền Bắc có tầm vóc lớn hơn A
cerana ở miền Nam
Tác giả Phạm Văn Lập và cộng sự (1992) [35] cho biết: khối lượng
chúa tơ, số ống trứng của ong A cerana cerana lớn hơn so với ong A cerana
indica (150mg và 98 ống dẫn trứng so với 124mg và 86 ống dẫn trứng) Kích
thước lỗ tổ và khoảng cách giữa các bánh tổ của ong A cerana cerana ở miền Bắc và A cerana indica miền Nam cũng có sự khác nhau
Theo (Verma, 1990) [47] việc nghiên cứu về hình thái ong Apis Cerana
còn rất ít, và còn chưa đầy đủ, có thể còn nhiều phân loài mới, dạng sinh thái mới, thậm chí là một loài mới nữa ở châu Á
1.1.2 Xã hội đàn ong và đời sống của các cá thể ong
1.1.2.1 Xã hội đàn ong
Cơ cấu xã hội của một đàn ong mật là kết quả của một quá trình lịch sử phát triển lâu dài của loài ong Đàn ong phải bao gồm cả ong trưởng thành, trứng, ấu trùng và nhộng Theo một số tác giả thì cầu nhộng và cầu thức ăn dự trữ cũng được coi là thành phần của một đàn ong
Một đàn ong là một đơn vị sinh học hoàn chỉnh gồm 3 loại hình ong: ong chúa, ong đực và ong thợ Mỗi loại hình có một vị trí sinh học nhất định trong đàn, có mối quan hệ chặt chẽ với nhau (Nguyễn Duy Hoan và cộng sự, 2008)[14] Một đàn ong thông thường có một ong chúa (làm nhiệm vụ sinh sản), hàng vạn ong thợ trưởng thành và trong mùa hoạt động có vài trăm ong đực cùng với một số trứng, ấu trùng và nhộng sẽ nở thành ong thợ và ong đực Có thể có những trường hợp đàn ong trong một thời điểm nào đó không
có trứng, ấu trùng và nhộng do vào mùa đông không có hoa, ong chúa tơ chưa giao phối, chưa đẻ hoặc do cách xử lý của người nuôi ong trong một số tổ
Trang 20nhất đinh Khi ong chúa già và chết hoặc bị người nuôi ong mang đi nơi khác, đàn ong có thể tạo ra chúa mới Người nuôi ong cũng có thể tạo ra chúa mới
để thay thế cho những ong chúa đã già hoặc cho đàn ong bị mất chúa Ong đực thường không có mặt trong đàn ong vào những mùa ong chúa ngừng đẻ hoặc khan hiếm thức ăn
1.1.2.2 Đời sống của các cá thể ong
* Đời sống ong thợ
Vòng đời của ong mật trải qua 4 giai đoạn: trứng, ấu trùng, nhộng và ong trưởng thành Trong cùng một đàn, thời gian phát triển của ong thợ, ong đực và ong chúa là khác nhau, giữa các loài có sự khác nhau lớn
Ở giai đoạn trứng, phôi phát triển nhờ hấp thụ chất dinh dưỡng từ lòng
đỏ, giầu protein Trứng nở thành ấu trùng, ấu trùng được những con ong non nuôi bằng thức ăn đưa vào lỗ tổ Ấu trùng tăng trưởng rất nhanh về kích thước cũng như về khối lượng, nhờ sự tăng của các tế bào cơ thể đến hàng nghìn lần kích thước ban đầu mà không có sự phân chia
Ong thợ phát triển từ trứng trong những lỗ tổ gần như nằm ngang ở cầu ong Những trứng nở thành ong thợ là những trứng đã được thụ tinh bằng tinh trùng của ong đực, dự trữ trong túi chứa tinh trong cơ thể ong chúa và được điều tiết theo phản ứng của ong chúa đối với kích thước lỗ tổ ong thợ
Những con ong thợ non làm nhiệm vụ “nuôi dưỡng”, thường xuyên tiết chất dinh dưỡng từ hạ hầu của chúng vào những lỗ tổ có ấu trùng Lidauer (1953) tính rằng tổng cộng tới 143 lần cho ăn cho mỗi ấu trùng, mỗi con ong
“nuôi dưỡng” có khả năng cho ấu trùng ăn tới 400 lần, nghĩa là trong cuộc đời của nó có thể nuôi 2-3 ấu trùng (dẫn theo Crane, 1990)[5]
Trang 21Thức ăn nuôi ấu trùng được tiết ra từ những tuyến hạ hầu và hàm trên của những con ong “nuôi dưỡng” (ong thợ non), giầu protein, vitamin và những chất dinh dưỡng cần thiết cho ấu trùng Phần lớn những chất dinh dưỡng đó chuyển hoá từ phấn hoa do ong “nuôi dưỡng” đã ăn Thức ăn mà ong “nuôi dưỡng” để nuôi ấu trùng là “sữa ong thợ” khác với “sữa ong chúa” chỉ dành riêng cung cấp cho lỗ tổ có ấu trùng ong chúa
Thức ăn của ấu trùng ong thợ trong mấy ngày đầu có tỷ lệ đường thấp Sau 2,5-3 ngày, thức ăn của ấu trùng thay đổi, có thêm mật và phấn, thành phần phấn hoa trong sữa ong thợ chỉ là phụ mà thôi Khi được 5 ngày tuổi, ấu trùng ngừng ăn và ong thợ vít nắp lỗ tổ Khác với ấu trùng ong chúa, ấu trùng nằm trong lỗ tổ vít nắp không được ăn nữa Khi đã phát triển đầy đủ thì ấu trùng tiết ra các sợi tơ để làm kén và trong quá trình kéo kén ấu trùng lộn một
số vòng, ong thợ lộn 37 vòng, ong chúa lộn 40-50 vòng, ong đực lộn 40-80 vòng, mỗi vòng diễn ra khoảng một giờ hoặc non một giờ Cuối cùng, ấu trùng ong thợ nằm dọc theo lỗ tổ, đầu hướng ra phía ngoài; nó thực hiện được
sự chuyển mình này không phải vì phản ứng đối với trọng lực như ở ấu trùng ong chúa, mà vì nhận biết được sự khác nhau về cấu tạo và hình dạng của nắp
và đáy tổ, đáy lỗ tổ hình thành bởi vách giữa hai lớp lỗ tổ của cầu ong Vài ba ngày sau khi nhả tơ, ấu trùng hoá nhộng và nhóm tế bào thứ hai trong cơ thể nhộng (vốn rất nhỏ và bất động trong giai đoạn ấu trùng) đột nhiên bắt đầu phân chí nhanh chóng Những tế bào đó sẽ trở thành những mô của ong trưởng thành và tất nhiên sẽ thay thế toàn bộ các tế bào của ấu trùng Sự phát triển từ ấu trùng thành nhộng không phải về kích thước mà về thay đổi cấu tạo của cơ thể để trở thành ong trưởng thành
Theo Crane (1990)[5], các giai đoạn phát triển của ong thợ, ong chúa,
ong đực thuộc giống A cerana được mô tả qua bảng sau:
Trang 22Bảng 1.1 Các giai đoạn phát triển của ong Apis cerana
Loại ong Giai đoạn phát triển (ngày)
Trong đó: - Nở ra ấu trùng: là số ngày trứng nở ra ấu trùng
- Vít nắp: Số ngày ấu trùng được vít nắp trong lỗ tổ
- Nở thành ong: Số ngày ong trưởng thành nở ra khỏi lỗ tổ Khi ấu trùng ăn, nó tự sản sinh ra nhiệt; còn trong giai đoạn nhộng,
C nhưng hoàn toàn do những con ong che phủ
ở mặt cầu
Cuối cùng, con ong non hình thành, lột bỏ lớp da nhộng, dùng hàm cắn nắp vít và chui ra ngoài, cơ thể màu xam xám và mềm yếu Trong suốt quá trình phát triển từ trứng đến ấu trùng và nhộng, con ong chỉ ở trong từng lỗ tổ riêng, không hề có sự tiếp xúc với nhau Đó là một điểm trái ngược rõ rệt với cuộc sống xã hội rất cao khi chúng là ong trưởng thành
Khi chui ra khỏi lỗ tổ thì cấu tạo về mặt giải phẫu của một con ong trưởng thành đã hình thành và hoàn chỉnh Nhưng sau đó nó phải trải qua thời
kỳ phát triển hoàn toàn hệ thống các tuyến và bộ máy sinh dục Thời kỳ này
nó cần rất nhiều protein và những chất dinh dưỡng khác không phải là hydrat cacbon sẵn có trong phấn hoa Mấy ngày đầu sau khi nở, ong thợ phải ăn đủ một số lượng phấn hoa có chất lượng cao để các tuyến có thể phát huy hết
Trang 23tiềm năng Tuổi thọ của ong thợ phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó số lượng phấn hoa mà nó được ăn trong thời kỳ ong non và tổng số ấu trùng mà
nó phải nuôi là hai yếu tố quyết định
* Đời sống của ong chúa
Cũng như ong thợ, ong chúa được phát triển từ trứng được thụ tinh Nhưng khác với ong thợ là ấu trùng ong chúa được những con ong nuôi dưỡng tiết ra và cho ăn những thức ăn khác với thức ăn của ấu trùng ong thợ Những con nuôi dưỡng điều chỉnh lượng nước trong thức ăn, vì vậy cũng là điều chỉnh thành phần thức ăn của mỗi loại ong Thức ăn của ấu trùng ong thợ chỉ có 12% đường, và được ăn như vậy trong 1,25 ngày (đến khi ấu trùng được 2,5 ngày tuổi thì tỷ lệ đường trong thức ăn còn rất thấp) Còn thức ăn của ấu trùng ong chúa có hàm lượng đường cao hơn (34%) và được duy trì suốt từ 1 đến 4 ngày tuổi Tỷ lệ đường cao hơn như vậy kích thích ấu trùng ăn càng nhiều thức ăn; và thức ăn được cung cấp thoả mái, cho đến khi vít nắp
mũ chúa vẫn còn nhiều thức ăn để ấu trùng tiếp tục ăn, ấu trùng ong chúa tiêu thụ thức ăn nhiều hơn ấu trùng ong thợ 25% Thức ăn do ong nuôi dưỡng tiết
ra để nuôi ấu trùng ong chúa được gọi là sữa chúa Cũng đã có nhiều nhà nghiên cứu thấy chút ít phấn trong thức ăn của ấu trùng ong chúa (Ribblands, 1953) (dẫn theo Crane, 1990)[5]
Khi lỗ tổ ong chúa đã được ong thợ vít nắp, trước khi nhả tơ làm kén và thành nhộng, ấu trùng đã xoay mình để đầu xuống phía dưới Khi hoàn thành giai đoạn phát triển trong lỗ tổ, ong chúa cắn gần hết nắp mũ chúa hình tròn
và chui ra, hoà nhập với những thợ trưởng thành ở trong đàn
Công việc đầu tiên của con ong chúa khi vừa chui ra khỏi lỗ tổ là tìm kiếm xem trong đàn có còn mũ chúa nào có chúa sắp nở ra không Nếu có, nó
mở vách mũ chúa đó ra và đốt cho chết con chúa đó đi Trường hợp ong chúa
Trang 24được tạo ra để chuẩn bị cho việc chia đàn thì ong thợ bâu kín xung quanh mũ chúa để con ong chúa nở ra trước đó không giết được Những con chúa được tạo thêm này sẽ bay ra (chưa giao phối) với từng nhóm quân mà số lượng do ong thợ tự điều chỉnh
Bảng 1.2 Các giai đoạn trưởng thành của ong chúa thuộc chủng
Apis cerana Chủng Apis cerana Nở Bay Giao phối Đẻ trứng
Trong đó: Bay: ngày thực hiện chuyến bay đầu tiên
Giao phối: ngày xảy ra sự giao phối Đẻ: ngày bắt đầu đẻ trứng
Trong mấy ngày đầu sau khi chui ra khỏi lỗ tổ, ong chúa tơ có phản ứng âm đối với ánh sáng; nó cảm thấy khó chịu với ánh sáng ở cửa tổ Thoạt đầu, ong thợ không để ý, không nhận biết sự có mặt của ong chúa tơ, nhưng sau vài giờ ong thợ bắt đầu tiếp xúc, chải chuốt cho nó Chúng cũng bắt đầu quấy nhiễu, tấn công làm ong chúa tơ bị xua đuổi liên tiếp đến mệt nhoài Và thường là sau cuộc xua đuổi ong chúa được ăn nhiều hơn Cũng có khi ong chúa tơ tự ý chạy lung tung, dẫm đạp lên ong thợ và đối xử thô bạo với ong thợ, thậm chí có khi đốt và giết chết ong thợ Bằng cách đó và nhiều cách khác nó thiết lập vị trí trị vì của nó trong đàn Hơn nữa, nhờ kết quả của việc tập luyện mạnh mẽ, ong chúa tơ trở lên có khả năng thực hiện những chuyến
Trang 25bay dài khỏi tổ và lại trở về Đối với một đàn ong, mất mát từng con ong thợ khi bay ra ngoài thì không có vấn đề gì, nhưng nếu là mất con ong chúa mới thì thật là tai hại, nhất là nếu không có ấu trùng ở độ tuổi để nuôi dưỡng thành ong chúa
Ở những miền ôn đới phía Bắc, ong chúa bay ra ngoài vào buổi chiều, lúc 14-16 giờ, khi nhiệt độ khí trời trên 200C không có gió hoặc gió nhẹ Nhiều con ong chúa thực hiện một chuyến bay ngắn, nghỉ trong ít phút để xác định phương hướng trước khi bay dài hơn (tới 30 phút) để giao phối Sau khi giao phối, ong chúa bay trở về tổ, ong thợ rất ân cần chăm sóc nó, cho nó ăn Khoảng 2-4 ngày sau, nó bắt đầu đẻ nhưng cũng có những trường hợp chỉ 24 giờ sau ong chúa bắt đầu đẻ
Oertel (1940) (dẫn theo Crane, 1990)[5] đã theo dõi khoảng cách từ sau khi giao phối đến khi đẻ của 56 con ong chúa như sau:
Bảng 1.3 Khoảng cách từ khi giao phối đến khi đẻ của ong chúa
Số trứng mà ong chúa đẻ trong 24 giờ phụ thuộc vào độ tuổi của ong chúa, vào thế đàn, các điều kiện khác của đàn, vào tình hình không gian các cầu ong và vào điều kiên bên ngoài, trong đó có độ dài ngày (độ dài chiếu sáng) và mức tăng hay giảm của độ dài ngày Số trứng đẻ ra trong ngày còn
tuỳ thuộc vào loài ong (nói chung loài ong Apis cerana đẻ ít hơn loài ong
Apis mellifera)
Khả năng đẻ của ong chúa sẽ giảm đi khi nó ở 2-3 tuổi, có thể sớm hơn nếu trong khi giao phối nó nhận được quá ít tinh dịch Đi đôi với tuổi già, khả năng sinh ra những chất pheromone của ong chúa cũng giảm đi, và
Trang 26nó không có khả năng gắn bó cả đàn lại với nhau như lúc nó còn thanh xuân Đồng thời khi về già, ong chúa cũng có những tính trạng không bình thường,
tỷ lệ trứng không thụ tinh cao, làm số ong đực trong đàn tăng lên nhiều Kết quả là ong thợ muốn tạo một chúa mới hoặc để thay thế nó hoặc để chia đàn, nếu không có sự can thiệp của người nuôi ong bằng cách thay chúa già bằng chúa trẻ cho đàn ong
* Đời sống của ong đực
Khác với ong thợ và ong chúa, ong đực được sản sinh từ trứng không thụ tinh, đó là những con ong đực mang bộ nhiễm sác thể đơn bội (n) (ong thợ
và ong chúa mang bộ nhiễm sắc thể 2n), do ong chúa đẻ vào lỗ tổ ong đực Cho đến 7 ngày tuổi lỗ tổ có ấu trùng ong đực mới được vít nắp; ấu trùng ong đực được ăn nhiều hơn và lớn hơn (384mg) so với ấu trùng ong thợ (159mg) Trong 1-3 ngày tuổi, sữa cho ấu trùng ong đực có khác với sữa cho ấu trùng ong thợ và ong chúa ăn Matsuka và đồng nghiệp nhận xét rằng “sữa ong đực
đã giảm bớt” khi ấu trùng 5-6 ngày tuổi (2 phần sữa ong đực, 1 phần mật ong
và ngoài ra còn có cả phấn) (dẫn theo Crane, 1990)[5]
Lỗ tổ ong đực giống lỗ tổ ong thợ về hình dáng và phương hướng nhưng hình 6 cạnh lớn hơn, và nắp lỗ tổ hình vòm lồi ra, vì cơ thể ong đực
lớn hơn Ở nhiều dòng sinh thái của ong Apis cerana trên lỗ tổ có ong đực vít
nắp thường có một lỗ nhỏ ở chính giữa
Giai đoạn phát triển của ong đực dài hơn ong thợ và ong chúa vì giai đoạn nhộng dài hơn gần 5 ngày so với ong chúa Sau khi kết thúc giai đoạn nhộng, ra khỏi lỗ tổ, con ong đực bước vào giai đoạn trưởng thành Nó cần được ăn phấn hoa mặc dù khả năng tiêu hoá phấn hoa của nó kém hơn ong thợ Hầu hết thời gian nó chỉ quanh quẩn ở bánh tổ và được những con ong nuôi dưỡng cho ăn những thức ăn hỗn hợp gồm phấn, mật ong và các chất
Trang 27tiết ra từ các tuyến của ong nuôi dưỡng Do được nuôi dưỡng nên ong đực lớn lên nhanh, trong 4 ngày đầu trọng lượng cơ thể nó tăng 28% và thành phần đạm trong cơ thể tăng lên tới 38-62% Những con ong đực già hơn được ăn ít hơn, khi 7-8 ngày tuổi ong thợ chỉ cho chúng ăn mật ong Qua tuổi đó ong đực không ở trong bánh tổ có ấu trùng, nhộng nữa và tự ăn mật ong ở các lỗ chứa mật
Ong đực thành thục tính dục ở ngày thứ 12 hoặc muộn hơn Tinh trùng của ong đực không phát triển qua một chu kỳ phân bào giảm nhiễm hoàn toàn Vì vậy, về mặt di truyền, tinh trùng của ong đực giống như của ong chúa
đã sinh ra nó, và ong đực chỉ làm nhiệm vụ truyền gen của ong chúa mẹ cho thế hệ tiếp theo làm cho ong chúa sinh ra nó có chức năng làm “bố” đối với thế hệ sau qua sự giao phối của nó (Crane, 1990)[27]
1.1.3 Tình hình nuôi ong trên thế giới và ở Việt Nam
1.1.3.1 Tình hình nuôi ong trên thế giới
Đối với ong A mellifera, từ 5000 năm trước công nguyên người Ai Cập
đã có nghề nuôi ong thịnh vượng Ong được nuôi trong các đõ bằng đất nung hay đất bùn (Crane, Graham, 1985 [26]; Crane, 1992 [28]) Lịch sử nuôi ong
A cerana ở châu Á cũng lâu đời như lịch sử nuôi ong A mellifera; Ở Trung
Quốc là hơn 3000 năm, Ấn Độ trên 2000 năm (Fang, 1984 [31]; Mishra và Shiag, 1987 [38]) Các nước khác như Srilanca, Nepan, Pakistan…cũng có nghề nuôi ong cổ truyền từ lâu (Kafle, 1992 [33]; Shahid, 1992 [45]; Punchihewa, 1994 [42]) Nghề nuôi ong cổ truyền vốn được tồn tại ở các nước trên và không có nhiều thay đổi Các loại thùng, đõ nuôi ong gồm có đõ nằm, đõ đan bằng tre, thùng gỗ, đõ bằng đất nung, hốc trong tường nhà Tất
cả các loại đõ trên được làm là do con người bắt trước tập tính làm tổ tự nhiên của ong trong các hốc cây, hốc đá Các đõ ong được treo trong hiên nhà, treo
Trang 28trên cây, đặt trên các giá đỡ xung quanh nhà hoặc ở trong rừng Khi thu mật người nuôi ong dùng khói trấn an đàn ong rồi cắt lần lượt từng bánh tổ ra, phần bánh tổ có mật được tách riêng rồi dùng tay vắt Bánh tổ nhộng được ăn sống hoặc bỏ đi Do vắt mật bằng tay nên đôi khi mật bị lẫn, dịch ấu trùng, phấn, không trong và dễ lên men
Ưu điểm của nghề nuôi ong cổ truyền là các loại thùng, đõ được làm từ các vật liệu rẻ tiền, dễ kiếm ở địa phương, không tốn thời gian chăm sóc lại ít thất bại Một năm có thể lấy mật từ 1 – 3 lần
Nhược điểm của kiểu nuôi ong này là các loại thùng, đõ có bánh tổ cố định, không mở đõ để kiểm tra tình hình phát triển đàn, dịch bệnh, không phát hiện được ong chuẩn bị chia đàn, bốc bay Với cách nuôi này tốn thời gian lấy mật, mỗi lần lấy mật phải phá bỏ bánh tổ nhộng làm đàn ong phát triển chậm hoặc bốc bay sau khi lấy mật Năng suất bình quân thấp, chỉ đạt 2-3kg/đàn ở các nước Đông Nam Á, 5kg/đàn ở Trung Quốc
Sau khi phát hiện ra “khoảng cách con ong”, Lang Stroth (1851) đã sáng chế ra kiểu thùng có khung di động được Nhờ áp dụng kiểu thùng này
mà nghề nuôi ong được phát triển nhanh ở châu Âu và Bắc Mỹ, sau đó phát triển ra các khu vực trên thế giới (Crane, 1990) [27]
Đối với ong châu Á A cerana, từ năm 1880 Father Newton đã bắt đầu
kiểu thùng có khung cầu di động mô phỏng theo Lang Stroth nhưng kích thước nhỏ hơn nhiều Do kích thước quá nhỏ nên ong thường chia đàn, năng suất mật thấp, không thích hợp với chủng ong miền Bắc (Verma, 1990) [47]
Từ năm 1950 nghề ong có khung cầu mới được phát triển mạnh ở Ấn
Độ Thùng ong đã được tiêu chuẩn hoá Năm 1991-1992, Ấn Độ nuôi được
1.125.083 đàn ong A cerana với năng suất mật bình quân là 6,7kg/đàn/năm
(Reddy, 1994) [43]
Trang 291.1.3.2 Tình hình nuôi ong ở Việt Nam
Ong A cerana vốn được khai thác và đem về nuôi từ rất lâu đời ở vùng
miền núi và trung du nước ta Vào thế kỷ thứ VIII, Phạm Lê đã có bài viết về đặc điểm sinh học và cách nuôi ong nội địa (Faraut, 1909)[49] Lê Quý Đôn thế kỷ XVIII trong “Vân Đài loại ngữ”[8] đã có một số nhận xét về đặc điểm sinh học của ong Cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX có rất nhiều bài viết về nghề nuôi ong cổ truyền của các nhà khoa học Pháp (Fougeres, 1902 [50]; Toumanoff, 1933 [51]; Toumanoff và Nanta, 1933 [52] Gần đây Crane và cộng sự, 1992 [29]; Mulder (1992) [39]; Phùng Hữu Chính, 1994 [3] cũng đã
* Săn lùng và kiếm ong tự nhiên
Trong tự nhiên A cerana thường làm tổ ở nơi kín như hốc cây, hốc đá
đôi khi cả ở tổ mối dưới đất Người đi tìm mật theo dõi ong lấy nước, lấy mật, phấn, quan sát hướng bay của ong để tìm được tổ Sau đó học mở rộng cửa tổ, hun khói lấy toàn bộ các bánh tổ có mật và ấu trùng
* Nuôi ong trong hốc cây, hốc đá tự nhiên
Đây là hình thức nuôi ong đơn giản nhất, nuôi ong ngay trong rừng, trong các tổ tự nhiên của chúng Khi tìm thấy tổ ong, người nuôi ong mở cửa
tổ thật cẩn thận để lấy mật Vào đầu vụ xuân sang năm, khi ong chuẩn bị di cư
về họ dọn sạch mạng nhện, sáp vụn trong hốc rồi dùng gỗ, đá chèn chặt các
Trang 30cửa tổ, chỉ chừa lại 1, 2 lỗ để cho ong bay ra bay vào Mỗi người có thể sở hữu 10-15 hốc và bình quân mỗi hốc thu được 1kg mật
b Nuôi ong trong thùng có bánh tổ cố định
Người nuôi ong chủ động đặt các thùng, đõ xung quanh nhà hoặc ngoài vườn, ngoài rừng để bẫy các đàn ong chia đàn, đàn di cư hoặc bắt ong chinh sát cho vào tổ bịt kín 5-10 phút sau đó thả ong ra, ong sẽ dẫn cả đàn tới Năng suất mật của các thùng có bánh tổ cố định thấp, bình quân 1-3 kg/đàn/năm
c Nuôi ong trong các thùng, đõ có thanh ngang
Đây là hình thức nuôi ong cổ truyền tiến bộ nhất vì các bánh tổ có thể nhấc ra, đặt vào dễ dàng khi kiểm tra hoặc thu mật mà không làm chết ong Đàn ong cho năng suất mật cao hơn, 4-5 kg/đàn/năm Đàn ong có thể tự điều chỉnh được thể tích của mình theo khối cầu nên dễ qua hè, qua đông hơn, có thể chủ động chia đàn nhân tạo (Faraut, 1907) [48]
d Nuôi ong trong các thùng hiện đại có cầu di chuyển được
Trước năm 1960, nuôi ong ở nước ta chủ yếu nuôi theo kiểu dã sinh, đàn ong tự sinh, tự diệt, lấy mật theo kiểu cắt bánh tổ vắt lấy mật nên năng suất thấp, chỉ khoảng 2-3 kg/đàn/năm Sau vụ mật đàn ong bốc bay có nơi tới
90% (theo Đặng Thanh Bình, Nguyễn Quang Tấn, 1994) [1]
Vào đầu những năm 1960, nhờ áp dụng kỹ thuật nuôi ong trong thùng hiện đại của Trung Quốc, dựa trên cơ sở tiến bộ của kỹ thuật nuôi ong cổ
truyền, nghề nuôi ong nội đã được phát triển nhanh chóng Ong A cerana
được nuôi rộng rãi ở các tỉnh đồng bằng, nuôi di chuyển theo nguồn hoa nên năng suất mật tăng từ 2-5 kg/đàn/năm đến 10-12 kg/đàn/năm Năm 1974, chỉ riêng ở miền Bắc đã có 75.000 đàn nuôi trong các thùng hiện đại Nhưng cũng vào năm này, do việc nhập ong từ Viện ong Bắc Kinh, bệnh ấu trùng túi đã
Trang 31bùng thành dịch và lan đi khắp các tỉnh miền Bắc làm mất hàng chục nghìn đàn ong (Trịnh Đình Ư, 1983 [23]; Phạm Ngọc Viễn, 1984 [24]; Phùng Hữu Chính, 1989 [25]) Năm 1978 cả nước chỉ còn nuôi 7000 đàn ong trong thùng hiện đại Các loại thuốc kháng sinh đã được thử nghiệm để điều trị nhưng không có kết quả, bệnh kéo dàn từ năm này qua năm khác Vì thế Việt Nam
có chủ trương nhập ong A mellifera từ Liên Xô, Cuba và đưa giống ong Ý từ trong Nam ra Bắc thay thế cho ong A cerana Ong A cerana được đưa về các
địa phương và chủ yếu được nuôi ở khu vực gia đình; cho đến năm 1988 số lượng mới tăng lên 15.000 đàn nhưng chất lượng đàn kém hơn so với trước khi có dịch bệnh, bình quân chỉ 3-4 cầu
1.1.4 Cây nguồn mật và một số yếu tố ảnh hưởng đến sự tiết mật của cây nguồn mật
1.1.4.1 Cây nguồn mật
Cây nguồn mật có vai trò quan trọng đối với ong mật bởi thức ăn chủ yếu cho ong mật là mật hoa và phấn hoa Trong mật hoa có nhiều loại đường, chủ yếu là saccaroza, glucoza, fructoza là nguồn năng lượng cơ bản cho sự sinh tồn và sản xuất của đàn ong, trong đó một phần mật hoa mà ong lấy được
sử dụng để phát triển đàn, phần mật hoa dư thừa ong luyện thành mật ong dự trữ trong các lỗ tổ (Nguyễn Thị Minh Hiền, 2004)[11]
Với những đặc điểm biết dự trữ thức ăn dư thừa của con ong, con người
đã tính toán trồng các loại cây nguồn mật cho ong để biến những thức ăn dư thừa của con ong thành sản phẩm mật ong phục vụ cho nhu cầu của con người
và đem lại lợi ích kinh tế cho người nuôi ong Tuy nhiên, nếu trồng cây chỉ để cho ong thu mật thì đó không phải là một đề xuất có tính chất kinh tế lớn, nhưng một số loại cây có khả năng cho năng suất mật cao khác thường và chúng còn có những đặc tính khác đáp ứng được mục đích riêng của người
Trang 32trồng cây thì chúng được trồng ngay, vì theo tính toán của các chuyên gia thì lợi nhuận do ong thụ phấn cho cây trồng lớn hơn lợi nhuận toàn bộ các sản phẩm từ ngành ong từ 10 đến 140 lần (Levin, 1983 [36]; Eton, 1994) [30]
Theo Crane (1990) [27] đã kê ra những cây gỗ đa dụng và là cây nguồn mật giá trị ở vùng nhiệt đới và á nhiệt đới, trong đó quá ¼ thuộc họ đậu Bạch đàn là cây gỗ lớn nhất được kiến nghị gieo trồng Nhiều cây nguồn mật chỉ có ở một châu lục, nhưng có loài có ở nhiều châu lục Nói chung ở vùng nhiệt đới, cây mọc dại ở bản địa cho nhiều mật hơn ở vùng ôn đới Có thể kể một số cây nguồn mật như: Đào lộn hột, cây cao su, cây chôm chôm, cây dừa, cây cam quýt…
Theo Ngô Đắc Thắng (2002)[21], sản lượng mật thu được trong một năm quyết định bởi cây nguồn mật chính, còn cây nguồn mật hỗ trợ quyết định sự phát triển đàn ong và thu sản phẩm phụ, vì vậy nó gián tiếp quyết định sản lượng mật thu được Cây nguồn mật chính là cây tiết nhiều mật, số cây nhiều và tập trung (như cây vải thiều, nhãn…); cây nguồn mật hỗ trợ là những cây có mật, phấn cho ong ăn nhưng chỉ đủ để duy trì đàn ong và không
đủ để khai thác (cây keo)
Theo Phạm Xuân Dũng (1994)[7], Các loại cây nguồn mật chủ yếu ở nước ta bao gồm:
+ Cây vải thiều: Phân bố chủ yếu ở tỉnh Hải Hưng, vùng đồng bằng và trung du Bắc Bộ Thời gian nở hoa từ 20/2 – 03/4 hàng năm Một ha cây vải thiều có thể khai thác được 120 – 140 kg mật ong
+ Cây nhãn: Phân bố ở hầu khắp các vùng ven sông ở đồng bằng và trung du Bắc Bộ, có nhiều ở Hải Hưng, đồng bằng Sông Cửu Long (Tiền Giang, Bến Tre) Thời gian nở hoa từ 10/3 – 15/4 Trung bình một ha có thể khai thác được 100 – 125 kg mật ong
Trang 33+ Cây cao su: Phân bố chủ yếu ở miền đông Nam Bộ (Đắc Lắc, Gia Lai, Kon Tum), khu IV cũ (Thanh Hóa, Nghệ Tĩnh) Ong khai thác dịch ngọt tiết ra từ lá của cây Thời gian tiết mật từ 15/2 – 30/4 Một ha cây cao su có thể khai thác được 70 – 75 kg mật ong Đây là nguồn mật xuất khẩu chủ yếu của Việt Nam do diện tích cây cao su khá lớn
+ Cây đay: Phân bố chủ yếu ở vùng đồng bằng Bắc Bộ Trước đây được trồng nhiều ở vùng Thái Bình, Hưng Yên, Hà Nam, nhưng nay diện tích
đã bị thu hẹp nhiều Ong khai thác mật từ lá cây, thời gian tiết mật từ 15/4 – 03/6 Một ha có thể khai thác được 50 kg mật
+ Cây bạch đàn: được trồng nhiều ở các tỉnh trung du Bắc Bộ như Vĩnh Phúc, Bắc Giang Hiện nay bạch đàn là cây lâm nghiệp chính để phủ xanh đất trống đồi núi trọc và làm nguyên liệu để sản xuất giấy và dược liệu Một ha bạch đàn liễu có thể khai thác được 100 – 150 kg mật ong
Ngoài ra, một số cây nguồn mật như táo, keo lá chàm, bạc hà dại,… cũng cho năng suất và chất lượng mật khá tốt Đặc biệt là mật ong khai thác
từ hoa táo và hoa bạc hà dại có hương vị rất đặc trưng
1.1.4.2 Một số yếu tố ảnh hưởng đến sự tiết mật của cây nguồn mật
Mật hoa là dịch lỏng có đường, tiết ra từ tuyến mật hoa của thực vật Tuyến mật hoa thường thấy trên đài hoa, cánh hoa, nhị hoa đực, nhưng đa số nằm ở gốc bầu và nhụy Ngoài mật hoa, thực vật còn có tuyến mật ngoài hoa thường nằm trên các cơ quan dinh dưỡng của cây như ở cuống lá, thân lá, lá kèm, lá bắc gọi là mật lá Mật lá thường có ở cây cao su, bông, đay, keo tai tượng Mật lá có lượng khoáng đặc biệt là Kali thường cao hơn mật hoa, vì thế mật lá được khách hàng ưa thích vì Kali có khả năng chống nhiễm xạ (Ngô Đắc Thắng, 2002)[21]
Trang 34Trong mật hoa có các axit hữu cơ, muối khoáng và este, nhờ có chứa các este mà mật hoa có mùi thơm Vì vậy, mật ong lấy từ mật hoa thường có hương vị đặc trưng cho từng loại hoa Hàm lượng đường trong mật hoa biến động rất lớn, từ 25-60%, tùy thuộc vào loại cây và các yếu tố ngoại cảnh Mật hoa nhãn ở miền Bắc có hàm lượng đường bình quân là 50%, hoa vải thiều 23%, hoa đay 27% (Phùng Hữu Chính, Vũ Văn Luyện, 1999)[4]
Sự tiết mật hoa ở các cây nguồn mật phụ thuộc rất lớn vào điều kiện thời tiết khí hậu: nhiệt độ, ẩm độ, ánh sáng, lượng mưa Do đó, ảnh hưởng gián tiếp đến sản lượng và chất lượng mật ong Một số yếu tố ảnh hưởng đến
sự tiết mật hoa đó là:
* Ảnh hưởng của nhiệt độ không khí
Để tiết mật hoa, thực vật cần nhiệt độ ấm áp, nhiệt độ tối thấp để đa số các thực vật tiết mật là 100
C Khi nhiệt độ tăng thì sự tiết mật tăng và thích
C Tuy nhiên, một số cây như bạch đàn, sú vẹt lại tiết
C; một số cây như nhãn, vải thiều, bí đao mật tiết nhiều vào ban đêm nhưng loãng hơn nên buổi sáng ong đi làm ít, khi nhiệt
độ tăng, nước trong mật hoa bốc hơi làm mật hoa đặc lại, ong đi làm mạnh hơn (Phùng Hữu Chính, Vũ Văn Luyện, 1999)[4]
* Ảnh hưởng của ẩm độ không khí
Ẩm độ không khí ảnh hưởng khá rõ tới sự tiết mật của cây nguồn mật Phần lớn các thực vật tiết mật nhiều khi ẩm độ không khí trên 60%, thấp hơn thì tiết mật ít Theo Ngô Đắc Thắng (2002)[21], ong bắt đầu đi thu mật khi nồng độ đường trong mật hoa là 4,25%, nồng độ đường hơn 50% ong đi làm tới tấp Nhưng khi thời tiết quá khô hanh, nồng độ đường quá cao, ong thu mật khó và phải tiết nước bọt để tẩm mật hoa mới thu được mật Nồng độ đường trong một vụ hoa thay đổi khá lớn, do đó đầu vụ mật không hấp dẫn
Trang 35ong đi làm bằng giữa vụ và cuối vụ mật Như vậy, tác động của ẩm độ đã làm cho nồng độ đường trong mật hoa thay đổi dẫn đến tốc độ thu mật của ong cũng thay đổi rõ rệt
* Ảnh hưởng của ánh sáng mặt trời
Ánh sáng mặt trời có tác động trực tiếp tới sự tiết mật của hoa, vì để hoa nở được cần có ánh sáng mặt trời quang hợp, đồng hóa các bon của không khí thành tinh bột và đường Do vậy, nếu ánh sáng đủ sẽ xúc tiến quá trình tiết mật của hoa Vào những ngày mùa đông, mưa mù, cây tiết mật kém Hoa của các loại cây cỏ dại mọc trong rừng rậm tiết mật ít hơn so với các loại cây gỗ có tán rộng, mọc ở chỗ trống được chiếu sáng đầy đủ Vì vậy, để cây nguồn mật có nguồn hoa nhiều cần tỉa cành, phát cỏ dại và cây che bóng làm ảnh hưởng đến quá trình tiết mật của hoa
Ngoài các yếu tố trên thì điều kiện thời tiết như mưa gió, khô hạn, tuổi cây, tuổi hoa và thời kỳ nở hoa của cây nguồn mật cũng có tác động lớn tới sự tiết mật Mưa nhiều, kéo dài ngày làm mật hoa loãng, trôi mật hoa, làm hoa rụng; thời tiết khô hạn nguồn hoa ít, khả năng tiết mật kém; cây non, già cỗi tiết mật kém hơn, thời nở hoa ngắn hơn và mật hoa tiết nhiều hơn ở những bông hoa đã nở hoàn toàn, chuẩn bị cho việc thụ phấn
Như vậy, khi biết được sự tác động của các yếu tố về điều kiện thời tiết khí hậu, về thời kỳ nở hoa của cây nguồn mật, người nuôi ong có được những giải pháp tác động tới các yếu tố đó để thu được mật ong với năng suất, chất lượng đạt hiệu quả cao nhất
1.1.4.3 Mật ong và sự chuyển hóa mật hoa thành mật ong
* Mật ong
Trang 36Theo tiêu chuẩn quốc tế dự thảo (Ủy ban luật thực phẩm) thì mật ong là chất ngọt không lên men, do ong lấy mật hoa hoặc dịch tiết từ bộ phận sống khác trên cây chế tạo ra, sau khi kiếm về chế biến và trộn với những chất liệu đặc biệt rồi bảo quản (đã đạt độ chín) trong bánh tổ mật Mật ong không được
có bất kỳ hương vị hay mùi khó chịu nào đó hấp thụ chất lạ trong quá trình chế biến và bảo quản, cũng như không chứa những chất độc thực vật tự nhiên với hàm lượng có thể gây hại cho sức khỏe con người
Mật ong là sản phẩm chính của nghề nuôi ong Đây là sản phẩm có giá trị dinh dưỡng cao, được sử dụng làm thức ăn bổ sung cho con người trong nhiều loại thực phẩm và là vị thuốc tự nhiên chữa được nhiều bệnh như viêm họng, bệnh đường ruột, viêm gan
Sự đa dạng và phong phú của các loại cây nguồn mật đã tạo nên các loại mật ong khác nhau như mật hoa vải, mật hoa nhãn, mật hoa bạch đàn, mật hoa táo, mật hoa càng cua, mật hoa cỏ lào Các loại mật ong khác nhau
có màu sắc, hương vị đặc trưng riêng như mật hoa bạch dàn có màu đỏ, vị hơi chua; mật hoa táo có mùi thơm mát, vị ngọt thảo
Theo tiêu chuẩn Việt Nam về mật ong tự nhiên (trích Ngô Đắc Thắng, 1996) [20], mật ong được phân loại theo nguồn gốc thực vật thành 03 loại là mật ong hoa, mật ong dịch lá và mật ong hỗn hợp
+ Mật ong hoa: Tùy theo lượng mật hoa do ong khai thác từ một hay nhiều loại hoa mà mật ong hoa được chia thành 02 loại là mật ong đơn hoa (mật ong hoa vải, mật ong hoa nhãn, mật ong hoa càng cua, mật ong hoa cỏ lào) và mật ong đa hoa (mật ong hoa vải nhãn, mật ong hoa rừng)
+ Mật ong dịch lá: là loại mật do ong khai thác từ mật của các dịch lá như: mật keo
* Sự chuyển hóa mật hoa thành mật ong
Trang 37Theo Crane (1990) [27], ong chuyển hóa mật hoa và dịch ngọt khác
có hàm lượng đường cao thành mật ong, một loại thức ăn cho năng lượng cao và có thể dự trữ được lâu Khi đem mật hoa hoặc dung dịch ngọt về
tổ, con ong thợ đã tiết từ tuyến hạ hầu những enzim Invectaza, Glucoza, Oxidaza và Diastaza cần thiết để luyện thành mật ong Ong thường luyện mật hoa (làm cho mật chín) thành mật ong ở một nơi thưa ong trên cầu
Chúng luyện mật bằng miệng của chúng Đầu chúng cất cao, vòi liên tiếp duỗi ra, co vào để giọt chất lỏng nhỏ xíu phơi ra không khí, kẹp giữa hai
bộ phận của vòi Sau 5-10 giây, chúng lại hút dịch ngọt về miệng Quá trình đó lặp lại khoảng 20 phút, có những lúc nghỉ hẳn giữa chừng để dung dịch ngọt giảm tỷ lệ nước và có thêm ít nước bọt chứa enzim tiết ra
từ miệng ong Mật ong trong thời vụ ít hoa được luyện kỹ hơn và enzim nhiều hơn mật ong ở thời vụ rộ hoa Sau khi luyện mật xong, mật được ong đưa đến cất giữ ở một lỗ tổ, có thể ở đó đã có một số giọt mật rồi Nếu lỗ tổ ong trống không, ong sẽ treo ở vách phía trên của lỗ tổ để hong bớt nước đi Tuy nhiên trong mùa hoa rộ, ong nội trợ thường đưa luôn mật hoa vừa tiếp nhận ngay vào lỗ tổ, để còn phải tiếp nhận mật hoa của những ong kiếm mật khác Ban đêm, có nhiều con ong làm công việc luyện mật hơn là trong giờ ong đi kiếm mật ban ngày
Cũng theo Crane (1990)[27], khi đã đưa mật ong vào lỗ tổ, ong vẫn tiếp tục làm giảm tỷ lệ nước bằng cách quạt cho nước bốc hơi Chúng tạo thành một luồng không khí giữa các cầu ong để tạo điều kiện thuận lợi cho nước dễ bốc hơi Thí nghiệm được tiến hành trong một đàn ong đông quân nuôi trong một thùng lớn; tất cả các khe hở, lỗ hổng đều được bịt kín, chỉ để 2 cửa vào nhỏ, ở đó đặt 2 máy đo gió Điều này cho thấy, hoạt động quạt cho nước trong mật bốc hơi được thực hiện liên tục, khẩn trương và tác dụng quạt gió của ong
Trang 38thợ làm cho tỷ lệ nước trong mật giảm đi đáng kể Từ những thí nghiệm đó, người nuôi ong đã đúc rút thành kinh nghiệm, tạo các điều kiện thông thoáng tốt nhất cho thùng nuôi ong để thuận lợi cho quá trình chế biến mật hoa thành mật ong trong thời gian ngắn nhất có thể
1.2 Một số nghiên cứu trong nước và nước ngoài
1.2.1 Một số nghiên cứu nâng cao năng suất, chất lượng mật ong và một
số yếu tố ảnh hưởng tới tỷ nước trong mật ong
1.2.1.1 Một số nghiên cứu nâng cao năng suất, chất lượng mật ong
Ở các nước nhiệt đới, đặc biệt là các nước nóng ẩm ở Nam và Đông Nam Á, người nuôi ong thường gặp phải vấn đề về chất lượng mật Mật ong thu được thường có thuỷ phần quá cao, trên 21% và dễ bị lên men, điều này là trở ngại chủ yếu cho việc phát triển nghề ong (Crane, 1990) [27]
Để mật không lên men thì thuỷ phần phải thấp hơn 18,6% Tiêu chuẩn mật được thế giới chấp nhận là mật ong có thuỷ phần nhỏ hơn 21% Khi ẩm độ không khí cao, hàm lượng nước trong mật ong vít nắp là 25%
(Killion, 1975) [34] Mật ong vít nắp thu hoạch từ cây cao su của ong A
cerana là 25% (Fernando, 1978) [32] Các nguyên nhân do kỹ thuật quản
lý ong không đúng cũng làm cho mật ong có tỷ lệ nước cao, như thu mật trước khi vít nắp, để mật đã quay tiếp xúc với không khí ẩm lâu Nhìn
chung hàm lượng nước trong mật ong A cerana cao hơn trong mật A
mellifera (Crane, 1985) [26] Chính vì vậy Mardan đã đề xuất nên có chỉ
tiêu riêng cho mật ong A cerana
Ở Việt Nam, từ trước đến nay chúng ta thường nuôi ong trong thùng một tầng Khi lấy mật tất cả các cầu được rũ ra quay Ẩm độ không khí nước ta rất cao, đặc biệt là mùa xuân ở miền Bắc và mùa mưa tháng 5-6 ở miền Nam (ẩm độ lên tới trên 90%) Người nuôi ong do muốn có năng
Trang 39suất mật cao nên đã quay non, quay cướp vòng nên mật thu được có tỷ lệ nước cao, từ 22-29%, thậm chí lên tới 32% (Trần Đức Hà, 1978 [10]; Phạm Văn Cường, 1994 [6]; Phùng Hữu Chính, 1994 [3]) Chính vì vậy Crane (1990) [27] đã nhận xét “Ở Việt Nam tất cả các cầu ong được quay mật sau khi trả về tổ vài ngày, sản phẩm thu hoạch của hệ thống này không phải là mật ong mà là mật hoa đang chuyển hoá thành mật ong” Hiện nay người nuôi ong nội với quy mô nhỏ chưa gặp phải khó khăn trong việc tiêu thụ sản phẩm nhưng người nuôi ong chuyên nghiệp đã rất khó khăn trong việc tiêu thụ loại mật có tỷ lệ nước cao vì loại này dễ bị lên men, không bảo quản được lâu
Bảng 1.4 Tiêu chuẩn chất lƣợng mật ong
Nguồn: www.iheo.org (2004) [53]
Để nâng cao chất lượng mật ong có hai cách giải quyết: Một là loại nước trong mật sau khi đã thu hoạch bằng nhiệt độ Phương pháp này có hạn chế là làm cho mật có mầu xẫm, tỷ lệ HMF (Hydroxy methyl furfural) tăng
Trang 40lên làm giảm hương vị đặc trưng Cách thứ hai là thông qua kỹ thuật nuôi ong trong thùng có tầng kế, chỉ quay mật khi đã vít nắp
1.2.1.2 Một số nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ nước trong mật ong
Tỷ lệ nước trong mật ong là một trong những yếu tố quyết định chất lượng mật ong và là một trong những chỉ tiêu được kiểm tra nghiêm ngặt trước khi xuất khẩu mật ong
Theo Phùng Hữu Chính, Vũ Văn Luyện (1999)[4], tỷ lệ nước trong mật cao hay thấp phụ thuộc vào cây nguồn mật, giống ong, cách thu mật, thời điểm quay mật, nơi đặt thùng ong và độ thoáng không khí của thùng ong Cũng theo Phùng Hữu Chính, Vũ Văn Luyện (1999)[4], cho biết hàm lượng đường trong mật hoa tỷ lệ thuận với hàm lượng đường trong mật ong
Theo Hà Văn Quê (2002) [17], vào vụ mật vải thiều và nhãn, thời tiết ít mưa, chủ yếu là mưa nhỏ nên tỷ lệ nước trong mật ở vụ này là 23,7%, ở vụ hoa bạch đàn, mưa rào dài ngày, mật hoa loãng nên tỷ lệ nước trong mật hoa cao tới 29,8% Cũng theo Hà Văn Quê (2002) [17], tỷ lệ nước trong mật vải thiều của giống ong ngoại là 22,7%, ở ong nội là 23,7%; tỷ lệ nước trong mật hoa bạch đàn ở ong nội là 29,8% và ở ong Ý là 24,7%
Theo Phùng Hữu Chính, Vũ Văn Luyện (1999) [4], nuôi ong trong thùng kế có chất lượng mật tốt hơn, mật trong và tỷ lệ nước thấp hơn từ 3-4%
so với thùng không lên kế
Theo Crane (1990)[27], mức độ vít nắp đánh giá độ chín của mật ong Vít nắp làm giảm bớt sự hấp thu nước vào mật, tránh cho mật không bị lên men Không nên quay mật ở các cầu có các lỗ tổ vít nắp ít hoặc chưa vít nắp và không nên để mật đã quay tiếp xúc trực tiếp với không khí ẩm, vì lỗ tổ chưa vít nắp, không khí ẩm là nguyên nhân làm cho tỷ lệ nước trong mật tăng cao